
VẦNG TRĂNG AI NGÃ
(tưởng niệm về
Ôn Đỗng Minh)
Huệ
giáo
Hướng nhìn về vầng trăng trên cao, mỗi người trong chúng ta sẽ có rất
nhiều cách nhìn và suy nghĩ khác nhau phụ thuộc vào cảm thụ, cảm thức
từng người. Tùy thời điểm rung động sai biệt của con tim, vầng trăng bất
động tưởng chừng như vô thức sẽ trở nên sống động và hàm ẩn nhiều ý
nghĩa dạt dào. Ở đây, hình tượng vầng trăng mà tôi nói đến chính là một
điểm để hướng về, một nơi qui hướng tin cậy, một nhân cách sống. Là một
vầng trăng biểu tượng sự sáng ngời ở giữa bầu trời uế trược, xanh biếc
bạt ngàn trong vòng xoáy nước đục bọt bèo nỗi trôi, giữa màn nhung đêm
vô minh cùng tận, nhưng thanh thoát loé sáng huyền diệu lạ kỳ.
Vầng trăng tôi muốn nói đến ở đây là hình ảnh dành cho một bậc Long
tượng của thiền môn. Một nhân cách có ảnh hưởng khá mạnh trong tâm thức
và trong cái nhìn vào sự thật của riêng tôi. Một con người dám nhìn
thẳng vào từng vấn đề cụ thể và biết thông cảm, chia xẽ. Tiếng gọi Ôn-
Ôn Đổng Minh hết mực bình thường và giản dị nhưng ấm áp đến mức lạ kỳ.
Tôi không biết tiếng gọi Ôn Đổng gần gũi có từ hồi nào, nhưng đối với
tất cả Tăng sĩ miền trung trong thời điểm chúng tôi hay thế hệ hiện tại,
Ôn thật trìu mến, và cũng quá sức nghiêm kính khi chúng tôi thoáng nhìn
thấy Ôn. Tựa như, ánh trăng thì rất gần gũi tự nhiên với loài vô tình,
ưu linh với loài hữu tình và chiếu sáng đến tất cả mọi nơi, nhưng cao;
xa một cách hãnh diện vô bờ, thoát tục.
Thời trước, tôi thường có cơ hội được hầu cận bên sư phụ của chúng tôi
và thường được tiếp xúc với những sư Chú, sư Bác - hầu hết là những cựu
học Tăng xuất thân từ Phật Học viện Cao Đẳng Hải Đức Nha Trang; do đó
tôi được nghe kể về nhiều hành động, phong cách sống, lối giảng dạy,
cách tu tập, suy nghĩ, nhiều tâm tình dành cho thế hệ trẻ học Tăng Ni và
nhiều giai thoại khác trong đời sống thường nhật của Quý Ôn như: Ôn Từ
Quang ( Phước Hộ), Ôn Già lam, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Từ Đàm, Ôn Giám Viện
(Trừng Sang) Ôn Đổng Minh… Có thể nói, dấu ấn của quý Ngài đã ảnh hưởng
khá sâu đậm đến tư duy của các học tăng ngày trước, thế hệ Thầy tổ chúng
tôi, để giờ đây họ có đủ bản lĩnh dấn thân vào đời hành đạo. Tôi cũng
như nhiều chư Tăng Ni khác hôm nay, thuộc thế hệ đàn con cháu, tuy có
may mắn thọ nhận sự giáo dưỡng của quý Ngài, nhưng trên thực tế, chúng
tôi chỉ thọ nhận một sự giáo dưỡng gián tiếp, vô hình; tựa như danh từ
trừu tượng trong luật học thường dùng là “ Vô tác giới thể ”.
Lúc còn nhỏ, nghe quý Thầy kể đến cách giáo dục vừa dung dị, hiền hòa,
hào sảng vừa nghiêm khắc của Ôn với học Tăng ngày trước. Tôi nghe sợ
quá, mặc dầu lúc ấy tôi vẫn chưa được một lần hữu duyên để nhìn thẳng
vào Ôn và để được hầu Ôn một tách nước. Với Ôn, tôi tựa như một kẻ lạc
đường đang nhìn lên vầng trăng trên cao, khao khát tìm lại một chút ánh
sáng phản chiếu chập chờn của vầng trăng trong tàn cây bụi lá, trong
bóng đêm ở miền sơn cước, vừa lạnh lại vừa thảnh thơi đơn độc để tìm một
lối về. Có thể do nghe kể về Ôn nhiều quá, tâm thức của tôi lúc ấy tuy
còn nhỏ bé, nhưng đã có tác động mạnh, cho nên cảm thấy tự nhiên sợ Ôn
làm sao, và nhiều lúc cảm thấy Ôn quá…. dữ! Ôi, nhận thức lầm lỡ một
thời!
Nhớ lại, có một khoảng thời gian ngắn, tôi được sư phụ cho lên Hải đức
để cùng với điệu Minh hầu Ôn Từ Đàm và ê, a học vài bài kinh chú trong
hai thời công phu. Hôm đó, không nhớ cảm hứng vì việc gì, tôi cắm cúi
chạy một mạch thật nhanh từ lầu chuông trên thất Ôn Từ Đàm xuống dãy nhà
Tăng, thì tình cờ đối diện với Ôn, đứng sừng sững trước mặt. Tôi thất
kinh đứng lại một bên và chắp tay cuối đầu đãnh lễ Ôn, không nói nhiều,
Ôn nhìn tôi và bảo rằng: Bất đắt đà hài tác thinh (Không được đi
dép lớn tiếng). Nhớ nghe chưa, Ôn dặn. Bạch Ôn con ghi nhớ. Rồi
Ôn tiếp tục tay dù, tay quạt, chuổi hạt trên tay đi thẳng lên thất để
gặp Ôn Từ Đàm. Tâm trí tôi khựng lại bởi lời chỉ giáo nhẹ nhàng của Ôn
và đôi mắt vừa hiền từ vừa như nghiêm khắc, vừa chứa đựng sâu thẳm sự
yêu thương, tôi ngồi bệt xuống ghế đá được đặt dài theo dãy tăng xá để
trầm ngâm trong thóang chốc. Và tôi đã nhớ được điều gì? Lúc ấy, Tôi
chưa được học nhiều kinh Phật, chẳng hiểu nhiều về ý nghĩa lời Phật dạy,
nhưng một điều tôi được nhớ rằng Ôn Đổng hay có cách dạy chúng Tăng như
vậy, nên tôi cố gắng để nhớ lời này. Đầu óc tôi lan man sau lần gặp gỡ
ấy, vì sợ , sợ Ôn “mắng vốn” sư phụ tôi, sợ Ôn cho ăn roi lần sau nếu
gặp lại.v.và vv.. Cứ thế thời gian trôi qua, khi đã bớt ngây thơ, khờ
dạy, tôi mới biết được rằng Ôn đã dạy oai nghi cho tôi, hành trang quý
báu mà tôi phải luôn khắc ghi cho đến hết cả cuộc đời. Thế là tôi đã có
một biểu tượng vầng trăng soi sáng cho đời mình.
Gần hai mươi năm thấm thoát trôi qua, thời gian này khác hẳn không như
hồi còn làm điệu quá sợ quý Ôn, quý Thầy. Tôi là một học tăng từ nha
trang vào sài gòn đi học, tạm trú tại tu viện Quảng Hưong Già Lam,
thường gặp Ôn, Ôn đi ra đi vào khi có lễ lược hoặc công việc phật sự và
không khi nào học tăng chúng tôi lại không nhận được sự sách tấn của Ôn.
Một vầng trăng của tất cả học tăng chúng tôi đều cùng hướng đến và soi
sáng.
Cuối năm 1997, chúng tôi anh chị em học tăng khóa III Cao cấp Phật học
ra trường, về nha trang tổ chức ra mắt, đảnh lễ quý Ôn, Quý Thầy trong
Ban Trị sự và Thầy tổ. Lễ ra mắt hôm đó Ôn không tham dự, nhưng Ôn nhắn
Anh em chúng tôi đến tư thất của Ôn để trò chuyện. Và dĩ nhiên, đọan
đường kế tiếp sau khi học xong chương trình cao cấp phật học của chúng
tôi được Ôn đề ra. Chúng tôi mãn nguyện vô cùng và đây là giây phút, là
những lời dạy quý báu nhất chúng tôi cần có hơn tất cả, là phần thưởng
dành cho chúng tôi hơn cả những phần thưởng chúng tôi có được lượm lặt
trong thời gian học tập. Tăng Ni sinh chúng tôi ai có mặt lúc ấy đều mãn
nguyện sung sướng và tự biết chọn cho mình một hướng đi thích hợp để
tiếp tục con đư ờng học đạo và hành đạo.
Vầng trăng sáng tỏ tuyệt đẹp đó tuy trên cao nhưng rất gần gũi, luôn
chiếu sáng đường đi cho mọi người trong đêm trường tối tăm. Sau buổi gặp
gỡ các Tăng Ni sinh mỗi vị trình Ôn cuốn luận văn tốt nghiệp của mình,
chỉ có mình tôi không có. Lý do vì tôi nghĩ rất đơn giản, đâu có gì xứng
đáng để tôi dâng lên Ôn nhỉ? Do đó, tôi không chuẩn bị sẳn sàng việc
này. Ôn hỏi tôi: Luận văn của Ông đâu?Tôi đáp: Dạ bạch Ôn con
chưa có in, chỉ có làm 03 quyển con nộp cho Nhà trường, ban Trị sự và
Bổn sư. Ôn bảo đi photocopy và gửi lên cho Ôn một cuốn đọc coi thử
ra sao. Tôi vâng dạ ra về. Lúc ấy đang là mùa xuân, một mùa xuân trải
dài sự ấm áp phía trước, tâm trí vừa nhẹ nhàng vì ít nhiều tôi vừa vượt
quá một giai đọan dài học tập và hơn nữa, do quá nhiều công việc tại
chùa vì chuẩn bị tết, đã làm cho tôi quên mất chuyện đem copy luận văn
lên dâng Ôn. Sau đó, tôi liên tục nhận được lời nhắn của Ôn. Ôn nhắn khi
có ai xuống chùa, nhắn qua điện thoại của sư phụ chúng tôi, cuối cùng
thì tôi đã trình Ôn luận văn tốt nghiệp nhưng hơi muộn màng. Đầu năm,
tôi lên đảnh lễ Ôn, Ôn đem chuyện những cuốn luận văn ra nói, Ôn không
phê bình nội dung những gì tôi viết trong đó, nhưng có hỏi tôi về câu
kết mà tôi đã viết kết thúc trong luận văn của mình: Sống chết là như
vậy đó, đừng nên hỏi tại sao và tạo sao phải sanh tử như vậy. Ôn vừa
cười vừa hỏi tại sao Ông viết ý này? Tôi im lặng không bình và nói rằng:
dạ thưa Ôn con nói rồi đó, Ôn cười khà khà. Tôi lại tiếp tục được chiếu
rọi ánh sáng trong vắt của vầng trăng tròn đầy tỏa sáng.
Một lần nữa vào giữa năm 2003, buổi sáng hôm đó chúng tôi thình lình
nhận tin Ôn mệt lan khắp cả thành phố Nha trang. Đầu giờ chiều hôm ấy
tôi và thầy Thông Huệ sắp xếp để lên hầu thăm Ôn. Lúc này, chư tăng ngồi
quây quần bên Ôn, chúng tôi bước vào ngồi xuống một bên im lặng theo dõi
sức khẻo của Ôn, nhìn tôi, Ôn hỏi: chừng nào ông đi Phan rang?
Tôi tưởng chừng Ôn nhằm lẫn tôi với các chú đệ tử thầy Thông Huệ nên khi
ấy, tôi trả lời hơi vô phép: mới bệnh nhẹ mà Ôn đã quên rồi hay sao?
Hình như Ôn đã đoán được ý của tôi, Ôn lại bảo: Tôi hỏi chừng nào
ông đi dạy trong Phan rang. Đi dạy! Tôi giật mình, điều mà tôi đã có
ý định, nhưng chưa thưa Ôn. Tôi trả lời trong hối hận:
bạch Ôn trong tuần này.
Thế là Ôn đã theo dỏi từng bước chân của tôi và của tất cả thế hệ Tăng
Ni trẻ Khánh hoà. Như vầng trăng luôn chiếu sáng khắp cả hang cùng ngõ
hẽm, trên cành lá non vừa chớm nãy mầm trong đêm, chiếu tận lên cả ngọn
cây cao khi hoàng hôn buông xuống. Dù gió có thoảng qua mặt hồ tỉnh lặng
của một đêm thu buồn man mác, nhưng ánh trăng vẫn sáng và luôn làm đẹp
cuộc đời.
Suy nghĩ về cuộc đời và con người giống như vầng trăng lúc tròn lúc
khuyết, giống như những chiếc lá lúc vàng lúc xanh, lá nào rồi cũng rụng,
rụng trước rụng sau nào ai có biết. Như những dòng sông lúc sâu lúc cạn,
lúc đục lúc trong, toan tính chi vì mạng người chỉ trong hơi thở, hơi ra
không vào thì đã ngã nghiêng trần thế, nhẹ vào nặng ra thì đã tím cả
cuộc đời. Vầng trăng của ai đó đã ngã, nhưng ánh trăng sáng tỏa thì
không của riêng ai, và không bao giờ nghiêng ngã, không ta không sở,
nghìn năm vẫn hiện hữu và luôn thắp sáng như lời thơ cổ mà tôi đã học
năm nao:
Khai trì bất đãi nguyệt
Trì thành tất tự lai.
Nghĩa là:
Đào ao chẳng đợi trăng sao
Khi ao có nước trăng sao hiện về.
Vầng trăng hình tướng của tôi đã ngã, tôi không biết ngoài tôi ra còn
bao nhiêu vầng trăng ai ngã; nhưng trong niềm hy vọng mênh mang, tôi
thầm hiểu rằng ánh sáng của vầng trăng vẫn đang tiếp tục trong xanh tỏa
chiếu trên đồi cao sừng sững.
(Cùng một tác giả)
---o0o---
Trình bày: Thu Nhiên Quảng
Hoa Tâm
Cập nhật: 25-7-2011