Thôi thế là từ nay, trong kiếp này, chúng con mất đi một bậc thầy, một
bậc Bạn lành trên đường tu học. Từ nay, con biết hỏi ai mỗi khi gặp
những vấn đề nan giải khi đọc kinh luận đại thừa? Con như còn nghe văng
vẳng từ âm của Ôn giải thích những “tính giác diệu minh, bản giác minh
diệu” trong kinh Lăng nghiêm, Tánh không trong Trung luận, và bao nhiêu
khúc mắc khác nữa trong Phật pháp. Ôn chỉ dạy vắn tắt: tin được cái
Không thì tin được tất cả, mà không tin cái Không thì không tin bất cứ
gì. Con nghiệm thực là hết sức đúng. Có những lúc Ôn trả lời bằng sự im
lặng, và sau đó con tự giải đáp được những gì muốn hỏi, bằng một cách
không ngờ. Đấy là trường hợp một lần con thỉnh ý Ôn về câu “bất sanh
pháp tướng” trong kinh Kim cương nghĩa là gì? Ôn im lặng. Nhưng trong
cái im lặng đó con cảm nhận được một điều gì như đã là giải đáp.
Sáng hôm nay trên đường đi, con vừa nhìn bầu trời bao la vừa nhẩm đọc
kinh Kim cương theo hơi thở, cảm thấy vô cùng sung sướng. Đường vắng xe
vì còn quá sớm, cảnh vật đồng quê như một bài kinh không lời, một bản
nhạc vô thanh, một bức tranh vĩ đại không người vẽ. Có gì để bận tâm về
sống chết vui khổ dở hay mê ngộ giữa cuộc chiêm bao này? Tất cả dàn trải
ra trước mắt, không quá khứ vị lai nên hiện tại cũng không luôn. Có phải
pháp tướng là vậy không, khi mình còn khởi lên ý niệm sống chết mê ngộ
phải quấy vui buồn, còn thấy có quá khứ vị lai hiện tại? Tất cả các pháp
bản lai như thị, nếu thấy mọi sự vật, tướng trạng, mà không khởi lên một
ý niệm này nọ - thế là không sanh pháp tướng ?
Ai chửi ai khen mình cũng coi như nhau không bận tâm phân biệt - thế là
không sanh pháp tướng?
Người thế này người thế khác- mình không khen người này tốt chê người
kia xấu, thế là không sanh pháp tướng?
Họ đối với mình trước khác sau khác, mình vẫn như không - thế là không
sanh pháp tướng?
Có người lúc có tiền cư xử khác lúc không tiền, lúc thành đạt cư xử khác
lúc hàn vi - mình không cần để ý, thế là không sanh pháp tướng?
Nghe, đọc, những lời vô nghĩa phi lý thường được lặp đi lặp lại hàng
ngày cũng tảng lờ như không, đừng bực mình, đừng phê phán, thế là không
sanh pháp tướng?
Không xem cát bụi chỉ là cát bụi vì từ cát bụi mà có ra thế giới, thế là
không sanh pháp tướng?
Thấy thế giới cũng là phi thế giới, vì được kết hợp từ những vi trần,
thế là không sanh pháp tướng?
Cái hiện tượng kết hợp ấy là bất khả tư, bất khả nghì, bất khả thuyết,
đừng nói do một thượng đế kết hợp, như thế là không sanh pháp tướng?
Một lần thấy được Vô sanh, cũng đã bõ công bao đời trầm luân đau khổ,
đừng ngại chi lên thác xuống ghềnh - không lên thác xuống ghềnh làm sao
thấy được vô sanh - thế là không sanh pháp tướng?
Thấy mình đúng thì sai, thấy mình sai họa may đúng, vì sự thực
vốn vô ngã, trong đó không có mình - thế là không sanh pháp tướng?
Vân vân và vân vân. Nhưng nói ra nhiều chuyện như thế là đã sanh pháp
tướng rồi. Không nói gì cả mới tạm nói lên ý nghĩa “không sanh pháp
tướng”, không khởi lên một ý niệm gì về sự vật, vì một móng tâm động
niệm đã là lạc xa chân lý. Bởi thế mà Ôn đã im lặng khi con thỉnh vấn ý
nghĩa câu kinh Kim cương: “Tu bồ đề, bồ tát ư nhất thiết pháp ưng như
thị tri, như thị kiến, như thị tín giải, bất sanh pháp tướng.” Con tạm
diễn dịch câu ấy ra như sau- không biết đúng không: Này Tu bồ đề (hay
này, Trí hải) bồ tát đối với tất cả chuyện trên đời, hãy biết như vậy,
thấy như vậy, tin hiểu như vậy, đừng khởi lên một khái niệm gì cả. Khái
niệm gì thế? Tức là bốn kiểu chấp ngã khác nhau: ngã tưởng, nhân tưởng,
chúng sinh tưởng, thọ giả tưởng. Ngã tưởng như xưng “tôi” và thấy thực
có cái tôi chứ không chỉ như phương tiện. Đấy là ngôi thứ nhất trong văn
phạm. Có ngôi thứ nhất tức phải có ngôi thứ hai: “nhân tưởng” là người
đối diện với mình - như gọi “anh, chị, em…” và “chúng sinh tưởng” là
ngôi thứ ba, chúng nó - quan niệm về những người khác, chúng
sinh khác nhau muôn màu muôn vẻ, trong khi kỳ thực tất cả đều tùy nghiệp
mà giả hiện, trên bản thể không có sai khác - tự tánh của mọi chúng sinh
đều là chân không. Và kiểu chấp ngã cuối cùng là “thọ giả tưởng” tức
quan niệm thời gian, cho rằng đời người có một thọ mạng - trong khi phải
thấy nó chỉ hiện diện trong một hơi thở, không có thời gian. Mãi mãi chỉ
có sự sống hiện tiền, không quá khứ vị lai nên cũng không gọi là hiện
tại. Thời gian, quan niệm về thọ mạng là do tâm phân biệt. Như đối với
một thanh niên hai mươi tuổi, thì sáu mươi tuổi là già. Nhưng đối với
ông già tám chín mươi thì sáu mươi lại là còn trẻ. Kỳ thực trong giây
phút hiện tiền, thanh niên hai mươi, em bé ba tuổi, ông già sáu mươi và
côá lão chín mươi – hay tất cả vạn vật hiện tiền như súc vật, chim chóc,
cây cối - đều giống nhau trong hơi thở, cùng hấp thu ánh mặt trời, cùng
hít thở không khí trong hiện tại, tất cả đều là những giả tướng tạm thời
trong chân không, “vô thọ giả”. Hơi thở đã qua và chưa đến đều không
được tính kể. Chỉ khi có cái tâm so sánh phân biệt khởi lên mới thấy có
thời gian quá khứ vị lai - và cái thấy mỗi người một khác: Đối với thanh
niên, thì em bé là quá khứ, ông già là vị lai; đối với em bé, thanh niên
là vị lai; còn đối với ông già, cả em bé và thanh niên đều thuộc về dĩ
vãng. Cái thấy mỗi người một khác như vậy thì không thể là chân lý, sự
thực muôn đời. Sự thực muôn đời phải là: vĩnh viễn hiện tại. Và hiện tại
là gì ? Là một tia sáng bé nhỏ của vĩnh cửu đi qua tâm thức, khi có
chánh niệm tỉnh giác. Không chánh niệm tỉnh giác thì tuy ở hiện tại mà
tâm không ngừng nghĩ đến quá khứ vị lai. Và như vậy là không thực sống
gì cả. Có tâm là có ngã, và có ngã thì có thời gian quá khứ vị lai do
tham. Sống trong hiện tại, chánh niệm tỉnh giác là sống trong thiền định
vô tâm, “quá khứ không truy tầm, tương lai không ước vọng”, vì quá khứ
đã qua, tương lai chưa đến. Vô tâm, vô ngã cũng đồng nghĩa với ly tham,
dù là lòng tham sống, tham giải thoát niết bàn…
Vậy thì, đừng sanh pháp tướng là đừng chấp ngã, nhân, chúng sinh, thọ
giả- và luôn sống trong hiện tại, chánh niệm tỉnh giác để thấy rõ cốt
lõi của thân tâm này là chân không. Đã là chân không thì không có sinh
tử, khổ vui, mê ngộ. Thấy được như vậy thì luôn ở trong niết bàn. Sự im
lặng của Ôn khi con hỏi về câu “bất sanh pháp tướng” đã làm con tự suy
nghiệm ra như thế, khi Ôn không còn nữa để con được dịp đến “trình kiến
giải”.
Ôi, mặc dù không được diễm phúc dự vào hàng môn đồ pháp quyến trực tiếp
của Ôn, con cũng đã thưởng thức được bao nhiêu là pháp vị từ nơi thân
giáo, khẩu giáo, ý giáo của Ôn, từ lời dạy của Ôn cũng như từ im lặng
của Ôn, từ sự sống của Ôn trong lúc mạnh khỏe và nhất là trong thời gian
thọ bệnh, và giờ đây, khi Ôn đã nhập niết bàn.
Từ đây, con không còn vấn đề gì phải thỉnh vấn, vì Ôn đã giải đáp tất cả
cho con rồi, con vô cùng mãn nguyện. Nhưng than ôi, mỗi lần nghĩ về Huế,
con lại thấy lòng mình xốn xang. Thà đừng về, để tưởng như Ôn vẫn còn
ngồi dịch kinh bên cửa sổ. Thà đừng về, để mường tượng như quý Sư bà con
vẫn còn đó trong ngôi chùa tịch mịch và sẽ đón con với những nụ cười bao
la. Huế mà vắng đi những bậc trưởng lão chân tu, thạc đức, thì ôi chao
là lạnh lẽo!
Con đã lại sanh quá nhiều pháp tướng khi
thấm thía một câu thơ của Quang Dũng: “Đường đi không gió lòng sao lạnh!”
Xin đê đầu kính lễ giác linh Ôn đã nhập niết bàn.