---o0o---
Tập 3
Cuốn 57
GIẢI
THÍCH: PHẨM ÐẠI MINH Thứ 32
(Kinh Ðại Bát nhã ghi:
Phần 2, Phẩm Túy Ðỗ Ba thứ 30)
(Kinh Ma ha Bát nhã ghi: Phẩm Bảo Tháp Ðại Minh)
KINH: Bấy giờ Phật
bảo Thích đề hoàn nhơn: Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe
Bát nhã ba la mật sâu xa mà thọ trì, thân cận, đọc tụng, nhớ
nghĩ đúng, tâm không rời Tát bà nhã, gặp khi hai trận giao
chiến, thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy tụng Bát nhã ba la mật, đi
vào giữa trận trọn không mất mạng, đao tên chẳng làm thương tổn,
vì sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, suốt đời tu sáu Ba la
mật, tự mình trừ đao tên dâm dục, cũng trừ đao tên dâm dục của
người khác; tự mình trừ đao tên sân nhuế, cũng trừ đao tên sân
nhuế của người khác; tự mình trừ đao tên ngu si, cũng trừ đao
tên ngu si của người khác; tự mình trừ đao tên tà kiến, cũng trừ
đao tên tà kiến của người khác; tự mình trừ đao tên triền cấu,
cũng trừ đao tên triền cấu của người khác; tự mình trừ đao tên
kiết sử, cũng trừ đao tên kiết sử của người khác.
Kiều thi ca! Do nhân
duyên ấy nên thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy không bị đao tên làm
thương tổn.
*Lại nữa, Kiều thi
ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy nghe Bát nhã ba la mật mà thọ
trì, thân cận, đọc tụng, nhớ nghĩ đúng, tâm không rời Tát bà
nhã, hoặc lấy thuốc độc xông, hoặc dùng kế độc, hoặc dùng hầm
lửa, hoặc dùng nước sâu, hoặc muốn dùng dao giết, hoặc bỏ thuốc
độc; các việc ác như vậy đều không thể làm tổn thương, vì sao?
Vì Bát nhã ba la mật ấy là thần chú đại minh, thần chú vô
thượng. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy học thần chú đại minh
thời tự mình không não thân, cũng không não người, cũng không
não cả hai, vì sao? Vì thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy không chấp
có ngã, không chấp có chúng sinh, không chấp có thọ mạng cho đến
kẻ biết, kẻ thấy đều không thể có được; không thể có được sắc,
thọ, tưởng, hành, thức cho đến Trí nhất thiết chủng cũng không
thể có được. Vì không thể có được nên không tự não mình, cũng
không não người, cũng không não cả hai. Học thần chú đại minh ấy
nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, quán tâm chúng sinh,
tùy ý thuyết pháp, vì sao? Vì chư Phật quá khứ học thần chú đại
minh ấy nên được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; chư Phật tương
lai học thần chú đại minh ấy, sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác; chư Phật hiện tại học thần chú đại minh ấy, nên được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
*Lại nữa, Kiều thi
ca! Ðối với Bát nhã ba la mật, nếu có người chỉ viết chép quyển
kinh để tại nhà cúng dường không thọ, không đọc, không tụng,
không nói, không nhớ nghĩ đúng. Ở chỗ ấy hoặc người hoặc phi
nhân cũng không thể tìm được chỗ thuận tiện để phá, vì sao? Vì
Bát nhã ba la mật ấy được trời Tứ thiên vương cho đến trời A ca
nị tra trong ba ngàn đại thiên thế giới và trời Tứ thiên vương
cho đến trời A ca nị tra trong mười phương vô lượng vô số thế
giới thủ hộ. Nơi chỗ có Bát nhã ba la mật chư thiên đều đến cúng
dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, lễ bái rồi đi. Các thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy chỉ viết chép Bát nhã ba la mật để tại
nhà cúng dường, không thọ, không đọc, không tụng, không nói,
không nhớ nghĩ đúng mà đời nay được công đức như vậy; thí như
hoặc người, hoặc súc sinh đi đến dưới cội Bồ đề, các bên trong
ngoài, giả sử người hoặc kẻ phi nhân đi đến, cũng không thể tìm
được thuận tiện để phá, vì sao? Vì chỗ ấy, chư Phật quá khứ từng
ở nơi đó chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; chư Phật vị
lai, chư Phật hiện tại cũng ở nơi đó chứng Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Thành Phật rồi, thí cho tất cả chúng sinh sự không
sợ không hãi, làm cho vô lượng vô số chúng sinh thọ hưởng phước
lạc cõi trời cõi người, cũng làm cho vô lượng vô số chúng sinh
được quả Tu đà hoàn, cho đến được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Do năng lực Bát nhã
ba la mật nên ở chỗ ấy được cung kính, lễ bái, hương hoa, anh
lạc, hương bột, hương nước, lọng tràng, kỹ nhạc cúng dường.
LUẬN. Hỏi: Hiện có người thọ trì, đọc tụng
mà vào quân trận bị đao binh làm tổn thương cho đến mất mạng;
vả lại Phật nói nhân duyên của nghiệp, chẳng phải bay giữa
không, lặng dưới biển, không chỗ nào tránh khỏi được, sao
trong đây Phật lại nói người đọc tụng Bát nhã vào quân trận
đao binh không làm thương tổn, cũng không mất mạng?
Ðáp: Có hai thứ nghiệp
nhân duyên: 1. Quyết chắc phải thọ báo. 2. Không quyết chắc phải
thọ báo. Quyết chắc phải thọ báo theo trong kinh Pháp Cú nói kệ
như vậy; còn trong đây nói là không quyết chắc phải thọ báo, nên
nói đọc tụng Bát nhã, đao binh không làm hại. Thí như người mắc
trọng tội đại nghịch phải chết, tuy có sức mạnh, tài bảo, cũng
không thể cứu khỏi; có người tội tuy vào sổ chết, nhưng lý còn
cứu được, dùng thế lực, tài vật, liến được cứu mạng, không cứu
thời chết. Thiện nam tử cũng như vậy, nếu không có tội chắc phải
thọ báo, tuy có việc chết đến, chí tâm tụng đọc Bát nhã ba la
mật thời được thoát khỏi; nếu không tụng thời không khỏi chết.
Thế nên không được nói Bát nhã ba la mật không có thế lực.
*Lại nữa, thiện nam tử,
thiện nữ nhân nếu xa lìa ác pháp, điều phục tâm mình, phiền não
giảm dứt, nhất tâm tin thẳng thiện pháp, không có nghi hối. Từ
lâu xa lại đây, tu tập phước đức, trí tuệ, có tâm từ bi đối với
tất cả chúng sinh, giáo hóa chúng sinh, trừ bỏ ác tâm. Thiện nam
tử như vậy đao binh không làm tổn thương, mạng không chết yểu;
như Phật tự nói nhân duyên: Suốt đời tu sáu Ba la mật, trừ đao
tên ba độc nơi mình và người khác. Tu năm Ba la mật là phước
đức, tu Bát nhã ba la mật là trí tuệ. Do rộng tu tập hai việc ấy
nên không bị mất mạng giữa chừng; thuốc độc, nước lửa v.v...
cũng như vậy.
*Lại nữa, như năng lực
chú thuật của thần tiên ngoại đạo còn làm cho vào nước không
chìm, vào lửa không cháy, trùng độc không cắn, huống gì Bát nhã
ba la mật là chú thuật do mười lực chư Phật làm nhân thành tựu.
Hỏi: Nói như trên, việc
ấy tin được; còn trong đây nay nói không thọ trì, đọc tụng, niệm
tưởng Bát nhã, chỉ có viết chép, cúng dường thì làm sao được
công đức như vậy?
Ðáp: Người này được công
đức cũng đồng như trên, vì sao? Vì có người trước đã nghe thầy
giảng nghĩa Bát nhã, hết sức ưa vui, nhưng không biết văn tự, xa
lìa lời thầy dạy, không thể đọc tụng, mà chỉ mượn tài bảo thuê
người viết chép, tận tâm cúng dường, ý nguyện đồng với người đọc
tụng, cho nên cũng được công đức.
Người không thể tìm
được chỗ thuận tiện
là vì được chư thiên thủ hộ, việc ấy khó tin, nên Phật lấy cây
Bồ đề làm thí dụ. Phật do oai lực Bát nhã, nên ở tại cội Bồ đề
thành đạo Vô thượng; do oai lực của đạo Vô thượng, nên chỗ ấy
vẫn có oai đức, chúng sinh đi vào trong đó các sự ác không tìm
được chỗ thuận tiện để phá, huống gì Bát nhã ba la mật là mẹ của
chư Phật thời thiện nam tử tận tâm cúng dường mà không có công
đức?
KINH: Thích đề hoàn
nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ
nhân, viết chép Bát nhã ba la mật, dùng hoa hương, anh lạc cho
đến kỹ nhạc cúng dường, nếu có người sau khi Phật Niết bàn, hoặc
cúng dường xá lợi, hoặc xây tháp, cúng dường, cung kính, tôn
trọng, tán thán, dùng hoa hương, anh lạc cho đến kỹ nhạc cúng
dường, hai việc ấy việc nào được phước nhiều?
Phật bảo Thích đề
hoàn nhơn: Ta lại hỏi ông, tùy ý ông đáp. Ý ông nghĩ sao? Như
Phật được Trí nhất thiết chủng và được thân này; từ đâu học đạo
mà được Trí nhất thiết chủng và được thân này?
Thích đề hoàn nhơn
thưa: Phật từ nơi Bát nhã ba la mật học mà được Trí nhất thiết
chủng và thân tướng tốt ấy.
Phật bảo Thích đề
hoàn nhơn: Như vậy, như vậy! Kiều thi ca! Từ nơi Bát nhã ba la
mật học mà được Trí nhất thiết chủng.
Kiều thi ca! Không
phải do thân này gọi là Phật, chính do được Trí nhất thiết chủng
nên gọi là Phật.
Kiều thi ca! Trí nhất
thiết chủng ấy của Phật từ Bát nhã ba la mật sinh ra. Vì vậy,
nên Kiều thi ca! Thân Phật ấy là chỗ nương ở của Trí nhất thiết
chủng, Phật nhân thân ấy được Trí nhất thiết chủng. Thiện nam tử
nên suy nghĩ rằng: Thân ấy là chỗ nương ở của Trí nhất thiết
chủng. Vì thế nên sau khi Ta Niết bàn, xá lợi nên được cúng
dường.
*Lại nữa, Kiều thi
ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu nghe Bát nhã ba la mật mà
viết chép, thọ trì, thân cận, đọc tụng, nhớ nghĩ đúng, dùng
hương hoa, anh lạc, hương bột, hương nước, phan lọng, kỹ nhạc
cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán thời thiện nam tử,
thiện nữ nhân ấy là đã cúng dường Trí nhất thiết chủng. Vì thế,
nên Kiều thi ca! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân chép Bát nhã
ba la mật, hoặc thọ trì, thân cận, đọc tụng, giảng nói, nhớ nghĩ
đúng, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, dùng hoa
hương, anh lạc cho đến kỹ nhạc; nếu lại có thiện nam tử, thiện
nữ nhân sau khi Phật Niết bàn cúng dường xá lợi, xây tháp, cung
kính, tôn trọng, tán thán, dùng hoa hương cho đến kỹ nhạc thời
thiện nam tử, thiện nữ nhân viết chép Bát nhã ba la mật thọ trì,
cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán,dùng hoa hương, anh
lạc cho đến kỹ nhạc, người ấy được phước nhiều, vì sao? Vì từ
Bát nhã ba la mật sinh năm Ba la mật, sinh nội không cho đến vô
pháp hữu pháp không; bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung; hết thảy Tam muội, hết thảy Thiền định, hết thảy Ðà la ni
đều từ Bát nhã ba la mật sinh; việc thành tựu chúng sinh, tịnh
cõi nước Phật đều từ Bát nhã ba la mật sinh; Bồ tát gia tộc
thành tựu, sắc thân thành tựu, vật nuôi sống thành tựu, quyến
thuộc thành tựu, đại từ đại bi thành tựu đều từ Bát nhã ba la
mật sinh; dòng lớn Sát lợi, dòng lớn Bà la môn, đại gia cư sĩ
đều từ Bát nhã ba la mật sinh; trời Tứ thiên vương cho đến trời
A ca nị tra; Tu đà hoàn cho đến A la hán, Bích chi Phật, các Bồ
tát ma ha tát, chư Phật, Trí nhất thiết chủng của chư Phật đều
từ Bát nhã ba la mật sinh.
Bấy giờ Thích đề hoàn
nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Người ở cõi Diêm phù đề
không cúng dường Bát nhã ba la mật, không cung kính, không tôn
trọng, không tán thán, vì họ không biết cúng dường, được nhiều
lợi ích ư?
Phật bảo Thích đề
hoàn nhơn: Kiều thi ca! Ý ông nghĩ sao? Trong cõi Diêm phù đề
được mấy người tin Phật chắc chắn không biến hoại; tin Pháp, tin
Tăng chắc chắn không biến hoại? Mấy người không nghi Phật, không
nghi Pháp, không nghi Tăng? Mấy người có tâm quyết liễu với
Phật, với Pháp, với Tăng?
Thích đề hoàn nhơn
bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Người Diêm phù đề có lòng tin
chắc chắn không biến hoại đối với Phật Pháp Tăng rất ít! Có tâm
không nghi, quyết liễu đối với Phật Pháp Tăng cũng ít!
Kiều thi ca! Ý ông nghĩ sao? Ở cõi Diêm phù
đề có mấy người tu được ba mươi bảy phẩm, ba môn giải thoát,
tám giải thoát, định chín thứ lớp, bốn trí vô ngại, sáu thần
thông? Ở cõi Diêm phù đề được mấy người dứt ba kiết nên được
đạo Tu đà hoàn? Mấy người dứt ba kiết và mỏng dâm, nộ, si nên
được đạo Tư đà hàm? Mấy người dứt năm hạ phần kiết nên chứng
được đạo A na hàm? Mấy người dứt năm thượng phần kiết nên
chứng được A la hán? Ở Diêm phù đề được mấy người cầu Bích chi
Phật? Mấy người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Thích đề hoàn nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức
Thế Tôn! Trong cõi Diêm phù đề ít người tu được ba mươi bảy
phẩm cho đến ít người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Phật bảo Thích đề hoàn nhơn: Như vậy, như
vậy! Kiều thi ca! Ít người có lòng tin Phật chắc chắn không
biến hoại, có lòng tin Pháp chắc chắn không biến hoại, có lòng
tin Tăng chắc chắn không biến hoại; ít người không nghi Phật,
không nghi Pháp, không nghi Tăng; ít người có tâm quyết liễu
đối với Phật, có tâm quyết liễu đối với Pháp, có tâm quyết
liễu đối với Tăng. Kiều thi ca! Cũng ít người tu được ba mươi
bảy phẩm, ba môn giải thoát, tám giải thoát, định chín thứ
lớp, bốn trí vô ngại, sáu thần thông. Kiều thi ca! Cũng ít
người dứt ba kiết được Tu đà hoàn, dứt ba kiết và mỏng dâm,
nộ, si được Tư đà hàm, dứt năm hạ phần kiết được A na hàm, dứt
năm thượng phần kiết được A la hán; ít người cầu Bích chi
Phật, trong đó cũng ít người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, trong các người phát tâm cũng ít người tu Bồ tát
đạo, vì sao? Vì chúng sinh ấy đời trước không thấy Phật, không
nghe Pháp, không cúng dường Tỳ kheo Tăng, không bố thí, không
trì giới, không nhẫn nhục, không tinh tấn, không thiền định,
không trí tuệ, không nghe nội không, ngoại không, cho đến vô
pháp hữu pháp không; cũng không nghe, không tu bốn niệm xứ cho
đến mười tám pháp không chung; cũng không nghe, không tu các
môn Tam muội, môn Ðà la ni, cũng không nghe không tu Nhất
thiết trí, Trí nhất thiết chủng.
Kiều thi ca! Do nhân duyên ấy, nên biết ít
có chúng sinh tin Phật một cách chắc chắn không biến hoại, tin
Pháp một cách chắc chắn không biến hoại, tin Tăng một các chắc
chắn không biến hoại, cho đến ít có chúng sinh cầu đạo Bích
chi Phật, trong đó cũng ít có chúng sinh phát tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác; trong số phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, ít có chúng sinh tu Bồ tát đạo; trong số ấy cũng
ít có chúng sinh chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Kiều thi ca! Ta dùng Phật nhãn thấy ở
phương đông vô lượng vô số chúng sinh phát tâm, tu tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, tu Bồ tát đạo, chúng sinh ấy vì
xa lìa lực phương tiện Bát nhã ba la mật, nên chỉ hoặc một
hoặc hai người được ở địa vị bất thối, còn phần nhiều rơi vào
địa vị Thanh văn, Bích chi Phật; phương nam, tây, bắc, bốn
góc, trên dưới cũng như vậy. Vì vậy, Kiều thi ca! Thiện nam
tử, thiện nữ nhân phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, nên nghe Bát nhã ba la mật, nên thọ trì, thân cận, đọc
tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng. Thọ trì, thân cận, đọc tụng,
giảng nói, nhớ nghĩ đúng rồi, nên chép quyển kinh cúng dường,
cung kính, tôn trọng, tán thán, dùng hoa hương, anh lạc cho
đến kỹ nhạc cúng dường. Ðối với các thiện pháp khác thuộc vào
Bát nhã ba la mật cũng nên nghe, thọ trì cho đến nhớ nghĩ
đúng.
Những gì là các thiện pháp khác? Ðó là Thí
ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật,
Thiền ba la mật, nội không, ngoại không cho đến vô pháp hữu
pháp không; các môn Tam muội, các môn Ðà la ni, bốn niệm xứ
cho đến mười tám pháp không chung, đại từ đại bi. Vô lượng các
thiện pháp như vậy đều thuộc vào Bát nhã ba la mật, cũng nên
nghe, thọ trì cho đến nhớ nghĩ đúng, vì sao? Vì thiện nam tử,
thiện nữ nhân ấy sẽ nghĩ như vầy: Xưa Phật khi làm Bồ tát, tu
như vậy, học như vậy, nghĩa là tu học Bát nhã ba la mật, Thiền
ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí
ba la mật, nội không, cho đến vô pháp hữu pháp không, các môn
Tam muội, các môn Ðà la ni, bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp
không chung, đại từ đại bi. Vô lượng Phật pháp như vậy, chúng
ta cũng nên tu học, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật là pháp chúng
ta tôn quý, Thiền ba la mật cho đến vô lượng các thiện pháp
khác cũng là pháp chúng ta tôn quý. Ðó là pháp ấn của chư
Phật, pháp ấn của các Bích chi Phật, A la hán, A na hàm, Tư đà
hàm, Tu đà hoàn. Chư Phật học Bát nhã ba la mật ấy cho đến Trí
nhất thiết chủng mà được đến bờ kia. Các Bích chi Phật, A la
hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn cũng học Bát nhã ba la
mật ấy cho đến Trí nhất thiết chủng nên được đến bờ kia. Vì
vậy, Kiều thi ca! Hoặc Phật tại thế, hoặc Phật Niết bàn rồi,
thiện nam tử, thiện nữ nhân nên nương dựa Bát nhã ba la mật,
Thiền ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la
mật, Thí ba la mật cho đến cũng nên nương tựa Trí nhất thiết
chủng, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật cho đến Trí nhất thiết
chủng là chỗ nương dựa của Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ tát ma
ha tát cho đến thế gian trời, người, A tu la.
LUẬN. Hỏi: Phật
đã nhiều cách tán thán công đức Bát nhã, nay Thích đề hoàn
nhơn cớ sao đem xá lợi của Phật so sánh với công đức Bát nhã
nhiều ít?
Ðáp: Người tín
căn nhiều ưa cúng dường xá lợi; người tuệ căn nhiều, ưa đọc
tụng kinh pháp. Thế nên hỏi có người chép Kinh cúng dường, có
người cúng dường xá lợi, bên nào công đức nhiều? Nghĩa hoa
hương, anh lạc như trước đã nói.
Ý ông nghĩ sao
là trong bốn cách hỏi đáp, đây là đáp bằng cách hỏi lại. Thế
nên Phật liền hỏi lại Thích đề hoàn nhơn: Hoặc có người cúng
dường xá lợi được phước đức nhiều, hoặc có người cúng dường
Bát nhã ba la mật được phước đức nhiều là tùy theo lòng người,
Phật không thể đáp nhất định, cho nên hỏi lại.
Từ trong Bát nhã ba la mật sinh năm Ba la
mật là
trong phẩm sau Phật tự nói: Không có phương tiện trí tuệ mà bố
thí hồi hướng, thì không gọi là Thí ba la mật; mười tám không,
tức là trí tuệ, trí tuệ làm nhân duyên sinh bốn niệm xứ, cho
đến Trí nhất thiết chủng; tuy chẳng phải tất cả đều là trí
tuệ, mà vì đồng tánh nên lấy trí tuệ làm chủ; thế nên nói từ
trí tuệ sinh. Nhờ tu Bát nhã ba la mật được thật tướng các
pháp, nên thông đạt bố thí, trì giới v.v... Nếu không được
thật tướng Bát nhã thì không thể thông đạt bố thí, trì giới,
vì sao? Vì nếu hết thảy đều không, thời không có tội không có
phước, cần gì phải bố thí, trì giới? Nếu là thật tướng các
pháp thời không nên từ nhân duyên sinh, vì trước đã có? Nếu
chúng sinh là thường thời thí như hư không, cũng không có ai
chết; nếu vô thường thời thần thức theo thân diệt, cũng không
có tội phước đời sau? Nếu không có chúng sinh, thời đâu có tội
giết, như vậy cũng không có giới không sát sinh v.v...? Nếu
được Bát nhã ba la mật thật tướng ấy thời không rơi vào hai
bên có, không; dùng lý trung đạo thông đạt bố trí, trì giới
v.v..., do quả báo của bố thí, trì giới mà có dòng lớn Sát
lợi, cho đến có chư Phật
Hỏi: Người cõi
Diêm phù đề phần nhiều tham phước đức lợi lộc, cớ sao không
cúng dường Bát nhã ba la mật?
Ðáp: Vì người
trí ít, nên không biết cúng dường Bát nhã, không lỗi; thí như
báu thật, người đui không biết. Vì ở Diêm phù đề người chỉ tin
Tam bảo mà còn ít, huống nữa là thực hành? Phật muốn khiến
Thích đề hoàn nhơn tự nói, cho nên hỏi lại có bao nhiêu người
đối với Tam bảo có lòng tin không biến hoại.
Hỏi:
Lòng tin không biến hoại, không nghi, quyết
liễu, có
gì sai khác?
Ðáp: Có người
nói, không có sai khác, vì Phật trang nghiêm nhiều cách nói để
khai ngộ lòng người.
Có người nói
đối với Tam bảo có được lòng tin không biến hoại, sao biết? Vì
không nghi ngờ. Sao biết không nghi ngờ? Vì quyết liễu.
Hỏi: Không
nghi, quyết liễu có gì sai khác?
Ðáp: Ðầu tin
Tam Bảo, nên ấy là không nghi; trí tuệ rốt ráo nên quyết liễu,
thí như lội nước, mới bước vào là không nghi, ra đến bờ kia là
quyết liễu. Do lực ba phần Thánh giới giới là chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng, nên lòng tin không biến hoại; do lực bốn
phần là chánh tư duy, chánh tin tấn, chánh niệm, chánh định
không nghi; do lực phần chánh kiến nên quyết liễu.
*Lại nữa, trong
kiến đế đạo là lòng tin không biến hoại; trong tư duy đạo, là
không nghi, trong vô học đạo là quyết liễu. Như vậy nhiều cách
phân biệt ba việc ấy.
Ðược quả báo
gì? Từ ba mươi bảy phẩm đến sáu thần thông, đó là quả hữu vi;
ba kiết dứt hết cho đến phiền não và tập khí dứt hết, đó là
quả vô vi; được quả báo như vậy.
Thích đề hoàn
nhơn có quả báo sinh ra đã có khả năng biết tâm người khác,
cũng từng lấy thiên nhĩ nghe các đạo sai khác. Lại, vì đây là
đại Bồ tát lợi căn, vào Tam muội quán tâm chúng sinh, nên biết
được các đạo sai khác. Thế nên đáp lại Phật: Người thâm tín
ít; người Tu đà hoàn cho đến người mới phát tâm cầu Phật đạo
càng ít hơn, càng ít nên không biết cúng dường Bát nhã. Vì sao
ít? Vì trong sinh tử đời trước, không từng nghe danh hiệu Tam
Bảo, cho đến không nghe tên Trí nhất thiết chủng.
Phật muốn làm
chứng việc trên, nên nói Ta nay dùng Phật nhãn xem mười phương
vô lượng vô số chúng sinh, người phát tâm Vô thượng đạo, vì xa
lìa lực phương tiện Bát nhã nên chỉ hoặc một hoặc hai người
trú địa vị bất thối.
Các thiện pháp khác thuộc vào Bát nhã ba la
mật là
chỉ cho các Kinh khác như kinh Pháp Hoa, kinh Mật Tích v.v...
Nghĩa trong
mười bộ Kinh đồng với Bát nhã là các kinh tuy không gọi là
kinh Bát nhã ba la mật, song nghĩa lý đồng với Bát nhã ba la
mật.
Hỏi: Làm sao Tu
đà hoàn cũng học Bát nhã ba la mật cho đến học Trí nhất thiết
chủng đến học Trí nhất thiết chủng được đến bờ kia?
Ðáp: Trong đây
sáu ba la mật, ba môn giải thoát, ba mươi bảy phẩm v.v... cho
đến Trí nhất thiết chủng, nó chẳng phải là riêng của Bồ tát mà
cả ba thừa chung có, theo phần học.
KINH:
Kiều thi ca! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ
nhân sau khi Phật Niết bàn, vì cúng dường Phật nên dựng tháp
bảy báu cao một do tuần, dùng hương trời, hoa trời, anh lạc
trời, hương bột trời, hương nước trời, áo trời, phan lọng
trời, kỹ nhạc trời cúng dường, cúng kính, tôn trọng, tán thán.
Kiều thi ca! Ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử,
thiện nữ nhân ấy, do nhân duyên đó được phước nhiều chăng?
Thích đề hoàn nhơn thưa:Bạch đức Thế Tôn!
Rất nhiều! Rất nhiều!
Phật dạy: Không như vậy. Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhân nghe Bát nhã ba la mật viết chép, thọ trì,
thân cận, nhớ nghĩ đúng, tâm không lìa Tát bà nhã, cũng cung
kính, tôn trọng, tán thán, hoặc hoa hương, anh lạc, hương bột,
hương nước, phan lọng, kỹ nhạc cúng dường, thiện nam tử, thiện
nữ nhân ấy phước đức nhiều.
Phật dạy: Kiều thi ca! Không kể một tháp
bảy báu, nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân vì cúng dường Phật,
sau khi Phật Niết bàn, dựng tháp bảy báu khắp cõi Diêm phù đề
đều cao một do tuần, cung kính, tôn trọng, tán thán, hoa
hương, anh lạc, phan lọng, kỹ nhạc cúng dường. Này Kiều thi
ca! Ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy được phước
nhiều chăng?
Thích đề hoàn nhơn thưa: Bạch đức Thế Tôn!
Phước kia rất nhiều.
Phật dạy: Không như vậy. Thiện nam tử,
thiện nữ nhân, cúng dường Bát nhã ba la mật như trước, phước
ấy rất nhiều.
Kiều thi ca! Lại không kể việc dựng tháp
bảy báu khắp cõi Diêm phù đề, nếu có thiện nam tử, thiện nữ
nhân vì cúng dường Phật, sau khi Phật Niết bàn, dựng tháp bảy
báu khắp bốn châu thiên hạ đều cao một do tuần, cúng dường như
trước. Kiều thi ca! Ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử, thiện nữ
nhân ấy được phước nhiều chăng?
Thích đề hoàn nhơn thưa: Rất nhiều, rất
nhiều, bạch đức Thế Tôn!
Phật dạy: Không như vậy. Nếu thiện nam tử,
thiện nữ nhân viết chép, gìn giữ Bát nhã ba la mật, cung kính,
tôn trọng, tán thán, hoa hương cho đến kỹ nhạc cúng dường,
phước ấy rất nhiều.
Kiều thi ca! Lại không kể việc dựng tháp
bảy báu khắp bốn châu thiên hạ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ
nhân, vì cúng dường Phật, sau khi Phật Niết bàn, dựng tháp bảy
báu khắp tiểu thiên thế giới đều cao một do tuần, cúng dường
như trước. Kiều thi ca! Ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử, thiện nữ
nhân ấy được phước nhiều chăng?
Thích đề hoàn nhơn thưa: Rất nhiều!
Phật dạy: Không như vậy! Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhân chép Bát nhã ba la mật, thọ, trì, cung kính,
tôn trọng, tán thán, hoa hương cho đến kỹ nhạc cúng dường,
phước ấy rất nhiều.
Kiều thi ca! Lại không kể việc dựng tháp
bảy báu khắp tiểu thiên thế giới, nếu có thiện nam tử, thiện
nữ nhơn vì cúng dường Phật, sau khi Phật Niết bàn, dựng tháp
bảy báu khắp hai ngàn trung thế giới, đều cao một do tuần,
cúng dường như trước vẫn không bằng cúng dường Bát nhã ba la
mật, phước ấy rất nhiều.
Kiều thi ca! Lại không kể việc dựng tháp
bảy báu khắp hai ngàn trung thế giới, nếu thiện nam tử, thiện
nữ nhân vì cúng dường Phật, sau khi Phật Niết bàn, dựng tháp
bảy báu khắp ba ngàn đại thiên thế giới đều cao một do tuần,
trọn đời cúng dường hoa trời, hương trời, anh lạc trời cho đến
kỹ nhạc trời. Ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy
được phước nhiều chăng?
Thích đề hoàn nhơn thưa: Bạch đức Thế Tôn!
Rất nhiều, rất nhiều!
Phật dạy: Không như vậy. Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhân, viết chép, giữ gìn Bát nhã ba la mật, cung
kính, tôn trọng, tán thán, hoa hương, cho đến kỹ nhạc cúng
dường, phước ấy rất nhiều.
Kiều thi ca! Lại không kể việc dựng tháp
bảy báu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, nếu có chúng sinh
trong ba ngàn đại thiên thế giới, mỗi mỗi chúng sinh vì cúng
dường Phật, sau khi Phật Niết bàn, đều dựng tháp bảy báu cung
kính, tôn trọng, tán thán, hoa hương cho đến kỹ nhạc, nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân, viết chép giữ gìn Bát nhã ba la
mật, cho đến nhớ nghĩ đúng, tâm không lìa Tát bà nhã, cũng
cung kính, tôn trọng, tán thán, hương hoa, anh lạc cho đến kỹ
nhạc cúng dường, người ấy được phước đức rất nhiều.
Thích đề hoàn nhơn bạch Phật: Bạch đức Thế
Tôn! Như vậy, như vậy! Người ấy cung kính, cúng dường, tôn
trọng, tán thán Bát nhã ba la mật thời tức là cúng dường Phật
quá khứ, vị lai, hiện tại chăng?
Bạch đức Thế Tôn! Nếu chúng sinh nhiều như
cát sông Hằng trong thế giới mười phương, mỗi mỗi chúng sinh
vì cúng dường Phật, sau khi Phật Niết bàn, đều dựng tháp bảy
báu, cao một do tuần, người ấy hoặc một kiếp, hoặc non một
kiếp cung kính, tôn trọng, tán thán , hoa hương cho đến kỹ
nhạc cúng dường. Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân
ấy được phước nhiều chăng?
Phật dạy: Rất nhiều!
Thích đề hoàn nhơn thưa: Nếu có thiện nam
tử, thiện nữ nhân viết chép, giữ gìn Bát nhã ba la mật cho đến
nhớ nghĩ đúng, cũng cung kính, tôn trọng, tán thán, hoa hương
cho đến kỹ nhạc cúng dường, phước ấy rất nhiều, vì sao? Bạch
đức Thế Tôn! Vì tất cả pháp lành đều thuộc vào Bát nhã ba la
mật, đó là mười thiện đạo, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
định vô sắc, ba mươi bảy phẩm, ba môn giải thoát, không, vô
tướng, vô tác, bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Ðạo; sáu thần thông, tám
giải thoát, định chín thứ lớp, Thí ba la mật, Giới ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la
mật; nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, các môn Tam
muội, môn Ðà la ni, Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn trí
vô ngại, đại từ đạu bi, mười tám pháp không chung, Nhất thiết
trí, Ðạo chủng trí, Trí nhất thiết chủng.
Bạch đức Thế Tôn! Ấy gọi là pháp ấn của hết
thảy chư Phật. Từ trong pháp ấy, hết thảy Thanh văn, Bích chi
Phật, chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại học pháp ấy được qua
bờ kia.
LUẬN: Bát nhã
ba la mật hoặc nghe, thọ trì, đọc tụng có vô lượng công đức.
Lại muốn nói nữa nên dùng việc hiện tiền thí dụ chứng minh,
người trông thấy tháp đất cao lớn, liền sinh tâm cho rằng vị
chủ tháp ấy phước đức rất lớn, huống gì dựng tháp bảy báu cao
một do tuấn, thế nên Phật lấy tháp để ví dụ.
Hỏi: THáp ấy là
thật hay giả?
Ðáp: Phật muốn
khiến người biết phân biệt phước đức nhiều ít nên lấy thí dụ,
không nên hỏi nó thật hay giả.
Có người nói:
Có thật, có giả. Như sau khi Phật Ca diếp Niết bàn, có quốc
vương tên Cát lê cật, lúc ấy người sống hai vạn tuổi. Quốc
vương ấy vì cúng dường xá lợi nên dựng tháp bảy báu, cao 50
dặm. Lại đời quá khứ có chuyển luân Thánh vương, tên là Ðức
Chủ, trong một ngày dựng 500 tháp, cao 50 do tuấn. Ở đây nói
khắp ba ngàn đại thiên thế giới, việc ấy là giả ví dụ.
Có người nói:
Ðều là thật có, như tiểu quốc vương, tùy sức dựng tháp bảy
báu, đại quốc vương có thể dựng tháp bảy báu cao một do tuần,
hoặc quá một do tuần. Tiểu Chuyển luân vương có thể dựng tháp
bảy báu khắp bốn châu thiên hạ, đại Chuyển luân vương có thể
dựng tháp bảy báu quá bốn châu thiên hạ, Phạm thiên vương chủ
ba ngàn đại thiên thế giới, là đệ tử Phật, tâm có thể sinh
biến hóa, dựng tháp cao đến Phạm thiên, khắp ba ngàn đại thiên
thế giới. Hoặc có Bồ tát được môn Ðà la ni, các môn Tam muội,
hành sâu sáu Ba la mật, nên sau khi Phật diệt độ, có thể dựng
tháp bảy báu khắp ba ngàn đại thiên thế giới.
Khắp là nói
nhiều, chứ không phải nói giữa đó không dung xem thứ gì khác.
Sau nói mỗi mỗi
chúng sinh có nghĩa là thí chủ nhiều nên phước đức nhiều.
Trong đây Phật tự nói nhân duyên được phước là mười thiện đạo
cho đến Trí nhất thiết chủng đều nhiếp thuộc trong Bát nhã ba
la mật. Hòa hợp với pháp ấy, gọi là Bát nhã ba la mật. Trong
Bát nhã ấy, chỉ xuất sinh Phật, còn nên cúng dường, huống gì
xuất sinh cả ba thừa, cho đến sự vui trong cõi trời cõi người
đều nhân nơi Bát nhã ba la mật mà có, lại không cúng dường ư?
Xá lợi là pháp
vô ký, là chỗ nương tựa của các pháp lành; nên về sau hay cho
người quả báo. Tu Bát nhã ba la mật hiện thời được quả, tương
lai được báo.
GIẢI THÍCH: PHẨM THUẬT THÀNH THỨ 33
(Kinh Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Phước Sinh thứ 31)
KINH: Bấy giờ Phật
bảo Thích đề hoàn nhơn: Như vậy, như vậy, Kiều thi ca! Các thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy, chép Bát nhã ba la mật, giữ quyển kinh
thọ học, thân cận, đọc tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng, lại thêm
cúng dường hoa hương, anh lạc, hương bột, hương nước, phan lọng,
kỹ nhạc nên được phước đức vô lượng vô biên vô số không thể nghĩ
bàn, không thể cân lường, vì sao? Vì Nhất thiết trí, Trí nhất
thiết chủng của chư Phật đều từ trong Bát nhã ba la mật sinh.
Thiền ba la mật, Tấn
ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật của Bồ
tát ma ha tát đều từ trong Bát nhã ba la mật sinh.
Nội không cho đến vô
pháp hữu pháp không; bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung đều từ trong Bát nhã ba la mật sinh. Năm mắt của chư Phật
đều từ trong Bát nhã ba la mật sinh. Việc thành tựu chúng sinh,
tịnh cõi nước Phật, Ðạo chủng trí, Trí nhất thiết chủng, các
Phật pháp đều từ trong Bát nhã ba la mật sinh. Thanh văn thừa,
Bích chi Phật thừa, Phật thừa đều từ Bát nhã ba la mật sinh.
Vì vậy, Kiều thi ca!
Thiện nam tử, thiện nữ nhân chép Bát nhã ba la mật, thọ trì
quyển kinh, thân cận, đọc tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng, lại
còn cúng dường hương hoa cho đến kỹ nhạc, phước đức quá hơn
trước cúng dường tháp bảy báu trăm phần, ngàn phần, ngàn ức vạn
phần, cho đến toán số thí dụ không thể kịp được, vì sao? Kiều
thi ca! Vì nếu có Bát nhã ba la mật ở đời thời Phật bảo, Pháp
bảo, Tỳ kheo Tăng bảo trọn không diệt.
Nếu có Bát nhã ba la
mật ở đời thời mười thiện đạo, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
định vô sắc, Thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, bốn niệm
xứ cho đến mười tám pháp không chung, Nhất thiết trí, Trí nhất
thiết chủng, đều hiện ở đời.
Nếu có Bát nhã ba la mật ở đời, thời thế
gian bèn có dòng lớn Sát lợi, dòng lớn Bà la môn, đại gia cư
sĩ, trời Tứ thiên vương, cho đến trời A ca nị tra; Tu đà hoàn
quả cho đến A la hán quả, Bích chi Phật đạo, Bồ tát ma ha tát,
Vô thượng Phật đạo, Chuyển pháp luân, thành tựu chúng sinh,
tịnh cõi nước Phật.
LUẬN: Trên kia Ðế thích
đáp lại Phật rằng: Cúng dường Bát nhã, phước đức rất nhiều. Lại
có trời lớn hơn cho rằng Ðế thích chẳng phải người Nhất thiết
trí, nói ra hoặc sai lầm. Vì vậy Phật ấn khả lời Ðế thích nói
rằng: Như vậy, như vậy!
Hỏi: Nều đối với tướng
Bát nhã ba la mật, hết thảy các sự quán sát đều diệt, đường ngôn
ngữ dứt, chẳng sinh chẳng diệt, như tướng hư không, nay cớ sao
nói có Bát nhã ở đời thời Tam Bảo không diệt?
Ðáp: Thể tánh Bát nhã ba
la mật, có Phật không có Phật vẫn thường trú chẳng diệt. Ðây nói
ở đời là chỉ quyển kinh Bát nhã, có thể tu tập đọc tụng, ấy là
trong nhân nói quả. Ví như giếng sâu, giây ngắn không đến, bèn
nói là mất giếng mà giếng thật chẳng mất. Thật tướng Bát nhã ba
la mật như giếng sâu, quyển kinh gọi là giây, hành giả không thể
viết chép, tu tập, nên nói là diệt.
Hỏi: Nếu nói Tam Bảo thu
nhiếp hết tất cả người lành, pháp lành, cớ sao còn nói có Bát
nhã ở đời thời thế gian có mười thiện đạo, cho đến Trí nhất
thiết chủng?
Ðáp: Các pháp và các đạo
ấy đều giải rộng trong nghĩa Tam Bảo. Phật bảo là năm chúng vô
học (hay năm pháp uẩn là giới, định, tuệ, giải thoát, giải
thoát tri kiến – ND) nhiếp thuộc Phật pháp. Pháp bảo là đế
thứ ba tức Niết bàn, trừ công đức học, vô học nhiếp thuộc bốn
quả Sa môn, công đức Bích chi Phật dư tàn, công đức Bồ tát. Tăng
bảo là bốn hướng, bốn đắc (bốn quả), năm uẩn học vô học. Ngoài
ra mười thiện đạo, bốn thiền, bốn tâm vô lượng v.v... đều là cửa
phương tiện vào đạo, cho nên nói riêng.
(Hết cuốn 57 theo bản Hán)
--o0o --