|
ĐẠO PHẬT LÀ HIỆN THÂN
CỦA TINH THẦN BÌNH ĐẲNG
Thích Nữ Chúc Học
Chúng ta sẽ dễ dàng nhận vai trò bình đẳng trong triết lý Phật giáo
khi nhìn lại xã hội Ấn Độ trước và sau Đạo Phật ra đời.Trước khi Đạo
Phật xuất hiện trong cõi đời này, xã hội Ấn Độ có truyền thống là xã
hội có giai cấp, nhất là sau cuộc di dân vĩ đại của người Aryens. Họ
đã xâm nhập và đồng hóa dân tộc này. Với mục đích chia để trị, họ
chia xã hội Ấn Độ thành bốn giai cấp:
1/Bà La Môn (Brahman), những tu sĩ giữ
gìn lễ nghi cúng tế.
2/ Sát Đế Lợi (Ksatryas), dòng dõi
những người quyền quý, nắm giữ chính quyền và cai trị.
3/ Phệ Xá (Vaiyas), những người nông,
công, thương, làm thuê mướn.
4/ Thủ Đà La (Sudras), giống thổ dân
làm tôi mọi cho hai giai cấp trên.
Ngoài bốn giai cấp ấy, còn có hạng
người man rợ Parias, đời sống của giống dân này rất cơ cực, chẳng
khác nào như loài cầm thú. Tại sao cũng là kiếp người lại có sự
chênh lệch như thế ? Điều làm cho chúng ta dễ hiểu, do ảnh hưởng xã
hội định chế, phong kiến mà phần lớn do tư tưởng Bà la môn giáo, họ
vin vào những quyền thế và tính ngưỡng thần huyền mơ hồ, mục đích
duy trì chế độ giai cấp và địa vị thống trị của mình. Họ đặc ra luật
lệ hết sức phi lý và bất công, chẳng hạn luật Manou, một đạo luật
nữa tôn giáo, nữa chánh trị. Ngoài ra họ còn chế ra đạo luật cấm sự
hôn phối thuộc giai cấp khác ! Nói chung, với chủ tâm dùng luật lệ
hoang đường, bằng thủ đoạn chính trị phi Nhân Bản, giai cấp thống
trị luôn ức chế, khuynh đảo những sắc dân không cùng giai cấp với
mình. Vì vậy, đời sống xã hội thật hổn độn, con người không có tự
do, thiếu sinh khí, suốt đời giai cấp tôi mọi cam chịu khổ nhục, nô
lệ, phải nai lưng làm việc nhưng vẫn thiếu ăn, thiếu mặc, lại phải
còn đóng góp đủ thứ sưu thuế và cung phụng cho giai cấp cai trị thụ
hưởng một cách phi lý ! Trong hoàn cảnh hổn tạp này, đầy bất công,
nhiều khổ nhục như thế. Đạo Phật ra đời. Sự có mặt của Đạo Phật như
một vầng thái dương rực rỡ, rạng soi sau bóng đêm dài tăm tối, như
luồng sinh khí trong lành xoa dịu bao đắng cay khổ cực của những tâm
hồn bơ vơ lạc lỏng, yếu thế kém quyền.
Đức Phật đã thẳng thừng tuyên bố: “Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh bình đẳng như nhau”.
Ngài còn dạy rằng: “Không có giai
cấp trong giọt máu cùng đỏ, giọt nước mắt cùng mặn”.
Lời tuyên bố trên, như tiếng sét đánh
thức lương tri những kẻ u mê, những người dùng sức mạnh địa vị và
quyền thế để bức chế kẻ yếu đuối, thế cô bằng sự độc tôn cai trị,
bằng giáo điều phi Nhân Bản, bằng giáo thuyết tôn giáo thần huyền,
cực đoan. Thêm vào đó nạn kỳ thị tôn giáo cũng trầm trọng không hơn
không kém. Phía Tây Ấn Độ là địa bàn hoạt động của Bà la môn giáo
(Brahmanism). Phía Đông thuộc Kỳ na giáo (Jahism). Hai tôn giáo này
tranh giành ảnh hưởng với nhau, và chi phối hoàn toàn đời sống con
người, không những về mặt tinh thần mà cả về phương diện chính trị,
kinh tế và văn hóa. Tìềm năng quốc gia cũng từ đó bị hao mòn, sức
sống con người cũng từ đó bị tổn thất. Có thể nói, đây là thời đại
đầy loạn lạc và khổ đau. Sống dưới thời đại này, con người không còn
biết bám víu vào đâu nữa cả ! Đứng giữa hoàn cảnh bi thương và bế
tắt ấy, Đạo Phật xuất hiện như luồng sinh khí tươi mát xoa dịu bao
cơ cực, đắng cay. Với chủ trương tất cả chúng sanh cùng đồng một thể
tánh, Đạo Phật là tôn giáo đầu tiên xướng thuyết lý Nhân Bản, mọi
người đều có quyền bình đẳng như nhau, không có giai cấp này nô lệ
cho đẳng cấp kia, không áp chế uy quyền và độc tôn cai trị. Đạo Phật
luôn lấy con người làm trọng tâm để giải quyết sự xung đột, các vấn
đề bế tắc của xã hội, kể cả về nhân, tâm và siêu giới. Đức Phật là
vị cứu tinh không những cho đất nước Ấn Độ mà còn cho cả vạn loại
chúng sanh. Ngài là nguồn sáng và niềm tin cho mọi từng lớp trong xã
hội loài người, bất cứ thời gian và hoàn cảnh nơi đâu. Đó là điểm ưu
thế mà Phật Giáo có thể hãnh diện qua triết lý sâu xa vả truyền
thống cao đẹp của mình.
Chúng ta còn thấy tinh thần bình đẳng
trong đạo Phật qua sự tiếp độ và thiết lập Tăng đoàn của Đức Phật.
Đoàn thể thánh chúng, lúc bấy giờ bao gồm mọi giai cấp trong xã hội
từ Bà la môn cho đến Thủ đà la. Mặc dầu truyền thống Bà la môn đã
được thiết lập kiên cố, nhưng ai đã được thâu nhận vào hàng Tăng lữ
của Đức Phật thì đều được đối xử một cách bình đẳng, đều có quyền tu
tập như nhau. Giáo thuyết (Lục Hòa Kính) của Phật giáo là đạo lý thể
hiện tinh thần bình đẳng một cách rõ rệt. Đồng thời, được các thánh
chúng thực thi một cách triệt để. Nhờ vậy, trong cộng đồng Tăng già
khá đông (hơn 2,500 vị), không khí tu học vẫn trang nghiêm, vẫn
thanh tịnh. Trước khi tiến xa hơn nhân tố Đạo Phật, chúng ta cần
lược qua sáu nguyên tắc (hòa kính) của Phật giáo. Khi hiểu rõ nguyên
lý Hòa Kính này, chúng ta sẽ dễ dàng cảm nhận tinh thần bình đẳng
của Đạo Phật.
Như đã đề cập, trong cộng đồng thánh
chúng của Đức Phật đều bao gồm mọi từng lớp trong xã hội. Khi thâu
nhận đồ chúng vào Tăng đoàn, Đức Phật không phân biệt giống dân hay
giai cấp nào. Hàng thánh chúng này đều là những người tu hành cao
quý. Khi nói đến thánh chúng hay nói đến Tăng đoàn là chúng ta nói
đến tinh thần hòa hợp là nhờ vào sáu điểm sau đây:
1/Thân hòa đồng trụ: Một cộng đồng tập thể cùng sống chung
trong một phạm vi, cùng ăn, cùng ở, và cùng tu học như nhau.
2/Khẩu hòa vô tranh: Sống trong phạm vi một cộng đồng tập thể,
lời nói hòa hiệp, không rày rà tranh cải.
3/Ý hòa đồng duyệt: Tâm ý cùng hoà hợp, cùng vui vẻ với nhau.
4/Giới hòa đồng tu: Cùng thực hành những nguyên tắc, nội quy
hay giới luật.
5/Kiến hòa đồng giải: Tham khảo hay giải bày sự hiểu biết với
nhau để trong cộng đồng tập thể cùng hòa chung một quan điểm. Có vậy
sẽ dễ dàng tiến đến sự hòa vui, binh đẳng.
6/Lợi hoa đồng quân: Tài lợi, vật thực, tinh thần, vật chất
cùng chung hòa hợp chia sớt, bình đẳng trên mọi phương diện.
Rõ ràng, sáu phép hòa kính trên là nền
tảng thiết yếu để một cộng đồng tập thể cùng nhau hòa hợp nhân cách
trên hai phương diện tinh thần và vật chất, nhằm đem lại kết quả và
lợi lạc, an cui và giải thoát.
Tinh thần bình đẳng của Đạo Phật được
xác định khi Đức Phật cho người nữ gia nhập vào hàng ngũ xuất gia
của Ngài. ây là sự cách mạng đầy tính chất thuyết phục và sáng tạo.
Bởi lẽ trong thời gian Đức Phật còn tại thế, do ảnh hưởng tập tục xã
hội Ấn Độ lúc bấy giờ, vai trò phụ nữ không được tôn trọngmột cách
đáng kể. Họ thường bị khinh miệt và được xem như kẻ tôi đòi cho nam
giới. Sự trọng nam khinh nữ chẳng những chỉ có ở xã hội Ấn Độ mà còn
hầu hết các quốc gia trong vùng Châu Á. Sự thật chứng minh, khi chấp
nhận lời thỉnh cầu cho một buổi cúng dường thức ăn của nàng Ambapali,
Đức Phật đã phải đối diện với bao lời đồn xấu và miệt thị. Tuy nhiên,
do tinh thần bình đẳng phát xuất từ lòng từ bi vô phân biệt, Đứcc
Phật chẳng những đối xử với phụ nữ nói chung, nàng Ambapali nói
riêng một cách cân nhắc, lịch sự mà còn ban tăng cho họ những lời
giáo huấn ân cần để họ hướng tới sự tỉnh lặng trong tâm hồn và đạt
tới hàng thánh quả A La Hán (Arahat), một bậc thánh ngang bằng với
nam giới.
Đức Phật dạy: “Mother is the friend
at one’s home, wife is the highest friend of the husband”
(Mẹ là người bạn
trong một gia đình, vợ là người bạn cao nhất của người chồng)
|