---o0o---
Tập 3
Cuốn 47
Kinh:
Lại nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát
Ðại thừa gọi là Tam muội Thủ Lăng nghiêm, Tam muội Bảo ấn, Tam
muội Sư tử du ký, Tam muội Diệu nguyệt, Tam muội Nguyệt tràng
tướng, Tam muội Xuất chư pháp, Tam muội Quán đảnh, Tam muội Tất
pháp tánh, Tam muội Tất tràng tướng, Tam muội Kim cang, Tam muội
Nhập pháp ấn, Tam muội Vương an lập Tam muội, Tam muội Phóng
quang, Tam muội Lực tiến, Tam muội Cao xuất, Tam muội Tất nhập
biện tài, Tam muội Thích danh tự, Tam muội Quán phương, Tam muội
Ðà la ni ấn, Tam muội Vô cuống, Tam muội Nhiếp chư pháp hải, Tam
muội Biến phú hư không, Tam muội Kim cang luân, Tam muội Bảo
đoạn, Tam muội Năng chiếu, Tam muội Bất cầu, Tam muội Vô trú,
Tam muội Vô tâm, Tam muội Tịnh đăng, Tam muội Vô biên minh, Tam
muội Năng tác minh, Tam muội Phổ chiếu minh, Tam muội Kiên tịnh
chư Tam muội, Tam muội Vô cấu minh, Tam muội Hoan hỷ, Tam muội
Ðiển quang, Tam muội Vô tận, Tam muội Oai đức, Tam muội ly tận,
Tam muội Bất động, Tam muội Bất thối, Tam muội Nhật đăng, Tam
muội Nguyệt tịnh, Tam muội Tịnh minh, Tam muội Năng tác minh,
Tam muội Tác hành, Tam muội Biết tướng, Tam muội Như Kim cang,
Tam muội Tâm trú, Tam muội Phổ minh, Tam muội An lập, Tammuội
Bảo tụ, Tam muội Diệu pháp ấn, Tam muộiPháp đẳng, Tam muội Ðoạn
hỷ, Tam muội Ðáo pháp đảnh,
Tam muội Năng tán, Tam muội Phân biệt chư
pháp cú, Tam muội Tự đẳng tướng, Tam muội Ly tự, Tam muội Ðoạn
duyên, Tam muội Bất hoại, Tam muội Vô chủng tướng, Tam muội Vô
xứ hành, Tam muội Ly mông muội, Tam muội Vô khứ, Tam muội Bất
biến dị, Tam muội Ðộ duyên, Tam muội Tập chư công đức, Tam muội
Trú vô tâm, Tam muội Tịnh diệu hoa, Tam muội Giác ý, Tam muội Vô
lượng biện, Tam muội Vô đẳng đẳng, Tam muội Ðộ chư pháp, Tam
muội Phân biệt chư pháp, Tam muội Tán nghi, Tam muội Vô trú xứ,
Tam muội Nhất trang nghiêm, Tam muội Sinh hành, Tam muội Nhất
hành, Tam muội Bất nhất hành, Tam muội Diệu hành, Tam muội Ðạt
nhầt thiết hữu để tán, Tam muội Nhập danh ngữ, Tam muội Ly âm
thanh tự ngữ, Tam muội Nhiên cự, Tam muội Tịnh tướng, Tam muội
Phá tướng, Tam muội Nhất thiết chủng diệu túc, Tam muội Bất hỷ
khổ lạc, Tam muội Vô tận tướng, Tam muội Ða Ðà la ni, Tam muội
Nhiếp chư tà chánh tướng, Tam muội Diệt tăng ái, Tam muội Nghịch
thuận, Tam muội Tịnh quang, Tam muội Kiên cố, Tam muội Mãn
nguyệt tịnh quang, Tam muội Ðại trang nghiêm, Tam muội Năng
chiếu nhất thiết thế, Tam muội Ðẳng Tam muội, Tam muội Nhiếp
nhất thiết hữu tránh vô tránh, Tam muội Bất lạc nhất thiết trú
xứ, Tam muội Như trú định, Tam muội Hoại thân suy, Tam muội Hoại
ngữ như hư không, Tam muội Ly trước hư không bất nhiễm.
Sao gọi là Tam muội Thủ Lăng nghiêm? Biết
chỗ thi hành của các Tam muôi, gọi là Tam muội Thủ Lăng nghiêm.
Sao gọi là Tam muội Bảo ấn? Trú ở Tam muội
ấy có thể trung ấn nhập các Tam muội khác, gọi là Tam muội Bảo
ấn.
Sao gọi là Tam muội Sư tử du hý? Trú ở Tam
muội ấy có thể dạo chơi trong các Tam muội như Sư tử, gọi là
Tam muội Sư tử du hý.
Sao gọi là Tam muội Diệu nguyệt? Trú ở Tam
muội ấy có thể chiếu soi các Tam muội như trăng trong, gọi là
Tam muội Diệu nguyệt.
Sao gọi là Tam muội Nguyệt tràng tướng?
Trú ở Tam muội ấy có thể giữ gìn các tướng Tam muội, gọi là Tam
muội Nguyệt tràng tướng.
Sao gọi là Tam muội Xuất chư pháp? Trú ở
Tam muội ấy có thể xuất sinh các Tam muội. gọi là Tam muội Xuất
chư pháp.
Sao gọi là Tam muội Quán đảnh? Trú ở Tam
muội ấy có thể quán xem các chú đảnh Tam muội, gọi là Tam muội
Quán đảnh.
Sao gọi là Tam muội Tất pháp tánh? Trú ở
Tam muội ấy quyết định biết pháp tánh, gọi là Tam muội Tất pháp
tánh.
Sao gọi là Tam muội Tất tràng tướng? Trú ở
Tam muội ấy có thể giữ gìn các Tam muội tràng, gọi là Tam muội
Tất tràng tướng.
Sao gọi là Tam muội Kim cang? Trú ở Tam
muội ấy có thể phá các Tam muội, gọi là Tam muội Kim cang.
Sao gọi là Tam muội Nhập pháp ấn? Trú ở
Tam muội ấy nhập vào các pháp ấn, gọi là Tam muội Nhập pháp ấn.
Sao gọi là Tam muội Vương an lập Tam muội?
Trú ở Tam muội ấy thì an lập trú trong các tam muội như vua, gọi
là Tam muội Vương an lập Tam muội.
Sao gọi là Tam muội Phóng quang? Trú ở Tam
muội ấy có thể phóng ánh sáng chiếu các Tam muội, gọi là Tam
muội Phóng quang.
Sao gọi là Tam muội Lực tiến? Trú ở Tam
muội ấy có thể làm thế lực đối với các Tam muội, gọi là Tam muội
Lực tiến.
Sao gọi là Tam muội Cao xuất? Trú ở Tam
muội ấy có thể tăng trưởng các Tam muội, gọi là Tam muội Cao
xuất.
Sao gọi là Tam muội Tất nhập biện tài? Trú
ở Tam muội ấy có thể biện thuyết các Tam muội, gọi là Tam muội
Tất nhập biện tài.
Sao gọi là Tam muội Thích danh tự? Trú ở
Tam muội ấy có thể giải thích danh tự các Tam muội, gọi là Tam
muội Thích danh tự.
Sao gọi là Tam muội Quán phương? Trú ở Tam
muội ấy có thể quán sát các phương Tam muội, gọi là Tam muội
Quán phương.
Sao gọi là Tam muội Ðà la ni ấn? Trú ở Tam
muội ấy giữ gìn các Tam muội ấy, gọi là Tam muội Ðà la ni ấn.
Sao gọi là Tam muội Vô cuống? Trú ở Tam
muội ấy không khi dối dối với các Tam muội, gọi là Tam muội Vô
cuống.
Sao gọi là Tam muội Nhiếp chư pháp hải?
Trú ở Tam muội ấy, có thể thu nhiếp các Tam muội như nước biển
lớn, gọi là Tam muội Nhiếp chư pháp hải.
Sao gọi là Tam muội Biến phú hư không? Trú
ở Tam muội ấy, khắp trùm các Tam muội như hư không, gọi là Tam
muội Biến phú hư không.
Sao gọi là Tam muội Kim cang luân? Trú ở
Tam muội ấy, có thể giữ gìn phần các Tam muội, gọi là Tam muội
Kim cang luân.
Sao gọi là Tam muội Bảo đoạn? Trú ở Tam
muội ấy, dứt nhơ cấu phiền não nơi các Tam muội, gọi là Tam muội
Bảo đoạn.
Sao gọi là Tam muội Năng chiếu? Trú ở Tam
muội ấy, có thể lấy ánh sáng chiếu rõ các Tam muội; gọi là Tam
muội Năng chiếu.
Sao gọi là Tam muội Bất cầu? Trú ở Tam muội
ấy, không pháp gì không cầu, gọi là Tam muội Bất cầu.
Sao gọi là Tam muội Vô trú? Trú ở Tam muội
ấy không thấy pháp trú trong hết thảy Tam muội, gọi là Tam
muội Vô trú.
Sao gọi là Tam muội Vô tâm? Trú ở Tam muội
ấy tâm tâm số pháp không hiện hành; gọi là Tam muội Vô tâm.
Sao gọi là Tam muội Tịnh đăng? Trú ở Tam
muội ấy làm sáng như đèn nơi các Tam muội, gọi là Tam muội
Tịnh đăng.
Sao gọi là Tam muội Vô biên minh? Trú ở Tam
muội ấy làm ánh sáng vô biên cho các Tam muội, gọi là Tam muội
Vô biên minh.
Sao gọi là Tam muội Năng tác minh? Trú ở
Tam muội ấy tức thời làm ánh sáng cho các Tam muội, gọi là Tam
muội Năng tác minh.
Sao gọi là Tam muội Phổ chiếu minh? Trú ở
tam muội ấy có thể chiếu rõ các cửa Tam muội, gọi là Tam muội
Phổ chiếu minh.
Sao gọi là Tam muội Kiên tịnh chư Tam muội?
Trú ở Tam muội ấy, có thể làm kiên tịnh các tướng Tam muội,
gọi là Tam muội Kiên tịnh chư Tam muội.
Sao gọi là Tam muội Vô cấu minh? Trú ở Tam
muội ấy, có thể trừ cấu nhiễm của các Tam muội; cũng có thể
chiếu hết thảy Tam muội, gọi là Tam muội Vô cấu minh.
Sao gọi là Tam muội Hoan hỷ? Trú ở Tam muội
ấy có thể lãnh thọ cái mừng của các Tam muội, gọi là Tam muội
Hoan hỷ.
Sao gọi là Tam muội Ðiển quang? Trú ở Tam
muội ấy chiếu các Tam muội như điện sáng, gọi là Tam muội Ðiển
quang.
Sao gọi là Tam muội Vô tận? Trú ở Tam muội
ấy đối với các Tam muội chẳng thấy cùng tận, gọi là Tam muội Vô
tận.
Sao gọi là Tam muội Oai đức? Trú ở Tam
muội ấy đối các Tam muội uy đức chiếu rõ, gọi là Tam muội Oai
đức.
Sao gọi là Tam muội Ly tận? Trú ở Tam muội
ấy không thấy các Tam muội cùng tận, gọi là Tam muội Ly tận.
Sao gọi là Tam muội Bất động? Trú ở Tam
muội ấy, khiến các Tam muội không động, không đùa bỡn, gọi là
Tam muội Bất động.
Sao gọi là Tam muội Bất thối? Trú ở Tam
muội ấy, có thể không thấy các Tam muội thối, gọi là Tam muội
Bất thối.
Sao gọi là Tam muội Nhật đăng? Trú ở Tam
muội ấy phóng ánh sáng chiếu các môn Tam muội; gọi là Tam muội
Nhật đăng.
Sao gọi là Tam muội Nguyệt tịnh?Trú ở Tam
muội ấy có thể trừ bóng tối nơi các Tam muội, gọi là Tam muội
Nguyệt tịnh.
Sao gọi là Tam muội Tịnh minh? Trú ở Tam
muội ấy, được bốn trí vô ngại đối với các Tam muội, gọi là Tam
muội Tịnh minh.
Sao gọi là Tam muội Năng tác minh? Trú ở
Tam muội ấy, hay làm sáng các môn Tam muội, gọi là Tam muội Năng
tác minh.
Sao gọi là Tam muội Tác hành? Trú ở Tam
muội ấy hay khiến các Tam muội mỗi mỗi có tác động, gọi là Tam
muội Tác hành.
Sao gọi là Tam muội Tri tướng? Trú ở Tam
muội ấy thấy tướng biết của các Tam muội. gọi là Tam muội Tri
tướng.
Sao gọi là Tam muội như Kim cang? Trú ở
Tam muội ấy hay xuyên suốt các pháp, cũng không thấy xuyên suốt,
gọi là Tam muội như Kim cang.
Sao gọi là Tam muội Tâm trú? Trú ở Tam
muội ấy tâm không động, không chuyển không não, cũng không nghĩ
có tâm ấy, gọi là Tam muội Tâm trú.
Sao gọi là Tam muội Phổ minh? Trú ở Tam
muội ấy khắp thấy ánh sáng các Tam muội, gọi là Tam muội Phổ
minh.
Sao gọi là Tam muội An lập? Trú ở Tam muội
ấy đối với các Tam muội an lập chẳng động, gọi là Tam muội An
lập.
Sao gọi là Tam muội Bảo tụ? Trú ở Tam muội
ấy khắp thấy các Tam muội như thấy báu tích tụ, gọi là Tam muội
Bảo tụ.
Sao gọi là Tam muội Diệu pháp ấn? Trú ở
Tam muội ấy hay ấn nhập các Tam muội, vì vô ấn ấn nhập vậy, gọi
là Tam muội Diệu pháp ấn.
Sao gọi là Tam muội Pháp đẳng? Trú ở Tam
muội ấy quán xem các pháp bình đẳng, không pháp gì không bình
đẳng; gọi là Tam muội Pháp đẳng.
Sao gọi là Tam muội Ðoạn hỷ? Trú ở Tam
muội ấy dứt sự mừng trong hết thảy pháp, gọi là Tam muội Ðoạn
hỷ.
Sao gọi là Tam muội Ðáo pháp đảnh? Trú ở
Tam muội ấy dứt các ám muội đối với pháp, cũng ở trên các Tam
muội, gọi là Tam muội Ðáo pháp đảnh.
Sao gọi là Tam muội Năng tán? Trú ở Tam
muội ấy, hay phá tán các pháp, gọi là Tam muội Năng tán.
Sao gọi là Tam muội Phân biệt chư pháp cú?
Trú ở Tam muội ấy phân biệt các pháp cú của các Tam muội, gọi là
Tam muội Phân biệt chư pháp cú.
Sao gọi là Tam muội Tự đẳng tướng? Trú ở
Tam muội ấy, được các danh tự Tam muội, gọi là Tam muội Tự đẳng
tướng.
Sao gọi là Tam muội Ly tự? Trú ở Tam muội
ấy cho đến chẳng thấy một chữ trong các Tam muội, gọi là Tam
muội Ly tự.
Sao gọi là Tam muội Ðoạn duyên? Trú ở Tam
muội ấy dứt các duyên Tam muội, gọi là Tam muội Ðoạn duyên.
Sao gọi là Tam muội Bất hoại? Trú ở Tam
muội ấy chẳng được các pháp biến dị; gọi là Tam muội Bất hoại.
Sao gọi là Tam muội Vô chủng tướng? Trú ở
Tam muội ấy chẳng thấy chủng chủng pháp, gọi là Tam muội Vô
chủng tướng.
Sao gọi là Tam muội Vô xứ hành? Trú ở Tam
muội ấy không thấy nơi chỗ của Tam muội, gọi là Tam muội Vô xứ
hành.
Sao gọi là Tam muội Ly mông muội? Trú ở
Tam muội ấy lìa các tối tăm vi tế của Tam muội, gọi là Tam muội
Ly mông muội.
Sao gọi là Tam muội Vô khứ? Trú ở Tam muội
ấy không thấy tướng đi của hết thảy Tam muội, gọi là Tam muội Vô
khứ.
Sao gọi là Tam muội Bất biến dị? Trú ở Tam
muội ấy không thấy tướng biến dị của các Tam muội, gọi là Tam
muội Bất biến dị.
Sao gọi là Tam muội Ðộ duyên? Trú ở Tam
muội ấy độ khỏi cảnh giới duyên của hết thảy Tam muội, gọi là
Tam muội Ðộ duyên.
Sao gọi là Tam muội Tập chư công đức? Trú
ở Tam muội ấy nhóm các công đức Tam muội, gọi là Tam muội Tập
chư công đức.
Sao gọi là Tam muội Trú vô tâm? Trú ở Tam
muội ấy, tâm không nhập vào các Tam muội, gọi là Tam muội Trú vô
tâm.
Sao gọi là Tam muội Tịnh diệu hoa? Trú ở
Tam muội ấy khiến các Tam muội được sáng sạch như hoa, gọi là
Tam muội Tịnh diệu hoa.
Sao gọi là Tam muội Giác ý? Trú ở Tam muội
ấy được bảy giác phần trong các Tam muội, gọi là Tam muội Giác
ý.
Sao gọi là Tam muội Vô lượng biện?Trú ở
Tam muội ấy được biện tài vô lượng đối với các pháp, gọi là Tam
muội Vô lượng biện.
Sao gọi là Tam muội Vô đẳng đẳng? Trú ở
tam muội ấy được tướng vô đẳng đẳng trong các Tam muội, gọi là
Tam muội Vô đẳng đẳng.
Sao gọi là Tam muội Ðộ chư pháp? Trú ở Tam
muội ấy vượt khỏi hết thảy cõi Tam muội, gọi là Tam muội Ðộ chư
pháp.
Sao gọi là Tam muội phân biệt chư pháp?
Trú ở Tam muội ấy phân biệt thấy các Tam muội và các pháp, gọi
là Tam muội phân biệt chư pháp.
Sao gọi là Tam muội Tán nghi? Trú ở Tam
muội ấy được tán hoại việc nghi đối với các pháp, gọi là Tam
muội Tán nghi.
Sao gọi là Tam muội Vô trú xứ? Trú ở Tam
muội ấy không thấy trú xứ các pháp, gọi là Tam muội Vô trú xứ.
Sao gọi là Tam muội Nhất trang nghiêm? Trú
ở Tam muội ấy trọn không thấy các pháp hai tướng, gọi là Tam
muội Nhất trang nghiêm.
Sao gọi là Tam muội Sinh hành? Trú ở Tam
muội ấy không thấy các hành sinh khởi, gọi là Tam muội Sinh
hành.
Sao gọi là Tam muội Nhất hành? Trú ở Tam
muội ấy không thấy bờ này bờ kia của các Tam muội, gọi là Tam
muội Nhất hành.
Sao gọi là Tam muội Bất nhất hành? Trú ở
Tam muội ấy không thấy các Tam muội một tướng, gọi là Tam muội
Bất nhất hành.
Sao gọi là Tam muội Diệu hành? Trú ở Tam
muội ấy không thấy các Tam muội hai tướng, gọi là Tam muội Diệu
hành.
Sao gọi là Tam muội Ðạt nhất thiết hữu để
tán? Trú ở Tam muội ấy nhập vào hết thảy hữu, hết thảy trí tuệ
Tam muội, thông đạt cũng không chỗ thông đạt, gọi là Tam muội
Ðạt nhất thiết hữu để tán.
Sao gọi là Tam muội Nhập danh ngữ? Trú ở
Tam muội ấy vào hết thảy danh tự ngữ ngôn các Tam muội, gọi là
Tam muội Nhập danh ngữ.
Sao gọi là Tam muội Ly âm thanh tự ngữ?
Trú ở Tam muội ấy không thấy các âm thanh danh tự ngữ ngôn Tam
muội, gọi là Tam muội Ly âm thanh tự ngữ.
Sao gọi là Tam muội Nhiên cự? Trú ở Tam
muội ấy oai đức chiếu sáng như đuốc; gọi là Tam muội Ðốt đuốc.
Sao gọi là Tam muội Tịnh tướng? Trú ở Tam
muội ấy sạch các tướng Tam muội, gọi là Tam muội Tịnh tướng.
Sao gọi là Tam muội Phá tướng? Trú ở Tam
muội ấy không thấy các tướng Tam muội, gọi là Tam muội Phá
tướng.
Sao gọi là Tam muội Nhất thiết chủng diệu
túc ? Trú ở Tam muội ấy hết thảy Tam muội chủng đều đầy đủ, gọi
là Tam muội Nhất thiết chủng diệu túc.
Sao gọi là Tam muội Bất hỷ khổ lạc? Trú ở
Tam muội ấy không tah61y khổ vui của các Tam muội, gọi là Tam
muội Bất hỷ khổ lạc.
Sao gọi là Tam muội Vô tận tướng? Trú ở
Tam muội ấy không thấy tướng cùng tận của các Tam muội, gọi là
Tam muội Vô tận tướng.
Sao gọi là Tam muội Ða Ðà la ni? Trú ở Tam
muội ấy hay giữ gìn các Tam muội; gọi là Tam muội Ða đà la ni.
Sao gọi là Tam muội Nhiếp chư tà chánh
tướng? Trú ở Tam muội ấy không thấy tướng tà chánh nơi các Tam
muội; gọi là Tam muội Nhiếp chư tà chánh tướng.
Sao gọi là Tam muội Diệt tăng ái? Trú ở
Tam muội ấy không thấy ghét thương các Tam muội, gọi là Tam muội
Diệt tăng ái.
Sao gọi là Tam muội Nghịch thuận? Trú ở
Tam muội ấy, không thấy các pháp các Tam muội nghịch thuận, gọi
là Tam muội Nghịch thuận.
Sao gọi là Tam muội Tịnh quang? Trú ở Tam
muội ấy không thấy các Tam muội sáng, nhơ, gọi là Tam uội Tịnh
quang.
Sao gọi là Tam muội Kiên cố? Trú ở Tam
muội ấy, chẳng đặng các Tam muội không kiên cố, gọi là Tam muội
Kiên cố.
Sao gọi là Tam muội Mãn nguyệt tịnh quang?
Trú ở Tam muội ấy, các Tam muội tròn đầy như trăng rằm, gọi là
Tam muội Mãn tịnh quang.
Sao gọi là Tam muội Ðại trang nghiêm? Trú
ở Tam muội ấy đại trang nghiêm thành tựu các Tam muội, gọi là
Tam muội Ðại trang nghiêm.
Sao gọi là Tam muội Năng chiếu nhất thiết
thế? Trú ở Tam muội ấy, hay chiếu các pháp và các Tam muội, gọi
là Tam muội Năng chiếu nhất thiết thế.
Sao gọi là Tam muội Ðẳng Tam muội? Trú ở
Tam muội ấy không thấy tướng định loạn đối với các Tam muội; gọi
là Tam muội Ðẳng Tam muội.
Sao gọi là Tam muội Nhiếp nhất thiết hữu
tránh vô tránh? Trú ở Tam muội ấy hay khiến các Tam muội không
phân biệt hữu tránh vô tránh, gọi là Tam muội Nhiếp nhất thiết
hữu tránh vô tránh.
Sao gọi là Tam muội Bất lạc nhất thiết trú
xứ? Trú ở Tam muội ấy không thấy chỗ nương tựa của các Tam muội,
gọi là Tam muội Bất lạc nhất thiết trú xứ.
Sao gọi là Tam muội Như trú định? Trú ở
Tam muội ấy không vượt qua như tướng của các Tam muội, gọi là
Tam muội Như trú định.
Sao gọi là Tam muội Hoại thân suy? Trú ở
Tam muội ấy không thủ đắc thân tướng, gọi là Tam muội Hoại thân
suy.
Sao gọi là Tam muội Hoại ngữ như hư không?
Trú ở Tam muội ấy không thấy ngữ nghiệp của các Tam muội như hư
không, gọi là Tam muội Hoại ngữ như hư không.
Sao gọi là Tam muội Ly trước hư không bất
nhiễm? Trú ở Tam muội ấy thấy các pháp như hư không vô ngại,
cũng không ô nhiễm, gọi là Tam muội Ly trước hư không bất nhiễm.
Tu bồ đề! Ấy gọi là Ma ha Diễm của Bồ tát
ma ha tát.
LUẬN:
Trên lấy mười tám không giải thích Bát nhã ba la mật, nay lấy
108 Tam muội giải thích Bát nhã ba la mật. 108 Tam muội, Phật
tự nói nghĩa đó, lúc ấy người vì lợi căn nghe nói đều được tin
hiểu. Nay thời không được như vậy, nên luận giả giải thích lại
nghĩa ấy, khiến cho dễ hiểu.
Tam muội Thủ Lăng nghiêm
Trung Hoa dịch là Kiện tướng, phân biệt. Biết hành tướng các Tam
muội nhiều ít sâu cạn, như đại tướng biết các binh lực nhiều ít.
Lại nữa Bồ tát được Tam muội ấy, các ma
phiền não và người ma không làm hoại được; ví như hảo tướng
chủ binh của Chuyển luân Thánh vương, những chỗ đi đến đều
hàng phục.
Tam muội Bảo ấn
là hay ấn hợp các Tam muội. Trong các thứ
báu, pháp báu là thật báu, hay làm lợi ích đời này đời sau cho
đến Niết bàn. Như trong Kinh nói: Phật bảo Tỳ kheo! Ta sẽ vì
ngươi thuyết pháp, pháp được nói là pháp ấn, pháp ấn tức là Bảo
ấn, Bảo ấn tức là cửa giải thoát.
Lại nữa, có người nói ba pháp ấn là Tam muội
Bảo ấn; hết thảy pháp vô ngã, hết thảy tác pháp (hành) vô
thường, tịch diệt Niết bàn. Ba pháp ấn ấy, hết thảy trời người
không thể đúng như pháp phá hoại được. Vào Tam muội ấy, có thể
ba cách quán các pháp, ấy gọi là Bảo ấn.
Lại nữa, Bát nhã la mật là báu, Tam muội
tương ưng Bát nhã gọi là ấn, ấy gọi là Bảo ấn.
Tam muội sư tử du hý
là Bồ tát được Tam muội ấy, thời ra vào hết thảy Tam muội mau
chậm đều được tự tại; thí như khi các con thú giỡn chơi, nếu
thấy Sư tử thảy đều sợ hãi, còn khi Sư tử giỡn chơi thời tự tại
không sợ gì hết.
Lại nữa, khi Sư tử giỡn chơi đối với các con
thú, con mạnh thì giết, con sợ nép thì tha. Bồ tát cũng như vậy,
được Tam muội ấy đối với các ngoại đạo, hễ kẻ cương cường thì
phá, kẻ tín phục thời độ cho.
Lại nữa, Sư tử giỡn chơi là như trong phẩm
đầu nói: Bồ tát vào Tam muội ấy có thể làm quả đất chấn động sáu
cách, làm cho hết thảy mười phương thế giới địa ngục nóng lạnh,
kẻ mù được thấy, người điếc được nghe v.v...
Tam muội Diệu nguyệt
là như trăng tròn trong sạch không có các chướng che, có thể trừ
đêm tối. Tam muội này cũng như vậy. Bồ tát vào Tam muội ấy, hay
trừ các tà kiến và vô minh che tối đối với các pháp.
Tam muội Nguyệt tràng tướng
là như vị tướng của đại quân lấy tràng báu làm tượng mặt trăng,
hễ thấy tướng tràng ấy, người đều đi theo. Bồ tát vào trong Tam
muội ấy, thông đạt các pháp không ngăn ngại, thảy đều đi theo.
Tam muội Xuất như pháp
là Bồ tát được Tam muội ấy thời làm cho các
Tam muội tăng trưởng; thí như mưa đúng thời, rừng cây tươi tốt.
Tam muội Quán đảnh
là vào Tam muội ấy thời thấy được khắp Tam muội; như ở trên chóp
núi, thấy hết mọi vật.
Tam muội Tất pháp tánh
là pháp tánh không lượng không hai, khó có thể nắm giữ, vào Tam
muội ấy, chắc chắn được định tướng; thí như hư không, không thể
cư trú, được lực thần túc, thời có thể ở được.
Tam muội Tất tràng tướng
là vào Tam muội ấy thời rất tôn trưởng đối với các Tam muội; thí
như quân tướng được cờ phướng, tiêu biểu vị đại tướng.
Tam muội Kim cang
là thí như Kim cang phá hoại hết mọi vật, Tam
muội này cũng như vậy, thông đạt đến các pháp, khiến các Tam
muội mỗi mỗi đắc dụng; như xa cừ, mã não, lưu ly, chỉ có Kim
cang xoi được.
Tam muội nhập pháp ấn
là như người đi vào nước an ổn, có ấn tín thì
được vào, không có ấn tín không được vào, Bồ tát được Tam muội
ấy có thể vào trong thật tướng các pháp, đó là các pháp rốt ráo
không.
Tam muội Vương an lập Tam muội
là ví như đại vương an trú chánh điện, triệu các bầy tôi, thảy
đều vâng mệnh; Bồ tát vào Tam muội vương, phóng ánh sáng lớn,
triệu thỉnh mười phương, thảy đểu tụ tập, lại sai hóa Phật khắp
đến mười phương. An lập là thí như quốc vương an ổn ở chánh
điện, thân tâm thản nhiên không chút sợ sệt
Tam muội Phóng quang
là thường tu hỏa nhất thiết nhập (một
trong phép tu quán mười pháp biến nhập vào khắp cả mọi vật, gọi
là phép tu mười nhất thiết nhập hay mười biến xứ - ND) nên
phát sinh lực thần thông, tùy ý phóng các ánh sáng màu sắc, theo
chỗ ưa của chúng sinh, hoặc nóng hoặc lạnh, hoặc không nóng
không lạnh.
Tam muội Năng chiếu
là ánh sáng có hai thứ: 1. Ánh sáng màu sắc. 2. Ánh sáng trí
tuệ. Trú trong Tam muội ấy, chiếu các Tam muội không có tà kiến
vô minh v.v...
Tam muội Lực tiến
là trước đối với các pháp được năm thứ lực là tín v.v... vậy sau
đối với các Tam muội được lực tự tại. Lại tuy ở Tam muội mà
thường biến hóa thần thông, độ các chúng sinh.
Tam muội Cao xuất
là Bồ tát vào Tam muội ấy, phước đức trí tuệ có được thảy đều
tăng trưởng, các tánh Tam muội từ tâm mà ra.
Tam muội Tất nhập biện tài
là trong bốn vô ngại biện, Tam muội tương ưng với từ biện tài.
Bồ tát được Tam muội ấy, biết hết ngữ ngôn thứ lớp của chúng
sinh và kinh sách, danh tự v.v... đều phân biệt được vô ngại.
Tam muội Thích danh tự
là các pháp tuy không, mà dùng danh tự biện biệt nghĩa các pháp,
khiến người được hiểu.
Tam muội Quán phương
là đối với mười phương chúng sinh, lấy tâm từ bi thương xót
bình đẳng xem xét.
Lại nữa, phương là tuân theo đạo lý gọi là
được phương. Vì lực Tam muội ấy, đối với các Tam muội được đạo
lý, ra vào tự tại vô ngại.
Tam muội Ðà la ni ẩn
là được Tam muội ấy, thời có thể phân biệt được các Tam muội,
đều có Ðà la ni.
Tam muội Vô cuống
là có Tam muội phát sinh ái, giận, vô minh, tà kiến v.v... Tam
muội này đối với các Tam muội hoàn toàn không có việc mê muội.
Tam muội Nhiếp chư pháp hải
là biết hết thảy dòng nước đều chảy về biển, pháp ba thừa đều
vào trong Tam muội này cũng như vậy. Lại các Tam muội khác đều
vào trong Tam muội này, như bốn thiền, bốn định vô sắc thu nhiếp
hết các giải thoát, định chín thứ lớp đều vào trong đó.
Tam muội Biến phú hư không
là hư không vô lượng vô biên, lực Tam muội
này hay trùm khắp hư không; hoặc ngồi kiết già phu, hoặc phóng
ánh sáng, hoặc lấy âm thanh chứa đầy trong đó.
Tam muội Kim cang luân
là như bánh xe chơn Kim cang, chỗ ở vô ngại,
được Tam muội này, đối với các pháp đến được vô ngại.
Lại nữa, có thể phân biệt phần vị ranh giới
các Tam muội, nên gọi là luân (bánh xe), luân là phần vị ranh
giới.
Tam muội Bảo đoạn
là như có thứ báu có thể làm sạch các báu; Tam muội này cũng như
vậy, hay trừ các cấu nhơ phiền não của Tam muội. Cấu nhơ ngũ dục
dễ trừ, các cấu nhơ Tam muội khó trừ.
Tam muội Năng chiếu
là được Tam muội này thời có thể lấy mười thứ
trí tuệ (Xem phẩm Mười một trí ở tập 2 – ND) chiếu rõ các
pháp, thí như mặt trời mọc chiếu rõ Diêm phù đề, mọi sự đều rõ
ràng.
Tam muội Bất cầu
là quán các pháp như huyễn hóa, tâm ái ba cõi dứt nên không mong
cầu gì.
Tam muội Vô trú
là Tam muội ấy gọi là Tam muội vô tác, trú ở Tam muội ấy quán
các pháp niệm niệm vô thường, không có lúc ngưng trụ.
Tam muội Vô tâm
tức là diệc tận định hoặc vô tưởng định, vì sao? Vì Phật tự nói
nhân duyên: Vào trong Tam muội ấy, các tâm tâm số pháp không
hiện hành.
Tam muội Tịnh đăng
là, đăng là đèn trí tuệ, các phiền não gọi là nhơ, lìa nhơ thời
tuệ thanh tịnh.
Tam muội Vô biên minh
là, vô biên gọi là vô lượng vô số; sáng có hai: 1. Vì độ chúng
sinh nên thân phóng hào quang. 2. Phân biệt tướng chung tướng
riêng các pháp nên trí tuệ sáng suốt. Ðược Tam muội này hay
chiếu vô biên thế giới ở mười phương và vô biên các pháp.
Tam muội Năng tác minh
là hay làm sáng nơi các pháp, như đốt đuốc
trong chỗ tối.
Tam muội Phổ chiếu minh
là, ngọc báu của Chuyển luân Thánh vương, chiếu một do tuần
ngoài bốn phía quân binh. Bồ tát được Tam muội ấy chiếu khắp mỗi
mỗi môn các pháp.
Tam muội Kiên tịnh chư Tam muội
là Bồ tát được lực Tam muội ấy nên làm
cho các Tam muội thanh tịnh cứng chắc.
Tam muội Vô cấu minh
là, Tam muội tương ưng với ba môn gỉải thoát; được Tam muội ấy
lìa hết thảy cấu nhơ Tam muội, lìa hết thảy vô minh, tham ái
v.v... cũng hay chiếu hết thảy các Tam muội.
Tam muội Hoan hỷ
là được Tam muội ấy thời đối với pháp sinh
vui hoan hỷ. Thế nào là hoan hỷ? Có người nói: Ðó là Sơ thiền.
Như Phật dạy có bốn tu định: 1. Tu Tam muội ấy được vui hiện tại
hoan hỷ. 2. Tu định được biết thấy, thấy chúng sinh sinh tử. 3.
Tu định được trí tuệ phân biệt. 4. Tu định được sạch hết lậu
hoặc.
Lại nữa, được Tam muội ấy thời phát sinh vô
lượng vô biên pháp lạc hoan hỷ.
Tam muội Ðiển quang
là như chớp sáng tạm hiện ra, người đi thấy
đường; được Tam muội ấy, bị mất đạo từ vô thỉ đời đến nay trở
lại được.
Tam muội Vô tận
là được Tam muội ấy thời dứt các tướng vô thường của các pháp,
tức vào bất sinh bất diệt.
Tam muội Oai đức
là Bồ tát được
Tam muội thời oai đức trang nghiêm.
Tam muội Ly tận
là Bồ tát được Tam muội ấy thời chắc chắn được công đức thiện
bổn vô lượng vô số kiếp, quả báo không mất.
Tam muội Bất động
là, có người nói: Thiền thứ tư là bất động. Ở trong cõi Dục vì
ngũ dục nên động, trong Sơ thiền vì giác quán nên động, trong
Nhị thiền vì mừng nhiều nên động, trong Tam thiền vui nhiều nên
động, trong Tứ thiền lìa hơi thở ra vào, không có các tướng động
nên bất động.
Có người nói: Bốn định vô sắc là bất động,
vì lìa các sắc; có người nói diệt tận định là bất động, vì lìa
tâm tâm số pháp; có người nói Tam muội tương ưng với trí tuệ
biết thật tướng các pháp rốt ráo không, nên bất động; được Tam
muội ấy đối với hết thảy Tam muội, hết thảy pháp hoàn toàn
không hý luận.
Tam muội Bất thối
là trú ở Tam muội ấy không thấy các Tam uội thối chuyển. Luận
giả nói Bồ tát trú ở Tam muội ấy thường không thối chuyển, tức
là Tam muội tương ưng với trí tuệ bất thối. Bất thối là không
đọa vào đảnh vị, như đã nói ở trong nghĩa đọa đảnh.
Tam muội Nhật đăng
là được Tam muội ấy thời có thể chiếu mỗi mỗi môn của hết thảy
pháp và các tam muội; ví như mặt trời mọc hay chiếu hết thảy
Diêm phù đề.
Tam muội Nguyệt tịnh
là như mặt trăng từ ngày 16 giảm dần đến ngày
30 là hết. Người phàm phu cũng như vậy, các công đức lành dần
dần giảm hết phải đọa vào ba ác đạo; như mặt trăng từ ngày mồng
1 dần dần tăng trưởng , đến ngày 15 thì sáng suốt thanh tịnh. Bồ
tát cũng như vậy. được Tam muội ấy từ khi phát tâm đời đời dần
tăng trưởng thiện căn cho đến được Vô sinh pháp nhẫn, được thọ
ký, trí tuệ thanh tịnh, lợi ích chúng sinh. Lại hay phá vô minh
trong các Tam muội.
Tam muội Tịnh minh
là, sáng gọi là tuệ, cấu làm ngại. Ðược Tam muội ấy đối với các
pháp không chướng ngại, vì vậy nên nơi đây Phật dạy: Trú trong
Tam muội ấy được bốn trí vô ngại.
Hỏi:
Sao Phật chỉ riêng ở trong đây đối với Tam muội nói bốn trí vô
ngại?
Ðáp:
Ở trong Tam muội không có tâm giác quán, có thể vui nói (lạc
thuyết vô ngại), trái với định việc ấy là khó, vì được lực Tam
muội ấy nên được bốn trí vô ngại, nghĩa bốn trí vô ngại như
trước nói.
Tam muội Năng tác minh
là, sáng tức là trí tuệ, trong các trí tuệ,
trí tuệ Bát nhã là tối đệ nhất. Tam muội tương ưng với Bát nhã
ấy hay làm sáng.
Tam muội Tác hành
là được lực Tam muội ấy hay phát khởi trước tiên là được các Tam
muội.
Tam muội trí tướng là được Tam muội ấy thời
thấy có tướng trí tuệ thật trong hết thảy Tam muội.
Tam muội Như Kim cang
là được Tam muội ấy thời lấy trí tuệ thông
đạt hết thảy pháp , cũng chẳng thấy thông đạt; vì dùng vô sở đắc
vậy.
Hỏi: Ba thứ Tam muội, sao đều nói là tên Kim
cang?
Ðáp: Ðầu nói Kim cang, giữa nói bánh xe Kim
cang, sau nói như Kim cang. Tam muội như Kim cang Phật dạy xuyên
suốt thảy pháp, cũng không thấy Tam muội Kim cang ấy thông suốt
các Tam muội.
Tam muội Kim cang luân
là được Tam muội ấy hay giữ gìn các bánh xe Tam muội, đó đều là
nghĩa của Phật dạy. Luận giả nói: Tam muội như Kim cang là có
thể phá hết thảy các phiền não kiết sử, không còn dư sót, thí
như trời Ðế thích tay cầm Kim cang phá quân A tu la, tức là tâm
cuối cùng của học nhân. Từ tâm ấy thứ lớp được ba thứ Bồ đề, là
Thanh văn Bồ đề, Bích chi Phật Bồ đề, Phật Vô thượng Bồ đề. Tam
muội Kim cang là có thể phá hết thảy pháp vào Vô dư Niết bàn,
không còn thọ thân sau, ví như chơn Kim cang có thể phá các núi
làm cho diệt sạch không còn. Bánh xe Kim cang là Tam muội này
hay phá hết thảy pháp, không ngăn ngại, ví như bánh xe Kim cang
lúc chuyển đi không gì không phá, không bị chướng ngại.
Lại nữa, đầu là Kim cang, hai là bánh xe Kim
cang, ba là như Kim cang. Danh tự khác nhau, Phật dạy nghĩa nó
cũng khác nhau. Luận giả giải thích nhân duyên nó cũng khác, nên
không nên cật nạn.
Tam muội Tâm trú
là tâm tướng nhẹ nhanh, đi xa, vô hình, khó
chế khó giữ, thường lay động như con khỉ; lại như điển chớp,
cũng như lưỡi rắn. Ðược Tam muội này có thể thâu nhiếp làm cho
trú lại, cho đến trước dục lạc cõi trời, tâm cũng không động
chuyển, huống gì dục lạc cõi người.
Tam muội Phổ minh
là được Tam muội ấy thời nơi hết thảy pháp thấy tướng quang
minh, không có tưởng tối ám, như thấy ban ngày; thấy ban đêm
cũng vậy; thấy trước thấy sau, thấy trên, thấy dưới cũng như
vậy. Trong tâm vô ngại, do tu Tam muội ấy nên được thiên nhãn
thông, khắp thấy ánh sáng, rõ ràng vô ngại. Khéo tu thần thông
ấy nên được thành tuệ nhãn, chiếu khắp các pháp, thấy rõ không
ngại.
Tam muội An lậplà
được Tam muội ấy thời an lập bền chắc trong hết thảy công đức
thiện pháp. Như núi Tu di ở giữa biển lớn, an lập bất động.
Tam muội Bảo tụ
là được Tam muội ấy, thời quốc độ có được đều thành bảy báu.
Hỏi:
Ðiều đó mắt thịt thấy, hay thiền định thấy?
Ðáp:
Mắt trời, mắt thịt đều có thể thấy, vì sao? Vì sáu trần bên
ngoài bất định, hành giả thường tu tập thiền định nên có thể
chuyển đổi bốn tướng nó.
Tam muội Diệu pháp ấn
là, diệu pháp là công đức và trí tuệ thâm
diệu của chư Phật Bồ tát. Ðược Tam muội ấy là được các công đức
và trí tuệ thâm diệu.
Tam muội Pháp đẳng
là đẳng có hai: 1. Chúng sinh bình đẳng, 2. Pháp bình đẳng. Tam
muội tương ưng với pháp đẳng, gọi là pháp đẳng.
Tam muội Ðoạn hỷ
là được Tam muội ấy thời quán các pháp vô thường, khổ, không, vô
ngã, bất tịnh v.v... tâm sinh nhàm lìa. Trong mười tưởng ( xem
chương 34 tập I I). Tam muội này tương ưng với tưởng hết thảy
thế gian không thể vưi.
Tam muội Ðáo pháp đảnh
là, pháp là
pháp Bồ tát, nghĩa là sáu Ba la mật. Ðến trong Bát nhã ba la
mật, được lực phương tiện, đến đỉnh núi pháp. Ðược Tam muội ấy
có thể trú ở đỉnh núi pháp ấy, các vô minh phiền não không thể
làm lay động.
Tam muội Năng tán
là được Tam muội ấy thời có thể phá tán các pháp, đây là Tam
muội tương ưng với tán không (xem chương 18 Không).
Tam muội Phân biệt chư pháp cú
là được Tam muội ấy thời có thể phân biệt ngữ ngôn tự cú của
hết thảy pháp, vì chúng sinh thuyết ngôn từ không trệ ngại.
Ðây là Tam muội tương ưng với trí lạc thuyết vô ngại.
Tam muội Tự đẳng tướng
là được Tam muội ấy thời quán các chữ, các ngữ đều bình đẳng,
trách mắng hay tán thán, không có ghét thương.
Tam muội Ly tự
là được Tam muội thời không thấy chữ ở trong nghĩa, cũng không
thấy nghĩa ấy ở trong chữ.
Tam muội Ðoạn duyên
là được Tam
muội ấy, thời hoặc trong hoặc ngoài, đối với vui không sinh
mừng, đối với khổ không sinh giận, đối với không khổ không vui
không sinh tâm không biết mà xả. Ðối với ba thọ ấy xa lìa
không vướng mắc, thời tâm qui về tịch diệt, tâm nều diệt thì
duyên cũng diệt.
Tam muội Bất hoại
là Tam muội tương ưng với duyên pháp tánh rốt ráo không, hý
luận không phá được, vô thường không chuyển được, vì trước đã
hoại rồi.
Tam muội Vô chủng tướng
là được Tam muội ấy thời không thấy các pháp có mỗi mỗi tướng,
chỉ thấy một tướng, đó là vô tướng (không có tướng).
Tam muội Vô xứ hành
là được Tam muội ấy thời biết lửa ba độc đốt ba cõi nên tâm
không nương dựa, còn Niết bàn rốt ráo không nên cũng không
nương dựa.
Tam muội Ly mông muội
là được Tam muội ấy, ở trong các Tam muội thứ vô minh vi tế
che ngăn đều trừ hết.
Tam muội Vô khứ
là được Tam muội ấy thời không thấy tướng đi lại của hết thảy
pháp.
Tam muội Bất biến dị
là được Tam
muội ấy thời quán hết thảy pháp, nhân không biến làm quả, như
sửa không biến thành lạc, vì các pháp đều ở trong tự tướng,
bất động.
Tam muội Ðộ duyên
là được Tam
muội ấy thời các phiền não nơi sáu trần dứt hết, vượt qua biển
lớn sáu trần, cũng có thể vượt qua hết thảy duyên Tam muội,
phát sinh trí tuệ.
Tam muội Tập chư công đức
là được Tam muội ấy thời nhóm các công đức, từ lòng tin đến
trí tuệ, đầu đêm cuối đêm tu tập không ngừng, như mật trời mặt
trăng vận chuyển, chưa bao giờ ngừng nghỉ.
Tam muội Trú vô tâm
là vào trong
Tam muội ấy, thời không theo tâm, chỉ theo trí tuệ, đến trú
trong thật tướng các pháp.
Tam muội Tịnh diệu hoa
là hoa trên cây rộ nở, làm cho cây nghiêm sức, được Tam muội
ấy, trong các Tam muội mở ra các công đức để trang nghiêm.
Tam muội Giác ý
là được Tam
muội ấy thời khiến các Tam muội biến thành vô lậu, tương ưng
với bảy giác chi, ví như một cân nhựa đá có thể biến ngán cân
đồn thành vàng.
Tam muội Vô lượng biện
tức là lạc thuyết vô ngại biện, được lực Tam muội ầy cho đến
chỉ vui nói một câu trải vô lượng kiếp mà không cùng tận.
Tam muội Vô đẳng đẳng
là được Tam
muội ấy xem hết thảy chúng sinh đều như Phật, xem hết thảy
pháp đều đồng Phật pháp, vô đẳng đẳng, đó là tương ưng với Bát
nhã ba la mật.
Tam muội Ðộ chư pháp
là vào ba cửa
giải thoát, ra khỏi ba cõi, độ chúng sinh ba thừa.
Tam muội Phân biệt chư pháp
tức là Tam muội tương ưng với phân biệt tuệ. Ðược Tam muội ấy
thời phân biệt các pháp tướng thiện bất thiện, hữu lậu vô lậu,
hữu vi vô vi.
Tam muội Tán nghi
là có người
nói: Tức là Tam muội vô tướng trong Kiến đế đạo, vì Tam muội
tương ưng với Trí kiến để dứt nghi kiết. Có người nói: Ðây là
Tam muội tương ưng với Vô sinh pháp nhẫn. Bấy giờ lướt nghi
đối với hết thảy pháp đều dứt, thấy mười phương chư Phật, được
thật tướng các pháp. Có người nói: Ðây là Tam muội tương ưng
với vô ngại giải thoát, chư Phật được Tam muội ấy đã đối với
các pháp đều vô ngại, không gần không xa, như xem bàn tay.
Tam muội Vô trú xứ
tức là Tam muôi tương ưng với trí tuệ không lãnh thọ, được Tam
muội ấy không thấy hết thảy pháp có trú xứ nhất định.
Tam muội Nhất trang nghiêm
là được Tam muội ấy thời xem hết thảy pháp đều một, hoặc hết
thảy pháp có tướng nên một, hoặc hết thảy pháp không có tướng
nên một, hoặc hết thảy pháp không nên một, như vậy vô lượng
đều một. Vì trí tuệ nhất tướng trang nghiêm tam muội ấy, nên
nói là nhất trang nghiêm.
Tam muội Sinh hành
là, hành gọi là quán, được tam muội ấy, thời hay quán các hành
tướng, tướng vào, tướng trú, tướng ra. Lại hành ấy đều không,
cũng không thể thấy.
Tam muội Nhất hành
là được Tam
muội ấy thời thường nhất hành, trong tam muội tương ưng với
rốt ráo không, không còn các hành thứ lớp khác. Như trong vô
thường hành, theo đấy có khổ hành, trong khổ hành thứ đến có
vô ngã hành. Lại Bồ tát đối với tam muội ấy không thấy bờ này,
không thấy bờ kia. Tướng vào các tam muội là bờ này, tướng ra
là bờ kia; tướng mới được là bờ này, tướng diệt là bờ kia.
Tam muội Bất nhất hành
là trái với hành ở trên, đó là các hành tướng quán khác.
Tam muội Diệu hành
tức là Tam muội tương ưng với rốt ráo không (một trong 18
không), cho đến không thấy không hai tướng, hết thảy trí luận
không thể phá.
Tam muội Ðạt nhất thiết hữu để tán
là, hữu là ba cõi, để là phi hữu tưởng phi vô tưởng, vì khó
đến nên gọi là để; đạt là lấy trí tuệ vô lậu xa lìa cho đến
phi hữu tưởng phi vô tưởng mà vào Vô dư Niết bàn, ba cõi, năm
uẩn đều là tán diệt.
Lại nữa, Bồ tát được trí tuệ bất sainh bất
diệt ấy thời hết thảy các cõi được thông đạt và tán diệt, đều
không có gì.
Tam muội Nhập danh ngữ
là được Tam muội ấy thời biết hết thảy danh tự của hết thảy
chúng sinh, hết thảy vật, hết thảy pháp, cũng lấy danh tự ấy nói
giáo hóa người, hết thảy danh tự đều hiểu rõ hết, đều có thứ
lớp.
Tam muội Ly âm thanh tự ngữ
là được Tam muội ấy thời quán hết thảy các
pháp đều không có âm thanh ngôn ngữ, tướng thường tịch diệt.
Tam muội Nhiên cự
là như cầm đuốc
đi đêm, không rơi chỗ hiểm, Bồ tát được Tam muội ấy, dùng đuốc
trí tuệ không lầm không dính đối với các pháp.
Tam muội Tịnh tướng
là được Tam
muội ấy thời có thể thanh tịnh đầy đủ, trang nghiêm 32 tướng,
lại có thể đúng như quán pháp tướng chung tướng riêng các
pháp, cũng có thể quán các pháp thanh tịnh vô tướng, tức là
không, vô tướng, vô tác, như phẩm Tướng nói rộng.
Tam muội Phá tướng
là được Tam muội ấy thời không thấy tướng hết thảy pháp huống
gì tướng các Tam muội, đây tức là vô tướng Tam muội.
Tam muội Nhất thiết hữu diệu túc
là được Tam muội ấy thời lấy các công
đức trang nghiêm đầy đủ, dòng họ tốt, gia đình tốt, thân tốt,
quyến thuộc tốt; thiền định, trí tuệ đều đầy đủ, thanh tịnh.
Tam muội Bất hỷ khổ lạc
là được Tam muội
ấy thời xem cái vui vẻ thế gian nhiều lỗi nhiều lo, hư vọng điên
đảo, không thể ưa vui, xem cái khổ thế gian như bịnh như mũi tên
vào thân, tâm không mừng vui, vì hết thảy pháp hư dối, chẳng cầu
cái vui đó, vì sao? Vì lúc khác biến đổi là khổ; vui còn chẳng
mừng huống gì đối với khổ.
Tam muội Vô tận tướng
là được Tam muội ấy thời xem hết thảy pháp không hoại không tận.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không rơi vào chấp bên thường?
Ðáp:
Cũng như Bồ tát tuy quán vô thường cũng không rơi vào chấp
đoạn, hoặc quán chẳng cùng tận không rơi trong chấp thường.
Hai tướng ấy, đều không thể có đưọc nơi các pháp. Có nhân
duyên nên tu hành, nghĩa là vì tội phước chẳng mất nên nói
thường, vì lìa chấp trước nên nói vô thường.
Tam muội Ða Ðà la ni
là được lực Tam muội ấy, thời các Ðà la ni như Văn trì Ðà la ni
v.v... đều tự nhiên được.
Tam muội Nhiếp chư tà chánh tướng
là được Tam muội ấy thời chẳng thấy ba nhóm chúng sinh là nhóm
chánh định, nhóm tà định và nhóm bất định, nhất tâm nhiếp lấy
hết không bỏ nhóm nào. Lại nơi các pháp không thấy tướng chánh
nhất định, tướng tà nhất định, vì các pháp không có tướng nhất
định.
Tam muội Diệt tăng ái
là được Tam muội ấy thời đối với pháp khả hỷ không sinh yêu, đối
pháp khả ố không sinh giận.
Tam muội Nghịch thuận
là được Tam muội ấy thời đối với các pháp
nghịch thuận tự tại. Có thể phá chúng sinh tà nghịch, có thể
thuận theo chúng sinh đáng được hóa độ. Lại lìa chấp trước nên
phá hết thảy pháp, vì căn lành tăng trưởng nên thành hết thảy
pháp, cũng chẳng thấy các pháp nghịch thuận, việc ấy cũng không
thấy, vì không có vậy.
Tam muội Tịch quang
là được Tam muội ấy thời các cấu nhơ phiền
não đối với các pháp không thể có được, vì không thể có được
vậy, nên các Tam muội đều thanh tịnh.
Tam muội Kiên cố
là, có người nói tức là Kim cang Tam muội, vì
kiên cố không hoại. Có người nói: Kim cang không phải, vì Kim
cang cũng dễ phá. Ðây là Tam muội tương ưng với trí biết thật
tướng các pháp, không thể phá hoại như hư không, vì vậy nên gọi
là kiên cố.
Tam muội Mãn nguyệt tịnh quang
là được Tam muội ấy thời lời nói thanh tịnh,
không sai lầm, như mùa thu hư không trong sáng sạch, trăng tròn
sáng chói mát mẻ đáng ưa, không chi đáng ghét. Bồ tát cũng như
vậy, tu các công đức như trăng tròn phá tối vô minh nên tịnh trí
sáng suốt đầy đủ; dứt lửa ưa, giận v.v...nên công đức mát mẻ đầy
đủ; làm lợi ích cho chúng sinh nên đáng ưa.
Tam muội Ðại trang nghiêm
là thấy mười phương thế giới số như hằng hà
sa, lấy hoa hương bảy báu trang nghiêm, Phật ở trong đó trang
nghiêm thanh tịnh như vậy, được Tam muội ấy nên cùng một lúc
trang nghiêm các công đức. Lại xem sự trang nghiêm đó rỗng không
không có gì, tâm không dính mắc.
Tam muội Năng chiếu nhất thiết thế
là được Tam muội ấy nên có thể chiếu soi
ba thứ thế gian là chúng sinh thế gian, trú xứ thế gian (khí thế
gian) và ngũ uẩn thế gian.
Tam muội Ðẳng Tam muội
là được Tam muội ấy, quán các Tam muội đều
nhất đẳng, nghĩa là nhiếp tâm tướng. Tam muội ấy đều từ nhân
duyên sinh, pháp hữu vi tạo tác, không có cạn sâu, được Tam muội
ấy thảy đều bình đẳng, ấy gọi là đẳng, cùng các pháp khác cũng
bình đẳng không khác. Vì vậy nên theo nghĩa nói trong hết thảy
pháp, tướng định, tướng loạn không thể có được.
Tam muội Nhiếp nhất thiết hữu tránh vô
tránh là được Tam muội ấy thời
không thấy pháp ấy có tướng như vậy, pháp ấy không có tướng như
vậy, không phân biệt các pháp hữu tránh vô tránh, đối với hết
thảy pháp thông đạt vô ngại, đối với hết thảy chúng sinh cũng
không tranh luận tốt xấu, chỉ theo tâm hành của chúng sinh mà độ
thoát. Ðược Tam muội ấy nên đối với các Tam muội tùy thuận không
nghịch.
Tam muội Bất lạc nhất thiết trú xứ
là được Tam muội ấy thời không ưa ở thế
gian, không ưa ở phi thế gian, vì thế gian vô thường nên không
ưa, trong phi thế gian thời không có hết thảy pháp, là chỗ đáng
sợ không nên sinh ưa vui.
Tam muội Như trú định
là được Tam muội ấy thời biết tướng như thật
của hết thảy pháp, không thấy có pháp gì quá hơn tướng như như
ấy. Nghĩa như như, như trước đã nói.
Tam muội Hoại thân suy
là máu thịt xương gân v.v... hòa hợp gọi là
thân, thân ấy nhiều hoạn nạn, thường đấu tranh với đói, lạnh,
nóng; ấy gọi là thân suy. Ðược Tam muội ấy nên dùng lực trí tuệ
phá hoại từng phần tướng thân suy, cho đến không thấy tướng
không thể có được.
Tam muội Hoại ngữ như hư không
là, ngữ gọi là gió phát ra bên trong, chạm vào bảy chỗ nên có
tiếng, nương tiếng nên có ngữ. Quán nhân duyên của ngữ ngôn như
vậy nên hay phá ngữ ngôn, không sinh ngã tướng và ghét thương.
Có người nói: Nhị thiền không có giác quán, đó là Tam muội hoại
ngữ, hiền thánh im lặng. Có người nói: Ðó là Tam muội định vô
sắc, ở đây không có thân, lìa hết thảy sắc. Có người nói: Ðó chỉ
là Tam muội của các Bồ tát, hay phá thân bất tịnh do kiết nghiệp
nhân duyên đời trước tạo ra mà thọ lấy pháp thân, tùy chúng sinh
đáng được độ mà hiện các hình tướng.
Tam muội Ly trước hư không bất nhiễm
là, Bồ tát thực hành Bát nhã ba la
mật, quán các pháp rốt ráo không, chẳng sinh chẳng diệt; như hư
không không vật gì ví dụ được. Ðộn căn Bồ tát đắm trước hư
không ấy, được Tam muội này nên lìa nhiễm trước các pháp hư
không, cũng không nhiễm trước Tam muội ấy; như người bị sa trong
bùn được có người kéo ra, khóa chân bắt làm nô bộc; có Tam muội
được lià khỏi nhiễm trước hư không nhưng lại nhiễm trước Tam
muội thời cũng như vậy. Nay Tam muội này có thể lìa nhiễm trước
hư không, hư không cũng tự lìa nhiễm trước.
Hỏi:
Phật phần nhiều nói về Tam muội, sao ông chỉ nói các pháp?
Ðáp:
Phật nói nhiều về quả báo, Luận giả thì hợp cả nhân duyên và quả
báo để nói, ví như người quán thân bất tịnh, được Tam muội bất
tịnh; thân là nhân duyên, Tam muội là quả. Lại như người quán
năm uẩn vô thường, khổ, không v.v... mà được Tam muội bảy giác
ý, có thể sinh tám Thánh đạo, bốn quả Sa môn.
Lại nữa Phật thích ứng theo chúng sinh chỉ
nói một pháp, Luận giả nói rộng ra, phân biệt các việc; thí như
hết thảy hữu lậu đều là nhân của khổ, song Phật chỉ nói ái là
nhân của khổ; hết thảy phiền não diệt gọi là Diệt đế, song Phật
chỉ dạy ái tận. Bồ tát ấy đối với các quán hạnh chắc chắn không
nghi, nhưng đối với các Tam muội thì chưa rõ, nên Phật chỉ nói
Tam muội. Luận giả nói các pháp, mà hết thảy Tam muội đều ở
trong đó. Cuối các Tam muội đều nên nói “dùng vô sở đắc”, vì
đồng Bát nhã vậy.
Như vậy vô lượng vô biên Tam muội hòa hợp lại
gọi là Ma ha diễn.
(Hết cuốn 47 theo bản
Hán)
--o0o --