|

Cuộc đời và Hành trạng
Đức Đệ Nhất Tăng Thống
(Đại Trưởng lão HT
Thích Tịnh Khiết, 1890 – 1973)
Kính lạy tôn dung Ngài
Con xin tìm lại dấu xưa
39 năm, hai thế kỷ sao vừa
Nín thở, lặng yên, đọc từng con chữ
Ba lần, lần mò ba trang giấy tiểu sử
Mỗi một từ sâu lắng tận tâm can
Mắt lại nhìn vào ảnh tượng tôn nhan
Gương hạnh, đức độ, từ bi, trang
nghiêm quá
Nhớ lại xưa, thuở một học tăng bé nhỏ
Bốn năm thiếu thừa từ 68 đến 72
Thỉnh thoảng nhìn thấy Ngài vóc dáng
khoan thai
Tự tại, thong dong trong khung viên
Ấn Quang Thống Nhất
Sự viên tịch Hòa Thượng Thiện Hoa,
con được hầu quan, tiễn đưa chí thiết
Nhập Vô Dư của Ngài, con chỉ hướng
vọng về Huế xa xôi
Đến hôm nay, 39 năm theo vận mệnh nổi
trôi
Con xin chân thành mượn nét bút viết
dâng lên
Tưởng niệm, đảnh lễ, tôn vinh Ngài Đệ
nhất
Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất
Kế thừa lịch sử Phật Giáo 2000 năm,
bất tuyệt
Hòa cùng lịch sử Dân tộc 5000 năm,
trường tồn
Vô trụ thị trụ, vô thường thị thường
Vàng càng thêm sáng, sắt càng thêm
son
Dấu tích xa xưa, bừng bừng tỏ rạng
19 tuổi thọ Cụ Túc về trụ xứ phát
nguyện
Mỗi một chữ lạy một lạy, Bộ Vạn Phật
ba năm liền
Thì hành trạng và cuộc đời Ngài
Làm sao không vời vợi oai đức thiêng
liêng
Như Thanh Thái Hòa Thượng Bổn Sư ấn
tâm phú pháp
“Trừng Thông tâm pháp bổn đồng nhiên
Phó nhữ Chân Thường đạo chí kiên
Phi hữu phi vô phi sở kiến
Tịch nhiên khai ngộ chủ nhơn tiền”
Ngài xuất hiện ra đời khi thời thế
đảo điên
Đạo Pháp cuối thời kỳ Pháp thuộc ngửa
nghiêng
Mà Dân Tộc cũng chông chênh giữa sóng
triều XANH - ĐỎ
Tiếng nói của lương tri cơ hồ bỏ ngỏ
Tiếng nói của tự tình tim thắt ruột
đau
Đỏ - Xanh, cứ thế lên màu
Xanh - Đỏ tranh đoạt nát tàu quê
hương
Nát từ thôn dã phố phường
Nát vào tận chốn nghiêm đường uy linh
Cạn tàu ráo mán tơ tình
Chùa chiền dậy sóng rêm mình trầm kha
Còn chi quốc quốc gia gia
Còn chi non nước cửa nhà
Việt Nam
Họ đã ra tay hạ Màu Cờ Ngũ
Sắc
Họ đã ra tay giữa Mùa Phật
Đản uy nghiêm
Tăng tín đồ Phật Giáo
Hai tay không, dùng tấm
thân, làm giậu làm khiên
Máu đổ, xương rơi, ngã gục
giữa dùi cui súng đạn
Chư Thánh Tử, chết vì Đạo,
để cho Đạo còn sống
Chư Thánh Tử, chết vì Đạo,
để đánh thức bạo quyền
Họ bảo rằng : Ba bi kieu
(barbecue), thịt nướng, Thầy chùa điên
Bị Cộng giật, Cộng mua,
Cộng sai, Cộng khiến
Đêm 20 tháng 8 năm 1963
Họ ập vào Xá Lợi, hốt cho
trọn tàu, đoạn tuyến
Ngài cũng mang thương tích
dưới đài sen
Cũng tù, cũng tội, chốt
khóa như nêm
Phật Giáo đâu có làm gì
Phật Giáo chỉ đòi hỏi
nguyện vọng
Tự do và bình đẳng tôn
giáo
Trong lúc Phật tử, Tăng
Ni, và mọi cấp lãnh đạo
Cửa ngục tù vẫn kín mít
lặng câm
Thì ngoài kia, dân quân
tướng tá dị khẩu đồng âm
Cùng dõng dạc đứng lên và
xóa tan chệ độ
Phật Giáo vô can, Phật
Giáo không chủ trương thế đó
Phật Giáo vô can, Phật
Giáo không vấy máu hận thù
Cửa thiền môn, ngàn đời,
vẫn tịch tịnh thiên thu
Người con Phật, ngàn đời,
vẫn nhu hòa nhẫn nhục
2000 năm Phật Giáo, đạo từ
bi thắm thiết
5000 năm Dân Tộc, nền văn
hiến đắp xây
Ngài đã tận tâm tận lực
cống hiến miệt mài
Hành trạng và cuộc đời
niêm hoa vi tiếu
Dẫn thỉnh sư Giới đàn Từ
Hiếu
Mở Trung Đẳng Tường Vân
Khai, giáo, dưỡng ân cần
Giám đốc đạo hạnh Cao Đẳng
Tường Vân, Báo Quốc
Đào tạo những bậc tăng tài
lỗi lạc kiệt xuất:
Thiện Hoa, Thiện Hòa, Hành Trụ, Trí
Tịnh, Thiện Siêu,…
Thạc đức thạch trụ rạng danh lịch sử
chỉ điều
Ngược thời gian khó tìm, xuôi thời
gian khó sánh
Cương vị của Ngài, vũ trụ ngân hà xao
xuyến:
Chứng minh đạo sư An Nam Phật Học
Pháp Chủ Trung Việt Phật Giáo Tòng
Lâm
Hội Chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam
Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam Thống Nhất
Thế kỷ hai mươi, tôn xưng là Tăng
Thống Đệ Nhất
Vốn đã có từ mười thế kỷ trước
Đinh Tiên Hoàng Đế sắc phong Khuông
Việt Quốc Sư
Mười thế kỷ sau, Tăng Tín đồ suy tôn
thánh đức nghiêm từ
Ngài tọa thị như Phật Giáo 2000 năm
tọa thị
Công hạnh một đời, băng ngàn thế kỷ
Công đức một kiếp, soi sáng thiên thu
Như vũ trụ lồng lộng với thái hư
Như ngân hà mênh mang cùng trụ vũ
Năm 1972
Ngài rời Sài Gòn, về lại Cố Đô, sông
Hương núi Ngự
Một chuyến về, nào ngờ qui ẩn nhà xưa
Chỉ vài tháng sau, nắng Huế đổ mưa
Quý Sửu 73, kinh kỳ vĩnh lạc
Bảo tháp Tường Vân tổ đình trầm mặc
Tùng bách nghiêm đường lịch đại Tổ Sư
Ta Bà nung nấu lò cừ
Thường lạc ngã tịnh Hữu Dư Nát Bàn
Ngàn xưa Cổ Đức âm vang
Ngàn sau Thánh Đức nghiêm trang tôn
thờ
Ngàn xưa lối cũ không mờ
Ngàn sau kế thế truyền thừa rạng soi.
Ngày 22 tháng 6 năm 2012
Trước khi Vào Hạ
Thích Nhật Tân

Cuộc đời và Hành trạng
Đức Đệ Nhị Tăng Thống
(Đại
Trưởng lão HT Thích Giác Nhiên, 1878 – 1979)
Kính lạy Giác linh Đức Trưởng lão
Tăng Thống Đệ Nhị
Cuộc đời và hành trạng của Ngài dài
hơn thế kỷ
Công đức hoằng khai nhiếp hóa của
Ngài cao hơn núi cao
Tấm lòng từ bi độ lượng của Ngài sâu
hơn biển sâu
Chữ nghĩa của trần gian làm sao phô
diễn
102 tuổi, chuông mõ bi hùng, thiền
môn bi nguyện
86 tuổi, chấn tích dẫn đầu chống đỡ
oan khiên
Hạ Màu Cờ, trong lịch sử chưa vô đạo
u minh
Họ ra tay, bởi vì đâu cho cửa chùa
dậy sóng
Hơn một thế kỷ, cuộc đời Ngài dài
cùng biến động
Nào Thực, nào Xâm, nào Xanh, nào Đỏ
úa màu
Thương Dân thương Nước, ai lại không
đau
Thương Đạo thương Đời, ai không thống
nỗi
96 tuổi, Ngài nhận lãnh vai trò lớn
nhất Giáo Hội
Nẩy mực cầm cân lèo lái con thuyền
Thế thời nhân ngã cao điểm đảo điên
Tăng Tín Đồ nức lòng ngưỡng tôn kính
phục
Đệ tử của Ngài, những bậc siêu quần
kiệt xuất
Một Thiện Minh, làm mờ sử sách đã ghi
Một Thiện Siêu, nghi trượng thiền
môn, ai bì
Một Thiện Bình, đạo phong cốt cách,
một cõi
Vai trò nào, Ngài không nắm
Cương vị nào, Ngài không làm
Như xưa có đóa Ưu Đàm
Thì nay có đóa A Hàm Thuyền Tôn
Đời Ngài, sắt thẹn e son
Hạnh Ngài, nước chảy đá mòn không pha
Công Ngài, đầy ắp Ta Bà
Đức Ngài, phủ kín ngân hà thái hư
Năm 102 tuổi, Xuân Kỷ Mùi, khi Tăng
Ni đến thăm
Ngài nói: “để tôi ngồi dậy, nằm như
ri, không phải lễ, chừ”
Ôi đức độ từ bi, núi Diệu Cao không
đủ chỗ
Ngài còn dạy: “Quý Thầy đến thăm, tôi
xin cảm ơn và cầu Phật gia hộ
Quý Thầy nhiều sức khỏe, kiên nhẫn
trước mọi nghịch duyên
Phục vụ Giáo Hội, dìu dắt Tăng Tín
Đồ, thật không có gì vui hơn
Tôi quá già rồi, chưa biết nay mai,
trông mong quý Thầy gánh vác”
Xuân đang đến nhưng hoa sụt sùi nước
mắt
Cành chưa héo mà nhụy khép mùi hương
Mồng Sáu Tháng Giêng 1979, Ngài nhập
tịch diệu chơn thường
Nhưng “Vô thường thị thường” như Ngài
từng dạy
Tổ đình Thuyền Tôn, tin nhanh hơn máy
Phủ Cố Đô và lan tận Sài Gòn
Lan vào Nam và tận cuối Cà Mau
Lên Cao Nguyên, đồng bằng, thôn
trang, phố thị
Xuân Kỷ Mùi một chín bảy chín
Hoa không tươi mà chim cũng vắng
tiếng cười
Chuông mõ vang vang, người nối sóng
người
Kéo về Cố Đô, tiễn Ngài Tây cảnh
Ngài Đệ Nhất Tăng Thống, cũng Tháng
Giêng Quý Sửu
Sáu năm sau, kính thương vĩnh biệt
Tăng Thống hai đời
Tăng Tín đồ Phật Giáo Việt Nam thấm
giọt châu rơi
Đời Một nửa XANH, Đời Hai toàn ĐỎ
Con muốn viết, nhưng thôi, xin không
viết nữa
Thời như ri, học tiếng nói vô ngôn
Thế như vi, bất lập tự, hơn không
Thường nhi vô thường
Trụ nhi vô trụ
Nhưng đời sau, biết đâu mà tầm cú
Ngay đời nay, lộng giả biến thành
chơn
Vài nét lưu, nhưng là tiếng vô ngôn
Xin kính bút cho trọn vẹn Bốn Đời
Tăng Thống.
Ngày 22 tháng 6 năm 2012
Trước khi Vào Hạ
Thích Nhật Tân
Ghi chú:
Vì có viết ngưỡng tôn Ngài Đệ Tam, Đệ Tứ, mà không viết hai Ngài
Đệ Nhất, Đệ Nhị, trong tôi chừng như có gì còn thiếu, có gì chưa vẹn.
Lại biết Phật Giáo Úc Châu mở đầu Thiết Lễ Tưởng Niệm Tri Ân Bốn Đời
Tăng Thống vào mỗi năm nhân Mùa An Cư, từ 2012 Nhâm Thìn trở đi. Nên
tôi xin chân thành lui về dấu xưa, ôn và ghi lại đôi dòng dâng lên
Giác Linh hai Ngài Nhất Nhị.
Tôi đọc hơn 3 lần rất kỹ Tiểu sử của 2 Ngài Đệ Nhất và Đệ Nhị
Tăng Thống, xin hoàn toàn khâm thừa ngưỡng phục. Tuy nhiên, có thấy
vài điểm không chuẩn có thể sơ xuất trong lúc Phụng Soạn. Tôi xin
mạn phép, chứ không dám gọi là phạm thượng, để quý Ngài trưởng
thượng hữu nhiệm chỉnh lại hay không thì tùy, và chân thành nêu ra
đây như một sự lưu chú cho hôm nay và mai sau.
Tài liệu Tiểu sử phổ biến rộng rãi, tôi đọc và trích từ nguồn:
http://quangduc.com/Danhnhanvn/htthichtinhkhiet.html
http://quangduc.com/Danhnhanvn/82htgiacnhien.html#TI%E1%BB%82U_S%E1%BB%AC_
-
Trong Tiểu
sử Ngài Đệ Nhị, ghi: “Đến năm Canh Tuất (1895), Triều Duy Tân,
Ngài cùng với Hòa Thượng Tịnh Khiết (Cố Đệ Nhất Tăng Thống
GHPGVNTN) thọ Tam Đàn Cụ Túc tại Giới Đàn Chùa Phước Lâm (Hội
An).”. Xin thưa, Tiểu sử Ngài Đệ Nhất, ghi: “Sinh năm 1890. Năm
1905, 15 tuổi xuất gia”. Vậy thì, 1895 lúc đó Ngài Đệ Nhất mới
có 5 tuổi, chưa xuất gia, làm sao có chuyện 1895 Tam Đàn Cụ Túc
như trong Tiểu sử của Ngài Đệ Nhị ?
-
Cũng trong
Tiểu sử Ngài Đệ Nhị, ghi: “Sinh năm 1878. Năm 88 tuổi… đích thân
dẫn đầu … mở đầu phong trào vận động đòi hỏi tự do tín ngưỡng và
bình đẳng tôn giáo vào chiều ngày 14 tháng 4 năm 1963 (Quý
Mão)”. Mạo nghĩ có thể lộn chăng, vào năm 1963, nếu tính tuổi
Tây thì 85 mà tuổi Ta thì 86. Cho nên bài tôi viết xin ghi là
“86 tuổi, chấn tích dẫn đầu chống đỡ oan khiên”.
|