|

Hình thức hay
không hình thức
trong vấn đề tu Phật
Khi bước vào đạo Phật, đa số mọi người thường trải nghiệm cảm xúc
qua những nhân duyên hình ảnh: con người, cảnh vật, thiên nhiên;
chẳng hạn Tăng đoàn tu sĩ rực rỡ áo vàng uy nghi trang nghiêm đỉnh
đạt; cảnh trí không gian chùa viện yên tịnh trang nghiêm; và đôi khi
chỉ cần hình ảnh của một vị tu sĩ điềm đạm oai nghi; cuối cùng không
gì hơn là hình tượng Đức Phật có một sức tác động mãnh liệt đối với
người có duyên. Đại khái là như vậy, và còn nhiều số yếu tố hình ảnh
khác tác duyên cho người tìm hiểu đạo Phật.
Từ nhân duyên hình ảnh như vậy, đa số Phật tử chúng ta mặc nhiên trở
nên gắn bó, sống nương vào con đường hành đạo qua hình ảnh đẹp như
thuở ban đầu. Tuy nhiên cũng từ đây không tránh được người ngộ nhận
phán xét, tất nhiên trong đó cũng có chúng tôi, trước kia đã thường
rơi vào nhận xét bình phẩm, tu Phật không cần phải nương theo hình
thức như vậy; tu Phật phải vượt lên hình thức, hay nói rõ tu Phật
không cần phải đặt nặng y phục, pháp phục thế này thế kia, hay không
gian nơi chốn chùa viện, tư gia…mà tu Phật phải là tu TÂM.
Nhân mùa An Cư Trường Hạ Vạn Hạnh được tổ chức tại Thủ Đô Úc Đại Lợi,
chúng tôi xin được phát ý chia sẻ một ít ý kiến thô thiển về vấn đề
hình thức hay không hình thức trong vấn đề tu học Phật pháp, chắc
chắn rằng đề tài và điều chia sẻ sau đây sẽ không có gì mới mẻ lạ
lùng, tuy nhiên cũng vì muốn gợi lại nhắc nhở trong tâm chính mình
về vấn đề này, và lại muốn đóng góp bài vở cho tập Kỷ Yếu Trường Hạ
năm nay 2012, nên xin được phân bua vài lời đóng góp.
Có hai vấn đề căn bản của người học Phật không luận xuất gia, tại
gia. Thứ nhứt là Hình Thức tu Phật và thứ Hai là Tu Phật không cần
hình thức.
Tu Phật theo Hình Thức:
Đương nhiên ai cũng hiểu nghĩa Hình Thức, là hiện ảnh bên ngoài
trước mắt, như đường sá, nhà cửa, xe hơi v.v.. nói chung những gì
hiện ra trước mắt, tạo cho người nhận biết, xử dụng, đánh giá. Thế
thì tu Phật hình thức đầu tiên là phải có hình tượng, ảnh tượng Đức
Phật để thờ. Nếu là tu sĩ thì hình dáng bên ngoài phải cho người
thấy, đầu cạo tóc, pháp phục người tu, không thể lẫn lộn với người
cư sĩ Phật tử. Người cư sĩ cũng vậy, nếu muốn cho người nhận ra mình
là cư sĩ Phật giáo theo truyền thống Việt Nam chẳng hạn, ít nhất
cũng thường thường mặc áo lam lễ Phật đọc kinh, chứ không thể nào
mỗi lần lên chánh điện đều không có áo tràng lam khi hành lễ. Lại
khiến cho người càng dễ nhận ra mình là cư sĩ Phật tử, thì một tháng
ít nhất 2 lần ăn chay, lễ lạy sám hối ít nhất cũng vài lần trong một
năm. Sở dĩ nói sám hối ít như vậy, vì có không ít Phật tử thật sự có
thực hành tu niệm, nhưng do không gian hoàn cảnh trụ xứ nơi ở không
thích hợp, không có nhân duyên, nên không được như ý. Riêng tu sĩ
Việt Nam tuyệt đối phải ăn chay, vì đa số tu sĩ Phật Giáo Việt Nam
tu theo truyền thống Bắc Tông, hay gọi là truyền thống cấp tiến,
khác với nguyên thủy là Nam Tông vẫn còn dùng mặn. Ở đây chúng ta
không bàn luận về vấn đề chay mặn, Nam Tông hay Bắc Tông, vì phạm vi
đang nói về hình thức tu Phật, và ngay cả theo truyền thống cũng là
một hình thức. Như truyền thống Bắc Tông hình thức đắp y hậu là dựa
theo pháp phục Trung Hoa, và hình thức nguyên thủy thì y hậu lại
khác, có phần giống thời Đức Phật truyền thống văn hóa y phục ở Ấn
Độ. Cho đến cách thức xây dựng chùa chiền Tịnh Xá hoàn toàn mỗi nước
mỗi sắc thái đặc thù riêng biệt. Trung Hoa có lối kiến trúc xây dựng
chùa tựa như cung đình nguy nga tráng lệ. Có cổng Tam Quan có nhiều
dãy điện tôn thờ Hộ Pháp, Bồ Tát, rồi mới đến chánh điện Phật; Việt
Nam chúng ta có phần tương tự nhưng không to lớn và giản dị hơn.
Thái Lan, Miên, Lào, Tích lan, Miến Điện, Đại Hàn, Nhật Bản, Tây
Tạng… đều có cách xây chùa độc lập theo bản sắc phong thái của mỗi
nước, tóm lại lối nào cũng có cái lợi, cái đẹp riêng.
Như vậy là hình thức. Hình thức bên ngoài tối thiểu giúp người nhận
ra đó là chùa, là tịnh xá chứ không phải cung điện vua, không phải
trường học không phải hí trường rạp hát v.v… Đi vào sinh hoạt của
người Tu sĩ các nước, hình thức bắt đầu phức tạp hơn. Chẳng hạn nghi
thức tụng kinh ngồi thiền lại càng khác biệt tinh tế. Trung Hoa và
Việt Nam khi tụng kinh niệm Phật tuyệt đối phải có chuông mõ, và
hình thức rực rỡ hơn lại có tang, khánh, trống, linh… lớn hơn nữa
trong những dịp đại lễ thì dùng cả Đại Hồng Chung. Nhưng so với Tây
Tạng vẫn còn phải thua, Tây Tạng còn cả phèn la, kèn vọng…pháp phục
tu sĩ còn rực rỡ theo những buổi lễ đặc biệt đòi hỏi v.v...; và chưa
nói đến hình thức tranh luận múa nhảy vỗ tay của truyền thống Tây
Tạng.
Thế thì chúng ta sẽ nghĩ sao về vấn đề hình thức? Cần như vậy, và
giữ mãi như vậy không? Đương nhiên chúng ta không đủ trí lực để tri
nhận trọn vẹn hình thức sắc thái trong việc tu niệm bản thân, nói
đúng hơn vì còn phàm phu nên không thể quan sát nhìn rõ hết vấn đề;
huống chi cả đời sống con người chúng ta, dù là tu sĩ đi nữa cũng
đang sống, đang ăn uống trong biết bao hình thức của thế gian!
Nhận định sáng tỏ hơn là làm sao hình thức Phật giáo giúp người Phật
tử tác động vào tâm không rời xa Tam Bảo, không tạo nghiệp ác đó là
điều đáng nói.
Hình ảnh xây cất chùa chiền thế này thế kia không hẳn thành vấn đề,
nhưng thành vấn đề là giúp ta không động tâm phiền não như khi nhìn
một khách sạn, một vi la, một dinh thự. Hình ảnh chùa chiền làm ta
dừng tâm lại, khiến tâm không vọng xa với những vi tế phiền não lúc
nào cũng đang rạo rực ở trần gian. Cũng như hình ảnh Tăng đoàn kinh
hành lễ Phật, ngồi thiền, tụng kinh, thọ trai, thảo luận… làm ta
không bị lạc đường vì văng vẳng bên tai lúc nào cũng có âm thanh
ngôn từ Phật pháp. Hình ảnh áo vàng, áo lam của người con Phật làm
con mắt chúng ta không lầm lạc với vô số tạp nhạp màu sắc y phục thế
gian. Cuối cùng những hình ảnh hình thức trong chốn già lam, chùa
chiền, tu viện, tịnh xá là những hình thức hình ảnh cần có trong đời
sống đang xa dần Chánh Pháp.
Vậy ta có thể khẳng định rằng, tu Phật không thể buông bỏ được hình
thức, vì hình thức chính là bản thân này. Bản thân đang sống nương
nhờ vật thể trần gian, cho nên nếu còn ở trần gian, con người phải
biết phân định, phân biệt. Phân biệt để sống chính là phân biệt để
tu, và thực tế phàm phu phải nhờ phân biệt mới học Phật, mới đạt
được quả vị của chư Thánh chúng Bồ Tát.
Tu Phật không theo hình thức.
Như trên nhận định hình thức hẳn là quan trọng cho vấn đề tu, vậy
nơi đây nói rằng không theo hình thức mà vẫn thực hành được giáo
pháp giải thoát, nghĩa thế nào?
Chúng ta lại lần nữa khẳng định, khẳng định xác quyết như trên là
phải có hình thức, nhờ hình thức làm phương tiện thực hành lời Phật
dạy; nhưng đó là hàng phàm phu chúng ta. Với hàng Thánh Tăng, Bồ Tát
các Ngài không cần lệ thuộc hình thức, nhưng việc không hình thức
cũng chỉ là phương tiện nhắc nhở dạy bảo chúng sanh, chứ bản thân
các Ngài chưa từng nói rằng không theo hình thức. Vì hình thức hay
không hình thức đó là cách suy nghĩ tư duy của phàm phu đang còn bám
chấp trên đường tu Phật; với các Ngài hình thức hay không hình thức
cũng chỉ là vọng động với sắc trần thế gian mà thôi.
Dù vậy chúng sanh phàm phu vẫn học được ở các Ngài cách tu không cần
hình thức, để hài hòa việc dùng hình thức vừa phải đúng nghĩa, không
rơi vào nhị biên đối đãi, đúng sai, chánh tà, chân ngụy…
Ví dụ hình thức tụng kinh là để hiểu lời Phật dạy, nhưng phải mượn
phương tiện tụng kinh bằng pháp khí mõ chuông tang khánh… giúp buổi
tụng kinh hòa âm trầm bổng nhịp nhàng hướng dẫn được số đông người
không loạn xạ, không náo nhiệt ồn ào... Và khi hành trì tụng kinh
như vậy, phải luôn luôn nhớ rằng đó chỉ là phương tiện để sinh tâm
hoan hỷ tinh tấn tu hành, không sinh tâm lười biếng, chứ tuyệt đối
tu Phật không phải là hình thức tụng kinh. Ngược lại nếu là người
không cần tụng kinh chỉ biết tra cứu học hiểu kinh điển và thiền
quán, thì ta phải hiểu rằng tra cứu học hiểu kinh điển, ngay cả
thiền quán, cũng chỉ là phương tiện làm sao tạo cho ta sinh tâm hoan
hỷ với mọi người, với chúng sinh, vì biết rằng chúng sinh ai cũng có
Phật tánh. Và như thế cứu cánh của giác ngộ thành Phật là phải
chuyển vọng tâm thành chơn tâm thanh tịnh, nếu không dù ta có thiền
quán hay gọi thế nào đi nữa ta vẫn không có lợi ích nhiều đối với
Phật pháp. Nếu có chỉ là tạo được ít duyên Phật pháp cho đời sống
luân hồi tương lai.
Nói về hình ảnh của hai tông phái Nam Tông, Bắc Tông, cũng chỉ là
một hình thức quy mô phương tiện, mà cứu cánh ở ngay việc thanh tịnh
tâm, giải thoát phiền não. Trong cả hai truyền thống vẫn có nhiều vị
Bồ Tát, Thánh Tăng thị hiện, hoặc phàm Tăng chuyển Thánh ngay trong
đời này; các Ngài không bao giờ lệ thuộc vào hình thức. Chẳng hạn
các Ngài không bao giờ có ý kiến phân biệt vị trí các Ngài là Nam
hay Bắc, Nguyên thủy hay cấp tiến, càng không để tâm đến đại thừa
hay tiểu thừa. Các Ngài chỉ có hai việc phải nghĩ là giải thoát và
độ sanh.
Tu không hình thức, cho nên các Ngài không bao giờ bị hình thức bó
buộc; nhưng vẫn sinh hoạt với lòng từ bi, đồng chúng cùng tu mà
chẳng bao giờ rơi vào ngã pháp trói buộc. Và đương nhiên được như
vậy các Ngài phải giữ hình thức ban đầu là nương vào kinh Phật, thấu
hiểu giáo lý giải thoát, mới thực hiện được hành động không cần hình
thức.
Chúng ta còn nhớ, trong pháp Phật có pháp Tứ Y, là bốn điều y cứ vào
lời Phật dạy đúng với Chánh Pháp. Bốn điều này đơn giản có thể hiểu
là không lệ thuộc vào hình thức phương tiện nhân duyên. Thứ nhứt
nghĩa là theo Thầy học đạo mà không bị kẹt vào hình tướng việc làm
của ông Thầy thế này thế kia, chỉ biết học theo lời dạy của Thầy mà
thôi (Y pháp bất y nhân). Thứ hai, nương theo lời nói luận giải mà
không lệ thuộc vào văn tự ngôn ngữ, dù địa phương hay ngoại ngữ, chỉ
biết yếu nghĩa nội dung vấn đề (Y nghĩa bất y ngữ). Học nhiều kiến
thức Phật Giáo mà không khởi tưởng phân biệt giải thích luận giải
như thế gian, chỉ làm sao tâm trí được sáng suốt vượt lên kiến thức
phân biệt (ý trí bất y thức). Cuối cùng ngay cả lời kinh giải thoát
cũng còn phải hiểu rõ giải thoát rốt ráo, là không chấp vào giáo lý
căn bản ban đầu, cái mà Phật nói tùy theo căn cơ của chúng sinh, mà
chỉ biết giáo lý làm sao không còn kẹt vào ngã chấp và pháp chấp nhị
biên, giống như kinh thường dạy, xem giáo lý giải thoát như là chiếc
thuyền đưa người và mình đến giải thoát.
Như vậy tu Phật không theo hình thức là một cái nhìn chân thật sáng
suốt, đòi hỏi sự quán chiếu sâu xa, hay phải dày công tu niệm mới có
thể gạt bỏ được bản ngã và không dính mắc vào pháp học giải thoát.
Gạt bỏ được bản ngã là việc khó nhất trong các pháp tu của Phật
không kể tông phái nào. Lại khi giải quyết được vô ngã, thì cũng
phải xem pháp diệt vô ngã cũng là vô thường vô ngã, vì hễ pháp nào
có nhân duyên pháp đó phải là vô ngã, cho nên không còn gì để gọi là
được là đắc, đúng như Kinh Bát Nhã dạy. Đến đây mới gọi là người tu
không theo hình thức; không cần tất cả, kể cả cái mình đang cố gắng
tu không hình thức đó. Như thế ai sẽ là người làm được, nếu không
phải là bậc Thánh, hay những hành giả ngày đêm gia công tinh tấn
công phu không ngừng! Chỉ có như vậy mới không cần mọi thứ trên đời
này, ngay cả cái ăn uống nuôi thân để tu; và cái gì cũng không màng,
huống gì chùa chiền ảnh Phật, bởi vì người đó đã giác ngộ lý vô
thường pháp không vô ngã. Người đó sống tự tại và chết an nhiên.
Đại khái tu không hình thức là như vậy, và phàm phu chúng ta chỉ học
được ở các Ngài là phải sáng suốt trong phương tiện khi hành đạo,
khi hướng dẫn mọi người tu, để không biến phương tiện thành cứu cánh,
quên đi vấn đề cấp bách sinh tử giải thoát.
Hài hòa với tâm cảnh qua hình thức tu học
Như thế hình ảnh mà Phật tử chúng ta, nói riêng Phật tử Việt Nam đã
và đang thực hành xưa nay qua nhiều phương tiện hành đạo, đưa người
vào đạo, vẫn mãi là phương tiện tốt, căn bản để làm nền tảng giữ
được lòng tin Chánh Tín qua hình ảnh Thế Tôn, qua lời kinh tán tụng
lời dạy của Thế Tôn. Và điều đó nhất định còn phải hiểu biết giáo lý
để lời kinh tiếng kệ, cách trình bày tôn tượng, cách lễ lạy xưng tán
Thế Tôn (Trong các ngày đại lễ) đúng với tinh thần giải thoát. Từ đó
ta mới có thể hài hòa tâm với cảnh là một, mới có thể ứng xử khi
nào không cần hình thức và phải cần hình thức.
Mùa an cư tại Tu Viện Vạn Hạnh, hai hàng Phật tử xuất
gia tại gia đang vận dụng một hình thức đúng với tinh thần Chánh
Pháp, là phương tiện tập hợp được chư Tăng Ni Phật tử tụ về một chỗ
cùng nhau sách tấn tu học, làm sống lại ngày Tăng Đoàn mà một thời
Thế Tôn đã hoằng khai giáo điển giải thoát. Dù rằng việc học việc tu
đời nay còn rất nhiều khuyết điểm, nhưng vẫn cho thấy một hình thức
hòa Tăng, một hình thức giáo đoàn của những người con Phật đang chăm
lo sự trường tồn của giáo pháp. Điều đó không những làm cho những
người sơ cơ phát được tâm bồ đề tu học, mà kể cả người căn tánh sáng
suốt càng tăng trưởng Bồ Đề Tâm phát tâm hành đạo. Hơn nữa ít ra nơi
đây phạm vi Trường Hạ này là cõi dương gian được an định trong lời
kinh tiếng kệ giải thoát, thì cõi âm cũng hưởng phần hồi hương từ
giáo lý từ bi thương tưởng hết muôn loài.
Kết luận bằng vài ý kiến thô thiển, nguyện rằng Phật lực
gia bị để hàng Phật tử hạ căn như chúng ta sẽ sáng suốt trong việc
duy trì Chánh Pháp qua mọi hình thức và không hình thức.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Phổ Huân
Trường Hạ kiết đông năm Nhâm Thìn 2012
|