NHÂN MÙA VU LAN ĐỌC
VĂN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM CỦA ĐẠI SƯ TỈNH AM
Huệ giáo
Giáo pháp của đạo Phật sâu thẳm được ví như đại dương mênh mông. Cửa vào
đạo có muôn ngàn lối, hành giả khi bước vào nếu không trang bị đức tin
vững vàng chắc sẽ choáng ngợp bởi sự uyên áo, sâu kín và pháp mầu vi
diệu. Nếu thế thì con đường vào đạo của chúng ta thì sao, những người
đầy nghiệp lực và hệ lụy của tham ái?
Đạo pháp được xem là vô tận và cao thâm là khi hành giả chưa tìm thấy
được chìa khóa mở tung cửa ngõ để bước vào. Khi nắm bắt được chìa khóa
rồi thì con đường đạo đối với chúng ta sẽ không còn bở ngỡ như đi trong
rừng già kiến thức, mà chỉ còn lại hoa trái của sự thực hành. Vào được
rồi chúng ta lại không biết ngõ đi, tựa như kẻ lang thang lạ lẫm trong
vườn hoa đầy hương sắc dịu mát lòng người, mà tưởng chừng như trong phố
thị tối tăm đầy dẫy kiến luận. Chìa khóa để chúng ta có thể tận hưởng
trọn vẹn hương vị của loài hương bay ngược gió ắt phải trang bị, đó
chính là phát tâm và lập nguyện.
Phát tâm và Lập nguyện như đôi cánh chim giúp chúng ta bay cao và bay
xa, đủ khả năng cảm nhận một thế giới với chất liệu tịch tịnh bên cạnh
một thế giới khác đầy dẫy sự xáo trộn, nghịch ý. Có phát tâm mới mong độ
thoát mình và chúng sanh, có lập nguyện mới kham thành Phật đạo. Đó là
yếu môn của người hành Bồ-tát hạnh. Nếu không phát tâm và lập nguyện khi
bước vào đời hành đạo chúng ta tựa như người cất bước ra đi mà không có
mục đích để dẫn đường cho lý tưởng, để rồi trôi nổi vô bờ bến, đau khổ,
có đi nhưng không bao giờ đến, luống công vô ích. Đặc biệt hơn, người
xuất gia khi bỏ nhà thế tục để dấn thân vào con đường đạo, mục đích là
đạt giác ngộ và giải thoát song song với tâm nguyện cứu độ chúng sanh.
Khi đã bước chân có mục đích cao vời thì chính là đã đặt chân vào khung
trời cao vút, đòi hỏi chúng ta phải đủ bản lãnh để đối diện với sự lãnh
đạm của bát phong và muôn vàn chông gai thử thách. Trọng yếu như thế,
Kinh Hoa Nghiêm đã diễn tả những hành động này, như một cú đập phá những
tâm thức chai lì và đang ngủ quên trong cái nhỏ nhoi của nghiệp thức,
bằng lời cảnh giác: Quên mất tâm giác ngộ lại tu các pháp lành, thì đó
là ma tu. Quên mất tâm giác ngộ để tu tập có tác hại lớn lao đến như
thế, huống chi là kẻ chưa hề phát tâm, chẳng lập đại nguyện, đến với Đạo
chúng ta như người có mắt mà không thấy, có đôi chân lại không được đi,
có miệng nhưng lại chẳng nói được, ngọng nghịu, gào thét, than thân
trách phận, tựa như cóc ngồi đáy giếng thèm trăng trên cao.
Vậy phải phát tâm thế nào? Tỉnh Am đại sư đã tóm lược tướng trạng của
tâm trong muôn ngàn biểu hiện sai biệt, làm kim chỉ nam dẫn người vào
đạo.
1/ Có người muốn tu hành, muốn đạt sự yên tĩnh nội tại của tâm, nhưng
mặt khác cứ chạy theo sự quyến rũ bên ngoài, sống theo nghiệp lực, tiền
trần, vẫy vùng trong thanh sắc, không kiềm chế những mong muốn thấp kém,
không cố gắng phát triển nội lực của mình, không đoạn tận những uế
trược, phiền não, lại bám víu những hạnh phúc mỏng manh bên ngoài. Và,
quan trọng hơn nữa không lắng nghe điều hay lẽ phải để chuyển đổi nghiệp
lực, mặc tình cho tội chướng tiêu khiên dẫn dắt; phát tâm tu hành như
vậy gọi là Tà phát tâm.
2/ Không mong cầu lợi dưỡng, chẳng tham đắm dục lạc, nhận thức được vị
ngọt và sự quyến rũ của các dục tựa như người cùi gãi ngứa, càng gãi
càng lở lói, đau khổ. Biết thiểu dục tri túc, xem vật chất trong đời
sống là cần thiết nhưng chẳng phải là thiết yếu, không vì vật chất mà
khuynh đảo nhân cách, đạo đức của con người. Tâm tâm niệm niệm mong muốn
tháo gỡ những ràng buộc của hệ lụy sinh tử, thường nuôi dưỡng ý thức cái
khổ của con lừa chở nặng giữa sa mạc nắng cháy cũng chưa phải là cái khổ
tột cùng, khổ bởi trái ý mong cầu, sinh tử luân hồi mãi trong sáu nẽo
mới là cái khổ trầm luân cần phải vượt qua. Ý thức được như thế, phát
tâm như vậy mới được gọi là Chánh phát tâm tu hành.
3/ Tâm tâm niệm niệm, dù Phật đạo có cao xa rộng lớn, một khi bước vào
thì phải nuôi dưỡng tâm niệm tìm cho được suối nguồn an lạc. Từng giây
phút không thối lui khiếp sợ, ý thức được ba cõi như nhà lửa luôn thiêu
đốt chúng ta, mạng người mong manh đếm trong hơi thở, hơi thở ra không
vào lại được coi như đã ra đi. Chẳng khiếp sợ bởi thế lực, không bị danh
lợi tiền tài làm não loạn, không bị chi phối bơû ý thức điên đảo,
thấy các pháp là vô ngã, tan rã, vô thường không có gì bền lâu, nhẹ
nhàng khi ở, thảnh thơi thì đi, không nuối tiếc những gì đã xây dựng
được; vì biết rằng tất cả những thứ ấy đủ duyên thì hợp, hết duyên thì
tan, ý thức như vậy không sợ hãi nỗi cô đơn, nghèo hèn, chỉ một lòng
mong giải thoát cho mình và cho người, tựa như đang leo lên tháp cao
cùng tột nhưng không bao giờ thối chí, phát tâm tu hành như vậy gọi là
Chơn phát tâm.
4/ Dù tâm nguyện luôn cầu Phật đạo, trau dồi hạnh lành, nếu gặp phải va
chạm những cấu uế, biết mình ô nhiễm, nhưng không hề khởi tâm sám hối,
cầu sự thanh tịnh; trong tâm uế trược, cứ vùng vẫy với nghiệp lực mà
sống, không nghe lời khuyên của Thầy Tổ, thiện tri thức, không biết đâu
là nẽo chánh đường tà, không vứt bỏ những vị kỷ nhỏ hẹp, cống cao ngã
mạn, ngu cả một đời; ngoài hình thì biểu hiện thanh cao, thể hiện xưng
danh, bảo bọc cho cái tôi thấp hèn, bản ngã hẹp hòi, trước thì tinh tấn
sau lại biếng nhác, phát tâm như vậy gọi là Ngụy phát tâm.
5/ Độ tận chúng sanh ra khỏi đau khổ, nguyện ta mới thành, được đạo quả
giác ngộ lòng ta mới cam. Thấy chúng ta đang sống trong đau khổ trầm
luân “soi bóng mình lại thấy bóng người xưa”, thương mình thương
người, không yên vị mà thụ hưởng an lạc nhỏ bé được trong tâm, không
thỏa mãn những gì đã có đang có, không quên mất bao nỗi đọa đày của
người cần sự giúp đỡ của mình, chúng sanh không còn thì nguyện ta mới
hết, bồ đề đạo thành nguyện ta mới thành, tu hành như vậy gọi là Đại
phát tâm.
6/ Thấy cuộc đời như địa ngục, bởi sự thiêu đốt của lòng tham vọng ích
kỷ, căm thù hừng hực và ngu dốt len lỏi tràn lan trong từng hang cùng
ngỏ hẽm. Việc sống chết như oan gia, luôn kề cận trong từng giây phút
không biết xảy ra lúc nào, sinh lòng sợ hãi, nhàm chán, nhưng chỉ nghĩ
về mình mà không thương tưởng người khác, thiếu trách nhiệm với tha
nhân, chỉ nghĩ tự độ không dám độ người, phát tâm như vậy gọi là Tiểu
phát tâm.
7/ Thấy chúng sanh và Phật đạo ngoài tâm. Rong tìm thế giới hảo huyền
bên ngoài, sống chỉ dựa vào tha nhân, tha lực, tựa như chùm gởi rong rêu
bám vào cây cổ thụ, không thấy được ngọc quý trong túi áo, cứ rong ruổi
tìm cầu miếng ăn bên ngoài, không nhận thấy được chúng sanh tâm là Phật
tâm chỉ cách nhau trong mê ngộ. Bám chặt vào sự hiểu biết thiển cận,
không lắng nghe những gì chân thật để mở bảy tự tánh, để tâm bị “ mục
hạ vô nhơn” chế ngự, rong đuổi theo âm thanh hình sắc bên ngoài,
nương vào tướng, nặng về hình thức, tìm những gì nhẹ nhàng bên ngoài,
đánh mất năng lực bên trong, quên hẳn tánh thể. Phát tâm như vậy gọi là
Thiên phát tâm, tu hành một chiều.
8/ Ngược lại, chúng sanh và Phật đạo đồng một tự tính, Phật pháp không
lìa thế gian pháp, muốn thành Phật đạo không thể lìa sanh tử, vì ngoài
sanh tử không có một Niết bàn nào cả, thanh tịnh nằm ngay bên trong vọng
động. Phật tâm nằm ngay trong chúng sanh tâm. Bóng tối mất thì ánh sáng
hiện, mặt trời trí huệ bừng sáng thì màn đêm vô minh tan rã. Ngoài tự
tánh không thấy pháp nào khác. Mà tự tánh tâm như hư không rộng lớn,
mang tâm vô tướng phát nguyện vô tướng, thực hành hạnh vô tướng, chứng
quả vô tướng cho đến tướng vô tướng cũng không còn vướng mắc. Phát tâm
như thế gọi là Viên, phát tâm viên mãn.
* *
*
Tám tướng phát tâm nêu trên làm cơ sở cho hành giả khảo cứu, suy xét
biết được tâm nguyện của mình đang ở trạng thái phát tâm nào; tâm nào
cần triển khai, gìn giữ và tâm nào cần nên vứt bỏ, để được gọi là phát
tâm tu hành chơn chánh. Nên biết rằng, tâm giác ngộ là nền tảng, là đất
tốt cho các pháp lành phát sinh. Các pháp lành phát sinh là tâm giác ngộ
được vững chắc kiên cố. Tuy nhiên, để thúc đẩy tâm bồ đề dễ dàng phát
khởi, pháp lành phát sinh, Ngài Tỉnh Am chỉ ra rằng cẩn phải nỗ
lực thực hiện 10 việc:
1/ Phải nghĩ đến ơn nặng của Phật:
Vì sao phải nghĩ đến ơn nặng của Phật? Vì Đức Phật đã thấy nỗi khổ của
mình và chúng sanh trong sáu nẽo luân hồi đau khổ, mê lầm. Phật đã quên
mình, xả thân thực hành Bồ-tát đạo, hy sinh hạnh phúc bản thân, quyết
tìm ra ánh sáng giác ngộ để hướng dẫn cho mọi người biết được đâu là nẽo
chánh đường tà và tìm một hướng đi đến bờ an vui; không để chúng sanh
phải khổ sở và tiếp tục khổ sở trong nhiều kiếp bởi nghiệp lực chồng
chất. Trong quá trình tiến đến giác ngộ, Đức Phật đã vượt qua nhiều
chông gai cạm bẫy, thử thách trong đó sự chết luôn luôn hiện hữu kề cận,
để chiến thắng được giặc phiền não, không vì lợi ích cho riêng mình.
Trong nhiều đời nhiều kiếp, Đức Phật luôn theo dõi bước đi của chúng ta
để mở bày nhiều phương tiện cứu độ, lòng không lúc nào rời bỏ. Đối với
ơn cao vời đó, chúng ta chỉ có phát tâm rộng lớn, nỗ lực tu hành, thệ
nguyệnn cứu độ chúng sanh thì mới phần nào góp phần đền đáp ơn Phật
trong muôn một.
2/ Phải nghĩ đến ơn cha mẹ:
Mười tháng cưu mang, ba năm bú mớm. Sanh ra ta cha mẹ đã phải chấp nhận
có lúc quên mất đời mình, phải đấu tranh từng ngày, từng phút, trao cho
con nhiều thời gian để tiến thân, dành cho con được những điều kiện tốt
nhất để con có tấm thân hoàn hảo, chỉ vì mong muốn con mình luôn luôn
được an vui, có thể ngưỡng mặt với mọi người giữa cuộc đời này. Cũng có
lúc, vì con mà cha mẹ đành phải tù tội, vây bủa bởi nghiệp lực tiêu
khiên, kéo dài cho mãi đến nghìn kiếp sống. Bấy nhiêu ơn ấy, là người
hiểu biết chắc không cần phải hỏi vì sao? Mà cần phải lắng lòng suy nghĩ
cho kỹ, để ơn đền nghĩa trả, cho tròn bổn phận đạo lý làm con, làm người
giữa xã hội trong đó ân tình, nghĩa trọng được mọi người tôn quý ca ngợi
tán thán. Là người Phật tử, chúng ta không những ý thức việc cung phụng
vật chất với cha mẹ cho trọn vẹn đầy đủ mà cần phải thiết lập được môi
trường thuận tiện để cha mẹ có được nguồn tâm linh trong sáng, tâm thức
nhẹ nhàng khi quá vãng. Có ý thức và phát tâm như vậy, cha mẹ chúng ta
mới có thể nhờ đó mà được cứu vớt, không những một đời mà nhiều đời cũng
được ân triêm.
3/ Phải nhớ đến ân Thầy:
Thầy không phải là người sinh trưởng ra ta, cho ta tấm thân vật chất,
nhưng Thầy là người đã cho ta một phần con người, đó là tấm thân tri
thức, tinh thần, trí tuệ mà trong đời sống con người, nếu thiếu mất tấm
thân này thì sẽ gặp nhiều hoạn nạn, khổ đau. “Nỗi khổ của con lừa chở
nặng, nỗi khổ của con bò kéo xe suốt kiếp chưa phải là khổ, sống thiếu
trí tuệ, kiến thức là một nỗi khổ lớn”. Thầy xuất thế là chính duyên xây
dựng cho chúng ta giới thân huệ mạng, Thầy tựa như ngôi sao sáng, chiếu
rọi vùng trời tâm thức của chúng ta, người giúp chúng ta vượt qua con
đường tối tăm và nguy hiểm. Lời Thầy dạy là những bài học sống động,
giúp chúng ta vượt khỏi mọi biến cố của kiếp người. Thầy cho ta cái Chữ
và Đạo phong.
4/ Phải nhớ ơn thí chủ:
Thí chủ là người giúp ta nhiều phương tiện, để hoàn thành ước nguyện của
đời mình. Người xuất gia sống không gia đình, mọi điều kiện sống đều do
thí chủ dâng cúng, chỉ vì mong mỏi cho chúng ta đủ yên tâm, đủ thời giờ
để tu hành, đạt đến suối nguồn tâm linh sâu thẳm, hầu cứu vớt chính ta
và mọi người. Thí chủ là người đã dám hy sinh một phần thời gian và tiền
của trong đời sống riêng tư của họ, để trợ duyên cho chúng ta tu học,
hoàn thành mục đích là giải thoát và giác ngộ, theo con đường Phật dạy.
Nghĩ đến như thế, chúng ta thấy ơn ấy rất nặng! Nếu không hoàn thành
được mục đích cao tột đó thì cánh cửa địa ngục sẽ mở ra và thân trâu
ngựa để trả nợ cơm áo, là chuyện gần kề trước mắt. Ngược lại, chúng ta
hoàn thành được mục đích giác ngộ thì dù cho có thọ hưởng những điều
kiện sống cho Phật tử dâng cúng cũng không cần phải áy náy chuyện trả
vay, vì tất cả đều nằm trong sự vận hành của phước đức và trí tuệ.
5/ Phải nghĩ đến ơn Chúng sanh:
Vì sao? Môi trường sống không phải của riêng ta mà là của tất cả, do bao
mồ hôi nước mắt của đồng loại tập hợp lại mà thành. Chúng ta không thể
sống mà thiếu sự cộng tác của mọi người. Trong hiện kiếp chúng ta mỗi
người mỗi ngã, mỗi nhà, nhưng dưới đôi mắt trí huệ của Phật, Ngài thấy
được trong vô lượng kiếp sống, chúng ta đã từng là Cha mẹ, thân bằng
quyến thuộc với nhau, đã có ân tình nghĩa trọng, do đó chúng ta cần phải
hỗ trợ và bảo bọc lẫn nhau, phải tôn trọng sự sống. Với lòng từ bi rộng
lớn, chúng ta cần phải thấy ai cũng tham sống sợ chết, mưu cầu sống hạnh
phúc là mục tiêu lớn nhất của loài người. Vì vậy, không vì hạnh phúc của
mình mà chúng ta nỡ đang tâm cướp đoạt đi hạnh phúc của kẻ khác. Chúng
ta phải cảm ơn tất cả, những bàn tay đã làm cho cuộc đời thêm xanh.
6/ Phải nghĩ đến sự khổ Sinh tử:
“Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi…”
Chúng ta đang sống
là hiện tượng đang thấy vàø diễn ra trước mắt, tuy nhiên mấy ai biết
rằng, cái chết diễn đang diễn ra trong từng giây phút. Đãù bao lần,
chúng ta đã chết, chết trong đau khổ và thiếu thốn, chết trong sự khao
khát sinh tồn, chết trong sự tuổi nhục cô thân và chết trong chuỗi biến
động của cuộc đời. Âu cuộc đời quá nhiêu khê! Sống giữa ngũ trượt ác thế
mà tựa như chết đuối trên cạn. Chuyện cứ tưởng trong mơ nhưng sự thật
là thế! Nhưng những cái chết như thế chưa hẳn là đáng sợ, vì vẫn có
những cái chết diễn ra lúc chúng ta đang tỉnh táo, nhưng đành xuôi tay
bất lực, có những khi, ta thực sự muốn chết nhưng không thể chết được.
Cái chết ấy gọi là cái chết sanh tử luân hồi, tạo cho chúng ta bị quay
cuồng trong vòng vây của đời sống, qua nhiều kiếp lang thang trong sáu
nẽo. Đó mới là cái khổ thực sự, một sự thật mà chúng tà cần phải đối
diện.
7/ Tôn trọng tánh linh của mình:
Vì sao? “Bàn tay ta làm nên tất cả, với sức người sỏi đá cũng thành
cơm”. Đó chỉ mới bàn tay. Hơn nữa, thiên chức con người quá lớn và
mãnh liệt hơn bao sinh vật khác, chúng ta phải biết thận trọng và gìn
giữ, đừng biến chúng ta mãi mãi chính là cây sậy chỉ biết nghĩ suy. Đức
Phật dạy, được thân người là khó nhưng rất dễ mất đi, một khi mất đi
thì chưa biết khi nào mới có lại được. Hơn nữa, trong tất cả các loài,
con người quý hơn hết (Nhơn vi tối thắng), xét lại ta và Phật ban
đầu thì nhất niệm như nhau; nhưng Đức Phật sớm thành chánh giác còn ta
cứ vẫn mãi là chúng sanh trôi lăn trong nghiệp thức, như kẻ từ sáng bước
vào tối hoặc từ tối lại bước sâu vào trong tối. Do đó, việc gìn giữ và
phát triển tánh linh của mình hết sức quan trọng, nếu không nhận thức
được tánh linh là tối cần thiết thì chúng ta dễ dàng bị nghiệp lực dẫn
dắt chúng ta lên xuống mãi trong sanh tử.
8/ Phải sám hối nghiệp chướng:
“Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa”.
Nghiệp chướng, xét
đến tận cùng đó là thuộc tính của con người. Khi chúng ta hiện hữu là
đồng thời nghiệp chướng có mặt. Vậy muốn hiện hữu tốt đẹp, thân tướng
trang nghiêm thì không gì khác phải biết phát khởi tâm sám hối những mê
lầm và gội rữa chúng. Nghiệp chướng phát sinh và tăng trưởng trên cơ sở
cả ba nghiệp là thân, khẩu và ý. Chúng luôn luôn được huân tập trong
từng giây phút của đời sống, vì mỗi hành động đều có thể hàm chứa nhiều
tội lỗi. Từ ba nghiệp này tạo thành một dòng sức mạnh thúc đẩy chúng
sanh đi mọi hướng và tạo môi trường sống cho chúng sanh, gọi chung là
nghiệp lực. Nhưng nghiệp lực không phải là định mệnh, nó có khả được
chuyển đổi, mức độ chuyển đổi nhanh hay chậm phụ thuộc vào nhận thức,
thái độ của chúng ta, đúng hơn là theo sự tu hành của mỗi người. Từ sự
nỗ lực tu tập đó, nghiệp cũng có thể thay đổi thành nguyện lực để làm
lợi lạc cho mình và cho người. Nhưng muốn làm việc này, trước hết chúng
ta cần phải biết nhận thức rõ hành động của chúng ta để sám hối, để ăn
năn, để tăng trưởng phước nghiệp. Trong chiều hướng chuyển hóa nghiệp
lực thì tâm tàm quý là chiếc áo phải có và cần thường xuyên mặc vào của
người tu, nếu thiếu chiếc áo này người tu có bận chiếc áo gì chăng nữa
cũng không đủ ý nghĩa, khó có thể tiến bộ.
9/ Phải cần sanh Tịnh độ:
Vì sao? Vì Tịnh độ là đất nước an lành, là điểm quy hướng, nơi đây không
có gập ghềnh, không có nghịch ý, điều này nói lên khát vọng sống luôn
mong được hạnh phúc trong mỗi con người. Tịnh độ là thế giới thanh tịnh,
trong sáng không cấu nhiễm, ở một mặt nào đo, Tịnh độ là là mục
đích hướng đến của hành giả tu theo đạo Phật (Tâm tịnh thế giới tịnh).
Do đó, phải hướng về và cầu sanh Tịnh độ. Muốn cầu sanh Tịnh độ thì cần
phải xây dựng niềm tin vững chác (Tín thâm), nguyện
của chúng ta phải khẩn thiết (Nguyện thiết), như kẻ sắp chết đói mong
mõi được thức ăn. Một khi đã có khẩn thiết nguyện cầu như vậy, chúng ta
cần phải thực hành nghĩ tưởng về đức Phật tương tục không gián đọan
(Hạnh chuyên).. Niệm Phật là để làm Phật chứ không phải là về bên Phật,
phát tâm rộng lớn như thế thì hạt giống bồ đề có cơ hội sớm trổ bông.
10/ Tại sao phải nghĩ chánh pháp lâu bền:
Chánh pháp đã giúp con người bao thế hệ vượt qua mọi lầm than của kiếp
người, vượt thóat những nghi lầm là nguyên nhân đọa đầy sanh linh vạn
lọai. Chánh pháp không phải là báu vật kiến thức được lưu trữ trong kho
tàng mà là con đường, là liều diệu dược có công năng chữa lành những căn
bệnh trầm kha.Nếu như chánh pháp có lâu bền mới làm lợi lạc lâu dài cho
hiện tại và cả tương lai. Chánh pháp được Đức Phật tuyên thuyết sau khi
chứng quả bồ đề, Ngài đã làm cho những gì khó làm, vượt qua những gì khó
vượt, tiếp tục trong 49 năm thuyết pháp độ sanh không mệt mỏi và hiệu
quả thiết thực do chánh pháp mà dức Thế tôn để lại là những bài học sống
động có thể kiểm nghiệm trong cuộc sống hiện thực này. Hôm nay trọng
trách của chúng ta chỉ có duy trì phát triển để ngọn đèn giác ngộ vẫn
mãi sáng rực. Đấy mới là người con Phật chân chánh.
* *
*
Lời văn mộc mạc của
một Đại sư thời quá khứ, nhưng hiện tại đọc lên tâm thức chúng ta như
được sống dậy. Nếu chúng ta xem cuộc đời như một lễ hội thì bản văn này
là lời khai mạc của lễ hội đó. Trong lời khai mạc, tác giả nói lên ý
nghĩa thống thiết của niềm khát vọng sống, sống đẹp, sống trọn vẹn. Lời
văn uyên áo, thâm trầm và được soi sáng dưới ánh sáng giác ngộ của một
Đại sư, nói lên tất cả tâm can những hành trạng sâu thẳm và khát vọng
cũng như những giá trị tíchcực trong mỗi con người. Thế mới gọi là xúc
cảm vô biên được dâng trào trong ngôn từ cổ tích uyên áo, càng đọc chúng
ta càng thấy sống và càng muốn sống theo khuynh hướng làm đẹp cuộc đời.
Tu hành là việc khó làm của một đời người, tuy đôi khi phải chấp nhận
khổ sở trong thời gian ngắn; nhưng niềm hạnh phúc đạt được sẽ vô cùng
chắc thật và miên viễn không những ở đời này mà còn nhiều đời về sau.
(Cùng một tác giả)
---o0o---
Trình bày: Thu Nhiên Quảng
Hoa Tâm
Cập nhật: 25-7-2011