HỘI THẢO CHÚA NGUYỄN PHÚC CHU
CHÚA
NGUYỄN PHÚC CHU ( 1675-1725)
MINH VƯƠNG - BỒ TÁT
của DÂN TỘC và ĐẠO PHÁP
Như chúng ta
từng biết , giữa thế kỷ 17, về mặt tổng thể, cả hai nước Đại Việt và
Trung Hoa đều có những cuộc chiến tranh triền miên, khiến cục diện hai
nước có những bất ổn nhất định. Riêng nước Đại Việt thời bấy giờ, từ
cuộc chiến tranh do Thái Tổ Nhà Thanh phát động và lật đổ vương triều
Nhà Minh, lên ngôi năm 1644, các phong trào “Bài Thanh phục Minh”
nổi lên đó đây và có không ít người trong các phong trào đó, do thất bại
hay bị truy sát gắt gao của Nhà Thanh, đã hình thành những đợt sóng di
dân kéo nhau sang lánh nạn ở Đại Việt. Dù một mặt lo đối phó với cuộc
nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh (với chúa Trịnh ở Đàng ngoài,
các chúa Nguyễn ở Đàng trong) nhưng các chúa Nguyễn vẫn khôn khéo, linh
hoạt, tận dụng nguồn nhân lực di dân này trong các kế sách khai khẩn mở
mang bờ cõi, đồng thời dự phòng nguồn sức mạnh để có thể chống chọi với
phía Chân Lạp. Sự giao thông qua lại giữa các nước cũng đã được nghĩ tới.
Khi đường bộ gần như không thể do phần lớn đều nằm ven biên giới phía
Bắc thuộc phần lãnh thổ của Trịnh Lê Đàng ngoài, thì giao thông đường
thủy là phương án tối ưu thời bấy giờ ở Đàng trong, và Hội An nghiễm
nhiên trở thành thương cảng lớn, là cửa ngõ thông thương và thuận lợi
nhất ở Đàng Trong lúc bấy giờ.
Theo các nhà nghiên cứu, đây cũng chính
là giai đoạn thế lực Nho giáo ở Đại Việt suy tàn để nhường chỗ cho tư
tưởng Phật giáo một lần nữa trở nên hữu ích cho các chúa Nguyễn gầy
dựng cơ đồ. Những kế sách tận dụng nguồn nhân lực di dân dẫn đến nhiều
mối liên đới hữu ích khác, đã góp phần cho Phật giáo hồi sinh theo từng
bước ổn định vương triều các chúa Nguyễn ở Đàng trong.
Chúa Nguyễn Phúc Chu (1675 – 1725) chúng
ta đang nói đến chính là người tạo ra hình ảnh sáng đẹp cho vương triều
nhà Nguyễn trong giai đoạn đầu. Người mà sau này còn được gọi là Bồ
Tát – Minh Vương (Từ đây xin đọc là Minh Vương ) do chính tài đức và
quyết đoán sâu sắc không chỉ riêng lãnh vực các sách lược kinh bang tế
thế mà còn trong việc tôn trọng và giúp ích cho Phật giáo rất lớn .
Có thể nói, Minh Vương là một vị
Chúa hiền và có tài. Khi mới lên ngôi, ông quan tâm
chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt
chi phí, nhẹ thuế má giao dịch, bớt hình ngục. Ông còn cho xây dựng một
loạt chùa miếu, mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am, Bản thân Chúa
cũng ăn chay ở vườn Côn Gia một tháng trời, phát tiền gạo cho người
nghèo. Bờ cõi yên ổn do chiến tranh Trịnh – Nguyễn đã tạm dừng 30 năm
(1).
Phần lớn trong sự nghiệp lừng lẫy của
Minh Vương, từ dải đất Nam Trung Bộ đến tận dải đất cuối trời tổ quốc Cà
Mau – Hà Tiên, tên tuổi ông luôn được nhắc đến với cả sự kính trọng và
nể phục trong hành trình mở mang bờ cõi Đại Việt. Những thành tựu đáng
kể nhất có thể một vài dẫn dụ như :
+ Đặt phủ Bình Thuận năm Đinh Sửu ( 1697) gồm từ
Phan Rang Phan Rí trở về Tây.
+ Đặt phủ Gia Định .
+ Chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện
Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên (biên Hòa).
+ Lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh
Phiên Trấn, lập xã Minh Hương .
+ Năm Canh Thìn (1700) có thêm đất vùng Sông Bé, La
Ngà, Tánh Linh.
+ Năm Mậu Tý (1708) có thêm đất Hà Tiên do Mạc Cửu
dâng, được Minh Vương nhận và đặt thành trấn Hà Tiên, nhưng để thể hiện
sự ân cần trọng dụng nhân tài trong sách lược đối với người Minh hương,
ông đã khôn khéo giao trấn Hà Tiên cho Mạc Cửu trấn giữ.
Về những đóng góp cho Phật giáo Việt Nam xứ
Đàng Trong của Minh Vương, đó là những thành tựu xuất phát từ tâm khởi
của một người Phật tử rất đặc biệt này. Minh Vương có pháp hiệu là
Thiên Túng Đạo Nhân hay Hưng Long Cư Sĩ. Có thể nhìn nhận
rằng từ bước khởi duyên được cho là nền móng ban đầu của Minh Vương cho
đến hơn 200 năm sau của vương triều nhà Nguyễn, Phật giáo đã thật sự trở
lại vị trí ban đầu của mình và nhanh chóng được trọng thị và phát triển
từ nhiều phía.
Tuy nhiên, dựa trên nhận xét khách quan, chúng
ta thấy rằng Phật giáo xứ Đàng trong tuy rất được coi trọng trong thời
các chúa Nguyễn, nhưng do thời gian trước đó, tự thân không phát triển
được nên việc đào tạo Tăng tài cũng chững lại.Vì thế khi được hồi sinh
và phát triển thì lâm vào thế hụt hẫng, Tăng tài khiếm khuyết, không thể
đảm đương được các vị trí lãnh đạo cũng như hoằng hóa, Minh Vương ngay
từ đầu đã thấy ra được những điều đó, nên bằng khả năng và quyền hạn của
mình ông không ngại ngần hai lần viết thư cung kính mời Hòa Thượng Thạch
Liêm (tức HT Thích Đại Sán), ngoài việc giúp ý kiến cho chúa ở lãnh vực
trị nước, Hòa thượng còn giúp đỡ rất nhiều trong việc trùng hưng lại
đạo Phật (2).
Hải Ngoại Ký Sự -Quyển 2 có chép rằng
:”…Ta bèn đem việc chính trị ra bàn luận mấy
ngày nay, chép ra từng điều một, làm thành bản điều trần “Lập Quốc
Chính ước “gồm 18 điều, đều là những chuyện thương lính, yêu dân,
thông thương lợi quốc, kỷ cương pháp độ, chép từng chi tiết rõ ràng,
Vương đọc xong mừng rỡ, bảo Nội Quan Chưởng Sự rằng “Pháp độ, dân tình
nước ta đều chưa được đứng đắn, nay nhờ lão Hòa Thượng đem phép lễ Trung
Quốc chỉ dạy, liệt kê 18 điều, nên khắc yết lên cửa phủ, hiểu dụ quan
dân điều biết, và khắc 24 thẻ bài, chia loại rõ ràng, ai làm trái điều
lệ, phạm phép, cho kẻ bị thiệt hại cầm thẻ bài đến kêu. Bất kể là quân
dân, hoàng thân quốc thích đều theo pháp luật mà trị tội.Vĩnh viễn lấy
đó làm quốc chánh vậy …”
Về lãnh vực hỗ trợ Phật giáo cũng được được
chính Hòa Thượng kể lại trong Hải Ngoại Ký Sự - tr.50 :
“Lão Tăng từ phương xa đến, được Quốc
vương cung kính, thân như cốt nhục.Vả lại thần dân trong nước thảy đều
quy y Tam Bảo, thực là một quốc gia muốn làm lành, rất hiếm có …”.
Minh Vương đã cho mở trai đàn, thỉnh Hòa
Thượng Đại Sán thuyết pháp, đặc biệt là mở đại lễ truyền thụ giới Sa Di
quy mô lần đầu tiên.Ngày lễ Phật Đản năm đó (mùng 8 tháng 4 â.l), Minh
Vương lại cho khai đàn ở nội viện, để Quốc mẫu, công chúa, hoàng thân,
quốc thích được thọ Bồ tát giới. Kế tiếp theo đó, ngày mồng 9 tháng tư,
Hòa Thượng xuất Tăng nhân hai hàng, thi lãnh hơn 1.400 giới đệ tử, mặc
cà sa, cầm bình bát, cử hành lễ cổ Phật khất thực và tạ ơn Quốc chúa đã
thành tựu công đức, sau đó Minh Vương cho mời tất cả các Tăng nhân vào
thiết cúng trai tăng, đãi trà nhóm tân giới đệ tử, ban thêm 300 quan
tiền,100 thạch gạo sai lính gánh về chùa Thiền Lâm, lại đem tất cả giới
điệp có đóng ấn triện của Minh Vương ban cấp cho Tăng nhân và những
người đã tham gia đại lễ trai đàn .
Ngày 14 tháng 4, Minh Vương cho mời 10 vị
đệ tử của Hòa Thượng Thích Đại Sán để mở một lễ xưng tụng Đại Bi Tâm Đà
La Ni. Làm việc này vì Minh Vương nhớ lời Hòa Thượng những việc cần
nên làm rằng: “Việc trai giới chẳng phải chỉ
để giữ cho sạch miệng, sạch mình, sạch tư tưởng mà thôi. Việc trai giới
của nhà vua,
cần phải đem việc quốc gia trên giới
thanh lý chỉnh tề, không một người nào chưa được yên sở, không một việc
nào chưa được thỏa đáng, như thế mới gọi là viên mãn. Nay trước hết nên
thanh lý oan ngục, tha tù bị giam cầm, chẩn cấp kẻ nghèo thiếu, khởi
dụng kẻ yêm trệ, bãi bỏ điều cấm nghiêm khắc, thương xót kẻ buôn bán,
thi ân cho thợ thầy. Nói tóm lại, nên đem tất cả các việc giúp người lợi
vật, châm chước cử hành. Đến như nghi lễ đàn trường, Tăng chúng y bát,
vật dụng hư hao …sẽ kê đơn chế biện …(Hải Ngoại Ký Sự -sđd-tr.97).
Cũng theo gợi ý của Hòa thượng Thích Đại Sán,
Minh Vương còn cho trùng tu nhiều chùa, đúc nhiều đại hồng chung tiến
cúng. Đáng kể nhất là trùng tu chùa Thiền Lâm, gần phủ Dương Xuân là
cung điện mùa đông của Minh Vương .
Năm Canh Dần (1710) Minh Vương cho khởi
công đúc đại hồng chung chùa Thiên Mụ với bài minh khắc nói lên tâm
nguyện của mình như sau : “Chúa Đại Việt
Nguyễn Phúc Chu, nối dòng Động Thượng Chánh Tông đời thứ 30, pháp danh
Hưng Long đúc chuông lớn này nặng 3285 cân, để vào chùa Thiên Mụ, cúng
Tam Bảo lâu dài. Nguyện cầu gió hòa mưa thuận, nước thịnh dân an, chúng
sanh trong pháp giới đều được vẹn toàn trí tuệ”.
Chùa Thiên Mụ là nơi gắn kết nhiều kỷ niệm
trong mối thâm giao giữa Minh Vương và Hòa Thượng Thích Đại Sán. Đó là
mối giao duyên giữa Thầy và Trò, giữa hai người bạn và giữa hai giềng
mối văn hóa Phật giáo Đại thừa của hai nước Vệt Trung mà không bị ràng
buộc hoặc ảnh hưởng bởi tình hình chính trị hai nước lúc bấy giờ .Vì
vậy Chùa Thiên Mụ còn lưu lại nhiều chứng tích văn bia do Minh Vương
viết để ghi nhớ về mối thâm giao đặc biệt này. Trong ý niệm về tình Thầy
– Trò , Minh Vương đã có những dòng rất cảm động như: “..Thầy
ta đã đi rồi, ta cứ hoài thương nhớ vị Cao Tăng, đã từng chống gậy vượt
qua núi non, quan ải, dùng thuyền chở đạo, vượt biển, băng suối đi đến
trời Nam, đem câu kinh kệ tuyệt diệu để ca tụng đạo mầu …”.



Tác giả Dương Thành tại buổi hội thảo
Minh Vương trong vai trò của mình đã biến
cái không thể thành có thể, những điều mà trước đó, những vị Chúa Nguyễn
khác đã không thực hiện được, đem lợi ích, vinh quang về cho Đại Việt và
tạo nên nền tảng rất tốt đẹp cho Phật giáo Việt nam từ đây có cơ duyên
thuận lợi, làm sống lại truyền thống hai ngàn năm rực rỡ của mình. Cũng
chính nhờ đức độ và tài ba của Minh Vương, đã đưa Hòa thượng Thích Đại
Sán đi vào một phần trang sử của Phật giáo Việt Nam chúng ta. Điều này
người viết rất đồng tình với nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu
Vinh rằng “Sở dĩ H.T Thích Đại Sán nổi tiếng
trong giới Phật giáo, được tôn Sư cho tới bây giờ và được phụng thờ ở
chùa Thiên Mụ chẳng phải hoàn toàn do tài đức hoằng pháp của Sư đối với
Đại Việt ta,nhưng vì Sư có một người đệ tử tài ba, lỗi lạc và danh tiếng.
Đó là Đại Việt Quốc chủ chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu là
người có công lớn trong công việc đại trùng tu chùa Thiên Mụ dựng bia,
đúc chuông lớn còn lưu truyền cho đến ngày nay ”.
Sự nghiệp giữ an bờ cõi giang san và hoằng hóa Phật pháp
của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu, đáng là bài học quý giá cho thế hệ ngàn
sau noi theo chiêm nghiệm. Trong một bối cảnh đất nước trong thì Nam Bắc
phân tranh ngoài thì lăm le giặc dữ, Minh Vương vận dụng mọi tình huống
trước mắt để biến nó thành những điều thuận lợi và biết giữ nó bền lâu.
Một người sống nghĩa tình hết mực, chung thủy với sở nguyện và bền bỉ
trau dồi đạo đức bản than, người đó chắc chắn là một nhân tố tốt lành
cho xã hội. Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu là mẫu hình tiêu biểu đó, đã
nâng ông lên thành một vị Minh Vương sáng chói; với Phật giáo Ông còn là
một vị Bồ Tát đúng nghĩa, đưa Phật giáo VN qua một trang sử mới, trang
sử tiếp cận thời đại tiên tiến ngày nay .
DƯƠNG
KINH THÀNH
BAN PHẬT GIÁO VIỆT NAM
VNCPHVN
(cùng một tác giả)
CHÚ THÍCH :
1 )
Theo wikipedia tiếng Việt .
Hải Ngoại Ký Sự -Thích Đại Sán .VDH Huế 1963 .
Đại Nam Nhất Thống Chí .
2 )
Thật ra chúa Nguyễn Phúc Chu không phải là người đầu tiên mời Hòa Thượng
Thích Đại Sán sang Đại Việt, mà trước đó, từ thời vua cha là Anh Tông
hoàng đế, tức là chúa Nguyễn Phúc Trăn (Thái )1687 – 1691), đã từng sai
Tạ Nguyên Thiều sang Quảng Đông mời Hòa Thượng Thích Đại Sán. Chi tiết
này lưu giữ ở văn bia chùa Quốc Ân (Huế), đời Lê Dụ Tông thứ 10 viết :
“Hoán Bích Thiền Sư
Tạ Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung (Thừa Thiên)vâng lệnh chúa Nghĩa sang
Quảng Đông mời Đại Sán Hòa Thượng “.
Về nhân vật Tạ Nguyên Thiều, chúng ta dễ
dàng tìm gặp đôi dòng về ông trong Đại Nam Nhất Thống Chí (Thừa Thiên)
có viết : “Tạ Nguyên Thiều tên chữ là Hoán Bích,
người gốc Triều Châu, tỉnh Quảng Đông, nhà Thanh. Xuất gia năm 19 tuổi.
Qua Đại Việt thời Thái Tông Hoàng Đế(tức chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần ),
đến Quy Ninh (nay chính là Quy Nhơn )xây chùa Di Đà, hoằng dương Phật
Pháp…sau đó ra Thuận Hóa, xây chùa Quốc Ân. Tạ Nguyên Thiều vâng lệnh
Anh Tông Hoàng đế sang Quảng Đông mời cao Tăng Thạch Liêm Hòa Thượng.
Khi về lại Thuận Hóa , ra trụ trì chùa Hà Trung .Khi mất Hiển Tông Hoàng
Đế tặng tên thụy là Hạnh Đoan Thiền Sư “.
Nhưng dù vậy, theo nhận định rất có lý của
nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Vinh thì :
“Nhưng Đại Sán,
tức Thạch Liêm Hòa Thượng qua Thuận Hóa không phải là kết quả trực tiếp
của chuyến đi của họ Tạ mà là do nhân duyên của Chúa Nguyễn Phúc Chu với
Sư. Trong bài Tự (Tựa) do Chúa đề tặng trên sách Hải Ngoại Ký Sự thì “Ta
khi còn làm Thái Tử vẫn thường hay ngưỡng mộ Thầy Ta ở chùa trường Thọ .Vua
cha Ta lúc trước đã gởi thư hai lần mời mà không được. Mùa thu năm Giáp
Tuất Ta muốn thọ Bồ Tát Giới nên nối chí vua cha, ta đưa người qua rước,
may được Hòa Thượng nhận lời mời”.
____________________
+ Ngoài ra bài viết còn tham
khảo những tài liệu như :
- Những bài viết về chúa Nguyễn Phúc Chu –nhiều tác giả
Trước năm 1975, bản in roneo .
- Thanhung “Phật giáo thời chúa Nguyễn Phúc Chu (Tôn
Châu Quân ) .phatgiaobaclieu.com .
- Nguyễn Hữu Vinh “Hòa thượng Thạch Liêm, chúa
Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ “
http//dotchuoinon.com .