|
NHỚ MÙA AN CƯ BÊN NỚ…
Melbourne đang vào Đông, thời tiết lúc
nào cũng dưới 10 độ c, nhưng trong khuôn viên Tu Viện Quảng Đức những
ngày này lại trở nên ấm áp hơn bao giờ khi tất cả mọi người con Phật ở
nơi đây một lòng thành kính cung nghinh Chư Tôn Đức Tăng Ni khắp Úc Châu
và Tân Tây Lan cùng về đây An Cư trong mười ngày. Không biết từ bao giờ
cụm từ có chữ ‘duyên’ trong ngôn từ nhà Phật lại ăn sâu vào tâm thức của
QT và mang một ý nghĩa thật đặc biệt, có nhân duyên để được làm đệ tử
Phật, có nhân duyên để đến với Phật pháp khi mình còn hiện hữu trên thế
gian này, và cũng nhờ có phước duyên mà QT lần đầu tiên được tham dự
Trường Hạ bên ni cùng Quý Chư Tôn Đức trong vài ngày. Ngày qua ngày cùng
các đạo hữu tham dự những thời kinh, nghe pháp, được chứng kiến Quý Thầy
Cô tinh tấn tu học, nhìn sắc áo vàng của Quý Ngài cùng màu áo lam của
quý đạo hữu chan hòa tràn ngập trong một góc trời nhỏ già lam bên ni
như gợi lại cho QT một thoáng kỷ niệm bên nớ…
Một người bạn ở miền Kinh Đô Đất Thần Kinh đã viết thư
thăm QT vào mùa An Cư Kiết Hạ. QT đọc những dòng chữ thân quen với giọng
điệu Huế pha chút khôi hài làm QT như thấy mình trở về với quê hương,
một nơi chốn QT đã cất tiếng khóc oe oe chào đời, nhưng lại xa nơi chôn
nhau cắt rún khi còn bé tí. Ba Mạ đã phải bồng bế QT trên tay di cư vào
Nam, để lại sau lưng với bao nổi đau và mất mát. Những ngày tháng QT
chào đời là những ngày của chiến tranh, của bom đạn, của chết chóc, … QT
và gia đình may mắn sống còn trong bom đạn của chiến tranh, chỉ cần một
tích tắc thì có thể trở thành người thiên cổ rồi. Có cuộc chiến nào mà
không mang đến đau thương và chết chóc? Có cuộc chiến nào mà chấm dứt
được hết hận thù? Vẫn còn đâu đó người ta vẫn nhắc nhớ đến nó, niềm vui
của kẻ chiến thắng, nỗi buồn của kẻ chiến bại, nỗi đau của những người
mất người thân, mất nhà cửa, những nguồn lệ tuôn rơi đến khô cạn… nhưng
cái khổ lụy của nó để lại sẽ còn mãi mãi với thời gian, trong tâm khảm
của những người trong cuộc mà không có gì hàn gắn được…
QT có dịp trở về Huế vào Mùa An Cư năm rồi. Chỉ một giờ
bay từ Sài Gòn, QT đã gặp lại Huế mộng mơ của mình. Đi ngang Cầu Tràng
Tiền, Sông Hương, Thành Nội … như nhắc nhớ QT đến lần đầu tiên về thăm
Huế, cũng vào Mùa An Cư sau gần hai mươi năm di cư vào Nam không một lần
trở lại. Cái cảm giác thật gần gũi vẫn không thay đổi nhất là được nói
giọng Huế mỗi ngày (mà không bị chọc, không phải đổi giọng Nam), được
sống, được thở với Huế. Nếu như so với các thành phố lớn khác mỗi năm là
mỗi đổi thay, Huế dù có mười năm, hai mươi năm thì vẫn không thay đổi là
bao, có lẽ do thiên tai ‘trời hành cơn lụt mỗi năm’ nên cứ phải xây lại,
cứ phải dựng lại, lại làm lại từ đầu… Nhịp sống cũng chầm chậm, con
người cũng trầm lặng, thành phố cũng im ắng,… khác hẳn cái ồn ào, náo
nhiệt của thành phố Sài Gòn mà QT đã từng sinh sống và lớn lên trước đây.
Kỷ niệm của QT về Huế rất là ít ỏi, có chăng chỉ là trong tâm tưởng của
người con xa quê, của những lần về thăm vội vã và những gì biết được
cũng phần lớn được nghe kể lại và đọc sách báo mà thôi. QT có được phước
duyên lưu lại nơi chùa của Ôn Bổn Sư mỗi lần về thăm Huế, có khi là một
tháng, có khi chỉ vài ngày. Mỗi lần về QT thấy mình hình như còn sống
chưa hết cho quê hương mình, chưa hết cho một nơi chốn đã có nhiều ảnh
hưởng đến tính cánh và cuộc sống của mình.
Bong, bong, bong … tiếng chuông chùa ngân vang vào mỗi
buổi sáng tinh mơ khi những giọt sương còn ngủ yên trên những chiếc lá,
tiếng mõ, tiếng khánh, … quyện hòa vào nhau trong những lời kinh thật
tuyệt vời. Một ngày mới thật nhiều bình an trong tâm hồn.
Những ngày này chốn già lam có phần vắng
lặng hơn, Quý Thầy, Chú, Điệu trong chùa hạn chế việc đi lại hơn đặc
biệt là vào những Thời Kinh chính trong ngày. Nếu như chúng ta có dịp đi
vòng quanh những ngôi chùa vào thời gian này thì sẽ thấy được việc hành
trì của Quý Chư Tôn Đức rất nghiêm ngặt, không khí trang nghiêm, các đạo
hữu áo tràng chỉnh tề, đi đứng nói năng nhẹ nhàng, lên chùa để cùng tụng
niệm với Quý Thầy. Sân chùa vắng lặng không một bóng người vào những
thời kinh để tập trung vào Chánh điện, phòng Trai Đường làm lễ. Mùa Hạ ở
đây mới khắc nghiệt làm sao! Cái nắng như thiêu đốt, khô khan, không một
ngọn gió nhất là vào thời điểm Cúng Quá Đường. QT nhớ là mình đã vả cả
mồ hôi mẹ lẫn mồ hôi con khi quỳ đọc kinh, Mô Phật có khi QT tưởng mình
muốn ngã quỵ xuống nhưng nhìn chung quanh thấy quý Phật tử vẫn an nhiên
tự tại làm QT thật nể phục và cố gắng đến cuối thời kinh.
Thời gian người ta vẫn thường ví von dễ làm cho lòng
người thay đổi nhất là khi lưu lạc xứ người, một nơi có rất nhiều điều
kiện thuận lợi và an sinh đầy đủ, đó cũng là một trong những lý do làm
cho ta ít trân quý những cái có trước mắt, những cái có được và dễ dàng
chạy theo phù du, ảo ảnh xa vời. QT cảm nhận được cái nghèo, cái khổ,
cái khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây đã tôi luyện cho con người vượt
qua những chướng ngại, những khó khăn trong cuộc đời. Mỗi lần về Huế là
mỗi lần QT lại học được những điều hay mà nếu mình không được chứng kiến,
không được hòa mình trong việc hành trì, trong cái nghèo, cái khổ… thì
dù là bao lâu thì mình cũng không tiến bộ nhiều nhất là trên bước đường
học đạo. Có những buổi tối trời mưa rả rích, dai dẳng… lòng người cũng
buồn theo cảnh vật nhưng vào Thời Kinh Tịnh Độ, Chánh Điện lúc nào vẫn
đông Phật tử đội mưa để cùng về chùa tụng kinh hằng đêm, vẻ đẹp Đạo tâm,
nét cung kính đối với Quý Chư Tôn Đức của Phật tử xứ Huế thật đáng trân
quý biết bao! Mỗi lần về đây là thời gian QT có dịp được nghe Ôn Bổn Sư
dạy bảo cho đứa đệ tử xa nhà lâu lâu mới về thăm. Thầy trò trao đổi và
ôn lại chuyện xưa tích cũ, và cũng là dịp cho QT được mở mang thêm kiến
thức về đường đạo, đường đời cũng như về một quê hương mà mình thật
nhiều xa lạ và bỡ ngỡ. Quý Thầy, Chú, Điệu cũng như Phật tử ở đây cũng
đã cho QT được những khoảng thời gian ngắn thật nhiều an lạc và tình
đồng hương, bạn đạo. QT vẫn nhớ mãi tấm chân tình của các dì dẫn QT đi
may những bộ vạt hò gấp rút mà chị thợ may vui vẻ thức khuya dậy sớm để
cho mình kịp đem về lại Sài Gòn trong vài ngày, rồi những bữa cơm chay
do các mệ, các o, các dì nấu dù đơn sơ nhưng mang hương vị Huế thật đặc
biệt mà cho dù đi bất cứ nơi đâu cũng không thể nào tìm được cái vị ‘lạ’
như ở đây từ cọng rau thơm, trái vả, chao Huế …
Ba ngày trôi qua thật nhanh với những chuyến đi thăm
viếng vài nơi … đã tới ngày Thầy trò chia tay. Vẫn không ngoại lệ, Thầy
trò chia tay mà cứ giọt ngắn, giọt dài, thiệt không nở xa nơi đây … Ôn
Bổn Sư và vài Chú, Phật tử vẫn đứng ở cổng nhìn theo khi chiếc xe chạy
tới cuối đường, QT ngoái đầu lại để được trông thấy Ôn đứng xa xa lần
cuối, cảm giác buồn buồn của những lần chia tay vẫn vậy khi mỗi lần về
đây. Huế vẫn đẹp và ở mãi trong QT cho dù là mười năm, hai mươi năm…
“Quê hương tôi miền Trung, sớm hôm chuông chùa nhẹ rung…”, ca khúc “Từ
Đàm quê hương tôi” chợt vang lên phá tan sự im lặng, thì ra anh tài xế
mở nhạc để cho anh chị em chúng tôi nghe, sao mà nó đúng tâm trạng của
mình dữ rứa hè! QT vừa nghe vừa thầm nhủ với chính mình: “Thưa Ôn, một
ngày thật gần con sẽ về thăm Ôn, thăm chùa, Ôn nghe!”
Viết tại Trường Hạ Quảng Đức, Melbourne, 2011
Quảng Tịnh Kim Phương
|