Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 


TIỂU SỬ

NI TRƯỞNG THƯỢNG GIÁC HẠ NHẪN VIỆN CHỦ
CHÙA SẮC TỨ HUỆ LÂM QUẬN 8

 

THÂN THẾ :

Ni Trưởng pháp danh Giác Nhẫn hiệu Hồng Tịnh, tên thật là Lê Thị Kiểu – sinh ngày 26 tháng 10 năm 1919 (Kỷ Mùi) tại xã Long Hồ, Tỉnh Vĩnh Long, Miền Nam Việt Nam . Ngài sinh trong một gia đình quý tộc, ảnh hưởng Phật Giáo và Nho Giáo.

Ông cố nội là cụ Lê Ðình Ðức, làm quan Lại Bộ Thượng Thư dưới triều vua Khải Ðịnh ở Huế.

 Thân sinh là ông cụ Hội Ðồng Tỉnh Vĩnh Long Lê Ðình Hiểu thọ Ưu Bà Tắc Giới với tổ Tuyên Linh tức Ngài Lê Khánh Hòa Giám đốc Phật Học Ðường Lưỡng Xuyên Tỉnh Trà Vinh pháp danh là Tâm Ngộ tự Giác Minh.

 Thân mẫu là cụ bà Bùi Thị Trỉ, thọ Ưu Bà Di Bồ Tát Giới pháp danh Diệu Ðạt. Ông bà cụ thân sinh của Ni Trưởng là người ngưỡng mộ Phật Pháp, rất nhiệt tâm vì đạo, nên ông cụ thường xuyên đến chùa Ngài Ðại Trưởng Lão Hòa Thượng Thái Ba ở Cái Tàu Hạ chuyên tâm học hỏi giáo lý. Và cũng từ đó ý thức giác ngộ được, ông cụ chán cỏi Ta Bà phủi bỏ cảnh giàu sang phú quý, ông thành lập một tịnh thất ở sau vườn nhà, ông cụ ăn chay trường hằng ngày chuyên trì chú, tụng kinh niệm Phật.

 Ông còn sáng lập ngôi chùa Viên Giác một mẫu trong đất nhà, cung thỉnh thầy giáo Huệ Lực đệ tử sư cụ Kim Huê làm trụ trì. Vì vậy Ni trưởng thường xuyên đi với bà cụ vào chùa Viên Giác để tụng kinh lễ sám.

 Gia đình Ni trưởng Giác Nhẫn cả thảy năm chị em gái, chị cả mất sớm, còn lại bốn người em nhờ được sự hấp thụ giáo dục của song thân nên hạt giống Bồ Ðề nẩy nở. Ni trưởng Giác Nhẫn là em thứ bảy. Hai cố Sư Bà thứ năm là Sư Bà Tâm Nhàn hiệu Hồng An, Sư Bà thứ sáu là Sư Bà Như Thái hiệu Hồng Khoan nguyên là trụ trì chùa Giác Thiên nay đã viên tịch, còn người em thứ tám là Ni Sư Giác Bổn hiện giữ trách nhiệm Sư Phó chùa Sắc Tứ Huệ Lâm. Ni Trưởng Giác Nhẫn và Ni Sư Giác Bổn là hai chị em song sinh.

  THỜI ẤU THƠ:

 Thời còn ấu thơ, Bà cụ thân sinh thường dẫn hai cô bé song sinh đi chùa Giác Thiên. Hòa Thượng Pháp Sư Giác Thiên truyền trao Tam Qui cho pháp danh là Giác Nhẫn và Giác Bổn.

 Thưở bé Ni Trưởng được cắp sách vào trường làm và lên trường Nữ ở Tỉnh đến tốt nghiệp Certificat (chương trình Pháp) và tiếp tục vào trường tư thục đến năm thứ II, thưở xưa miền Nam Việt Nam không có trường đại học (đại học phải sang Pháp).

 Ở tuổi 16,17 Ni trưởng chỉ học công dung ngôn đức hạnh và thường xuyên xem các tạp chỉ Viên AÂm, Ðuốc Tuệ, Từ Bi Âm, Duy Tâm v.v... Các tạp chí này ông Cụ thân sinh thỉnh hằng tháng cho các con đọc để ý thức giáo lý Phật Ðà. Ông cụ còn dạy cho các con ăn chay kỳ và thường xuyên tụng Kinh niệm Phật, trì chú.

 Trong khi đọc các tạp chí, Ni Trưởng thích nhất là “Lược Sư? Phật Thích Ca” Ngài rất xúc động hình ảnh vị hoàng tử trẻ tuổi sống sung sướng trong cung vàng điện ngọc lại từ bỏ tất cả để tìm đường giải thoát.

 Thỉnh thoảng Ni Trưởng lên chùa Kim Huê thăm chị là Sư Bà Tâm Nhàn đã tu học ở đó. Vì vậy Ni Trưởng sớm nhận thức cảnh trần gian là ảo mộng, cuộc đời giả huyển vô thường. Ngài lập chỉ hướng xuất trần thoát tục, thêm vào đó cơ duyên đã đến, chí xuất trần mãnh liệt, hạt giống Bi62 Ðề nứt rể, Ni Trưởng xin phép cha mẽ theo chị xuất gia học đạo.

 THỜI KỲ XUẤT GIA HỌC ÐẠO:

 Năm 1937, được 18 tuổi, ở độ tuổi tươi đẹp thuần khiết, Ni Trưởng bước vào cuộc đời mới. Ngài được Tổ Kim Huê thế phát xuất gia cho thọ sa Di Ni Giới, pháp danh Giác Nhẫn hiệu Hồng Tịnh thuộc dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 40. Thế là trang sách vàng được mở ra đánh dấu từ đó.

 Ni Trưởng Giác Nhẫn nương theo Tổ Kim Huê học đạo được 02 năm.

Năm 1939, Tổ Kim Huê truyền trao Thức Xoa Ma Na Giới cho Ni Trưởng có đủ Tam Sư Thất Chứng, lúc đó Ni Trưởng tròn 20 tuổi.  

Bước đầu Ni Trưởng tu tập ở ngôi chùa Phước Huệ , Sư cụ Kim Huê là Bổn Sư thế phát và truyền giới, lúc đó có quí Sư Bà Phước Huệ, Sư Bà Phước Ngọc, Sư Bà Giác Ðán v.v... đều tập trung ở chùa Phước Huệ trên 30 vị .

Ni Trưởng Giác Nhẫn trên có Tôn sư chỉ giáo, dưới cùng bạn đạo kết làm pháp lữ, với đức tính khiêm cung, hòa nhã nên Ni Trưởng được chư Tôn Ðức Ni đồng học quý mến.

Năm 1940, Ni Trưởng học sơ đẳng ở chùa Vĩnh Bửu cùng với quí Sư Bà Như Chơn chùa Linh Thứu, Sư Bà Như Ngộ chùa Phổ Ðức v.v...

 Năm 1941, Ni Trưởng học ở chùa Viên Giác Bến Tre .

Năm 1943, Sư Bà Như Thái và Ni Trưởng Giác Nhẫn mời hết quý Sư Bà học ở Bến Tre về tư gia của Ni Trưởng ở Vĩnh Long để học. Ông bà cụ thân sinh của Ni Trưởng đều đài thọ nơi ăn chỗ ở cho quí Sư Bà khoảng 10 vị. Mỗi ngày quí Sư Bà đến chùa Viên Giác (là chùa nhà) có cố Hoà Thượng Kiểu Lợi làm giáo thọ sư.

Cuối năm 1944, ông cụ Hội đồng Tỉnh Vĩnh Long cũng là thân sinh của Ni Trưởng quy tây, nên Sư Bà Như Thái và Ni Trưởng Giác Nhẫn về chùa Giác Thiên với chị là Sư Bà Tâm Nhàn, cư tang báo hiếu, đồng thời Sư Bà Như Thái và Ni Trưởng Giác Nhẫn được Tổ Kim Huê truyền trao Cụ Túc Giới. Hòa Thượng Ðông Hưng tức Hòa Thượng Hành Trụ làm Giáo Thọ A Xà Lê. Sư Tổ Kim Huê làm Ðầu Ðàn Hòa Thượng.

Năm 1945, nước nhà loạn lạc, Ni Trưởng và 2 cố Sư Bà Tâm Nhàn, Như Thái đều an trú tại chùa Giác Thiên chuyên tu tịnh niệm.

Năm 1947,1948 với mục đích “Hoằng pháp thị gia vụ, Lợi sanh vi bổn hoài” nên Sư Bà Như Thái và Ni Trưởng Giác Nhẫn quyết chí tầm sư học đạo. Với chí hướng cầu đạo rất dõng mãnh nên được Tổ Khánh anh ở Tiểu Cần truyền dạy giáo lý (nghe Kinh bộ) trọn 01 năm.

Năm 1949, Tổ Khánh Anh được Bà chủ chùa (tục gọi là Bà Ba Sàng) ở Cái Tàu Hạ thỉnh Tổ về giảng dạy tại chùa được 01 năm. Lớp học này có trên 20 vị trong đó có Ni Trưởng Giác Nhẫn và Sư Bà Như Thái theo học.

Năm 1951, Ni Trưởng Giác Nhẫn học lớp Sơ Trung Phật Học Ðường Nam Việt ở Từ Nghiêm cùng quí Sư Bà Như Thái, Sư Bà Giác Ngọc, Sư Bà Như Hoa, Ni Sư Tịnh Lan, Tắc Niệm, Ni Sư Tắc Khiêm v.v... gần 20 vị.

Cuối năm 1953, Ni chúng chùa Từ Nghiêm được dời về chùa Dược Sư ở Gò Vấp. Ngày tháng cứ thế chầm chậm trôi, chẳng mấy chốc Ni Trưởng tu học tại đây 04 năm hết chương trình Trung Ðẳng.

Vì có trình độ thế pháp, tánh tình lại ôn hòa, chân thật, cần mẫn, vị tha nên ở 02 ni trường Dược Sư và Từ Nghiêm, Ni Trưởng đều giữ trách nhiệm Tri Chúng và Chánh Thơ ký rất được mọi người quý mến.

THỜI KỲ HÓA ÐẠO:

 Năm 1957, lớp Trung Cấp Phật Học Ðường Nam Việt Aán Quang và Dược Sư giải tán. Ðể phù hợp tình hình chuyển biến của đất nước, Chư Tôn Giáo Phẩm Giáo Hội Tăng Già Nam Việt chủ trương thay đổi vấn đề tu học của Tăng Ni cho phù hợp. Với phương châm “Tùy duyên bất biến” nên 02 bộ Tăng Ni đều phải học nghề. Do đó Ni Trưởng theo học lớp y tá.

Vì hạnh nguyện lợi tha cũng như để bảo tồn truyền thống cao đẹp trong quá trình tầm sư học đạo, nên hai chị em Sư Bà Như Thái và Ni Trưởng Giác Nhẫn đều trở về chùa Giác Thiên mở lớp Sơ Ðẳng Phật Học. Thân mẫu của Ni Trưởng tình nguyện đài thọ kinh phí cơm ăn áo mặc cho chư ni tu học tại chùa trên 40 vị.

Năm 1957, chính thức khai giảng lớp Sơ Ðẳng Phật Học chùa Giác Thiên, có chư tôn Hoà Thượng Phật Học Ðường Ấn Quang như Hoà Thượng Hành Trụ, Hòa Thượng Long Phước ở Vĩnh Long, Hòa Thượng Trí Hữu về chứng minh thầy Tịnh Ðức là xướng ngôn viên.

Trong khoảng thời gian Ni Trưởng Giác Nhẫn đảm nhiệm Giáo Thọ Sư tại chùa Giác Thiên thì Hòa Thượng Thích Thiện Hòa giữ chức vụ “ Trị Sự Trưởng Tổng Trị Sự Giáo Hội Tăng Già Nam Việt” tấn phong Ni Trưởng Giác Nhẫn chức vụ “ Chưởng Bộ Tịch” Ban Quản Trị Ni chúng Nam Việt niên khóa thứ nhất ngày 20/02/1957.

 Năm 1961 , Phật Học Ni Trưởng chùa Giác Thiên mãn khoá Sơ Trung. Có chư tôn Ðức Tăng Phật Học Ðường Nam Việt chùa Ấn Quang và Sư Trưởng Như Thanh về chứng minh chấm thi cho Ni sinh lên cấp Trung Ðẳng Phật Học Ðường Dược Sư trên 30 vị. Các Ni sư này về sau được vào Ðại học Vạn Hạnh 05 vị.

 Ni Trưởng Giác Nhẫn cùng 02 cố Sư Bà Tâm Nhàn, Như Thái đào tạo ung túc thành đạt một số ni tài đáng kể. Các vị ấy hiện nay đã đảm nhiệm trụ trì ở các tự viện tại Thành phố Hồ Chí Minh như Ni Sư Như Dung chùa Châu Lâm Quận Bình Thạnh, Ni Sư Như Ngộ chùa Vạn Hạnh Quận 10, Ni Sư Tắc Thinh chùa Pháp Quang Quận 8, Ni Sư Tắc Hiền, Tắc Nhẫn chùi Bùi bửu ở Dĩ An, Ni Sư Tắc Vân chùa Pháp Giới, Ni Sư Tắc Bổn chùa Ðịnh Phước, Ni Sư Tắc Tuyết chùa Long Nhiễu Thủ Ðức.

Ngoài ra còn có chư ni ở các Tỉnh như Cần Thơ, Trà Vinh, Sa Ðéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho v.v... đều ở địa vị trụ trì đảm nhiệm Phật sự nhiều nợi giúp cho Giáo hội.

Thời kỳ Pháp nạn năm 1963, 03 chị em của Ni Trưởng Giác Nhẫn đem hết số ni chúng ở chùa Giác Thiên tập trung về chùa Từ Nghiêm và Xá Lợi tranh đấu Dụ số 10 kỳ thị tôn giáo của chế độ Ngô Ðình Diệm. Lúc đó Ni Trưởng Giác Nhẫn lãnh nhiệm vụ Ban Giảng Huấn về các tỉnh miền Tây kêu gọi qúi Sư Bà trụ trì và ni chúng tập họp về Sàigòn chung lo Phật sự với Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.

Năm 1964,Ni Trưởng học lớp Cao Ðẳng Phật Học tại chùa Pháp Hội Quận 10.

Năm 1965, Ni Trưởng học Ðại Học Vạn Hạnh 03 năm. Ni Trưởng đã thi đậu 11 chứng chỉ, tốt nghiệp bằng Cử Nhân Phân Khoa Phật Học và Triết Học Ðông Phương.

Từ năm 1964 Ni Trưởng Giác Nhẫn thường trú ở tổ đình Từ Nghiêm chung lo Phật sự với Sư Trưởng Như Thanh Viện chủ chùa Huê Lâm Quận 11 cùng với quý Sư Bà Ban Quản Trị chùa Từ Nghiêm. Ni Trưởng đảm trách nhiệm vụ Chánh thơ ký Ni Bộ Bắc Tông và Giám Học Phật Học Ni Viện Từ Nghiêm.

Năm 1965, duyên lành lại đến Ni Trưởng Giác Nhẫn lãnh ngôi cổ tự Sắc Tứ Huệ Lâm Quận 8 và cho Hòa Thượng Nhất Hạnh mượn làm cư xá cho trường Thanh Niên Phụng sự Xã Hội mượn được 02 năm. Sau đó trường dời về Phú Thọ Hòa, Ni Trưởng gọi 02 đệ tử lớn ở chùa Giác Thiên là Ni Sư Thanh Minh và Ni Sư Như Tuấn về Huệ Lâm trông nôm và điều hành.

Năm 1970 , Ni Trưởng trùng tu chùa Sắc Tứ Huệ Lâm lần thứ nhất, đồng thời Ni Trưởng kiển thiết thêm 02 cơ sở hai bên hông chùa là Mẫu giáo Sơ cấp và Ký Nhi Viện.

Năm 1971, Ni Trưởng tham dự trọn khóa tu nghiệp Quản Trị Học Ðường và Tâm Lý Giáo Dục.

Năm 1975, Ni Trưởng được cố Pháp Chủ Thích Minh Nguyệt mời làm Thành Viên Ban Liên Lạc Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1977, Hòa Thượng Thích Minh Châu và Sư Bà Diệu Không ngỏ ý mời Ni Trưởng tham gia vào Ban Giáo Dục Tăng Ni ở thành phố nhưng Ni Trưởng khước từ, vì Ni Trưởng vẫn còn nhiệm vụ Giáo dục trong Ban Quản Trị Tổ đình chùa Từ Nghiêm.

Tháng 10 năm 1986, Sư Bà Như Thái – là chị ruột thứ 6 của Ni Trưởng Giác Nhẫn viên tịch tại chùa Huệ Lâm-Quận 8 . Cố Sư Bà hưởng thọ 72 tuổi – Hạ lạp được 46 hạ.

Năm 1990, Sư Bà Tâm Nhàn – là chị thứ 5 của Ni Trưởng Giác Nhẫn viên tịch. Cố Sư Bà hưởng thọ 85 tuổi.

Năm 1991, Ni Trưởng trùng tu Sắc Tứ Huệ Lâm Tự lần thứ 2.

Là một bật chân tu, thật học, với tâm niệm “Trụ Pháp Vương Gia, Trì Như Lai Tạng” là nhiệm vụ lớn lao của hàng Tăng Sĩ Ni Trưởng lại có trình độ học lực ngoại điển và nội điển, cộng với bổn hoài của Người là “Tiếp dẫn hậu lai, Phò trì mạc vận” Ni Trưởng luôn luôn có tâm niệm ‘Phụng sự đạo pháp, phục vụ chúng sanh’.

Người luôn suy nghĩ phải làm thế nào cho hàng Ni giới được giới hạnh trang nghiêm, tốt đẹp. Người mãi cưu mang lo lắng cho tiền đồ Phật giáo, vì thế sau một thời gian lo âu trăn trở, năm 1993 Ni Trưởng quyết định xin phép Giáo hội Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh và Nhà nước mở lớp Sơ cấp Phật học tại chùa Sắc Tứ Huệ Lâm Quận 8.

Tháng 02/1994 các thủ tục xin phép mới được hoàn tất. Có được quyết định của Giáo Hội và UBND Quận 8 rồi Ngài thu nhận chư ni trong và ngoài thành phố từ các Tỉnh miền Tây, miền Trung ... cho nội trú tại chùa Huệ Lâm trên 50 người. Ni Trưởng luôn luôn vận dụng từ bi tâm, bảo bọc hỗ trợ từ vật chất đến tinh thần để lo cho chúng tu học. Ban Ðại diện Phật giáo Quận 8 và ban Chủ nhiệm làm lễ khai giảng khoá I với hơn 80 Tăng Ni theo học.

 Ni Trưởng Giác Nhẫn làm Phó Chủ Nhiệm, cúng dường công đức cho Bán Giảng Huấn hằng tháng.

Năm 1995, Ni Trưởng trùng tu Sắc Tứ Huệ Lâm Tự lần thứ 3 mặc dù không được huy hoàng lắm nhưng cũng khang trang mát mẽ.

Trong suốt thời gian Ni Trưởng phục vụ Phật Pháp, Ni bộ và Giáo Hội thường mở Ðại Giới Ðàn, Ni Trưởng luôn dự vào hàng Tam Sư là Ðàn Ðầu Hoà Thượng, hoặc Giáo Thọ, Yết Ma A Xà Lê.

Bước chân trên đường hóa đạo tuổi trung niền vừa ra trường Trung cấp chùa Dược Sư thì Ni Trưởng về quê nhà khai Phật Học Ni Viện lớp Sơ Ðẳng tại chùa Giác Thiên.

Ở tuổi cuối “ Thất thập cổ lai hy” Ni Trưởng cũng vẫn còn hoài bảo đào tạo lớp Tăng Ni trẻ tại chùa Huệ Lâm Quận 8 để kế vãng khai lai truyền thừa mạng mạch đạo Pháp.

Bên cạnh công tác Phật sự hoằng dương chánh pháp, Ni trưởng còn hoạt động từ thiện rất tích cực. Ngài luôn luôn chia sẻ những khổ đau bất hạnh của mọi người ở bất cứ nơi nào khi có nhu cầu. Tuy ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng Ngài vẫn tham gia bếp ăn từ nhiện của Bệnh viện Vĩnh Long do chùa Long Khánh tổ chức. Vào ngày 24/01 năm Quý Mùi 2003, mặc dù sức đã cạn nhưng Ni Trưởng vẫn không quên công tác từ thiện. Lần cuối cùng trong cuộc đời của Ni Trưởng vào trước ngày mất 2 ngày, Ni Trưởng còn vui vẻ phấn khởi khi mới vừa làm việc từ thiện cùng với Ban Ðại Diện Phật Giáo Quận 8. Ngài rất hoan hỷ cung thỉnh Hoà Thượng Thích Tôn Thật Trưởng Ban Từ thiện của Giáo Hội để trao một số tịnh tài để hoạt động từ thiện xã hội.

Ni Trưởng đóng góp rất chân thành thiết thật. Ðến nay hoài bão và lý tưởng của Người đã thành tựu viên mãn. Từ lúc trẻ trung đến khi tuổi già sức yếu lúc nào Ni Trưởng cũng biểu dương tinh thần vị tha cao quý.

Xá lợi của Ni Trưởng Giác Nhẫn sau khi hỏa táng

 

PHẦN KẾT:

Cuộc đời hành đạo và hóa đạo của Ni Trưởng Thượng Giác Hạ Nhẫn đã thể hiện sự chơn tu thật học, nghiêm trì giới luật và xiển dương đạo pháp. Ni Trưởng là tấm gương sáng tinh tấn kiên cường nhẫn nhục bất thối chuyển, dù gặp phải trường hợp khó khăn nào Ni Trưởng vẫn vượt qua. Mặc dù niên cao lạp trưởng hay lúc đau bệnh thông thường Ni Trưởng vẫn ra lớp học, vào giảng đường dạy bảo khuyên răn nhắc nhở ni học từ cử chỉ hành vi oai nghi tế hạnh.

Bao nhiêu việc làm của Ni Trưởng đều hướng về hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh, chớ không vì việc riêng tư nào khác. Ni Trưởng là bậc thầy mẫu mữc của hàng Ni giới, là cây to bóng mát, là tàng lọng che mát cho Ni Chúng cơ sơ. Là mực mẹ hiền cho hàng tín đồ thân thương đầy khả tính.

 Ni Trưởng làm tròn mọi bổn phận, làm xứng đáng với trọng trách của mình. Hình ảnh của Ni Trưởng thật cao cả, đáng làm gương sáng cho đoàn hậu tấn noi theo.

 ( Tiểu Sử về Thân Thế và Thời Kỳ Học Ðạo & Hóa Ðạo do Ni Trưởng Giác Nhẫn sao chép lại từ lưu bút của Ngài.  Phần kết của Môn nhơn Pháp Quyến )



---o0o---

LỄ TANG

CỐ NI TRƯỞNG : THƯỢNG GIÁC HẠ NHẪN

Húy Hồng Tịnh

VIỆN CHỦ CHÙA HUỆ LAÂM – QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Cố Ni Trưởng             : THƯỢNG GIÁC HẠ NHẪN

Tên thật                   : LÊ THỊ KIỂU

Sinh ngày                 : 26-10-1919 (Kỷ Mùi)

Tại                               : Xã Long Hồ – Tỉnh Vĩnh Long

Viên tịch vào lúc 11 giờ 10 phút ngày 09 tháng 3 năm 2003

(nhằm ngày mùng 07 tháng 02 năm Quý Mùi)

            Hưởng thọ : 85 năm

            Hạ Lạp : 63 Hạ

Lễ nhập kim quan  lúc 18 giờ cùng ngày

Kim quan của Cố ni trưởng được tôn trí tại chùa Huệ Lâm – Quận 8

Lễ viếng bắt đầu vào lúc 8 giờ sáng ngày 10/3/03 đến hết ngày 11/3/03

   Lễ truy niệm  vào lúc 4 giờ sáng và Lễ cung tống di quan vào lúc 5 giờ sáng ngày 12 tháng 3 năm 2003

Hỏa táng tại Ðài Hỏa táng Bình Hưng Hòa – Huyện Bình Chánh – Thành phố Hồ Chí Minh.

 

---o0o---

 

HOÀI NIỆM ÂN SƯ

 

“ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ”

 

Cung kính ngưỡng bạch Chư Tôn Hòa Thượng, Chư Thượng Tọa, Ðại Ðức Tăng.

Cung kính ngưỡng bạch Quý Ni Trưởng, Quý Ni Sư, Quý Sư Cô trụ trì các Tự viện

trong và ngoài Thành Phố cùng các Tỉnh Huyện lân cận.

Kính bạch chư Tôn Ðức,

Trong giờ phút sắp ly biệt để tiễn đưa nhục thân Thầy của chúng con xa lìa nơi trần thế, những đàn con thơ dại sắp vụt khỏi tầm tay những thâm tình gói trọn nghĩa Thầy trò, chúng con mang nặng nỗi xót xa lòng quặn thắt, hòa trong nỗi u buồn của vạn vật ngàn cây đang im lìm buông rũ, cát đá như ngậm ngùi, cỏ cây như rơi lệ, giây phút tiễn biệt chia ly người Thầy vô vàn kính quý. Hàng Môn nhơn pháp quyến chúng con thành tâm đê đầu sám hối quý Chư Tôn Thiền Ðức Tăng Ni nhũ lòng thương xót cho phép đệ tử chúng con dâng lên Giác linh Thầy chúng con đôi lời tiễn biệt.

Kính bạch Giác linh Thầy, hiện Bào Muội của Thầy con là Ni Sư Giác Bổn và Ðệ tử chúng con xuất gia cùng tại gia thành tâm phủ phục trước án tiền kim quan của Thầy, chúng con cố nén đau thương, thế nhưng từng nhịp đập của trái tim vẫn nghe đau buốt. Trong giờ phút thiêng liêng này, chúng con đồng kính dâng lên Giác linh Thầy đôi lời bái bạch. 

Kính bạch Giác linh Thầy, chúng con được nghe lời Phật dạy “Hữu sanh, hữu tử, hữu hình, hữu hoại, thế gian vô thường, khổ không vô ngã” . Ðệ tử chúng con vẫn biết Ðịnh luật vô thường nhưng chúng con không biết làm sao tránh khỏi phàm tình thế gian, giờ phút này cảnh vật im lìm đã thể hiện trong quang cảnh tiễn đưa, chắc Giác linh Thầy cũng đã chứng minh được tấm lòng của mỗi người Ðệ tử khi chúng con sắp xa và mất Thầy vĩnh viễn. 

Ngưỡng bạch Giác linh Thầy, Thầy ơi ! AÂn đức của Thầy đối với hàng Ðệ Tử chúng con còn đó, ân sâu của Thầy chúng con chưa đền đáp được sao Thầy lại đành lòng nở bỏ chúng con ra đi, khi chúng con đang cần sự dạy dỗ khuyên nhắc của Thầy, phút chốc nữa đây chúng con bơ vơ như những đứa con mất mẹ.

 Thầy ơi ! Y báo chánh báo đạo hạnh trang nghiêm khả kính khả quý của Thầy là bóng cây đại thọ che mát cho chúng con, là con thuyền Trí huệ đưa chúng con qua bến bờ giải thoát. Chúng con làm sao quên được những kỷ niệm sâu đậm tình nghĩa Thầy Trò ngọt bùi cay đắng trong đời sống hằng ngày. Thầy đã dành trọn cho chúng con những tình thương vô bờ bến, Thầy thường cân nhắc chỉ bảo mong sao cho đàn con thơ dại của mình nên người chân thiện mỹ.  

Tuy tuổi cao sức yếu Thầy luôn luôn tận tụy chấm từng bài kiểm tra Hán văn, sửa từng đường nét chữ, giảng dạy từng câu giáo lý trong khi Thầy đang nằm trên giường bệnh, làm sao chúng con quên được tấm gương đạo hạnh cao cả của Thầy. Từ khi xuất gia cho đến tận cuộc đời Thầy chỉ một lòng phục vụ Ðạo pháp nhân sinh. Ôi! Cao quý thay hình dáng khoan thai mẫu mực, lòng từ bi quảng đại của Thầy, những lời pháp nhũ vàng ngọc của Thầy, đệ tử chúng con đâu còn diễm phúc thấy và nghe được nữa.  

Thầy ơi ! Bây giờ chúng con đã mất và xa Thầy vĩnh viễn, nỗi lớn lao mất Thầy đã đến với chúng con. Từ đây về sau chúng con có hoài niệm ân đức của Thầy chỉ sống bằng những kỷ niệm qua hình ảnh, âm vang đồng vọng của Thầy sống trong tâm thức chúng con mà thôi, chúng con không còn được ngồi gần bên Thầy như những ngày trước nữa, chúng con không còn được thấy nụ cười luôn luôn hoan hỷ trên vành môi biểu tượng tấm lòng bao dung của Thầy.

Thầy ơi! Tình nghĩa Thầy Trò sao mà thân thương và mặn mà quá Thầy nhỉ! Bao nhiêu dòng chữ trên trang giấy đọc trong khoảng thời gian ngắn ngủi làm sao gói trọn hết tình Thầy trò, một bậc Thầy đạo hạnh cao quý của chúng con.

 Thầy ơi! Mai đây âm thanh nụ cười của Thầy không còn nữa, ai là người dẫn lối đưa đường, sách tấn chúng con khi lẫm lỗi, trong khi Huynh đệ chúng con còn nhỏ dại, mất Thầy rồi chúng con như đàn gà con mất mẹ. Kể từ nay dấu chân của Thầy không còn lai vãng thì làm sao chúng con khỏi rơi lệ ngậm ngùi, chúng con mất Thầy như mất đi tất cả, nát dạ tan lòng, đau đớn vô hạn.

 

“Thầy ơi sao vội về Tây

Thầy không ở lại dắt tay dẫn đường
Lòng con nghĩ đến mà thương
Thầy trò ly biệt đoạn đường cách xa”

 Giờ đây quỳ trước kim quan Thầy, hàng Ðệ Tử chúng con thành tâm đảnh lễ kính dâng lên Giác linh Thầy lòng hoài niệm bái tạ ân đức của Thầy Trong muôn một. Giờ đây, Môn nhơn pháp quyến chúng con thành tâm đê đầu bái thỉnh Chư Tôn Thiền Ðức Tăng Ni nhũ lòng thương xót bố thí nhứt nú nhứt kệ tác pháp di quan hầu trơ tiến Giác linh Thầy chúng con sớm cao đăng cửu phẩm quả chứng vồ sanh thường tịch quang ứng hiện viên dung chơn tánh hải đồng đăng hoa tang giới.

                         Ngưỡng mong trên Giác linh Thầy thùy từ chứng giám cho hàng Ðệ Tử chúng con.

“ Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Tác Ðại Chứng Minh”

 

Nhứt tâm đảnh lễ : Hoài niệm Cố Ni Trưởng Bổn Sư Thượng Giác Hạ Nhẫn húy Hồng Tịnh – Viện chủ Sắc Tứ Huệ Lâm Tự chi AÂn sư  tam bái.

 (Ðây là bài cảm niệm của hàng Môn Nhơn Pháp Quyến trước khi cung tống kim quan đến Ðài Hỏa Táng Bình Hưng Hòa)

 

---o0o---
Update: 12-06-2003 

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở  về Trang Nhân Vật PGVN

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com