| ...... ... |
. |
Lời Báo Cáo
của một Nhà Khoa học
NGHIÊN CỨU KINH PHẬT
Tác giả:
UÔNG TRÍ BIỂU
Dịch giả:
Đồ Nam
---o0o---
LỜI TỰA
Trước đây hơn năm mươi năm, tôi
đã bắt đầu đọc các sách chuyên-khoa về số học, vật-lý, hóa-học, công-nghệ
của ÂU-MỸ dịch ra. Tôi biết rằng mớ trí-thức là món rất cần để lập-quốc
hiện nay, nên tôi gấp rút làm cái việc thâu-thái văn-hóa mới của Âu-Mỹ.
Lại vì sự ám-thị của tự-nhiên khoa-học, nên tôi cho hết thảy các tôn-giáo
đều là mê-tín. Rồi đến trước đây bốn mươi năm, tôi ở Nam-Kinh được nghe
lão-cư-sĩ Dương-Nhân-Sơn thuyết pháp, mới biết Phật-pháp thiệt là chân-lý.
Nhưng tự-nhiên khoa-học ngày càng phát-đạt thì kẻ cho hết thảy các
tôn-giáo và Phật-pháp đều là mê-tín cũng mỗi ngày càng thêm đầy rẫy; đó
chẳng là điềm phúc của xã-hội. Muốn cứu-vãn mối nguy hại này,nếu chẳng sớm
gắng sức quay về nhà tự nhiên khoa-học để thuyết pháp, khiến cho họ hiểu
Phật-pháp đích xác là chân-lý và có hiệu-quả làm cho lòng người hướng
thiện, xã hội an-định thì chẳng được. Nhà tự nhiên khoa-học một khi đã có
thứ chính-tri chính-kiến này thì những người khác trong xã hội tự họ chẳng
đến nỗi nhận lầm tôn-giáo là mê tín, để làm cho lòng người ác-hóa.
Tôi đã học tự nhiên khoa-học,
lại may mắn đã được nghe Phật pháp, nay muốn quay về nhà khoa-học mà
hoằng-pháp trừ tôi ra thì còn có ai? Nhưng nước ta khoa-học lạc-hậu bị các
nước Âu-Mỹ khinh miệt; bệnh gấp thì cần phải trị ngọn, nên tôi đành phải
trước tiên gắng sức thâu-thái văn-hóa Âu-Mỹ vào mà đành để lại việc
hoằng-pháp thủng thẳng tính sau.
Cho nên khoảng trước đây hai
mươi năm tôi mới bắt đầu viết văn khoa học để hoằng-pháp. Từ đó về sau tuy
lần lượt thường viết, nhưng những bài của tôi lưu thông chẳng rộng lắm,
thu được rất ít kết-quả; vì khúc cao ít người họa lại, nên tôi rất lấy làm
buồn nản.
Tháng bảy năm nay Chính-Tín
nguyệt san ở Hán-Khẩu đăng bài văn này của Uông-trí-Biểu cư sĩ. Tôi đọc
kỹ, nhận thấy rằng ông ta dùng phương pháp khoa học để nghiên-cứu kinh
Phật, không một lời nào là không hợp với khoa-học, mà cũng không một lời
nào là chẳng hợp với sự thực. Việc tôi xướng lên nay đã có kẻ tri âm họa
lại, nên tôi mừng rỡ muốn điên. Vừa muốn tìm cách viết thư thăm hỏi thì
Uông-cư-sĩ lại làm trước tôi, ông viết thư cho tôi để cùng tôi
thương-lượng. Tôi đọc thư biết rằng Uông-cư-sĩ cũng là bạn đồng học cũ ở
ngành điện-học, năm Dân quốc thứ 13 tốt-nghiệp ở ngành máy điện lớn. Chú
ông là cư-sĩ Uông-cảnh-Khê đậu tú tài trào Mãn-Thanh, đối với Phật-học
nghiên-cứu rất sâu, càng tinh-thông về tông chỉ của kinh Lăng-nghiêm và
Thiên-đài-tông, Hiền thủ-tông. Trí-Biểu cư-sĩ bắt đầu tín-ngưỡng Phật phần
nhiều là ở sức học có gốc nguồn của ông chú giúp đỡ. Sau khi tốt nghiệp,
Tri-Biểu cư-sĩ đã làm biên-tập viên cho Thương-vụ ấn-thư-quán, ông ở chung
với chú tại khu Ấp-Bắc đất Thượng Hải, nên có nhiều dịp cùng nhau bàn
luận. Ông lại được đọc khắp các sách của Đông-phương đồ thư quán nên Phật
học tiến bộ rất nhiều.
Sau ông lại sang Hoa-kỳ du học
về ngành vô tuyến-điện. Khi trở về nước không bao lâu thì chú ông qua đời.
Ông được bổ nhậm làm việc tại sở không quân, sau lại đổi chỗ làm giáo sư
trường đại-học. Trong thời kỳ kháng Nhật ông phải chạy ra hậu phương. Sau
khi hòa-bình trở lại Ông được chánh-phủ ủy nhiệm trù-hoạch khai-khẩn rừng
rậm Thần-Nông-Giá phía Tây tỉnh Hồ-Bắc. Khu rừng nầy chu-vi đến mấy trăm
dặm, cây to rậm rạp, là một khu rừng từ mấy trăm năm nay chưa khai phá;
chỉ nội một thứ gỗ thông lớn có đến tám ngàn vạn cây, đủ cung cấp cho kế
hoạch làm đường xe lửa cả Trung-quốc. Nếu làm mười bốn vạn cây số đường
rầy xe lửa cần dùng đà bắc ngang thì số cây nầy mới dùng hết phân nửa. Gần
đây chánh phủ đương phái bộ-đội đến nơi nầy thăm dò đo lường đường bộ giao
thông. Đợi làm xong đường và định xong kế-hoạch khai phá, và tổ chức thành
công-ty làm cây thì mới bắt đầu khai thác. Đối với quốc kế dân sinh nầy,
sự ích lợi chẳng phải nhỏ.
Công lớn và thành tích tốt đẹp
của Uông-sư-sĩ về tương lai ở trên thế pháp, cùng với lục độ vạn hạnh ở
trên xuất thế pháp đi đôi với nhau càng thêm sáng tỏ, ắt có thể ở cõi
Diêm-phù-đề này tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Lời thư của Uông-cư-sĩ viết cho
tôi có câu: "Trộm xem học giả nước ta sở tri chướng của họ nặng quá, đối
với Phật-điển nhiệm mầu cao sâu nầy họ lại bỏ đi chẳng ngó ngàng gì tới,
như thế thực đáng thương xót biết bao! Nếu có kẻ nào đừng chấp thành kiến
của mình được đọc sách Phật mà không bái-phục, thì hạng người đó chỉ là
một số rất ít. Lại có câu: Nếu các nhà học giả đều tinh thông Nội-điển, kẻ
làm chánh trị đều thành tâm tin luật nhân-quả, dùng nghệ-thuật khoa học
dưỡng-sinh để làm hạnh bồ tát độ sinh, thì Trung-quốc sẽ là đàn anh của
văn-hóa thế-giới, hợp muôn nước lại làm một nhà, giữ gìn nền hòa-bình cho
muôn thuở cũng chẳng khó khăn gì".
Than ôi! Phật nói: "Thân người
khó được, Phật-pháp khó nghe", nay lấy mắt thịt của phàm phu mà xem, thì
những kẻ đi lại nườm-nượp trên đường đời này đều đã được làm thân người,
thế thì thân người cũng chẳng phải là khó được. Nhưng đến thời-đại mạt
pháp, các bậc cư-sĩ có đại tâm tuy rủ nhau sáng lập nên tạp-chí Phật-học,
cơ-quan xuất bản sách Phật, hội in kinh Đại-Tạng, Phật-học đồ thư quán
v.v... mà những phần tử trí thức bạc phước kia bị thành-kiến che lấp đi,
rốt cuộc lại vô duyên chẳng được thấy một chữ một câu nào. Phật-pháp khó
nghe còn gấp mười vạn ức lần được làm thân người, như thế chẳng đáng
thương xót lắm thay!... Kẻ mà được như Uông-cư-sĩ, cũng giống như lời
trong kinh Kim-cang nói: "Nên biết người này chẳng phải ở một đức Phật,
hai đức Phật, ba bốn năm đức Phật mà trồng căn lành, đã ở vô-lượng ngàn
vạn Phật-sở trồng nhiều căn lành, cho nên được vô lượng phước đức như
vầy." Những phần tử trí-thức kia làm sao theo gót cư-sĩ nổi đó chẳng phải
là sự ngẫu nhiên.
Nay tôi viết lời tựa này để tỏ
bày cùng những ai đọc văn của Uông-cư-sĩ.
Năm Trung-Hoa
Dân-Quốc thứ 35 tháng 11
VƯƠNG-QUÍ-ĐỒNG
1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN-CỨU KINH
PHẬT:
a) Vì muốn hiểu rõ lý-luận của
kinh Phật có đúng không? Có trái với khoa-học hiện nay không?
b)
Vì muốn hiểu rõ phương-pháp tu hành của đạo Phật có hợp với nếp sống hiện
nay không?
c)
Vì muốn hiểu rõ đạo Phật đối với nhân-sinh có giá-trị gì? Có lợi ích gì?
2. KINH-ĐIỂN DÙNG ĐỂ NGHIÊN-CỨU
:
Lăng-nghiêm-kinh, Tâm-Kinh,
Kim-Cang kinh, Pháp-Hoa kinh, Trung Luận, Nhân-Minh Nhập-Chính Lý-luận,
Thành-Duy Thức Luận.
3. ẤN TƯỢNG TRƯỚC KHI
NGHIÊN-CỨU KINH PHẬT:
Những người có học qua khoa-học
như chúng tôi đối với pháp quan-sát hết thảy sự vật trên thế gian nầy,
phần nhiều chẳng giống thái-độ của nhà văn-học, nhà nghệ-thuật, nhà
triết-học, nhà tôn-giáo;Điểm bất đồng nầy là:
-
Chẳng dùng cảm tình mà làm
việc.
-
Chỉ theo ròng khách quan.
-
Trọng sự phân tách có đường
lối.
-
Trọng sự thực nghiệm.
Vì có mấy thứ đặc-điểm kể trên,
nên đối với sự học hỏi nào thiếu sót thứ tinh thần đó, tôi mang một ý-kiến
lệch-lạc không chịu đọc những sách nầy, cho là không đáng nghiên-cứu.
Chẳng những đối với các tôn-giáo chỉ chuyên chú-trọng tín-ngưỡng tôi đã
không tin một chút nào, ngay đến đối với triết-học tôi cũng chẳng coi ra
gì. Vì rằng tự-nhiên khoa-học đối với sự giải-đáp của bất cứ một vấn-đề gì
đều có đáp-án đích-xác thiết-thực. Phàm những đáp-án nào gọi chúng
chính-xác là chỉ có một đáp án mà được toàn thể giới khoa-học công-nhận.
Ví như công-thức của hóa-học, các thứ định luật về nguyên-tử, và nhiều thứ
công-thức định luật trong vật-lý-học, toán học đều là đích-xác thiết-thực,
nên tự-nhiên khoa-học lại có tên là xác-thực khoa-học (Exact science).
Nhưng triết-học, văn-học, nghệ-thuật, lại hoàn toàn chẳng giống thế, người
nầy nói duy-tâm, người kia lại nói duy-vật, người nầy nói phái văn-học
Đồng-Thành hay người kia lại nói văn Bạch-Thoại hay, mỗi người lại lập ra
một phái, chấp cái mình cho là phải, đã chẳng thể dùng con số để đo lường
so-sánh, lại cũng không có tiêu chuẩn nào được công-nhận. Nhàø khoa-học
đối với những môn nầy tuy chẳng phải là không có hứng-thú hân-thưởng,
nhưng rốt cuộc thấy rằng những môn đó chẳng phải chỗ cho ta cầu chân-lý
Mấy năm gần đây, tôn giáo,
triết học, văn học,nghệ thuật đều có ý quay về phía khoa-học cúi đầu thần
phục. Như ông Rút-Sen (Bertrand Russell) dùng toán-học lý-học bổ sung cho
triết-học trống rỗng. Âm nhạc, hội-họa thì nhờ cậy ở thanh-học, quang-học,
hóa-học để sửa đổi những nhạc-khí và màu sắc. Tôn-giáo cũng nhờ
kiến-trúc-sư để xây dựng những giáo đường rộng lớn, dùng nhạc-khí
điện-quang để trang-nghiêm nội-bộ giáo-đường.Nhà chính-trị, nhà văn-học,
ký-giả các báo thì nhờ ở máy xếp chữ tự-động, máy đánh chữ, máy chụp hình,
điện-tín, điện-thoại, điện-ảnh, máy phát-thanh, vô-tuyến truyền-hình. Gần
đây như nhà quân-sự, nhà chính-trị thì nhờ ở bom Nguyên-tử, thuốc
sát-trùng DDT, cho đến hỏa tiễn, phi-đạn v v.... Chỗ bảo là "Khoa-học
vạn-năng" đã thành ra sự thực mà loài người phải công-nhận, chớ chẳng phải
là lời nói kiêu ngạo của nhà khoa-học.
Nhà khoa-học đã nắm giữ biết
bao nhiêu thứ pháp-bửu đó, bao nhiêu thứ thần-thông đó, thì đành rằng
chẳng chịu quỳ gối trước các pho tượng gỗ của tôn giáo.
Phật-giáo cũng là một
tôn-giáo,đành rằng cũng không ngoài công-lệ này. Thế thì làm sao tác giả
biết nghiên-cứu nổi kinh Phật? Nguyên nhân như sau: Tôi có một ông chú
nghiên-cứu Phật-học đã mấy chục năm, sau khi tôi tốt nghiệp ở bậc đại-học
ra, ông hỏi tôi đối với chân- lý của vũ trụ và nhân sinh có hứng thú hay
không? Tôi tưởng rằng cái mớ kiến-thức và khoa-học mà tôi đã học được là
chân-lý trong vũ-trụ, nay có lẽ nào mà ông già xưa cũng hiểu được khoa-học
ư? Tôi liền trả lời: "Rất có hứng thú". Tôi lại hỏi trở lại chú tôi: "Phải
quay về phía nào để tìm cầu chân-lý? " Chú tôi nói: " Nên quay về kinh
Phật để mà tìm cầu. "Tôi trả lời: " Tôn giáo chẳng qua là món để dỗ-dành
trẻ con cho nín khóc, bánh vẽ làm sao cho no bụng, cháu nhất định chẳng
xem kinh Phật".
Chú tôi nói: "Chấp kiến của anh
sâu quá, anh thường nói nhà khoa-học chuộng quan-sát mà chẳng chuộng
chủ-quan, đó chính là điểm tương-đồng với cái "Phá ngã chấp" của
Phật-giáo. Nay anh có cái chấp này thì học-vấn làm sao có thể tiến bộ
được? Do đó mà xem,thì cái kiến-thức khoa-học của anh cũng chẳng được thấu
đáo!" Tôi bị chú tôi quở trách răn dạy như thế tự mình cảm thấy hổ thẹn,
chỉ trả lời rằng: "Nếu có thì giờ rảnh cháu sẽ nghiên-cứu." Sau này chú
tôi đem một cuốn Phật-học Đại-Cương (tác giả Tạ-Mông nhà sách Trung-Hoa
phát hành) cho tôi đọc. Chú tôi dặn: "Anh đối với Phật-học còn chưa hiểu
rõ, nên hãy coi trước cuốn đại cương của Phật-giáo này, rồi sau sẽ đi sâu
vào nội-dung". Ông ấy lại dặn thêm: "Trước khi coi sách, điều kiện thứ
nhất là trong lòng anh không được có thành-kiến gì, chẳng nên xem cuốn
sách này như là tôn-giáo, là triết-học hay là khoa-học; hết thảy nên
khách-quan, vì học-hỏi mà học-hỏi thì phải nên xem như thế!" Tôi cho rằng
câu nói này của chú tôi bất cứ nhà khoa-học nào cũng phải công-nhận là
đúng, nên tôi thành-tâm nhận sách rồi mở ra đọc một lượt.
Ấn tượng của tôi sau khi đọc
xong cuốn sách này là:
a) Phật-giáo chẳng phải là
tôn-giáo chỉ chuyên chú-trọng về tín-ngưỡng mà chẳng giảng về lý luận.
b) Nội dung Phật-giáo phong
phú chẳng kém gì các thứ khoa-học tôi đã học.
c) Các chuyện thần-thoại
trong Phật-giáo, trước khi chứng-minh khả-năng của nó, tạm thời ta hãy
gác qua một bên, để đợi xem xong kinh luận sẽ bàn nói sau.
4 VĂN TỰ BỀ NGOÀI CỦA KINH PHẬT
Sau khi đọc xong cuốn Phật-Học
Đại-Cương, tuy chẳng đưa đến cho tôi một sự tín-ngưỡng nào, nhưng lại đưa
đến cho tôi một cái hứng-thú xem kinh. Tôi hỏi chú tôi: "Kinh Phật cuốn
nào hay nhất?" Chú tôi nói:"Sở-tri-chướng của anh nặng lắm, anh nên xem
kinh Lăng-Nghiêm trước." Tôi hỏi: "Sao lại gọi là Sở-tri-chướng?
Tri-thức càng dồi-dào thì lại càng tốt, tại sao lại nói đó là
chướng-ngại?" Chú tôi trả lời: "Cái tri-thức khoa-học của anh nó đi sâu
vào đầu óc anh trước, bít đóng lại, anh liền chẳng hấp-thụ nổi những
tri-thức nào ở ngoài khoa-học, cho nên gọi đó là chướng (che lấp), nếu anh
đem những ý-kiến đã ăn sâu vào đầu óc anh trước gột rửa đi cho sạch hết,
rồi sau xem kinh Phật, thì chừng đó sẽ không còn Sở-tri-chướng nữa". Tôi
suy nghĩ câu nói của chú tôi thiệt là rất đúng, vì rằng nếu ông Anh Tanh
(Einstein) chẳng đem tri-kiến cũ của ông Nưu-Tông (Newton) gột rửa đi hết,
thì làm sao phát-minh ra được thuyết "Tương- đối- luận" để sửa đổi lại
luận "Vạn-hữu-dẫn" của Nưu-Tông.
Cuốn kinh Lăng-Nghiêm mà
chú tôi cho tôi đọc là một bộ kinh của Chân-Giám Pháp sư trào nhà Minh
giải nghĩa chính. Hãy khoan bàn về nội- dung trong kinh, trước hãy
khảo-sát từ cái vỏ ngoài sự tổ-chức văn-tự trong kinh Phật, tôi liền phát
hiện ra những đặc điểm sau đây khiến tôi rất lấy làm lạ:
A .- Sáu món Chứng-Tín
Tự:
Chỗ nói sáu món chứng-tín-tự là
sáu yếu-tố: Tin, nghe, thời-gian, chủ, chỗ, tăng-chúng. Như câu kinh: "Như
vầy ta nghe Một thời Phật ở nước Xá-Vệ trong vườn Kỳ-Đà của ông
Cấp-Cô-Độc, cùng ở chung với các vị đại Tỳ-kheo 1250 người..." thì câu
"Như vầy" là biểu hiệu cho "Nghe", câu "Một-thời" là biểu-hiệu cho
"Thời-gian", chữ "Phật" là biểu-hiệu cho "Chủ", câu "Tại nước Xá-Vệ" là
biểu-hiệu cho "Chỗ", câu "Cùng với các vị Tỳ-kheo" là biểu-hiệu cho
"Chúng-tăng". Chẳng phải chỉ riêng có kinh Lăng-Nghiêm mở đầu là có
đủ sáu yếu tố như thế, các kinh Phật khác trừ những cuốn trích ra từng
đoạn, hoặc mấy bộ lúc ban đầu mới dịch đều là nhứt luật như trên. Đối với
kẻ khác xem thì cũng chằng có cảm tưởng gì mới lạ, nhưng đối với tôi là
người đã từng viết quen những văn chương báo cáo về khoa học mà xem, thì
chẳng khác gì một dấu tích lạ lùng.Tại sao vậy? Phàm viết báo cáo về khoa
học thực nghiệm ắt phải đem người chủ-trương thực-nghiệm, người đồng bạn,
thời-gian, địa-điểm, mục-tiêu thực–nghiệm, và những món đồ dùng làm tài
liệu để thực nghiệm, mỗi cái phải kê-khai ra cho rõ ràng, sau mới viết
thành bản văn thực nghiệm được. Chẳng giống những bài văn tuyên truyền
trên các báo, hay các tạp chí phổ-thông,cứ việc viết bừa đi, liền có thể
làm xong trách-nhiệm. Còn đây ít nhất cũng tỏ ra cho biết là lời nói ra
của mình chẳng phải muốn nói sao cũng được, mà lời nói có căn cứ để tra
khảo. Trừ văn tự của khoa-học ra, như văn khởi-tố của tòa-án, văn phán-xử,
tôi nhận thấy những bản văn nầy cũng là khoa-học hóa. Như một bản-án giết
người, trên đơn khởi tố nhất định phải đem chánh-phạm, kẻ bị giết, thời
giờ, địa diểm, người làm chứng, người đầu cáo kê khai ra rõ-ràng, chẳng
thể lộn-xộn một mảy may nào.
Người kết tập kinh Phật vì muốn
công việc kết-tập nầy trịnh-trọng để cho kẻ khác tin, nên mở đầu của mỗi
bộ kinh đều có sáu món "Chứng-tín-tự" này. Chúng ta là người học khoa-học,
đối với các sách Tứ-Thư, Ngũ-Kinh, Lão-Tử, Trang-Tử, Chu-Tử đều
thấy rằng thể tài làm ra các sách nầy rất lộn-xộn, không có một chút
tinh-thần khoa-học nào. Vì thế nên tôi thường Võ-đoán cho là các sách của
Trung-Quốc đều chẳng có khoa-học. Tôi chưa từng xem được một cuốn sách nào
kết-cấu nghiêm chỉnh như sách kỷ-hà-học, nhưng đến nay tôi được xem cách
viết kinh Phật nêu lên đầu sáu món chứng-tín-tự nầy, tôi liền chẳng dám
võ-đoán như trước nữa! Tôi không thể nào chẳng xem kinh Phật một cách
thận-trọng.
B.- Sự Tinh Mật của lời
Chú-Giải và Phân-Tích
Nhà khoa-học rất chú trọng về
phân-tích, có phân-tích rồi sau mới có quy-nạp, có quy-nạp rồi sau mới có
điều-lệ, có điều-lệ rồi sau mới có suy-diễn, rồi sau mới có thể lấy
giản-dị chế ngự rườm rà, rồi sau mới có thể lập kế-hoạch chế tạo biến đổi
ra thành các công-trình hiện nay. Trước khi đọc kinh, tôi vẫn muốn dùng
phương-pháp phân-tích đem kinh chia ra làm bao nhiêu chương, bao nhiêu
đoạn; có biết đâu Pháp-sư Chân-Giám đã thế tôi làm công việc phân-tích nầy
rồi, và Ngài lại phân tích kỹ lưỡng nghiêm mật còn hơn dự-tính của tôi
nữa. Theo sự phân-tích của các sách thông thường, người ta đem cuốn sách
chia ra thành ba tập: tập đầu, tập giữa, tập cuối. Mỗi tập chia ra làm 4,
5 chương, mỗi chương lại chia ra làm bao nhiêu đoạn, mỗi đoạn lại chia ra
làm bao nhiêu mục. Cách phân chia như thế đã có thể gọi là rất tinh mật
rồi. Ngay đến các sách khoa-học cũng chẳng qua chia ra đến thế mà thôi. Từ
tập đến mục chẳng qua chia ra làm bốn bậc cũng như bốn đời: Ông, cha, con,
cháu... Biết đâu rằng Chân-Giám Pháp-sư lại đem trọn bộ kinh chia ra làm
22 bậc, giống như cuốn gia-phả chia ra làm 22 đời, thử tưởng xem như thế
có lạ lùng không?
Phương pháp của Sư dùng rất là
hay ho khéo-léo. Sư dùng 22 chữ thiên-can, địa-chi làm dấu ghi nhớ. Trong
anh em đời thứ nhất, Sư dùng "Giáp 1, Giáp 2" để ghi, đời thứ hai dùng "Ất
1, ất 2" để ghi, đến đời thứ 22 thì dùng "Hợi 1, hợi 2" để ghi.
Phương-pháp ghi nầy ở trên văn-chương khoa-học chưa từng dùng. Tôi đã đem
phương-pháp nầy ra giới-thiệu cho một vị kỹ sư điện-thoại. Ông ta có một
lần viết một cuốn sách rất dày để thuyết-minh máy điện-thoại tự-động, chia
ra từng chương từng đoạn rất kỹ. Cách phân chia nhiều đến mười mấy bậc nên
ông ta cảm thấy thiếu sót về phương-tiện ghi chép, vì chẳng dễ gì ghi rõ
sự cao thấp của các cấp-bậc; ông ta quay về tôi đem vấn đề trên ra
thảo-luận. Tôi liền đem phương-pháp của Chân-Giám Pháp-sư ra dạy ông ta.
Vì cuốn sách nầy viết bằng tiếng Anh nên tôi dạy ông ta dùng: A1, A2, A3,
B1, B2, B3, C1, C2, C3, để đánh dấu ghi từng đoạn. Ông ta nghe xong rất
vui mừng khen ngợi liền đem phương-pháp nầy ra áp-dụng.
Chân-Giám Pháp-sư đem trọn bộ
kinh chia ra làm 3 đoạn lớn: Giáp1 = Văn lời tựa, Giáp 2 = Văn chính tông,
Giáp 3 = Văn lưu-thông. Mỗi đoạn lớn lại chia ra làm bao nhiêu đoạn nhỏ.
Cứ tiếp-tục phân-tích như thế đến đời thứ 22 sau chót, đã có thể bảo là
hết sức tinh-mật. Nhưng Sư đem cả đề mục của kinh và dịch-giả cùng với lời
văn trong kinh đều liệt vào làm đối-tượng để chú-giải, không bỏ sót một
chút nào, chỗ đó càng khiến cho người ta lấy làm lạ. Chu-Tử chú-giải sách
Tứ-Thư , chỉ có thể chia được ra thành chương, mà không thể đem mỗi
chương lại chia ra cho kỹ. Ông Chu chỉ chú-giải văn của kinh mà không
chú-giải đề-mục của kinh. Đối với người không có đầu óc khoa-học, thì cho
là đề-mục chỉ là đề-mục vậy thôi, còn có cái gì cần phải giải nghĩa nữa?
Họ chẳng biết rằng đề-mục rất là quan hệ, chúng ta phải thuyết-minh cho
rõ-ràng kỹ lưỡng ý nghĩa của đề mục. Một cuốn sách vật-lý, hoặc hóa-học,
đối với sự định-nghĩa của chữ "Vật-lý" hoặc "Hóa-học" (définition) không
thể nào bỏ qua đi một cách dễ dàng được. Mà chẳng chịu bỏ qua đi một cách
dễ dàng, thì không còn ai hơn vị Pháp-sư giảng kinh của Phật-giáo. Nghe
nói Thiên-Đài-Tông Trí-Giả Đại-Sư giảng năm chữ đề-mục của kinh
Diệu-Pháp-Liên-Hoa lâu đến ba tháng. Xem đó thì Chân-Giám Pháp-sư
chú-giải đề mục kinh, ở trong Phật-giáo đã tự nhận là bổn phận của mình,
không có gì là lạ lùng nữa.
C.- Sự Sáng Tác Đặc-Biệt của
Thể-Văn và Câu Văn
Cách đặt câu của kinh Phật
rõ-ràng là chịu ảnh-hưởng của văn chữ Phạn. Đã chẳng phải là văn biền ngẫu
của đời Lục-Triều, lại chẳng phải là cổ văn đời Đường, đời Tống, nó gần
giống như lối văn chất-phác của nhà Tiền Hán và Hậu Hán, nhưng không có
cái tệ quanh co khúc chiết, mà lại có cái hay lưu-loát ai đọc cũng hiểu.
Người ta đều bảo kinh Phật khó đọc, thật ra thì chẳng phải văn của kinh
Phật cũ-kỷ sâu-xa mà là thuyết-lý của kinh Phật nhiệm-mầu, dầu rằng dùng
lối văn Bạch-Thoại hiện nay để viết thì nghĩa lý nó cũng khó hiểu như thế.
Như những sách khoa-học của chúng ta đọc, nếu đem con mắt nhà khoa-học ra
mà xem thì không còn gì dễ hiểu phổ-thông hơn nữa, thế mà học trò học
những sách này tại sao lại cảm thấy nhức đầu? Trong sách toán học dùng bao
nhiêu là dấu hiệu như +, -, x,:, = v.v... để thay thế cho văn-tự, ấy là
muốn tránh sự phiền-phức của văn-tự. Bao nhiêu công-thức trong vật-lý,
hóa-học đều là những chữ rất đơn-giản. Chỉ vì lý-luận của nó sâu-xa, nên
văn-tự phải làm cho đơn-giản, khiến cho kẻ học được dễ hiểu.
Văn tự của kinh Phật cũng có
thâm-ý như thế. Như Mật-tông dùng chữ Phạn để đại biểu cho huyền-nghĩa của
"Bất sanh bất diệt", mà toán học thì dùng chữ X hay Y để thay thế cho
ảo-số. Hai dụng ý này đều giống nhau. Ngoài ra lại còn có điểm giống nữa
là văn-tự của khoa-học và Phật-học đều có vẻ kịch-cợm, vụng về chẳng như
văn-tự của văn-học được linh-hoạt khéo léo. Vì tôi có kinh nghiệm dịch các
sách về khoa-học trong sáu năm trời nên tôi biết rõ ràng có nhiều chỗ bị
lý-luận hạn chế chặt chẽ chẳng thể nào không phạm lỗi nhắc đi nhắc lại
nhiều lần, và đảo lộn câu trên xuống câu dưới, khiến cho câu văn ngây-ngô,
kịch cợm, và phạm những lỗi nhỏ mà trong sách văn-học cho đó là vụng về.
Nhưng nếu đứng trên phương diện lý-thuyết mà xem, thì vẫn chẳng mất nguồn
mỹ-cảm của văn-học. Ngay như đem một câu mở đầu trong cuốn kinh "Như thị
ngã văn" (Như vậy ta nghe) ra mà nói, thì câu nầy hoàn toàn chẳng phải là
phép đặt câu quen dùng trong văn chữ Hán. Theo phép làm văn của Trung-Quốc
thì phải viết ngược lại câu "Như thị ngã văn" làm "Ngã văn như thị". Ở
thời kỳ mới bắt đầu dịch kinh Phật, chắc chắn là cũng có người đã dịch ra
"Văn như thị" (Nghe như vầy). Nhưng những kinh điển phiên dịch từ đời ngài
Cưu-Ma-La-Thập trở về sau, thì hết thảy đều dùng câu "Như thị ngã văn" làm
mở đầu.
Phép sáng tạo cú-pháp đặc-biệt
nầy, động cơ của nó nhất quyết chẳng phải như dịch-giả đời nay dùng phép
dịch thẳng, cố ý đem câu văn Tàu đổi ra thành văn Tây để khoe khoang phép
đặt câu mới lạ, mà thực ra có lý do trọng-yếu của nó. Ngay như trên đã
nói, hai chữ "Như thị" là tiêu biểu cho sự thành-công của "Tín", vì nó
trọng-yếu nên phải để lên trên hai chữ "Ngã văn". Vì kinh Phật muốn cầu
đạt đến lý chân thật, nên thường cả-quyết cởi bỏ những quy-luật trói buộc
trên văn-học.
Đến như những bài kệ trong kinh
Phật, đối với văn-học Trung-Quốc là một thể văn sáng-tạo đặc-biệt, hoặc
bốn chữ, hoặc năm chữ, hoặc bảy chữ đã chẳng chú trọng đến luật bằng trắc,
lại chẳng ghép đúng vần; nó là một thứ thơ không vần, dụng ý của nó là để
cho dễ học, tiện việc ghi nhớ đọc tụng, cũng như phép dùng những câu khẩu
quyết tính miệng để dạy tính bằng bàn toán. Như câu kệ trong kinh
Kim-Cang: "Nhứt thiết hữu vi pháp, như mộng-huyễn bào ảnh, như lộ phục
như điện, ưng tác như thị quán " = Hết thảy pháp hữu vi như mộng huyễn
bọt bóng, như sương lại như chớp, phải nên quán như thế", tuy nó không
chịu sự trói buộc của bằng, trắc, niêm, luật nhưng rốt cuộc vì câu kệ có ý
nghĩa nhiệm-mầu, lại càng tỏ ra câu văn của nó là tự nhiên không cần gọt
dũa, ở trong chỗ không có âm vận gì mà đọc lên nghe kêu lanh lảnh. Dẫu đến
bậc đại văn học-gia đọc câu kệ nầy lên cũng phải chịu là hay tuyệt, đáng
bái phục.
Đến như Ngữ-Lục của
Thiền-Tông thì lại có một khí lượng riêng biệt, nếu đem so sánh với kinh
Phật, thì kinh Phật là thứ tiếng nói phổ-thông tuy đơn-giản nhưng rèn
luyện mà Ngữ-Lục lại là một thứ tiếng nói thuần-túy hoạt bát thời
bấy giờ, nó mở đường cho sách Ngữ-Lục của nhà Nho đời Tống. Trước
khi tôi chưa đọc kinh Phật, tôi đã được thấy qua những câu "Pháp môn chẳng
hai", "Ngay đầu đánh hét", "Được tam muội rất sâu ở trong đó", những câu
nầy ở trong Thiền-Tông thường nói, nhưng tôi chẳng biết xuất xứ trong kinh
Phật; đến nay mới biết văn-tự của kinh Phật có ảnh-hưởng cho văn-tự
Trung-Quốc rất sâu.
D.- Sự chặt chẽ của Phép
Phiên-dịch các Danh-Từ và Định-Nghĩa Danh-Từ
Cách đây 20 năm, tôi đã thay
cho các hội viên của học-hội kỹ-sư Trung-Quốc biên tập những danh-từ về
điện-học, cảm tưởng của tôi lúc đó là:
1.-Các danh-từ dịch ra trong
sách chẳng thống nhất.
2.-Dịch âm và dịch ý chẳng có
tiêu-chuẩn nào nhất định.
3.-Các tự điển về khoa học
chuyên-môn còn chưa biên tập thành. Về sau được xem Phật-giáo đại tự
điển của Nhật-Bổn, và Phật-học đại tự điển của Đinh-phúc-Bảo,
tôi liền cảm thấy những danh-từ Phật-học tuy rất nhiều, còn nhiều gấp mấy
những danh-từ chuyên-khoa của một thứ tự điển nào, thế mà sự gắng sức của
giới học thuật trái lại chẳng được bằng giới Tông-giáo, thiệt khiến cho
tôi hổ thẹn hết sức!
Sau đó tôi lại xem ở trong kinh
Phật có hai thứ quy-định là: Ngũ-bất phiên và lục ly hợp thích (Năm thứ
danh từ không phiên-dịch và sáu thứ giải nghĩa ly hợp), lại khiến cho tôi
cảm thấy sự tiến bộ của Phật-giáo đã hơn hẳn khoa học. Ngũ bất phiên là
tiêu chuẩn trong việc dịch ý và dịch âm. Thử hỏi giới khoa học nước ta đã
có ai định nổi thứ tiêu chuẩn này. Như chữ động cơ là ý dịch, chữ "Mô tơ"
(motor) là âm dịch mà cả hai tiếng đều thông dụng. Chữ "Phân" có khi lại
viết là gờ-ram hay viết tắt là gr. khiến cho kẻ học không biết đường nào
mà rờ. Đem tinh thần của khoa-học ra mà bàn thì nhà khoa-học nước ta thua
nhà Phật học xa.
Đến như Lục-ly Hợp-Thích là sáu
thứ quy-tắc để định nghĩa danh-từ:
1)-Trì nghiệp thích
2)-Y chủ thích
3)-Hữu tài thích
4)-Tương vi thích
5)-Lân-cận thích
6)-Đới số thích
Ví dụ như danh-từ "Máy
phát-điện", thì phát điện là tác dụng của máy, vì máy có thể phát ra điện,
nên gọi đó là Trì nghiệp thích (giải nghĩa theo trì nghiệp). Lại như sắt
nam-châm (aimant) là một loại sắt có tính chất từ thạch, nên gọi đó là
hữu-tài thích (giải nghĩa theo hữu-tài).
Phương pháp phân tích danh từ
chặt-chẽ như thế, mục đích là khiến cho mỗi một danh từ chuyên môn chẳng
đến nỗi bị người ta hiểu lầm, hoặc hiểu một cách mơ hồ khiến cho có
ảnh-hưởng đến tánh-chất chính-xác của lý-luận. Đối với điểm này, chẳng
riêng gì khiến cho nhà khoa-học nước ta rất hổ thẹn, ngay đến nhà khoa-học
ngoại-quốc được nghe cũng phải kính phục! Cho nên căn cứ ở điểm này tôi
dám nói rằng sự tiến bộ của Phật-giáo đã hơn hẳn khoa-học.
Đối với tình-hình dịch kinh của
nước ta lúc nghiên-cứu kinh Phật tôi có ýù nghĩ như vầy: Ta nên đem
phương-pháp dịch kinh này ra trình-bày cho Trung-Ương Biên Dịch Quán, và
các vị giáo-sư trường Đại-học tham khảo. Công-tác dịch kinh của nước ta
bắt đầu từ ngài Cưu-Ma-La-Thập đến các ngài Huyền-Trang, Nghĩa-Tịnh, trong
thời kỳ này đã có sự tổ-chức phân-công hợp tác quy mô quá lớn. Trong
dịch-trường gồm có người chủ dịch, người dịch lời văn, người nhuận sắc lại
câu văn, mỗi chức khác nhau. Sự hoàn thành của bộ kinh đã phải trải qua
bao nhiêu lần biên-khảo đính-chánh, chẳng những trên nghĩa-lý cùng với văn
chữ Phạn giống nhau như hình với bóng, ngay đến một danh-từ nhỏ nhặt cũng
xét đoán kỹ-càng. Tại làm sao mà biết được như vậy? Xin trả lời rằng: Đem
danh-từ dịch từ tiếng Anh cùng với danh-từ dịch từ chữ Hán ra đối chiếu
thì hai đàng hoàn-toàn phù-hợp nhau. Như những danh-từ: Ma-ha-diễn, Bát
nhã ba la mật đa, A-di-đà Phật, Tăng-già nay hoàn-toàn giống với những
danh-từ dịch trên Anh-văn. Một đôi chỗ hơi khác nhau một chút là vì giọng
nói người đời Đường không giống với người đời nay như Nam mô đời Đường đọc
là Nẵng mô, Phật-đà đọc là Bụt đà. Thử nghĩ xem một phía từ tiếng Phạn
dịch sang tiếng Trung-hoa, một phía từ tiếng Phạn dịch sang tiếng Ba-ly,
lại từ tiếng Ba-ly dịch sang tiếng Anh, trong đó trải qua ba lần biến
chuyển, mà nay tiếng Trung-hoa đối-chiếu với tiếng Anh giống hệt như bóng
với hình, há chẳng phải là việc lạ lùng sao?
Gần đây nước Trung-hoa ta có
một tác-giả dùng Anh-văn viết cuốn tiểu-thuyết liên-quan đến Trung-Quốc,
đến khi người Tàu dịch ra văn Tàu thì kết quả dịch sai bét, làm thành trò
cười trên văn-đàn. Thực ra thì chẳng phải chỉ có cuốn tiểu-thuyết trên là
như thế, những tác phẩm phiên dịch hiện nay phần nhiều đều chẳng được
hoàn-thiện. Bởi vậy có thể suy ra mà biết rằng công tác dịch kinh lúc ban
đầu thật chặt-chẽ. Thứ tinh thần chặt chẽ này chẳng những ở công việc dịch
kinh mà thôi, ngoài ra như chép lại, viết ra, in ra, chấm câu không một
chỗ nào là chẳng tinh-nghiêm. Vì sửa bài kỹ-lưỡng nên chữ in lầm rất ít,
chấm câu rất đúng, vì thế kinh Phật vượt hẳn bất cứ một thứ sách về học
thuật nào. Tại sao mà biết? Ta hãy thử xem trang cuối cùng của mỗi cuốn
kinh luận ắt có ghi thêm số câu của trọn cuốn sách, đó là chỗ các thứ kinh
khác không khi nào thấy có. Trước khi nước ta dùng phép chấm câu theo kiểu
mới, thì trong kinh Phật đã cải lương, sớm dùng cái vòng tròn để ở khoảng
giữa dòng chữ làm dấu chấm câu ngắn, cái vòng tròn để bên cạnh phía mặt
dòng chữ để làm dấu câu dài. Ngay dấu chấm câu còn coi trọng như thế thì
có thể biết được rằng chữ viết sai lầm rất ít.
5) LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CỦA
KINH PHẬT
Ở trên mới chỉ nói về cái vỏ
ngoài của kinh Phật, còn chưa tiếp xúc đến nội dung của kinh văn. Nhưng vỏ
ngoài là chỗ thịt xương ở trong gởi vào. Nếu trong kinh Phật mà danh từ
lộn xộn, đặt câu sai lầm, chữ viết lệch lạc, chương cú chẳng rõ ràng, thì
tôi đã đem xếp vào một xó có thèm đọc làm chi. Chỉ vì cái vỏ ngoài của
kinh Phật đoan trang tốt đẹp có thể đem so sánh với tướng-mạo trang nghiêm
của chư Bồ-tát, nên tôi đối với lý-luận nghiên-cứu kinh Phật có cái xu-thế
chẳng thể nào thôi đi mà không xem. Cuốn kinh Lăng-Nghiêm tôi bắt
đầu đọc vốn là một cuốn kinh điển lời văn rất hay đẹp, điệu hành-văn rất
tài tình khiến cho người ta ham mê đọc. Ngay đến sự tổ chức nghiêm chỉnh,
thuyết-lý tinh-diệu của kinh lại khiến cho người ta càng ưa đọc chẳng thấy
chán nản. Cho nên hồi ngài cư-sĩ Dương-nhân-Sơn được thấy cuốn kinh nầy ở
trong quán bán sách cũ, liền đứng coi luôn một hơi hàng mấy tiếng đồng hồ,
đến khi đọc xong rồi mới chịu ra đi. Cổ nhân lại có câu: "Từ lúc được thấy
kinh Lăng-Nghiêm rồi thì không còn đọc những sách cặn bã trên thế
gian nầy nữa". Tôi đối với câu trên cũng có cảm tưởng y như thế.
Tôi lại còn đem kinh nầy ra làm
cuốn "Sách chỉ dẫn thực nghiệm" (instruction book), vì rằng kết cấu của
sách nầy đích xác là có nhiều điểm tương đồng với "Sách chỉ dẫn". Một cuốn
sách chỉ dẫn phổ thông cho học sinh thực nghiệm chia ra làm mấy đoạn như
sau:
a) - Mục đích của sự thực
nghiệm.
b) - Những đồ dùng và
tài-liệu để thực nghiệm.
c) - Lý-luận của việc
thực-nghiệm phải noi theo.
d) - Phương pháp và sự tiến
hành của công-tác thực-nghiệm.
e) - Kết-quả của sự
thực-nghiệm.
f) - Những việc dự phòng phải
nên lưu-ý trong khi thực-nghiệm.
g)- Sau hết là kết-luận.
Kết quả của sự thực-nghiệm
trong kinh Lăng-Nghiêm nầy của tôi có thể chia ra làm mấy đoạn như
sau:
-
Duyên khởi của sự nói bộ kinh
nầy (tức là lời tựa).
-
Nói rõ đối-tượng tu trị (như
bảy chỗ Phật hỏi về cái tâm).
-
Lý-luận của sự tu hành (như
mười phen chỉ rõ tánh thấy, hội thông tứ khoa, viên chương thất đại
v.v...)
-
Phương-pháp và tiến hành của
sự tu hành (Như các đoạn: 25 viên thông và đạo trường gia hạnh).
-
Hiệu quả thu được của phép tu
hành này (như đoạn nói về chúng sanh, thì chỉ rõ mỗi người đều được ích
lợi, nói về quốc độ thì chỉ rõ được ích lợi khắp hết, đó là sự lợi ích
đối với quốc gia nhân dân).
-
Những việc cần phải lưu ý và
đề phòng trong lúc tu hành (Như nói về thất thú và ngũ ấm ma đề răn sự
đọa lạc của người tu).
-
Sau cùng thuyết minh công đức
của sự lưu thông.
Sách "Thực nghiệm chỉ dẫn" là
kinh điển của nhà khoa học đã thu hoạch được những trí thức khoa học, còn
kinh Phật là sách thực nghiệm chỉ dẫn của người học Phật để thu-hoạch được
Phật quả.
Sau khi tôi đã đọc kinh
Lăng-Nghiêm, thấy nội dung kinh nầy tổ-chức một cách khoa học như thế,
lòng tôi rất làm kinh dị và tán thán, tôi rất ăn năn rằng hồi trước đã coi
kinh Phật cũng đồng loại với các kinh thánh đạo Gia-tô và Hồi-hồi. Không
dè nguyên lai kinh Phật là một thứ học vấn có thể thực-nghiệm, có thể thu
hoạch được kết quả thực tiễn. Từ đó tôi đã được sự kết luận như sau: Phật
giáo chẳng phải là tôn giáo, vì tôn giáo chỉ chú trọng về tín (tin) mà
chẳng chú trọng về giải (hiểu biết). Phật giáo thì trái lại, lại chú trọng
về giải chớ không chú trọn về tín. Tôn giáo là bất bình đẳng, vì tôn giáo
chẳng thể cho người nào cũng đều được làm thượng-đế, Phật-giáo thì bình
đẳng, mọi người đều có Phật tánh, mọi người đều có thể thành Phật. Tôn
giáo là thứ chấp tướng, Phật giáo là phá hết thảy các chấp. Tóm lại
Phật-giáo và các tôn-giáo khác cách xa nhau một trời một vực phàm người
nào đã đọc kinh Phật đều thấy được điểm nầy.
Tôi lại được một kết luận nữa:
Phật-giáo chẳng phải là triết-học, vì triết-học chẳng thể chứng nghiệm
được, Phật giáo thì có thể chứng nghiệm. Triết-học là thứ chỉ nói món ăn
mà không thể làm cho người no bụng, còn Phật-giáo là thứ làm lợi cho người
và lợi cho mình. Triết học là chỗ chấp của biên-kế-tính nhờ dùng tâm phân
biệt mà biết được. Phật học là viên-thành thực-tính nhờ dùng trí không
phân biệt mà biết được. Còn như sự liên quan của Phật-giáo với khoa-học
tôi không thể nói thêm nữa, vì chẳng những không thấy có chỗ nào xung đột
nhau, trái lại tôi thấy rằng có nhiều chỗ giống nhau như đã trình bày ở
trên. Ít ra thì sự tổ chức của kinh Phật cũng là khoa-học-hóa mà bản thân
khoa-học lại cũng vô ngã chấp (Không chấp ta).
Sau khi đọc kinh Lăng-Nghiêm
càng tăng thêm hứng thú đọc kinh Phật, vì thế tôi lại đọc Tâm kinh,
Kim-Cang kinh, Pháp-Hoa kinh và bốn bộ Trung-Luận. Tôi
càng xem kinh luận nhiều, lần lần càng thấy những điểm trong kinh
hội-thông với khoa-học lại cũng nhiều. Cái trí thức khoa học mà tôi đã học
được, gần như dùng trọn vẹn để làm căn bản cho tôi giải nghĩa kinh Phật,
và biến thành hộ pháp của Phật-pháp. Vả lại nhờ Phật-pháp mà khoa-học có
nhiều điều chỉ dẫn và cải-chính, nay tôi xin thuật như sau:
-
– Ba phép quán không, giả,
trung, nơi hết thảy vật chất
Kinh Kim-Cang là một
cuốn kinh truyền bá rất rộng, nhưng trong kinh này có rất nhiều câu mà
những người tầm thường không thể hiểu thấu. Như câu: "Cái gọi là
Phật-pháp, tức chẳng phải Phật-pháp, nên gọi đó là Phật-pháp" đối với các
Tôn-giáo chủ trương thuyết "Nhất thần" nhận có một vị chủ tể tạo ra muôn
loài vạn vật tất nhiên câu nói này sẽ bị coi là phản tôn-giáo. Nếu lấy X
thay cho Phật-pháp thì câu này có thể đổi thành một công thức là: "Cái gọi
là X, tức chẳng phải X, nên gọi đó là X" Chữ X này có thể dùng để chỉ cho
chúng sinh, cho trời đất, mặt trời, mặt trăng, núi sông cây cỏ, cho hết
thảy dụng cụ máy móc, các thứ khoa-học công-nghệ, và bao nhiêu danh từ về
tinh thần và vật chất. Có một hạng người cho câu trên là chẳng thông hoặc
là câu nói hoạt-kê, vì rằng X quyết chẳng thể nào biến thành chẳng phải X.
Nếu lấy đại số ra mà giảng thì X ≠ X (tức là X chẳng thể nào bằng với X).
Nhưng vì đã có sự huấn luyện của khoa học, tôi quyết chẳng phải như hạng
người đưa ra lời phán đoán vội vàng, kết quả tôi đã dùng sự thực của khoa
học để giải đáp cái điều có vẻ nghịch lý này.
Có lần một ông kỹ-sư hỏi tôi
câu trên phải cắt nghĩa bằng cách nào? Tôi liền chỉ cái chén trà trên bàn
mà nói: Nay tôi đem cái chén này thay cho X thì câu trên sẽ thành ra "Cái
gọi là chén trà, tức chẳng phải là chén trà, nên gọi nó là chén trà". Tôi
muốn thức tỉnh anh bạn kỹ-sư nên giảng thêm: Định nghĩa của cái chén là
món đồ bằng sứ hình tròn và dài như cái ống dùng để uống nước trà. Như thế
thì trừ "sứ" ra chỗ nào còn có bản thể của chén nữa? Vả lại cùng một cái
chén này, ngày nay uống nước trà nên gọi nó là chén trà, đến ngày mai uống
rượu, nó há chẳng đổi thành chén rượu? Theo cách xem như trên thì chén trà
rốt cuộc là một danh-từ giả-định mà thôi, bản thể của nó là "không". Câu
thứ nhứt "cái gọi là chén trà" ở trong Phật-giáo đặt tên là "giả quán".
Câu thứ hai "Tức chẳng phải là chén trà" là "không quán". Câu thứ ba "Nên
gọi nó là chén trà" là "Trung quán". Chấp chén trà cho là thực có, đó là
kiến thức của thế tục, kẻ chủ-trương duy-vật-luận cũng có kiến thức nầy.
Hoặc bảo rằng duy-vật-luận của Các-Mác (Karl-Marx) là khoa-học, thực ra
thì khoa-học hiện nay cũng chẳng công nhận vật-chất là còn hoài chẳng mất,
cho nên duy-vật-luận ở mấy năm gần đây đã chẳng còn là khoa học nữa. Chỉ
có kẻ hiểu sâu khoa-học mới biết chất sứ là thiệt, chén trà là giả, chất
sứ là có, chén trà là không. Lại chỉ có kẻ nào hiểu sâu lẽ "tam-quán" của
Phật-pháp, mới biết rằng bản thể của chén trà tuy là không, mà vẫn chẳng
mất tác-dụng của chén trà, cho nên chẳng ngại gì mà không đặt cho nó một
cái tên giả là chén trà. Tuy hiểu rõ cái "Không" và cái "Giả" mà chẳng
nghiêng về hai phía không và giả, đó là "Trung-quán". Tam quán không, giả,
trung hợp làm một thì mới có lý đúng để quan-sát, nghĩa là đối với cái
chén trà trên có sự hiểu biết rất hợp lý và thấu suốt. Ông bạn kỹ-sư cũng
công-nhận lời giải nghĩa trên của tôi là đúng, nhưng ông ta cho bản chất
của chén trà là sứ, chén trà tuy là không, nhưng chất sứ thì có, chén trà
tuy là giả nhưng chất sứ thì thiệt. Tôi trả lời: Thành phần của sứ chẳng
ngoài bốn chất: chất khinh (Hydrogène), chất dưỡng (Oxygène), chất nhôm
(Alumunium), chất si-li-cát (Silicate), trừ bốn chất nầy ra thì chất sứ có
đâu? Nay dùng công thức lấy sứ thay cho X liền thành: "Cái gọi là sứ, tức
là chẳng phải sứ, nên gọi đó là sứ". Lại tiến lên một bước nữa thì bốn
chất nầy là do hạt nhân nguyên-tử và điện-tử hợp nhau mà thành. Điện-tử
xoay vòng quanh hạt nhân nguyên-tử cũng như hành-tinh xoay vòng quanh mặt
trời, thế thì bốn chất khinh, dưỡng, nhôm, Si-li-cát nầy cũng chẳng phải
là khinh, dưỡng, nhôm, Si-li-cát, nó chỉ là hạt nhân nguyên-tử mà thôi!
Bốn chất nguyên-tử lại vẫn có thể đem thay vào công thức nói trên mà thành
ba phép quán không, giả, trung. Cứ như thế mà ta suy ra đến hạt nhân
nguyên-tử thì lại cũng vẫn như vậy. Phàm cái gì đã có tên gọi, đều có thể
quán theo phép nầy, tuy Phật-pháp cũng chẳng ở ngoài công-lệ đó. Bạn tôi
tới đây mới gật đầu công nhận.
-
– Sắc tức là Không, Không tức
là Sắc
Đây là hai câu biểu ngữ
tuyên-truyền rất rộng trong Phật-pháp người nào cũng đều biết cả, nhưng
chẳng phải người nào cũng có thể hiểu nổi câu nầy. Nay đem ngay hạt nhân
nguyên tử tiến lên mà bàn luận: Sự nghiên-cứu về hạt nhân nguyên-tử trong
khoảng mười năm gần đây đã thấy có tiến bộ rõ ràng, vì thế nên mới có sự
phát minh ra nguyên-tử năng và Bom nguyên-tử. Chất-lượng (mass) của bom
nguyên-tử là tập trung ở hạt nhân nguyên tử, chất lượng của điện tử chỉ
bằng 1/2000 của hạt nhân nguyên tử. Bởi sự phát minh được bom nguyên tử
nên chứng minh rằng vật-chất có thể biến thành năng lực (energy). Xét ra
cựu vật-lý-học có hai định luật trọng yếu:
1)- Luật vật chất chẳng diệt
(Law of Conservation of Matter).
2)- Luật năng lực chẳng diệt
(Law of Conservation of Energy).
Vật-chất và năng-lực là hai thứ
thường tồn tại vĩnh viễn chẳng tiêu-diệt mất. Quan niệm nầy nguyên trái
với Phật-pháp, vì Phật-giáo thì nói hết thảy các Pháp đều là vô thường.
Hiện nay cái định-luật trái với Phật-pháp này đã thành ra cũ-kỹ quá rồi,
mà vật-chất và năng-lực đã trở nên một nhà. Vật-chất tức là chỗ trong kinh
Phật nói là "Sắc" từ vật chất mà biến thành năng-lực chẳng còn là
vật-chất, thì bản-thể của vật-chất có thể nói là "không". Ta hãy xem sau
khi vật-chất biến thành năng-lực nó như thế nào? Sau khi bom nguyên-tử
liệng xuống Quảng-Đảo nổ, một bảng chất nổ nầy (dấu hiệu của hóa-học là
U235) biến thành ra năng-lực công tác đem vật sống biến thành ra vật chết,
đem một tòa kiến trúc biến thành ra vô số hạt bụi nhỏ, đem một tảng đá bự
từ phía đông dời qua phía tây. Nói tóm tắt là Sống biến làm chết, một biến
làm nhiều, đông biến làm tây; lại nói tóm tắt thêm nữa ấy là biến đổi hẳn
một cái quan-niệm. Lại tra trên vật-lý-học đối với định nghĩa của chữ
"Năng-lực" nguyên là tích số (số nhân) của lực và khoảng cách xa, lực là
biểu-hiện sự hành-động của vật-thể. Động là một thứ quan-niệm của
thời-gian và không-gian liên hợp lại. Thời-gian là quan niệm sinh ra của
vật-thể hành-động. Những cái bảo là: Thời-gian, không gian, động lực
v.v... nói trên đều nương cậy lẫn nhau mà hiển hiện phát sanh, không có
một cái nào là độc lập chân thường có thể đưa ra cho người ta thấy. Ví dụ
như chúng ta tính dòng thời gian là lợi dụng trái đất tự nó xoay và xoay
chung quanh mặt trời để định ra năm, tháng, ngày; lại lợi dụng đồng hồ để
tính phút, giây. Giả sử trên thế giới nầy hết thảy mọi vật đều đứng yên,
ngay cả đến hơi thở và mạch máu của chúng ta đều ngưng lại, thì thử hỏi từ
đâu mà phân chia ra năm, tháng, ngày, giờ...? Đã không có quan-niệm về
thời-gian, từ đâu ta có thể biết được sự động? Đã không có động tức là
không có "lực", đã không có "lực" tức là không có "năng", đã không có năng
tức là không có "vật", đã không có vật thì từ đâu mà sinh ra sự cảm-giác
về không-gian? Một chuỗi quan niệm liên-tục như thế đều là không, thì làm
sao mà "sắc" chẳng là "không"?
Nhưng không tại làm sao lại tức
là sắc? Xin trả lời: Vật chất biến làm năng-lực là "sắc tức là không", thì
năng lực biến làm vật-chất là "Không tức là sắc". Hiện nay giới khoa-học
nước Anh đã có chứng minh xác thực, nhưng từ một thứ năng lực nào biến ra
thành một thứ vật chất nào, và dùng phương pháp nào đạt được, thì hiện nay
còn chưa thể biết. Tương lai hoặc là có thể từ ánh sáng mặt trời (ánh sáng
là một hình thức năng-lực) tạo nên được lương thực, quần áo và món người
ta ai cũng thích là vàng. Hoặc lợi-dụng sức nước của sông Trường-Giang,
cho đến năng lực của trái đất tự nó xoay, hoặc năng-lực của địa-vị trái
đất đối với mặt trời cũng đều có lý do thực hiện được cả. Đến đây tôi
chẳng còn có thể nói thêm được nữa, sợ rằng người đời cho tôi là anh chàng
si ngốc nói chuyện chiêm bao. Nhưng những lý-luận trên đều từ khoa học
thực nghiệm mà ra, cho dẫu không tin lời nói của Phật, há rằng ngay đến
lời nói của khoa-học cũng không tin nốt ư? Nếu khoa-học có thể tin được
thì chỗ trong kinh Pháp-Hoa nói: "Từ trong đất vọt hiện ra tháp
Đa-Bửu cao 500 do tuần, rộng 200 do tuần (1 do tuần bằng 40 dặm), lại vọt
hiện ra trăm ngàn vạn ức chư Bồ-tát" thì cũng đều có thể tin được hết
thảy. Vì rằng đức Như Lai là người nói chơn, nói thật, nói như, không nói
dối, không nói khác. – Như lai thị chơn ngữ giả, thiệt ngữ giả, như ngữ
giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả (kinh Kim-Cang ). Lời
nói trung thực của Ngài chẳng kém gì lời nói của nhà khoa-học chúng ta.
-
– Luận Nhân-Duyên Hòa Hợp và
Luật Nhân-Quả
Lời Phật dạy rằng: Những sự vật
tinh-thần và vật-chất trên thế giới đều do nhân duyên hòa-hợp mà sanh ra.
Chúng ta đứng trên lập-trường khoa-học, hiện tượng về tinh-thần vốn chẳng
phải là đối-tượng để chúng ta nghiên-cứu, có thể gác qua một bên không bàn
đến. Nay đem riêng một phương-diện vật-chất ra mà nói: Người làm ruộng đem
một hạt thóc gieo trong ruộng, hạt thóc nầy được sự bồi dưỡng của ánh sáng
mặt trời, nước, đất, phân bón, nhân công, bèn nảy ra một bông lúa, đó là
sự sản xuất của người làm ruộng. Bông lúa nầy chẳng phải là bỗng không mà
có, nó lấy hột thóc làm nhân (kinh Phật gọi là thân nhân duyên), lấy ánh
sáng mặt trời, nước, đất, phân bón làm duyên (kinh Phật gọi là tăng thượng
duyên) mà lần lần sanh sôi nẩy nở ra. Có nhân mà không có duyên, hay có
duyên mà không có nhân cũng đều chẳng sanh ra được, đó tức là luận nhân
duyên hòa hợp của Phật-pháp.
Nhà dệt một mặt đem bông sợi
vào xưởng dệt, một mặt đem những tấm vải ra, đó cũng là một thứ sản xuất;
sự sanh sản ra tấm vải lấy bông sợi làm nhân, máy móc nhân công làm duyên.
Hết thảy sự sản xuất của nông nghiệp công nghiệp chỗ nào cũng có thể thay
lời chú-giải luận nhân duyên hòa-hợp của Phật. Chẳng riêng gì sự chế tạo
của nhân công như thế, ngay đến sự biến hóa của vật chất trên tự nhiên
giới, sự diễn tiến của sinh-vật đều có thể đem luận nhân duyên hòa hợp nầy
ra để giải nghĩa. Vì nó là nhân duyên hòa hợp, nên hết thảy sự vật đều
không có bản-thể. Do đó ta có thể thông hiểu cái lý ba phép quán (không,
giả, trung) như trên đã thuật, và lý "sắc không chẳng hai" thành ra cái lý
luận nhất quán nói không nói có của Phật-giáo.
Nên kinh Phật có câu nói rất
thấu suốt "Các pháp nhân duyên sanh, ta nói đó là không, cũng gọi là giả
danh, cũng gọi nghĩa trung đạo = nhân duyên sở sinh pháp, ngã thuyết tức
thị không, hựu danh vi giả danh, hựu danh trung đạo nghĩa" Luận nhân duyên
hòa hợp nầy đánh tan bao nhiêu thuyết thượng đế tạo ra muôn vật của
nhất-thần-giáo, thuyết thần quyền vạn năng và những kiến-thức sai lầm của
nhà khoa học hồi xưa cho nguyên-tử là đơn-vị nguyên-thủy chẳng có thể lại
phân chia ra được.
Nguyên nhân của những chỗ kiến
thức sai lầm nầy chủ trương, Phật giáo gọi là nhân bất bình đẳng. Nguyên
nhân của luận nhân-duyên hòa-hợp là nhân bình đẳng. Vì nếu quả của thượng
đế là nhân để sanh thành ra vạn vật, thì thượng đế tất nhiên cũng chỉ là
quả của một thứ nhân duyên nào đó sanh thành ra vậy thôi. Nguyên-tử thì
cũng như thế. Hiện tại đã chứng minh trong nguyên-tử có hạt nhân
(nucléaire) và điện tử (électron). Trong hạt nhân nguyên-tử lại có chất-tử
(proton) và trung-tử (neutron). Chất-tử, trung-tử lại có thể phá vỡ ra mà
biến thành năng-lực cứ xoay vần như thế mãi mãi rốt cuộc không bao giờ
cùng tận. Cho nên nói thượng đế là chân thường tức là trái với khoa học,
mà cũng là trái với Phật-pháp.
Theo lý-luận nhân duyên hòa hợp
này thành lập nên luật nhân quả mà người đời nay đều biết, như chỗ bảo
"Trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu". Suy ra đến lý nhân-sinh
thì thành ra thuyết "Trồng nhân lành thì được quả lành, trồng nhân dữ thì
được quả dữ". Lý luận nầy của Phật-giáo ở Trung-quốc tuyên-truyền rất rộng
và rất ăn sâu vào trong dân chúng, ngay đến kẻ chẳng phải là tín đồ
Phật-giáo cũng có sự tín-ngưỡng nầy. Lý luận trên theo duy-thức-học mà
giảng giải thì rất dễ hiểu, vì duy-thức-học là một học thuyết tâm vật kết
cấu, học thuyết này nhà tâm lý học hiện đại còn chưa theo kịp.
Duy thức học phân-tích thành
phần các thứ "Tâm" rất là kỹ lưỡng chẳng kém nhà hóa-học phân tích thành
phần của vật chất. Ở trên hóa-học chúng ta được rất nhiều công-thức, tóm
lại thì chẳng ngoài vật hóa-hợp của chín mươi hai thứ nguyên-chất. Nhà duy
thức học thì có thể bày tỏ trong một động tác nào của chúng ta nó dắt dẫn
bao nhiêu phiền não của tâm vương, tâm sở, chẳng ngoài một trăm pháp (Xin
đọc thêm cuốn Bách pháp minh môn luận thì mới hiểu thấu được những
thuật ngữ của môn học nầy). Cho nên duy-thức-học là "Tâm lý hóa-học". Ở
đây tôi thành thật khẩn thiết khuyên các nhà tâm lý học nước ta bớt chút
thì giờ đọc cuốn Duy-thức-học , thì nhứt định họ có thể mở rộng
thêm tầm hiểu biết của họ ra.
Theo duy-thức-học mà giảng, thì
mỗi sự móng tâm, động niệm của chúng ta là ở trong ruộng của tâm thức đã
gieo xuống một hạt giống rồi. Hạt giống nầy liền biết nảy nở mọc lớn thành
ra thân thể, khí-quan của sinh vật và hoàn cảnh chung quanh mình. Hạt
giống lành liền sanh ra sinh vật khí-quan cao-đẳng, và hoàn cảnh tốt đẹp,
nhưng hạt giống dữ thì trái lại. Đem khoa học ra mà phán đoán, từ một ý
niệm mờ mịt chuyển biến làm ra vật chất hữu hình, thử hỏi khả năng nầy có
hay là không? Tôi cho là có. Như trên tôi đã chẳng nghiên-cứu đến sự quan
hệ của vật chất với năng lực, động, thời gian, không gian, rồi ư? Không
gian, thời gian, và động (hoặc tốc độ), ba cái đó thực là yếu tố làm thành
ra năng lực và vật chất, ở trong sách Bách-Pháp gọi là: Phương,
thời, thế-tốc, chẳng qua là tên gọi xưa và nay khác nhau mà thôi. Phương,
thời, thế-tốc đã liệt vào trong 24 thứ tâm bất tương ứng hành pháp. Chỗ
bảo tâm bất tương ứng hành pháp là chẳng phải chỉ tương ứng riêng với tâm
pháp, tất nhiên phải đợi tâm và sắc đối nhau sau mới thành hình. Chúng ta
đối với vật chất, khi nổi lên một niệm gì là lúc tâm và vật đối nhau, thì
liền có thời, phương, thế-tốc (thời-gian, không gian, tốc-độ) theo đó mà
nổi dậy. Đã có thời-gian, không-gian thì liền có tốc-độ, tốc độ cùng với
vật-chất hòa hợp nhau mà thành ra lực (Force F=Ma=MPt2). Lực cùng với
không-gian hòa-hợp thì có năng (Energy E=Fd). Có năng tức là có vật chất.
Vật chất nầy cùng với tâm niệm đối nhau lại tạo thành ra vật chất mới. Tóm
lại vật lý học hiện nay chứng thật vật-chất và năng-lực có thể biến đổi
lẫn nhau, chẳng riêng đem năng lực và vật chất sắp đặt làm một thứ, lại
cũng có thể khiến cho tâm và vật chất dung-thông làm một thể. Vật-chất đã
cùng với thời-gian và không-gian phát sinh ra sự quan-hệ mật thiết (Cựu
vật-lý-học thì cho là vật-chất không quan hệ gì với thời-gian và
không-gian). Mà thời gian và không gian lại là sự liên hệ của tâm và vật,
nên tâm và vật có ý nghĩa đồng sống chết, cùng còn mất. Sở dĩ hễ một niệm
nổi dậy thì thời-gian, không-gian, động, lực, năng, chất cũng theo đó mà
nổi dậy. Do đó mà chứng minh, thì nếu tâm động, niệm nổi dậy, đích xác là
có thể tạo thành ra hoàn cảnh và thân thể khí quan tức là vật-chất. Đến
như thứ tâm niệm nào tạo nên thứ vật-chất nào, trải qua thứ trình độ nào,
thì giới vật-lý-học hiện nay còn chưa thực-hành thí nghiệm nổi, nên chưa
dám đoán bậy. Tương lai đợi phương pháp năng-lực và vật-chất biến đổi lẫn
nhau công bố xong, thì tự nó có đáp án đích xác.
Phật dạy: Thiên đường, địa
ngục, người, quỷ, bàng-sinh đều do tâm tạo, hết thảy thiện-ác tội-phước
đều là chúng sinh tự mình làm tự mình chịu, chẳng phải thượng đế,
thiên-thần có thể ban phước hay làm tội mình được. Như câu: Ví như trăm
ngàn kiếp, nghiệp mình làm chẳng mất, lúc nhân duyên gặp gỡ, quả báo lại
tự mình chịu lấy = "Giả sử bách niên kiếp, sở tác nghiệp bất vong, nhân
duyên hội hợp thời, quả báo hoàn tự thụ". Luật nhân-quả nầy của Phật đã ăn
sâu vào tâm con người nay được sự nâng đỡ ủng-hộ của khoa-học hiện đại thì
chẳng còn là chỗ mê tín của kẻ ngu dốt nữa.
d)- Ba Tự Tánh
Phật dạy hết thảy pháp tướng
trên thế-gian này có thể chia ra làm ba thứ tự tính:
1)- Tính biến kế sở chấp.
2)- Tính y tha khởi.
3)- Tính viên thành thực.
Tính y-tha-khởi là nhân duyên
hòa-hợp của tự thân hết thảy sự vật nương nhờ các sự vật khác mà bắt đầu
có. Như một sự vật A ắt do những nhân duyên hòa hợp của sự vật B, C, D,
khác mà thành. Nếu chúng ta ở trên những sự vật A, B này làm bao nhiêu sự
đo lường phân-biệt chủ-quan, rồi sanh ra bao nhiêu ý-kiến, hoặc thành lập
ra bao nhiêu học thuyết, đó gọi là "tính biến kế sở chấp". Nếu ở trên tính
y tha khởi ta chẳng làm sự phân biệt chủ quan này, chỉ còn có lý sự khách
quan, đó gọi là "tính viên thành thực". Đem khoa học ra mà giảng, thì tính
y tha khởi là sự lý khách quan. Ví dụ như do sự quan hệ của thời-gian và
không-gian mà thành lập quan niệm của "động" do sự vận động của chất và
lượng mà thành lập quan niệm của "lực", lại do sự quan hệ của lực và không
gian mà thành lập quan niệm của "năng"; đó đều là tính tha khởi. Nếu theo
trên phương diện năng-lực đó làm một thứ đo lường phân biệt rồi nói rằng
năng-lực là thường trú bất diệt, mà lập nên luật năng lực bất diệt, thì
luật này chẳng phải là chân-lý nhất định có thể tin được. Sau khi giới
khoa-học hiện đại đem năng-lực và vật chất dung thông nhau, thì đã có thể
biết rằng: Năng lực có thể tiêu diệt đi mà biến làm "chẳng phải năng lực",
nên định luật nầy đã chẳng còn thích hợp nữa. Phật học cũng chẳng phản đối
sự tồn tại của sự vật khách quan, cho nên nói tính y-tha-khởi là có, nhưng
nó có cái chân, cái vọng khác nhau. Còn đối với sự đo lường phân biệt chủ
quan, hoặc những học thuyết thành lập nên phép quy nạp chẳng hoàn toàn,
thì đều cho hết thảy là không có, ví như lông rùa, sừng thỏ, thuần là
viễn-tưởng mà thôi. Người Phật-giáo chỉ chấp nhận sự thật một cách khách
quan, hiểu rõ lý y-tha duyên-sinh của nó, chẳng nổi dậy sự vọng tưởng phân
biệt, đó gọi là tính viên-thành thực.
Những trí-thức mà giới khoa-học
tự nhiên dùng phép diễn-dịch và phép quy-nạp (trừ phép quy-nạp không được
hoàn-thiện) tìm tòi ra được, tôi cũng công nhận đó đều là "tính y-tha
khởi" đều có thể tin được. Như sự thành lập của môn toán học là dùng phép
diễn dịch đem mấy thứ lý luận đã biết sẵn mà mọi người đều công nhận, suy
rộng ra để biết được bao nhiêu thứ quan hệ mà mình chưa biết, đó là "tính
y-tha khởi". Lại như dùng phương pháp thống-kê, từ rất nhiều sự thực quy
nạp ra một cái lý luận, đó cũng là "tính y-tha khởi". Nhưng nếu dùng phép
quy-nạp chẳng hoàn thiện, chỉ đem riêng một bộ phận ra lập luận, đã làm
mất cái chân tướng của sự thật đi, lại thêm sự tính toán tầm bậy của
chủ-quan, là "tính biến kế sở chấp". Ví như ông Đác-Vanh (Darwin) chỉ nhìn
thấy sự cạnh-tranh sinh tồn của một bộ phận loài động vật, mà chẳng nhìn
thấy sự sinh hoạt hỗ-trợ của loài động-vật, bèn nhắm mắt sáng lập ra học
thuyết "Cạnh tranh thiên diễn, mạnh được yếu thua" theo con mắt nhà Phật
xem thì những thuyết nầy đều là tính biến kế sở chấp, không còn nghi ngờ
gì nữa. Lại như duy-vật sử quan của Các-mác, ông ta chỉ nhìn thấy sự
chân-thường của vật-chất, mà chẳng nhìn thấy vật-chất có thể tiêu diệt mà
biến ra quan niệm thời-gian, không gian, liền nhận lầm là hết thảy
hiện-tượng của tinh-thần đều bị vật-chất chi-phối. Ông ta có biết đâu từ
sau khi bom nguyên-tử nổ tung ra, thì toàn thể nhân loại trên thế-giới đều
hiểu rằng vật-chất chẳng phải là chân-thường. Thuyết duy-vật sử-quan của
ông ta đã bị bom nguyên-tử phủ định rồi. Lại như duy-vật biện-chứng pháp
của Các-mác cũng chỉ nhìn thấy mấy thứ vật lý biến hóa mà đã vội thành lập
nên những định luật biến đổi về chất, mâu thuẫn, thống nhất, và sự
phủ-định trong phủ-định mà chưa nhìn thấy bản thể chân như là tùy duyên mà
chẳng biến, chẳng biến mà vẫn tùy duyên, lìa xa hẳn hai thứ biên kiến,
chẳng còn bị phủ-định nữa. Đem ngay vật lý biến hóa ra mà bàn, thì cũng
chẳng phải hết thảy sự biến hóa đều từ lượng biến ra chất, mà sự biến hóa
từ chất ra lượng cũng có. Đến như mâu-thuẫn hay không mâu-thuẫn lại ròng
là chủ quan. Nên chỗ ông ấy cho là mâu-thuẫn lại là chỗ tôi cho là sự vô
ngại, cho nên thứ học thuyết này chẳng những là tà-chấp biến kế, thực ra
nó giống với học thuyết của ma!
Khoa học tự nhiên thuần chính
thì tuyệt nhiên không có sự thấy lệch lạc chủ-quan. Ông Nưu-tông quyết
chẳng phải vì bị ông Anh-tanh sửa đổi lại luật "Vạn hữu dẫn" của mình mà
nổi dậy tướng nhân, ngã mà sanh ra lòng sân. Nếu nhà khoa học thực có thể
đối với tất cả hiện tượng tự-nhiên, hiểu rõ lý chân như của nó, không dối
trá, không xuyên-tạc, như thế thì liền được "tính viên thành thực" của các
pháp. Nếu suy ra đến sự sanh-hoạt thực tế của cá nhân, thì thành Phật đâu
phải là việc khó. Vậy nên tôi tin chắc rằng tinh-thần của khoa-học rất gần
với Phật-pháp, mà nhà khoa-học là kẻ có thể tuyên dương Phật-lý.
6. PHẬT-GIÁO CAO HƠN KHOA-HỌC
Lý luận tiến bộ hơn hết của
giới khoa-học hiện nay là "Tương đối luận" Anh-Tanh lúc ban đầu phát biểu
luận tương đối nầy ra, giới khoa học chẳng hiểu gì cả, chỉ có được mười
hai người là hiểu thấu đáo, Anh-Tanh chẳng những sửa lại "luật vạn hữu
dẫn" của Nưu-Tông, mà còn phát minh ra công thức "Năng và chất biến đổi
lẫn nhau". Ông nói: Lúc một bảng (Pound) vật chất hủy diệt đi, thì nó có
thể biến thành năng lực rất lớn đáng sợ, ông chẳng những khai khẩn một
mảnh vườn mới trên khoa-học, mà còn cởi mở những sự trói buộc trên tư
tưởng của nhà khoa-học.
Hồi xưa nhà khoa-học vẫn cho
rằng thời gian và không gian là tuyệt đối độc-lập, chẳng chịu ảnh hưởng
một vật gì khác, nhưng quan niệm không gian của Anh-Tanh thì chẳng giống
như thế. Ông cho rằng: Không gian nếu có vật chất tồn tại, thì khoảng
không gian này liền nổi dậy sự biến hóa chẳng giống với khoảng không gian
không có một chút vật chất nào. Ví dụ như trên một tấm mền bông trải ra
bằng phẳng ta liệng xuống mấy trái banh, thì mặt chiếc mền này liền lồi
lên lõm xuống, chẳng còn bằng phẳng nữa, nó hiện ra những vết nhăn. Trong
khoảng hư không nầy có một thái-dương-hệ tồn tại, thì hư không cũng hiện
ra những vết nhăn. Như có một ngôi sao chổi bay qua gần thái-dương-hệ,
đường lối đi của sao chổi này liền có ảnh hưởng thành ra những vết nhăn
của không-gian. Ông lại nói: Trường-độ của vật và tốc-độ của sự đo-lường
vật nầy cũng có sự quan hệ với nhau. Những ví dụ trên đều là thuyết-minh
không gian chẳng phải là tuyệt-đối độc-lập, nó tùy theo vật-chất và tốc-độ
mà biến hóa. Đến như thời gian, ông cũng công nhận là tương-đối, mà những
việc trăm ngàn năm về trước chúng ta có thể xem thấy được. Giả sử chúng ta
ngồi trên máy bay mà sức bay mau của nó hơn tốc độ của ánh sáng gấp mấy
lần (mỗi giây 300 ngàn kilomét) bay lên trên khoảng không, thì chúng ta có
thể đuổi theo kịp những quang tuyến phát ra của bao nhiêu sự vật đã xuất
hiện trên địa-cầu hồi xưa. Vì thế mà chúng ta có thể thấy được những việc
cũ đã qua mà nhân vật trên lịch-sử các đời nhà Thanh, nhà Minh, nhà Tống,
nhà Đường cho đến nhà Châu còn sắm vai đóng trò; nhưng nếu thuận theo thứ
tự thì lại trái hẳn. Do đó có thể nói rằng thời gian chẳng phải là tuyệt
đối, nó có quan hệ với tốc độ. Quan niệm nầy đối với người thường thì
chẳng tránh được sự sợ hãi, lạ lùng, nhưng đối với nhà học Phật thì lại
cho là dĩ nhiên. Vì rằng Phật giáo đối với bất cứ một sự vật gì đều chẳng
thừa nhận nó có sự tồn tại độc-lập, nên đối với thời gian và không gian
cũng cho là chẳng phải thường trú bất biến. Như kinh Lăng Nghiêm có
câu: "Ở đầu một sợi lông hiện lên cõi nước mười phương, ngồi trong một hột
bụi nhỏ chuyển pháp luân lớn = Ư nhất hào đoan, hiện thập phương sát, tọa
vi trần lý chuyển đại pháp luân". Phật Thích-Ca Mâu-Ni giảng kinh Pháp
Hoa một lần ngồi lâu đến năm mươi kiếp, đây là quan niệm của nhà Phật
đối với thời gian, không gian. Thời gian, không gian chẳng riêng chỉ chịu
ảnh hưởng tốc độ của vật chất mà biến đổi, nó cũng theo tâm niệm của chúng
ta mà biến đổi nữa. Như ngài Bát-Chỉ Đầu-Đà (Một vị thi tăng cuối đời nhà
Thanh) nói: "Một ngày ngồi thiền chỉ ngắn bằng một khảy móng tay". Lại
kinh Phật thường có câu: "Ba đại a-tăng kỳ kiếp chẳng khác gì một sát na,
một hột cải có thể chứa đựng núi Tu-di". Thế thì sự phân biệt lớn hay nhỏ,
lâu hay mau đều là vọng niệm của chúng sinh, đều không có thực thể.
Tôi sở dĩ nói Phật-pháp vượt
lên trên khoa-học, là vì một bộ phận lý luận của Phật-pháp có thể dùng
khoa học để giải thích, nhưng còn những bộ phận khác thì đã vượt hẳn lên
lĩnh-vực của khoa-học. Vì rằng đối-tượng nghiên-cứu của khoa-học là
sắc-pháp (tức là mười một thứ sắc-pháp trong bách pháp), và năm pháp
(Thời, phương, số, thứ đệ, thế tốc) trong bất tương ứng hành-pháp. Vả
chăng trong mười một sắc pháp cũng chỉ hạn cuộc vào năm thứ phù trần căn,
và sắc, thanh, hai trần (đối với sự nghiên-cứu của ba trần hương, vị, xúc
rất ít, chẳng thể đem ra so với hai trần sắc, thanh được; nó gần như không
có). Cho nên phạm vi nghiên-cứu của khoa-học hiện nay, đem bách pháp ra mà
giảng thì chỉ chiếm được 12/100. Đối với năm pháp: thời, phương, số, thứ
đệ, thế tốc, ở trong khoa toán học và vật-lý-học nghiên-cứu rất tinh
tường, nhưng chỉ nghiêng về phương diện sắc-pháp, tức là chỉ quan hệ với
phương diện vật-chất. Năm pháp trên vốn nó một nửa thuộc sắc pháp, còn một
nửa thuộc tâm pháp, nếu chẳng đem bộ phận thuộc tâm pháp ra nghiên-cứu,
thì vẫn chẳng thu hoạch được sự hiểu biết đầy đủ hoàn toàn.
Đối với sự nghiên cứu liên quan
đến năm phù trần căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) thì trên sinh-lý-học đã
hoàn bị tương đối, nhưng đối với những tế bào thần kinh thiệt có thể phát
sinh ra sự tác-dụng nhận thức (kinh Phật gọi là Tịnh sắc căn), sau khi
tiếp xúc với ngoại cảnh nó phát sinh ra thứ tác dụng hóa-học nào, thứ tác
dụng vật-lý nào, và nó làm sao liên lạc được với ý căn, mà cùng với các
căn khác phát sanh quan hệ, thì khoa sanh-lý-học chưa có lời báo cáo cụ
thể. Vật-lý-học đối với hai trần sắc, thanh nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Những
hiện tượng vật lý không thể nhìn thấy bằng mắt được như: điện thế
(Voltage), tốc-độ của hỏa-tiễn, cường độ của từ-trường (intensity of
magnetic field) quang-tuyến X, vi-trùng, các thứ thiên thể v.v... đều có
thể dùng nhiều khí-cụ như: đồng-hồ điện, máy ra-da (radar), máy chụp hình,
kính hiển vi, vọng viễn kính, đem đối tượng chuyển biến làm sắc trần có
thể dòm thấy bằng mắt được. Nhưng vật-lý-học đối với sự nghiên-cứu của
thanh-trần còn chưa được bằng sắc trần. Do đó có thể biết rằng nhĩ căn của
con người đối với sự cảm giác và tiếng là có hạn chế. Người thông thường
chì có nghe được những âm ba rung động trong một giây đồng hồ từ trên hai
mươi lần đến dưới hai vạn lần, vì sức cảm giác về nhĩ căn của mỗi người
lại chẳng giống nhau. Sức cảm giác về nhãn căn của mỗi người lại cũng tùy
theo từng người mà đổi khác, cho nên mới gọi kẻ đối với các thứ màu sắc
không phân biệt rõ là "sắc manh". Do đó có thể thấy hai trần thanh và sắc
chẳng phải lìa tâm ra mà tự nó có riêng biệt. Trong kinh Lăng Nghiêm
có một đoạn quan niệm liên hệ đến thanh nói ra rất thấu đáo. Nhưng
Phật đối với thính-chúng chỉ rõ chỗ sai lầm về "tiếng đến bên tai". Xét ra
tiếng đến bên tai là cảm tưởng của phần nhiều người, ngay đến chúng ta là
người đã học qua vật-lý cũng đều tưởng như thế, nhưng suy nghĩ cho kỹ thì
thật là sai lầm. Lúc đánh chuông, vì chuông bị đánh nên chấn động, nhân đó
cổ-động những phần-tử không-khí bốn phía lên, mỗi cái mỗi cái đánh động
lẫn nhau, đến phần tử không khí sau cùng kích động bên tai chúng ta, lại
động đến màng tai, truyền vào tế bào thần-kinh của tai bèn phát lên cảm
giác của "thanh". Sự ba động của những phần tử không-khí nầy nó đi đến
màng tai, chỉ có thể nói là không khí ba động, mà chẳng thể gọi là âm
thanh ba động. Đây là chỉ rõ sự sai lầm thứ nhất (Do đó mà xem, thì nhà
vật-lý-học đối với phép định danh cũng chưa chặt chẽ, sau nầy cũng nên áp
dụng phương pháp định danh của lục-ly hợp thích trong kinh Phật) lúc không
khí ba động, thì những phần tử không khí nầy cũng chỉ chấn động trên bản
vị của nó, và không có một phần tử không khí nào từ bên cái chuông chạy
thẳng đến bên tai, cho nên chẳng thể gọi đó là tiếng động, đây là chỉ rõ
sự sai lầm thứ nhì. Đối với điểm này thì nhà khoa học phải nên quay về
Phật-pháp mà đốt nén hương, đảnh lễ.
Tâm pháp và sắc pháp thực ra là
hai cái đối đãi với nhau, nhà khoa-học mới chỉ biết sắc và sắc đối nhau mà
chẳng biết tâm và vật đối nhau. Duy-thức-học nói: Tướng-phần, kiến-phần
đối nhau mà phát sinh, như hai cái sừng trên đầu con ốc sên, một khi sừng
bên nầy ló ra thì sừng bên kia cũng ló ra, sừng bên nầy thụt vào thì sừng
bên kia cũng thụt vào. Những pháp sinh diệt, đoạn thường, nhất dị, khứ
lai, chân vọng, mê ngộ, thiện ác, tội phước, phược giải, tịnh nhiễm, phàm
thánh, nhân ngã v.v... cũng đều là pháp tương đối chẳng phải là pháp chân
thực, ta chớ nên chấp trước. Trong bộ Trung luận đã phân tích chỗ nầy rất
rõ, các nhà khoa-học nếu muốn mở mang lĩnh-vực của mình thì phải để ý đến.
Phật-giáo có một thanh gươm bén
làm lợi khí để phá tà hiển chánh đó là môn học nhân minh. Nhà khoa học tuy
có áp dụng phương-pháp luận-lý-học (logique), nhưng vì khoa học thì chỗ
nào cũng căn cứ theo sự thực, chẳng giống như triết-học bàn luận-lý huyền
diệu, cho nên trên thực-tế nhà khoa-học cũng chẳng căn cứ về môn luận lý
nầy, chỉ ngẫu nhiên tham khảo mà thôi. Toán học thật ra là một môn luận-lý
học thực-dụng, cho nên khoa học tự nhiên nếu có bộ phận nào liên quan đến
toán học, đều đem toán học ra mà suy tính, phát biểu, thì chẳng cần lo có
sự lầm lộn nữa. Nhưng nếu bàn về những bộ phận liên quan đến tâm pháp, thì
chẳng phải phép luận-lý về số lượng có thể tính nổi, nếu chẳng dùng
nhân-minh-học thì chẳng xong. Chỗ nhân minh học cao hơn luận-lý-học, giới
học thuật hiện đại có thể nói ra rồi nên tôi không cần bàn thêm nữa.
7. PHƯƠNG PHÁP THỰC
NGHIỆM CỦA PHẬT-HỌC
Phật-giáo chẳng phải chỉ giảng
lý-luận suông, mà không giảng thực hành, hai phần tri và hành đều được
trọng, đều hợp nhất. Biết tức là thực hành, thực hành tức là biết, biết
đến rốt ráo tức là giác ngộ, giác ngộ và thực-hành viên-mãn tức là thành
Phật. Chẳng riêng gì bộ kinh Lăng-Nghiêm, là một cuốn sách chỉ dẫn cho sự
thực nghiệm mà hết thảy ba tạng kinh, luật, luận đều tôn trọng sự thực
nghiệm, chỉ bày phép thực nghiệm. Cho nên Phật học và khoa học giống nhau.
Sau khi đã hiểu thông lý luận ắt phải làm ngay công tác thực nghiệm. Nhà
khoa-học chân chính khi ra khỏi phòng học liền vào phòng thực nghiệm, sau
khi thực nghiệm xong lại trở về phòng học đem kết quả của mình vừa thực
nghiệm phân tích tìm tòi, làm sao cho lý-luận và thực nghiệm phù hợp với
nhau. Nhà học Phật chân-chính lại cũng như thế. Sau khi xem các kinh điển
giáo pháp, liền vào Phật đường hoặc tĩnh tọa tham thiền, hoặc tu phép
quán-tưởng, hoặc thực-hành luật nghi, hoặc tu mật-hạnh, hoặc niệm Phật,
hoặc làm bao nhiêu việc Phật-sự. Sau khi làm xong công phu nầy thì lại xem
đọc kinh luận, hoặc thăm hỏi các bậc thiện-tri-thức đề cầu ấn chứng.
Chỗ hai bên giống nhau là: nhà
khoa-học dùng trí phân biệt của sáu thức để suy nghĩ tìm tòi lý sinh diệt
biến hóa y tha, duyên khởi của lục trần, còn nhà Phật-học thì ngoài cái
trí phân biệt ra, lại còn dùng trí không phân biệt làm công cụ để quán
chiếu. Đối-tượng nghiên-cứu của họ chẳng hạn cuộc ở sắc, thanh, lục-trần,
mà tâm pháp và vô vi pháp trong bách pháp đều phải nghiên cứu hết. Nhà
khoa học tuy ngày nào cũng dùng tâm nghiên-cứu, nhưng đối với bản thân của
"tâm" lại bỏ qua đi. Nguyên-nhân bỏ qua đi này không ngoài hai thứ:
1.- Nhà khoa-học phần nhiều
công nhận tâm và vật là hai cái đứng riêng biệt. Hiện tượng của vật thì
chẳng phải là cái tâm chủ quan có thể thay đổi được vật, nên họ cho là đã
nghiên-cứu hiện-tượng của vật-chất thì không cần nghiên-cứu tâm-lý nữa.
2.- Có một số nhà khoa-học tuy
cũng nhận biết sự trọng yếu của tâm, nhưng cũng đem "tâm" để nghiên cứu
giống như "vật", mà công cụ nghiên cứu thì vẫn dùng cái tâm phân biệt, chớ
không dùng cái tâm không phân biệt. Như nhà tâm lý học hiện nay vì dùng
công cụ chẳng tinh xảo, nên những cái họ nghiên cứu ra chỉ là một ít hiện
tượng hoặc phản ứng tâm lý trên sinh lý, còn đối với những tâm pháp thuần
túy của tâm-vương, tâm sở trong bách pháp thì vẫn chưa thâu hoạch được kết
quả gì. Đối tượng thực hiện của Phật giáo đã chẳng phải là vật chất
thô-kệch, mà là tâm pháp vi tế xảo diệu, nên công cụ để thực-nghiệm và
phương-pháp thực nghiệm chẳng giống như những công cụ trang bị trong phòng
thí-nghiệm của khoa-học. Phương pháp thực-nghiệm của Phật-giáo có mấy thứ
sau đây:
a.- Giới luật
Pháp môn để thực-nghiệm tâm
pháp của Phật-giáo rất nhiều, nhưng bước đầu tiên là thọ giới, ý nghĩa của
thọ giới là phương-pháp để thay đổi sự sinh hoạt cho nó thích hợp với sự
thực nghiệm. Người học Phật tại gia phải thọ tam quy, ngũ giới, các vị
tăng xuất gia thì phải thọ tỳ kheo giới. Chư tăng ở một địa vị làm thầy
dạy kẻ khác, nên giới luật so với người tại gia nghiêm nhặt hơn. Giới luật
càng nghiêm thì phiền não nơi thân tâm càng ít đi, mà trí lực càng mạnh
thêm. Ấy là công cụ thực nghiệm của họ (như cái cân dùng trong phòng
hóa-học) càng tinh tế thì càng có thể phân tích các thứ trạng thái tâm lý,
một cách mau chóng rõ ràng, cho nên thọ giới có một ý nghĩa rất sâu. Người
Âu Mỹ nhìn sự sanh hoạt của các vị hòa thượng nước ta, họ cho sự sanh hoạt
này thấp kém quá, đó là vì họ chỉ hiểu được sự tìm cầu chân lý ở
ngoại-giới, mà chẳng biết quay về nội tâm mình để tìm chân lý. Phật-giáo
nhận tâm và vật chẳng phải là hai thể khác nhau, nhưng nếu dùng tâm để cầu
vật, thì tâm mệt mà tính chân thiệt của vật mất đi. Nếu trước tiên làm cho
tâm mình trong sạch, khiến tâm chẳng tham dự những cảnh rối rắm ở ngoài
thì hết thảy sự vật mới có thể quán chiếu đúng theo lẽ thật, chẳng những
có thể tìm được chân tướng của vật mà lại còn được sự diệu dụng lớn lao
của nó.
Ai bảo Phật-giáo chẳng giảng
cầu văn minh về vật chất? Quốc độ chư Phật như Tây phương cực lạc thế giới
của đức Phật A-Di-Đà đều là hoàng kim làm đất, bảy món báu làm cây, lầu
các trang nghiêm hết sức tốt đẹp, ăn mặc đồ dùng đều đến mức tuyệt diệu.
Nhưng kẻ hướng ngoại tìm cầu vật chất mà được thì tâm họ chưa thanh tịnh,
tất nhiên làm lụy tâm mà sanh ra những độc hại:tham, sân, dâm, sát. Nếu
hướng nội tìm cầu vật chất mà được, thì tâm họ tinh diệu, chẳng bị vật làm
lụy tâm, tâm có thể xoay chuyển vật, mới có cái vui từ bi hỉ xả. Cho nên
trì giới là phương pháp trị tâm sơ bộ của nhà Phật. Ở trên phương diện vật
chất, Phật-giáo còn bày ra bao nhiêu món để trợ duyên như: chuông, khánh,
mõ, trống, tràng phan, hương hoa, và những tượng Phật vĩ đại trang nghiêm,
thiền đường, trai đường thanh-tịnh, không cái nào chẳng là công cụ để giúp
cho sự trị cái tâm (cũng như trong phòng thí nghiệm hóa học có ống thí
nghiệm, đèn hơi mỏ (gas lamp), giấy lọc nước v.v... các thứ nghi khí công
cụ dùng về việc thực nghiệm) khác hẳn với hạng người cho tượng Phật là
tượng gỗ dùng để sùng bái cầu phước. Đến như áo quần đồ dùng của các vị
hòa thượng thì giảm bớt đến mức tối thiểu, chỉ còn giữ ba y, một bát, món
ăn chỉ là rau dưa, cơm lạt đủ để no bụng. Vì sợ rằng ăn ngon, mặc đẹp
khiến cho lòng tham, si của tâm sở nổi dậy làm trở ngại công tác thực
nghiệm đi. Đây là sự nhận thức của tôi đối với giới luật Phật-giáo.
b.- Thiền Định
Đây là công tác chủ yếu của tâm
lý thực nghiệm trong Phật-giáo. Sau khi giữ giới luật tinh nghiêm trên
thân tâm đã nhẹ bớt đi bao nhiêu chướng ngại, bèn tiến lên mà tĩnh-tọa,
nhập định, thực hành bao nhiêu thứ quan sát, để có thể đích thân mình thể
nghiệm được chân như bản thể của Phật dạy là cái gì? Người đời đều cho
rằng cái tâm ngày thường lo nghĩ suy tính là cái tâm thể của ta, ngay đến
nhà khoa học suy cầu chân lý của sự vật cũng chỉ dùng cái tâm này. Nhưng
Phật lại bảo cái tâm này là bóng dáng của sáu trần (tiền trần phân biệt
ảnh sự) chẳng phải là "chân tâm" mà là cái hư hoại. Phật ví dụ nó như
thằng giặc nếu chẳng trừ bỏ nó đi thì chẳng xong. Người đời cho là một khi
liệng bỏ tâm này đi thì không còn tâm nào khác có thể dùng được, chừng đó
con người sẽ giống như cây đá, làm sao còn có thể nghiên cứu học hỏi? Phật
thì cho là nếu không liệng bỏ cái tâm này đi, thì cái "chân tâm diệu minh
thường trú" của chúng ta không thể phát hiện ra được. Một khi đã liệng bỏ
vọng tâm đi rồi, thì chẳng những không phải không còn tâm nào để dùng nữa,
đến lúc chân tâm hiển hiện ra thì đối với hết thảy sự vật đều có thể hiểu
biết một cách chính xác, chẳng bị vọng tâm lừa dối, lại cũng chẳng bị cái
gì trói buộc, tự nhiên chân tâm có thể phát huy diệu dụng của nó ra.
Những sự trói buộc của thời
gian, không gian, nỗi đau khổ của sanh, già, bệnh, chết, đều có thể giải
thoát. Sự tu học của Phật giáo vốn chia ra ba phép để tiến hành, gọi đó là
ba môn học: giới, định, tuệ; do trì giới mới sanh ra định, rồi từ định mới
sanh ra tuệ. Cho nên trì giới, tập thiền định chỉ là thủ đoạn để cầu trí
tuệ. Trí tuệ nầy chẳng giống với trí tuệ của nhà khoa-học triết học dùng.
Trí tuệ của thế-gian chẳng lìa khỏi sự phân biệt cuả trí thức, và theo ý
thức mà dấy lên hai cái tâm-sở: "tư, tưởng". Chỉ có trí tuệ do thiền định
phát sinh mới có thể đối với sự vật quan sát ra sao, để tìm thấy chân
tướng của nó, cho nên thiền định là con đường của kẻ học Phật tất nhiên
phải đi qua.
Các vị cao tăng nước ta thường
thường hồi mới bắt đầu tu hành còn chưa biết gì, thế mà sau khi tập luyện
thiền định công phu đã sâu, một sớm khoát nhiên khai ngộ, thì có thể giảng
kinh thuyết pháp, mỗi lời nói ra đều hợp với đạo cho đến viết chữ làm thi,
những môn nghệ thuật trên thế gian cũng đều tài giỏi tuyệt trần, có một
tác phong riêng biệt. Chẳng những đời xưa như thế, đời nay cũng chẳng
thiếu gì người. Nên tôi cho là tập tĩnh tọa, thiền định chẳng những thích
dụng cho Phật-học, dù một môn học nào khác cũng có thể dùng phương pháp
này để rèn luyện tâm chí, nếu thực hành được thì trình-độ tiến bộ của học
vấn càng thêm mau lẹ.
Như học sinh bậc kỹ sư lúc học
tập về phép đầu ảnh kỷ-hà (descriptive Geometry), có nhiều học sinh sức
tưởng tượng bạc nhược, thường chẳng hiểu rõ lý để vẽ ra nổi một bức hình
chính xác. Nếu có thể khiến cho những học sinh này nhắm mắt lại ngồi tĩnh
tọa để tâm quán tưởng hồi lâu, thì đối với các thứ hình thù của các kiểu
vẽ về kỷ hà nầy ắt có thể quan-sát rõ-ràng như thấy ngay trước mắt. Đây là
tôi muốn giới-thiệu riêng một phương-pháp thực dụng cho các nhà khoa-học.
e)- Mật-Tông và Tịnh Độ Tông
Mọi người đối với Mật-Tông
thường hay nhận lầm là có ý nghĩa thần bí, mang một màu sắc tôn-giáo rất
đậm đà. Thực ra thì mật tông chẳng giống như những chuyện bí mật thông
thường trên xã-hội chỉ cho phép người ở trong cuộc biết mà chẳng cho người
ngoài được biết. Lời Phật thuyết pháp nguyên rất rõ ràng minh bạch, nhưng
giảng đến bản-thể chân-như thì chỉ trừ kẻ nào đã thực chứng được rồi mới
hiểu nổi, còn ngoài ra đều chẳng rõ, ngay đến dùng lời nói văn tự là công
cụ để phát biểu ý tứ cũng không có phép nào trình bày ra nổi. Cho nên đức
Phật Thích-Ca Mâu-Ni lại phải sáng lập nên một thứ mật-giáo không dùng lời
nói để giảng thuyết, chỉ dạy người ta theo đúng phương pháp mà thực hành,
mà kết quả tự mình cũng có thể chứng được chân như. Phép tu của mật-tông
là dạy người ta miệng niệm chú, tay kết ấn, tâm quán tưởng, thân, miệng, ý
ba nghiệp tương ứng thì tự-nhiên có thể khiến cho mình minh tâm kiến tánh.
Như trên đã nói, tâm niệm của một cá nhân có khả năng biến thành năng lực,
biến thành vật chất, lại căn cứ vào lý y tha duyên khởi thì ba nghiệp
thân, khẩu, ý kết hợp lại, tất nhiên có thể phát sinh ra một cái hiệu quả
gì hoặc trên tinh-thần, hoặc trên vật-chất. Cho nên mật-tông cũng không có
gì là thần-bí, chẳng qua là một phép tu không giảng lý luận mà chỉ chuyên
giảng thực hành mà thôi. Ngay đến thiền tông nước ta rất thịnh hành ở đời
Đường đời Tống, nhưng gốc của tông này truyền ra từ "Đức Thế-Tôn cầm nhánh
hoa, ngài Ca-Diếp mỉm cười" là một phép bỏ hẳn văn-tự, lấy tâm ấn tâm, thì
tâm pháp nầy cũng có nghĩa mật vậy. Nhưng một đằng là tam nghiệp tương
ứng, một đằng thì trực chỉ nhân tâm kiến tánh thành Phật, hai phương pháp
chẳng giống nhau mà thôi!
Tịnh Độ Tông tức là pháp môn
niệm Phật rất phổ thông hiện nay, cứ xem bề ngoài của tông nầy thì hình
như là mê tín. Nhưng khảo cứu cho kỹ lưỡng thì chính là hợp với lý "sắc
tức là không, không tức là sắc" "y tha, duyên khởi". Phật A Di Đà giống
như cục đá nam châm, chúng sinh niệm Phật giống như miếng sắt, sắt gặp nam
châm liền bị hút mà vãng sanh thế giới cực lạc. Sắt là nhân duyên, nam
châm là tăng thượng duyên, tâm niệm Phật là nhân duyên, nguyện lực của
Phật là tăng thượng duyên, lực lượng của nam châm là phần tử của sắt. Y
theo thứ tự sắp hàng mà phát sanh ra sức hấp dẫn, niệm Phật đến lúc nhất
tâm bất loạn tức là đem tâm niệm mình y theo thứ tự sắp hàng thì tất nhiên
cũng có thể phát sanh ra sức hấp-dẫn, nên bị Phật hút sang thế giới cực
lạc. Sắt thành nam châm thì lượng của sắt cũng không thêm, không bớt,
chúng sanh thành Phật thì tánh của Phật cũng không thêm không bớt. Thế
giới cực lạc lại cũng chẳng lìa xa nhất tâm, ấy là tâm lực chung của
A-Di-Đà Phật và của chúng sinh niệm Phật cùng tạo nên, cùng với lý (tâm
niệm có thể biến đổi vật chất) đã nói ở đoạn trên hợp với nhau; cho nên
dùng lý luận của khoa-học có thể chứng minh Tịnh-Độ-Tông là không sai lầm.
Phép tu tâm của Phật-giáo có vô
lượng pháp-môn, tùy mình theo pháp-môn nào cũng có thể minh tâm kiến tánh
được. Giống như vấn đề toán học, có thể dùng nhiều phương pháp để giải
đáp, phương pháp tuy có khác nhau, mà đáp án vẫn giống nhau. Nếu thông
hiểu lý nầy thì đối với các tông: Thiền, Tịnh, Mật, Luật, tự mình chẳng
sanh ra sự phân chia cao thấp; hay dở, tông nào cũng là phương pháp thực
nghiệm tâm lý của Phật giáo.
Tôi theo ròng lập trường của
khoa học khách quan đem mấy phương pháp nầy ra khảo sát xem nó có hợp lý
hay không, cũng chẳng góp thêm ý kiến chủ quan nào của mình. Chỉ tiếc rằng
tôi tự mình còn chưa dùng những phương pháp của Phật dạy đem ra thực hành,
cho nên tôi chưa thể báo cáo tường tận tình hình, mà kết quả của sự thực
nghiệm trên, tự tôi chưa đem chính bản thân ra để thực nghiệm, nên chưa
dám phê phán theo ý kiến riêng mình. Vậy nên tôi chỉ căn cứ trên sự thực
của các kinh điển nhà Phật đã chép, thuật sơ dưới đây để tham khảo.
8. HIỆU QUẢ CỦA
SỰ THỰC NGHIỆM TRONG PHẬT-GIÁO
Theo lý luận của Phật-giáo mà
giảng thì mọi người đều có Phật tính (cũng gọi là chân như), đều có diệu
dụng vô hạn. Chỉ vì chúng sinh bị phiền não che lấp, nên Phật tính chẳng
thể hiện ra. Nếu có thể cởi mở hết phiền não, thì hết thảy đều thông suốt
vô ngại, liền được sáu thứ thần thông: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông,
thần túc thông, tha tâm thông, túc mạng thông và lậu tận thông. Như con
mắt của chúng ta chỉ nhìn thấy khoảng cách xa mấy chục dặm, chỉ có thể
nhìn thấy ánh sáng màu hồng đến ánh sáng màu tím. Còn những quang tuyến
ngoài màu tím và trong màu hồng và những làn sóng vô tuyến điện dài thì
chúng ta không có phương pháp gì nhìn thấy được. Nếu ta có thiên nhãn
thông thì ta không bị hạn chế trong sự nhìn thấy này. Vả lại lúc nhìn xem,
cũng chẳng nhất định là phải dùng cặp mắt, muốn dùng một căn nào trong sáu
căn cũng có thể được. Như trong kinh Lăng Nghiêm nói: Ông
A-Na-Luật-Đà hai mắt đã bị mù, sau nhờ tu hành thành bậc La-hán, ông ta
xem cõi Diêm-Phù-Đề này như trái yêm ma-la ở trong bàn tay (tức là nói ông
ấy xem địa cầu nầy giống như hình một trái cây). Lại như Đức Quán-Thế-Âm
Bồ-Tát có thể nghe âm thanh của chúng sanh mười phương để cứu khổ cứu nạn
cho họ, đây gọi là thiên nhĩ thông. Trong kinh A-Di-Đà nói: "Chúng
sinh ở nước ấy mỗi buổi ban mai thường dùng túi áo đựng các thứ hoa đẹp
đem đi cúng dường mười vạn ức Phật trong mười phương thế giới khác, đến
giờ ăn lại trở về bổn quốc, ăn rồi đi kinh hành..." đây là thần túc thông.
Bồ-Tát có thể biết tâm niệm của mỗi chúng sanh trong lục đạo rõ ràng không
sót, đây là tha tâm thông. Có thể biết túc mạng và những việc một đời, hai
đời, ba đời cho đến ngàn muôn đời của bản thân mình, lại cũng có thể biết
túc mạng và những việc của mỗi chúng sinh trong lục đạo, đây là túc mạng
thông.
Sáu thứ thần thông nầy (trừ lậu
tận thông ra) cũng chẳng phải là mục đích của nhà học Phật tìm cầu, ví như
trong sự chế tạo về công-nghệ mục-đích là chế tạo món A, nhưng đồng thời
cũng chế tạo phó sản là món B; món B nầy chỉ là món sản xuất phụ thêm.
Thần thông cũng giống như món phó sản, nếu có thể đoạn hoặc chứng chân,
thì tự nhiên có thần thông. Thần thông có lớn, có nhỏ, hoàn toàn nhờ ở
trình độ dứt trừ hoặc chướng mà định đoạt. Tôi xem trong sách Cao Tăng
Truyện thấy chép rất nhiều vị cao tăng có thần thông, tôi đã có đủ lý
do tin được khả năng của thần thông, nên dĩ nhiên là tôi tin kẻ chép những
chuyện nầy chẳng phải bịa đặt ra. Đến như các thứ dấu tích lạ lùng trong
kinh điển đạo Gia-Tô, đạo Hồi-Hồi chép tôi cũng công nhận là có thể tin
được.
Mục tiêu thực nghiệm của
Phật-giáo là ở chỗ minh tâm kiến tính, nhận thức chân tướng của vũ trụ và
nhân sinh, giải thoát bao nhiêu thứ trói buộc của sanh tử phiền não, đạt
đến địa vị tự do tuyệt đối, bình đẳng chân chính, hưởng thụ những sự sung
sướng không đối đãi với sự khổ (vui sướng tuyệt đối). Chẳng những phải tự
mình được như thế, mà lại còn muốn cho hết thảy loài người và loài vật
trên thế giới đều phải được như thế.
Chỗ cầu nguyện của tín đồ
Phật-giáo đối với mục tiêu trên, ta có thể đem bốn thệ nguyện lớn ra để
biểu lộ:
"Thệ nguyện độ hết thảy vô biên chúng sanh
Thệ nguyện dứt sạch vô tận phiền não
Thệ nguyện tu học vô lượng pháp môn,
Thệ nguyện viên thành vô thượng Phật đạo".
Tông chỉ của Phật giáo đã thuần
chính vĩ đại như thế, những phương pháp đem ra áp dụng lại hợp lý và chặt
chẽ như thế, thì tôi tin rằng hiệu quả thu được nhất định là phù hợp với
mục tiêu.
Mục đích của khoa học chỉ là
chỗ thu được chân lý của vật-chất, khiến cho loài người lợi dụng nó để
hưởng thụ thêm lên. Nhưng cứ đi riêng một con đường khoa học này thì chỉ
có thể mở rộng thêm lòng ham muốn vật chất của loài người mà thôi. Vì rằng
giới hạn của người với ta chưa dứt, sự đối đãi giữa tâm với vật chưa tiêu
tan, nên kết quả chẳng những không thể thu được sự tự do bình đẳng chân
chính giữa người với người, và người với vật, trái lại còn dắt dẫn lên
mâu-thuẫn đối lập giữa người với người và người với vật. Như sự phát minh
bom nguyên-tử, một phương diện thì đã đành thu được hiệu quả làm tiêu diệt
bạo-lực của kẻ xâm lược, nhưng đứng trên phương diện khác lại dắt dẫn đến
sự nghi kỵ ganh ghét của các cường quốc. Cho nên, nếu đem riêng mục tiêu
viên mãn quảng đại ra mà bàn, thì Phật giáo cao hơn khoa học.
9) KẾT LUẬN VỀ SỰ NGHIÊN
CỨU KINH PHẬT
Động cơ nghiên-cứu kinh Phật
của tôi thuần là vì muốn "Tìm sự hiểu biết", chẳng phải như những người
khác vì tinh thần bị kích thích nghiêm trọng nên mới tin Phật để cầu sự an
ủi trên tinh thần. Tôi cũng chẳng cho rằng động cơ tin Phật nói trên của
họ là sai, nhưng một khi thần kinh hệ đã bị kích thích thì không được bình
tĩnh nữa, vì thế đối với các bộ môn của Phật-giáo chẳng thể quan sát một
cách khách quan.
Còn tôi là một nhà khoa học đối
với tinh thần và phương pháp của khoa học tôi tin chắc-chắn. Nên lúc tôi
thấy lý-luận của Phật giáo mà mâu thuẫn với khoa-học, thì chẳng thà tôi bỏ
Phật giáo đi mà tin theo khoa học. Sự nghiên cứu kinh Phật của tôi thuần
là công tác tìm tòi về khoa học, tôi dự bị đem kết quả của sự tìm tòi này
cống hiến một cách thành-thật thẳng thắn cho các nhà khoa học. Mục đích
nghiên cứu kinh Phật của tôi, tôi đã trình bày rõ ràng ở đoạn thứ nhất
trong tập sách này, nên tôi nêu lên ba điểm làm kết luận:
1)- Phật-giáo đối với bao nhiêu
thứ quan hệ giữa vật với vật, tâm với tâm, tâm với vật, đều có lý luận rõ
ràng đích xác. Đối tượng nghiên cứu của khoa học thì chỉ hạn cuộc ở sự
quan hệ giữa vật với vật. Tôi chỉ chuyên ở nơi quan hệ nầy, đem Phật-giáo
so sánh với Khoa học thời tôi cảm thấy rằng khoa-học hiện tại đang dùng
những ví dụ xác thực để chứng minh cho lý luận của Phật-giáo. Chỉ đáng
tiếc là khoa học đối với hai điều quan hệ sau (Quan hệ tâm với tâm, tâm
với vật) còn chưa tiến hành nghiên cứu nên chưa thể đem ra đối chiếu được.
Nhưng dùng phương-pháp tỉ-lượng của Nhân-Minh Học ra mà suy tính, thì cũng
có thể biết hai thứ lý luận sau là chẳng sai lầm. Như Phật dạy: Mọi vật
đều là y tha duyên khởi (nhờ nhân duyên khác để sanh thành) cái nhân năng
sinh cũng là cái quả sở sinh, mà cái quả sở-sinh, cũng là cái nhân năng
sinh, nhân và quả bình đẳng. Thế thì lời Phật dạy: "Tâm, Phật, và chúng
sinh ba cái không sai biệt nhau" chính là phù hợp với chủ nghĩa bình đẳng
ở trên. Vì rằng vật với vật đã bình đẳng, thì tâm với vật tự nó cũng bình
đẳng, Phật lại dạy: "Cái tâm năng kiến là kiến-phần của tám thức, những
vật sở-kiến là tướng-phần của tám thức (Muốn hiểu rõ câu nầy nên nghiên
cứu duy thức học) năng và sở đều là chỗ biến đổi của tám thức, thì chẳng
những Phật dạy tâm với vật bình-đẳng, lại dạy tâm với vật chỉ là một, cùng
với thuyết nói trên thông suốt nhau, không có lỗi tự mình nói trái ngược
với mình. Cho nên tôi đoán định là lý-luận của Phật-giáo hết sức vững
chãi, giống với khoa-học hiện đại.
2)- Phương pháp tu hành của
Phật-giáo đoạn trên tôi đã trình bày sơ lược. Các bậc cư sĩ tu tại gia trừ
thọ tam quy ngũ giới ra, còn xem kinh sách, tham thiền, học mật tông, niệm
Phật, tùy theo cơ cảm và khả năng của mình, nên đã chẳng trở ngại sự
nghiệp học vấn, lại cũng không uổng phí thì giờ và tiền bạc, mà ở trên sự
nghiệp học vấn còn được sự giúp ích rất lớn. Bốn giới không trộm cắp,
không tà dâm, không nói dối, không uống rượu vốn là đức tốt mà thế gian
đều công nhận. Chỉ có phép ăn chay để giữ giới sát sanh, theo con mắt
thông thường thì cho là chẳng hợp với hoàn cảnh sanh hoạt đời nay. Nhưng
thói quen ăn chay, chẳng riêng gì nhà Phật chủ trương, ngay đến các người
Âu-Mỹ chẳng tin Phật cũng đề xướng ăn chay. Lý do là để bảo dưỡng lòng
nhân từ trắc ẩn, đồng thời cũng có thể bảo vệ sức khỏe cho con người,
tuyệt nhiên chẳng phải là một thứ động cơ mê tín. Nếu có thể theo đúng lời
răn dạy của Phật-giáo mà xử thế, thì chính là khuôn mẫu của nếp sống đời
nay.
3)- Định nghĩa của chữ Phật là:
"tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn",cho nên Phật là tiêu chuẩn tối cao
của nhân cách. Khi đến được địa vị Phật, liền thu hoạch được sự tự-do
không điều kiện. Tự do trên thế gian lấy nhân ngã làm giới hạn, bị pháp
luật hạn chế. Nhưng Phật thì chẳng như thế, vì Phật với Phật, và Phật với
chúng sanh đều không có giới hạn nhân, ngã, như ánh sáng hai ngọn đèn
chẳng làm trở ngại lẫn nhau. Lại vì Phật là bực đại giác ngộ, đã không có
tham, sân, phiền não, và bao nhiêu thứ tà kiến ác nghiệp, nên chẳng cần
pháp luật hạn-chế.
Lại khi đến địa vị của Phật,
tâm với vật đã thành nhất thể, tâm có thể xoay chuyển vật, mà tâm chẳng bị
vật xoay chuyển, cho nên sự hưởng thụ vật chất tới địa vị nầy không còn bị
hạn chế nữa. Chẳng những không bị vật chất hạn chế, ngay đến quan niệm
thời gian, không gian cũng không còn bị những cái nầy trói buộc. Chẳng
giống như chúng ta, không thể nào giữ lại được một giây đồng hồ giòng thời
gian đang chảy kia, cũng không biết trước được những biến chuyển về tương
lai.
Hiện nay sự giao thông tiện lợi
nhanh chóng đã có phương pháp rút ngắn đường đất, nhưng vô số tinh cầu
trong chốn thái không kia, chúng ta có thể nào trong vòng nửa ngày đi du
lịch khắp cả như chúng sanh nơi quốc độ cực lạc chăng? Phật giáo nêu lên
mục đích cao siêu nầy, nếu chúng ta còn chưa thể đạt được, nhưng nó đã có
giá trị vô thượng đối với nhân sinh.
Huống chi ngũ giới, thập thiện
của Phật đều thiết thực dễ làm. Những đám dân không biết chữ nước ta tuy
chưa được sự giáo-dục của chánh phủ, nhưng ở trong chốn vô hình đã huân
nhiễm tinh thần Phật giáo. Phần nhiều người đều tin rằng tuy có chết đi
nhưng không mất, tùy theo nghiệp lành hay nghiệp dữ mà lên xuống trong lục
đạo luân hồi. Đối với thuyết nhân quả báo ứng tuy người ngu dốt cũng đều
tin sâu, chẳng nghi ngờ gì. Cho nên Phật giáo ở trong chốn vô hình đã giúp
đỡ chính phủ làm sự rèn luyện đạo đức cho nhân dân: Bỏ điều ác theo điều
thiện. Sự lợi ích của Phật pháp đối với quốc gia xã hội nhất định chẳng
kém trường học và cơ quan huấn luyện.
Dân tộc tính nước ta sở dĩ yêu
chuộng hòa bình, tôi có thể nói một cách võ đoán là vì chịu ảnh hưởng của
đạo Phật, quyết chẳng phải là sức dạy dỗ nơi trường học. Hiện nay những
người có được một đôi chút giáo dục của trường học thường thường chê Phật
giáo là mê tín, đem đức tốt có sẵn của nước ta hủy bỏ đi hết, thật rất đau
lòng! Còn hạng người được sự giáo dục cao-đẳng lại thường thường bị
tri-kiến che lấp, nhận lầm Phật giáo là một thứ tôn-giáo, là trái với khoa
học, nên chẳng thèm khi nào xem đến kinh Phật, khiến cho cái kho tàng văn
hóa vô giá này bị chôn lấp đi mất. Tôi là kẻ đứng vềø hàng ngũ nhà khoa
học, tôi đã dùng phương pháp khoa học phát hiện ra kho tàng quí báu này,
nên tôi hoàn toàn dùng lời nói trung thực khách quan để cống hiến cho giới
học thuật nước ta.
---o0o---
Source:
http://www.buddhahome.net/
---o0o---
Sưu tầm: Diệu Mỹ
;
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 6-2003
|
|