---o0o---
Chương
XVII
Ðất
cho Tuệ Sanh - Kết
Luận
-ooOoo-
(tiếp theo)
Danh Sắc
186. Về mệnh đề thức
duyên danh-sắc, sẽ trình bày:
- Phân tích danh và sắc,
- Sự sanh khởi danh-sắc ở các hữu, sanh, thú, trú...
- Sự phối hợp danh và sắc,
- Cách thức chúng làm duyên.
187. Phân tích danh và sắc:
ở đây danh là ba uẩn thọ tưởng hành, bởi vì nó nghiêng
mình (namati) về phía đối tượng. Sắc là bốn đại
chủng và các sở tạo sắc do chấp thủ bốn đại chủng.
Sự phân tích về chúng được đề cập trong phần Uẩn,
Chương XIV. Ðấy là trình bày về danh-sắc cần được hiểu.
188. Sự sanh khởi vân
vân: trừ một hữu tình cư là vô tưởng, danh sanh khởi ở
khắp các hữu, sanh, thú, trú, và các hữu tình cư còn lại.
Sắc sanh khởi ở hai hữu, 4 sanh, 5 thú, 4 thức trú đầu, và
5 hữu tình cư đầu.
189. Khi danh-sắc sanh khởi
như thế, thì trong trường hợp bào thai vô tánh và loài
sanh từ trứng, vào lúc kiết sanh xuất hiện hai tương tục
hữu cơ kể như sắc pháp, đó là hai thập pháp sắc căn và
thân, cùng với ba uẩn vô sắc còn lại (thọ, tưởng, hành).
Bởi thế trong trường hợp này kể chi tiết có 23 pháp là
20 sắc pháp cụ thể và năm uẩn vô sắc, được xem là
danh-sắc do duyên thức. Nhưng trừ lập lại, bằng cách bỏ
bớt 9 pháp từ một trong hai tương tục hữu cơ, thì còn lại
14 pháp (xem Ch. XI, đ 88). Cộng thêm tánh thập pháp cho những
chúng sinh có nam, nữ tánh (trước khi làm cái sự bỏ bớt
như trên) thì có 33. Bỏ lặp lại, nghĩa là bỏ 18 sắc
pháp từ nơi hai tương tục hữu cơ (mỗi bên 9) thì còn 15.
190. Vào lúc kiết sanh
của chư thiên Phạm chúng, trong loài hóa sanh, có 4 tương tục
hữu cơ xuất hiện kể như sắc pháp, đó là các thập
pháp mắt, tai, sắc căn và mạng cửu pháp, cùng ba uẩn vô
sắc. Bởi vậy trong trường hợp này, nói chi tiết thì có
42 pháp, là 39 sắc pháp và ba uẩn vô sắc. Những pháp này
nên hiểu là "danh sắc do duyên thức sanh". Nhưng bỏ
lặp lại, nghĩa là bỏ 27 pháp từ nơi ba tương tục hữu
cơ (mỗi thứ 9), thì còn 15 pháp.
191. Trong dục giới hữu,
bảy tương tục hữu cơ xuất hiện kể như sắc pháp, và
ba sắc uẩn, vào lúc kiết sanh của những loại hóa sanh
còn lại, hay thấp sanh hữu tánh và có giác quan đã trưởng
thành. Vậy trong trường hợp chúng sinh này, nói chi tiết
thì có 73 pháp, là 70 sắc pháp và ba vô sắc, nhưng pháp
này cần hiểu là "danh sắc do hành làm duyên". Nhưng
bỏ lặp lại, nghĩa là bỏ 54 điển hình sắc pháp từ nơi
sáu tương tục hữu cơ, thì còn 19 pháp.
Ðây là con số tối
đa. Nhưng tối thiểu thì danh sắc do duyên thức ở kiết
sanh của những chúng sanh thiếu một tương tục hữu cơ này
hay khác, thì có thể hiểu vắn tắt và chi tiết bằng cách
rút giảm tùy trường hợp. [Ví dụ, người mù thiếu mắt
thập pháp].
Trong Qúa Trình Một
Ðời - Ở Tất Cả Chỗ Có Kiết Sanh
192. Với loài chúng
sanh vô sắc, thì về danh sắc chỉ có ba tâm uẩn, còn vô tưởng
chúng sanh chỉ có một cửu pháp mạng căn đại diện cho sắc.
193. Trong quá trình một
đời, ở tất cả chỗ có sắc sanh, biểu hiện nhóm 8 sắc
pháp thời sanh, đầu tiên là do thời tiết xảy ra cùng với
kiết sanh thức vào trú thời của nó [Chú thích: nghĩa là
do hỏa giới trong sắc khởi lên cùng với kiết sanh thức.
Chính vì tâm cơ chỉ sanh vào lúc đó, mà có sự yếu kém của
sắc căn] .
Kiết sanh thức không
sanh sắc., vì, cũng như một người té xuống hố không đỡ
được kẻ khác, kiết sanh thức cũng không thể sanh ra sắc
vì thân căn còn yếu. Nhưng từ hữu phần đầu tiên sau kiết
sanh thức trở đi, nhóm 8 (sắc) do tâm sanh xuất hiện. Và,
vào lúc âm thanh xuất hiện, thì có thanh cửu pháp vừa do
thời sanh, vừa do tâm sanh.
194. Nhóm 8 sắc do thực
sanh xuất hiện nơi những chúng sanh ở bào thai sống bằng
vật chất đoàn thực khi thân thể chúng thấm thức ăn do mẹ
nuốt vào, vì kinh nói:
Như vậy, khi người
mẹ
Nuốt đồ ăn uống vào
Thì kẻ ở trong bào thai
Có được chất nuôi dưỡng. (S. i. 206)
Và xuất hiện nơi các
loài hóa sanh vừa khi nuốt đờm dãi vào.
Vậy, với 26 sắc gồm
nhóm thuần 8 pháp thực sanh, và nhiều nhất hai cửu pháp thời
sanh và tâm sanh, và với 70 sắc nghiệp sanh đã nói (191), khởi
lên ba thời, trong mỗi sát-na tâm, thì có 96 sắc pháp, với
ba uẩn vô sắc thành 99 [ba thời: sanh, trú diệt].
195. Hoặc, vì âm thanh
không thường hiện, mà chỉ thỉnh thoảng, nên trừ âm
thanh gồm hai thời (thời sanh, tâm sanh) thì còn 97 pháp cần
hiểu là "danh-sắc do duyên thức sanh", ở tất cả
hữu. Dù những chúng sanh ấy đang ngủ, chơi hay ăn uống, các
pháp này vẫn tiếp tục sanh trong chúng ngày và đêm, do
duyên thức. Chúng ta sẽ giải thích các pháp này có thức
làm duyên như thế nào. (đ. 200).
196. Mặc dù sắc nghiệp
sanh là cái đầu tiên tìm được đất đứng trong các loại
hữu, sanh, thú, trú và hữu tình cư, nhưng nó không thể tiếp
tục nếu không được củng cố bởi sắc do tâm sanh, thời
sanh và thực sanh. Mà sắc do ba thứ sau này sanh cũng không
thể tiếp tục nếu không được cũng cố bởi sắc danh
nghiệp sanh. Nhưng khi củng cố lẫn nhau như vậy, thì chúng
có thể đứng vững cho đến khi thọ mạng hay phước đức
tận. Cũng như những lau sậy nhờ chống đỡ nhau cả bốn
mặt mà đứng vững dù có bị gió thổi, hay như chiếc thuyền
hỏng phao nhưng có điểm tựa, thì dù bị sóng đánh vẫn cầm
cự được một thời gian dài.
Trên đây là trình bày
sự sanh khởi danh sắc trong các cỡi hữu, sanh, thú, thức
trú và hữu tình cư.
197. Bằng sự bao gồm:
Lại có:
a/ Danh đơn thuần với
thức làm duyên, ở quá trình một đời sống và ở kiết
sanh, trong vô sắc giới, danh đơn thuần trong một đời ở
loại hữu 5 uẩn.
b/. Sắc đơn thuần với
thức làm duyên, ở cả hai trường hợp, trong loài vô tưởng,
và trong quá trình sống, ở loài hữu 5 uẩn.
c/. Danh-sắc phối hợp
do thức làm duyên, ở cả kiết sanh lẫn đời sống, trong
loại hữu 5 uẩn. Tất cả danh, sắc và danh-sắc nói trên cần
hiểu là "danh sắc do duyên thức", bao gồm dưới mục
danh-sắc theo phương pháp phần nào cũng đại biểu được
phần còn lại đồng loại với nó.
198. Nói rằng ở loài
vô tưởng không có mặt thức, đúng không? - Không sai, vì
Thức này, kể như nhân
của danh
Và sắc, được kể gồm hai,
Là có dị thục và không dị thục
Bởi vậy nói như trên là đúng.
199. Cái thức làm nhân
danh-sắc được kể hai loại, là có dị thục và không. Và
bởi vì trong trường hợp chúng sinh vô tưởng, sắc là do
nghiệp sanh, nên có duyên là cái thức tạo-nghiệp, thức
này sanh trong hữu 5 uẩn, điều này cũng áp dụng cho sắc
nghiệp sanh, khởi lên trong quá trình đời sống, nơi loài hữu
tình có 5 uẩn, ở sát-na thiện thâm hay bất cứ tâm nào
khác.
Trên đây trình bày
theo sự " Bao gồm".
200. Bằng các hình thức
duyên: Ở đây,
Dị thục thức làm
duyên cho danh
Trước hết theo chín cách
rồi cho căn bản sắc theo chín cách,
và các sắc khác theo bảy cách
Thức tạo-nghiệp duyên sắc này
Theo một cách.
Thức còn lại làm duyên
Cho sắc này theo trường hợïp.
201. Kiết sanh thức hay
một loại nào khác của dị thục thức, là một duyên theo
9 cách: câu sanh, hỗ tương, thân y, tương ưng, nghiệp dị
thục, thực căn, hữu phi hữu hoặc ở kiết sanh, hoặc
trong một đời, cho cái tâm pháp (danh) gọi là "dị thục"
(quả báo), có lẫn sắc hoặc không lẫn. Ở kiết sanh nó
là một duyên có 9 cách: cu sanh, hỗ tương, thân y, nghiệp dị
thục, thực duyên, căn duyên, bất tương ưng, hữu, và phi hữu,
cho sắc pháp của nhục đoàn tâm hay tâm cơ. Nó là một
duyên theo 8 cách như trên trừ hỗ tương, cho sắc pháp
ngoài tâm cơ.
Thức tạo-nghiệp (kamma-formation
consciousness) là một duyên theo một cách mà thôi, tức
thân y. Cho sắc của loài vô tưởng, hoặc cho sắc nghiệp
sanh, ở loại hữu 5 uẩn, theo Kinh bộ.
Tất cả thức còn lại
từ Hữu phần đầu tiên sau kiết sanh trở đi, cần hiểu là
duyên cho loại danh-sắc thích ứng. Muốn nêu rõ vận hành
chi tiết của nó thì phải trích dẫn cả bộ luận Patthàna,
nên chúng ta sẽ không đi vào vấn đề này.
202. Ở đây, người ta
có thể đặt câu hỏi: Nhưng làm sao biết danh sắc của kiết
sanh có thức làm duyên? - Nhờ kinh điển, và nhờ lý luận.
Vì các kinh nhiều chỗ xác định thọ, v.v... lấy thức làm
duyên. "Các pháp sanh khởi song song do thức". (Dhs.
1522) Còn về luận lý:
Từ chỗ sắc thấy
được
Là do tâm sanh, ta có thể bảo
Tâm là duyên
Cho sắc không được thấy
Dù tâm muốn hay không
muốn, sắc vẫn sanh theo tâm, như nhiều lúc ta có thể thấy.
Từ chỗ thấy được đó, có thể suy ra cái không thấy. Bởi
thế, có thể biết vì sắc do tâm sanh đã được thấy - tâm
là duyên cho sắc không được thấy, tức kiết sanh, như Patthàna
nói: "Cũng như sắc pháp do tâm sanh, sắc do nghiệp sanh
cũng có tâm làm duyên". (Patthàna, 172).
Trên đây là giải thức
chi tiết mệnh đề "Thức duyên danh sắc".
Sáu Xứ
203. Về mệnh đề
"Do duyên danh sắc,
có sáu xứ:
Ba uẩn là tâm; sắc căn,
Bốn đại, và những gì còn lại là "sắc"
Trong khi tất cả cái kia làm duyên cho cái này,
Một phần cũng có thể đại biểu toàn bộ
204. Khi nói "danh sắc
làm duyên cho sáu xứ" thì "danh" là ba uẩn thọ
tưởng hành và "sắc" là cái gồm trong dòng tương
tục một đời, được kể là "bốn đai và những gì
còn lại", nghĩa là: 4 đại chủng, 6 nội xứ và mạng
căn (vì chúng là những yếu tố làm duyên) luôn luôn như vậy
không đổi. Nhưng danh này, sắc này và danh-sắc này, mỗi
thứ đại biểu cho những cái còn lại, gồm dưới tên là
"danh-sắc", cần được hiểu là một duyên cho sáu
xứ gồm có đệ lục xứ và xứ gồm sáu, mỗi cái đại
biểu cho những cái còn lại dưới tên là "sáu xứ".
Tại sao? Vì trong vô sắc hữu, chỉ có danh kể như duyên
cho đệ lạc xứ mà thôi, tức ý xứ, không cho xứ nào
khác. Vì Vibhanga nói: "Do duyên danh, có đệ lục xứ".
(Vbh. 179).
205. Ở đây, có thể
nói: Nhưng làm sao biết được rằng, danh sắc là một
duyên cho sáu xứ? - Vì sáu xứ có mặt khi danh-sắc có mặt.
Một xứ nào đó có mặt khi một loại danh sắc nào đó có
mặt - không có cách nào khác. Ðiều này sẽ được giải
thích dưới đây, trong đoạn nói làm thế nào nó là một
duyên. Bởi vậy,
Người trí nên tìm
hiểu
cái nào duyên cho cái nào, bằng cách nào,
ở kiết sanh và trong đời sống,
sự giải thích là như sau.
206. Sau đây là ý nghĩa.
a. Danh Làm Duyên
Ở vô sắc kiết
sanh,
Và trong đời sống vô sắc.
Danh chỉ đến một mình
Theo 7 cách và 6 cách
Ðể làm duyên tối thiểu.
207. Như thế nào? Trước
hết, ở kiết sanh, danh là một duyên theo 7 cách ít nhất,
đó là "cu sanh, hỗ tương, thân y, tương ưng, nghiệp dị
thục, hữu duyên, và bất ly khứ duyên, cho đệ lục ý xứ.
Tuy nhiên, một vài loại danh là duyên, kể như nhân duyên
(nghĩa là tham, vân vân), và vài loại là thực duyên (nghĩa
là xúc và tác ý). Bởi thế, nó cũng là một duyên theo các
cách khác. Chính do hai cái sau này mà có tối đa hay tối thiểu.
Trong quá trình một đời sống, dị thục danh cũng là một
duyên như đã nói. Nhưng loại phi dị thục là một duyên
theo 6 cách ít nhất, như các duyên đã nói trừ nghiệp dị
thục. Một vài là duyên kể như nhân duyên, và một vài là
thực duyên. Vậy, nó cũng là một duyên theo những cách
khác nữa. Chính do những duyên này mà tối đa và tối thiểu
cần được biết.
208. Trong loại hữu 5 uẩn,
ở kiết sanh, theo các cách tương tự.
Danh tác động như
duyên cho đệ lục xứ
Và cho các xứ khác theo 6 cách.
209. Ngoài các vô sắc
pháp, cả trong loại hữu 5 uẩn, dị thục danh, tương ưng với
tâm-cơ, là một duyên, tối thiểu theo 7 cách, cho đệ lục
ý xứ, như đã nói về vô sắc pháp. Nhưng tương ưng bốn
đại chủng, nó là một duyên, theo 6 cách, là câu sanh, thân
y, nghiệp dị thục, bất tương ưng, hữu duyên và bất ly
khứ cho 5 xứ kia kể từ nhãn xứ. Tuy vậy, có cái là nhân
duyên, có cái là thực duyên. Chính do những thứ này mà tối
đa, tối thiểu cần được hiểu.
210.
Dị thục duyên dị
thục
trong đời theo 7 cách
phi dị thục duyên phi dị thục đệ lục
theo sáu cách
211. Giải: Cũng như
trong kiết sanh, trong đời sống của loài hữu 5 uẩn, dị
thục danh là duyên theo 7 cách ít nhất, cho dị thục ý xứ
thứ sáu. Nhưng phi dị thục danh là một duyên theo sáu cách
ít nhất cho phi dị thục ý xứ thứ sáu, nghĩa là 7 cái
trên trừ nghiệp dị thục. Tối đa và tối thiểu cần được
hiểu theo cách đã nói.
212.
Và suốt một đời,
dị thục
duyên năm xứ kia theo 4 cách
phi dị thục có thể giải thích
theo cách đã nói trên.
213. Giải: Lại nữa,
trong quá trình một đời, dị thục danh kia, có sắc căn và
tịnh sắc mắt, v.v... là một duyên cho 5 xứ kể từ nhãn,
theo 4 cách là hậu sanh, bất tương ưng, hữu duyên, bất ly
khứ. Phi dị thục cũng được giải thích tương tự. Bởi
thế danh hay tâm được phân thành thiện, bất thiện, v.v...
cần hiểu là duyên cho chúng theo 4 cách.
Trên đây là nói một
mình danh làm duyên cho những xứ nào, theo cách nào, ở kiết
sanh và trong đời sống.
214.
b. Sắc Làm Duyên
Trong vô sắc hữu
Sắc không là duyên
Cho một xứ nào cả
Nhưng ở hữu tình 5 uẩn
Sắc căn là một duyên
Ở kiết sanh theo 6 cách
Cho đệ lục ý xứ, còn các đại
Duyên cho 5 xứ theo 4 cách.
215. Về phần sắc, thi
sắc của tâm cơ là một duyên theo 6 cách, là cấu sanh, hỗ
tương, thân y, bất tương ưng, hữu duyên, và bất ly khứ,
trong kiết sanh, cho đệ lục ý xứ. Nhưng 4 đại chủng nói
chung, nghĩa là ở kiết sanh cũng như đời sống, là duyên
theo 4 cách, tức cu sanh, thân y, hữu duyên và bất ly khứ,
cho bất cứ cái nào trong 5 xứ kể từ nhãn xứ, khi chúng
sanh khởi.
216.
Mạng và thực phẩm
trong đời
làm duyên cho 5 thứ theo 3 cách
Năm thứ này làm duyên cho đệ lục, theo 6 cách
Tâm cơ duyên đệ lục theo 5 cách.
217. Nhưng ở trong kiết
sanh và trong quá trình một đời, sắc mạng căn là một
duyên theo 3 cách, là hữu duyên, bất ly khứ và căn duyên,
cho năm xứ. Thực tố là duyên theo 3 cách, hữu duyên, bất
ly khứ và thực duyên, trong quá trình một đời chứ không
ở kiết sanh và điều này chỉ áp dụng khi cơ thể của hữu
tình sống bằng đoàn thực có ngấm thức ăn vào. Trong quá
trình đời sống, không ở kiết sanh, năm xứ khởi từ nhãn
xứ là duyên theo 6 cách, là thân y, tiền sanh, mạng duyên, bất
tương ưng duyên, hữu duyên và bất ly khứ, cho cái phần
thuộc đệ lục ý xứ gồm nhãn nhĩ tỉ thiệt và thân thức.
Nhưng đời sống, không ở kiết sanh, sắc chất thuộc tâm
cơ là một duyên, theo 5 cách là thân y, tiền sanh, bất tương
ưng, hữu duyên và bất ly khứ, cho phần còn lại của ý xứ
ngoài 5 thức.
Trên đây là nói sắc
làm duyên cho những xứ nào, và cách nào, ở kiết sanh và
trong đời sống.
218.
c. Danh Sắc Làm
Duyên
Phối hợp danh-sắc
nào
là duyên cho cái nào
và trong mỗi trường hợp
nó duyên theo kiểu nào
bậc trí cần tìm hiểu
219. Ví dụ, ở kiết
sanh trong hữu 5 uẩn, thì danh-sắc, hay 3 uẩn với sắc chất
của nhục đoàn tâm, là một duyên kể như câu sanh, hỗ tương,
y chỉ, nghiệp dị thục, tương ưng, bất tương ưng, hữu
duyên, bất ly khứ, v.v... cho đệ lục ý xứ. Ðây chỉ là
đầu mối, chi tiết nói theo trên.
Xúc
220. Về mệnh đề
"Do duyên sáu xứ,
xúc sanh":
Vắn tắt, xúc có sáu
Là nhãn xúc, vân vân
Tùy theo mỗi thức
Chi tiết có băm hai
221. Vắn tắt, với mệnh
đề "sáu nhập duyên cho xúc", thì chỉ có 6 loại
là nhãn xúc, v.v..., cho đến ý xúc. Nhưng nói chi tiết thì,
5 thiện dị thục và 5 bất thiện dị thục khởi đầu bằng
nhãn xúc làm thành 10. Còn lại tương ưng với 22 loại thế
gian dị thục tâm, thành 22. Bởi thế tổng cộng có 32 (từ
34 đến 65 trong đồ biểu), giống như thức do duyên hành đã
nói.
222. Nhưng về sáu xứ
(sáu nhập, sáu căn) làm duyên cho xúc, thì có 32 khía cạnh:
Có nghiệp xem sáu xứ
Là năm nội xứ và ý xứ (thứ sáu)
Có người lại cho sáu xứ này
Gồm luôn sáu ngoại xứ
223. Có người nghiệp
xem đây là một trình bày về sự sanh khởi những gì bị
chấp thủ (tức các uẩn nghiệp-sanh) và cho rằng cái năng-duyên
(xứ hay nhập) và cái do duyên sanh (xúc) chỉ là những pháp
bao gồm trong một tương tục đời n. Họ xem bất cứ phần
nào cũng đại biểu cho phần còn lại thuộc loại nó, vì
duyên cho xúc trong các pháp vô sắc chỉ là ý xứ mà thôi,
theo Vibhanga: "Do duyên đệ lục xứ, có xúc". (Vbh.
179). Còn chỗ khác thì nói do duyên toàn thể sáu xứ mà
có xúc. Bởi thế họ cho "lục nhậ" (sáu xứ) có
nghĩa năm xứ mắt tai... thân, cọng với ý xứ tứ sáu. Nhưng
có người cho rằng chỉ có cái do duyên sanh, tức xúc, mnới
chứa đựng trong một tương tục duy nhất, còn cái năng-duyên
(tức xứ) được chứa đựng trong các tương tục khác
(quá khứ) nữa. Họ cho rằng tất cả và từng phần của
những xứ ấy đều là duyên cho xúc, và họ gồm luôn cả
sáu ngoại xứ, bởi thế, với những người này, thì
"sáu xứ" có nghĩa là cả sáu nội xứ mắt tai mũi
lưỡi thân ý, và sáu ngoại xứ sắc thanh hương vị xúc
pháp.
224. Ở đây, có thể hỏi:
Một loại xúc không sanh từ tất cả xứ, mà tất cả loại
xúc cũng không sanh từ một xứ. Thế mà mệnh đề "Do
duyên xứ (gồm sáu), có xúc" lại để ở số ít, là tại
sao? Trả lời: Ðúng thế, song mỗi thứ phát xuất từ nhiều
(duyên): như nhãn xúc thì do nhãn xứ, do sắc xứ, do ý xứ
kể như nhãn thức và do pháp xứ gồm những pháp tương
ưng khác [như ánh sáng, khoảng cách v.v... ]. Các xúc khác cũng
vậy, bởi thế
Mặc dù nói ở số
ít
Phật chỉ rõ trong mỗi trường hợp,
Rằng xúc, mặc dù chỉ có một
Lại xuất phát từ nhiều căn cứ.
Mặc dù nói ở số ít
có nghĩa là trong mệnh đề "Do duyên sáu xứ có
xúc" danh từ xúc để ở số ít.
Thế Nào Sáu Xứ
Làm Duyên Cho Xúc?
226.
Nhưng về những xứ
này
có năm theo sáu cách
một theo chín cách, sáu ngoại xứ
làm duyên tánh cho xúc
tùy trường hợp ấn định.
227. Giải thích như
sau: Trước hết 5 xứ mắt tai... thân là duyên theo 6 kiểu:
y chỉ, tiền sanh, căn, bất tương ưng, hữu, và bất ly khứ,
cho xúc gồm 5 loại. Kế đến dị thục ý xứ một mình nó
làm duyên theo 9 cách: câu sanh, hỗ tương, y chỉ, dị thục,
thực, căn, tương ưng, hữu, bất ly khứ, cho dị thục ý
xúc phân loại theo nhiều cách. Nhưng trường hợp ngoại xứ
thì sắc xứ là duyên theo 4 cách: sở duyên, tiền sanh, hữu,
và bất ly khứ, cho nhãn xúc. Cũng vậy thanh xứ, v.v... . là
duyên cho nhĩ xúc, v.v... Nhưng những thứ này là pháp xứ kể
như đối tượng, là duyên cũng theo cách ấy, cộng thêm
cách sở duyên, cho ý xúc, bởi thế "ngoại xứ làm
duyên tánh cho xúc, tùy trường hợp ấn định".
Ðấy là chi tiết mệnh
đề "Do duyên sáu xứ có xúc".
Thọ
228. Về mệnh đề
"Do duyên xúc có
thọ":
Thọ, khi được gọi theo căn môn
Như "do nhãn xúc sanh" vân vân,
Thì chỉ có sáu thứ, nhưng chúng lại gồm
Có tám mươi chín loại.
229. Theo sự phân tích
mệnh đề này trong Vibhanga, thì chỉ có sáu loại xúc
kể theo căn môn như sau: "thọ do nhãn xúc sanh, do nhĩ, tỉ,
thiệt, thân, ý xúc sanh" (Vbh. 136). Nhưng khi phân
theo sự tương ưng với 89 loại tâm thì chúng gồm 89 thứ.
230.
Nhưng từ 89 loại thọ
chỉ có 32 không hơn, dường như
tương ưng với dị thục quả
và chỉ nhưng thứ ấy được nói ở đây.
Xúc ở năm môn
Làm duyên cho năm thứ theo 8 cách,
Và cho các thọ còn lại theo một cách
Xúc ở ý môn cũng vậy
231. Ở đây, xúc ở năm
môn là một duyên theo 8 cách: câu sanh, hỗ tương, y chỉ, dị
thục, thực, tương ưng, hữu, và bất ly khứ, cho 5 loại thọ
có tịnh sắc mắt, v.v... làm căn bản vật lý. Nhưng xúc
ấy khởi từ nhãn xúc, là một duyên theo một cách là thân
y duyên mà thôi, cho phần còn lại của dị thục thọ ở sắc
giới xảy ra ở mỗi căn mòn kể như tiếp thọ, suy đạt và
đồng sở duyên.
232. Xúc ở ý môn cũng
duyên như vậy: xúc gọi là cu sanmh ý xúc là một duyên theo
8 cách như trên, cho dị thục thọ ở dục giới xảy ra kể
như đồng sở duyên ở ý môn và cũng vậy cho các loại dị
thục thọ ở ba cõi xảy ra với kiết sanh, hữu phần và tử
tâm. Nhưng ý xúc tương ưng với ý môn hướng tâm, là một
duyên, kể như thân y duyên mà thôi, cho các loại thọ xảy
ra ở ý môn như đồng sở duyên tâm ở dục giới.
Ðấy là chi tiết mệnh
đề "xúc duyên thọ".
Ái
233. Về mệnh đề
"Do duyên thọ, ái sanh", (thọ duyên ái), sáu ái đối
với sắc pháp đưọc bàn đến, và mỗi thứ này khi nó
sanh, có thể xuất hiện theo một trong ba cách.
234. Sáu loại ái được
nêu trong Vibhanga khi phân tích mệnh đề này là sắc
ái, thanh, hương, vị, xúc, pháp ái (Vbh. 136), tùy theo
đối tượng mà đặt tên, như con trai được gọi theo cha:
"con ông trưởng giả", "con người bà la
môn".
Mỗi thứ trong sáu loại
ái này được kể tùy theo cách sinh khởi của ch1nghiệp, gồm
ba, là dục ái, hữu ái, phi hữõu ái.
235. Khi sắc ái sanh khởi,
thích thú một đối tượng đi vào sự chú ý của mắt và
thích thú theo kiểm tham dục, thì gọi là dục ái. Nhưng khi
cùng một khát ái ấy sanh khởi kèm theo thường kiến, cho rằng
đối tượng đó là trường cửu, bất diệt, thì gọi là hữu
ái. Khi khát ái ấy sanh khởi kèm theo đoạn kiến, cho rằng
vật a1y sẽ tan rã, hoại diệt, thì gọi là phi hữu ái, vì
khi tham câu hữu đoạn kiến thì gọi là phi hữu ái. Cũng vậy
trong trường hợp khát ái đối với thanh. Những ái này cọng
thành 18 thứ, 18 ái này đối với tự sắc, dáng dấp của
chính mình, cùng với 18 ái đối với ngoại sắc, dáng dấp
người khác, thành 36 loại; 36 trong quá khứ, 36 trong vị lai
và 36 trong hiện tại làm thành 108 ái, rút lại chỉ có 6
là ái đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Rút lại
nữa thì chỉ có ba, là dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
236. Do lòng ưa muốn cảm
giác sau khi tìm thấy khoái lạc trong cảm giác khởi lên qua
một đối tượng sắc pháp, mà người ta dành nhiều vinh dự
cho họa sĩ, nhạc sĩ, người làm nước hoa, đầu bếp, thợ
dệt, người nấu rượu, y sĩ vân vân. Cũng như, vì yêu trẻ
mà người ta thường vú em. Bởi thế, nên hiểu ba loại ái
đều do thọ làm duyên.
237. Thọ muốn nói ở
đây là dị thục lạc thọ mà thôi, vì vậy nó là một
duyên theo một cách, cho sựï sanh khởi của tất cả ái
này.
Theo một cách:
đó là duyên kể như thân y mà thôi.
238. Hoặc:
Và khi đã được lạc,
lại khao khát thêm,
Niềm an ổn của xả cũng kể như lạc,
Bởi thế, bậc Ðại thánh tuyên thuyết
rằng do duyên có thọ ái.
Vì cả ba thọ đều có thể là duyên
cho tất cả ái.
Mặc dù thọ là duyên
nhưng nếu không có tùy miên
thì không thể có ái sanh,
bởi thế bậc giải thoát khỏi ái này.
Ðấy là giải thích
có chi tiết "Do duyên thọ, ái sanh".
Thủ
239. Về mệnh đề
"Do duyên ái, có
thủ" (ái duyên thủ):
bốn thủ cần được giải thích.
một, phân tích ý nghĩa
hai kể vắn tắt và chi tiết các pháp;
ba là về thứ tự.
240. Giải thích như
sau. Trước hết có bốn loại thủ là dục thủ, kiến thủ,
giới cấm thủ và ngã luận thủ.
241. Phân tích ý nghĩa
là như sau. Gọi là dục thủ vì nó bám vào thủ khoái lạc
giác quan tức sắc trần. Lại nữa, nó vừa là dục, vừa
là chấp thủ (bám giữ) nên gọi là dục thủ. Thủ (upadàna)
là sự nắm chắc, upa đây nghĩa là chắc chắn. Cũng
vậy, nó vừa là (tà) kiến vừa là chấp thủ, nên gọi là
kiến thủ. Hoặc vì nó bám vào tà kiến, vì trong trường hợp
tà kiến cho rằng thế giới là ngã, thường, v.v., thì
chính loại tà kiến sau (thường) bám vào loại trước (ngã).
Cũng thế, bám vào lễ lạc là giới cấm thủ. Lại nữa,
nó vừa là lể lạc vừa là chấp thủ, nên gọi là giới cấm
thủ. Những giới như ngưu hạnh (sống như trâu bò) v.v...
chính là những loại chấp thủ, do vì hiểu sai rằng nhờ vậy
được thanh tịnh. Cũng vậy, vì chúng nhồi sọ bằng cách
ấy, nên gọi là lý thuyết, chúng bám víu bằng cách ấy,
nên gọi là thủ. Chúng nhồi sọ bằng cái gì? Bám vào cái
gì? - Cái ngã. Sự chấp thủ lý thuyết về ngã, gọi là
ngã luận thủ. Hoặc qua thuyết đó chúng bám vào một tự
ngã vốn chỉ là lý thuyết, nên gọi là ngã luận thủ.
Ðây là phân tích ý nghĩa.
242. Các pháp kể vắn
tắt và chi tiết thì: vắn tắt, dục thủ được gọi là sự
kiên cố của khát ái, vì kinh nói: "Ở đây, gì là dục
thủ? Sự ham thích khoái cảm, sự thèm khát đối với dục,
thích thú trong dục lạc, khát ái đối với dục, nhiệt não
với dục, say mê dục, lao mình vào đó, gọi là Dục thủ (Dhs.
1214). Sự kiên cố của khát ái là một tên chỉ cái
khát ái đến sau đã vững chắc nhờ ảnh hưởng khát ai
đi trước tác động như duyên thân y cho nó. Nhưng lại có
người nói ái là khát khao một đối tượng ta chưa đạt,
như kẻ trộm vươn tay trong bóng tối; còn thủ là sự nắm
giữ một đối tượng đã đạt, như kẻ trộm bắt được
của. Những pháp này (ái thủ) ngược lại thiểu dục tri túc,
bởi thế chúng là gốc rễ của đau khổ, do tìm kiếm và
giữ gìn. (D. ii, 58). Ba thủ còn lại nói gọn chỉ là
tà kiến.
243. Nhưng nói chi tiết
thì dục thủ là tình trạng kiên cố của ái được mô tả
ở trên, thuộc 108 loại tương ưng với sắc, vân vân.
Kiến thủ là
tà kiến gồm 10 thứ như được nói: Gì là kiến thủ?
"Không có bố thí, tế tự, không có sa môn bà la môn đức
hạnh đã tự chứng với thánh trí và tuyên bố đời này
đời sau". Quan điểm như vậy, kiến chấp đảo lộn vậy
gọi là kiến thủ (Vbh. 375). Giới cấm thủ là sự
tin theo quan điểm cho rằng sự thanh tịnh là do lễ lạc,
quan điểm như vậy, kiến chấp đảo lộn như vậy gọi là
giới cấm thủ (Dhs. 1216). Ngã luận thủ là 20
kiến chấp sai lầm về ngã, như: "Ở đây, gì là ngã
luận thủ? Kẻ vô văn phàm phu, không tu tập pháp các bậc
chân nhân, chấp ngã là sắc... kiến chấp đảo lộn như vậy
gọi là ngã luận thủ." (Dhs. 1217)
Ðấy là các pháp kể
sơ lược về chi tiết.
244. Về thứ tự, thứ
tự gồm ba (xem Ch. XIV, đ. 211) là thứ tự sanh khởi, từ bỏ,
và giảng dạy.
Ở đây, thứ tự sanh
khởi các phiền não không nói theo nghĩa đen, bởi không có
sự sanh khởi đầu tiên của phiền não trong vòng luân hồi
vô thủy. Nhưng theo nghĩa tương đối thì: Thông thường,
nơi một người, tà giải chấp thường, đoạn khởi từ giả
thuyết có ngã. Kế đến, khi người ấy cho rằng tự ngã
này trường cữu, thì sự chấp thủ khởi lên nơi nó vì mục
đích thanh luyện tự ngã. Và khi nó tin rằng tự ngã này
đoạn diệt, từ đó bất chấp đời sau, thì dục thủ khởi
lên. Bởi vậy, ngã luận thủ sanh trước nhất, kế đến là
kiến thủ, và giới cấm thủ hay dục thủ. Vậy đây là thứ
tự sanh khởi của chúng, nơi một hữu tình.
245. Và ở đây, kiến
thủ, v.v... được từ bỏ trước, vì chúng được loại trừ
nhờ dự lưu đạo. Dục thủ được từ bỏ sau, vì nó được
đoạn trừ nhờ A-la-hán đạo. Ðây là thứ tự từ bỏ.
246. Dục thủ tuy vậy
lại được dạy trước hết, vì tầm đối tượng rộng rãi,
và vì nó rõ rệt. Nó có một phạm vi đối tượng rất rộng,
vì tương ưng với 8 loại tâm (22-29). Các thủ khác có phạm
vi đối tư?ng hẹp vì chúng tương ưng với 4 loại tâm (22,
23, 26, 27). Và thông thường, dục thủ là rõ rệt, vì sự
ưa thích ràng buộc của loại này (xem M. i, 167). Các
loại thủ khác không rõ rệt như vậy. Một kẻ bị ám bởi
dục, thì lao vào sự phô trương, tế lễ để đạt khoái lạc
giác quan. Kiến thủ kế tiếp dục thủ vì sự phô trương
và lễ lạc kia là một tà kiến nơi vị ấy. Rồi kiến thủ
này lại chia làm hai thứ, là giới cấm thủ và ngã
luận thủ, và trong hai thứ này, giới cấm thủ được
dạy trước vì nó thô phù, dễ nhận ra, như hình thức ngưu
hạnh và khổ hạnh. Ngã luận thủ được dạy sau rốt vì
nó vi tế. Ðấy là thứ tự giảng dạy.
Thế Nào Là Ái
Duyên Thủ
247.
Và ái ở đây là một
duyên
cho dục thủ theo một cách
cho ba thủ còn lại
theo 7, 8 cách.
248. Về bốn loại thủ
được dạy như thế, thì dục ái là một duyên theo một
cách, kể như thân y, cho loại thủ đầu tiên, tức dục
thủ, vì nó khởi lên tương ưng với những đối tượng mà
aí thích thú. Nhưng nó là duyên theo 7 cách là câu
sanh, hỗ tương, y chỉ, tương ưng, hữu, bất ly khứ, và
nhân duyên, hoặc theo 8 cách, như trên thêm thân y, cho 3 loại
thủ còn lại. Và khi nó đã làm thân y duyên thì không bao
giờ là câu sanh.
Ðó là giải thích chi
tiết mệnh đề "ái duyên thủ".
Hữu
249. Về mệnh đề
"Do Duyên Thủ Có
Hữu":
một là ý nghĩa, hai là cảnh giới.
Ba mục đích, bốn phân tích, năm tổng hợp;
Sáu, thủ nào làm duyên cho hữu nào.
Sự trình bày cần biết vậy.
250. Ở đây, trở
thành gọi là hữu (bhava). Có hai thứ là nghiệp hữu
và sanh hữu như được nói: "Hữu theo hai lối,
có nghiệp hữu, có tái sanh hữu" (Vbh. 137). Chính
tiến trình nghiệp là hữu, thì gọi là nghiệp hữu.
Cũng vậy, chính tiến trình tái sanh là hữu thì gọi là sanh
hữu. Và ở đây, tái sanh là hữu vì nó hiện hữu, nhưng
cũng như câu: "Sự xuất sanh của chư Phật là hạnh
phúc" vì nó đem lại hạnh phúc, cũng v?y, nghiệp
cần được hiểu là hữu vì nó đem lại hữu hay sự
tái sanh; dùng từ ngữ thông thường chỉ hậu quả của nhân
mà thay cho nhân. Ðây là trình bày ý nghĩa.
251. Về cảnh giới:
trước hết, nghiệp hữu nói vắn tắt là hành và các pháp
tham, v.v... tương ưng với hành cũng được xem là nghiệp. Vibhanga
nói: "Cái gì là nghiệp hữu? Phước hành, phi phước hành,
bất động hành, ở bình diện hữu hạn hay đại hành: đấy
là nghiệp hữu. Cũng vậy, tất cả nghiệp đưa đến
tái sanh đều là nghiệp hữu. (Vbh. 137).
252. Ở đây, phước
hành nói theo tâm pháp, là 13 loại hành, 1-13, phi phước
hành là 12 loại 22-33, và bất động hành là bốn
loại 14-17. Từ ngữ "ở bình diện hữu hạn hay đại hành"
có nghĩa sự nhỏ nhặt hay lớn lao của quả dị thục mà
các hành này đem lại. Nhưng từ ngữ "cũng vậy, tất cả
nghiệp đưa đến tái sanh" là nói tham, vân vân tương
ưng với hành.
253. Sanh hữu nói
vắn tắt là các uẩn do nghiệp sanh, có 9 loại: "Ở đây,
gì là sanh hữu? Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu, tưởng
hữu, vô tưởng hữu, phi tưởng phi phi tưởng hữu, hữu một
uẩn, hữu bốn uẩn và hữu năm uẩn. Ðấy gọi là sanh hữu"
(Vhb. 17).
254. Loại hữu có dục
vọng gọi là "dục hữu". Tương tự, với sắc và
vô sắc hữu. Hữu của những chúng sanh có tưởng, hoặc
ở đấy có tưởng trong hữu, nên gọi là "hữu tưởng'.
Ngược lại là "vô tưởng". Do sự vắng mặt của
tưởng thô, nhưng có tưởng vi tế, thì gọi là phi tưởng
phi phi tưởng. Hữu chỉ gồm một sắc uẩn gọi là hữu một
uẩn hay một chiều (dimension). Tương tự, với hữu bốn
uẩn và năm uẩn.
255. Dục hữu là năm uẩn
có được do nghiệp chấp thủ. Sắc hữu cũng vậy. Vô sắc
hữu có bốn uẩn. Tưởng hữu có 4 và 5. Phi tưởng hữu là
một uẩn tập thành do nghiệp chấp thủ. Phi tưởng phi phi
tưởng có bốn uẩn. Hữu một uẩn bốn uẩn và năm uẩn là
các uẩn ấy đã tập thành do nghiệp chấp thủ. Ðấy là
trình bày về cảnh giới.
256. Về mục đích: Mặc
dù phước hành v.v... được đề cập tương tự trong mô tả
về hữu và hành, nhưng ở đây vẫn lặp lại vì có dụng
ý. Trong trường hợp đầu nó được nói đến vì là một
duyên kể như nghiệp quá khứ, cho sự tái sanh hiện tại,
còn trường hợp sau thì nó là duyên kể như nghiệp hiện tại
cho tái sanh tương lai. Hoặc trường hợp đầu, đoạn
"Gì là phước hành? Ðó là thiện hành dục giới"
(Vbh. 135), chỉ có ý hành được gọi "hành",
nhưng ở trường hợp sau, với câu "Tất cả nghiệp
đưa đến tái sanh" (Vbh. 137), thì các pháp tương
ưng với hành đều được bao gồm. Và trong trường hợp đầu
chỉ pháp nào làm duyên cho tâm mới gọi là hành, còn ở đây
thì cả cái nghiệp đưa đến vô tưởng hữu cuĩng gồm
trong đó. Nhưng tại sao phải lắm lời?
257. Trong mệnh đề
"Vô minh duyên hành", chỉ có các thiện và bất thiện
pháp được kể, gọi là phước hành, phi phước hành, còn
ở đây trong mệnh đề "Thủ duyên hữu" thì thiện,
bất thiện và cả duy tác cũng được kể, do sự bao quát của
sanh hữu. Do vậy mà có sự lặp lại ở đây.
Ðấy là trình bày về
mục đích sự lặp lại.
258. Về sự phân tích,
tổng hợp là phân tích và tổng hợp của hữu do duyên thủ.
Nghiệp đã tạo do
duyên dục thủ, và sinh ra dục hữu, thì gọi là nghiệp
hữu. Các uẩn do nghiệp ấy sanh ra gọi là sanh hữu.
Tương tự, với sắc hữu và vô sắc hữu. Bởi thế có hai
loại dục hữu do duyên dục thủ, trong đó bao gồm cả tưởng
hữu và hữu 5 uẩn. Và có hai loại sắc hữu, trong đó gồm
cả hữu có tưởng, vô tưởng, hữu một uẩn và hữu 5 uẩn.
Và có hai loại vô sắc hữu, trong đó gồm cả hữu có tưởng,
phi tưởng phi phi tưởng, và hữu b61người uẩn. Vậy, kể
cả những gì được gồm trong đó, thì có sáu loại hữu
do duyên dục thủ. Tương tự, với ba thủ còn lại làm
duyên. Vậy, phân tích thì có tất cả 24 loại hữu do duyên
thủ.
259. Nhưng về tổng hợp,
bằng cách phối hợp nghiệp hữu và sanh hữu, thì có (kể
cả những gì nó bao gồm) một loại dục hữu do duyên dục
thủ. Tương tự với sắc hữu, vô sắc hữu. Và tương tự,
với ba thủ còn lại làm duyên. Như vậy có 12 loại hữu do
duyên thủ kể cả những gì được bao gồm.
260. Lại nữa, bất cứ
nghiệp nào có thủ làm duyên, mà đã đạt đến dục hữu,
thì đều là nghiệp hữu. Các uẩn được sanh bởi nó
gọi là sanh hữu. Tương tự, với sắc và vô sắc hữu.
Vậy, cùng với những gì được bao gồm, có hai loại dục
hữu, hai loại sắc hữu, và hai loại vô sắc hữu. Tổng hợp
có sáu loại hữu theo cách này.
Hoặc không phân thành
nghiệp hữu và sanh hữu, thì chỉ có ba loại hữu là dục,
sắc, vô sắc. Hoặc không phân thành dục, sắc, vô sắc
thì chỉ có hai loại nghiệp hữu và sanh hữu. Và nếu
không phân thành nghiệp và tái sanh, thì chỉ có một loại
hữu mà thôi.
Ðấy là trình bày về
hữu với thủ làm duyên, phân tích và tổng hợp.
261. Thủ nào làm duyên
cho hữu nào? Bất cứ loại thủ nào cũng là duyên cho loại
hữu nào bất cứ. Vì phàm phu như một kẻ điên, không cần
suy xét phải quấy. Bằng bất cứ loại thủ nào, nó khát
khao đạt đến bất cứ loại hữu nào, và làm bất cứ loại
nghiệp nào. Bởi thế khi có người nào bảo không phải nhờ
giới cấm thủ mà được sanh vào sắc giới và vô sắc giới,
thì không được chấp nhận, mà điều chúng chấp nhận là
mọi thứ (hữu) phát sinh từ mọi thứ (thủ).
262. Ví dụ một người,
theo tin đồn hay do tà kiến, nghĩ rằng dục thật là viên
mãn nơi cõi người thuộc giai cấp sát đế lợi, v.v... và
ở 6 cõi trời dục. Bị lầm lạc vì nghe theo tà thuyết, tưởng
rằng do nghiệp ấy sẽ thỏa mãn được dục, nên kẻ kia
vì mong hưởng lạc mà làm những ác hành về thân, v.v... do
dụ thủ. Vì viên mãn ác hành, nó tái sanh trong các đọa xứ.
Các nghiệp làm nhân cho tái sinh gọi là nghiệp hữu.
Các uẩn do nghiệp ấy sanh, là sanh hữu, nhưng tưởng
hữu và hữu 5 uẩn cũng được bao gồm.
263. Nhưng có người khác,
nhờ nghe điệu pháp mà tăng trưởng tri kiến, và tưởng rằng
do nghiệp này dục sẽ được thỏa mãn, nó làm các thiện
hành về thân, v.v... vì dục thủ. Do viên mãn thiện hành về
thân, nó tái sanh trong chư thiên hay loài n. Cái nghiệp làm
nhân cho tái sanh ở cõi trời là nghiệp hữu, các uẩn
do nghiệp ấy sanh là sanh hữu, nhưng tưởng hữu và hữu
5 uẩn cũng được bao gồm.
Vậy, dục thủ là
duyên cho dục hữu, phân tích hay tổng hợp.
264. Một người nữa vì
nghe hay đoán rằng dục càng viên mãn hơn ở sắc giới, vô
sắc giới, nên vì dục thủ mà tu những thiền chứng có sắc,
không sắc, và nhờ chứng thiền, họ tái sanh ở sắc giới,
Phạm thiên giới. Cái nghiệp làm nhân cho tái sanh của họ
ở đấy là nghiệp hữu, các uẩn do nghiệp ấy sanh là sanh
hữu, nhưng hữu có tưởng, không tưởng, phi tưỏng phi phi
tưởng, hữu một uẩn bốn uẩn và năm uẩn, cũng được
bao gồm. Như vậy, dục thủ là duyên cho sắc và vô sắc hữu,
theo phân tích và tổng hợp.
265. Một người khác
chấp thủ đoạn kiến, cho rằng tự ngã này hoàn toàn đoạn
diệt, khi nó đoạn diệt ở các thiện thú dục giới, sắc
giới hay vô sắc giới. Và nó làm các nghiệp để thành tựu
mục đích ấy. Nghiệp nó làm gọi là nghiệp hữu. Các uẩn
do nghiệp ấy sanh là sanh hữu. Nhưng các hữu có tưởng,
v.v... . cũng được bao gồm.
Vậy kiến thủ là
duyên cho cả ba loại hữu dục, sắc, vô sắc, về phân
tích và tổng hợp.
266. Một người khác,
do ngã luận thủ nghĩ rằng, tự ngã sẽ được lạc, thoát
y nhiệt não trong các tái sanh thiện thú dục giới hay trong
sắc giới, vô sắc giới, và làm các nghiệp để đạt đến
đấy. Nghiệp nó làm gọi là nghiệp hữu, các uẩn do nghiệp
sanh là sanh hữu. Nhưng các loại hữu có tưởng, không tưởng,
v.v... cũng được bao gồm. Vậy, ngã luận thủ là duyên cho
cả ba loại hữu, phân tích và tổng hợp.
267. Một người khác
do giới cấm thủ, nghĩ rằng, viên mãn giới cấm thủ sẽ
đưa đến những thiện thú dục giới, sắc giới, vô sắc
giới. Và nó làm các nghiệp để đạt mục đích ấy. Nghiệp
nó làm là nghiệp hữu, các uẩn do nghiệp ấy sanh là sanh hữu.
Nhưng các hữu có tưởng, không tưởng v.v... . cũng được
bao gồm. Vậy giới cấm thủ là duyên cho cả ba loại hữu,
phân tích và tổng hợp. Ðấy là trình bày thủ nào duyên
cho hữu nào.
Thế Nào Thủ Làm
Duyên cho Hữu?
268.
Nhưng bằng cách nào
thủ làm duyên?
Thủ duyên cho hữu
Ở sắc giới và vô sắc giới,
Theo kiểu thân y duyên,
Câu sanh, v.v... cho loại hữu dục giới.
269. Thủ này mặc dù
có bốn loại, chỉ duyên theo một cách là thân y duyên cho hữu
ở sắc, vô sắùc giới, nghĩa là cho thiện nghiệp trong
nghiệp hữu xảy ra ở dục giới và cho sanh hữu. Nó là một
duyên, kể như cu sanh vân vân có nghĩa: cu sanh, hỗ tương, y
chỉ, tương ưng, hữu duyên, bất ly khứ, nhân duyên - cho bất
thiện nghiệp hữu tương ưng với bốn thủ ở dục giới hữu.
Nhưng nó là thân y duyên mà thôi, cho cái gì bất tương
ưng.
Ðấy là giải thích
chi tiết mệnh đề "Do duyên thủ, có hữu".
Sanh v.v...
270. Về mệnh đề
"Do duyên hữu có sanh v.v... ", định nghĩa về sanh,
v.v... cần hiểu như đã nói trong phần Bốn chân lý (Ðế,
Ch. XVI, đ. 32). Ở đây chỉ có nghiệp hữu được ám chỉ
trong danh từ "hữu", vì chính nó, chứ không phải
sanh hữu làm duyên cho sanh. Nhưng nó là một duyên theo hai
cách là thân y và nghiệp.
271. Người ta có thể
đặt câu hỏi: Nhưng làm sao biết được rằng hữu là
duyên cho sanh? - Do sự sai biệt có thể quan sát giữa tính
chất hạ liệt và thù thắng. Mặc dù hoàn cảnh ngoại giới
giống nhau, như cha mẹ, hạt giống, máu huyết, thực phẩm
v.v... sự khác nhau giữa hạ liệt và thù thắng của hữu
tình có thể thấy được, ngay cả trong trường hợp song
sinh. Và điều ấy không phải không nguyên nhân. Nó không
có nguyên nhân nào khác hơn là nghiệp hữu, vì không có lý
do nào khác, trong tương tục nội tại của các hữu tình
được sinh ra. Vì nghiệp là nhân của sự khác nhau giữa hạ
liệt và thù thắng của các hữu tình nên đức Thế Tôn dạy:
"Chính nghiệp là yếu tố phân chia hữu tình thành thù
thắng và hạ liệt". (M. iii, 209). Do vậy, ta có thể
biết (nghiệp) hữu là duyên cho sanh.
272. Và khi không có
sanh thì cũng không có già chết và các thứ sầu bi khổ ưu
não; nhưng khi đã có sanh thì già chết xuất hiện, kéo theo
các thừ sầu bi..., những thứ này hoặc liên hệ đến già
chết nơi kẻ ngu bị sầu khổ vì các trạng thái được gọi
là già chết, hoặc không liên hệ đến già chết, mà vì một
nỗi đau đớn này hay khác. Bởi thế, sanh này là một
duyên cho già chết và cho cả sầu bi vân vân. Nhưng đó là
duyên theo một cách, là thân y mà thôi. Ðấy là giải thích
chi tiết mệnh đề "Do duyên hữu có sanh".
C. Bánh Xe
Sanh Tử
1.
Bánh Xe
273. Bấy giờ, cuối
cùng sầu bi khổ ưu não được đề cập ở đây, vì
nó mà vô minh được nêu đầu bánh xe sanh tử như sau:
"Do duyên vô minh, có hành". Vô minh ấy được thiết
lập bằng sầu bi khổ v.v... bởi thế cần hiểu rằng
Bánh xe sanh tử không
có mối đầu được biết đến.
Không người làm, không người chịu,
Trống rỗng với 12 kiểu rỗng.
Bánh xe ấy không ngừng ở đâu
Nó cứ xoay vần mãi mãi.
274. Nhưng thế nào vô
minh được thiết lập bởi sầu... ? Thế nào là bánh xe
sanh tử không có khởi thủy? Thế nào là không người làm,
người chịu? Thế nào là trống rỗng với 12 kiểu rỗng?
275. Sầu, ưu, não
không tách rời khỏi vô minh, còn bi được thấy nơi người
bị mê hoặc. Như vậy, khi những thứ này sanh khởi là vô
minh được thiết lập. Lại nữa, "cùng với lậu hoặc
có vô minh" (M. i, 54) và với lậu hoặc sanh, những
thứ sầu, bi, ... xuất hiện. Như thế nào?
276. Trước hết, sầu
vì phải xa lìa đối tượng gây khoái cảm, sầu ấy được
sanh từ dục lậu, như kinh nói:
Khi một người đang
khao khát
Mà điều nó khao khát tuột mất
Thì nó đau khổ như bị trúng mũi tên (Sn. 767).
Và Pháp cú, 215,
nói: "Sầu do ái sanh".
277. Và tất cả sầu
bi... này phát sanh cùng với sự sanh khởi của kiến lậu,
như kinh nói: "Nơi một người có kiến chấp tự ngã
là sắc, sắc là của ta, thì cùng với sự đổi thay biến
hoại của sắc, khởi lên sầu bi khổ ưu não." (S.
iii,3)
278. Và sầu bi... cũng
sanh cùng với sự sanh khởi của hữu lậu, như kinh nói:
"Có những chư thiên tuổi thọ dài, có mỹ sắc, hưởng
nhiều lạc, đã sống lâu trong các cung điện tráng lệ.
Các chư thiên này, sau khi nghe Như lai thuyết pháp, phần lớn
đâm ra run sợ khiếp đảm." (S. iii, 85), như trường
hợp các vị trời bị ray rứt bởi nổi sợ chết, khi thấy
năm suy tướng hiện ra.
[Chú thích: 5 suy tướng
là hoa héo, y phục dơ dáy, nách toát mồ hôi, thân thể trở
thành xấu xí, tâm bất an].
279. Cũng vậy, sầu bi
khổ ưu não sanh cùng với sự sanh khởi của vô minh lậu,
như kinh nói:" Này các tỷ kheo, kẻ ngu cảm thọ khổ
ưu ngay hiện tại, theo ba cách." (M. iii, 163)
Những pháp sầu bi...
này phát sinh cùng với sự sanh khởi của lậu hoặc, bởi vậy
khi chúng phát sinh, là chúng thiết lập lậu hoặc, nhân của
vô minh. Khi lậu hoặc thành hình, thì vô minh cũng thành
hình, vì vô minh hiện hữõu khi điều kiện của nó hiện hữu.
Ðây, trước hết, là nói làm thế nào vô minh, vân vân được
thiết lập bởi sầu, v.v...
280. Nhưng khi vô minh
thành, vì các duyên của nó có mặt, và khi "Do vô minh
có hành, do hành có thức"... thì không có chổ tận
cùng cho cái chuỗi dài nhân quả ấy. Do vậy, bánh xe sanh tử
gồm 12 chi phần xoay vần với sự nối tiếp nhân quả, được
xem là "không biết được mối đầu."
281. Sự tình đã là như
vậy, thì phải chăng các câu "Vô minh duyên hành" chỉ
trình bày một đầu mối thôi, là mâu thuẩn? - Ðây không
phải chỉ là trình bày một mối đầu duy nhất, mà là
trình bày một pháp căn để (xem đoạn 107). Vì vô minh là
pháp căn để tạo nên ba luân (the three rounds, ba vòng
tròn. Xem đoạn 298). Vì tóm lấy vô minh mà kẻ ngu bị vướng
trong vòng nhiễm ô hoặc nghiệp khổ, cũng như kẻ vi nắm
đầu rắn mà cánh tay bị toàn thân rắn quấn. Nhưng khi cắt
đứt được vô minh, thì thoát khỏi các phiền não khác, cũng
như người bị rắn quấn thoát những khoanh tròn của mình
con rắn, khi đầu rắn đã bị đứt. Bởi thế, đây là
trình bày cái pháp căn để mà ai nắm lấy nó thì bị hệ
lụy, ai buông nó ra thì được giải thoát, chứ không phải
là sự trình bày một mối đầu duy nhất.
Ðấy là giải thích thế
nào Bánh xe sanh tử cần được hiểu là không có mối đầu.
282. Bánh xe sanh tử
này chính là sự sanh khởi của hành do duyên vô minh, của
thức do duyên hành, vân vân. Do vậy, nó không có một người
chế tạo kèm theo nó, kiểu như một Phạm thiên được phỏng
đoán là "Ðấng tối cao, Sáng tạo chủ" (D. i,
18) thi hành nhiệm vụ tạo nên bánh xe sanh tử. Nó cũng
không có một tự ngã kể như con người cảm thọ lạc khổ,
theo kiểu: "chính tự ngã này của tôi nói năng, cảm giác"
(M. i, 8).
283. Tuy thế, vô minh cũng
như các chi phần khác, là không trường tồn vì bản chất
nó là sinh diệt, nó không đẹp vì nó nhiễm ô và sanh ra
nhiễm ô, nó không vui vì bị bức bách bởi sinh diệt, nó
không có ngã tánh có thể thi hành quyền năng, vì nó hiện
hữu tùy thuộc vào các điều kiện. Hoặc, vô minh cũng như
các chi phần khác, là không phải tôi, không phải của tôi,
không phải ở trong tôi, cũng không sở hữu một cái tôi.
Thế cho nên Bánh xe sanh tử này cần được hiểu là
"trống rỗng với 12 kiểu rỗng".
2.
Ba Thời
284.
Sau khi biết điều
ấy, cần thêm rằng
Gốc rễ của bánh xe là vô minh và ái dục.
Thời của nó là quá khứ hiện tại vị lai
Thuộc về các thời này là
Hai, tám và hai, trong 12 chi ấy.
285. Hai pháp, vô minh
và ái, cần hiểu là gốc rễ bánh xe sanh tử này. Về xuất
xứ từ quá khứ, thì vô minh là gốc và thọ là ngọn. Về
sự tiếp tục ở vị lai, thì ái là gốc, già chết là ngọn.
Như vậy có hai khía cạnh.
286. Khía cạnh đầu
áp dụng cho người thuộc tánh tà kiến, cái sau áp dụng
cho người nhiều tham. Vì trong vòng tái sanh, vô minh dẫn những
kẻ tà kiến, và ái dẫn những kẻ nhiều tham. Hoặc, nói gốc
vô minh là để trừ đoạn kiến, vì do sự hiển
nhiên của quả, nó chứng tỏ nhân không mất, và nói gốc
ái là để trừ thường kiến, vì nó chứng tỏ có sanh là
có già chết. Hoặc gốc vô minh nói đến hài nhi trong thai,
để chỉ rõ sự sanh khởi tuần tự các căn, gốc ái nói về
một hóa sanh, vì các căn của chúng đồng thời xuất hiện.
287. Quá khứ hiện tại
vị lai là ba thời của Bánh xe. Về ba thời này, cần hiểu
rằng, theo kinh điển, thì vô minh hành thuộc quá khứ, tám
chi (thức, danh sắc... ) kế tiếp thuộc hiện tại, và hai
chi cuối (sanh, già chết) thuộc vị lai.
3.
Nhân Và Quả
288.
Lại nữa, cần hiểu
rằng
Bánh xe có ba liên hệ nhân-quả-nhân
Làm những phần đầu, và bốn đoạn khác nhau,
Các căm xe là 20 đặc tính.
Với vòng gồm ba, nó quay bất tận.
289. Ở đây, giữa
hành và kiết sanh thức có một liên hệ nhân-quả. Giữa thọ
và ái có một liên hệ quả-nhân. Và giữa hữu và sanh có
một liên hệ nhân-quả. Ðây là ý nghĩa câu: "Bánh xe
có ba liên hệ nhân-quả-nhân làm những phần đầu."
290. Nhưng có bốn đoạn
được ấn định bởi đầu và cuối của những liên hệ
trên, nghĩa là vô minh hành là một đoạn, thức - danh sắc
- sáu xứ - xúc - thọ là đoạn hai, ái-thủ-hữu là đoạn
ba. Và sanh-già-chết là đoạn thứ tư.
291. Lại nữa,
Có năm nhân ở quá
khứ
Hiện tại có 5 quả
Bây giờ cũng có 5 nhân
Và trong tương lai, năm quả
Chính 20 căm xe được
gọi là 5 đặc tính này, là ý nghĩa câu trong bài kệ ở
đoạn 288.
292. Có 5 nhân ở
quá khứ: đầu tiên chỉ có 2 là vô minh, hành được nói.
Nhưng một kẻ ngu (vô minh) thì khao khát, khi khao khát thì chấp
thủ, và do duyên chấp thủ có hữu (tái sanh, trở thành). Bởi
thế, ái, thủ, hữu cũng bao hàm trong vô minh. Do đó
nói "trong nghiệp hữu tiền kiếp, có vọng tưởng, tức
vô minh, có tích lũy, tức hành, có bám víu, tức
ái, có ôm giữ, tức thủ, có ý hướng, tức hữu.
Như vậy,5 pháp này trong nghiệp hữu tiền kiếp là duyên
cho kiết sanh trong hữu hiện tại. (Ps. i, 52).
293. Trong nghiệp hữu
tiền kiếp có nghĩa là trong nghiệp đã được làm đời
trước. "Có vọng tưởng, tức vô minh": có nghĩa là
cái vọng tưởng về khổ v.v... lúc xưa, vì bị nó lừa dối
mà con người làm các nghiệp, thì gọi là vô minh. "Có
tích lũy, tức hành" là các hành (tư tâm sở) khởi lên
nơi người chuẩn bị một món quà, sau khi có ý nghĩ tặng
ai một món quà. Còn cái ý hành nơi người đang thực sự
đặt quà vào tay người nhận, thì gọi là "hữu".
Hoặc, hành tích lũy
trong sáu tốc hành tâm trước của một tác ý 1 hành,
tốc hành tâm thứ bảy là hữu. Hoặc, bất cứ hành
nào là hữu, còn sự tích lũy tương ưng là hành.
Có sự bám víu tức
ái nghĩa là, nơi một người
tạo nghiệp, thì bất cứ ràng buộc, khao khát nào đối với
quả báo, kể như sanh hữu, gọi là ái. Có sự ôm giữ,
là thủ:
Sự ôm giữ, tóm lấy,
liên kết, là một duyên cho nghiệp hữu xảy ra như sau:
"Do làm nghiệp này, ta sẽ duy trì, hay đoạn dục ái ở
chỗ này chỗ nọ". Ðó gọi là thủ. "Có hành, tức
hữu" nghĩa là loại hành đã nói ở cuối câu đề cập
đến sự tích lũy ở trên.
294. "Và bây giờ
có 5 quả" có nghĩa là năm chi trong kinh văn: thức, danh
sắc, sáu xứ, thọ, như Patisambhidà nói: "Trong hữu
hiện tại, có kiết sanh là thức, có nhập thai, là danh
sắc, có cảm tính, tức xúc xứ, có cái được chạm
là xúc, cái được cảm giác, là thọ, như vậy
có năm pháp này trong sanh hữu hiện tại, có những duyên của
chúng là nghiệp đã làm trong quá khứ. (Ps. i, 52)
295. Có kiết sanh, tức
thức: thức được gọi là kiết sanh, vì nó khởi lên nối
liền với hữu kế tiếp. "Có nhập thai, tức danh sắc":
các sắc pháp và vô sắc đi vào trong thai là danh sắc.
"Có cảm tính, tức xúc xứ" chỉ mắt tai mũi lưỡi
thân. "Có cái bị xúc, tức xúc": Xúc là cái khởi
lên khi một vật được chạm. "Có cái được cảm giác,
tức thọ": cái được cảm nhận kể như quả báo của
nghiệp khởi lên cùng với kiết sanh thức, hoặc với xúc
do duyên 6 xứ, thì gọi là thọ.
296. Bây giờ cũng có
5 nhân: là ái, thủ, hữu, vô minh, và hành. Ái thủ hữu
được kể trong kinh. Nhưng khi hữu đư?c bao gồm, thì hành
đi trước hoặc tương ưng cũng được gồm. Và đã gồm
ái và thủ, thì vô minh tương ưng với chúng, do bị nó lừa
dối mà con người tạo nghiệp, cũng được gồm. Vậy chúng
gồm 5 pháp. Nên nói: "Ở đây, trong hữu hiện tại, với
sự thuần thục của các nội xứ, có vọng tưởng, tức vô
minh, có tích lũy, tức hành, có bám víu, tức ái,
có ôm giữ, tức thủ, có ý hướng, tức hữu.
Như vậy năm pháp này trong nghiệp hữu hiện tại là duyên
cho kiết sanh thức ở vị lai." (Ps. i, 52). Câu
"Ở đây, trong hữu hiện tại, với sự thuần thục của
sáu nội xứ" nêu rõ cái vọng tưởng tồn tại trong lúc
tạo nghiệp, nơi một người có các căn đã thuần thục.
Phần còn lại đã rõ nghĩa.
297. Và trong tương
lai 5 quả: là 5 chi khởi từ thức. Những món này
được diễn tả bằng một chữ sanh, nhưng già chết
là già chết của 5 món này. Do đó mà nói: "Trong tương
lai, có kiết sanh là thức, có nhập thai, là danh sắc,
có cảm tính, là xúc xứ, có cái được chạm, là xúc,
có cái được cảm giác, là thọ, như vậy 5 món này
trong sanh hữu tương lai có duyên của chúng là nghiệp được
làm trong hữu hiện tại." (Ps.i, 52). Vậy bánh xe
sanh tử này có 20 căm xe là những đặc tính trên.
298. Với ba vòng nó
quay bất tận (đ 288): Ở đây, hành và hữu là cái vòng
nghiệp, vô minh ái thủ là cái vòng hoặc, thức
danh sắc sáu xứ xúc thọ là cái vòng quả báo. Bánh
xe sanh tử có ba vòng ấy quay mãi, vì các duyên chưa dứt
khi hoặc chưa dứt.
4.
Linh Tinh
299.
Khi nó quay như vậy,
Về nguồn gốc trong bốn chân lý,
về nhiệm vụ, sự đề phòng, thí dụ,
Các loại sâu xa và những phương pháp,
Những điều trên cần được biết.
300. Giải: Về nguồn
gốc trong 4 chân lý: Thiện nghiệp và bất thiện nghiệp
được nói trong Saccuvibhanga (Vbh. 106) không phân
biệt, đều là nguồn gốc của khổ, và như vậy, hành
do duyên vô minh được nói trong câu "Do duyên vô minh,
có hành", thuộc chân lý thứ hai, với chân lý thứ
hai làm nguồn gốc. Thức do hành, thuộc chân lý thứ
nhất, với chân lý thứ hai làm nguồn gốc. Các món từ danh
sắc đến dị thục thọ, thuộc chân lý thứ nhất,
với chân lý thứ nhất làm nguồn gốc. Ái thuộc
chân lý thứ hai, với chân lý thứ hai làm nguồn gốc. Thủ
thuộc chân lý thứ hai, với chân lý thứ hai làm nguồn gốc.
Hữu thuộc chân lý thứ nhất và thứ hai, với chân
lý thứ hai làm nguồn gốc. Sanh là chân lý thứ nhất,
với chân lý thứ hai làm nguồn gốc. Già chết do sanh
thuộc chân lý thứ nhất, với chân lý thứ nhất làm nguồn
gốc.
Ðấy là thế nào Bánh
xe sanh tử cần được hiểu về phương diện "nguồn gốc
trong bốn chân lý".
301. Về nhiệm vụ, vô
minh làm cho các hữu tình rối ren về các đối tượng của
dục, và là một duyên cho sự biểu hiện các hành; cũng vậy
hành (nghiệp) tạo các hữu vi, là một duyên cho thức, thức
nhận biết sự vật là một duyên cho danh sắc, danh sắc củng
cố lẫn nhau và là duyên cho sáu xứ, sáu (nội) xứ sanh tương
ưng với sáu ngoại xứ và là duyên cho xúc. Xúc chạm đối
vật và là duyên cho thọ, thọ kinh nghiệm kích thích của
ngoại trần và là duyên cho ái, ái khát khao các đối tượng
gọi tham dục và là duyên cho thủ, thủ bám lấy sự vật gợi
tình vào các loại sanh, thú khác nhau, là duyên cho sanh, sanh
tạo ra các uẩn là duyên cho già chết, già chết bảo đảm
sự tan rã các uẩn, là duyên cho sự biểu hiện của hữu kế
tiếp, vì nó kéo theo sầu bi...
[Chú thích: Sầu
bi... được kể vào vô minh, nhưng tử tâm không có vô
minh, hành, nên không là duyên cho hữu kế tiếp, do đó
nói "vì nó kéo theo sầu bi"... -- Pm. 640].
Vậy Bánh xe sanh tử
này cần được hiểu là xảy ra theo hai lối về nhiệm vụ
thích ứng với mỗi phần của nó.
302. Về sự đề phòng:
Mệnh đề "Vô minh duyên hành" thiết lập để khỏi
thấy có người tạo tác, "Hành duyên thức" khởi
thấy sự luân chuyển của một tự ngã. "Thức duyên
danh sắc" để khởi có ảo tưởng về sự bền chắc,
vì nó phân tích rõ căn đế của cái được đoán mò là tự
ngã. Những mệnh đề khởi từ "Danh sắc duyên sáu xứ"
trở đi ngăn chận sự thấy cái tự ngã nhìn, nghe, ngửi, nếm,
nhận thức, xúc, cảm thọ, khát ái, chấp thủ, trở thành
sanh, già, chết. Vậy Bánh xe sanh tử này cần được hiểu
là ngăn ngừa sự thấy sai, tùy trường hợp.
303. Về thí dụ:
Vô minh như người mù, vì không thấy được đặc tính
chung và riêng của các pháp. Hành do duyên vô minh ví
như sự vấp của anh mù, thức do hành ví như sự té
xuống, danh sắc do thức ví như ung nhọt sanh, sáu xứ
như máu mủ tụ lại, xúc do duyên sáu xứ như đánh
vào chỗ máu tụ, thọ như cơn đau do bị đánh, ái
ví như sự khao khát một liều thuốc, thủ ví như vớ
nhằm thứ thuốc không hợp, hữu ví như đắp vào vết
thương thứ thuốc không hợp ấy, sanh ví như vết
thương thành trầm trọng do xức thuốc bậy, già chết
ví như ung nhọt vỡ ra sau khi biến đổi.
Hoặc, vô minh như
là "không lý thuyết", và "tà thuyết" (xem
đ. 52) làm mờ mịt loài hữu tình. Kẻ ngu bị mờ mịt vì
vô minh thì lao vào các hành tạo ra các hữu kế tiếp,
như con tằm nhả tơ làm kén. Thức do hành dẫn, tự
đặt mình vào các sanh thú, như một vương tử được vị
phụ chánh lập lên ngai vua, tử tâm đoán tướng tái sanh tạo
ra danh sắc với những khía cạnh khác nhau trong kiết
sanh, như nhà ảo thuật tạo huyền. Sáu xưù cắm vào
danh sắc mà trưởng thành, viên mãn như cụm rừng trên đất
tốt, xúc sanh từ sáu xứ nội, ngoại như lửa bén
khi cọ sát, thọ như người chạm lửa bị bỏng da, ái
tăng nơi người cảm thọ, như khát tăng nơi kẻ uống nước
muối. Một kẻ khát ái mong mỏi các loại hữu, như
khát thèm nước, đó là thủ, do chấp thủ nó bám
vào các hữu như cá căn câu vì ham mồi. Khi có hữu
thì có sanh, như có hạt thì có mầm mộng, và già
chết là điều chắc chắn khi đã sanh ra, như sự gãy đổ
là cái chắc đối với cây đã mọc.
304. Các loại sâu xa:
Lời đức Thế tôn "Lý thuyết sinh này: này A-nan,
thật sâu xa, sâu xa thay là lý duyên sanh này" (D. ii,
55) ám chỉ sự sâu sắc một là về nghĩa, hai về pháp,
ba về giáo lý, bốn về sự thâm nhập. Như vậy là các loại
sâu xa cần được hiểu về Bánh xe sanh tử.
305. Ý nghĩa "già
chết do sanh" là sâu xa, vì khó hiểu thấu nguồn gốc
già chết: Già chết không xuất phát từ sanh, mà nếu không
phải từ sanh, thì cũng không từ một cái gì khác; già chết
chỉ khởi từ sanh với độc một tính chất già chết mà
thôi. Ý nghĩa của sanh do duyên hữu vân vân, cho đến
hành do duyên vô minh cũng vậy. Bởi thế, Bánh xe sanh
tử là sâu sắc về nghĩa. Ðây là sự sâu xa về ý nghĩa,
vì chính quả của một cái nhân được gọi là nghĩa,
như Vibhanga nói: "Trí biết về quả của một
nhân thì gọi là biện tài về nghĩa" (Vbh. 293).
306. Ý nghĩa của vô
minh làm duyên cho hành là sâu xa, vì thật khó hiểu nỗi
theo sắc thái nào, vào cơ hội nào, vô minh là duyên cho các
hành đủ loại... Ý nghĩa của sanh duên già chết cũng sâu
xa tương tự như thế. Cho nên Bánh xe sanh tử là sâu xa về
pháp. Ðấy gọi là sự sâu xa về pháp, vì pháp chỉ cho
nguyên nhân, như Vibhanga nói: "Trí biết về nhân
là biện tài về pháp".
307. Giáo lý duyên khởi
này lại sâu xa ở chỗ nó cần được giảng theo nhiều cách,
vì nhiều lý do, và chỉ có bậc toàn tri mới hoàn toàn an lập
trong giáo lý ấy. Trong kinh điển, lý duyên khởi khi thì
được dạy theo chiều thuận, khi lại theo chiều nghịch, và
có khi cả thuận lẫn nghịch. Chỗ thì theo chiều thuận hay
nghịch khởi từ chặng giữa, chỗ thì chia làm bốn đoạn
với ba chỗ nối, chỗ chia ba đoạn với hai chỗ nối, chỗ
chia hai đoạn với một nối. Do vậy nói Bánh xe sanh tử là
sâu xa về cách giảng dạy. Ðấy là tính cách sâu xa về
giáo lý.
308. Kế tiếp, các tự
tánh của vô minh, vân vân, nhờ thâm nhập chúng mà người
ta thấu hiểu đúng các đặc tính, là sâu xa vì chúng khó
dò. Vì thế mà nói Bánh xe sanh tử này là sâu xa về sự
thâm nhập. Vì ở đây ý nghĩa của vô minh kể như sự
không biết, không thấy, không thâm nhập, các chân lý, ý
nghĩa ấy là sâu xa. Cũng sâu xa như vậy, ý nghĩa của hành
kể như tạo tác, tích lũy có tham hay không tham. Cũng sâu xa
như vậy, ý nghĩa của thức kể như trống rỗng, biểu
hiện kiết sanh chứ không phải "luân hồi". Cũng sâu
xa như vậy, ý nghĩa danh sắc là đồng thời sanh khởi,
kể như có uẩn hay không, nghiêng về một đối tượng và
bị quấy nhiễu. Cũng sâu xa như vậy, ý nghĩa của sáu xứ
là ưu thắng, thế gian, cửa, lĩnh vực và sở hữu các
đối tượng. Cũng sâu xa như vậy, là ý nghĩa của xúc kể
như sờ chạm, tiếp xúc, ngẫu hợp, gặp gỡ. Cũng sâu xa
như vậy, ý nghĩa của thọ kể như sự nếm trải kích
thích của một đối tượng lạc, khổ hay lưng chừng, kể
như vô ngã, kể như cái được cảm giác. Cũng sâu xa như vậy
là ý nghĩa của ái kể như sự thích thú, sự dấn
mình, như dòng nước, như cỏ dại, như dòng sông, như biển
ái, như cái không thể làm đầy. Cũng sâu xa như vậy, là
ý nghĩa của thuû kể như sự nắm bắt, chộp lấy, tà
giải, dính mắc, và khó vượt qua. Cũng sâu xa như vậy là
ý nghĩa của hữu kể như tích lũy, tạo tác, lao vào
các loại sanh, thú, trú và hữu tình cư. Cũng sâu xa như vậy
là ý nghĩa cũa sanh kể như sự ra đời, nhập thai, tái
sanh, hiển hiện. Cũng sâu xa như vậy là ý nghĩa của già
chết kể như hoại diệt, rơi rụng, tan rã, biến đổi.
Ðây là sự sâu xa về thâm nhập.
309. Lại nữa, có bốn
phương pháp đề cập ý nghĩa, là phương pháp Ðồng nhất,
phương pháp Dị biệt, phương pháp Vô can và phương pháp
Quy luật không thể tránh. Như vậy, Bánh xe sanh tử còn phải
được hiểu về phương diện này.
310. Sư không gián đoạn
trong dòng tương tục "Vô minh duyên hành, hành duyên thức...
" như tình trạng hạt giống thành mầm, mầm thành cây,
... gọi là phương pháp Ðồng nhất. Một người thấy một
cách chân chánh điều này, thì bỏ được đoạn kiến, nhờ
hiểu tính cách không gián đoạn của dòng tương tục nhân
quả. Người thấy sai thì bám lấy thường kiến do thấy đồng
nhất trong dòng tương tục không gián đoạn qua dây chuyền
nhân quả này.
311. Sự định rõ tự
tánh của vô minh vân vân, gọi là phương pháp Dị biệt.
Người thấy chân chánh điều này thì bỏ được thường
kiến do thấy sự sanh khởi cũa từng chi phần mới. Và người
nào thấy sai thì chấp đoạn kiến do nắm lấy từng cái dị
biệt trong chỗi biến cố tương tục, xem như có gián đoạn.
312. Sự vắng mặt của
tính cách "hữu ý" nơi vô minh, v.v... Chẳng hạn,
vô mih không nghĩ rằng, hành phải sanh từ nơi ta, hay hành cũng
không nghĩ "thức phải do ta sanh', v.v... gọi là phương
pháp Vô can. Người thấy được điều này thì bỏ được
ngã kiến do hiểu rằng không có người tạo tác. Thấy sai
thì chấp thủ tà kiến "Không có quả báo các nghiệp
thiện ác", vì không thấy vận hành nhân quả từ vô
minh, v.v... được thành lập như một định luật bởi những
tự tính của chúng.
313. Sự phát sanh của
hành do duyên vô minh, không do gì khác, của thức do hành,
không gì khác, v.v... như ván sanh từ sữa không đâu khác, gọi
là phương pháp Quy luật tất yếu không thể tranh. Người
thấy điều này thì bỏ được tà kiến vô nhân và tà kiến
"không có quả báo các nghiệp" nhờ hiểu rõ thế
nào quả phù hợp với duyên sanh ra nó. Người thấy sai, chấp
rằng không có cái gì sanh từ cái gì, thay vì hiểu rằng quả
sanh phù hợp với duyên của nó, thì bám vào tà kiến vô
nhân và thuyết định mệnh.
Vậy Bánh xe sanh tử
này
Về nguồn gốc trong bốn chân lý
Về nhiệm vụ, ngăn ngừa, ẩn dụ,
Các loại sâu xa, và phương pháp,
Cần được biết như trên.
314. Không có người nào,
ngay cả trong mộng, thoát được cái vòng sanh tử khủng khiếp
phá hoại này, như cơn sấm sét, trừ phi người ấy đã cắt
đứt bằng gươm tuệ khéo mài trên đá thiền định, cái
bánh xe sanh tử này, cái không chỗ đặt chân (để tìm hiểu)
do tính chất sâu xa của nó, và khó vượt qua vì sự mờ mịt
của nhiều phương pháp.
Và đức Thế Tôn đã
dạy như sau: "Này Ananda, sâu xa thay là lý duyên khởi.
Chính vì không biết, không thâm nhập lý ấy, mà thế giới
này đã thành một mớ bòng bong... không tìm thấy lối
thoát khỏi vòng sanh tử với các cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục." (D. ii, 55).
Bởi vậy, vì lợi ích
an lạc cho minh và người.
Bậc trí hãy thực hành với chánh niệm
Ðể có thể khởi sự tìm thấy
Một chỗ đặt chân trong các chiều sâu
Của lý duyên khởi này
Chương mười bảy này,
kết thúc phần "Mảnh đất cho tuệ tăng trưởng",
trong Luận về Tuệ tu tập, thuộc luận Thanh tịnh đạo,
được soạn để làm cho người lành hoan hỉ.
Bảng
I
BẢNG
LIỆT KÊ TÓM TẮT 89 LOẠI TÂM
I. THIỆN
|
DỤC
GIỚI
CÓ 8 |
1. |
Câu hữu hỉ |
tương ưng trí |
không cần nhắc |
|
2. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
3. |
-nt- |
không tương ưng
trí |
không cần nhắc |
|
4. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
5. |
Câu hữu xả |
tương ưng trí |
không cần nhắc |
|
6. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
7. |
-nt- |
không tương ưng
trí |
không cần nhắc |
|
8. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
SẮC
GIỚI
CÓ
5 |
9. |
Sơ thiền |
|
10. |
Nhị thiền |
|
11. |
Tam thiền |
|
12. |
Tứ thiền |
|
13. |
Ngũ thiền (tốc hành
tâm chứng thiền) |
|
VÔ
SẮC
GIỚI
CÓ
4 |
14. |
Không vô biên |
|
15. |
Thức vô biên |
|
16. |
Vô sở hữu xứ |
|
17. |
Phi tưởng phi phi tưởng xứ (chứng định) |
|
SIÊU
THẾ
CÓ
4 |
18. |
Dự lưu đạo |
|
19. |
Nhất lai đạo |
|
20. |
Bất hoàn đạo |
|
21. |
A la hán đạo (sát na chứng đạo) |
Tổng kết thiện tâm cả
4 cõi có 21
II.
BẤT THIỆN (chỉ có ở Dục giới)
|
Gốc
ở
THAM: 8 |
22. |
Câu hữu hỉ |
tương ưng tà kiến |
không cần nhắc |
|
23. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
24. |
-nt- |
không tương ưng tà
kiến |
không cần nhắc |
|
25. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
26. |
Câu hữu xả |
tương ưng tà kiến |
không cần nhắc |
|
27. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
28. |
-nt- |
không tương ưng tà
kiến |
không cần nhắc |
|
29. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
Gốc ở
SÂN: 2 |
30. |
Câu hữu ưu |
tương ưng hận |
không cần nhắc |
|
31. |
-nt- |
-nt- |
cần nhắc |
|
Gốc ở
SI: 2 |
32. |
Câu hữu xả |
tương ưng nghi |
|
|
33. |
Câu hữu xả |
tương ưng trạo cử |
|
Tổng cộng bất thiện
tâm có 12
III.
BẤT ĐỊNH
A. DỤC GIỚI
1a. THIỆN DỊ THỤC
|
34-38 |
nhãn... thân thức,
lạc |
vô nhân |
|
39 |
(tiếp thọ) ý giới |
vô nhân |
|
40 |
(suy đạt) ý thức giới câu hữu hỉ |
vô nhân |
|
41 |
(suy đạt, sở duyên,
câu hữu hỉ kiết sanh, Hữu phần, tử)
ý thức giới câu hữu xả |
vô nhân |
|
42-49 |
thiện dục giới
(giống tâm 1-8),
ở Ðồng sở Duyên, Kiết sanh |
hữu nhân |
1b. THIỆN DUY TÁC
|
70 |
Ý giới (ngũ môn
hướng). |
vô nhân |
|
71 |
Ý thức giới,
câu hữu với xả (5 môn hướng, xác định tâm, ý môn
hướng) |
vô nhân |
|
72 |
Ý thức giới (tốc
hành tâm) |
vô nhân |
|
73-80 |
Giống như thiện
tâm ở Dục giới (1-8), tốc hành tâm, nhưng khởi nơi
vị A la hán. |
hữu nhân |
2. BẤT THIỆN DỊ
THỤC (CHỈ CÓ VÔ NHÂN)
|
50-54 |
nhãn nhĩ tỉ thiệt
thân thức, khổ |
|
55 |
ý giới (tiếp thọ) |
|
56 |
ý thức giới (suy
đạt, Ðồng sở Duyên, Kiết sanh, Hữu phần, tử) |
B. SẮC GIỚI
|
57-61 |
năm thiền tâm như
Tâm 9-13, ở kiết sanh, hữu phần, tử tâm tốc hành, dị
thục. |
|
81-85 |
như Tâm 9-13, duy
tác, khởi nơi vị A la hán. |
C. VÔ SẮC GIỚI
|
62-65 |
bốn Ðịnh vô sắc,
như Tâm14-17, ở Kiết Sanh, Hữu phần, tử tâm tốc
hành, dị thục |
|
86-89 |
như Tâm 14-17, duy
tác, khởi nơi vị A la hán. |
D. SIÊU THẾ
|
66 |
Dự lưu quả (sát
na chứng quả) |
|
67 |
Nhất lai quả
(sát na chứng quả) |
|
68 |
Bất hoàn quả
(sát na chứng quả) |
|
69 |
A la hán quả (sát
na chứng quả) |
Tổng kết: Dị thục
tâm có 36 thuộc cả 4 cõi; Duy tác tâm có 20, trong đó mười
tám tâm - từ 72 đến 89 - chỉ có ở bậc A-la-hán.
-ooOoo-
Bảng
II
LỘ
TRÌNH TÂM
|
Vị Trí |
Ý Giới |
Ý Thức |
Thức Giới |
Câu Hữu với |
Ðối Chiếu Bảng
Số I - Loại Tâm |
Lộ Trình ở Ngũ
Môn |
Lộ Trình ở Ý
Môn |
|
1 |
Dị thục |
|
|
|
1 trong 19 Loại
|
Hữu Phần
Hữu Phần Rung Ðộng |
Hữu Phần
Hữu Phần chuyển |
|
2 |
Dị Thục |
|
|
|
|
3 |
|
Duy Tác |
|
Xả |
70 |
5 môn hướng
Thấy, nghe, ngửi,
nếm
Nhận
Sở suy đạt tâm
|
|
|
4 |
|
|
Duy tác |
Hỉ (lạc) hay Ưu
(khổ) |
(34-38)
(50-54) |
|
5 |
|
Dị thục |
Duy tác |
Xả |
(39 - 55) |
|
6 |
Dị thục |
|
|
Hỷ hay Xả hay Ưu |
(40,41)
(56) |
|
7 |
Duy tác |
|
|
Xả |
(71) |
Xác Ðịnh tâm |
Ý môn hướng |
|
8 |
1. Nghiệp
2. Dị thục hay
Duy tác mà thôi
3. Duy tác ở
A-la-hán |
|
|
1. Lạc hay Xả hay
Ưu
2. Lạc hay Xả hay
Ưu
3. Lạc hay Xả |
Một trong 55 loại |
Tốc hành tâm |
Tốc hành tâm |
|
9 |
|
10 |
|
11 |
|
12 |
|
13 |
|
14 |
|
15 |
Dị Thục |
|
|
Lạc hay Xả |
(40 - 49)
(56) |
Ðồng sở chuyên
(chỉ ở Dục Giới) |
Ðồng sở chuyên
(chỉ ở Dục Giới) |
|
16 |
|
17 |
Dị Thục |
|
|
|
như trên |
Hữu phần |
Hữu phần |
*Hỉ thuộc tâm
(34)-(37) và thân lạc (38); tâm Ưu (50)-(53) và thân Khổ (54),
tốc hành tâm thứ nhất (nghiệp) cho quả báo ngay đời này
(hiện báo), tốc hành tâm thứ bảy cho quả báo đời kế
tiếp, gồm cả kiết sanh thức. Tốc hành tâm thứ hai đến
sáu (9 đến 13 ở bảng kê trên) cho quả báo ở các đời
sau nữa (hậu báo).
---o0o---
Mục lục
| 01 | 02
| 03 | 04
| 05 | 06
| 07 | 08
| 09 | 10
11 |
12
| 13 | 14
| 15 | 16
| 17 | 18
| 19 | 20
| 21 | 22
| 23
---o0o---
|
Thư
Mục Tác Giả |
---o0o---
Source: BuddhaSasana (www.budsas.org)
---o0o---