Năm
1898 có giới nghiên cứu Pháp đã tiếp nhận một thông tin về vấn đề khảo cổ
khá quan trọng – đó là sự phát triển tình cờ của ông M paris về khu di
tÝch Mỹ Sơn đựoc bao phủ với khu rừng dày đặc nằm cách thành phố Đà Nẵng
68 km về phía Tây – Tây Nam ấn sâu trong thung lũng hẹp. Nếu Mỹ Sơn đã làm
cho biết bao người trầm trồ ngợi khen bao nhiêu thì đối với di tích Đồng
Dương sau khi nhà nghiên cứu L.Finot công bố vào năm 1901 và một năm sau
đó1902 H.Parmentier tiến hành khai quật trên một qui mô lớn đã mở tung ra
cánh sửa bí mật vê một Phật học diện (Vihara) đã được csc cổ sử Trung Hoa,
Đại Việt và trong kí ức của cổ sử Chămpa vẫn luôn thường nhắc đến một cách
trân trọng. Nhờ cuộc khai quật có qui mô lớn này đã thu hút nhiều nhà
nghiên cứu tìm về đồng thời đánh giá đây là một trong những di tích quan
trọng vào bậc nhất của Chămpa.
Phật viện Đồng Dương
nay thuộc làng Đồng Dương huyện Thăng Bình tỉnh Qủang Nam. Về phần địa chí
khi viết đến vùng Qủang Nam nhà sách Đại Nam Nhất Thống Chí triều Nguyễn
đã mô tả sơ qua khu di tích với các tháp, các nền của đền thờ cổ hoang lổ
theo thời gian không kèm theo lời bình luật gì thêm về khu di tích này.
Phật viện học Đồng Dương chỉ thật sự biết đến nhiều cho đến lúc các nhà
khoa học đã công bố nhiều đề tài nghiên cứu chúng ta mới thấy tầm vóc qui
mô của nó. Nhất là nhà nghiên cứu L.Finot trong đề tài nghiên cứu của mình
về vấn đề di tích Đồng Dương, ông đã giới thiệu 229 hiện vật đã được phát
hiện, nổi bật nhất là bức tượng Phật bằng đồng. Bức tượng Phật này đứng
cao hơn 1m là đề tài nghiên cứu khá lý thú cho các nhà khoa học đưa ra đón
định vì bởi theo nhận định chung bức tượng này được xem như là nghệ thuật
hoàn hảo và đẹp vào loại bậc nhất của khu vực Đông Nam Á. Tượng Phật đứng
được phát hiện đã cho phép các nhà nhiên cứu liên tưởng đến sự giao thoa
của trung tâm Amaravati của Ấn Độ hay trung tâm Phật giáo Amaradhapura
thuộc nước tích Lan (Srilanka) có niên đại khá sớm được du nhập vào
Chămpa. Ngoài sự chú ý về bức tượng nói trên, công trình khai quật khu
trung tâm Phật viện Đồng Dương của nhà nghiên cứu H.Parmentier cũng cho
chúng ta khái quát rõ nét hơn về mô hình xây dựng và diện tích xa xưa của
Phật viện. Sự hoành tráng hết sức hùng vĩ của một quần thể kiến trúc điêu
khắc như cho ta lạc vào một thế giới nghệ thuật cùng với thiên hướng tâm
linh đã được đáng giá là độc đáo vào loại bậc nhất của Chămpa và Đông Nam
Á, một nguồn di sản Phật giáo được xem như hết sưc quan trọng thuộc vào
loại bậc nhất. Theo mô tả của H.Parmentier thì toàn bộ khu vực kiến trúc
kế tục kéo nhau dài xuyên suốt hơn 1330m bắt nguồn từ hướng Tây và chấm
dứt ở hướng Đông. Riêng khu vực chánh điện thờ Phật lại là một vành đai
hình chữ nhật dài 326m có chiều rộng 155m cùng hệ thống tường bao bọc kiên
cố. Từ chánh điện mở ra một con đường rộng dài hơn 763m hướng thẳng vào
phía Đông đi vào moot thung lũng hình chữ nhật có diện tích là 1080m2, đây
được xem như cụm liến trúc còn lại bảo lưu được phần đài thờ chính khá
nguyên vẹn cùng các bức tượng thờ bằng đá, đồng được phát hiện xung quanh.
Ngoài phần chánh diện được phát hiện hệ thống nền gạch của một khu tăng
xá, giảng đường nói nhau trên một chu vi rộng lớn, những viên ngói dùng
lợp cho khu xây dựng cũng được phát hiện rải rác đâu đây của Phật viện cho
phép ta liên tưởng đến một cấu trúc xây dựng bao gồm phần chánh điện dùng
nơi thờ tự lễ bái, khu tăng xá là nơi lưu trú cho các vị tăng tu học và
giảng đường dùng làm nơi diễn giảng. Một mô hình Phật diện khép kín rất lý
thú cho công cuộc đào tạo tăng tài.
Căn cứ vào một tấm
bia được tìm thấy ở Đồng Dương, Phật viện này được hình thành do vua
Indravarman II chính thức sáng lập vào năm 875. Đây cũng là khu trung tâm
của kinh đô Indrapura một dòng họ, theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu
cho rằng đó là sự thấm đượm tinh thần Phật giáo. Một dòng Họ có truyền
thống về Phật giáo khi chính thức lên nắm quyền đã khởi xướng phong trào
phát tiển các Phật viện, tu viện trong khắp vương quốc của mình kể cả
trung tâm Vijaya, Kauthara, Panduranga. Chính vì thế mà trong một tấm bia
ghi lại lời nói của vị vua sáng lập ta Phật viện này “ Mọi thành quả của
ông tạo được ngày hôm nay không phải do sự kế thừa nào cả mà do phước đức
của ông tạo được nhiều đời nhiều kiếp tu tập mới kiến tạo nên” cho ta thấy
lòng tin và tính thuần thành của người phụng sự, họ pháp, cho Phật giáo
Chămpa một cách lớn lao, người theo bia kí mô tả hết lòng vì tinh thần
phục vụ chánh pháp. Từ khi thành lập cùng song song tồn tại với kinh đô
Indrapura Đồng Dương bắt đầu phát triển và đi vào hoạt động truyền bá tư
tưởng Phật giáo Đại thừa một cách mạnh mẽ và trở nên một địa điểm đào tạo
tăng tài nổi tiếng. Nền Phật giáo Đại thừa đã thật sự được nghiên cứu và
truyền bá từ đây, sử liệu ghi lại về việc vua lê đại hành bình Chiêm đã
đưa về nước vị sư người Ấn Độ đang hành đạo tại Chămpa. Năm 1069 thiền sư
Thảo Đường cũng được vua lý thái tôn đưa về Đại Việt khi ông từ Trung
Hoasang Chămpa học đạo. Sự hiện diện của sư tổ Trúc Lâm Yên tử cùng với
tăng sĩ Đại Việt ghé thăm trung tâm Phật giáo Đồng Dương và thắng cảnh của
vương quốc Chămpa năm 1301 và được ông vua Phật tử tài hoa Jaya
Simhavarman III (Chế Mân) tiếp đón một cách nồng hậu, tất cả dường như nói
lên tầm vóc quan trọng của trung tâm Phật Viện Đồng Dương như thế nào đối
với đạo Phật của các nước trong khu vực. Tầm quan trọng đó đã
khiến cho Đồng Dương tồn tại gần như 600 năm dù rằng trong dòng biến
suy của lịch sử biết bao cuộc chiến trang tương tàn đã sảy ra. Phật viện
Đồng Dương hiện nay đã không còn gì nguyên vẹn cho chúng ta nghiên cứu và
chiêm ngưỡng. Sự xâm thực của thời gian thiên nhiên và bàn tay con người
nhất là giai đoạn gây hấn chiến tranh với Mỹ – Nguỵ cùng những tận bom
oanh tạc không thương tiếc đã đưa Phật viện chỉ còn lại những di tích
hiếm hoi nay lại đi vào trạng thái hoang tàn thật sự. Khi tiến hành những
chiến điền giả hay hành hương về thánh tích Phật giáo chúng tôi không thể
bùi ngùi về một thời rực rỡ của trung tâm độc nhất vô nhị của Đông Nam Á
nổi tiếng về tầm vóc đào tạo tăng tài cho khu vực lại đang bị xâm thực
một cách mạnh mẽ như thế. Niềm an ủi còn lại của chúng tôi, những người
con đang góp nhặt những gì còn lại của thế hệ cha ông đã dày công kíên tạo
chỉ là những mảng điêu khắc phù điêu, tượng Phật, hộ pháp, hiện đang được
lưu giữ ở cac bảo tàng QNĐN, bảo tàng lịch sử TPHCM và những trang khảo tả
còn lưu lại của các nhà nghiên cứu người Pháp vào những thập niên của đầu
thế kỉ XX.