Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

Kỷ Yếu Khóa Tu Học Phật Pháp Úc Châu


...... ... .

 


KHÓA TU HỌC PHẬT PHÁP 
ÚC CHÂU KỲ
10

được tổ chức tại vùng Barossa Vally, tiểu bang South Australia
(từ ngày 30/12/2010 đến ngày 03/01/2011)\

 

 

Cảm Nhận
của Người Mới Đến

(
Viết từ khóa tu học Phật Pháp Úc châu kỳ 10)

                                 Thích Thanh Lương

      Thấm thoát vậy mà đã 5 tháng trôi qua. Những cảm giác nhớ thương về quê hương Việt Nam cứ vậy theo thời gian lắng dịu dần. Có lẻ đúng, thời gian là liều thuốc thần tiên giúp cho con người chữa lành những nỗi đau quá khứ, và cùng là mụ phù thủy ác độc làm mờ đi những kỷ niệm đẹp của một thời. Tuy nhiên, kỷ niệm của một đời làm điệu, một khoảng thời gian ngắn ngủi làm thầy giáo, và cả những năm tháng được làm anh để hướng dẫn các sư đệ của mình … tất cả nó vẫn như còn nguyên vẹn trong sâu thẳm tâm tư, chỉ chờ cơ hội để vùng dậy giống như một con mèo rìn tìm con chuột, kiên nhẫn và thèm thuồng!

      Quả  đúng như vậy! những trạng thái tâm lý rất con người trong tôi hôm nay lại trở về và trỗi dậy mãnh liệt khi tôi tham dự khóa tu học Phật Pháp Úc Châu kỳ 10 do Giáo hội Úc châu tổ chức.

      Chỉ  năm ngày ở nam Úc, trên một khu nghỉ mát nỗi tiếng mang tên Barossa kiêu hãnh, tại thành phố nỗi tiếng Adelaide, Nam Úc đã để lại trong tôi những ấn tượng thật khó tả. Không biết đó là sự hoài vọng về quá khứ hay là một hiện tại đẹp đến ngỡ ngàng mà tôi chưa định hình được. Dù hoài vọng hay sự thật thì mọi thứ vẫn cứ nhẹ nhàng đi vào ký ức tôi một cách sâu lắng.

      Tôi  đến với khóa tu chỉ là tư cách của một Tăng sĩ tình nguyện. Với suy nghĩ đó, tôi hoàn toàn không có một chút bận rộn gì. Có lẻ nhờ đó mà tôi rất rảnh rang, lại có thời giờ để làm thơ hay viết nhật ký, và tận hưởng những điều mới lạ ở đây. Thế rồi, sự bất ngờ đã đến sau buổi họp báo đầu tiên của giáo hội, tôi được đề cử trong ban giáo thọ, ban giảng huấn cho lớp thiều nhi dưới mười tám tuổi, nói đúng hơn đây là lớp song ngữ dành cho các em không giỏi tiếng Việt. Lúc đầu tôi đã từ chối cái nhiệm vụ lớn lao ấy với lý do chưa có kinh nghiệm giảng dạy trong môi trường mới. Nhưng có lẻ là không phải vậy? Tôi từ chối chỉ là một phản ứng thường tình, tôi quá bất ngờ chưa chuẩn bị đủ tâm lý để đón nhận nhiệm vụ này. Tôi cũng không biết phải nói thế nào? Quá hạnh phúc! Quá sung sướng! hay quá lo lắng vì sợ sẽ không làm nỗi, lại làm cho quý Ngài trong ban tổ chức phải thất vọng.

      Đúng thế! tất cả những trạng thái cảm xúc đó tôi đều có cả. Vừa mừng  lại vừa lo! Tôi mừng vì nhớ lại khoảng thời gian ngắn ngủi được đứng trên bục giảng không chính thức hồi còn ở Đà Nẵng, Việt Nam. Học trò của tôi lúc đó cũng chỉ khoảng độ tuổi dưới 18. Tôi nói là chưa chính thức làm thầy giáo, vì những lớp học đó là do chính tôi tổ chức dạy Anh ngữ cho các em có hoàn cảnh khó khăn, có duyên học với tôi. Các em đến với tôi không biết có phải là vì thích phương pháp giảng dạy mới lạ, vì tôi là một tu sĩ mà giảng dạy ngoại ngữ, hay cũng chỉ vì bố mẹ các em không đủ chi phí để trang trải cho việc học tiếng Anh ở các trung tâm khác… Tất cả, tôi đều xem như là một phước duyên từ vô lượng kiếp mà tôi đã vun đắp mà nay đưa đẩy tôi làm một thầy giáo không chính thức như vậy. Tôi thầm cảm ơn họ, cảm ơn những thiện tri thức đã chỉ cho tôi biết gieo phước từ đời trước để đời này mang đến cho tôi một thiên chức làm thầy giáo, dù có chính thức hay không?

      Trước mặt tôi giờ cũng là những đứa học trò  ở vào độ tuổi dễ thương và đáng yêu như vậy. Ở độ tuổi trên dưới mười tám, tôi quan niệm rằng đây là khoảng thời gian khó quên nhất của một đời người. Những điều gì vui buồn đều có thể từ độ tuổi ấy mà ra. Qua những năm tháng làm thầy giáo, tôi cũng nhận ra rằng, các em như là những trang giấy trắng tinh mà ở đó chúng tôi có thể vẽ lên bản đồ của một đời người. Nhận thức như thế, tôi luôn tự định hướng cho mình, đặc biệt là cho khóa tu trước mắt những gì cần nói, cần chia sẻ với các em từ những hiểu biết của một người tu sĩ và từ những kinh nghiệm cá nhân của một sinh viên được tiếp cận hai hệ thống giáo dục Việt và Úc. Tôi đã suy nghĩ và đắn đo rất nhiều lần!

      Bài giảng đầu tiên của tôi mang tựa đề “Deep understanding and insightful love, the two main factors to build a good relationship with other people” (Hiểu biết và thương yêu, hai yếu tố để xây dựng mối quan hệ tốt với người khác). Tôi chọn đề tài này vì trong những ngày đầu dự hội thảo của các em, tôi hiểu ra, các em không chỉ hỏi những điều về đạo Phật, tò mò về các hiện tượng lạ như thần thông, về các khái niệm mới mẻ đối với các em như luân hồi, nghiệp báo, vô thường…; mà các em còn hỏi cả những vấn đề rất riêng, rất ngây ngô, trong sáng và dễ thương đến lạ lùng!

      Tôi có nhận được một câu hỏi thật là thú vị: “How can I do for my Mom to understand me?” (Con có thể làm như thế nào để mẹ con hiểu con?). Câu hỏi nghe có vẽ đơn giản như những gì quanh quẩn trong cuộc sống hằng ngày, nhưng quả thực đó là một điều thật khó làm và nó có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của các em nói riêng và tất cả mọi người trong chúng ta nói chung.

      Làm sao để mọi người hiểu mình? Câu hỏi mà mỗi chúng ta đã phải mất cả cuộc đời truy tìm câu trả lời. Tôi còn nhớ về câu chuyện của đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni từ mấy ngàn năm trước. Sau khi thành đạo dưới cội Bồ Đề, Ngài cũng đã tự hỏi mình rằng: “Làm sao ta có thể đưa giáo pháp nhiệm mầu này đến với chúng sanh?” Từ câu hỏi đó, chúng ta ngầm hiểu rằng, tất cả chúng sanh đang chìm ngập trong biển khổ sanh lão bệnh tử với căn cơ cao thấp không đồng thì lào sao tiếp nhận được giáo Pháp thượng thừa của đức Thế Tôn? Làm sao chúng sanh có thể hiểu thấu được những tâm nguyện và ưu tư khắc khoải của Ngài?

      Làm sao để người khác hiểu mình? Hay làm sao để mình có thể hiểu được người khác? Đó là những điều mà bất kỳ ai cũng khao khát một đáp án, bởi đáp án đó chính là chất liệu nhằm xây dựng nên một cuộc sống hạnh phúc thật sự, là nhịp cầu để mọi người kết nối với nhau, là phương tiện để cho chúng ta có thể nghe và cảm nhận được nhịp đập trái tim của người xung quanh.

      Trong buổi học đó, tôi đã hướng dẫn các em thực tập hạnh lắng nghe, tập tính nhẫn nại để có thể hiểu được những người trong gia đình, rồi rộng ra nữa là bạn bè trong cộng đồng và ngoài xã hội. Tôi đã nhắc nhở các em phải biết nghe bằng cả con tim chân thành, bằng sự cảm thông sâu sắc chứ không phải nghe bằng một sự tò mò khám phá, hay kiếm tìm những lỗi lầm của người khác. Tôi độc lại cho các em nghe hạnh nguyện của đức Bồ tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát có một hành trạng gọi là “nhĩ căn viên thông

      Lạy  đức Bồ Tát Quan Thế  Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi. (Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000)

      Nghe để thấu hiểu tận nguồn nỗi đau của người khác. Muốn vậy, chúng ta cũng cần tự đặt mình vào hoàn cảnh của họ để hiểu một cách sâu sắc. Từ đó, chúng ta mới có thể hiểu được những điều mình muốn cũng là những gì người khác muốn; những gì mình không muốn thì người khác cũng không muốn. Chúng ta đừng làm khổ đau cho nhau nữa, bởi làm như vậy, chính chúng ta là người phải đau khổ trước. Thay vì vậy, chúng ta phải biết mang lại hạnh phúc cho nhau bằng một nụ cười cảm thông và chia sẻ, bằng một nụ cười hoan hỉ, bằng cả những con tim đập cùng một nhịp thở. Đây chính là thông điệp mà tôi muốn nhắn gửi để các em trong giờ học đó.

      Ngược lại, để cho người khác hiểu được mình, tôi đã khuyên các em hãy mở cửa lòng của mình ra, hãy nói lên những suy tư và chia sẻ những niềm vui cũng như nỗi buồn mà mình đã, đang và sẽ gặp trong cuộc sống. Trong một gia đình, để cho mọi người hiểu biết và thương, bản thân mỗi thành viên phải biết dành thời gian cho nhau. Cùng nhau cảm nhận và chia sẽ những hạnh phúc và đắng cay trong cuộc sống gia đình là liều thuốc có thể chữa lành nỗi đau của chính mình cũng như của người khác.

      Cuối giờ giảng tôi đã khẳng định hiểu biết và thương yêu phải theo một trật tự có thứ bậc (hierarchical). Điều đó có nghĩa là chúng ta phải hiểu một cách sâu sắc, sau đó mới mong có được một tình yêu chân thành đúng nghĩa. Tôi đã nhấn mạnh với các em rằng, muốn nói yêu thương một ai thì điều trước tiên là phải hiểu. Ý nghĩa này được minh chứng qua cách tỏ tình khôi hài của một người con trai với một người con gái mà tôi đã kể cho các em nghe như phương tiện giúp các em hiểu và thích thú với bài giảng hơn:

      “Baby, I want you, I need you, I love you so much.

      (Em yêu, anh thích em, anh cần em, anh rất yêu em)

      Tôi  cho rằng đây là một suy nghĩ sai lầm, một tình thương mù quáng. Là một người Phật tử hiểu biết Phật pháp, tôi khuyên các em nên tỏ tình như sau:

      “Baby, I understand you, I need you, I love you so much”

      (Em yêu! Anh hiểu em lắm, anh cần em, anh yêu em rất nhiều!)

      Theo tôi, hiểu biết như là cái chìa khóa vạn năng có thể mở được cánh cửa của yêu thương. Nó cũng là nhịp cầu mầu nhiệm để hàn gắn những đỗ vỡ, những đau thương trong gia đình và xã hội.

      Năm ngày của khóa tu thế rồi cũng trôi qua nhanh chóng, cái còn động lại trong tôi, trong các em và tất cả mọi người là một niềm lưu luyến khó phai. Đến đây tôi chợt nhớ lại một câu thơ rất hay, rất nỗi tiếng:

Mỗi người mỗi nước mỗi non
Bước vào cửa Phật như con một nhà

      Quả  đúng như thế! Không biết tự bao giờ, tôi lại có một cảm giác như đang sống trong một gia đình, một gia đình tâm linh cao cả. Đến với gia đình này, tôi được gặp các bậc Tôn túc, dầu có một khoảng cách thế hệ khá xa, nhưng tôi vẫn có cảm giác gần như những người cha thân thương vô cùng, những người  đã trao truyền cho tôi một tài sản tâm linh, một cách sống chuẩn mực mà bản thân quý Ngài là những bài pháp sống động. Tôi lại được sống và làm việc với những người anh, người chị đầy nhiệt huyết, đã giúp tôi định hướng được con đường mà mình sắp sửa tiến bước, đấy chính là “hoằng pháp thị gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp” (lấy việc hoằng pháp làm gia sản, lấy việc lợi sanh làm sự nghiệp). Cuối cùng và không kém phần quan trọng đó là những người trẻ tuổi đã ngồi hằng giờ lắng nghe những lời chia sẻ của tôi. Trong lòng mình, tôi chỉ luôn xem họ là những người em, những người bạn biết lắng nghe và cảm thông cho những suy tư và khắc khoải của tôi!

      Chia tay Barossa, tôi vương vấn với một buồn khó tả. Một cái gì đó trĩu nặng vô hình cứ bám lấy bước đi của tôi cho đến lúc ngồi trên xe. Đúng là:

Có cái gì thoảng qua mà nhớ mãi
Có cái gì đọng lại chẳng sao quên
Một chút nắng một chút màu xa vắng.

      Vẫy chào Barossa, nơi ươm mầm đạo pháp, vẫn còn  đó một màu xanh thẳm đầy sức sống. Ước mong một ngày trở lại Barossa lại thoáng hiện trong tâm tưởng. Ngồi trên xe nhìn xa, Barossa mang một nét đẹp kiều diễm. Tôi lại lắng lòng với những kỷ niệm từ vùng đất ấy, rồi lại nhiếp đi trong giấc ngủ mơ màng như thoảng nghe tiếng gió rít lên từ rừng thông xa xa, tiếng niệm Phật trầm hùng của đạo tràng trong những giờ công phu, và cả tiếng vỗ tay của các học viên trong những buổi thảo luận Phật pháp sôi nổi.

      Tạm biệt Barossa! Mến tặng em một nụ hôn thầm kín! Barossa! Barossa!

      Viết tại chùa Pháp Hoa Nam Úc, đêm mồng 03 tháng 01 năm 2011,

Thích Thanh Lương
(thanhluongcuong@yahoo.com)

 

 

---o0o---

Vi tính: Ti Tin
Cập nhật ngày: 04-01-2010


Webmaster: quangduchomepage@gmail.com

Trở về trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduchomepage@gmail.com