Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại
UĐL – TTL
TRƯỜNG HẠ QUẢNG ĐỨC
PHẬT LỊCH 2555
( Từ ngày
05/07/2011 đến ngày 15/07/2011 )

Về Với Cội Nguồn Tâm Linh
Tôi đặt
chân đến Úc châu khi khóa An cư kiết Đông thứ 11 diễn ra tại Sydney vừa
bế mạc. Cảm giác ngỡ ngàng và hồi hộp chỉ mới đây thôi mà đã một năm
trôi qua, giờ lại được tham dự khóa An cư thứ 12 tại Tu Viện Quảng Đức -
Melbourne. Thêm một lần nữa tôi có dịp trở lại tu viện Quảng Đức. Hai
lần trước đến đây chỉ để du lịch nhằm tìm hiểu những điều mới lạ. Lần
này trở lại để tham dự khóa An cư thứ 12, tôi đã sẵn sàng cho 10 ngày tu
học sắp đến, cũng là cơ hội cho tôi gặp lại những gương mặt thân thương
và khả kính mà tôi đã biết đến tại Khóa tu học Phật Pháp Úc châu kỳ 10
tại Adelaide nam Úc. Tôi háo hức trông ngóng để được gặp lại những người
đã truyền cho tôi năng lượng bao dung và nhiệt huyết, điều ấy có ý nghĩa
rất lớn đối với một Tăng sĩ trẻ như tôi khi sống xa Thầy Tổ trên mảnh
đất mới này. Tôi trở về đây như về với gia đình tâm linh, như sự trở về
của Gã Cùng Tử sau những tháng ngày lang bạt giữa chợ đời đầy bụi bặm!
Rời Tu
viện Vạn Hạnh – Canberra khi trời chỉ mới tờ mờ sáng, sương đêm vẫn chưa
tan hết. Hai ngọn đèn pha lớn của xe vẫn còn sáng lóa, chiếu đến những
hàng cây ven đường, giúp tôi nhận ra những giọt sương còn đọng lại trên
những tàng cây trơ trụi. Những giọt sương cứ long lanh như những ánh mắt
đang mong chờ chút nắng hiếm hoi của một sáng mùa Đông lạnh giá để về
với đất mẹ. Mọi thứ cứ diễn tiến rất nhẹ nhàng êm ái. Tôi ngồi lặng im
để cảm nhận sự thay đổi rất mầu nhiệm quanh mình và cũng để lắng nghe
tiếng lòng đang hòa mình trong những giọt sương kia, cũng đang trông chờ
hơi ấm của mùa An cư kiết Đông thứ 12 này để về với cội nguồn tâm linh
đang bị lắng chìm sau những tháng ngày rong ruỗi.
Chuyến
bay đã đưa chúng tôi đến sân bay Melbourne đúng giờ như đã định. Chúng
tôi được anh Phật tử đưa về Tu viện. Thời tiết của Melbourne không lạnh
như ở thủ đô Canberra nhưng gió mạnh hơn, do vậy thỉnh thoảng làm chúng
tôi hơi buốt. Trên đường về Tu viện, mọi thứ vẫn mới toanh. Những con
phố đầy xe cộ và người đi lại vẫn lạ lẫm như hôm nào mới đến. Nhưng khi
về đến cổng, trong xúc cảm của mình tôi lại nhận ra cái gì đó thân quen
và ấm áp đến lạ lùng!
Đảnh lễ
chư Tôn đức xong, tôi đi một vòng quanh Tu viện để ngắm lại quang cảnh
của Quảng Đức. Mọi thứ dường như không khác gì mấy so với những lần
trước tôi đến đây. Thế nhưng, cái nhìn của Phật tử ở đây đối với tôi thì
hình như đã có sự thay đổi lớn, thân quen và gần gũi hơn. Gặp lại tôi ai
cũng tỏ ra vui vẻ, niềm nở, và không còn nhìn tôi với ánh mắt xa lạ như
hai lần trước. Trong tình pháp lữ thiêng liêng ấy, tôi đã cảm nhận được
một hơi ấm hạnh phúc cứ lan tỏa dần trong cơ thể. Mỗi ánh mắt, mỗi nụ
cười là những bông hoa thơm ngát đã mang đến cho tôi cảm giác như đang
lạc mình giữa một vườn hoa tươi thắm. Tôi cứ lặng lẽ đi một cách thư
thái để hưởng trọn niềm an lạc vô ngần.
Khóa An
cư chính thức bắt đầu sau giờ khai mạc. Thời khóa tu học hơi sát sao hơn
so với những trường hạ mà tôi đã từng tham dự hồi còn ở Việt Nam. Quả
đúng như một thầy gần phòng nói đùa “cởi áo này ra thì mặc áo khác vào”.
Tụng kinh, ngồi thiền, quá đường, rồi thảo luận Phật pháp và giới bổn…,
tất cả cứ tiếp nối liên tục với nhau. Mỗi thời khóa như thế tôi đều
nhìn ra một điều gì đó rất mới, rất lạ và tôi bắt đầu khởi lên ý tưởng
so sánh với những trường hạ mà tôi đã từng tòng chúng, rồi tự mình rút
ra những bài học bổ ích và cũng nhìn ra được những nét sinh hoạt đặc
trưng ẩn chứa cái chung của xứ Úc đa văn hóa này.
Sống
trên mảnh đất có nhiều sắc tộc và ngôn ngữ, sự giao thoa giữa các nền
văn hóa không còn là mới mẻ đối với tôi nữa. Đi ra khu trung tâm mua sắm
gần Tu viện Vạn Hạnh nơi tôi đang theo chúng tu học ở Canberra, thỉnh
thoảng tôi bắt gặp một vài nhóm người nói với nhau bằng những thứ tiếng
lạ, và cũng như những người Việt Nam gặp nhau thì thường chào những câu
tiếng Việt. Thế nhưng người dân sống ở xứ này vẫn giao tiếp với nhau
bằng một ngôn ngữ chung là tiếng Anh, vẫn duy trì những nét văn hóa
chung khi họ thoát mình khỏi những cái riêng biệt của mỗi cộng đồng. Nét
đa sắc tộc đa văn hóa ấy giờ đây tôi lại gặp ngay trong khóa An cư này,
nơi mà chỉ là một cộng đồng chung nhỏ bé so với cái xứ sở Kangaroo rộng
lớn ngoài kia.
Tôi được
cắt cử trong ban Nghi lễ, cái ban mà thường thì nét đẹp của nó vẫn dựa
trên sự đồng bộ và nhịp nhàng. Thế nhưng ở đây thì mọi thứ đã khác hẳn.
Tôi bắt đầu có cái nhìn cởi mở hơn, không bị gò bó trong cái chuẩn mực
hình thức hạn hẹp như trước đây. Đến với nhau trong khóa An cư, người
thi Bình Định, kẻ thì Huế, người thì Quảng Nam, Đà Nẵng, kẻ thì Sài Gòn,
Nha Trang, … mỗi người đều có mỗi truyền thống tán tụng riêng, vậy mà
giờ cùng đứng chung với nhau trong một buổi lễ. Thực sự khó ai tưởng
tượng được làm thể nào để hòa nhập với nhau trong một khuôn khổ lễ nghi
được. Ấy thế mà mọi thứ vẫn diễn ra rất trang nghiêm, hòa hợp như cái xứ
Úc này người dân vẫn cứ sống hòa bình, yên ổn trên tinh thần tôn trọng
và học hỏi lẫn nhau. Cao hơn thế nữa, là những người xuất gia, chúng tôi
có rất nhiều điểm chung, cho nên những nét dị biệt nhỏ nhoi ấy như cái
gì đó để điểm tô thêm cho phong cách sinh hoạt mang tính đặc thù. Từ sự
hòa hợp giữa những cái dị biệt đó, tôi nảy sinh ra ý tưởng rằng dường
như khi chúng ta trút bỏ hết những hệ lụy, những vướng mắc để ngồi lại
với nhau trong đạo tình thắm thiết, cùng chia sẻ với nhau “hương vị giải
thoát” của chánh pháp, thì tất cả sẽ dễ dàng hòa quyện thành một thể
thống nhất như cái bản thể hòa hợp thanh tịnh vốn dĩ xưa nay của Tăng
đoàn.
Như lần
đầu đến sinh hoạt với chư Tăng ở khóa tu học Phật Pháp Úc châu kỳ 10 tại
Adelaide, ấn tượng nhất đối với tôi cũng là những giờ thảo luận Phật
pháp sôi nỗi. Lần này tôi có nhiều cơ hội hơn để được gần gũi với các
bậc Tôn túc cách chúng tôi hàng mấy thế hệ. Thế nhưng thay vì chỉ phải
ngồi im lặng để lắng nghe những giáo điều quen thuộc xưa nay thì những
người tân học như tôi lại có cơ hội để giải bày những suy tư riêng. Sự
lắng nghe một cách chăm chú của quý Ngài nhiều lúc làm cho chúng tôi có
cảm giác như đang nói chuyện với những ông bố nghiêm khắc, nhưng rồi
những tâm tình rất riêng trong suốt cuộc đời hoằng pháp, những lời
khuyên nhũ khuyến tấn chân tình lại cho chúng tôi cảm giác gần gũi như
hình ảnh của những người mẹ hiền đang dặn dò con gái khi sắp sửa đi về
làm dâu nhà chồng. Quả thật, những người Tăng sĩ trẻ như chúng tôi rất
cần những bài học đó. Tương lai cao rộng đang chờ đón chúng tôi trước
mặt, nhưng ở đó vẫn còn nhiều chướng nạn và thách thức như chờ đợi để
làm phai mờ đi sắc màu giải thoát của Tăng sĩ chúng tôi. Cuộc đời của
quý Ngài là hình ảnh của những người mở đường, đã tạo cho chúng tôi
những lối mòn sáng lạng, và trên lối đi ấy chúng tôi cũng cần phải nỗ
lực rất lớn để quét dọn, cần phải tiên phong để làm nên một đại lộ cho
nhiều người cùng đi về bến bờ giác ngộ. Đó là ý nghĩa mà tôi đã thu lượm
được trong khoảng thời gian chúng tôi có mặt ở đây.
Thời
gian thế nào cũng qua đi, khóa an cư vẻn vẹn trong 10 ngày rồi cũng sẽ
qua nhanh thôi, và mọi thứ cũng xuôi theo sương khói của cuộc đời đi vào
quên lãng. Thế nhưng cái còn lưu lại cho nhau vẫn là tấm chân tình, và
cao hơn thế nữa là đạo tình thắm thiết thiêng liêng, để rồi sẽ có một
lúc nào đó trên bước đường du hóa xa xăm, bất chợt nhớ về chúng ta lại
nuối tiếc như những kỷ niệm đẹp. Nghĩ đến đó, chúng ta không tránh khỏi
những thoáng ngậm ngùi khi phải chia tay, nhưng sự qua đi vẫn luôn là
nhân tố giúp ta biết trân trọng những gì đang có, đang hiện hữu. Những
bài học quý giá, và nhất là hình ảnh hòa hợp trong màu vàng giải thoát
của chư Tăng vẫn cứ mãi mãi còn nguyên vẹn trong sâu thẳm tâm tư của mỗi
người. “Hãy đi như một dòng sông”, cứ chảy mãi về phương Đông rồi chúng
ta sẽ gặp lại nhau ở cội nguồn tâm linh bất diệt.
Tu viện
Quảng Đức, mùa An cư kiết Đông thứ 12,
Thích
Thanh Lương
(cùng một tác giả)
---o0o---
Vi tính: Chúc Khâm
Trình bày: Tịnh Tuệ
Cập nhật:
08-07-2011