| ...... ... |
. |
Luận Đại
Trí Độ
( Mahàprajnàparamitàsatra)
Tác giả:
Nàgàrjuna (Long Thọ)
Dịch Phạn ra Hán:
Cưu Ma La Thập
Dịch Hán ra Việt:
Thích Thiện Siêu
Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt
Nam
Ấn hành 1997
---o0o---
Tập 3
Cuốn 59
GIẢI
THÍCH: PHẨM XÁ LỢI THỨ 37
(Kinh Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Thiết Lợi La thứ 35)
KINH: Phật bảo Thích
đề hoàn nhơn: Kiều thi ca! Nếu xá lợi Phật đầy Diêm phù đề làm
một phần, lại có người viết quyển kinh Bát nhã ba la mật làm một
phần, trong hai phần ấy, ông lấy phần nào?
Thích đề hoàn nhơn
bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Nếu xá lợi Phật đầy cõi Diêm
phù đề làm một phần, quyển kinh Bát nhã ba la mật làm một phần,
trong hai phần ấy con thà lấy phần quyển kinh Bát nhã ba la mật,
vì sao? Bạch đức Thế tôn! Con đối với xá lợi Phật chẳng phải
không cung kính, chẳng phải không tôn trọng, vì xá lợi từ trong
Bát nhã ba la mật sinh, nhờ huân tu Bát nhã ba la mật, nên xá
lợi ấy được cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán.
Bấy giờ Xá lợi phất
hỏi Thích đề hoàn nhơn: Kiều thi ca! Bát nhã ba la mật không thể
lấy, không sắc, không hình, không đối, nhất tướng, tức là vô
tướng, ông làm sao muốn chấp lấy, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật
ấy không vì chấp thủ nên xuất sinh, không vì xả bỏ nên xuất
sinh, không vì tăng giảm, tụ tán, tổn ích, nhơ sạch nên xuất
sinh (Kinh Ðại Bát nhã ghi: Bát nhã ba la mật thậm thâm,
không thủ, không xả, không tăng, không giảm, không ích, không
tổn, không cấu, không tịnh – ND) Bát nhã ba la mật ấy không
hợp cùng pháp chư Phật, không bỏ pháp phàm phu, không hợp cùng
pháp Bích chi Phật, pháp A la hán, pháp học, không bỏ pháp phàm
phu; không hợp cùng tánh vô vi, không bỏ pháp hữu vi, không hợp
cùng nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, không hợp cùng
bốn niệm xứ cho đến Trí nhất thiết chủng, không bỏ pháp phàm
phu.
Thích đề hoàn nhơn
nói với Xá lợi phất: Như vậy, như vậy! Xá lợi phất! Nếu có người
biết Bát nhã ba la mật ấy không hợp cùng pháp chư Phật, không bỏ
pháp phàm phu, cho đến không hợp cùng Trí nhất thiết chủng,
không bỏ pháp phàm phu, ấy là Bồ tát ma ha tát hay thực hành Bát
nhã ba la mật, tuy tu Bát nhã ba la mật, vì sao? Vì Bát nhã ba
la mật không hành theo tướng hai pháp, không có tướng hai pháp
là Bát nhã ba la mật, không có tướng hai pháp là Thiền ba la mật
cho đến Thí ba la mật.
Bấy giờ Phật tán thán
Thích đề hoàn nhơn: Lành thay, lành thay! Kiều thi ca! Như lời
ông nói, Bát nhã ba la mật không hành theo tướng hai pháp, không
có tướng hai pháp là Bát nhã ba la mật, không có tướng hai pháp
là Thiền ba la mật cho đến Thí ba la mật.
Kiều thi ca! Nếu
người muốn có được pháp tánh hai tướng là người muốn có được Bát
nhã ba la mật hai tướng, vì sao? Kiều thi ca! Vì pháp tánh và
Bát nhã không hai không khác, cho đến Thí ba la mật cũng như
vậy. Nếu người muốn có được thật tế, pháp tánh, tánh bất khả tư
nghì hai tướng, là người muốn có được Bát nhã ba la mật hai
tướng, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật và tánh bất khả tư nghì
không hai không khác (Kinh Ðại Bát nhã ghi: Nếu người muốn
khiến Bát nhã thậm thâm cho đến Thí ba la mật có hai tướng, là
muốn khiến pháp giới, như như, pháp tánh, thật tế, bất tư nghì
giới cũng có hai tướng, vì sao? Vì Bát nhã thậm thâm cho đến Thí
ba la mật, đều cùng với pháp giới cho đến bất tư nghì giới không
hai không khác – ND).
Thích đề hoàn nhơn
bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Hết thảy người thế gian và chư
Thiên, A tu la nên lễ bái cúng dường Bát nhã ba la mật, vì sao?
Vì các Bồ tát ma ha tát học Bát nhã ba la mật mà chứng được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bạch đức Thế Tôn! Con
thường ngồi trên nhà thiện pháp, nếu khi con không có ở trên
tòa, thời các Thiên tử đến cúng dường con, làm lễ đi quanh chỗ
con ngồi rồi đi trở lui. Các Thiên tử nghĩ rằng: Thích đề hoàn
nhơn ở tại chỗ này nói pháp cho các trời Ba mươi ba nghe như
vậy. Bạch đức Thế Tôn! Ở chỗ có chép quyển kinh Bát nhã ba la
mật thọ trì, đọc tụng, vì nói cho người khác nên chỗ ấy chư
Thiên, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lầu la, Khẩn na
la, Ma hầu la già trong mười phương đều đến lễ bái Bát nhã ba la
mật, và cúng dường xong lui về, vì sao? Vì từ trong Bát nhã ba
la mật sinh ra chư Phật và tất cả dụng cụ vui thích của chúng
sinh. Xá lợi chư Phật cũng là nhân duyên trú xứ cho Trí nhất
thiết chủng. Vì vậy, bạch Thế Tôn! trong hai phần ấy con lấy
Bát nhã ba la mật.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Nếu con thọ trì, đọc tụng kinh Bát nhã ba la mật, tâm
sâu vào trong pháp, khi ấy con không thấy tướng sợ hãi, vì sao?
Bạch Thế Tôn! Vì Bát nhã ba la mật ấy không tướng, không mạo,
không ngôn, không thuyết. Bạch đức Thế Tôn! Không tướng, không
mạo, không ngôn, không thuyết là Bát nhã ba la mật cho đến là
Trí nhất thiết chủng.
Bạch đức Thế Tôn! Bát
nhã ba la mật, nếu có tướng chẳng phải vô tướng, thời chư Phật
không thể biết tất cả pháp không tướng, không mạo, không ngôn,
không thuyết.
Bạch đức Thế Tôn! Vì
Bát nhã ba la mật thật là không tướng, không mạo, không ngôn,
không thuyết nên chư Phật biết tất cả pháp không tướng, không
mạo, không ngôn, không thuyết, chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác; vì các đệ tử nói các pháp cũng không tướng, không
mạo, không ngôn, không thuyết. Vì vậy, bạch Thế Tôn! Bát nhã ba
la mật ấy tất cả thế gian, trời, người, A tu la đều nên cúng
dường, cung kính, tôn trọng, tán thán, hương hoa, anh lạc cho
đến phan lọng.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Nếu có người thọ trì Bát nhã ba la mật, thân cận đọc
tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng và viết chép, cúng dường hương
hoa cho đến phan lọng, người ấy không đọa địa ngục, súc sinh,
ngã quỉ, không rơi vào địa vị Thanh văn, Bích chi Phật, cho đến
chứng được Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, thường thấy chư
Phật; người ấy từ một cõi Phật đến một cõi Phật, cúng dường chư
Phật, cung kính, tôn trọng, tán thán, hương hoa cho đến phan
lọng.
*Lại nữa, bạch đức Thế Tôn! Xá lợi Phật đầy
ba ngàn đại thiên thế giới làm một phần, quyển kinh Bát nhã ba
la mật làm một phần, trong hai phần ấy, con lấy phần Bát nhã
ba la mật, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Vì Bát nhã ba la mật ấy
sinh xá lợi chư Phật. Thế nên xá lợi được cúng dường, cung
kính, tôn trọng, tán thán. Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy nhờ
cúng dường, cung kính xá lợi nên được thọ phước lạc ở cõi
trời, cõi người, thường không bị đọa vào ba đường ác, được như
sở nguyện, dần dần dùng pháp ba thừa vào Niết bàn. Thế nên,
bạch đức Thế Tôn! Hoặc có thấy Phật hiện tại, hoặc thấy quyển
kinh Bát nhã ba la mật, bằng nhau không khác, vì sao? Bạch đức
Thế Tôn! Vì Bát nhã ba la mật và Phật không hai không khác.
LUẬN. Hỏi: Trên
lấy việc dựng tháp bảy báu so sánh việc cúng dường Bát nhã ba la
mật, nghĩa đã đầy đủ, sao nay Phật còn đem xá lợi và quyển kinh
so sánh nhau?
Ðáp: Trước nói tháp bảy
báu là trú xứ của xá lợi, nay chỉ nói rõ xá lợi so với quyển
kinh. Xá lợi tuy không bằng Bát nhã, song đầy cõi Diêm phù đề,
còn Bát nhã thâm diệu, nên chỉ nêu quyển kinh.
*Lại nữa, người xuất gia
phần nhiều tham trí tuệ, vì trí tuệ là nhân duyên giải thoát,
còn người tại gia phần nhiều tham phước đức, vì phước đức là
nhân duyên vui; người xuất gia phần nhiều tham vật do ý thức
biết, còn người tại gia phần nhiều tham vật do năm thức biết.
Thích đề hoàn nhơn đã được quả báo phước lạc rất lớn, rất là tôn
thắng giữa người tại gia, vì vậy nên Phật hỏi Thích đề hoàn
nhơn. Thích đề hoàn nhơn thưa: Trong hai phẩm ấy, con lấy phần
quyển kinh Bát nhã ba la mật . Trong đây tự nói nhân duyên: Bạch
đức Thế Tôn! Con không dám khinh mạn không cung kính xá lợi. Con
biết cúng dường bằng hạt cải được công đức vô lượng vô biên, cho
đến khi thành Phật, công đức không cùng tận, huống gì cúng dường
xá lợi đầy cõi Diêm phù đề!
Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát
thọ thân bèn có xá lợi, người không xem quí; khi được thành
Phật, xá lợi do Bát nhã huân tu, nên người đều cung kính, tôn
trọng, cúng dường. Vì vậy nên trong hai phần, con lấy phần
thắng.
Hỏi: Xá lợi phất đã biết
Thích đề hoàn nhơn do vì thế đế nên nói lấy Bát nhã ba la mật,
cớ sao còn nạn hỏi?
Ðáp: Thích đề hoàn nhơn
vì tại gia bị phiền não trói buộc, năm dục che lấp, mà nói được
Bát nhã ba la mật, việc ấy hy hữu! Vì vậy Xá lợi phất gạn hỏi,
muốn Thích đề hoàn nhơn trở lại hỏi thâm nghĩa của Phật, cho nên
nạn hỏi. Thích đề hoàn nhơn thuật theo ý Xá lợi phất, đáp rằng
“như vậy”. Ý của Thích đề hoàn nhơn là đối với hết thảy pháp
không có hai tướng, không cho xá lợi Phật là nhỏ, không cho Bát
nhã ba la mật là lớn. Bát nhã ba la mật không có tướng hai,
tướng phân biệt, mà vì lợi ích cho hàng Bồ tát mới phát tâm nên
theo thế đế nói Bát nhã ba la mật như vậy... làm cho tâm chúng
sinh không hai không phân biệt. Vì lợi ích lớn, nên con lấy Bát
nhã.
Khi ấy, Phật tán thán
Thích đề hoàn nhơn: Lành thay, lành thay! Vì có thể phân biệt
các pháp và có thể khéo nói tướng Bát nhã, là tướng không hai,
cho nên tán thán.
Trong đây Phật tự nói
thí dụ: Nếu người muốn phân biệt pháp tánh, thật tế làm hai phần
là người ấy muốn phân biệt Bát nhã ba la mật làm hai phần.
Ðế thích tự nói Bát nhã,
lại nghe Phật lập lại, tâm ông thanh tịnh, tin sâu hoan hỷ, nói:
Hết thảy thế gian nên lễ kính. Thích đề hoàn nhơn tự nói nhân
duyên: Tất cả Bồ tát học Bát nhã ấy, chứng được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Lại trong đây lấy thân mình để ví dụ, thân mình
ví dụ Phật, quyển kinh Bát nhã ví dụ chỗ ngồi.
Có người nói: Thân mình
ví dụ Bát nhã, chỗ ngồi ví dụ xá lợi, thế nên trong hai phần,
con lấy phần quyển kinh Bát nhã.
*Lại nữa, bạch đức Thế
Tôn! Con nếu thọ trì đọc tụng Bát nhã, khi ấy cho đến không thấy
có dấu hiệu sợ hãi, huống gì sợ hãi thật, vì cớ sao? Vì hết thảy
pháp không tướng, không ngôn, không thuyết. Bát nhã ba la mật
hay khiến người tu ngộ được pháp vô tướng ấy, cho nên không sợ.
Người thọ trì cúng dường
Bát nhã không bị rơi vào ba đường ác và ba thừa, đời đời không
lìa chư Phật, thường cúng dường mười phương chư Phật. Thế nên
đối với Bát nhã ba la mật, hết thảy thế gian nên cúng dường.
*Lại nữa, Phật mở đầu
bằng lấy xá lợi Phật đầy cõi Diêm phù đề, Ðế thích rõ hai việc
hơn thua, vì hết thảy chúng sinh nên tăng rộng xá lợi đến ba
ngàn đại thiên thế giới. Tronng đây tự nói nhân duyên: Thấy Bát
nhã ba la mật cùng với thấy Phật ngang nhau không khác.
KINH: Lại nữa, bạch
đức Thế Tôn! Như Phật ở đời thị hiện ba việc (Ðản sinh, Thành
đạo, Nhập Niết bàn – ND) và nói mười hai bộ Kinh, từ Tu đa la,
Kỳ dạ cho đến Ưu ba đề xá. Lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân
thọ trì, đọc tụng, giảng nói Bát nhã ba la mật, hai việc ấy bằng
nhau không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Vì từ trong Bát nhã
ba la mật ấy xuất sinh ba việc thị hiện và mười hai bộ Kinh, từ
Tu đa la cho đến Ưu ba đề xá.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Mười phương chư Phật ở đời thị hiện ba việc, nói mười
hai bộ Kinh từ Tu đa la cho đến Ưu ba đề xa. Lại có thiện nam
tử, thiện nữ nhân, thọ trì Bát nhã ba la mật, vì người khác nói,
hai việc ấy bằng nhau không khác, vì sao? Vì từ trong Bát nhã ba
la mật xuất sinh chư Phật và mười hai bộ Kinh, từ Tu đa la cho
đến Ưu ba đề xá.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Nếu có người cúng dường chư Phật trong mười phương thế
giới như số cát sông Hằng cung kính, tôn trọng, tán thán, hương
hoa, cho đến phan lọng. Lại có người chép quyển kinh Bát nhã ba
la mật cung kính, tôn trọng, tán thán, hương hoa, cho đến phan
lọng, phước kia bằng nhau, vì mười phương chư Phật đều từ trong
Bát nhã ba la mật xuất sinh.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe Bát nhã ba la mật ấy,
thọ trì, đọc tụng, nhớ nghĩ đúng và vì người khác nói, người ấy
không đọa địa ngục, súc sinh, ngã quỉ, cũng không rơi vào địa vị
Thanh văn, Bích chi Phật, vì sao? Vì nên biết thiện nam tử,
thiện nữ nhân ấy chính ở địa vị bất thối. Bát nhã ba la mật ấy
xa lìa tất cả khổ não suy bệnh.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân chép quyển kinh Bát
nhã ba la mật, thọ trì, thân cận, cúng dường, cung kính, tôn
trọng, tán thán, người ấy lìa hết các sợ hãi.
Bạch đức Thế Tôn! Thí
như người mắc nợ thân cận với quốc vương, cung cấp hai bên, chủ
nợ lại trở lại cúng dường cung kính người ấy, người ấy không còn
sợ hãi, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Vì người dựa kề nơi vua, nương
cậy người có thế lực.Như vậy, bạch đức Thế Tôn! Xá lợi chư Phật
nhờ Bát nhã ba la mật huân tu, nên được cúng dường cung kính.
Bạch đức Thế Tôn! Nên
biết Bát nhã ba la mật như vua, xá lợi phất như người mắc nợ;
người mắc nợ dựa vua nên được cúng dường. Xá lợi cũng dựa Bát
nhã ba la mật huân tu nên được cúng dường.
Bạch đức Thế Tôn! Nên
biết Trí nhất thiết chủng của chư Phật cũng do Bát nhã ba la mật
huân tu nên được thành tựu. Vì thế, bạch đức Thế tôn! Trong hai
phần, con lấy phần Bát nhã ba la mật, vì sao? Bạch đức Thế Tôn!
Vì từ trong Bát nhã ba la mật xuất sinh 32 tướng, xá lợi chư
Phật cũng từ trong Bát nhã ba la mật xuất sinh Phật mười lực,
bốn điều không sợ, bốn trí vô ngại, mười tám pháp không chung,
đại từ đại bi.
Bạch đức Thế Tôn! Từ
trong Bát nhã ba la mật xuất sinh năm Ba la mật kia làm cho được
danh tự là Ba la mật, từ trong Bát nhã ba la mật xuất sinh Trí
nhất thiết chủng của chư Phật.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Ở trong ba ngàn đại thiên thế giới nếu có người thọ
trì, cúng dường, cung kính, tôn trọng, tán thán Bát nhã ba la
mật thì ở chỗ ấy, hoặc người hoặc chẳng phải người, không thể
tìm được chỗ tiện lợi để phá. Người ấy dần dần được vào Niết
bàn.
Bạch đức Thế Tôn! Bát
nhã ba la mật có lợi ích lớn như vậy, có thể ở trong ba ngàn đại
thiên thế giới làm Phật sự.
Bạch đức Thế Tôn! Ở
trú xứ nào có Bát nhã ba la mật thời ở đó là có Phật.
Bạch đức Thế Tôn! Thí
như ở trú xứ có ngọc ma ni vô giá, các phi nhân không tìm được
chỗ tiện lợi để phá. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân có bệnh
nhiệt, lấy ngọc ấy đeo trên mình, bệnh nhiệt liền hết, nếu có
bệnh gió, bệnh lạnh, bệnh lẫn lộn cả nóng gió lạnh, lấy ngọc ấy
đeo trên mình, bệnh đều trừ hết. Nếu trong chỗ tối, ngọc ấy có
thể soi sáng, khi nóng có thể làm mát, khi lạnh có thể làm ấm,
chỗ có ngọc không lạnh không nóng, thời tiết thuận hòa, chỗ ấy
cũng không có các thứ độc khác. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân
bị rắn độc cắn, lấy ngọc chỉ cho thấy, độc liền tiêu mất.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Nếu nam tử, nữ nhân đau mắt, đau da, mù lòa, lấy ngọc
chỉ cho thấy, liền trừ diệt; nếu có ghẻ lác, phù thủng, lấy ngọc
đeo trên mình, bệnh liền hết.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Ngọc ma ni ấy ở trong nước, nước theo ma ni thành một
màu, nếu lấy vật màu xanh gói lại để trong nước, màu nước thành
xanh, nếu lấy vật màu vàng, đỏ, trắng, hồng, hồ thủy bọc lại để
trong nước, nước liền theo đó thành màu vàng, đỏ, trắng, hồng,
hồ thủy. Lấy vật có các màu như vậy gói ngọc để trong nước, nước
liền theo đó thành các màu.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu
nước đục, lấy ngọc để vào nước liền trong, ngọc ấy có đức tánh
như vậy.
Bấy giờ, A nan hỏi
Thích đề hoàn nhơn:Kiều thi ca! Ngọc ma ni ấy là báu trên trời,
hay là báu cõi Diêm phù đề?
Thích đề hoàn nhơn
thưa với A nan: Ðó là báu trên trời, người cõi Diêm phù đề cũng
có báu ấy, nhưng vì công đức ít nên không đầy đủ, còn báu trên
trời trong sạch, nhẹ đẹp, không thể lấy thí dụ so được.
*Lại nữa, bạch đức
Thế Tôn! Ngọc ma ni ấy nếu để trong hòm, khi lấy ngọc ra, công
năng nó xông ướp hòm nên người ta đều yêu kính.
Như vậy, Bạch đức Thế
Tôn! Ở trú xứ có chép quyển kinh Bát nhã ba la mật thời chỗ ấy
không sợ các sự não hại, cũng như chỗ có đeo ngọc ma ni, thời
không có các nạn.
Bạch đức Thế Tôn! Sau
khi Phật Niết bàn, xá lợi được cúng dường đều do năng lực của
Bát nhã ba la mật, Thiền ba la mật cho đến Thí ba la mật; do
năng lực công đức của nội không cho đến vô pháp hữu pháp không,
bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung, Nhất thiết trí,
pháp tướng, pháp trụ, pháp vị, pháp tánh, thật tế, bất khả tư
nghì tánh, Trí nhất thiết chủng.
Thiện nam tử, thiện
nữ nhân nghĩ rằng: Xá lợi Phật ấy là trú xứ của các công đức chư
Phật, như Nhất thiết trí, Trí nhất thiết chủng, đại từ đại bi,
dứt hết thảy kiết sử và tập khí, thường hành xả, pháp không sai
lầm v.v... Do vậy nên xá lợi được cúng dường.
Bạch đức Thế Tôn! Xá
lợi là trú xứ của Ba la mật, các báu công đức là trú xứ của Ba
la mật không nhơ không sạch, là trú xứ của Ba la mật chẳng sinh
chẳng diệt, Ba la mật chẳng vào chẳng ra, Ba la mật chẳng tăng
chẳng giảm, Ba la mật chẳng đến chẳng đi chẳng ở. Xá lợi Phật ấy
là trú xứ Ba la mật các pháp tướng, do Ba la mật các pháp ấy
huân tu nên xá lợi được cúng dường.
*Lại nữa, Bạch đức
Thế Tôn! Không kể xá lợi đầy ba ngàn đại thiên thế giới, mà xá
lợi đầy cả thế giới như cát sông Hằng làm một phần, có người
chép quyển kinh Bát nhã ba la mật làm một phần, trong hai phần
ấy, con lấy phần Bát nhã ba la mật, vì sao? Vì từ trong Bát nhã
ba la mật ấy xuất sinh xá lợi Phật, do Bát nhã ba la mật ấy huân
tu nên xá lợi được cúng dường.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân cúng dường xá lợi, cung kính, tôn
trọng, tán thán, quả báo công đức kia không có ngằn mé, hưởng
thọ phước lạc cõi trời cõi người, đó là dòng lớn Sát lợi, dòng
lớn Bà la môn, đại gia cư sĩ, chỗ trời Tứ thiên vương, cho đến
phước lạc trong cõi trời Tha hóa tự tại cũng do nhân duyên phước
đức ấy nên sẽ được hết khổ. Nếu thọ Bát nhã ba la mật này, đọc
tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng thì người ấy có thể đầy đủ Thiền
ba la mật cho đến Thí ba la mật, có thể đầy đủ bốn niệm xứ cho
đến mười tám pháp không chung, vượt qua địa vị Thanh văn, Bích
chi Phật, trú địa vị Bồ tát; trú địa vị Bồ tát vị rồi, được thần
thông Bồ tát, từ một cõi Phật đến một cõi Phật. Vị Bồ tát ấy vì
chúng sinh mà thọ thân tùy chỗ thích ứng, thành tựu chúng sinh,
hoặc làm Chuyển luân Thánh vương, hoặc sinh dòng lớn Sát lợi,
hoặc sinh dòng lớn Bà la môn, để thành tựu chúng sinh . Vì vậy,
Bạch đức Thế Tôn! Con không phải vì khinh mạn không cung kính mà
không lấy phần xá lợi, vì thiện nam tử, thiện nữ nhân cúng dường
Bát nhã ba la mật tức là cúng dường xá lợi.
Lại nữa, Bạch đức Thế
tôn! Có người muốn thấy pháp thân, sắc thân Phật hiện tại trong
mười phương vô lượng vô số thế giới, người ấy nên nghe, thọ trì
Bát nhã ba la mật, đọc tụng, nhớ nghĩ đúng, vì người khác nói
rộng. Như vậy, thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy sẽ thấy pháp thân,
sắc thân Phật hiện tại trong mười phương vô lượng vô số thế
giới. Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy hành Bát nhã ba la mật cũng
nên dùng pháp tướng tu Niệm Phật tam muội.
*Lại nữa, thiện nam
tử, thiện nữ nhân muốn thấy chư Phật hiện tại hãy nên thọ Bát
nhã ba la mật ấy, cho đến nhớ nghĩ đúng.
LUẬN: Lại nữa, Phật trú
ba sự thị hiện, thuyết mười hai bộ Kinh.
Hỏi: Trong tất cả người
thuyết pháp, không ai bằng Phật, Phật nói mười hai bộ Kinh đầy
đủ tất cả, tại sao thiện nam tử chỉ thọ trì Bát nhã ba la mật mà
lại bằng với Phật không khác?
Ðáp: Trong đây Phật muốn
xưng tán Bát nhã là lớn. Trong mười hai bộ Kinh, Bát nhã là tối
thắng, vì sao? Vì nói Bát nhã ba la mật ấy thì có nhiều người
phát tâm Bồ tát. Còn khi nói mười hai bộ Kinh thì phát tâm ba
thừa lẫn lộn. Không lấy công đức Bố tát sánh với vô lượng thân
Phật, vì đây nói pháp thân. Bồ tát chỉ nói Bát nhã, khuyến dẫn
Ðại thừa; Phật nói lẫn lộn, khuyến dẫn thừa, cho nên bằng nhau
không khác.
*Lại nữa, ba sự thị
hiện và nói mười hai bộ Kinh, căn bản là Bát nhã ba la mật. Cúng
dường chư Phật mười phương như số cát sông Hằng, hoặc lại có
người cúng quyển kinh Bát nhã cũng bằng nhau không khác.
Trong đây Phật tự nói
Bát nhã sở dĩ có nhân duyên phước đức thù thắng là vì Bát nhã
phá được hết thảy khổ não, suy bệnh, sợ hãi; như người mắc nợ
dựa vào vua. Vua ví dụ Bát nhã, người mắc nợ ví dụ xá lợi. Xá
lợi là do nghiệp nhân duyên đời trước tạo thành. Trong nhân
duyên phải đền trả đối xứng, song do có Bát nhã ba la mật huân
tu, nên sự đền trả đối xứng theo nhân duyên đời trước và sự đói
khát lạnh nóng không xâm hại được, trái lại được cõi trời cõi
người cúng dường, như người mắc nợ, dựa vào vua, trở lại được
chủ nợ tôn kính. Trước kia nói không có các suy não và sợ hãi để
nói rõ bên trong, nay nói ngọc ma ni thì người và chẳng phải
người không tìm được chỗ dễ để nói rõ bên ngoài.
Người ấy do cúng dường
Bát nhã ba la mật nên hoặc đời nay hoặc đời sau, hoặc thân suy
tâm bệnh đều trừ hết, các việc thiện nguyện tùy ý cho hết. Ðược
báu Bát nhã ba la mật, không có các sợ hãi, không bị thiếu hụt,
thí như có châu báu vô giá, muốn gì được nấy.
Hỏi: Ngọc báu ma ni là
thứ báu gì trong các thứ pha lê, vàng bạc, xa cừ, mã não, lưu
ly, san hô, hổ phách và kim cương?
Ðáp: Có người nói: Ngọc
báu ấy từ trong não rồng chúa xuất sinh, người có được ngọc ấy,
chất độc không thể hại, vào lửa không cháy, có công đức như vậy.
Có người nói: Ðó là Kim
cương của Ðế thích cầm dùng khi chiến đấu với A tu la, bị vỡ nát
rơi đến cõi Diêm phù đề.
Có người nói: Xá lợi
Phật từ quá khứ lâu xa, khi chánh pháp diệt tận, thì xá lợi biến
thành ngọc ấy, để lợi ích chúng sinh.
Có người nói: Do chúng
sinh có phước đức nhân duyên, nên tự nhiên có ngọc ấy; thí như
vì nhân duyên tội nặng nên trong địa ngục tự nhiên có đồ trị
tội. Ngọc báu này tên như ý, không có màu sắc nhất định, trong
suốt nhẹ đẹp, đồ vật của bốn châu thiên hạ đều được chiếu sáng.
Nghĩa ngọc như ý, như trước đã nói. Báu này thường sinh ra tất
cả vật báu như y phục, ẩm thực đều theo ý muốn cấp cho đủ cả,
cũng trừ được các suy não bệnh khổ.
Ngọc báu này có hai thứ:
Có thứ báu như ý ở trên trời, có thứ báu như ý ở cõi người. Chư
thiên phước đức dầy nên ngọc có công năng đầy đủ, người phước
đức mỏng nên ngọc có công năng không đầy đủ. Ngọc này để trong
phòng xá, rương hòm, chỗ ấy cũng có oai đức. Bát nhã ba la mật
cũng như vậy, như ngọc báu như ý, có thể cho người tại gia phước
lạc đời này, tùy ý mong muốn; Bát nhã ba la mật có thể cho người
xuất gia cái vui giải thoát ba thừa; tùy ý mong cầu. Chỗ có ngọc
báu như ý, kẻ phi nhân không thể tìm được chỗ tiện lợi, Bát nhã
ba la mật cũng như vậy, tâm hành giả tương ưng với Bát nhã, thời
tà ác La sát không thể lọt vào tâm kia làm trở hoại ý đạo, cướp
mạng sống trí tuệ.
*Lại nữa, chỗ có Bát
nhã, ma hoặc ma dân, địa thần, dạ xoa các ác quỷ, không thể tìm
được chỗ tiện lợi. Ngọc như ý trừ được 404 bệnh, bốn bệnh căn
bản là phong, nhiệt, lạnh và hỗn hợp. Bát nhã ba la mật cũng trừ
được 84.000 bệnh, bốn bệnh căn bản là tham, sân, si, đẳng phần
(gồm cả tham, sân, si – ND). Phần bệnh dâm dục có 21.000, phần
bệnh sân nhuế có 21.000, phần bệnh ngu si có 21.000, phần bệnh
đẳng phần có 21.000. Lấy bất tịnh quán trừ tham dục, lấy từ bi
tâm trừ sân nhuế, lấy nhân duyên quán trừ ngu si, chung ba thứ
thuốc trên hoặc quán bất tịnh, hoặc quán từ bi, hoặc quán nhân
duyên trừ bệnh đẳng phần.
Như ngọc báu trừ được
hắc ám, Bát nhã cũng như vậy, trừ được hắc ám ba cõi. Như ngọc
báu trừ được nhiệt, Bát nhã cũng như vậy, trừ được nhiệt dâm
dục, sân nhuế. Như ngọc báu trừ được lạnh, Bát nhã cũng như vậy,
trừ được lạnh vô minh, bất tín, bất kính, giải đãi. Mặt trời mặt
trăng đều do các báu thành, mặt trời làm nóng, mặt trăng làm
lạnh, tuy đều có lợi ích cho chúng sinh, song vì không thể gồm
hết nên không gọi là như ý. Chỗ có ngọc báu, các rắn độc trùng
dữ không thể làm hại, Bát nhã cũng như vậy, độc tham dục không
thể làm bệnh.Nếu có người bị rắn độc cắn, cầm ngọc báu này chỉ
cho xem, liền lành độc, nếu người bị độc tham dục cắn, gặp được
Bát nhã ba la mật, độc tham giận liền tiêu, như Nan đà, Ương
quật Lê ma la v.v... Người có mắt đau, mù lòa, lấy ngọc báu chỉ
cho xem liền lành bệnh; Bát nhã ba la mật cũng như vậy, có người
vì vô minh, nghi ngờ, hối hận, điên đảo tà kiến phá mắt tuệ, gặp
được Bát nhã liền được sáng mắt. Như người bị ghẻ lở, ung thư,
phù thủng, lấy ngọc báu chỉ cho liền hết bệnh, Bát nhã cũng như
vậy, năm tội nghịch phong lác, gặp được Bát nhã liền tiêu. Như
lấy vật có các màu sắc gói ngọc để vào trong nước, nước tùy theo
đó biến thành một màu. Bát nhã cũng như vậy, hành giả được thế
lực Bát nhã, thời tâm mềm dịu, không đắm trước gì, tùy theo năm
căn tín v.v..., cũng tùy theo bốn thiền, bốn tâm vô lượng, tám
bột xả, tám thắng xứ, và mười nhất thiết nhập.
*Lại nữa, tùy theo học
khắp Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật,
không có gì trái nghịch.
Sắc thứ sáu là sắc hồ
thủy là sắc
hư không, hành giả có được Bát nhã quán các pháp không, tâm cũng
theo đó mà không chấp trước. Như vậy, vào hết thảy các pháp, đều
tùy thuận không chướng ngại. Như nước hỗn trược, tạp sắc nhơ
nhớp, lấy ngọc để vào, đều trở nên thanh tịnh một màu. Bát nhã
cũng như vậy, người có các phiền não, tà kiến, hy luận, khuấy
tâm hỗn trược, có được Bát nhã thời trong sạch một màu. Như ngọc
như ý có vô lượng công đức, công đức Bát nhã cũng như vậy.
Nay sẽ nói tướng công
đức riêng Bát nhã. Ngọc như ý ấy chỉ trừ được ác quỷ, không thể
phá thiên ma, Bát nhã trừ được cả hai. Ngọc chỉ trị được thân
bệnh, Bát nhã trị được cả thân bệnh, tâm bệnh. Ngọc chỉ trừ được
bệnh người mà thần trị được, còn Bát nhã thì trị được tất cả
bệnh mà người rồng và quỷ thần không trị được; ngọc chỉ trị được
bệnh đời đời từng trị, còn Bát nhã trị được bệnh từ đời vô thỉ
lại chưa từng trị được. Có các sai biệt như vậy, ngọc soi được
chỗ đêm tối có để nó, còn Bát nhã soi được tất cả chỗ tối vô
minh tương ưng với phiền não và vô minh bất cọng (tức vô minh
độc lập, không tương với phiền não – ND), và tất cả sự ngu
si hắc ám không hiểu rõ các pháp. Ngọc chỉ phá được nóng tại chỗ
ở, không phá được nóng tại các chỗ khác, còn sức Bát nhã cho đến
ngọn lửa đốt cháy vô lượng thế giới lúc kiếp tận, thổi một hơi
là tắt hết, huống gì một chỗ nóng! ngọc chỉ phá được lửa hình
chất, sức nóng mặt trời, còn Bát nhã trừ được sức nóng của tâm
có ba độc; ngọc chỉ trừ được gió mưa, tuyết lạnh, còn Bát nhã
trừ được khí lạnh của tâm bất tín, bất kính, giải đãi của chúng
sinh trong mười phương vô lượng thế giới; ngọc chỉ trừ được nọc
độc bên ngoàì, không thể trừ được rắn độc bốn đại, còn Bát nhã
trừ được hoàn toàn cả hai thứ độc ấy; ngọc không thể trừ được tà
kiến, còn Bát nhã trừ được; ngọc trị được mắt thịt, còn Bát nhã
trị được mắt tuệ; ngọc trị được mắt thấy gần, còn Bát nhã trị
được mắt thấy xa; ngọc trị được mắt thịt, mắt thịt không là
ngọc, còn Bát nhã trị được mắt tuệ, mắt tuệ tức là Bát nhã; ngọc
trị được mắt thịt, sau bệnh lại phát, còn Bát nhã trị được mắt
tuệ, rốt ráo thanh tịnh; ngọc trị được ghẻ lác, phù thủng, còn
Bát nhã trị được thân ; ác tâm lác.
Hỏi: Trong bốn thứ bệnh,
đã gồm tất cả bệnh, cớ sao còn nói riêng bệnh mắt. bệnh lác?
Ðáp: Mắt là đệ nhất
trong thân, sử dụng rất quý, cho nên nói riêng. Ở trong các
bệnh, bệnh lác rất nặng, do tội nhân duyên đời trước nên khó
trị. Vì vậy nên nói lại.
Ngọc có thể làm cho nước
hiện màu tùy theo màu sắc của vật gói nó, còn Bát nhã có thể làm
cho thiện pháp tùy thuận tâm số; ngọc không chuyển được tâm
người, còn Bát nhã chuyển được tâm tánh ưa muốn của tất cả chúng
sinh; ngọc có thể làm cho chỗ nước bỏ nó vào đục thành trong,
chứ không phải tất cả nước, còn sức Bát nhã có thể làm cho tâm
uế trược của sáu giác quán đều thanh tịnh, lại có thể làm cho
thanh tịnh tâm uế trược tham giận của các chúa rồng, chúa quỷ
thần, chúa người; ngọc có thể khiến chỗ phòng xá, hòm rương chứa
nó khiến cho có oai đức, còn sức Bát nhã có thể độ vô số chúng
sinh trong mười phương vô lượng thế giới làm cho có oai đức;
công năng của ngọc khi bỏ vào hòm rương không thể giúp cho người
có được công năng tùy ý, còn xá lợi được Bát nhã huân tu nên
người nào cúng dường chắc chắn trở lại được Bát nhã mà được
thành Phật. Rương hòm đựng ngọc ấy người phàm phu quý, còn xá
lợi thì người phàm phu và Thánh nhân đều quý; rương hòm đựng
ngọc, người thọ vui thế gian quý, còn xá lợi cả người thọ vui
thế gian, xuất thế gian đều quý Bát nhã là ví dụ ngọc báu như ý,
hòm rương là ví dụ xá lợi. Trong xá lợi tuy không có Bát nhã
song nhờ huân tu Bát nhã nên được cúng dường.
*Lại nữa, trong Thánh
pháp, Bát nhã là đệ nhất, không gì có thể ví dụ được, vì người
thế gian quý ngọc báu nên lấy ngọc ví dụ. Người thấy được ngọc
báu như ý, sở nguyện đều thành, nếu thấy chỗ để ngọc, cũng được
thành đôi chút sở nguyện. Hành giả cũng như vậy, rõ được nghĩa
Bát nhã ba la mật, liền được vào Phật đạo. Nếu thấy xá lợi có
Bát nhã trú ở mà cúng dường nên được vô lượng phước lạc đời này
đời sau, lâu sẽ đắc đạo. Tổng tướng, biệt tướng như vậy nên
biết.
Hỏi: Nếu Bát nhã có công
đức như vậy, cớ sao nói xá lợi là trú xứ của năm Ba la mật và
Trí nhất thiết chủng nên được cúng dường?
Ðáp: Trước đã nói trong
hết thảy pháp, Bát nhã là đầu, là dẫn đạo sáng suốt; thí như vua
đến, chắc chắn có kẻ tùy tùng, chỉ nói vua là có đủ các người
khác. Tán thán Bát nhã ba la mật, nghĩa này trước đã nói.
KINH: Lại nữa, Bạch
đức Thế Tôn! Có hai pháp tướng là tướng các pháp hữu vi và tướng
các pháp vô vi.
Thế nào là tướng các
pháp hữu vi? Ðó là trí tuệ đối với nội không, cho đến trí tuệ
đối với vô pháp hữu pháp không; trí tuệ đối với bốn niệm xứ cho
đến trí tuệ đối với tám Thánh đạo phần; trí tuệ đối với Phật
mười lực, bốn điều không sợ, bốn trí vô ngại, mười tám pháp
không chung; trí tuệ đối với pháp lành chẳng lành; trí tuệ đối
với pháp hữu lậu pháp vô lậu; trí tuệ đối với pháp thế gian pháp
xuất thế gian, ấy gọi là tướng các pháp hữu vi.
Thế nào gọi là tướng
các pháp vô vi? Ðó là tự tánh các pháp không sinh không diệt,
không trụ không dị, không nhơ không sạch, không tăng không giảm.
Thế nào gọi là tự
tánh các pháp? Các pháp không có tánh gì, đó là tự tánh các
pháp; ấy gọi là tướng các pháp vô vi.
Bấy giờ Phật bảo
Thích đề hoàn nhơn: Như vậy, như vậy! Kiều thi ca! Chư Phật quá
khứ, nương Bát nhã ba la mật chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, đệ tử chư Phật quá khứ cũng nương Bát nhã ba la mật
mà chứng được Tu đà hoàn cho đến A la hán; Bích chi Phật đạo, vô
lượng vô số chư Phật vị lai, hiện tại trong mười phương, nhân
nơi Bát nhã ba la mật chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác; đệ tử chư Phật vị lai, hiện tại cũng nhân nơi Bát nhã ba
la mật, chứng được Tu đà hoàn đạo cho đến Bích chi Phật đạo, vì
sao? Vì trong Bát nhã ba la mật có nói rộng nghĩa ba thừa. Nhưng
đây vì nói pháp vô tướng, vì pháp không sinh không diệt, vì pháp
không nhơ không sạch, vì pháp không làm không khởi, không vào
không ra, không tăng không giảm, không lấy không bỏ; đây nói như
vậy là theo thế tục, chứ không phải theo đệ nhất nghĩa, vì sao?
Vì Bát nhã chẳng phải bờ này, chẳng phải bờ kia, chẳng phải cao
chẳng phải thấp, chẳng phải bằng chẳng phải không bằng, chẳng
phải tướng chẳng phải vô tướng, chẳng phải thế gian chẳng phải
xuất thế gian, chẳng phải hữu lậu chẳng vô lậu, chẳng phải hữu
vi chẳng phải vô vi, chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện,
chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, vì
sao? Kiều thi ca! Vì Bát nhã ba la mật không thủ lấy pháp Thanh
văn, Bích chi Phật, cũng không bỏ pháp phàm phu.
Thích đề hoàn nhơn
bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát
nhã ba la mật, biết hết thảy tâm chúng sinh, cũng không thủ đắc
chúng sinh, cho đến không thủ đắc kẻ biết kẻ thấy. Bồ tát ấy
không thủ đắc sắc, không thủ đắc thọ, tưởng, hành, thức; không
thủ đắc mắt cho đến ý, không thủ đắc sắc cho đến pháp; không thủ
đắc nhãn và xúc làm nhân duyên sinh thọ cho đến ý và xúc làm
nhân duyên sinh thọ; không thủ đắc bốn niệm xứ cho đến mười tám
pháp không chung; không thủ đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
không thủ đắc Phật pháp, không thủ đắc Phật, vì sao? Vì Bát nhã
ba la mật không vì thủ đắc pháp nên xuất hiện, vì sao? Vì Bát
nhã ba la mật tánh không có gì, không thể có được năng đắc sở
đắc và hai chỗ nương tánh tướng đều không, không thể có được.
Phật bảo Thích đề hoàn nhơn: Như vậy, như
vậy! Kiều thi ca! Như lời ông nói, Bồ tát ma ha tát suốt đời
tu học Bát nhã ba la mật, chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác còn không thể có được, huống gì có thể chứng đắc Bồ tát
và pháp Bồ tát.
Bấy giờ Thích đề hoàn
nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát ma ha tát chỉ tu
học Bát nhã ba la mật, không tu học các Ba la mật khác chăng?
Phật bảo Thích đề
hoàn nhơn: Kiều thi ca! Bồ tát tu học sáu Ba la mật, vì không có
sở đắc. Tu Thí ba la mật, không sở đắc người cho, không sở đắc
người nhận, không sở đắc tài vật. Tu Giới ba la mật, không sở
đắc giới, không sở đắc người giữ giới, không sở đắc người phá
giới, cho đến tu Bát nhã ba la mật, không sở đắc tri tuệ, không
sở đắc người trí tuệ, không sở đắc người không trí tuệ.
Kiều thi ca! Bồ tát
ma ha tát khi tu bố thí có Bát nhã ba la mật làm dẫn đạo sáng
suốt nên đầy đủ được Thí ba la mật; Bồ tát ma ha tát khi tu trì
giới có Bát nhã ba la mật làm dẫn đạo sáng suốt nên đầy đủ được
Giới ba la mật; Bồ tát ma ha tát khi tu nhẫn nhục có Bát nhã ba
la mật làm dẫn đạo sáng suốt nên đầy đủ được Nhẫn nhục ba la
mật; Bồ tát ma ha tát khi tu tinh tấn có Bát nhã ba la mật làm
dẫn đạo sáng suốt nên đầy đủ được Tinh tấn ba la mật; Bồ tát ma
ha tát khi tu thiền có Bát nhã ba la mật làm dẫn đạo sáng suốt
nên đầy đủ được Thiền ba la mật; Bồ tát ma ha tát khi quán các
pháp có Bát nhã ba la mật làm dẫn đạo sáng suốt nên đầy đủ được
Bát nhã ba la mật. Tất cả pháp vì không có sở đắc, đó là sắc cho
đến Trí nhất thiết chủng.
Kiều thi ca! Thí như
các cây trong cõi Diêm phù đề, có những hoa, những lá, những
quả, những màu sắc khác nhau mà bóng im của nó không sai khác.
Cũng như vậy, các Ba la mật vào trong Bát nhã ba la mật là Trí
nhất thiết chủng không có sai khác, vì không có sở đắc.
Thích đề hoàn nhơn
bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba la mật thành tựu
công đức lớn. Bạch đức Thế tôn! Bát nhã ba la mật thành tựu tất
cả công đức. Bạch đức Thế tôn! Bát nhã ba la mật thành tựu vô
lượng công đức, thành tựu vô biên công đức lớn, thành tựu công
đức vô đẳng.
Bạch đức Thế Tôn! Nếu
có thiện nam tử, thiện nữ nhân chép quyển kinh Bát nhã ba la
mật, cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán thán, hương hoa cho
đến phan lọng, nhớ nghĩ đúng như lời Bát nhã ba la mật nói. Lại
có thiện nam tử, thiện nữ nhân chép quyển kinh Bát nhã ba la mật
cho người khác, phước nào nhiều hơn?
Phật dạy Thích đề
hoàn nhơn: Kiều thi ca! Ta lại hỏi ông, tùy ý ông đáp: Nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân cúng dường xá lợi chư Phật, cung
kính, tôn trọng, tán thán, hoa hương cho đến phan lọng; nếu lại
có người chia xá lợi nhỏ bằng hạt cải cho người khác, khiến cúng
dường cung kính, tôn trọng, tán thán, hoa hương cho đến phan
lọng, phước nào nhiều hơn?
Thích đề hoàn nhơn
bạch Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Như nghĩa con đã được nghe
trong pháp Phật dạy: Có thiện nam tử, thiện nữ nhân tự cúng
dường xá lợi, cho đến phan lọng; nếu lại có người chia xá lợi
nhỏ bằng hạt cải cho người khác, khiến cúng dường, phước ấy rất
nhiều. Bạch đức Thế Tôn! Phật thấy phước ấy lợi ích chúng sinh
nên vào Kim cang Tam muội, đập nát thân Kim cang làm thành mạt
xá lợi, vì sao? Vì sau khi Phật diệt độ, có người cúng dường xá
lợi cho đến nhỏ bằng hạt cải, phước báu ấy vô biên cho đến được
hết khổ.
Phật bảo Thích đề
hoàn nhơn: Như vậy, như vậy! Kiều thi ca! Nếu thiện nam tử,
thiện nữ nhân, chép quyển kinh Bát nhã ba la mật, cúng dường,
cung kính, hương hoa cho đến phan lọng; nếu lại có người chép
quyển kinh Bát nhã ba la mật cho người khác, khiến học; thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy phước rất nhiều.
*Lại nữa, Kiều thi
ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân đúng như nghĩa lý Bát nhã ba la
mật đem nói cho người khác, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu
thời thiện nam tử, thiện nữ nhơn ấy công đức hơn thiện nam tử,
thiện nữ nhân trước. Nên xem người giảng cho nghe Bát nhã ba la
mật như Phật và như người có phạm hạnh cao thắng, vì sao? Vì nên
biết Bát nhã ba la mật chính là Phật, Bát nhã ba la mật không
khác Phật, Phật không khác Bát nhã ba la mật. Chư Phật quá khứ,
vị lai, hiện tại đều tu học Bát nhã ba la mật mà được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác và thành người phạm hạnh cao thắng. Người
phạm hạnh cao thắng là địa vị bất thối. Bồ tát ma ha tát cũng
học Bát nhã ba la mật sẽ chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác; người Thanh văn học Bát nhã ba la mật chứng được đạo A la
hán, người cầu đạo Bích chi Phật học Bát nhã ba la mật chứng
được đạo Bích chi Phật; Bồ tát cũng học Bát nhã ba la mật vào Bồ
tát vị. Vì vậy, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân muốn
cúng dường Phật hiện tại, cung kính, tôn trọng, tán thán, hoa
hương cho đến phan lọng, hãy cúng dường Bát nhã ba la mật. Ta
thấy lợi ích ấy, nên khi mới chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, ta nghĩ như vầy; Ai là người đáng được cúng dường, cung
kính, tôn trọng, tán thán, nương dựa? Kiều thi ca! Ta không thấy
trong tất cả thế gian, hoặc trời, hoặc ma, hoặc Phạm, hoặc Sa
môn, Bà la môn có ai bằng Ta, huống gì hơn Ta! Ta tự suy nghĩ:
Pháp này do Ta chứng được, để tự mình làm Phật, vậy Ta cúng
dường pháp ấy, cung kính tôn trọng, tán thán, an trú nương tựa
pháp ấy. Pháp ấy là gì? Là Bát nhã ba la mật vậy.
Kiều thi ca! Ta tự
cúng dường Bát nhã ba la mật, cung kính, tôn trọng, tán thán
rồi, an trú, nương tựa pháp, huống gì thiện nam tử, thiện nữ
nhân, muốn chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà không
cúng dường Bát nhã ba la mật, cung kính, tôn trọng, tán thán,
hương hoa, anh lạc, cho đến phan lọng, vì sao? Vì từ Bát nhã ba
la mật sinh các Bồ tát ma ha tát, từ Bồ tát ma ha tát sinh ra
chư Phật. Vì vậy Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, nếu
cầu Phật đạo, nếu cầu Bích chi Phật, nếu cầu đạo Thanh văn đều
nên cúng dường Bát nhã ba la mật, cung kính, tôn trọng, tán
thán, hương hoa cho đến phan lọng.
LUẬN. Hỏi: Nhân duyên gì
nên nói tướng pháp hữu vi, pháp vô vi?
Ðáp: Ðế thích tán thán
Bát nhã ba la mật bao gồm hết thảy pháp. Ở đây muốn nói nhân
duyên ấy.
Tướng pháp hữu vi là
mười tám không, ba mươi bẩy phẩm, cho đến mười tám pháp không
chung. Lược nói là pháp lành pháp chẳng lành, cho đến pháp thế
gian, xuất thế gian, ấy gọi là pháp hữu vi, vì sao? Vì đó là
tướng có tạo tác, trước không có nay có, có rồi lại không. Trái
với đây tức là tướng pháp vô vi. Tướng hai pháp ấy đều bao gồm
trong Bát nhã ba la mật.
Pháp lành hữu vi
là chỗ tu hành, pháp vô vi là chỗ nương tựa. Còn pháp vô ký,
pháp chẳng lành, vì lìa bỏ nên không nói. Ðấy là chỗ học của Bố
tát mới phát tâm. Nếu có được sức phương tiện của Bát nhã ba la
mật
Pháp lành hữu vi
là chỗ tu
hành, pháp vô vi là chỗ nương tựa. Còn pháp vô ký, pháp chẳng
lành, vì lìa bỏ nên không nói. Ðấy là chỗ học của Bồ tát mới
phát tâm. Nếu có được sức phương tiện của Bát nhã ba la mật, nên
vào vô sinh nhẫn, thời chẳng ưa pháp lành, chẳng ghét pháp xả,
không lìa pháp hữu vi mà có pháp vô vi, thế nên không nương tựa
Niết bàn. Vì vậy trong Kinh nói: trong Bát nhã ba la mật đã nói
rộng ba thừa, vì dùng pháp vô tướng nên không sinh không diệt.
Theo thế đế nên nói như vậy, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa. Bồ
tát tu học thật tướng các pháp, tuy quán tâm hết thảy chúng sinh
cũng không thủ đắc chúng sinh, tuy tu học hết thảy pháp cũng
không thủ đắc hết thảy pháp, vì sao? Vì được Bát nhã ba la mật
không sở đắc.
Phật ấn khả lời tán thán
kia, Bồ tát thường tập hạnh ấy, cho đến khi chứng được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác mà còn không có sở đắc, huống gì pháp
khác!
Tâm Ðế thích nghĩ rằng:
Nếu Bát nhã là pháp rốt ráo thì người tu chỉ tu Bát nhã ba la
mật là đủ, cần gì tu pháp khác?
Phật đáp: Bồ tát tu sáu
Ba la mật, vì dùng pháp Bát nhã ba la mật không sở đắc hòa hợp,
ấy tức là tu Bát nhã ba la mật. Nếu chỉ tu Bát nhã, không tu năm
pháp kia thời công đức không đầy đủ, không đẹp không diêu; thí
như người ngu không biết, ăn uống đủ thứ, nghe nói muối là chủ
trong các vị, liền ăn thuần muối, mất mùi vị lại bị họa. Người
tu cũng như vậy, muốn trừ tâm nhiễm đắm, chỉ tu Bát nhã, lại rơi
vào tà kiến, không thể tăng tấn pháp lành; nếu hòa hợp với năm
Ba la mật thời công đức đầy đủ. Nghĩa vị điều hòa thích hợp, tuy
có các hạnh hòa hợp mà Bát nhã là chủ. Nếu bố thí v.v... mà lìa
Bát nhã ba la mật thời có các sai biệt, nếu đến trong Bát nhã ba
la mật thời chỉ một tướng, không có sai biệt. Thí như ao A na Bà
đạt đa ở cõi Diêm phù đề chia ra bốn dòng sông lớn, mỗi sông lớn
có 500 sông nhỏ chảy về, đều vào biển cả, thời mất tên gốc, biến
thành một vị, không có sai khác. Lại như cây cối, nhành lá hoa
quả, màu sắc khác nhau, mà bóng im thời không khác.
Hỏi: Bóng in cũng có sai
khác, cây lớn bóng in lớn; cành, lá, hoa, quả hình thù lớn nhỏ
khác nhau, làm sao không khác?
Ðáp: Che ánh sáng nên có
bóng hiện ra, chỗ không sáng thời gọi là bóng im, bóng im ấy
không lấy hình thù lớn nhỏ làm ý nghĩa.
Hỏi: Tu hành Bát nhã ba
la mật, thọ trì, tụng đọc cho đến nhớ nghĩ đúng, việc ấy khó;
còn chép, cất giữ quyển kinh Bát nhã cho người khác, là dễ, công
đức còn không thể bằng, làm sao nói hơn?
Ðáp: Riêng mình đọc,
tụng, nhớ nghĩ đúng tuy khó, hoặc vì tâm chấp ngã nên công đức
nhỏ, còn chép quyển kinh cho người khác mà có tâm đại bi, làm
nhân duyên cho Phật đạo, không có tâm chấp ngã, nên công đức
lớn.
Như Phật hỏi Ðế thích:
Nếu người tự mình cúng dường xá lợi, lại có người lấy xá lợi cho
người bảo cúng dường, phước ấy nhiều thế nào?
Ðáp rằng: Cho người
khác, bảo họ cúng dường được phước nhiều, vì đem từ tâm không
chấp ngã mà cho. Phật tuy không dùng phước đức, song thấy có lợi
ích lớn cho chúng sinh như vậy, nên vào Kim cang Tam muội, tự
làm nát thân mình thành nhiều mảnh xá lợi.
Hỏi: Nếu phước đức cốt ở
tâm, cần gì Phật làm nát thân mình ra thành xá lợi nhỏ bằng hạt
cải, bảo người cúng dường?
Ðáp: Lòng tin thanh tịnh
từ hai nhân duyên sinh: 1. Bên trong nhớ nghĩ đúng. 2. Bên ngoài
có ruộng phước tốt. Thí như có giống lúa tốt, ruộng lại phì
nhiêu, thâu hoạch chắc chắn nhiều. Thế nên tâm tuy tốt phải nhân
nơi xá lợi, vậy sau mới được quả báo lớn.
Phật đã ấn khả lời kia,
lại còn tự nói: Có người viết chép quyển kinh cho người, lại có
người ở giữa đại chúng giải rộng nghĩa kia. Phước ấy hơn người
trước, nên xem người ấy như Phật, hoặc gần Phật. Như Phật hoặc
gần phật nghĩa như trước nói.
Phật do hai nhân duyên
làm chứng nghĩa Bát nhã ba la mật là tối thắng: 1. Thánh nhân ba
đời học trong đó mà thành Thánh đạo. 2. Ta do pháp ấy nên được
thành bậc Thánh vô thượng. Ta nay trở lại tôn thờ chiêm ngưỡng
pháp ấy.
Pháp là thật tướng các
pháp, tức Bát nhã ba la mật.
Kiều thi ca! Ta không
còn cầu gì, mà vẫn suy tôn cúng dường Bát nhã ba la mật, huống
gì thiện nam tử mà không lấy các thứ cúng dường cúng dường Bát
nhã ba la mật. Ở đây nói nhân duyên rằng: Bát nhã ba la mật là
nhân duyên căn bản của Bồ tát, Bồ tát là nhân duyên căn bản của
chư Phật, chư Phật là nhân duyên vui lợi ích lớn của tất cả thế
gian. Thế nên người Thanh văn, Bích chi Phật, muốn mau được an
ổn, hành giả vào ba cửa giải thoát, còn cúng dường Bát nhã ba la
mật, huống gì Bồ tát!
Ðồ cúng dường là nhất
tâm nghe, thọ trì, cho đến nhớ nghĩ đúng, và dùng hương hoa cho
đến phan lọng cúng dường.
(Hết
cuốn 59 theo bản Hán)
--o0o --
|
|