Phân bố trên một
không gian từ Phú Yên trải dài cuối cùng đến vịnh Cam Ranh có lợi thế về
đồng bằng duyên hải nhỏ và hẹp với sự nối liền giữa núi và biển, sự bồi
đắp thường xuyên của phù sa theo lưu vực các con sông đổ về cửa biển đã
tạo nên khu vực trung tâm Kauthara có những ưu điểm phát triển kinh tế xã
hội một cách hoàn thiện.khu vực này có thể được xem là nơi hội tụ của ngã
ba giao thương cùng với các hoạt động văn hoá - xã hội khi xưa rất nhộn
nhịp. Hải cảng Nha Trang, đặc điểm là vịnh Cam Ranh vốn được xem như
thương cảng lý tưởng cho thuyền buôn tìm đến trú ngụ, trao đổi sản vật và
trở thành một thành phố cảng hết sức đặc biệt trong việc hình thành trung
tâm Kauthara. Đề cập vấn đề này theo truyền thuyết về Thần mẹ xứ sở
PôInưgara được lưu truyền trong cộng đồng người Chăm hiện nay tuy không
giúp ta nhiều sử liệu nghiên cứu chắc chắn nhưng phần nào khái quát lên
được một diện mạo của sự phát triển nơi gọi là trung tâm quan trọng thuộc
phía Nam Chămpa. Truyện kể rằng, thuở trời đất còn mù mịt Pô Kũk, thượng
đế tối cao đã giao cho con mình PoInưgara cùng một số thần khác xuống trần
để kiến tạo con người và muôn vật. Bà đã chọn khu vực Nha Trang tức
Kauthara làm nơi gián thế và xây dựng. Bà đã kiến tạo cỏ cây, núi rừng,
đồi núi, Bà làm nên con người, dạy dân trồng dâu nuôi tằm, trồng lúa, buôn
bán, dệt vải. Về sau Bà giao lại việc cai quản cho các thần để quay về
trời, nhân dân biết ơn Bà nên gọi là Pô Nagar tức Bà mẹ sứ sở. Một truyền
thuyết khác lại đề cập, Bà vâng lệnh thượng đế hoá thần xuống trần nằm
trong bọt biển, có hai vợ chồng sống hiếm muộn con ở vùng Nha Trang làm
nghề trồng dưa. Một hôm trông thấy một người con gái đang hái dưa hai ông
bà rón rén đến gần thăm hỏi và nhận cô con gái là con nuôi. Sống với ông
bà được vài năm vì mãi ham vui nên cô gái bị sống biển cuốn đi đồng thời
hoá thân thành cây trầm trôi dạt về Trung Quốc. Ơû đây đang gặp mùa hạn
hấn lại có cây trầm to lớn trôi về bờ biển không ai vớt được. Tin ấy đến
tai hoàng tử con vua, chàng trai trẻ tự tìm đến để vớt thử và lạ thay
chàng nâng cây trầm to lớn một cách nhẹ nhàng, đồng thời chàng đưa về
cung. Đêm đêm nghe thoảng mùi hương kì lạ chàng rón resan tìm đến và lạ
lùng thấy cô gái từ cây trầm bước ra nhan sắc diễm kiều. Hoàng tử đem lòng
yêu mến và cưới cô gái làm vợ, sinh sống với nhau được hai mặt con vì hiểu
tính chồng là người chuyên gây hấn chíên vào các nước láng giềng mất sự
hoà hảo. Nhiều lần Bà khuyên chồng nhưng không được ông chấp nhận, Bà đã
đưa con vượt biển về lại Nha Trang. Ơû đây Bà đã xây dựng một triều đình
trông coi dân tình, dạy người Chăm cách trồng lúa, dệt vải và các công
việc khác. Trong tâm tưởng của cộng đồng Chăm hiện nay vẫn còn cho rằng tổ
tiên của mình được hình thành tại đây. Tìm về các thư tịch cổ nói đến việc
quan hệ mua bán, Thiền Sư Nghĩa Tịnh đề cập đến việc thông thương của
người Trung Hoa vào thế kỉ thứ II. Một nguồn sử liệu khác cho biết trong
giai đọan vương triều A Dục năm240 TCN, một phái đoàn do con trai của vua
Asoke có tên là Mehedre sau khi dừng chân ở Tích Lan đã ghé qua vương quốc
Chămpa theo con sông Đà Rằng (Black River). Nhà sử học D.G.Ehall trong
cuốn sách của mình “ Lư sử Đông Nam Á” đề cập đến vương quốc Srivijaya
được xem là trung tâm Phật giáo Đại thừa hết sức quan trọng, một đoạn khác
ông đề cập thêm “ Thiền sư Y Doãn ( Trung Hoa) đi hành hương Ấn Độ sau đó
ông dừng chân tại quốc gia Sumatra và Sivijaya vào năm 671. Đặc biệt trong
đó chỉ riêng khu vực Sivijaya vào giai đoạn này đã có hơn một ngàn tăng lữ
sinh hoạt luật lệ, nghi thức rất giống Ấn Độ…”Oâng nhận định về tình hình
Phật đây “Sivijaya đóng vai trò quan trọng trong công cuộc mở rộng Đại
thừa ở Đông Nam Á, đây là một sự kiện chủ yếu của nửa cuối thế kỉ thứ III.
Chứng tích còn lại khá nguyên vẹn tại trung tâm Kauthara là tấm bia viết
bằng chữ Phạn ngữ Bắc Ấn được tìm thấy ở làng Võ Cạnh – Nha Trang tỉnh
Khánh Hoà, tấm bia này được tạo dựng bởi môït vương triều Srimara đồng
thời nội dung lại mang đậm nét tư tưởng Phật giáo được khởi tạo vào thế kỉ
thứ I SCN. Từ những sử liệu đã được chúng tôi tích dẫn nêu trên có thể
thấy rằng Phật giáo đã có mặt từ khá sớm và ảnh hưởng sâu mạnh đến vùng
này. Hình ảnh của Bà mẹ sứ sở Pô Nagar theo truyền thuyết vẫn cho chúng ta
môït điểm mở, nếu thật sự là một người giác ngộ hay một phật tử thuần
thành mới có một tư tưởng độc đáo toát lên từ Bà. Không chấp nhận bộ mặt
gian ác của chồng thwongf xuyên đưa quân xâm lấn các nước lân bang, Bà đã
nhiều lần ngăn cản nhưng không có hiệu quả và bị chồng phản bác không chấp
nhận. Bà đã quyết định đưa hai người con vượt biển vầ lại quê xưa tại Nha
Trang xây dựng một vương triều tại đây. Điều đó chứng tỏ rằng tư tưởng từ
bi, khoan dung, hoà bình, hết sức tôn trọng sự sống và tự do của các nước
lân bang trong Bà luôn được đánh thức. Sự đánh thức này không gì khác hơn
là tinh thần thấm đượm triết thuyết Phật giáo. Chính vì thế mà đã đưa Bà
đến một quyết định táo bạo xoá bỏ hạnh phúc riêng tư để cảnh tỉnh người
chồng. Đây xem như là ý chí dũng mãnh và cương quyết. Trong bài văn hát
dâng lễ về Bà vào các ngày lễ chúng tôi tình cờ phát hiện ra một câu hát
khá lý thú về Bà “ Bà được sinh ra từ gốc cây Bồ Đề” nghĩa là sự tán thán
của người về Bà như là một hiên thân của trí tuệ Siêu Xuất, trí tuệ của
Bồ Đề được xem như trí tuệ của sự giác ngộ, một sợi dây vô hình để ràng
buộc và chỉ ám tính chất Phật giáo trong con người Bà được thấy rỏ trong
câu hát này”.
Như vậy từ các sử
liệu các nguồn truyền thuyết có liên quan đã có thể ccho chúng ta phát
thảo ra rằng Kauthara ngoài trung tâm buôn bán giao thương với các nước
láng giềng trừ trước công nguyên, nơi đây cũng chính là điểm khởi đầu của
Phật giáo sau này lang toả đến miền Bắc và miền Nam Chămpa. Tại đây là
khu trung tâm của các tư tưởng Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang, trở thành
một trung tâm Phật giáo có đời sống sinh hoạt phồn thịnh và ảnh hưởng rất
lớn cho một nền tư tưởng Phật giáo Đại thừa cho các trung tâm Phật giáo
sau này như Inrapura, Amravati nổi tiếng đi vào đời sống của huỳên thoại
theo thời gian. Với Kauthara đang còn chờ đón những nhà nghiên cứu tiếp
tujcm ở tung cánh cửa lịch sử trong đó với những nhà nghiên cứu sử Phật
giáo Việt Nam thiết tưởng cần phải chú ý hơn nữa đến trung tâm này đến
trun tâm Phật giáo Luy Lâu thuộc khu vự phía Bắc. Có như vậy chúng ta mới
có một nguồn sử liệu phong phú về giai đoạn Phật giáo du nhập vào Việt
Nam theo thời gian và địa điểm một cách đầy đủ hơn nữa.
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2004