
Phụ - hệ Thái - tử Siddhattha

Mẫu - hệ Thái - tử Siddhattha

Trong bước đầu học Phật, chúng tôi thường gặp nhiều trở
ngại lớn về vấn-đề danh-từ. Vì trong kinh sách tiếng Việt thường dùng
lẫn lộn các chữ Việt, chữ Hán-Việt, chữ Pali, chữ Sanscrit, khi thì
phiên âm, khi thì dịch nghĩa. Các địa-danh và nhân-danh
không được đồng nhứt. Về thời-gian, nơi chốn và nhiều câu chuyện trong
sự tích đức Phật cũng có nhiều thuyết khác nhau làm cho người học Phật
khó ghi nhận được diễn tiến cuộc đời đức Phật. Do đó chúng tôi có phát
nguyện sẽ cố gắng đóng góp phần nào để giúp người học Phật có được
một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và
dễ tra cứu khi cần.
Qua các tài liệu nghiên cứu đáng tin cậy như quyển
Ðường Xưa Mây Trắng của Hòa-Thượng Nhất Hạnh, quyển The Life of
Buddha as Legend and History của Edward J. Thomas, quyển The Life
of The Buddha According to The Ancient Texts and Monuments of India
của A.Fouché, bộ Buddhist Legends 3 quyển của Eugene Watson
Burlingame, quyển Geography of Early Buddhism của Bimala Churn
Law, vân vân ... chúng tôi cố gắng chọn lựa, sắp xếp thành quyển
Sự tích Đức Phật Thích Ca mâu Ni này để giúp người học Phật thấy rõ diễn tiến
cuộc đời gương-mẫu và giáo-lý cao-thượng của Ngài, vừa thực-tế
vừa siêu-phàm. Giáo-lý
cao-thượng
của đức
Thế-Tôn được đặt
trở
lại
trong khung cảnh đời
sống
hằng
ngày của
Ngài bằng
những
lời
lẽ đơn-giản,
dễ đọc,
dễ
hiểu,
dễ
nhớ
và dễ
thực
hành.
Tuy nhiên để tránh mọi kiến chấp đúng/sai, có/không,
thật/giả ... chúng tôi xin mạn phép nhắc lại lời Phật dạy về Pháp Tứ
Y như sau: Muốn học hỏi giáo lý có kết quả tốt đẹp chúng ta nên y
theo bốn điều này:
1- Y pháp bất y nhân: Nên nương theo sách vở hay
lời chỉ dạy, không nên chấp nơi tác giả hay người nói.
2- Y nghĩa bấy y ngữ: Nên nương theo nghĩa lý,
không nên chấp vào lời nói hay văn tự.
3- Y tánh bất y tướng: Nên nương theo thật tánh
của sự vật, không nên chấp vào giả tướng bề ngoài.
4- Y kinh liễu nghĩa, bất y kinh bất liễu nghĩa:
Nên nương theo lời nói hay kinh sách chỉ thẳng Chân lý rốt ráo, không
nên chấp vào các lời nói hay kinh sách dùng phương tiện để chỉ dạy theo
trình độ người nghe.
Vậy, qua các câu chuyện có tính cách huyền bí, thần
thoại, khó tin, quý vị không nên tin, cũng không nên chấp là có thật
hay không có thật, quý vị nên tìm hiểu ý nghĩa hay đạo lý mà câu
chuyện đó đề ra. Vì hầu hết những mẫu chuyện có tính cách huyền bí, thần
thoại, khó tin về sự tích đức Phật đều do chính đức Phật, chư Tổ, chư
Hòa Thượng hoặc các học giả đặt ra vì lợi ích của người hậu học như
chúng ta. Thật là ngây thơ khờ dại nếu chúng ta nêu ra câu hỏi: Chuyện
Ông Già Noẽl, chuyện Con Quạ và Con Chồn của La Fontaine, chuyện Lạc
Long Quân lấy bà Âu Cơ sanh ra 100 trứng... là có thật hay không có
thật?
Ngoài ra, chúng ta cũng nên căn cứ vào Ba Pháp Ấn
của đức Thế Tôn để biết giáo lý nào đúng là do ngài chỉ dạy hay không
phải do ngài chỉ dạy. Ba Pháp Ấn đó là Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn
theo Phật giáo Nguyên thủy, hay Không, Vô Tướng, Vô Tác (Vô Nguyện)
theo Phật giáo Ðại thừa.
Chúng tôi mong rằng quyển Sự tích Đức Phật Thích
Ca mâu Ni này có thể mang đến cho quý vị đọc giả một cái
nhìn đầy đủ, đúng đắn về cuộc đời đức Phật và Giáo lý giác ngộ và giải
thoát của ngài chỉ dạy.
Trong khi soạn thảo quyển "
Sự tích Đức Phật Thích Ca mâu Ni" này dĩ nhiên
chúng tôi phải tra cứu các tài liệu hiện hành, nhiều khi phải trích dẫn
nguyên văn, không dám sửa đổi, theo đúng tinh thần
Văn
dĩ tải đạo, thuật nhi bất tác.
Vì lợi ích chung của người học Phật, chúng tôi chân thành cầu xin quý vị
tác giả các tài liệu tham cứu vui lòng thông cảm và tha thứ. Dù với sự
cố gắng của chúng tôi, các tài liệu hiện nay về sự tích Ðức Phật vẫn còn
rất nhiều thiếu sót và sai lầm, chúng tôi rất mong các vị thức giả vui
lòng chỉ bảo thêm để chúng tôi có thể đính chánh và bổ túc thêm vào kỳ
tái bản tới.
Nam-mô Bổn Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
Viết tại Antony, Pháp quốc, mùa thu năm 2004.
Minh - Thiện Trần - Hữu - Danh
-
Chữ Pali thường đơn giản và dễ đọc hơn chữ Sanscrit.
a ngắn, như amount(Anh). Thường có thể lượt bỏ.
Ví dụ: chữ Pippala có thể viết và đọc là Pippal; chữ Arahat
có thể viết và đọc là Arhat.
â dài, =aa, như cha(Việt), father(Anh).
ai như ai(Việt).
e như dê(Việt).
i ngắn, như đi(Việt), pin(Anh).
ĩ dài, như police(Anh).
o như ô-tô(Việt).
u như tu(Việt), fou(Pháp).
c,
ch như chợ(Việt).
d như đi đâu(Việt).
g như ghe gạo(Việt).
h như họ hàng(Việt).
j như joujou(Pháp), hoặc như dj trong Djakartạ(Pháp).
p như papa(Pháp).
ph p và h đọc rời ra như uphill(Anh).
s,
sh như tại sao(Việt), sure(Anh), chien(Pháp).
th đọc rời ra như hothouse(Anh).
v đầu chữ hoặc sau một nguyên âm, đọc như vì vậy(Việt).
v sau một phụ âm như Bodhisattva, đọc như chữ u(Việt).
y như danh dự(Việt, giọng Nam).
---o0o---
Mục Lục >
01 >
02 >
03 >
04 >
05 >
06 >
07 >
08 >
09
>
10
11 >
12
>
13 >
14 >
15
>
16 >
17 >
18 >
19>
20

Soạn giả
Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
& hiền nội Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai
Download
Sách hiệu đính tháng
09-2009
Quý độc giả muốn thỉnh tập sách này,
xin liên lạc về
Công Ty Thư Lâm
61/420A Phan Huy Ích
P.12, Q.Gò Vấp, TP.HCM. VIETNAM
Email:
qthangpro@yahoo.com.
(xem bìa sách
in tại Sàigòn)
Soạn-giả
:
Minh Thiện Trần Hữu Danh
123 rue Pascal
92160 Antony, FRANCE
Email :
danh.tranhuu@free.fr
---o0o---
Chân thành cảm ơn Đạo Hữu Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh
đã gởi tặng phiên bản điện tử của tập sách này
(TK. Nguyên Tạng, 8-2005)
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Khởi đăng: 8-2007
Cập nhật: 1-2010