Khóa Học Phật Pháp
lần thứ 16 tại Oslo, Na Uy
Hạnh Thức
---o0o---
Ta từ vô thủy ghé chơi đây
Ðem tâm vương vấn cõi bụi nầy
Hư hư ảo ảo nhân duyên diệt
Nghiệp quả luân hồi trong thoáng giây.
(Huệ Hồng)
Ðã 2 lần, tôi nhắc đến Na Uy trong các bài
viết ít ỏi của tôi. Kỳ nầy, tôi muốn dành trọn một
bài để nói về khóa giáo lý lần thứ
16 tại Oslo, được tổ chức từ ngày 23.12 đến ngày
30.12.2001. Ðộng cơ thúc đẩy tôi bỏ
chút thì giờ hiếm hoi trong cuộc đời tu hành của
mình để viết bài nầy chính là vì các em, những người trẻ
Việt Nam đáng yêu quí...
Tầm sư...
Chúng tôi khởi hành từ chùa Viên Giác,
Hannover, Ðức quốc lúc 6 giờ sáng ngày 22-12-2001. Kỳ nầy chỉ
có bọn mày râu chúng tôi đi thôi, gồm có 4 Thầy, 2 chú Sa
Di: tôi và Hạnh Tuệ, và một Phật tử. Các cô đã đi
Hamburg từ hôm qua để dự khóa tu học dành riêng cho
bên Ni tại chùa Bảo Quang của Sư Bà Thích Nữ Diệu Tâm. Thời
tiết vào Ðông đã lâu, khí hậu bên ngoài là -1ửC nhưng
trong xe +19ửC, đủ sưởi ấm cho 7
người trên đoạn đường xa vạn dặm, suốt từ sáng sớm
cho đến 10 giờ đêm. Từ Ðức tới Na Uy phải băng qua
2 quốc gia khác, Ðan Mạch và Thụy Ðiển và đi phà.
Ðộ 8 giờ, chúng tôi vào một trạm xăng trên
xa lộ nghỉ, ăn điểm tâm, lấy nước
sôi ra chế... mì gói và uống café. Trước khi đi,
Sư phụ có cho chúng tôi mỗi người 100DM. Mọi lần đi xa
như vầy, đồ ăn thức uống, bánh trái mang theo các cô đều
lo cho hết. Nhưng kỳ nầy vì các cô đã đi từ chiều hôm
qua, nên chúng tôi hơi ...khốn đốn, chỉ đem theo được có
2 thùng mì ăn liền và hai cái bình thủy cho nước sôi
và nước trà mà thôi. Nhớ lại chuyến trước, chúng tôi đi
với một lực lượng khá hùng hậu, có cả 3 ‘nhà’: nhà Băng,
nhà Bếp, và nhà... Thương. ‘Nhà Băng’ chính là cô Hạnh
Thông. Vì cô là ‘giám đốc’ xưởng sản xuất thực phẩm
Viên Giác. Bánh trái trong chùa đều do một tay cô quán xuyến
cả, vừa ngon, vừa bổ, lại vừa ... rẻ, cho nên lúc nào cô
cũng có tiền trong túi. Chính cái xe buýt 7 chỗ ngồi chúng
tôi đang đi đây cũng nhờ đó mà có.
Các Thầy thường hay nói đùa: cái xe nầy được làm bằng
mấy cái bánh ...(của cô Hạnh Thông!). ‘Nhà Bếp’ là cô Hạnh
Ngộ. Cô có tài nấu ăn. Ðôi đũa của cô vung lên là chúng
trong chùa, khoảng trung bình trên dưới 25 người, đều
no đủ. Hôm nào rủi cô đi vắng một hai ngày là chúng
tôi...hốc hác. ‘Nhà Thương’ là cô Hạnh Bình. Cô H. Bình
rất đa tài, vừa làm bánh, vừa nấu ăn, vừa làm trên thư
viện mỗi khi sách về nhiều. Cô có đặc
điểm là mỗi khi đi xa, trong đãy đựng đồ của cô lúc nào
cũng có bình dầu cù là thơm phức. Hễ ai bị trúng gió, cảm
cúm tới mượn cô bình dầu, cạo gió là hết ngay.
Kỳ nầy, thay vào đó, chúng tôi lại có nhà
băng ‘quốc doanh’ Hạnh Luận!, mới tạm thời bàn giao chức
vụ thủ quỹ của Chùa từ tay thầy Hạnh Bảo, do lệnh của
...’nhà nước’ (Sư Phụ), khi thầy H. Bảo đi công du một
chuyến ‘ta bà thế giới’.
Ðiểm tâm xong, chúng tôi tiếp tục lên đường.
Xe chạy bon bon không có một trở ngại nào cả. Tới bến
phà Ðan Mạch lúc 12 giờ trưa. Còn hơn 3 tiếng nữa mới có
phà. Chúng tôi tìm chỗ đậu xe rồi vào một quán ăn nhỏ nằm
trên lầu, khá xinh xắn, phiá dưới là một siêu thị. Thầy
Hạnh Luận gọi 7 dĩa khoai tây chiên, tôi gọi thêm một dĩa
xà lách thật lớn.Tôi móc trong túi ra còn 300 đồng tiền Thụy
Ðiển nhân khóa học giáo lý Châu Âu kỳ rồi, đưa hết cho
‘nhà Băng’ Hạnh Luận giữ. Bữa
ăn trưa chúng tôi gồm chừng đó cộng thêm mỗi người
một tô mì ăn liền. Ăn xong, thầy Hạnh
Từ, Hạnh An và Hạnh Luận ra trước. Tôi và thầy Hạnh
Sa theo sau. Ra đến xe, không thấy mấy
thầy kia đâu cả. Thầy H. Sa chui vô xe ngồi. Tôi thả
bộ một vòng qua phố. Phố nằm khuất ở bên kia dãy nhà đối
diện, trên con đường chỉ dành cho bộ hành đi,
nhưng rất sầm uất, tráng lệ, có đủ loại tiệm buôn. Tôi
vào một tiệm TV rất đông người chen chúc. Máy móc ở đây
đắt hơn ở Ðức nhiều.
Tôi đi ngang qua một tiệm ăn, nhớ nơi nầy
trước đây tôi và thầy Hạnh Luận đã ngồi uống nước để
chờ phà như hôm nay. Lần đó, thầy H. Luận uống cả thảy
là
3 ly Café, vì chờ phà quá lâu. Nên tối hôm đó tại
chùa Khuông Việt, thầy nói suốt đêm. Và vì thế, chúng tôi
lại có thêm một giai thoại vui vui để thỉnh thoảng nhắc tới,
nhất là mỗi khi đi ngang qua đây.
Tôi bước vào, rảo mắt nhìn quanh một vòng, tìm xem thử
các thầy có đây không, nhưng không thấy ai cả...
Lúc tôi về lại xe, thấy có mặt đông đủ
bá quan văn võ, đan
g ngồi dán mắt vào màn ảnh nhỏ của
cái computeur xách tay do thầy Hanh Sa mang theo, coi ...phim chưởng.
Tôi ngồi vào ghế, lơ đãng nhìn lên. Thấy vài cảnh đánh
nhau. Hực. Hực, tay chân múa loạn đả. Tôi cố theo dõi
một lúc, nhưng chẳng hiểu ất giáp mô tê gì cả. Tôi rời
màn ảnh và chuyên chú theo suy nghĩ của mình. Thỉnh thoảng,
nghe có vài tiếng súng nổ. Tiếng xe Môtô chạy. Và tiếng
thét la...
Ðộ một giờ sau, chúng tôi mới lên phà.
Tôi và thầy Hạnh Từ tìm một ghế nệm trống nằm nghỉ...,
cho đến khi thầy H. Sa tới đánh thức
dậy.
Qua tới Gụteborg
trời đã tối tự bao giờ. Xe chạy đuổi theo hàng đèn
2 bên đường, uốn lượn, quanh co một hồi rồi ra tới quốc
lộ, nhắm hướng Oslo trực chỉ. Không có xa lộ. Tôi thấy bầu
trời như chùng xuống, chụp phủ lên mọi cảnh vật. Tất cả
như có một sức trì giữ, niú kéo. Yếu ớt. Thưa thớt. Yên
tĩnh. Nhiệt độ bên ngoài xuống -11ửC. Khoảng 7 giờ tối,
chúng tôi ghé vào siêu thị bên cạnh một trạm xăng
mua một lô thức ăn, gồm bánh mì và nước uống.Trả
bằng tiền Thuỵ Ðiển -cũng tương tự như tiền Nauy thôi.
‘Nhà băng’ H. Luận lại phải ra sức làm việc. Nhưng không
sao, chưa thâm thủng, chỉ vừa xuýt xoát. Trạm Cảnh Sát
biên giới giữa Thụy Ðiển và Na Uy bỏ trống, không người
kiểm soát. Thầy Hạnh An bảo, vài tuần trước đây có cả
chó Bergé ra kiểm soát nữa. Có lẽ
lúc đó vừa mới xảy ra vụ Bin Laden. Cách Oslo độ chừng
70, 80 km xe vào xa lộ. Phải trả thuế đường, tiền Nauy. Lại
đổi qua xa lộ khác chạy một hồi mới tới Oslo, tới chùa
khoảng 10 giờ đêm.
Sau khi đảnh lễ Phật xong, chúng tôi lê
n
trình diện Thầy trụ trì và 2 thầy Thiện Huệ, Nhất Chân -đã
tới đây vài hôm trước. Thầy Trí Minh ngạc nhiên khi thấy
chúng tôi qua đông như vậy. Năm ngoái
chỉ có mấy chú Sa Di đi thôi. Thầy Nhất Chân cho biết kỳ
nầy học Bát Nhã Tâm Kinh, chung với Cư Sĩ. Ðảnh lễ
xong, xuống ăn hủ tiếu. Tôi thấy
có nhiều Phật tử ở xa đến từ hôm qua, hôm kia, trong đó
có một phật tử từ Canada, Thiện Xuân (Thu). Cô nầy đi học
khóa giáo lý Châu Âu năm rồi, được nghe nói đến khóa mùa
Ðông nầy, thích quá, nên quyết lặn lội ngàn dặm ‘tầm sư
học đạo’ tìm đến đây. Tôi thấy
có các cô Tịnh Nghiệp, Viên Diệu và Tịnh Hóa đến từ
3 chùa khác nhau bên Thụy Sĩ; chú Quảng Giới, cô Diệu Bạch,
Diệu Ngọc đến từ chùa Phật Quang, Thuỵ Ðiển. Chùa vắng
mấy sư huynh, sư tỉ Viên Duy, Viên Ngộ, Viên Khai... nên hơi
tẻ nhạt. May mà còn thầy Viên Ðại hoạt náo tiá lia nên cũng
đỡ buồn. Sáng 24.12, sau khi điểm tâm,
tất cả di chuyển ra hội trường, cách đó chừng 15’ xe hơi.
Ðây, khóa học.
Nhẹ bước dạo quanh nơi tu học
Khi trắng đầy trời tuyết rơi rơi
Lòng nghe ấm lại nơi
đất khách
Dù vẫn tha phương sống xứ người
Bài thơ ‘Ánh đạo vàng’ của em Thiện Hậu,
được trích từ tờ báo tường do ban Vệ Sinh thực hiện, phát
hoạ cho ta thấy khung cảnh và không khí tu học ở đây.
Khóa tu học Phật pháp kỳ nầy cũng được tổ chức tại hội
trường trường trung học Rommen Skole, Karen Platousv 31, 0988 Oslo
như mấy năm trước. Ðây là một địa
điểm rất lý tưởng, có thể chứa được khoảng 600, 700
người. Có nhà bếp rộng rãi; hội trường to lớn, vừa
làm chánh điện, vừa làm lớp học, vừa tổ chức đêm văn
nghệ mãn khóa; có nhiều phòng học dùng làm phòng ngủ và một
phòng chơi thể thao rất rộng; nhà tắm... Khóa học Châu Âu
3 năm trước với gần 600 người
cũng được tổ chức tại đây.
10g30’ ngày 24.12.01 khai mạc khóa học. Học
viên sắp hàng tề chỉnh, ngay ngắn
trước chánh điện trong hội trường, nam một bên nữ
một bên, phía giữa chừa một lối đi rộng. Tôi nhìn thấy
một rừng áo lam! Các em nữ lúc nào cũng nhiều hơn bên nam.
Có lẽ được thân nam sướng quá nên các em lười biếng tu
chăng (?). Có nhiều em thiếu nhi ngồi ở các dãy trước, một
vài em cha mẹ chưa chuẩn bị kịp áo lam, có lẽ được
đi dự khóa giáo lý đầu tiên.
Ba hồi chuông trống bát nhã vang lên. Các học
viên bắt đầu niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Tiếng
khánh nghe rõ dần, rõ dần. Các Thầy tới. Dẫn
đầu là mâm hương đèn, tiếp theo là các Bác, vài em
thanh niên thanh nữ trẻ, cuối cùng là quý thầy. Sau khi tất
cả đã vào chỗ, thầy xướng ngôn viên Viên Ðại lên giới
thiệu chương trình và thỉnh chư tăng niệm Phật cầu gia bị.
Cả hội trường vang lên Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
theo thầy Trí Minh 3 lần; tiếp liền là tứ hoằng thệ nguyện:
Chúng sanh vô biên, thề nguyện độ;
Phiền não vô tận, thề nguyện đoạn;
Pháp môn vô lượng, thề nguyện học;
Phật đạo vô thượng, thề nguyện thà
nh.
Mỗi lần, khi xướng lên 4 hoằng thệ nguyện
nầy lòng tôi đều cảm thấy se thắt. Ôi, biển học thật
mênh mông và bể khổ chập chùng, làm sao ta có thể tát cho vơi
hết được! Các Bác trong Hội Phật tử ra làm lễ tác bạch,
thỉnh chư Tăng từ bi khai mở khóa học
kỳ thứ 16 tại Oslo nầy, đem giáo lý Phật Ðà phổ độ
quần sanh. Thầy Trí Minh và đại chúng niệm Nam Mô A Di Ðà
Phật. Ðó là một cách tỏ bày sự đồng
ý. Sau khi đảnh lễ 3 lạy, quý Bác lui về an tọa bên
hàng ghế phía trái chánh điện, đối
diện với quý Cô, chú bên nầy. Thầy Viên Ðại giới
thiệu chư Tôn Ðức. Tôi thấy có thầy Pháp sư Nhất Chân,
Pháp; thầy Trí Minh, Nauy; thầy Giác Thanh, Ðan Mạch; thầy Tịnh
Phước, Thuỵ Ðiển; (thầy Pháp sư Thiện Huệ đi
thăm phật tử nên vắng mặt). Tất cả là 13 Thầy và
13 Sa Di, Sa Di Ni. Ðông nhất là quý thầy chùa Khuông Việt và
chùa Viên Giác.
Có tất cả 245 người tham dự.
Thầy An Chí, trưởng ban tổ chức, lên tuyên
bố khai giảng khóa tu học Phật Pháp mùa đông
lần thứ 16 tại Oslo, Nauy. Thầy nói, sự tiến bộ của khoa
học trong thế kỷ vừa qua đã đem đến cho nhân loại một
đời sống thật phong phú vượt bực. Nhưng bên cạnh những
ưu điểm đó, cũng không tránh khỏi những khuyết điểm nặng
nề trầm trọng trên mọi lãnh vực đời
sống, từ thể chất đến tinh thần. Bởi vì tham dục do đó
mà gia tăng. Tham dục tăng, lòng ích kỷ hẹp hòi, thù hận
tranh chấp cũng theo đó mà phát triển. Ðây là thời kỳ đấu
tranh kiên cố giữa con người và con người trên mọi lãnh vực,
từ văn hóa, chính trị, kinh tế lẫn chủ thuyết triết học,
tôn giáo... Ðức Phật xuất hiện để tuyên dương chân lý.
Ngài vạch ra một con đường để chúng
sanh theo đó đạt đến cứu cánh hạnh phúc an lạc, qua giáo
lý Tứ Diệu Ðế: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. May mắn biết
bao! Hạnh phúc biết bao khi chúng ta được là con Phật, được
tắm mình trong biển trí tuệ đó! Ðể tri ân ơn đức sâu
dày của chư Phật và chư bồ tát, không gì hơn là làm theo hạnh
nguyện của các ngài: cầu học Phật Pháp, và dũng mãnh phát
bồ đề tâm. Như thế, mới có thể
cải hóa được mảnh đất đầy phiền não nhiểm ô
thành vườn hoa giác ngộ cho chính mình và cho chúng sanh, chuyển
phàm phu lên thánh hiền. Ðó cũng là một hình thức báo ân gởi
đến quý vị Tôn Ðức đã dạy bảo chúng ta, và đến
quý bác trong Hội Phật Tử đã góp phần tạo dựng
nên khóa tu học nầy...Hơn 16 mùa xuân đã trôi qua, hôm nay
có thêm những bàn tay nhỏ, tuổi đời
rất bé, góp phần đẩy cỗ xe Phật Pháp đại thừa để cho
tiếp tục quay mãi, quay mãi không ngừng...
Thầy Trí Minh tiếp lời, gợi lại các khóa
tu 16 năm về trước, với các bác trong ban Lãnh đạo, một số
vẫn còn hiện diện ở đây, một số đã
vì tuổi tác,
vì cuộc đời bề bộn không còn góp mặt, và một số khác
đã về nơi chín suối. Khóa học đầu tiên đó
Thầy chỉ ghé thăm thôi, vì mới vừa tới Nauy vài hôm
trước, chưa ổn định, và chỉ có độ vài chục người và
ngoài trời rất lạnh, -26ửC. Những gợi nhớ làm bùi ngùi
xúc động người nghe và lên tinh thần những học viên hiện
diện. Vâng, muốn có được một đạo
tràng trang nghiêm thanh tịnh như ngày hôm nay, quý Thầy,
quý Bác đã đầu tư rất nhiều công sức vào đó.
Có nhiều em mới, rất trẻ bắt đầu nhập cuộc. Các em sẽ
là hạt nhân, nở mầm cho cây trái Phật Pháp và văn hóa
dân tộc trên xứ người, đem sự hiểu biết và thương yêu
đến cho nhân loại, góp phần xoa dịu
vết thương loang lở trong tâm hồn con người văn minh thời
đại...
Thầy Nhất Chân lược qua chương trình tu học
trong một tuần, sự chia lớp... Lớp đầu tiên ‘cao nhất từ
trên xuống’ là lớp Oanh Vũ (đại học Oanh Vũ!); kế là lớp
1A, 1B và sau hết là lớp 2, đông nhất. Chúng tôi, tu sĩ cũng
ở lớp nầy. Thầy cũng ngỏ lời chào mừng đến các em ‘rất
trẻ’, và lấy làm tiếc có rất nhiều em muốn đi
dự nhưng đường xá xa xôi cách trở nên không có mặt
hôm nay. Thầy nói về cái lợi của việc học Phật Pháp và
việc đem giáo lý áp dụng trong đời
sống hằng ngày. Với lòng yêu thương vô bờ bến, sẽ
bừng nở trong ta ngọn đuốc soi đường,
dẫn vào từng ngõ ngách tối tăm
của cuộc đời, xoá tan những vô minh phiền trược,
phơi bày ra ánh sáng chân lý và lẽ sống tươi đẹp cho nhân
thế.
Tôi nhìn xuống những gương mặt trẻ, tuổi
đời từ 18 đến 30...đang yên lặng
chăm chú nghe. Những đôi mắt sáng, những vầng trán cao. Ôi,
nét đẹp Việt Nam mến yêu! Mấy bác
lớn tuổi đã được mời vào hàng ghế ngồi đối
diện. Tất cả đều trang nghiêm, tôn kính.
Tôi nhìn lên chánh điện trên sân khấu, nằm
sâu vào phía trong, sát vách tường. Những tượng Phật xinh xắn,
đường nét nhẹ nhàng uyển chuyển theo lối Tây Tạng, Népal.
Chính giữa tầng trên cùng, là tượng Bổn Sư lớn nhất, có
hào quang điện tử chớp lòe liên tục, đức
Văn Thù Sư Lợi cầm kiếm ngồi bên tay phải, bên tay
trái là ngài Phổ Hiền. Chính giữa tầng giữa là tượng Phật
A Di Ðà thật to, và ngài Quan Âm, Thế Chí hai bên. Có
một tuợng Phật xanh đen nổi bật ngay chính giữa tầng dưới
cùng, trông rất bi cảm, hùng tráng. Có vài tượng hộ
pháp đứng xung quanh.
Tôi nhìn quanh hội trường. Phía trên cao, trước
chánh điện, nơi 2 tấm màn sân khấu kéo ra khi trình diễn,
có treo một tấm biển lớn: ‘Khóa
tu học Phật Pháp kỳ thứ 16 tại Oslo, từ 24.12 đến
30.12.2001’. Bên phải chánh điện, từ phía cửa chính nhìn
vào, một tấm biển lớn khác: ‘Hân hoan chào đón chư Tôn
Ðức và quý Học Viên’. Và đối diện, ở bức tường bên
kia, là tấm biển: ‘Sống trăm tuổi không thấy pháp tối thượng,
không bằng sống 1 ngày thấy pháp tối thượng’. Ðây là tấm
biển tôi đã thấy ở các khoá học trước, cũng như ở khóa
Châu Âu...
Thầy Giác Thanh, trụ trì chùa Quảng Hương Già
Lam, Ðan Mạch, được mời phát biểu. Thầy nói chậm rãi, chất
phát nhưng rất vui và có ý nghĩa. Thầy nói, Thầy học Phật
Pháp thấy nói tới 4 cái khổ, là Sanh Lão Bệnh Tử. Nhưng
nay tại đây, Thầy học thêm được 2 cái khổ nữa, một là
được mời lên nói là khổ, và hai là không biết nói gì cả
là một nỗi khổ nữa! (Tất cả mọi người vỗ tay cười),
vì tất cả đã được các vị lên trước nói hết rồi! Ðến
lúc kết thúc, Thầy tìm mãi mà không ra một câu chúc nào cho
có vẻ ‘mới mẻ’ một chút. Thầy nói, Thầy không muốn lặp
lại những gì đã được nghe. Thầy cứ loay hoay mãi ở chỗ
nầy để tìm chữ, làm ai nấy đều cười ồ lên một lần
nữa. Cuối cùng rồi Thầy cũng tìm ra, để cho chương trình
tiếp tục với lời phát biểu của ông hội trưởng Hội Phật
Giáo Nauy. Thầy Viên Ðại dịch lại tóm gọn: đại
ý, ông tán dương tinh thần cầu học của các em, đã bỏ
những thú vui trong mấy ngày lễ, chịu khó về đây
ngồi học Phật Pháp như thế nầy. Ông cũng tán dương công
đức của Thầy Trụ Trì đã tổ chức được các khóa học
liên tiếp trong 16 năm qua. Sau cùng, Thầy Viên Ðại thỉnh
chư Tăng niệm Phật, hồi hướng và hồi qui bản vị.
Sau đay là
thành phần Ban tổ chức:
Cố vấn: T.T.Thích Trí Minh/ Ð.H.Quảng
Thiện KhưuVăn Nhi/ Ð
.H.Minh Chánh Nguyễn Nam
Trưởng ban: Ð.Ð. Thích An Chí/ Phó ban: Ð.H. Minh Chung Nguyễn
Văn Thủy
Giám thị: Ð.Ð. Thích Hạnh Thông
Thư ký: Ð.H. Quảng Tấn Ðỗ Ðạt Thành
Thủ quỷ: Ð.H. Quảng Khai Trần Hoa
Hành chánh & xướng ngôn viên: Ð.Ð. Thích Viên Ðại/
Ð.H. Quảng Tấn/ Ð.H. Quảng Khai
Khánh tiết & phân phối phòng ốc: Ð.Ð.Thích Viên Tánh/
Ð.H. Nguyễn Văn Thanh
Văn phòng & thâu băng: Chúng Bồ Tát
Ban trai soạn: Sa Di Ni Thích Nữ Thanh Tâm và
quý đạo hữu trong ban Xã Hội, ban Từ Thiện, ban Ẩm Thực.
Ban Âm thanh & ánh sáng: Ð.H. Trần Thọ
& Hứa Bảo Lâm
Ban Y tế: Ð.H. Quang Tường Lê Thị Ánh Loan/
Ð.H. Minh Nguyện Phạm Thị Anh Kiều/ Ð.H.
Tuyết Tường Nguyễn Thị Hường/ Ð.H. Tuyết
Nhiên Chế Bích Hồng Vân.
Ban Vệ sinh: Qúi Ð.H: Nguyễn Văn Ðồng, Nguyễn
Văn Lộc, Nguyễn Xuân Công & Ban Tổ Chức.
Ban Quay phim, nhiếp ảnh: Ð.H. Tuyết Quang Trần
Ðạt Vinh/ Ð.H. Huệ Ái Phạm Duy Anh.
Ban Liên lạc: Ð.Ð. Thích Viên Ðại/ Ð.H. Nguyễn
Văn Thanh.
Ban Trật tự: Quí Ð.H. Võ Tấn Nghĩa, Nguyễn
Văn Ðồng, Ðặng Văn Khưởng, Võ Ngọc Tâm, Nguyễn Xuân
Công, Quách Hữu Phước, Lê Văn Phước.
Ban Giảng Huấn:
-Lớp Oanh Vũ: Các Huynh Trưởng GÐPT đảm trách.
-Lớp 1A & 1B: T.T. Thích Giác Thanh & Quý
Ð.Ð. Thích Tịnh Phước, Thích An Chí, Thích Hạnh Thông,
Thích Viên Tánh, Thích Viên Ðại, Thích Viên Giác.
-Lớp 2: T.T. Thích Nhất Chân, T.T. Thích Thiện
Huệ, T.T. Thích Trí Minh.
Về phía học viên, được chia ra làm 3 ban:
ban Hành đường (lo việc dọn cơm, rửa
chén), ban Trai soạn (lo việc xắt gọt, phụ nấu ăn), ban Vệ
sinh (làm vệ sinh, lau chùi, quét dọn)
Vì đã quá 12 giờ trưa nên bữa ăn
đầu tiên không theo nghi thức Quá Ðường, mà là một
bữa ăn thường. Có nhiều tiếng rầm rì ở phía dưới, làm
Thầy An Chí phải lên tiếng ‘nhắc nhở’ giữ im lặng để
cho bữa ăn được thanh tịnh. Các em thiếu nhi (độ 40 em) ngồi
riêng 2 dãy bàn phía bên trái chư Tăng,
cũng ăn uống chỉnh tề, trang nghiêm; được 2 chị trưởng
luôn luôn túc trực đi lui đi tới chăm sóc giúp đở khi hữu
sự. Nữ ngồi 2 dãy bàn dài, dọc theo hội trường; nam
ngồi 2 dãy bàn bên nầy, đối diện với các em thiếu nhi.
Khai thị.
16 giờ chiều nay (24.12.01) thầy Trí Minh khai
thị. Thầy nói, Ðức Phật xuất hiện trong cuộc đời
nầy để ‘khai thị’ cho chúng sanh ngộ nhập Phật
tri kiến. Chữ khai thị chúng ta dùng ở đây
nghĩa hẹp hơn, nhưng cũng không xa rời ý nghĩa đó: để mở
đầu một khóa tu học, vạch ra một con đường, một chủ đề.
Ðạo Phật là gì? Là con đường, là lẽ phải, là lý
tối thượng. Nhưng ở đây ta chỉ hạn
hẹp ở ‘con đường’. Phật đạo. Con đường thành
Phật. Thành Phật là giác ngộ. Con đường giác ngộ. Muốn
như vậy phải từ từ, từng bước một. Từng giác ngộ nhỏ
sẽ thành giác ngộ lớn. Một ngôi nhà chọc trời đi
chăng nữa cũng đều được xây dựng bằng những hạt cát nhỏ
li ti tạo thành. Không thể nói, tôi đi
tu để thành Phật. Ngày mai ngày mốt tôi sẽ thành Phật.
Không phải như vậy. Rất nguy hiểm. Tẩu hỏa nhập ma. Thành
Phật là con đường dài vô tận. Phải tu Phước tu Huệ. Phước
Huệ song tu. Phát bồ đề tâm. Ðức Phật đã từng bao nhiêu
triệu kiếp làm hạnh bồ tát, xả thân vì người. Có lúc
ngài là con chim oanh vũ, đi nhặt từng hạt thóc về nuôi cha
mẹ mù loà. Có khi ngài là gã tiều phu, hiến mình cho cọp đói.
Có lúc là một nhà tu hạnh nhẫn nhục, hy sinh cả những phần
thân thể của mình mà không oán than, trách móc. Ngài đã từng
cúng dường, hộ trì vô lượng chư Phật, tu biết bao nhiêu hạnh
lành ...Con đường giác ngộ không phải tự nhiên mà có. Phải
học. Người đời thường hay nói: tu
học. Nhưng đúng ra là ‘Học tu’ mới phải. Có học
thì mới biết để mà tu. Tu mà không học là tu mù. Học mà
không tu là ác. Ác chớ không phải là đãy sách. Ðãy đựng
sách... Cuộc đời không bao lâu. 60 năm, 80 năm rồi sẽ qua cái
vù. Còn gì lưu lại? Bây giờ ngồi đây
nhưng biết đâu ngày mai? Ðừng phung phí cuộc đời vào
những nơi trác táng chơi bời, rượu chè, hút sách. Hãy khởi
hành. Phải làm cái gì cho có nghĩa. Mai mốt nhìn lại người
bạn cùng trang lứa với mình ngày hôm nay -nhưng vì không có
lý tưởng, đã thả trôi cuộc đời mình trong những cuộc
vui chơi hoang đàn - trong một thân thể gầy còm bệnh hoạn,
nghèo hèn. Ðừng lao đầu vào chốn xa hoa, phung phí thời gian
như những con thiêu thân lao đầu vào đóm lửa. Như giọt mật
trên lưỡi gươm. Ðừng đặt môi vào, sẽ đứt lưỡi... Phật
Pháp khô khan, khó nghe khó học. Các em hy
sinh những thú vui để chịu khó thức khuya dậy sớm. Các em
khổ. Chư Tăng Vui. Vui trong nỗi khổ của các em! (có tiếng cười).
Vì sao? Vì bây giờ có khổ, ngày mai mới được sung
sướng... Ngoài giờ học lý thuyết, các em còn phải tập tu.
Tu trong lúc làm việc, chấp tác, lúc
ăn, lúc giao thiệp, trong các thời khóa công phu. Thanh tịnh
ở ngay trong Tâm ta. Tâm thanh tịnh thì ở đâu cũng thanh tịnh
cả...
Thầy nói rất nhanh, rõ ràng, hoạt bát, thỉnh
thoảng điểm vài mẩu chuyện vui, làm ai nấy đều hoan hỷ,
vui vẻ cười rộ...
Pháp sư.
...Lời Thầy trầm bổng thiết tha
Vẫn còn vang mãi bên tai hôm nào
Học giáo lý em càng thấm thía
Ráng tu hành em nhớ không quên
Ơn Thầy em ráng luyện rèn
Ðể thành con Phật em hằng ước mong...
Bài thơ ‘luyện rèn’ của em Nhật Liên Nguyễn
Viết Hà thuộc ban Hành Ðường, nói lên niềm tri ân đó
đến quý Thầy giảng sư. Chúng tôi may mắn được 2 Thầy Nhất
Chân và Thiện Huệ dạy. 2 Thầy thay phiên nhau giảng, mỗi
Thầy 2 buổi liên tiếp. Mỗi ngày chúng tôi có 3 buổi học,
sáng, chiều, tối; mỗi buổi 1 tiếng rưỡi (1g30’). Thầy Trí
Minh cũng dành cho lớp chúng tôi một buổi vào giữa khóa học.
Thầy Nhất Chân giảng Bát Nhã tâm kinh, tánh
không, 18 giới, 12 xứ, 5 uẩn. Thầy nói, muốn hiểu tánh
không, muốn đi vào trí tuệ bát nhã, phải hiểu các pháp căn
bản nầy, vì từ đây mà phát
sinh ra vô lượng vô biên thế giới. Các pháp sở dĩ có vô lượng
nghiã là vì từ không mà ra (nhơn duyên sinh). Khổ là một
chân lý. Khổ đế bao trùm tất cả, từ dục giới đến vô
sắc giới. Khổ là vì sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô
thường, biến hoại...
Thầy Thiện Huệ nói về ‘Duy Tuệ thị nghiệp’.
Văn, Tư, Tu. Có trí huệ là
nhìn ra chân lý, thấy được
sự thật, được thực tướng của các pháp. Làm thế
nào để hiểu hết mọi cái giả, và mọi cái thật. Muốn cứu
độ tất cả chúng sanh phải có trí tuệ. Muốn hiểu được
Phật thì phải học cách tư duy, phân tích của Phật.
Và phát bồ đề tâm, hành bồ tát đạo.
Nếu không được như thế, là giác ngộ chưa viên mãn.
Chuyện nhà tu nhẫn nhục và vua Ca Lợi. Sở dĩ ta làm chưa
được là vì Văn, hoặc Tư, hoặc Tu chưa chính xác. Chỉ một
cái thành tựu viên mãn là 2 cái còn lại kia cũng thành tựu.
Muốn độ sinh thì dùng Thân- và Khẩu giáo. Ðạo Phật không
có đấu tranh với địch thủ. Ðịch
thủ của đạo Phật là sự vô minh. Một ví dụ để thấy sự
khác biệt thù thắng trong lối suy nghĩ của đạo Phật với
các đạo khác: hãy nhìn cách giải quyết sự tranh chấp
khác nhau: giữa Mỹ với Hồi Giáo, và giữa Tây Tạng với
Trung Hoa. Không có gì nguy hại cho bằng việc mất Thiện pháp.
Không có gì bảo vệ mình được cho
bằng Thiện pháp. Nguyện từ nay cho đến muôn đời vị lai,
không để mất Thiện pháp...
Thầy Trí Minh mở đầu bằng: nguyện tiê
u
tam chướng trừ phiền não. 5 thừa: Nhân thừa, Thiên thừa,
Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, và Bồ tát thừa. Và 9 điều:
1.Bố ma phá ác, 2.Hào quang, 3.Kinh thiên động
địa, 4.Tam muội Ðà la ni (tài năng), 5.Thần thông, 6.Ứng
hóa thọ sanh, 7.Phước báu, 8.Phật gia hộ, và 9.Tịnh độ...
Thầy Trí Minh giảng rất vui, với mọi đề tài bao quát, từ
lý thuyết đến thực tế sống đạo. Những kinh nghiệm thực
tiễn truyền trao quí báu của Thầy giúp ích học viên
rất nhiều.
Nếu Thầy Nhất Chân ru chúng ta vào tánh
không, trút bỏ hết mọi phiền não, bay bỗng lên tận khung
trời Ðâu Xuất, thì Thầy Trí Minh đã tát một gáo nước lạnh
đánh thức chúng ta dậy, trở về với
thực tế khổ đau. Hãy nhìn cho rõ mặt cuộc đời. Ðề
phòng. Cẩn thận. Nếu không thì ‘bức sô’ ngay (chữ của
Thầy). Ðộ người phải lựa đúng
người. Không độ cho những ai không có duyên với Phật pháp.
Coi chừng. ‘Bức sô’...(Ý Thầy muốn nhắc đến những
kinh nghiệm trong cuộc đời tu hành của mình, nhất là
những đau thương trong lần bị chính
quyền Diệm đàn áp, đến cái đêm 20/8/1963 (?)).
Trường nằm trên một ngọn đồi
vắng vẻ thưa thớt đìu hiu. Bên kia là một ngọn đồi
khác, với nhiều dãy nhà dân cư đông
đúc. Ban đêm, từ khung cửa sổ nhìn ra, là một biển
sáng nhấp nhô đèn vàng, trông giống như một thành phố
trên biển cả. Mỗi buổi trưa sau khi dùng cơm xong, chúng tôi
thường hay thả bộ một vòng. Muốn qua dãy phía bên kia phải
lội xuống đồi, chui qua một cái hầm nhỏ, rồi lên trở lại
một ngọn đồi khác, mất độ 20’.
Ở đó có một thương xá rất lớn, đông đúc. Trời giữa
trưa nhưng mặt trời nằm chếch về phía cuối chân trời.
Ánh nắng yếu ớt không đủ sưởi ấm lòng đất. Tất cả
bao phủ một màu trắng mênh mông. Tuyết bò lên khắp mọi
nơi, trên trần xe, ôm kín cả xe chỉ chừa có 4 cái bánh;
trên mái nhà, những ống khói, cây cối; trên những lan can chạy
dài quanh nhà; trên tất cả những vật dụng để chung quanh
nhà... Những hạt tuyết lấp lánh ánh nắng, phản chiếu
muôn màu, muôn sắc. Những nơi nằm che khuất ánh mặt trời,
tuyết mịn như những sợi tơ, đưa
chân đá nhẹ cũng làm tung toé muôn ngàn bụi trắng.
Bên phố có nhiều người đi, nhưng không ai nói với nhau lời
nào. Tất cả đều tĩnh lặng, câm
nín. Con người đã bị thiên nhiên và khí hậu khắc
nghiệt khuất phục.
Giữa khóa học có ngày giỗ kỵ cố thượng
tọa Thích Quán Không. Thầy được Hội Phật Giáo (lúc đó
còn là Chi Hội) trực tiếp bảo lãnh từ trại tỵ nạn
Thái Lan qua, là cố trụ trì chùa Khuông Việt (lúc đó còn
là niệm Phật đường Vạn Hạnh). Thầy Thích Quán Không tục
danh là Nguyễn Thi, sinh năm 1954, đến
Nauy vào tháng 1.1987 (sau Thầy Trí Minh một hai tuần), nguyên
trụ trì chùa Qui Thiện, Huế. Lúc xây ngôi chùa mới nầy, Thầy
là trưởng ban xây dựng, thảo kế hoạch và kiểu cách ngôi
chùa. (Thầy Trí Minh là Giáo Hội Trưởng GHPGVNTN Na Uy, trưởng
ban Vận động). Thầy cũng là Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ
Nghi lễ GHPGVNTN/CÂ kiêm trưởng ban hoằng pháp tại Nauy. Với
công tác hoằng pháp, T.T. đã vất vả rất nhiều trong các
khóa tu học Phật pháp mùa đông nầy,
kể từ năm 1987 (khóa 2), cho đến năm 1994. Năm 1995, quá lao lực
vì ngôi chùa đang xây cất, Thầy đã
ngã bịnh viêm gan; vào bệnh viện được 3 tháng thì viên tịch
tại đó, vào ngày 14.11 năm Ất Hợi
(tức đầu tháng giêng 1996), lúc khóa tu học Phật pháp
kỳ 10 vừa làm lễ bế giảng, và chùa Khuông Việt cũng trong
giai đoạn sắp hoàn thành. Thầy phục vụ đạo
pháp tại Nauy đúng 9 năm (từ 1.1987- đến 1.1996).
Tối ngày thứ năm 27.12, sau khi Thầy Nhất Chân
giảng xong Bát Nhã tâm kinh, có lễ thọ tam quy, ngũ giới. Tất
cả 27 giới tử, đa phần tuổi từ
15 đến 25. Cũng có vài em rất trẻ. Thầy
Trí Minh cho Pháp danh chữ đầu là Minh- cho con trai, và
Huệ- cho con gái. Và 6 giờ sáng hôm sau có giới đàn thọ Bồ
Tát giới tại gia, và thọ Sa Di Ni cho cô Tịnh Hoá, đệ tử
Thầy Thiện Huệ. Có 24 giới tử Bồ Tát và 10 em ‘nhắp
kéo’ gieo duyên xuất gia sau nầy,
trong đó có 3 em cạo nhẵng tóc, xúng xính trong bộ áo vạt
hò, trông giống như các cô, chú Sa Di thực thụ.
Về chúng Bồ Tát ở đây, phải nói đó là
một thành công rất lớn của Thầy Nhất Chân và Thầy Thiện
Huệ. Từ ‘không biết gì cả, ngay cả bát quan trai
giới cũng không’ (lời Thầy Thiện Huệ), nay các em đã
là những Bồ Tát tại gia. Chú Như Tâm cho tôi biết, giới Bồ
Tát ở đây bắt đầu xuất hiện từ
năm 1994, với 46 vị; năm sau 76 vị, và năm tiếp theo là 108 vị
(cao điểm ?); từ đó đén nay, mỗi năm đều có người
thọ giới, nhưng số lượng ít lần (vì đã thọ hết rồi),
cho đến năm nay là 24 vị. Ða số
là những người trẻ, tài năng. Rất
nhiều em đã có những địa vị rất ưu tú trong xã hội
(Tây Phương).
Văn hóa, văn nghệ.
Chiều nay 28.12, chúng tôi được xem báo tường
do
các em làm. Có tất cả 4 tờ, được trình bày đẹp
đẽ, trang nhã do các em trong các ban Trai Soạn, Hành Ðường,
Vệ Sinh và Oanh Vũ thực hiện. Ðẹp nhất là tờ của ban
Trai Soạn, được trình bày mỹ thuật, màu sắc tươi sáng,
có 4 chữ Hán viết rất đẹp: Hoa Khai Kiến Phật (chắc nhờ
mấy Thầy viết giùm? ). Các sáng tác đa phần là thơ, chuyện
vui. Các em Oanh Vũ thì vẽ hình hoặc kể chuyện, một em vẽ
hình Ðức Phật ngồi thiền, một em hình Bồ Tát Quan Thế
Âm, một em vẽ bàn tay bắt ấn... Có nhiều bài hàm chứa
sâu sắc triết lý nhà Phật, như bài ‘Vướng’ của Huệ Hồng,
ban Trai Soạn... Bài ‘Ánh đạo vàng’ của Thiện Hậu, ban Vệ
Sinh, cho ta một nét phác họa rất thần tình về khung cảnh
và không khí lớp tu học (các bài nầy đã trích ra ở trên).
Và đây là một bài khác:
Ðừng tìm về quá khứ
Ðừng nghĩ tới tương lai
Quá khứ đã
không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Hãy cùng nhau tu học
Kẻo không kịp ngày mai.
(Ngọc Phi, ban Vệ Sinh)
Ðêm văn nghệ được
tổ chức vào lúc 8 giờ tối thứ bảy, 29.12.01, ngày trước
hôm bế giảng. Sân khấu được thiết lập ngay dưới sàn
nhà trong hội trường, khán giả học viên ngồi bệt dưới
đất, trước mặt quý Thầy. Các bác lớn tuổi ngồi vào những
dãy ghế sắp hai bên hông.
Nếu nói, văn nghệ chứng
tỏ được nếp văn hóa, tình cảm, suy nghĩ, cách sống...
của một tập thể thì đêm sinh hoạt văn
nghệ nầy cho thấy điều đó một cách rõ ràng nhất.
Các tiết mục đều do các em tự biên tự diễn, rất hồn
nhiên, vô tư, sống động, trẻ trung và sâu sắc. Có rất nhiều
màn vũ, và kịch (cần phải tập dượt công phu). Tất cả đều
độc đáo, tươi vui và không kém phần điêu luyện.
Các hoạt náo viên điều khiển Chương trình (MC), 2 nam một nữ:
Hường, Thọ và Bích Liên rất tự nhiên, linh hoạt. Quan
khách bên ngoài -không tham dự khóa học-
đến xem rất đông, ngồi chật cả hội trường. Các em xem rất
hào hứng. Hình như đây cũng là lần đầu tiên, các Thầy
lớn ngồi coi suốt đến lúc bế mạc mới ra về. Các Thầy
Hạnh Luận, Viên Giác cũng bị sức sống hồn nhiên của các
em nhiếp phục, tình nguyện tham gia vào ban nhạc với 2 cây
Gitar thùng đệm cho các em hát suốt buổi. Thêm vào đó,
ban tổ chức chơi rất ‘điệu’, thỉnh thoảng các khay
bánh trái, nước ngọt, nước trà được mang ra, đi khắp phòng
mời khán giả. Trong đạo từ trước khi kết thúc, Thầy Trí
Minh cũng đã tán thán tài năng của các em. Thầy nói:
Hay như thế nầy, nếu mà bán vé chắc là thâu vô quỹ được
một số tiền lớn! phải biết tài nghệ của các em như thế
nào!
Có những bài hát, điệu vũ nói lên được tình
ca quê hương, dân tộc, như bài ‘Chung một dòng sông’ do MC
Hường và một chị trưởng GÐPT hợp ca; Mỹ Dung (Thiện Nghi)
với bài ca ‘Quê hương là con đò nhỏ, mẹ về chiếc nón
nghiêng nghiêng; Quê hương là đêm trăng
tỏ, hoa cau rụng trắng đầu hè...’ làm se thắt lòng
người viễn xứ.
Những điệu vũ
duyên dáng, mềm mại
nói lên nét đặc thù, hiền thục của người thiếu nữ Việt,
như vũ khúc ‘Sơn ca’ (ban Oanh Vũ nữ) rất đáng yêu, thơ
ngây; vũ khúc ‘Ðôi cánh nhỏ’ do 2 em nữ, 1 lớn 1 bé
trình diễn rất dễ thương; vũ khúc ‘Chờ người’ (ban Hành
Ðường) với 6 tà áo dài trắng học trò và chiếc nón bài
thơ rất duyên dáng...
Những vở kịch đầy ý nghĩa, sâu sắc như vở
‘Sự tích trống, chuông, mõ
’ (3 em Oanh Vũ nam) nói
lên được ý nghĩa 3 loại pháp khí nầy, với cá là mõ, rắn
là chuông, và bò là trống. Ðặc biệt màn kịch rất
ngắn ‘người ta đã bỏ con rồi Chúa ơi’ do MC Hường
và Bích Liên diễn, mang rất nhiều ý nghĩa: Người con gái phải
lựa chọn một trong hai con đường,
hoặc giữ đạo, hoặc bỏ đạo để theo chồng vì anh
ta là người theo đạo Chúa. Và cô đã can đảm dứt khoát lựa
chọn, để cho anh chàng phải thốt
lên một cách đau khổ như vậy...
Có nhiều vở kịch đem lại những trận cười
thoải mái, như mà
n hài mở đầu ‘Sớ Táo Quân’ do 3
ông Táo trình diễn; như hoạt cảnh đối thoại qua lại giữa
2 em nam (ban Trai Soạn) diễn xuất rất tự nhiên,
vui tươi, điêu luyện không thua gì Phi Thoàn và Hoài
Linh...
Nhiều bài ca nói lên được tình đời
nghĩa đạo, như Thầy Thích Viên Giác với bài ‘thuyền
Bát Nhã’ rất sâu sắc, ý nghĩa; em Võ Tiểu Hải, 22 tuổi
ca vọng cổ rất mùi...
Ðặc biệt màn độc tấu Piano do một em nam
trình diễn rất xuất sắc, công phu; bài ‘Tình phai’do một
em nam ban Hành Ðường ca và tự đệm
đàn Guitar rất điêu luyện...
Tất cả chứng tỏ tài năng bao la, phong phú của
những người trẻ Việt Nam.
Chương trình tạm ngưng để tuyên bố kết quả
tranh giải Thể thao và Bích báo. Về phần Bích báo, ban Trai
Soạn đứng nhất. Tiếp theo là các ban Vệ Sinh, Hành Ðường
và Oanh Vũ.
Sau đó, chương trì
nh tiếp tục với 3
màn trình diễn nữa và kết thúc vào lúc 10 giờ 30’, với kết
quả Văn Nghệ như sau: đứng hạng I
là ban Oanh Vũ; II, ban Trai Soạn; III, ban Hành Ðường; và
IV, ban Vệ Sinh. Trong khi khán giả tiếc nuối ra về, các em
xin phép quý Thầy được ở lại
chơi với nhau đến 12 giờ khuya mới chấm dứt.
Bế giảng.
Lễ bế giảng lúc 10 giờ 30’ ngày chủ nhật
30.12.01 với lời phát biểu của quý Thầy trưởng ban Tổ Chức
An Chí, và Thầy Trí Minh, Thầy Nhất Chân... Thầy An Chí nói
rất lâu và tha thiết, bộc lộ tình cảm của mình dành cho
khóa học. Hầu như tất cả mọi người đều bị khóa học
nầy nhiếp phục, từ Thầy Trí Minh, Nhất Chân, An Chí, Viên
Giác, Hạnh Luận đến quí Bác ... Có
3 quan khách người Nauy tới tham dự, trong đó có ông hiệu trưởng
trường trung học Rommen nầy. (Ông có lên phát biểu cảm tưởng,
được biết trường nầy có 580 học sinh với 70% là người
ngoại quốc, và có 2 giáo sư người
Việt dạy ở đây. Chùa Khuông Việt ngày nay là biểu tượng
cho cả Bắc Âu; nhắc đến nó, không người dân Nauy nào là
không biết). Ban tổ chức báo cáo phần chi thu. Vừa đủ, không
thâm thủng. Thầy Trí Minh trao quà lưu niệm cho quan khách và
quý Bác có công. Ban Tổ Chức tuyên bố kết quả thi trắc
nghiệm giáo lý và phát phần thưởng cho các học viên xuất
sắc.
Hơn 13 giờ, tất cả mọi người lên xe ra về,
mang theo trong lòng niềm tiếc nhớ không nguôi.
Thay lời kết:
Tại hải ngoại, có hai Trung Tâm tu học Phật
Giáo qui tụ nhiều người trẻ VN nhất,
đó là Chùa Làng Mai, tại Pháp và Khóa Giáo Lý Nauy nầy.
Mỗi bên đều có một sắc thái riêng. Trong khi ở Làng Mai
các em -với tà áo dài đủ màu sắc và chiếc khăn
đóng- được hướng dẫn về Thiền, thiền tọa, thiền hành,
quán chiếu thân tâm..., được học cách
tháo gỡ nội kết, tái lập nhịp cầu cảm thông giữa cha
con, chồng vợ, tuổi tác, 2 nền văn hóa cách biệt...(là những
điều rất cần thiết cho cuộc đời đầy gian nan trắc trở
của người cư sĩ tại gia); thì ở đây, các em chân chất với
chiếc áo tràng lam đầy đạo vị,
được hướng dẫn sâu vào giáo lý nhà Phật với tánh
không, bát nhã...
Ðó là 2 mặt của một hình hài, cần bổ
xung lẫn nhau để thân thể VN được
trưởng thành toàn diện. Cái hay ở đây là các em tự
động vào nề nếp, giữ gìn và bảo vệ
phẩm cách. Rất ít khi các Thầy la rầy, quở phạt. Thầy An
Chí chỉ thỉnh thoảng sau mỗi giờ cơm, năm thì mười họa,
mới nhắc đến, để các em cẩn thận giữ gìn, đừng có
làm ‘bể gương, bể bóng đèn...’. Thế mà, đâu vào
đấy. Trật tự. Ðàng hoàng. Ngăn nắp. Sạch sẽ...Hình như
trong thâm tâm, các em cảm thấy một niềm tự hào kiêu hãnh
đã có được một đạo tràng
trang nghiêm thanh tịnh như vậy, mà mỗi em là một thành viên
góp phần vào việc kiến tạo nên đạo tràng đó.
Ôi cảm động biết bao, tuổi trẻ Việt Nam! Các em chính là
niềm tự hào của dân tộc, đã đóng góp vào sự thành công
vẻ vang của người Việt ở khắp năm châu... Với lòng từ
bi vô hạn, với tâm nguyện độ sinh,
rồi đây các em sẽ đi vào đời, cứu vớt những khổ đau
trùng điệp cho mọi loài. Tôi xin các em một điều, hãy
gởi về Việt Nam trái tim của mình, nơi nền văn
hóa, đạo đức đang suy đồi sau những năm tháng chồng chất
hận thù đấu tranh, nơi các bạn cùng trang lứa đang hụp lặn
trong vũng lầy xì ke ma túy, nghiện ngập...
Nhưng đồng thời, chúng ta cũng không khỏi tủi
nhục, khi thấy những sự chia rẽ, chửi bới, bôi nhọ lẫn
nhau trong cộng đồng, giữa các hội đoà
n... Không. Chia
rẽ không phải là bản chất thật của con người Việt Nam.
Nó được du nhập từ bên ngoài vào và có âm mưu. Thật xấu
hổ biết bao! họ nhạo báng ngay đến cả các thánh
nhân Việt Nam! Cha ông chúng ta đã có những lỗi lầm, xin đừng
tiếp tục trao truyền những lỗi lầm đó đến cho chúng con.
Xin hãy tự hào với tuổi trẻ VN hôm nay, mà điển hình
là khóa Phật Pháp mùa đông tại Oslo, Nauy nầy.
Dĩ nhiên, để trở thành toàn hảo, chúng ta
còn phải học hỏi và ra sức cố gắng nhiều hơn nữa.
(Trong khi ở Làng Mai đã biết cách dinh dưỡng đúng khoa học
với gạo lứt, bánh mì đen và không dùng hóa chất, bột ngọt...
thì ở đây vẫn còn tùy tiện ‘theo truyền thống’!).
Chúng con cũng xin đê đầu đảnh lễ chư vị
Pháp Sư Nhất Chân và
Thiện Huệ. Các Ngài đã soi sáng
nguồn đạo trong con, dẫn dắt chúng con lần bước trên con
đường tu học, ngõ hầu mai hậu chóng viên thành Phật quả.
Ân đức đó thật quá sâu dày,
chúng con làm sao quên được. Xin nguyện
đời đời kiếp kiếp, bất cứ nơi đâu chúng ta cũng luôn
luôn được là bạn Pháp với nhau.
Chúng con cũng thành kính tri ân Thượng Tọa
Thích Trí Minh, người đứng mũi chịu sào trong suốt 16 năm
qua, đem hết sức mình lèo lái, lo toan, tổ chức, nuôi
dưỡng để cho khóa học được tồn
tại cho đến ngày hôm nay và mãi mãi về sau.
Chúng con cũng tri ân Quý Bác trong Hội Phật tử,
những người đã khai sáng ra khóa giáo lý nầy ngay từ những
bước đầu tiên. Trong đó, có những vị đã
không còn
hiện diện ngày hôm nay và có những vị vẫn còn tiếp tục
đóng góp công sức, hầu đưa con thuyền
Phật Pháp nầy đến bờ vinh quang, như các Bác Quảng Thiện
Khưu Văn Nhi, Quảng Tấn Ðỗ Ðạt Thành, Quảng Khai Trần
Hoa, ...
Xin một lần nữa, nghiêng mình đảnh lễ giác
linh cố Thượng Tọa Thích Quán Không./.
Hạnh Thức (Minh Vinh)
07-01-02
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Cập nhật ngày:
01-01-2002