DẪN NHẬP
Tinh thần đạo Phật phóng khoáng. Giáo lý đạo Phật
nhằm giác ngộ khai phóng và giãi thoát cho con người. Hành trang của đạo
Phật là từ bi hỷ xã, bình đẳng vị tha. Do vậy mà hơn 2500 năm truyền
giáo, đạo Phật chẳng những không làm tổn hại đến tự do dân chủ mà còn
khai mở chân lý cho lẽ sống hài hòa. Tương trợ nhịp nhàng cho đà phát
minh tiến bộ. Hướng dẫn con người phát triển một cách hài hòa trên cả
hai mặt tiện nghi vật chất và văn hóa tinh thần. Tiện nghi vật chất bao
hàm ý nghĩa một cuộc sống đầy đủ hạnh phúc bình an. Văn hóa tinh thần
bao hàm trong ý nghĩa một cuộc sống tâm linh phát triển phong phú hướng
đến cội nguồn chân thiện mỹ.
Thế
giới bao la chúng sanh vô tận. Phật pháp cũng không có đủ thuyền từ để
vớt kẻ trầm luân. Chúng sanh vẫn lặn hụp nổi chìm trong luân hồi vô tận.
Do vô minh chi phối, tham ái buộc ràng, khát vọng của con người thật bao
la phiền phức...
Tham
ái đưa chúng sanh đến mù quáng, đến sân hận. Và từ đó đến mọi hình thức
khổ đau. Bởi tham ái mà chúng sanh ôm vào mình lắm nổi bất hạnh. Một khi
bị ngăn trở, tham ái biến thành phẩn nộ và con người lại rơi vào chính
cái lưới do mình đã giăng ra.
Trong
thế giới ngày nay, hình như tâm trí của người ta ngày càng thiên về đời
sống vật chất. Hệ thống tuyên truyền và những nguồn thông tin đa dạng đã
uốn nắn cân não con ngươi về hướng tiêu cực. Ðời sống trở thành máy móc.
Con người trở thành bù nhìn, bị giật dây điều khiển bởi nhiều nguồn năng
lực. Khả năng chủ động bị tước đoạt dần dần. Hơn thế nữa, nhân loại hiện
nay, lắm kẻ đang qúa tự hào về những thành qủa đã đạt được trên lãnh vực
tiến bộ vật chất. Chúng ta không thể quên đi công lao của bao thế hệ con
người lao tâm lao lực miệt mài để có được những thành tựu trên mọi mặt
đời sống hiện nay. Nhưng chúng ta phải tỉnh táo cẩn thận với những thành
tựu này. Nếu không biết hoạch định giới hạn xử dụng, những thứ kỹ thuật
này cũng có thể trở nên nguy hiểmbội phần cho nền an ninh của thế
giới...
Phật
giáo đã không ngừng kêu gọi rằng: phải có một sự tiến bộ hài hòa trên
hai mặt vật chất lẫn tinh thần. Có nghĩa rằng phải làm thế nào giáo dục
mọi người-nhất là những thế hệ trẻ hôm nay-hướng đến những giá trị nhân
bản. Ðể con người ngày càng trở nên Người hơn; Có tinh thần trách nhiệm,
có lương tâm, có trí tuệ hơn.
Cái sự
nghiệp to tát đó, không thể trong một sớm một chiều có thể làm nên. Cũng
không thể do một cá nhân, một tổ chức hay một tôn giáo nào có thể đứng
ra kham nhận. Cái sự nghiệp đó trông chờ vào sự nhận thức của tất cả
chúng ta về một viễn tượng tương lai của toàn nhân loại. Mỗi người góp
lại mỗi tấm lòng, mỗi thiện chí...thì nhân loại lo gì không có một tương
lai sáng đẹp. Tránh được bao nhiêu nổi lo âu về thảm trạng diệt vong.
Thế
giới hiện nay phải đương đầu với bao nguồn đe dọa: nguyên tử, vi trùng,
ô nhiễm môi trường, gia tăng dân số, can thiệp sinh học (tác động lên
nhiễm sắc thể), nạn khủng bố hoành hành...
Sự
tiến bộ khủng khiếp của khoa học, làm tăng tính hiểm nguy cho sự an toàn
của nhân loại. Ðặt cả sinh mạng loài người treo dưới một sợi chỉ mỏng
manh.
Ngày
nay, hơn bao giờ hết, con người cần phải đạt đến một sự hiểu biết chơn
chánh, tâm hồn định tĩnh, tấm lòng bi mẫn...để hướng dẫn nhân loại vượt
qua cơn khủng hoảng này.
Phật
giáo luôn luôn muốn là những đám mây, che bớt cái nắng chói chang trên
cuộc đời nhân thế, hay tưới mát cỏ cây đem sự sống cho đời. Như ánh thái
dương chiếu soi vạn vật không phân biệt. Những suối nguồn từ bi của Phật
mãi chảy tuôn thầm lặng khắp nẻo nhân sinh.
Giáo
lý nhà Phật không phải không hoàn thiện. nhưng phạm vi ứng dụng thực tế
chưa được phổ cập. Có rất nhiều lý do về mặt chủ động cũng như bị động:
Về mặt chủ động:
_
Những tổ chức Giáo Hội Phật Giáo không được chặt chẽ, không mang tính
giáo quyền.
_ Sự
truyền bá giáo lý rất tự phát, chủ yếu dựa trên ting thần tự nguyện.
_ Các
phương tiện truyền thông rất hạn chế, chủ yếu là lưu hành trong nội bộ.
_
Không dự trù, hoạch định phương án lâu dài, chỉ rộ lên theo phong trào
đột phát.v.v...
Về mặt bị động:
_ Tâm
lý con người thường hay lười biếng không chịu nghiên cứu sâu xa cái kho
tàng giáo lý đồ sộ của Phật giáo.
_ Hoặc
có nghiên cứu ít nhiều, mà không đưa ra ứng dụng trong thực tế, nên
không thấy được những sự lợi lạc an vui.
_ Hoặc
do bận “trăm công ngàn việc” đâu rảnh để quan tâm.
_ Hoặc
không đến gần Phật giáo được do một vài hiểu lầm hoặc thành kiến...
Ðức
Phật thường dạy: “ Sanh được làm người là khó, gặp Phật ra đời là khó,
Ðược nghe Diệu Pháp là khó...”
Ðời
sống qủa thật bấp bênh vô định. Cái chết ập đến bất kỳ _ Chúng ta hãy
trân trọng khỏang thời gian ngắn ngủi của kiếp sống này. Hãy cố gắng trở
thành nguồn hạnh phúc cho chính mình, cho mọi người.
Tập
luận văn nhỏ bé này cố gắng nêu lên vài điểm tương quan giữa Phật giáo
và tri thức nhân loại trong thời hiện đại. Qua đó chứng minh rằng những
lời Ðức Phật đã giảng thuyết là phù hợp với chân lý thực tại của muôn
đời. Những minh chứng một cách giản lược sau đây chỉ nói lên được sự
tương quan giữa Phật Giáo và Khoa Học trên lãnh vực hiện tượng của thế
gian và vũ trụ. Còn trên lãnh vực bản thể của những hiện tượng đó_ví dụ
để trả lời cho câu hỏi: Thế nào là khởi nguyên của vũ trụ và chúng
sanh?_ thì Khoa Học chưa có lời đáp được. Duy có Phật Pháp là có giáo lý
dạy về lãnh vực này. Ðó chính là cơ sở cho sự cải tạo tự tâm và cải tạo
thế giới.
Chứng minh được mối tương quan trên mặt hiện tượng là để đi đến chứng
minh cho sự đúng đắn, chân thực của Phật Giáo trên mặt bản thể. Từ đó
cũng cố niềm tin cho mọi người về Phật Pháp. Kinh Hoa Nghiêm nói: “ Lòng
tin là mẹ đẻ các công đức”. Kinh Niết Bàn nói: “ Lòng tin làm nhơn cho
nghe Pháp, nghe Pháp làm nhơn cho lòng tin”. Lòng tin chỉ là nhơn duyên
gặp Ðạo, nghe Pháp thấu hiểu ý nghĩa chân thực, lại cũng cố thêm niềm
tin để đi sâu vào Ðạo. Ðức Phật không tán đồng những niềm tin mù quáng.
Thay vì khuyến khích hàng thiện tín nhắm mắt tin càn. Ðức Phật thường
khuyên dạy, hãy chín chắn xem xét những lời dạy dù xuất phát từ đâu.Chỉ
nên tin và chấp nhận những điều hợp với lý trí, được các bậc hiền nhân
đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa đến những kết qủa tốt
đẹp cho đời sống...Như vậy Ðạo Phật mời bạn đến để mà thấy, đến để mà
hiểu, đến để mà chia xẻ những mối cảm thông.
Ðức
Phật thường dạy: “ Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành”. Trong
cội nguồn thâm sâu của tự tâm chúng ta đều có tính Phật. Chúng ta hãy
làm thế nào cho mạch suối tươi mát đó lưu lộ khắp nơi nơi.
|
“Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu,
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.
Nhơn nhơn hữu cá Linh Sơn tháp,
Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.
(khuyết danh) |
Tạm dịch
Phật tại Linh Sơn chớ vọng cầu,
Linh Sơn chính ở tại lòng người.
Người người đều có Linh Sơn tháp,
Mau hướng Linh Sơn tháp tịnh tu. |
THÀNH KÍNH
TRI ÂN:
Chúng con xin thành kính tri ân Hòa Thượng Thích Minh Châu Hiệu Trưởng
Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Giám
Hiệu, Qúi Giáo Sư, Giảng Sư. Ðặc biệt là Giáo Sư Minh Chi, vị Thầy đã
tận tình chỉ giáo cho chúng con trong việc hoàn thành tập luận văn này.
Chúng con thành kính tri ân Thầy Bổn Sư chúng con là Thượng Tọa Thích Từ
Hương, Thầy Trú Trì chùa Hải Quang Thích Ðạt Ðức, Qúi Thượng Tọa, Ðại
Ðức, Quí vị Thiện tri thức, Qúi vị Phật tử gần xa đã hết lòng chỉ dẫn và
trợ duyên cho chúng con.
Chúng con cũng xin thâm tạ công ơn của các vị tác giả, dịch giả, soạn
giả... của những Kinh luận, sách vở, tài liệu... mà chúng con nhờ đó đã
tham khảo về những vấn đề liên quan đến nội dung tập luận văn này.
Chắc chắn rằng, với kiến thức còn hạn chế, với thời gian hạn hẹp, tập
luận văn này vẫn còn nhiều chỗ thiếu sót hoặc sai lầm. Chúng con rất
trân trọng thu nhận những ý kiến chỉ giáo để cho chúng con có thêm cơ
hội học tập. Nguyện xin hồi hướng công đức đến khắp chúng sanh đều trọn
thành Phật đạo.
Thành
kính.
***
Một hôm đức Phật từ trong
rừng đi ra, trên tay cầm một nắm lá. Ðức Phật hỏi các vị Tỳ Kheo rằng:
“Lá trên tay của Như Lai nhiều hay lá trong rừng nhiều ?” Các vị Tỳ Kheo
đáp lại đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn, lá trên tay của Ngài thật là qúa ít
ỏi so với lá trong rừng, lá trong rừng thật là qúa nhiều so với lá trên
tay”.
Ðức
Phật nói: “ Cũng vậy này các Tỳ Kheo ! Những gì mà Như Lai dạy cho các
ông thật là ít ỏi, chỉ như lá trên tay của ta, so với những điều mà ta
biết thật là qúa nhiều, ví như lá trong rừng. Vì sao vậy ? Ðức Như Lai
chỉ dạy cho các ông những điều cần thiết để trừ diệt tham, sân,
si...giãi thoát sanh, gìa, bệnh, chết...hướng đến Niết Bàn. Như Lai
không dạy những điều vô bổ không hướng đến mục tiêu phạm hạnh, không
hướng đến giãi thoát”.
Ví như
một người bị mũi tên độc bắn trúng, lại không muốn nhổ mũi tên ra để trị
liệu, lại nói rằng: “ Hãy khoan nhổ mũi tên ra, hãy cho tôi biết người
bắn tôi là ai ?...v.v... Hãy cho tôi biết cây cung làm bằng gỗ gì ? Dây
cung làm bằng gì ?...Mũi tên thuộc loại gì?...v.v...Người ấy sẽ chết
trước khi biết được điều muốn biết. Trong Kinh Tiễn Dụ đức Phật đã
khuyến cáo Man Ðồng Tử chớ sa vào những luận thuyết siêu hình, vô bổ,
làm mất thời gian. Mà việc cần thiết là nhổ ngay mũi tên độc tham sân si
ra để chữa trị...
Những
lời dạy của đức Phật gồm vô lượng pháp môn, chứa đầy trong ba tạng Kinh
điển chỉ là những pháp môn đối trị tùy theo những căn cơ sai biệt nhau,
như tùy theo bệnh cho thuốc. Mà mục đích duy nhất chỉ là hướng dẫn chúng
sanh lần lượt giãi trừ tham sân si phiền não...tiến đến đắc đạo qủa tối
hậu như Phật.(Kinh Pháp Hoa: Khai thị chúng sanh, ngộ nhập tri kiến
Phật).
Trí
tuệ của Phật là trí tuệ tuyệt đối, thể nhập chân tánh của vạn hữu. Sự
hiểu biết thật tướng các Pháp được nêu trong Thập như thị: “Như thị
tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị
nhơn, như thị duyên, như thị qủa, như thị báo, như thị bản mạt cứu
cánh”.(Kinh Pháp Hoa _ Phẩm Phương Tiện thứ 2). Trí tuệ ấy gọi là Tri
kiến Ba La Mật: là tri kiến tuyệt đối trên mọi sự vật. Tuy Như Lai không
nói về những điều huyền đàm, hý luận vô bổ, không ích lợi cho mục tiêu
giãi thoát của chúng đệ tử, nhưng suốt 49 năm giáo hóa, qua những lời
giáo huấn, Ngài đã hé mở cho chúng ta nhiều chân lý hiển nhiên về sự
vật. Mà cho đến những thế kỷ gần đây chúng ta mới nghiệm thấy những lời
của Ðức Phật là chân thực ngữ, thông qua những tiến bộ vượt bậc của con
người trên phương diện khám phá vũ trụ vật chất tồn tại chung quanh ta.
Chúng ta hãy suy gẫm về những lời Phật nói cách đây hơn 2500 năm và so
sánh với những sự thật hiển nhiên của khoa học thực nghiệm đã khám phá
được. Chúng ta không nói Khoa Học là vô song, nhưng những khám phá của
Khoa Học tuy chậm chạp nhưng được đặt trên những cơ sở vững chắc. Ít
nhất cũng trên mặt hiện tượng thế gian, dựa trên cơ sở tri thức của con
người. Mà tri thức ấy ở trong một chừng mực nào đó cũng có thể khả
tín...
Ngày nay, dưới ánh sáng phát minh của Khoa Học Kỹ Thuật, những Học
Thuyết, những Tôn Giáo mà những hoạt động truyền bá của họ, chủ yếu chỉ
dựa vào: niềm tin của dân chúng, vào sự hứa hẹn một cõi Thiên Ðàng sau
khi chết, vào sự cứu rỗi cho Linh hồn, hay vào sự đe dọa của một cõi Hỏa
Ngục đời đời...v.v...Những Nguyên Lý, Học Thuyết của họ dần dần bị phá
sản và rơi rụng như lá mùa thu... Bởi vì _ Từ xa xưa, con người dường
như cần phải tin vào một cái gì đó, để sống một cách vững tâm hơn. Các
Tín Ngưỡng đều dựa vào nhu cầu ấy để nảy sinh và phát triển. Cuộc sống
ngày càng tiến bộ. Sự hiểu biết về tác động của môi trường ngày càng
tăng, con người ngày nay đã chinh phục nhiều nổi sợ hãi trước những sức
mạnh của thiên nhiên. Như vậy trãi qua hàng nghìn năm phát triển, con
người đã biết tin vào chính trí tuệ của mình. Mặc dầu cái “ trí tuệ” ấy
còn rất nhiều sự hạn chế bởi không gian và thời gian của kiếp con người.
Trí
huệ của Ðức Phật đại khái có 2 loại là Xuất Thế Trí (Chánh Biến Tri) và
Thế Gian Trí (Thế Gian Giãi). Mục tiêu đạt đến của văn minh Khoa Học Kỹ
Thuật chỉ bao hàm trong Thế Gian Trí. Còn lãnh vực Xuất Thế Trí chỉ có
Ðức Phật là rốt ráo, chư Bồ Tát Thánh Chúng đạt đến theo mức độ tu
chứng. Nay đây, chỉ đem một số ví dụ để minh họa rằng: Trong lãnh vực
Thế Gian Trí cách đây hơn 2500 năm (vào cái thời kỳ mà các máy móc công
cụ, phương tiện quan sát thực nghiệm của Khoa Học chưa phát minh) Ðức
Phật đã thấy được những gì mà ngày nay chúng ta thấy được qua trung gian
các phương tiện quan sát hay trắc nghiệm...
I /
TRONG THẾ GIỚI VI SINH:
1)Phật quán nhất bát
thủy:
Trong Luật Phật dạy các Thầy Tỳ Kheo cũng như Sa Di mỗi khi uống nước
phải thầm niệm kệ và chú rằng:
“ Phật quán nhất bát thủy,
Nghĩa là:
|
Bát vạn tứ thiên trùng. |
Phật xem trong bát nước, |
|
Nhược bất trì thử chú |
Tám vạn bốn ngàn trùng. |
|
Như thực chúng sanh nhục.” |
Nếu chẳng trì chú này, |
|
Án, phạ tất ba ra ma ni tóa ha.(3 lần) |
Như ăn thịt chúng sanh. |
2)Giới cấm ép mè:
Trong Kinh Ưu Bà Tắc Giới, Ðức Phật khuyên các vị cư sĩ không được làm
những nghề thương tổn hại mạng chúng sanh. Trong đó có giới không được
ép dầu mè. Nhiều người thắc mắc không biết vì sao, mè cũng là một giống
thảo mộc mà Phật lại cấm. Thì ra ngày xưa, ngươì làm nghề ép mè, sau khi
hấp mè chín rồi, lấy ra đem ủ một thời gian rồi mới ép, cho được nhiều
dầu. Trong thời gian ủ mè, vô số loại trùng vi tế sanh ra, mà với con
mắt thường thì không thể nào thấy được. Họ chỉ làm theo những kinh
nghiệm có lợi. Vào thời đó người ta chưa biết có sự hiện diện của những
sinh vật vi tế như virus, vi trùng, vi khuẩn, men giấm, men rượu, v.v...
Mãi đến giữa thế kỷ 19, qua những công trình nghiên cứu của nhà bác học
Pasteur, người ta mới biết đến sự hiện diện và những hoạt động vô cùng
phong phú và đa dạng trong thế giới vi sinh.
3) Ngừơi tiên phong:
Vào khoảng 1854 người ta
nói đến những lớp trùng cỏ, những loại nấm men, những động vật, những
sinh vật vô cùng nhỏ bé, những khuyển phẩy, những tiểu cầu... Người ta
ghi nhận sự hiện hữu của chúng trong các sự lên men, song không biết gì
mấy về vai trò chính xác của chúng. Người ta không biết từ đâu chúng
sinh ra và cũng không ngờ đến nguồn năng lượng khổng lồ do chúng tạo ra.
Qua
một loạt công trình nghiên cứu kéo dài 15 năm, Louis Pasteur (1822_1895)
đã đưa các vi sinh vật ấy ra ánh sáng, làm rõ tầm hoạt động quan trọng
của chúng. Và cho thấy chúng đã giữ vị trí quan trọng nào trong cơ cấu
của đời sống.
Các
khám phá trên cũng tạo ra những nền tảng cho một môn Khoa Học mới: Môn
Vi Sinh Vật Học: chuyên nghiên cứu về đời sống các vi sinh vật.
Các
kiến thức về vi trùng và vi sinh học làm đảo lộn hoàn toàn các tập quán
của một số ngành Kỹ Nghệ
nhất là trong Y học đặc biệt là khoa Phẫu thuật.
Bệnh dại từng gây kinh hoàng trong thế kỷ 19. Virus bệnh dại đã bị nhận
dạng. Và kể từ năm 1963 nhờ kính hiển vi điện tử chúng ta đã biết rõ hơn
về cấu trúc của nó.
Sau
bệnh dại, người ta tấn công vi trùng các bệnh bạch hầu, sốt vàng da,
dịch hạch, dịch tả, v.v...
II / TRONG THẾ GIỚI VẬT
CHẤT CỰC VI:
1)Tích
trần thành thế giới, chẻ giới hóa vi trần:
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật dạy: “....Xét tánh địa đại, to là đất
liền, nhỏ là vi trần. Cực vi là sắc tướng nhỏ tột. Nếu đem chẻ cực vi ra
làm 7 phần thì sẽ có lân hư trần. Nếu chẻ lân hư trần ra nữa thì chỉ còn
hư không. A Nan ! Nếu cái lân hư trần đó chẻ ra thành được hư không, thì
biết hư không cũng sinh ra được sắc tướng”.
Trong Câu Xá Luận quyển 12
(Theo Phật Quang Từ Ðiển tr. 5445, 5479) chép:
Hợp
7 cực vi thành vi trần.
Hợp
7 vi trần thành 1 kim trần.
Hợp
7 kim trần thành 1 thủy trần.
Hợp
7 thủy trần thành 1 thố mao trần.
Hợp
7 thố mao trần thành 1 dương mao trần.
Hợp
7 dương mao trần thành 1 ngưu mao trần.
Ngay cả kim trần và thủy trần cũng có thể đi xuyên qua kim loại.(Tương
đương với các tia vũ trụ...)
Bồ
Tát Trì Ðịa trong hội Lăng nghiêm nói: ”... Ðức Tỳ Xá Như Lai xoa đỉnh
đầu tôi mà bảo rằng: “ Nên bình tâm địa, thì tất cả đất đai trên thế
giới đều bình”. Tôi liền khai ngộ. Thấy vi trần nơi thân thể cùng
với tất cả vi trần tạo thành thế giới đều bình đẳng không sai khác. Tự
tánh của vi trần không chạm xát nhau, cho đến các thứ đao binh cũng
không đụng chạm gì. Tôi do nơi Pháp tính ngộ được vô sinh nhẫn, thành
qủa A La Hán....”
2) Thuyết nguyên tử
và hạt cơ bản:
Thí
nghiệm của Rutherford (1911) đã chứng tỏ rằng nguyên tử tuy rất nhỏ,
nhưng có cấu trúc rất phức tạp. Bao gồm 1 hạt ở giữa gọi là hạt nhân,
xung quanh có các electron (điện tử). Ðiện tử có đường kính hạt nhân
nhỏ hơn hàng chục vạn lần so với đường kính của nguyên tử. Hạt nhân lại
cũng có cấu tạo riêng.Các hiện tượng phóng xạ và các phản ứng hạt nhân
đã chứng tỏ rằng hạt nhân được cấu tạo từ những hạt nhỏ hơn gọi là
nucleon. Có 2 loại nucleon là proton mang điện dương e+ và
notron không mang điện. Các proton trong hạt nhân mang điện dương nên
đẩy nhau, nhưng hạt nhân vẫn bền vững, vì các proton và notron liên kết
với nhau rất mạnh bởi các lực hút gọi là lực hạt nhân. Lực hạt nhân là
loại lực mạnh nhất trong các lực đã biết, nhưng chỉ tác dụng khi khoảng
cách giữa các nucleon bằng hoặc nhỏ hơn kích thước của hạt nhân.
Trong một nguyên tử, dựa vào các đặc trưng của hạt, nhất là vào khối
lượng, có thể chia các hạt chất làm 2 loại là hadron và lepton:
a)
Hadron: tức là hạt lớn, gồm có các barion (hạt nặng) và các mezon
(hạt trung bình). Barion có các nucleon (proton và notron) và các
hyperon (hạt rất nặng).
b)
Lepton: tức là hạt nhẹ, gồm có electron và nơtrino.
Nếu
kể cả các phản hạt, thì số hạt sơ cấp đã biết lên tới gần 400. Ðến nay
hầu hết các nhà vật lý học đã thừa nhận giả thuyết hạt quark (1961). Các
hạt này cấu tạo nên các hadron. Nếu vậy, có thể nói rằng các hạt thực sự
là hạt sơ cấp chỉ gồm có: 6 loại hạt quark, leptôn (electron và nơtrinô)
và các hạt trừơng...
Con
đường tìm kiếm còn vô tận...
III/ VŨ TRỤ -THẾ GIỚI -CHÚNG SANH: NHỮNG SỰ VẬN ÐỘNG KHÔNG NGỪNG
NGHỈ
1) Sự vô
thường của chúng sanh và thế giới:
Vô
thường là lãnh vực Phật Giáo nói đến nhiều nhất. Kinh Bát Ðại Nhân Giác
nói: “Thứ nhất giác ngộ thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại
khổ không, ngũ ấm vô ngã...” Vũ trụ, thế giới không ngừng chu biến trong
không gian,thời gian. Ở thế gian, những cảnh vật to lớn đối với con
người cũng phải chịu chung qui luật của sự đổi dời. “Thương hải biến
vi tang điền”: Biển xanh mấy độ nay thành ruộng dâu...Hay: “ Ðá
vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Nước còn cau mặt với tang thương”.(C.o.n.k.)
Cái
gọi là con người là sự nhóm họp của 5 uẩn, gồm sắc, thọ, tưởng, hành,
thức.
Sắc
gồm có 4 yếu tố: đất, nước, gío, lửa và các sắc do 4 yếu tố ấy làm nên.
Sắc này do thức ăn nuôi dưỡng. Khi thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi;
Khi thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt.
Thọ
uẩn gồm có thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc, tỹ xúc, thiệt xúc, thân
xúc, ý xúc sanh. Do xúc sanh khởi nên thọ sanh khởi; do xúc đoạn diệt
nên thọ đoạn diệt.
Tưởng uẩn có sắc tưởng, thanh tưởng, hương, vị, xúc, pháp tưởng. Tập
khởi và đoạn diệt cũng do xúc.
Hành uẩn có 6 tư (hay hành): sắc tư, thanh tư, hương, vị, xúc, pháp tư.
Ðây gọi là hành uẩn. Do xúc khởi nên tư khởi; do xúc diệt nên tư diệt.
Về
thức uẩn, gồm có nhãn thức, nhĩ thức, tỹ, thiệt, thân, ý thức. Do danh
sắc (hoặc hành) tập khởi nên thức tập khởi; do danh sắc đoạn diệt nên
thức đoạn diệt.
Như
vậy thân này rất mong manh, do 5 yếu tố trên phối hợp lại mà thành. Xét
riêng từng phần chẳng có gì là chắc thật:
“
Thân này như bọt, chẳng đặng còn lâu; thân này như huyễn do điên đảo
khởi; thân này như mộng từ vọng thấy sanh; thân này như bóng bởi nghiệp
duyên hiện”. (Kinh Duy Ma)
Lại
nói: “ Vua chết nuốt chúng sanh, suy gìa uống tuổi trẻ, bệnh đến mạnh
khỏe tiêu, người thế gian không biết”. (Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ)
Kinh Phân Biệt Sáu Giới (Trung Bộ Kinh III, số 140) Kinh Lục Giới Phân
Biệt (Trung A Hàm, số 42) và nhiều Kinh khác của A Hàm, Nikàya cắt
nghĩa: Ðịa đại gồm có nội địa đại (thân người của mình) và ngoại
địa đại (tha nhân và thế giới). Thủy, hỏa, phong đại cũng chia ra
có nội, có ngoại như thế.
Sắc
uẩn cũng gồm nội sắc (thân mình) và ngoại sắc (tha nhân và thế
giới vật lý)
Thọ
uẩn gồm có nội thọ (cảm nhận về thiền lạc) và ngoại thọ (gồm
có các cảm thọ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).
Tưởng uẩn bao gồm những cảm nhận về hỷ, lạc, xã, ưu, khổ thuộc thọ uẩn,
những khả năng kinh nghiệm về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp và những
khả năng hồi tưởng và ký ức.
Hành uẩn bao gồm những khả năng tư duy,lo lường, suy nghĩ thiện, ác...
Thức uẩn bao gồm khả năng ghi nhận sự có mặt của các pháp qua mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý.
Trong Tương Ưng Bộ Kinh III, Ðức Phật dạy: “ Không liễu tri 5 uẩn thì
không thể đoạn tận khổ đau. Do vậy cần phải liễu tri 5 uẩn “. Và khuyên
các vị Tỳ Kheo cần tu tập Thiền Ðịnh để hiểu biết một cách như thật: Sắc
tập khởi và sắc đoạn diệt; thọ tập khởi và thọ đoạn diệt;..........;
thức tập khởi và thức đoạn diệt.
Trong một lần đề cập đến ngũ uẩn, Thế Tôn đã nói lên lời cảm hứng này:
Năm uẩn là gánh nặng,
Kẻ gánh nặng là người.
Cầm lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống,
Tức là lạc ở đời.
Ðặt gánh nặng xuống rồi,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát,
Ðã giãi thoát tịnh lạc.
(sách đã dẫn tr. 26)
Như
Thế Tôn đã giãi thích: Khổ đau không phải do chính 5 uẩn, cũng không do
vì 5 uẩn vô thường, mà là do chính lòng khát ái 5 uẩn.
Phật giáo quan niệm Chánh báo là cảnh giới gồm xã hội và môi trường nơi
con người sinh sống, và Y báo là chính bản thân con người - tổ hợp bởi 5
uẩn. Cả 2 yếu tố đó biến đổi không ngừng, có ảnh hưởng tương tác lẫn
nhau, cộng thông cả biệt nghiệp lẫn cộng nghiệp. Như Xã hội học hiện nay
quan niệm Xã hội hóa cá nhân, và cá nhân tác động đến Xã hội. Nhưng các
cá nhân không chịu ảnh hưởng Xã hội một cách giống nhau. Các cá nhân tác
động lên Xã hội cũng không cùng một cách như nhau. Quan niệm về một Xã
hội động là một Xã hội luôn luôn biến chuyển.
2
/Bốn giai đoạn thành trụ hoại không của thế giới:
Các Thế
giới đều phải chuyển biến. Một chu kỳ của sự biến chuyển đó kéo dài
trong một Ðại Kiếp.Bao gồm 4 giai đoạn là Kiếp Thành, Kiếp Trụ, Kiếp
Hoại, Kiếp Không. Mỗi giai đoạn có thời gian kéo dài là một Trung kiếp
(hay là 20 Tiểu Kiếp) Như vậy một Ðại Kiếp có 4 Trung Kiếp, hay 80 Tiểu
Kiếp. Một Trung Kiếp có 20 Tiểu Kiếp. Một Tiểu Kiếp có 16.678.000 năm
(tính theo năm nhân loại).
a)
Kiếp Thành: Khi thế giới đã tiêu hoại, chỉ còn một khoảng hư không
trống rỗng, trãi qua một thời gian rất lâu xa. Do nghiệp lực của chúng
sanh, bấy gìơ từ nơi không gian hiện ra đám mây to rộng che khắp một
vùng rộng lớn bằng khoảng Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới
.
Ðám mây này chuyển biến qua các giai đoạn đông tụ lại tạo thành thế
giới. Tóm lại, Kiếp Thành là giai đoạn thế giới đang thành lập, thời
gian này kéo dài 20 Tiểu Kiếp.
b)
Kiếp Trụ: là chỉ khoảng thời gian thế giới đã thành, có thể khiến
cho chúng sanh được an trụ và thọ dụng. Kinh Hoa Nghiêm nói: “ Tam Thiên
Ðại Thiên Thế Giới đã thành lập, khiến cho vô lượng chúng sanh được
nhiều sự nhiêu ích: Những loài Thủy tộc được sự nhiêu ích của nước.
Những loài ở lục địa được sự nhiêu ích của đất. Những loài ở cung điện
được sự nhiêu ích của cung điện
.
Những loài ở hư không được sự nhiêu ích của hư không
”.
Tóm lại, thời gian của Kiếp Trụ cũng gồm 20 Tiểu Kiếp. Mỗi Tiểu Kiếp khi
tăng thạnh đều có 4 bậc Luân Vương ra đời
,
lúc giảm cực đều có tiểu tam tai.
c)
Kiếp Hoại: Khi Kiếp Trụ đã mãn, thế giới bắt đầu hư hoại, đây gọi
là Kiếp Hoại. Sự hư hoại xảy ra trên 2 phương diện: Thú hoại và Giới
hoại:
_
Thú hoại là chỉ cho sự tiêu hoại của chúng sanh trong thất thú
tức là hữu tình giới. Lúc đó những chúng sanh nào có phước nghiệp liền
được sanh về các tầng Trời không tiêu hoại, hoặc sanh về các thế giới
khác tương xứng với nghiệp của mình. Những chúng sanh nghiệp nặng, sau
khi thân xác tiêu hoại liền được chuyển sanh về các cõi ác đạo ở phương
khác.
_
Giới hoại là sự tiêu hoại của non sông vạn vật, tức là thế giới. Trong
Kiếp Hoại có đại tam tai
khởi lên tiêu huỷ vạn vật. Sự hoại diệt thế giới kéo dài trong 20 Tiểu
Kiếp.
d)
Kiếp Không: Sau khi đã trãi qua Kiếp Hoại, vạn vật đều tiêu tan,
chỉ còn một khoảng không gian vô hình. Trạng thái này kéo dài trong 20
Tiểu Kiếp mới qua giai đoạn thành lập của thế giới tương lai. Thời kỳ
này gọi là Không Kiếp. Không Kiếp không có ngày đêm, thời tiết, làm sao
để biết được là trãi qua 20 Tiểu Kiếp. Ðây là do trí tuệ vô ngại của
Phật thấy suốt 10 phương, so sánh với các cõi Trời không hư hoại và Kiếp
Trụ ở thế giới phương khác nên biết rõ thời gian ấy trãi qua 20 Tiểu
Kiếp.
Trong
một Ðại Kiếp, ba Trung Kiếp Thành, Hoại, Không đều không có chúng sanh
ở. Cảnh giới và hữu tình giới chỉ thể hiện đầy đủ trong Kiếp Trụ. Như
một năm có bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Ðông một Ðại Kiếp phải trãi qua 4 kiếp
tướng là Thành, Trụ, Hoại, Không. Những thế giới phải biến đổi vần xoay
không dứt. Kinh Hoa Nghiêm nói: “ Ví như lá trong rừng có non, già, khô,
rụng, thế giới trong các sát chủng cũng có thành, trụ, hoại, không “.
3)Vật chất
biến hóa:
Hạt nhân nguyên tử không phải là bất biến mà nó có thể biến đổi thành
hạt nhân khác một cách tự nhiên do sự phóng xạ, hoặc trong các phản ứng
hạt nhân do con người gây ra
.
Phóng xạ là hiện tượng một hạt nhân tự động phóng ra những bức xạ gọi là
tia phóng xạ và biến đổi thành hạt nhân khác. Tia phóng xạ không nhìn
thấy được, nhưng có những tác dụng lý hóa: như làm iôn hóa môi trường,
làm đen kính ảnh, gây ra các phản ứng hóa học v.v... Có 3 loại tia phóng
xạ được đặt tên là tia Alpha, tia Bêta và tia Gamma.
Mỗi chất phóng xạ được đặc trưng bởi thời gian T gọi là chu kỳ bán rã.
Cứ sau mỗi chu kỳ bán rã này thì 1/2 số nguyên tử của chất ấy đã biến
đổi thành chất khác. Chu kỳ bán rã đối với mỗi chất phóng xạ mỗi khác
nhau. Thí dụ: Uranium có T = 4,5.109 (4 tỷ rưỡi năm), Carbon
14 có T = 5.600 năm, Radium có T = 10-6 (bằng 1 phần triệu
giây, nghĩa là vừa sinh ra thì biến đổi ngay thành chấøt khác).
Phản ứng hạt nhân nhân tạo đầu tiên do Rutheford thực hiện năm 1919.
Oâng dùng chất phóng xạ Polonium 210 phát ra các hạt Alpha để bắn phá
Nitơ. Kết qủa là Nitơ biến thành Oxy và Proton.
Năm 1934 hai ông bà Joliot và Curi dùng hạt Alpha bắn phá một lá nhôm và
thu được Phôtpho (Lân) và Nơtron.
4)
Hỏi trăng bao tuổi trăng gìa ?
Lâu nay chúng ta thường nghe nói về số tuổi của một mẫu vật trong trầm
tích, hay số tuổi của một loài khủng long cổ xưa mới tìm được. Chúng ta
thường hồ nghi về những con số được tính toán đó. Bởi chúng ta chưa hiểu
rõ về cơ sở của phương pháp tính tuổi đó. Nghành khảo cổ có một phương
pháp rất chính xác để định tuổi của các di vật gốc sinh vật, đó là
phương pháp dùng Carbon 14. Carbon có 4 đồng vị: C12 phổ biến nhất, C13
thì bền, C14 là chất phóng xạ Bêta trừ
b- và C11 là chất phóng xạ Bêta cộng
b+.
C14 được tạo ra trong khí quyển và thâm nhập vào mọi vật trên trái đất.
Nó có chu kỳ bán rã là 5600 năm. Sự phân rã này cân bằng với sự tạo ra,
nên từ hàng vạn năm nay mật độ của C14 trong khí quyển không đổi: Cứ
trong 1012 (một ngàn tỷ) nguyên tử Carbon thì có 1
nguyên tử C14. Một thực vật còn sống, còn qúa trình diệp lục hóa, thì
còn giữ tỷ lệ trên trong các thành phần chứa Carbon của nó. Nhưng nếu
thực vật chết, thì nó không trao đổi gì với không khí nữa. C14 vẫn phân
rã mà không được bù lại, nên tỷ lệ của nó sẽ giảm: sau 5600 năm chỉ còn
một nửa. Ðộ phóng xạ H của nó cũng giảm tương ứng. Ðo độ phóng xạ này
thì tính được thời gian đã trôi qua từ khi cây chết. Ðộng vật ăn thực
vật nên tỷ lệ C14/C trong cơ thể cũng giảm như trên sau khi chết. Vì vậy
có thể định tuổi các mẫu xương động vật tìm được trong các di chỉ bằng
phương pháp này
Hiện
nay khoa học vẫn chưa tìm ra phương pháp chính xác để tính tuổi Trái
đất, mặt trăng,...v.v.... Các phương pháp trước kia đưa ra những con số
sai biệt qúa lớn. Ví dụ người ta thấy tuổi trái đất biến thiên từ 20
triệu năm tới 5000 triệu năm. Gần đây người ta dùng nhiều phương pháp đo
phóng xạ trong các lớp đá và khóang vật của nhiều thời kỳ địa chất rồi
cộng lại, kết qủa thành ra 520 triệu năm, nhưng chưa biết được thời gian
kéo dài của hai đại Nguyên Sinh và Thái Cổ. Tất nhiên những con số này
chưa thể là chính xác, có sai lầm hoặc sai số rất lớn.
5) Hạt và
phản hạt, vật chất và phản vật chất:
Mỗi
hạt đều có phản hạt. Hạt và phản hạt có cùng khối lượng. Phản hạt của
electron e- là pôzitrôn (electron e+). Nơtrôn và
phản nơtrôn đều không có điện tích, nhưng có momen từ ngược chiều nhau.
Hạt và
phản hạt gặp nhau thì hủy thành prôtôn, đó là hiện tượng hủy cặp:
e-
+ e+ ® y
Trong
những điều kiện nhất định, có thể có sự biến đổi của prôtôn thành hạt và
phản hạt, đó là sự sinh cặp: y ®
e- + e+
Phản
hạt có thể tạo thành phản vật chất. Ví dụ nguyên tử phản hydrô gồm một
pôzitrôn (electron dương e+) quay quanh một phản prôtôn.
Thiên
hà của chúng ta chủ yếu cấu tạo từ vật chất, nên các phản hạt rất hiếm.
Nhưng có thể trong vũ trụ có phản thiên hà, cấu tạo từ phản vật chất.
Người ta đã phát hiện ra trong vũ trụ có những “điểm” gọi là quaza ở rất
xa, phát ra năng lượng hàng chục lần lớn hơn các thiên hà mạnh nhất. Có
giả thuyết cho rằng quaza là sự hủy cặp của một thiên hà - phản thiên
hà.
IV / CÂU CHUYỆN VỀ THỜI GIAN:
1)
Nguồn gốc của thời gian:
“
Không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng nước “
.
Qủa vậy, trong dòng thời gian trôi chảy, trong khoảng không gian đổi
dời, không có gì dừng trụ. Nếu không có không gian thì chẳng có thời
gian. Nếu không có thời gian cũng không có không gian. Không gian - thời
gian - sinh vật là 3 yếu tố tương quan của ý thức tồn tại. Nhưng 3 yếu
tố ấy có nguồn gốc như thế nào ? Trong Kinh Na Tiên Tỳ Kheo có một đoạn
làm chúng ta chú ý:
“ Vua
hỏi:
_ Bạch
Ðại đức, Ðại đức vừa nói thời gian dài vô cùng vô tận, vậy thời gian là
gì ?
_ Qúa
khứ, hiện tại, vị lai. Qúa khứ dài vô cùng vô tận. Vị lai cũng dài vô
cùng vô tận. Chỉ hiện tại là không dài.
_ Xét
cho cùng lý, có thời gian hay không ?
_ Có
khi có, có khi không.
_ Khi
nào thì có, và khi nào thì không ?
_ Với
những vị tu hành đắc đạo vào Niết bàn thì không có thời gian. Với những
kẻ chưa đắc đạo, còn vào ra trong sanh tử, thì còn thời gian. Khi thời
gian còn có, thì nếu đời này thích làm việc bố thí và ăn ở hiếu thuận
với cha mẹ, đời sau hẳn phải được phước báo.
_
Nguồn gốc của thời gian qúa khứ, hiện tại và vị lai là cái gì ?
_ Ấy
là ngu si mê muội. Vì ngu si mê muội sanh ra nên liền sanh ra thần. Thần
sanh thân.Thân sanh danh. Danh sanh sắc. Sắc sanh lục tri, tức sáu cái
biết: Một là biết của mắt, hai là biết của tai, ba là biết của mũi, bốn
là biết của lưỡi, năm là biết của thân, sáu là biết của tâm. Cả sáu cái
biết này đều hướng ngoại. Mắt hướng sắc, tai hướng thanh, mũi hướng
hương, lưỡi hướng vị, thân hướng trơn nhám, tâm hướng tham dục. Liền
hướng đến là liền hiệp lại, mà biết khổ biết vui. Do biết khổ biết vui
mới sanh ân ái. Do ái ân sanh tham dục. Do tham dục mới hình thành cái
nguyên nhân tái sanh (hữu). Do tái sanh nên có già, chết, khóc
lóc, lo rầu,.. khiến nội tâm bi thống. Tất cả những cần khổ bi thống ấy
hiệp lại mà thành ra con người. Vì vậy mà con người chết đi sanh lại hết
đời này sang đời khác, không bao giờ chấm dứt. Trong cái thời gian dài
vô tận và không thể phanh ra đầu mối ấy, tìm trở lại cái bản thân trước
kia của con người, qủa thật là một việc bất khả đắc...”
Như
vậy do vô minh mà sanh ra căn thân (là chúng sinh) và cảnh giới
(là không gian, nơi chúng sinh sinh sống). Dòng sinh mạng tương
tục của chúng sanh và sự chuyển biến không ngừng của không gian sinh tồn
phát sinh ý niệm về thời gian.
2)
Giá trị của thời gian:
Giá
trị của thời gian là tương đối chỉ dựa trên tâm sinh lý của chúng sanh
và sự vận động của cảnh giới. Trong Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thọ Lượng thứ
31, có nói về thời lượng tương đương của các cõi giới:
“ Bấy
giờ Tâm Vương Ðại Bồ Tát ở trong chúng hội bảo chư Bồ Tát rằng: “ Chư
Phật Tử, ở Ta Bà Thế Giới cõi của Thích Ca Mâu Ni Phật đây một kiếp, nơi
Cực Lạc Thế Giới cõi của A Di Ðà Phật là một ngày một đêm. Một kiếp ở
Cực Lạc Thế Giới là một ngày một đêm nơi Ca Sa Tràng Thế Giới cõi của
Kim Cang Kiên Phật. Một kiếp ở Ca Sa Tràng Thế Giới là 1 ngày/ đêm nơi
Bất Thối Chuyển Âm Thanh Luân Thế Giới cõi của Thiện Thắng Quang Minh
Liên Hoa Khai Khu Phật....v.v...”

Nói về
cõi Ta Bà Thế Giới, cảnh giới của con người và các sinh vật khác thì ở
trên mặt đất. Còn các tầng Trời y cứ nơi núi Tu Di
gọi
là Ðịa cư Thiên. Vượt khỏi đảnh Tu Di trở lên thuộc về Không cư Thiên.
Bốn
phiá sát đỉnh núi Tu Di là cõi Trời Tứ Thiên Vương. Trên đảnh núi Tu Di
là xứ sở của cõi Trời Ðao Lợi. Từ cõi Trời Ðao Lợi lên trên 160.000 do
tuần
có một Thiên giới lơ lững như mây, do thất bảo nhu nhuyễn tạo thành, đầy
đủ cung điện lâu các, vườn cây ao hoa trang nghiêm tráng lệ. Ðây là cõi
Trời Dạ Ma. Từ cõi Trời Dạ Ma lên cao 320.000 do tuần nữa là Trời Ðâu
Suất. Từ Ðâu Suất lên 640.000 do tuần nữa là Trời Hóa Lạc. Từ cõi Trời
Hóa Lạc lên 1.280.000 do tuần là cõi Tha Hóa Tự Tại, là tầng Trời cao
nhất của Dục giới. Từ cõi Trời này trở lên lại có 4 tầng Thiền thiên của
Sắc giới. Mỗi tầng có bề rộng và cách nhau gấp bội. Duy các cõi Thiền
thiên của Vô sắc giới là không có phương xứ.
Nói về
tuổi thọ của các chúng sanh các cõi Trời, thì cõi trên gấp đôi cõi dưới
kế đó. Và thời gian tương đương là:
Một
ngày đêm ở Tứ Thiên Vương bằng 50 năm cõi người.
Một
ngày đêm ở Trời Ðao Lợi bằng 100 năm cõi người.
Một
ngày đêm ở Trời Dạ Ma bằng 200 năm cõi người.
Một
ngày đêm ở Trời Ðâu Suất bằng 400 năm cõi người.
Một
ngày đêm ở Trời Hóa Lạc bằng 800 năm cõi người.
Một
ngày đêm ở Trời Tha Hóa Tự Tại bằng 1.600 năm cõi người.
Như
vậy chúng ta dễ hình dung ra một sự trùng hợp lạ lùng với thuyết Tương
đối của nhà bác học Einstein. Khi bán kính các cõi Trời càng tăng, thì
vận tốc càng tăng. Khi vận tốc càng tăng thì thời gian đi chậm lại theo
tỷ lệ tương ứng.
3)
Con ve sầu và con linh quy:
Có một loại sinh vật gọi là con phù du, sớm sanh tối chết. Chắc hẳn nó
chưa biết tới cái gọi là 1 tuần. Có một loài gọi là con ve sầu, từ lúc
biến thành ve, cất tiếng kêu sầu hạ, đến giữa thu đã bặt tiếng im hơi.
Chắc hẳn nó không biết đến cái gọi là1 năm. Ðến như con người mấy ai
sống qúa 100 năm, ắt khó mà biết đến cõi trường thọ của loài rùa, loài
hạc. Huống chi, trong thời Thượng cổ có một loài cây Xuân, (?)
8000 năm đối với nó chỉ là 1 mùa xuân, 8000 năm đối với nó chỉ là 1 mùa
thu mà thôi !...
Con
người là “một cây sậy biết suy nghĩ”. Tuy từng trãi ở cõi đời
chẳng được bao năm, nhưng nhờ có trí khôn biết kế thừa tri thức, nên
phải nói con người là sinh vật độc nhất trên Thế gian lãm thông kim cổ.
Nhưng dù thế nào, con người cũng khó bác lãm được một thời khoảng qúa
lâu xa. Bởi vì cả Nhân loại cũng bị chi phối bởi “ sức tàn phá của
thời gian” ! Trong Kinh Phật có nói đến danh từ Tiểu Kiếp, là thời
gian kéo dài 16 triệu 678 ngàn năm. Cái thời gian Phật gọi là “tiểu” mà
con người cũng khó mà hình dung ra được. Huống chi nói đến Trung Kiếp là
thời gian kéo dài 20 Tiểu Kiếp. Trung Kiếp là thời hạn tối đa mà 1 thế
giới có những điều kiện, môi trường thích hợp để cho sinh vật có thể tồn
tại, sinh sống trên đó. Một Ðại Kiếp gồm 4 Trung Kiếp là Thành, Trụ,
Hoại, Không, duy chỉ có Trung Kiếp Trụ là thích hợp với sinh vật. Qủa là
những thời gian nằm ngoài cái tri thức kinh nghiệm của con người. Ngoài
ra còn có những danh từ Bàn thạch Kiếp, Giới tử Kiếp, Hằng sa Kiếp, Vi
trần Kiếp, Hải Kiếp....
là những bội bội...số của Ðại Kiếp kể trên. Nếu không có một trí tuệ
vượt ra khỏi sanh tử, vượt ra khỏi thời gian thì làm sao có thể biết
đến.
4)
Sự lệch pha của thời gian:
Chúng
ta đã quen với không gian ba chiều, nhưng Einstein lại xem thời gian là
chiều thứ tư trong hệ không gian, thời gian của thuyết tuơng đối. Khái
niệm về hiện tại, qúa khứ, tương lai tùy thuộc vào chuyển động trong
không gian.
Chúng
ta có thể tưởng tuợng không gian như chiếc cầu bắc ngang sông và thời
gian như dòng nước chảy không ngừng. Nếu chúng ta tìm được cách để đi
vào chiều thứ tư, như con thuyền trên dòng nước thời gian, thì liệu
chúng ta có thể đi ngược vào qúa khứ, tiến trước vào tương lai hay ở mãi
hiện tại cho thời gian ngừng trôi không ? Ðó là một giả tưởng Khoa học
về cuộc du hành vào lịch sử. Trong thuyết Tương đối, Einstein đã tìm ra
những liên hệ về không gian, thời gian và chuyển động.
Chúng
ta hãy bắt đầu bằng vận tốc ánh sáng.
Nếu
một người đứng giữa một toa tàu dài chuyển động nhanh và chúng ta ở trên
một sân ga. Ðúng lúc người đó đến ngay trước mắt chúng ta, một ánh chớp
được phát ra ở giữa toa tàu. Ðối với người trên tàu thì tia sáng đến hai
đầu toa cùng một lúc. Trong khoảng thời gian ánh sáng chuyển động đó,
đầu trước toa tàu chạy xa chúng ta thêmvà đầu sau toa tàu đến gần chúng
ta hơn. Vì vận tốc ánh sáng không thay đổi theo chuyển động, nó hoàn
toàn như nhau, nên đối với chúng ta thì ánh sáng đến đầu sau toa tàu
trước. Ðối với người trên tàu, khi ánh sáng đến hai đầu toa tàu là một
hiện tượng xảy ra hiện tại, còn đối với chúng ta trên sân ga hiện tượng
đó ở phía đầu sau toa tàu đã là qúa khứ và ở phiá đầu trước toa tàu hãy
còn trong tương lai.
Như
thế các khái niệm về thời gian rõ ràng tùy thuộc vào chuyển động.
Einstein xác định rằng: Một vật chuyển động càng nhanh, thời gian trôi
qua trên vật đó càng chậm lại.
Khi đứng yên trên Trái đất, một ngày đối với phi thuyền cũng là một ngày
đối với Trái đất. Khi chuyển động với vận tốc v, giả sử bằng 99,8 % vận
tốc C của ánh sáng thì một ngày trên phi thuyền tương ứng với 1 / 1-V2/
C2 tức gần 16 ngày trên Trái đất. Một nhà du hành vũ trụ thấy
mình ở trên phi thuyền ấy hai năm thôi thì ở Trái đất thời gian đã trôi
qua 32 năm rồi. Lúc trở về Trái đất người đó tưởng như mình trẻ hơn
những người bạn cũ đến 30 tuổi và anh ta thấy y như mình vượt thời gian
đến sống với thế giới tương lai 30 năm sau.
Khi
chuyển động nhanh như thế thì đối với Trái đất, chiều dài phi thuyền
theo phương chuyển động bị co rút lại. Nếu chiều dài phi thuyền lúc đứng
yên là 16m, thì khi chuyển động với vận tốc 99,8% vận tốc ánh sáng,
chúng ta thấy nó co rút lại còn 1m và nhà du hành vũ trụ cũng bị co rút
theo tỷ lệ đó. Tuy nhiên trên phương thẳng góc với chuyển động thì chúng
ta đo thấy kích thước vẫn giữ nguyên và nhà du hành vũ trụ bị biến dạng
rất kỳ lạ. Khi nằm dọc theo phương chuyển động, anh lùn xuống còn khoảng
10cm mà bề rộng, bề ngang vẫn bình thường. Khi đứng nhìn theo phương
chuyển động, người anh ta mỏng dính lại còn khoảng 1cm.
Ðối
với nhà du hành vũ trụ thì không gian anh ta vẫn bình thường, chỉ có
người, vật và Trái đất mới bị biến dạng theo cách trên.
Khi
chuyển động như thế, nhà du hành vũ trụ trở nên “nặng” thêm. Nếu ở Trái
đất anh ta nặng 60 kg thì trên phi thuyền đó, khối lượng anh ta tăng
thành 960kg. Tuy nhiên anh ta lại thấy chính mình vẫn bình thường mà
người và vật trên Trái đất mới tăng khối lượng lên.
Như
thế, khối lượng, không gian, thời gian đều là tương đối và vận tốc cũng
tương đối.
Einstein khẳng định, vận tốc ánh sáng trong chân không là vận tốc giới
hạn, mà vận tốc tương đối giữa các vật thể không thể nào vượt qua được.
Giả sử
có một phi thuyền đạt vận tốc ánh sáng, thì từ Trái đất chúng ta thấy
thời gian trên đó như ngừng trôi và không gian co rút đến mức không còn
hiện hữu nữa. Ðối với nhà du hành vũ trụ, thì chính Trái đất đang chuyển
động với vận tốc ánh sáng, thời gian trên Trái đất ngừng trôi và chính
Trái đất mới mỏng dính đến mức không còn hiện hữu nữa. Nếu trở về lại
Trái đất, căn cứ theo thời gian của mình, nhà du hành vũ trụ sẽ thấy
Trái đất y như lúc anh ta mới ra đi. Nhưng căn cứ vào thời gian của
chúng ta, khi nhà du hành trở về sau mấy khoảnh khắc anh ta ở phi thuyền
đó, thì Trái đất đã trãi qua hàng nghìn năm rồi !...
Theo
thuyết Tương đối rộng của Einstein: Trường hấp dẫn của một thiên thể có
khối lượng làm cong không gian và thời gian, làm chệch những tia sáng
của một ngôi sao chiếu từ đằng sau thiên thể. Nếu thiên thể có mật độ
rất lớn (như lỗ đen hay sao lùn nâu...) nó có thể khuyếch đại bức xạ của
sao, như một thấu kính hội tụ.
5) Tự
tại với thời gian:
Chúng
sanh còn thất tình, lục dục nên còn bị chi phối bởi thời gian. Chư Phật
đã thoát ly sanh tử, đạt trí huệ tối thượng, nên chi phối được thời
gian.
Ngày
xưa Từ Thức lạc vào động Tiên 2 năm khi trở về lại cố hương thì thời
gian đã trãi qua hơn 100 năm, cũng như vượt thời gian đến sống ở thế
giới tương lai 100 năm sau nhưng đây là sự vượt thời gian một cách bị
động. Không còn ai quen biết, cũng là kẻ chẳng cùng thời đại...Tiến thối
lưỡng nan...Qúa buồn bả, Từ Thức lại mặc áo cừu đi sâu vào núi...
Tâm lý
của chúng sanh là tham sống sợ chết, ưa vui, ghét khổ... nên đối với
hoàn cảnh vui thích, khoái lạc thì ham ưa, luyến tiếc: “ Ngày vui ngắn
chẳng tầy gang “, còn đối với hoàn cảnh đau thương, khổ cực... thì chán
chê, xa tránh: “ Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại “...
Kinh
Pháp Cú có dạy:
“ Như bọt nước trôi sông,
Như lầu sò chợ bể.
Nếu xem đời như thế,
Thần chết có hề chi ”.
Nếu
chúng ta luôn luôn quán chiếu thấy sự vô thường vô ngã của vạn vật thì
việc sanh tử chỉ là sự thường nhiên:
“Trường không túng sử song phi cốc, Cự hải hà phòng nhất điểm âu”.
Tuệ
Trung Thượng Sĩ.
(Hư
không dẫu có đôi vành chuyển, Biển cả ngại gì bọt nước xao).
Trong
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ nhất có nói: “ Trí Phật
chứng nhập 3 đời đều bình đẳng... Thân Phật khắp mười phương mà không có
tướng qua lại. Trí Phật vào tất cả tướng mà rõ thấu các pháp đều không
tịch. Tất cả thần biến của chư Phật ba đời đều thấy rõ trong quang
minh...”
Như ở
đoạn trên Ngài Na Tiên Tỳ Kheo đã nói,những vị tu hành đắc đạo đã vượt
ra ngoài những sự chi phối của không gian và thời gian. Những ý tưởng
này được tìm thấy trong nhiều Kinh điển. Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Như
Lai Thọ Lượng thứ 16, nói về thọ mạng của Ðức Phật:
|
“Từ ta thành Phật lại |
Trãi qua các kiếp số, |
|
Vô lượng trăm nghìn muôn |
A tăng kỳ ức năm, |
|
Thường nói pháp giáo hóa |
Vô số ức chúng sanh, |
|
Khiến vào nơi Phật đạo |
Ðến nay vô lượng kiếp, |
|
Vì độ chúng sanh vậy |
Phương tiện hiện Niết bàn, |
|
Mà thiệt chẳng diệt độ |
Thường trụ đây nói pháp. |
|
.................................... |
.................................... |
|
“Như lương y chước khéo |
Vì để trị cuồng tử, |
|
Thiệt còn mà nói chết |
Không thể nói hư dối. |
|
Ta là cha trong đời |
Cứu các người đau khổ. |
|
Vì phàm phu điên đảo |
Thiệt còn mà nói diệt. |
|
Vì cớ thường thấy ta |
Mà sanh lòng kiêu tứ, |
|
Buông lung ham ngũ dục |
Sa vào trong đường dữ...” |
Trong phẩm Hiện Bửu Tháp thứ 11, có nói về tháp báu của đức Phật Ða Bảo
thời qúa khứ, hiện lên trước pháp hội đạo tràng nói Kinh Pháp Hoa của
Ðức Phật Thích Ca nơi núi Kỳ Xà Quật ở cõi Ta Bà Thế giới.Trong tháp báu
vang ra tiếng lớn khen rằng:
“ Hay thay ! Hay thay ! Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn ! Có thể dùng huệ
lớn bình đẳng vì đại chúng nói Kinh Giáo Bồ Tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm
Diệu Pháp Liên Hoa.Ðúng thế ! Ðúng thế ! Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn !
Như lời Phật nói đó, đều chơn thật”.
Ðức
Phật đó có bổn nguyện rằng, nơi chỗ nào trong mười phương cõi nước nếu
có nói Kinh Pháp Hoa thời tháp báu đó đều hiện ra trước, toàn thân Phật
ở trong tháp nói lời khen ngợi và chứng minh.
Như
vậy trí của Phật khắp chiếu cả mười phương không gian, bao trùm mọi quốc
độ, đồng thời cũng chiếu suốt cả thời gian qúa khứ, hiện tại đến vị lai
vô tận.
Thêm
một ví dụ nữa ở trong Kinh Tam Thiên Phật Danh. Trong Kinh này Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni nói lên danh hiệu của 3000 Ðức Phật. Trong số đó theo
cách nói của chúng ta, thì có 1003 Ðức Phật trong qúa khứ, Ðức Phật
Thích Ca đang hiện tại và còn 1996 Ðức Phật sẽ xuất hiện ở tương lai. Ba
ngàn Ðức Phật ấy theo cách chia của Ðức Phật:Gồm 1000 vị thuộc Qúa Khứ
Trang Nghiêm Kiếp, tức là 1000 vị Phật ra đời trong Trung Kiếp Trụ của
Ðại Kiếp vừa qua, vị đầu tiên là Hoa Quang Phật vị cuối cùng là Tỳ Xá
Phù Phật. 1000 vị Phật thuộc Hiện Tại Hiền Kiếp,tức là 1000 vị Phật ra
đời trong Trung Kiếp Trụ của Ðại Kiếp hiện tại, vị đầu tiên là Câu Lưu
Tôn Phật vị cuối cùng là Lâu Chí Phật. 1000 vị thuộc Vi Lai Tinh Tú
Kiếp, tức 1000 vị Phật ra đời trong Trung Kiếp Trụ của Ðại Kiếp sắp đến,
vị đầu tiên là Nhật Quang Phật vị cuối cùng là Tu Di Tướng Phật. Trong
Hiện Tại Hiền Kiếp chỉ mới có 4 vị Phật đã ra đời, đó là Câu Lưu Tôn
Phật, Câu Na Hàm Mâu Ni Phật, Ca Diếp Phật và vị thứ tư là Thích Ca Mâu
Ni Phật xuất hiện cách nay 2540 năm. Vị Phật xuất hiện kế tiếp Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni là Phật Di Lặc sẽ ra đời sau Ðức Thích Ca 1 Tiểu Kiếp.
Và vị này chính là Bồ Tát A Dật Ða đã được Phật Thích Ca thọ ký thành
Phật. Trong Kinh Di Lặc Hạ Sanh và Trường A Hàm, Ðức Phật đã mô tả Ðức
Phật Di Lặc sẽ thành Phật dưới cội Long Hoa, thuyết pháp độ vô số chúng
sanh, cõi nước lúc đó rất bằng phẳng tươi đẹp, nhân dân thọ mạng rất dài
lâu...
Trong
Kinh Sơ Ðại Bổn Duyên - Trường A Hàm I nói: Ðức Phật Thích Ca dùng trí
Túc Mệnh để biết và kể lại nhân duyên của 6 Ðức Phật trong qúa khứ là
Phật Tỳ Bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xá Phù, Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu
Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp.Ðức Phậ đã kể cặn kẻ về quốc độ,thọ mạng,
thành đạo, pháp hội, chúng đệ tử, v.v... và các thường pháp của Ðức
Phật.
V.
BIÊN ÐỘ CỦA KHÔNG GIAN:
1)
Tận hư không biến pháp giới:
Khi
thời gian đã được xác lập thì đồng thời không gian cũng được xác lập.
Thời gian trong tam giới
là vô tận, thì không gian của tam giới cũng vô biên, không có ngằn mé.
Trên một
chiếc vòng tròn khép kín, chúng ta không tìm thấy chỗ bắt đầu và chỗ kết
thúc. Trên chiếc vòng thời gian vô tận, không tìm thấy điểm khởi thủy,
không tìm thấy điểm kết chung. Và chỗ nào có thời gian thì chỗ ấy có
không gian, không ai có thể rờ thấy đường biên của vũ trụ.
Trong
Kinh Phật thường dùng những khái niệm chỉ đến sự tuyệt đối của không
gian, thời gian như: “ Nam mô tận hư không biến pháp giới, qúa hiện
vị lai thập phương nhất thiết chư Phật”. Nghĩa là: Nhất tâm kính lễ
tất cả chư Phật suốt mười phương hư không, khắp hết vũ trụ, trong cả 3
thời qúa khứ, hiện tại, vị lai. Và như vậy cái đối tượng của câu này là
tất cả chư Phật được bao hàm đến chỗ tuyệt đối của không gian và thời
gian.
2)
Những cảnh giới do nghiệp cảm:
Theo
Kinh Phật, chúng sanh tùy theo nghiệp lực mà chiêu cảm ra chánh báo phù
hợp với y báo. Nghĩa là được sanh vào thế giới hay cảnh giới nào phù hợp
với nghiệp qủa đã tạo. Hơn nữa, ngay trong cùng một cảnh giới, cùng một
loài, do biệt nghiệp khác nhau mà có sự nhận thức và cảm thọ về thế giới
một cách khác nhau. Nếu khác loài thì sự nhận thức và cảm thọ còn sai
biệt gấp bội. Ví dụ những thứ mà ta gọi là cái bàn, cái ghế, cột, kèo,
đòn tay, rui mè, v.v... Những con vật khác đâu có nghĩ như vậy...Thậm
chí loài mọt lại cho đó là thức ăn của chúng... Trong Kinh Phật còn nói
rằng: Cái thứ mà con người gọi là nước, thì ngạ qủi xem là “lửa”,
và chư Thiên thấy đó là “ ngọc lưu ly”...
Có
những cảnh giới mà chúng ta chỉ nghe nói chứ chưa bao giờ thấy,cũng
không biết chúng có thật hay không, ở nơi chốn nào... Như là cõi Ðịa
ngục, ai cũng đã từng nghe thấy, ai cũng tưởng tượng ra đó là một nơi
hành tội đầy khủng khiếp với vô số phương cách đầy đọa tội nhân. Rồi ta
tự hỏi, không biết Ðịa ngục có thật hay không ? Hay chỉ là sự bịa đặt để
hù dọa ? Ai đã thấy được cảnh giới này ?...
Trong
Kinh Ðịa Tạng có mô tả những cảnh giới và tội báo trong Ðịa ngục.
Trong
phẩm thứ nhất có đoạn:
“
Thánh nữ hỏi rằng: _ Nay tôi làm sao để được đến chốn Ðịa ngục đó ?
Vô
Ðộc
đáp rằng: _ Nếu không phải sức oai thần cần phải do nghiệp lực. Ngoài
hai điều này ra ắt không bao giờ đến được”...
Như
vậy đối với những cõi Trời ở Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới ắt phải cần
sức oai thần, hay do phước nghiệp, hay sức tu thiền định mới xâm nhập
được.
Những
khoảng không gian đó không hẳn phải là những không gian “cụ thể” mà con
người nắm bắt hay đo đạc được. Chúng có thể đang tồn tại dưới một dạng
thức nào đó của hiện hữu. Ðối với âm thanh và ánh sáng cũng vậy: Tai
người chỉ nghe được trong một khoảng tần số sóng rung động từ 16 Hz đến
16 Khz; tai người không nghe được sóng vùng hạ âm (từ 1 Hz đến 16 Hz),
vùng siêu âm (từ 16 Khz đến 10 Mhz) và vùng cực siêu âm (tần số trên 10
Mhz). Mắt người cũng chỉ thấy được một khoảng trong dãy phổ ánh sáng có
bước sóng từ 0,400 mm đến 0,760
mm, là các màu sắc trong phổ
ánh sáng từ màu tím đến màu đỏ. Chúng ta không thấy được các tia Gamma,
tia X, tia Tử ngoại, là những tia có bước sóng ngắn hơn sóng ánh sáng
thấy được. Chúng ta cũng không thất được các tia sóng Hồng ngoại, sóng
Vô tuyến điện, là những tia có bước sóng dài hơn sóng ánh sáng thấy
được. Nhưng chúng ta không thể nói rằng những âm ta không nghe, những
tia ta không thấy là không tồn tại. Con chó có thể nghe được dãi tần âm
thanh rộng hơn tai người. Con rắn có thể “thấy” được tia Hồng ngoại
.
Rất nhiều loài vật có những giác quan nhạy bén hơn loài người. Chúng ta
biết được những âm này,những tia này nhờ vào những phương pháp và khí cụ
đo đạc. Ðức Phật biết đến các cõi giới khác do tâm.
3) Vô tận những
cõi giới và hư không:
Trong
Kinh Phật thường dùng những khái niệm về không gian rất rộng lớn. Như
Phật nói về một đơn vị của vũ trụ là Tam Thiên Ðại Thiên Thế giới. Theo
các Kinh sách định nghĩa thì một Tiểu Thế giới có 1 Lục Dục Thiên, 1
nhật nguyệt, 1 núi Tu di và 1 Tứ đại châu.
1000
Tiểu Thế giới hợp thành 1 Tiểu Thiên Thế giới.
1000
Tiểu Thiên Thế giới hợp thành1 Trung Thiên Thế giới.
1000
Trung Thiên Thế giới hợp thành 1 Ðại Thiên Thế giới.
Ðại
Thiên Thế giới cũng gọi là Tam Thiên Ðại Thiên Thế giới.
Hoa
Nghiêm Sớ Sao nói; “ Về Tiểu Thiên Thế giới chỉ kể đến Sơ thiền. Về
Trung Thiên Thế giới kể đến Nhị thiền. Về Ðại Thiên Thế giới thì kể Tam
thiền”.
Luận
Bà Sa nói: “ Bề rộng của Trời Sơ thiền che bốn châu thiên hạ. Bề rộng
của Trời Nhị thiền che một cõi Tiểu Thiên (1000 Tiểu Thế giới). Bề rộng
của Trời Tam thiền che một cõi Trung Thiên (1 triệu Tiểu Thế giới). Bề
rộng của Trời Tứ thiền che một cõi Ðại Thiên (1 tỷ Tiểu Thế giới)”...
Thế
thì trong một Tam Thiên Ðại Thiên Thế giới có 1 cõi Tứ thiền, 1000 cõi
Tam thiền, 1 triệu cõi Nhị thiền và 1 tỷ cõi Sơ thiền.
Bốn
cõi thiền này đều thuộc về các cõi Trời Sắc giới
.
Nói về
sự vô tận của không gian, trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Sơ Phát Tâm Công
Ðức thứ 17 có một đoạn làm chúng ta thấy rằng không thể nào ước lượng
nổi sự vô tận của không gian:
“Pháp Huệ Bồ Tát nói:
_
Nầy Phật tử, giả sử có người trong khoảng một niệm có thể qua khỏi
phương đông vô số thế giới, đi luôn như vậy trọn vô số kiếp
.
Số Thế giới của người này trãi qua khó ai biết được. Người thứ hai trong
một niệm, có thể qua khỏi tất cả Thế giới của người thứ nhất đã trãi qua
trong vô số kiếp. Cứ lần lượt tuần tự như vậy đến người thứ 10. Chín
phương kia cũng đều như vậy. Thế là trong 10 phương có cả thảy trăm
người. Số Thế giới của 100 người nầy trãi qua còn có thể biết được hạn
lượng. Công đức căn lành của Bồ Tát sơ phát tâm vô thượng Bồ Ðề không ai
có thể biết tế hạn được...”
4)
Những đại đơn vị trong vũ trụ:
Vì cõi giới trong mười phương vô biên, không thể dùng con số thường mà
tính kể được. Nên Ðức Phật thường đem số hạt cát của một sông Hằng, đến
nhiều sông Hằng, hoặc số hạt bụi của một cõi Phật
cho đến nhiều cõi Phật, để ước lượng về Thế giới, các cõi phù tràng
(còn gọi là Thế giới chủng), các biển Hương thủy, các Thế giới hải,
các An lập hải... Sau đây chúng ta sẽ xem xét một số khái niệm về những
danh từ chỉ các cõi giới trong vũ trụ:
a)
Biển Hương thủy:
Mỗi
biển Hương thủy hàm chứa một Thế giới chủng. Biển Hương thủy “của
chúng ta” tên là Vô Biên Diệu Hoa Quang. Từ nơi biển này nổi lên
“ hoa sen lớn” tên Nhứt Thế Ma Ni Vương Trang Nghiêm. Trên
hoa sen có Thế giới chủng tên là Phổ Chiếu Thập Phương Xí
Nhiên Bảo Quang Minh. Thế giới chủng nầy gồm 20 tầng phân bố từ thấp
lên cao. Ở đây chỉ xin dẫn về tầng thứ 13:
“Cõi
Phật trung ương của tầng Thế giới thứ 13 tên là Ta Bà, lấy chất
kim cang trang nghiêm làm giới hạn, an trụ trên các sắc phong luân. Thể
tướng cõi này trống trãi, trên có Thiên cung trang nghiêm và phủ che,
xung quanh có các Thế giới khác nhiều bằng số bụi nhỏ của 13 cõi Phật vi
nhiễu
.
Vị Giáo chủ ở bản độ hiệu là Tỳ Lô giá Na Như Lai “. (Thích Ca Mâu Ni
Phật chỉ là 1 Hóa thân của vị này).
Biển
Hương thủy không phải cố định một chỗ, mà cũng xoay chuyển có hệ thống.
Ví dụ: Xung quanh biển Hương thủy và Thế giới chủng “của chúng ta” có
rất nhiều biển Hương thủy chứa Thế giới chủng xoay quanh.
b)
Thế giới chủng hay là phù tràng Phật sát:
Phù
tràng Phật sát là gì ? Ấy là một loạt Thế giới liên tiếp nổi lên giữa
biển Thế giới bao la vô hạn, dường như một lá phướn lửng lơ. Cứ
nhìn những áng tinh vân do nhiều ngôi sao nhỏ tiếp cận nhau trên nền
trời, ta có thể hình dung ra loại Thế giới ấy. Mỗi phù tràng Phật sát là
một chủng loại Thế giới riêng, nên cũng gọi là Thế giới chủng.
Một
Thế giới chủng gồm 20 tầng từ thấp lên cao. Mỗi tầng có từ 1 Phật
sát vi trần Phật độ cho đến 20 Phật sát vi trần Phật độ
.
Trong mỗi tầng lại có nhiều loại Thế giới khác nhau về chỗ an trụ, hình
trạng, thể tánh, sự trang nghiêm, giới hạn, hàng lối, sức gia trì,
v.v...
c)
Thế giới hải:
Thế
giới chủng đem sánh với Thế giới hải lại còn kém xa. Ðây nói
riêng về Thế giới hải Liên Hoa Tạng Trang Nghiêm còn gọi là
Biển Hoa Tạng, hay Hoa Tạng Thế giới, Hoa Tạng giới...là Thế
giới hải có chứa Thế giới chủng “ của chúng ta”.
Thế
giới chủng ở trung tâm cõi Hoa Tạng, là Thế giới chủng có chúng ta đang
sống, tên là Phổ Chiếu Thập Phương Xí Nhiên Bảo Quang Minh. Xung
quanh Thế giới chủng này đi ra 10 phương, mỗi phương có 1 bất khả thuyết
Phật sát vi trần
số
Thế
giới chủng. Họp chung lại gọi là cõi Hoa Tạng. Cõi Hoa Tạng chỉ là 1
Thế giới hải trong vô vàn Thế giới hải khác.
d)
An Lập Hải:
bàn đến Thế giới hải thì thật là cảnh giới mênh mông rộng rãi
không lường được, không ngằn mé. Tựa hồ thế giới đến đây là cùng cực.
Thế nhưng chưa hết, lớn hơn Thế giới hải còn có Pháp giới An
lập hải hay còn gọi là An lập hải. Một An lập hải đại khái
gồm có những Thế giới hải nhiều bằng số bụi nhỏ của 8 Bất khả thuyết cõi
Phật. Như trong Kinh Hoa Nghiêm – phẩm Nhập Pháp Giới thứ 39. Bậc đại
thiện tri thức hiện thân làm Chủ Dạ Thần tên là Tịch Tịnh Âm Hải đã có
mô tả.
Sở
dĩ gọi là Pháp giới An lập hải, bởi Pháp Giới là danh mục của
chơn tâm. Thể dụng của chân tâm rất sâu rộng. Tánh và Tướng vô ngại. Lấy
tâm làm Pháp, lấy tâm làm Giới, nên xưng là Pháp Giới. Trong Pháp
Giới có những diệu tướng sai biệt trang nghiêm, tập họp thành từng khu
vực riêng, không lẫn lộn nhau nên gọi là “an lập”. Mỗi cõi An
lập bao trùm vô lượng vô biên Thế giới hải. Vì nó có tánh
cách rộng rãi mênh mông như biển cả bao hàm muôn tượng nên gọi là
“hải”. Sánh với An lập hải, Thế giới hải tuy cũng gọi là biển thế
giới, nhưng chỉ là “vùng biển nhỏ”, thua kém hẳn “trùng dương rộng rãi
bao la...”
Như
vậy, chúng ta thấy cảnh giới của chư Phật rộng rãi vô biên. Nếu không
vào môn Ðại giải thoát không chứng được Ðại tam muội, thì
không thể nào thấy, hiểu nổi... ()
5)Du
hành trong vũ trụ:
Trong
cuộc sống những khái niệm tư duy của con người thường gắn chặt trên cơ
sở của vật chất. Mà vật chất gần gủi chúng ta nhất chính là cơ thể của
mỗi người. Nên người ta sẽ không tưởng tượng ra còn có một cái gì tồn
tại sau khi thân xác này tiêu vong. Người ta đâm ra sợ hãi một sự trống
rỗng hư vô, nếu xảy ra sự chết...
Theo
Tử Thư Tây Tạng: Cảm giác đầu tiên của người sắp chết là không biết chắc
mình sẽ chết hay tiếp tục sống. Cần hiểu “chết” ở đây tức là chấm dứt
mối liên hệ với thế giới vật chất. Không những thế, người chết sẽ có cảm
giác mình từ bỏ một thế giới có thực để đi vào một thế giới
bất định.
Người
chết bỏ cơ thể vật chất và thoát ra ngoài bằng một cơ thể tâm
linh rất tế diệu gọi là thần thức. Do đã thoát ra khỏi ràng
buộc của vật chất, nếu thần thức này không bị những nghiệp lực nặng nề
nào chi phối, thì khả năng của thần thức này rất là linh hoạt. Nó có thể
di chuyển với một vận tốc rất lớn. Ði xuyên qua tường vách,... mọi thứ
vật chất (chỉ trừ bào thai mẹ và toà kim cang của Phật). Các giác quan
trở nên nhạy bén. Khả năng lãnh hội rất thông suốt, nếu được khai thị...
Cũng
vậy, những vị tu hành đắc Thánh quả, đã chiếu kiến được ngũ uẩn giai
không cũng đạt đến những thần thông tương tự và còn hơn thế nữa do
sức thiền định tam muội. Còn nói chi đến khả năng của các vị Bồ Tát đã
vào Thập Ðịa và chư Phật. Trong các Kinh điển Phật Giáo có rất nhiều mô
tả về những sự di chuyển bằng Thần túc do tâm lực này. Sự di
chuyển trong vũ trụ qua những khoảng cách rất xa xôi, nếu không dùng
những thần túc thông có tốc độ của tâm
thì không thể thực hiện được
.
Ngay cả dùng phi thuyền có tốc độ ánh sáng cũng phải bay cả ngàn năm,
triệu năm, tỷ năm... Và điều này khó có thể thực hiện được đối với con
người.
a) Mục
Kiền Liên du hành cõi Phật:
Mục
Kiền Liên là vị có thần thông bậc nhất trong các đệ tử của Phật. Trong
Kinh có đoạn mô tả: Có lần Ngài vận thần túc bay qua 10 ức cõi Phật đến
một quốc độ, nơi ấy Ðức Phật Thế Tự Tại Vương là Giáo chủ, và đang
thuyết pháp. Mục Kiền Liên rất hoan hỉ, bèn nhẹ nhàng đi vào pháp hội...
Ðức Phật Thế Tự Tại Vương thuyết pháp xong, một vị Bồ Tát đảnh lễ hỏi
Phật:
_
“Như Lai ! Trong khi Ngài đang thuyết pháp, chẳng biết từ đâu bò đến một
con đại trùng (sâu lớn) trông thật quái dị, chúng con muốn đuổi nó đi”.
Ðức
Phật vội ngăn:
_
“Ðừng nói thế ! Ðó là Mục Kiền Liên, đệ tử thần thông bậc nhất của Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni ở cõi Ta Bà”.
_
“Sao họ nhỏ bé như vậy ?”.
Ðức
Phật Thế Tự Tại Vương giải thích:
_
“Các ông đừng khinh thị Tôn giả này, ông ấy có đại thần lực, đại oai
đức. Ông ấy hành hoá tự tại, dạo chơi các quốc độ. Chẳng qua thân thể
thấp bé là vì chúng sanh ở mỗi quốc độ nghiệp lực chẳng đồng”.
Nói
xong Ðức Phật từ hoà nhìn Mục Kiền Liên:
_
“Tôn giả ! Ông từ phương khác đến, có thể đối với chúng Bồ Tát đệ tử của
ta hiện các thần thông để trừ nghi hoặc cho họ”.
Mục
Kiền Liên bèn thừa oai thần Phật, hoá hiện các thứ thần kỳ, chúng Bồ Tát
thấy rồi đều sanh lòng cung kính.
Tôn
giả Mục Kiền Liên không những thường du hành các cõi Phật, mà còn thừa
thần lực xuống Ðịa ngục quan sát chúng sanh thọ quả báo. Có lúc Ngài trả
lời các câu hỏi của quỷ thần về nhân duyên quả báo. Tôn giả còn là một
người con đại hiếu, tìm thấy mẫu thân trong Ðịa ngục, và vì cứu mẹ đã
thỉnh Phật phát khời pháp Vu Lan Bồn.
b)
Ðức Phật Thích Ca lên cung Trời Ðao Lợi, chư Phật Bồ Tát mười
phương câu hội:
Trong
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, đức Phật vì Thánh Mẫu
tự thân lên cung Trời Ðao Lợi mà thuyết pháp. Lúc đó Bất khả thuyết bất
khả thuyết tất cả chư Phật và đại Bồ Tát ở mười phương đều đến hội họp
tại cung trời Ðao Lợi, đồng khen ngợi Ðức Phật Thích Ca, và cho Thị giả
đến viếng thăm...
Trong
Kinh Thập Thiện, Ðức Phật đã xuống Long cung thuyết pháp cho Long Vương
và quyến thuộc...
b)
Diệu Âm Bồ Tát đến cõi Ta Bà:
Theo
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Diệu  m Bồ Tát thứ 24, Bồ Tát Diệu Âm ở
thế giới Tịnh Quang Trang Nghiêm của Phật Tịnh Hoa Tú Vương Trí, cách
cõi Ta Bà của Phật Thích Ca 800 muôn ức Na do tha
Hằng hà sa cõi Phật ở phương Ðông, cùng chư Bồ Tát qua cõi Ta Bà để cúng
dường Ðức Phật Thích Ca, Kinh Pháp Hoa và để ra mắt các ngài Văn Thù Bồ
Tát, Dược Vương Bồ Tát, Dõng Thí Bồ Tát, v.v...
d)
Phổ Hiền Bồ Tát từ cõi nước của Phật Bảo Oai Ðức Thượng Vương:
Cũng
trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát thứ 28:
ngài Phổ Hiền Bồ Tát dùng sức thần thông tự tại, cùng rất đông chúng đại
Bồ Tát từ phương Ðông đến cõi Ta Bà, nơi núi Kỳ Xà Quật, đầu mặt lễ lạy
Ðức Thích Ca Mâu Ni, vi nhiễu 7 vòng, bạch Phật rằng:
“Thế
Tôn ! Con ở nơi nước của Phật Bảo Oai Ðức Thượng Vương, xa nghe cõi Ta
Bà này nói Kinh Pháp Hoa, nên cùng với vô lượng vô biên trăm nghìn muôn
ức chúng Bồ Tát đồng đến để nghe thọ. Cúi mong Ðức Phật nên vì chúng con
mà thuyết pháp...” v.v...
Như
vậy, sự di chuyển trong vũ trụ trong Kinh sách Phật Giáo là sự việc khá
phổ biến. Theo lời Kinh thì không thấy có sự hao tốn nhiều về thời gian
trong việc di chuyển, cũng không dùng đến những phương tiện máy móc.
Khoảng cách dù cách xa bao nhiêu, sự di chuyển hình như cũng diễn ra một
cách nhanh chóng tức thời.
6) Về sự
tương đối của Không gian và Thời gian:
Như trên đã nói, thời gian tuỳ thuộc vào không gian và hệ quy chiếu của
nó, ttức là khối lượng và vận tốc của cả hệ thống và của từng phần riêng
lẻ. Giả sử, nếu có ai đó tác động được vào thời gian, thì người đó đã
tác động được đến không gian. Nếu tác động được vào không gian tức tác
động được vào thời gian (của hệ hay 1 phần riêng lẻ)...
Hơn
nữa, sự cảm nhận về không gian, thời gian còn tuỳ thuộc ít nhiều do
những yếu tố sinh lý, tâm lý và tình cảm... Ví dụ:
Yếu tố sinh lý: do cấu tạo thể chất, sinh học giống loài... Như
con phù du chỉ sống 1 ngày/đêm theo quan sát của con người. Nhưng đối
với chính nó là cả một cuộc sinh tồn dai dẳng (về thời gian). Và
1m3 không gian đối với loài người là quá chật hẹp, nhưng đối
với nó là cả một không gian quá bao la, vô cùng, vô tận.
Yếu tố tâm lý: do ý thức kinh nghiệm hình thành những khái niệm
so sánh. Ví dụ một người vừa ở trong phòng lạnh bước ra đường cảm thấy
cái nóng dữ dội, một người khác từ một nơi làm việc ngột ngạt bước ra
cùng chỗ ấy cảm thấy mát mẻ khoan khoái (cảm giác)... Một người quen
sống ở nơi sang trọng, bỗng về sống ở một căn hộ trung bình, cảm thấy
chật chội, tù túng...Một người quen sống ở nơi nghèo nàn, bỗng được về
sống ở căn hộ ấy, cảm thấy sung sướng, thoải mái...(về không gian)
Cũng
vậy, khi chưa thấy C, ta cho B là lớn. Ðến khi thấy C rồi ta mới biết C
là lớn (đối với B). B,C, v.v... có thể là các đối tượng thuộc về thời
gian, không gian, tình cảm, khái niệm...
Yếu
tố tình cảm do thất tình, lục dục
chi phối.
_ “Người
sầu cảnh cũng đeo sầu, Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
(Nguyễn Du)
_
“Trống Trường thành lung lay bóng nguyệt,
Khói
Cam tuyền mờ mịt thức mây”. (Chinh phụ ngâm)
_ “Nhất
nhật bất kiến như tam thu hề”. (khuyết danh)
(Một
ngày không thấy ngỡ bằng ba thu).
_
“ Ngày Xuân con én đưa thoi, Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi”.
(Nguyễn Du)
Những
tác động chủ quan này,không thay đổi được vật chất. Nhưng cố nhiên chúng
ta không thể phủ nhận được giá trị và tác động dẫn đến trên mặt cảm nhận
và đời sống sinh vật...
Kinh
Lăng nghiêm có đoạn:
“_
Phú Lâu Na, ông đem sắc không lấn cướp lẫn nhau nơi Như Lai tạng
Như Lai tạng sẽ theo ông làm sắc làm không cùng pháp giới. Vậy nên trong
ấy gío thổi thì động, hư không yên lặng, mặt trời chiếu sáng, mây mù
thành tối. Chúng sanh mê lầm trái với giác tánh, hợp với trần tướng nên
phát lao có các tướng thế gian.
Tôi
dùng tánh diệu minh không sanh diệt hợp với Như Lai tạng thì Như Lai
tạng diệu minh tịch chiếu khắp pháp giới. Một là vô lượng, vô lượng là
một. Trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ. Không động đạo tràng mà
cùng khắp 10 phương, thân hàm cả hư không vô tận. Cõi Bảo Vương
hiện trong đầu mẩy lông. Ngồi trên mẩy bụi chuyển bánh xe pháp lớn. Diệt
trần hợp giác nên phát Chân Như Diệu Giác Minh Tánh”.
Trong
1 đoạn khác của Kinh này Ðức Phật nói:
“
Tất cả chúng sanh từ vô thủy tới nay lầm mình là vật, bỏ mất chân tánh,
bị vật xoay chuyển, cho nên trong đó thấy lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được
vật tức đồng Như Lai, thân tâm viên minh, nơi đạo tràng bất động, trên
đầu một mẩy lông có thể ngậm chứa 10 phương quốc độ”.
Và
trong nhiều Kinh điển khác có nhiều mô tả về những thần biến tác động
vào thời gian và không gian. Chúng ta có thể tìm thấy thần thông mở rộng
không gian trong phẩm Hiện Bửu Tháp thứ 11- Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Tìm
thấy thần thông rút ngắn thời gian trong phẩm Tựa thứ nhất, phẩm Tùng
Ðịa Dũng Xuất thứ 15 - Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Và những thần thông về
cả không gian và thời gian trong Kinh Duy Ma Cật ở các phẩm Bất Tư Nghị
Giãi Thoát thứ 6, Bồ Tát Hạnh thứ 11, Kiến A Súc Phật thứ 12, v.v...
VI. NHỮNG CHUYỂN
BIẾN VỀ BỨC TRANH VŨ TRỤ:
1)
Những ý niệm sơ khai về Vũ trụ:
Không
biết nền văn minh của con người trên Trái đất đã trãi qua bao thời kỳ
hưng phế? Nhân loại vẫn còn đặt dấu hỏi về những tàn tích còn sót lại
của những nền văn minh lớn của con người trong qúa khứ. Huống chi đối
với những nền văn minh có thểû có trên Trái đất đã vượt xa khỏi
tầm với của lịch sử lẫn huyền thoại dân gian.
Trong
sơ kỳ của nền văn minh hiện tại, ý thức về vũ trụ của con người rất thô
sơ. Con người có cảm nhận rằng Cõi đất có hình vuông hay hình cái dĩa, ở
trung tâm,phía trên là nhật, nguyệt, tinh tú vận hành phục vụ
cho đời sống trên Cõi đất. Thế giới này do Thượng đế tạo nên. Ở đâu đó
phía trên khoảng trời xanh kia là Thiên đường, bên dưới Cõi đất này là
vực sâu của Ðịa ngục. Người ta còn thờ phụng những uy lực mãnh liệt của
thiên nhiên qua các tín ngưỡng đa thần giáo...
2) Học thuyết
Nhật tâm:
Nicolas
Copernicus (1473 - 1543):
Cho
đến khi những cuộc du hành lớn của Colomb, Magellan
,
và những người đi biển khác, đã làm thay đổi bản đồ Thế giới. Người ta
nhận ra rằng “ Cõi đất “ hình cầu. Người ta bắt đầu nghi ngờ đến cả Kinh
Thánh và các nhà Bác học cổ như Aristotle, Ptolémée...Ðó là những bước
chuẩn bị cho sự ra đời học thuyết mới về cấu trúc Thế giới. Ðó là “ Học
thuyết Nhật tâm “ của Nicolas Copernicus
.
Học thuyết này đã đánh đổ “học thuyết Ðịa tâm “ của nhà Bác học cổ Hy
Lạp Aristotle đề xướng vào đầu thế kỷ thứ 4 trước Tây lịch và đến thế kỷ
thứ 3 sau Tây lịch được nhà Bác học cổ Ai Cập Plolémée bổ sung. Học
thuyết Nhật tâm của Copernicus đã đề xuất một bức tranh “Vũ trụ
“mới. Trong đó Mặt trời ở trung tâm, xung quanh có sao Thủy, sao Kim,
Trái đất, sao Hỏa, sao Mộc, sao Thổ, ngoài cùng có các định tinh gắn
trên 1 hình cầu, gọi là “hình cầu các vì sao cố định”.
Ðối
với các vì sao, Copernicus đã nhận định hoàn toàn đúng đắn rằng: chúng
không nằm trong hệ Mặt trời của chúng ta. Khoảng cách từ Trái đất đến
Mặt trời vô cùng nhỏ, so với khoảng cách từ Trái đất đến các ngôi sao.
Sự chuyển động của các ngôi sao xung quanh Trái đất là do chuyển động
của Trái đất tự quay xung quanh trục của nó. Cũng do chuyển động này mà
ta thấy Mặt trời và các hành tinh khác hình như quay xung quanh Trái
đất. Copernicus đã để rất nhiều công phu nghiên cứu, quan sát sự chuyển
động của Mặt trời, mặt trăng và các hành tinh khác. Nhưng ở thời của
ông, người ta chỉ quan sát những thiên thể bằng mắt thường, với vài dụng
cụ thô sơ như thước đo góc bằng gỗ, những đồng hồ nước, đồng hồ cát...
Từ những luận điểm cơ bản của Copernicus, các nhà Bác học kế tục ông như
Bruno, Kepler, Galilée, Newton, Laplace, v.v... đã mở rộng và bồi bổ
thêm những hiểu biết của con người về Vũ trụ.
Giordano Bruno (1548 - 1600), người Italia, xuất thân từ dòng tu
Ðôminich, đã thụ phong Linh mục. Một hôm ông tìm thấy trên giá sách của
tu viện cuốn sách “về sự chuyển động của các thiên thể trên bầu trời”
của Copernicus. Oâng bí mật nghiên cứu cuốn sách. Sau đó 1 người bạn
phản bội báo cho dòng tu. Oâng phải trốn qua nước khác. Oâng đã cống
hiến đời mình để nghiên cứu, phát triển học thuyết của Copernicus. Bruno
đã phát biểu:
_
Không phải chỉ Trái đất mà Mặt trời cũng chuyển động xung quanh trục của
nó.
_ Có
thể có nhiều hành tinh quay xung quanh Mặt trời nữa mà người ta chưa
biết.()
_ Mỗi
ngôi sao xa xôi là một mặt trời, và tất cả đều có hành tinh quay quanh.
Mỗi ngôi sao với các hành tinh của nó tạo thành một thế giới tựa như thế
giới . Mặt trời của chúng ta. Những thế giới đó nhiều vô tận trong không
gian.
_ Tất
cả thế giới trong vũ trụ đều có bắt đầu và kết thúc và chúng biến đổi
không
ngừng.
Chỉ
nhờ có sức mạnh của trí tuệ ông đã hiểu được những điều mà các nhà thiên
văn sau này mới tìm ra nhờ kính viễn vọng. Học thuyết của ông cho rằng
có nhiều thế giới có người ở, và vũ trụ vô cùng vô tận, đã làm sụp đổ
hoàn toàn những câu chuyện trong Kinh Thánh. Giáo hội xem Bruno là một
người nguy hiểm và đã buộc cho ông 130 tội. Bruno phải đi lang thang từ
nước này sang nước khác. Sau đó ông bị lừa về Italia để chịu hình phạt
thiêu sống của Giáo hội (ngày 17/02/1600 tại La Mã).
Galileo
Galilée (1564 - 1642), người Italia. Oâng cũng là người tán thành
thuyết Copernicus. Nhưng số phận của Bruno, làm ông không dám công khai
bảo vệ cho học thuyết này. Chính vào lúc ấy người ta vừa mới phát minh
ra ống kính thiên văn. Ðó là 1 dụng cụ quan trọng cho sự phát triển
trong nghành thiên văn. Vào tháng 6 năm 1609 ông chế tạo được 1 kính
viễn vọng có khả năng phóng đại gấp 30 lần. Galilée là người đầu tiên đã
chiếu ống kính lên bầu trời.Ông kính cho phép ông nhìn thấy _ Mặt trăng
có núi non và thung lũng..., Sao Kim có chu kỳ sáng tối như mặt trăng. _
Thấy sao Mộc có 4 vệ tinh... Oâng đã xuất bản 2 tác phẩm ủng hộ thuyết
Copernicus: “Sứ giả các vì sao” và “Cuộc đối thoại giữa 2 hệ thống”. Năm
1616, Giáo Hoàng ban bố 1 sắc lệnh cấm xuất bản mọi tác phẩm bảo vệ học
thuyết Copernicus. Việc truyền bá những tác phẩm của Galilée lập tức bị
cấm. Nhà Bác học bị đòi về La Mã để Giáo Hoàng thân hành xét xử. Trước
những sự khủng bố, những đe doạ tra tấn dữ dội, Galilée phải tuyên bố từ
bỏ những tác phẩm của mình. Nhưng ông vẫn bị Giáo hội giam cầm, hành hạ
cho đến chết.
Kepler
(1571 - 1630) , người Ðức, kế thừa thuyết Nhật tâm của Copernicus.
Tìm ra qui luật hành tinh vận động xung quanh mặt trời, gồm 3 định luật
gọi là Ðịnh luật Kepler. Trên cơ sở dữ liệu ông lấy được của 1
nhà thiên văn Ðan Mạch là Tycho Brahé (1546 - 1601), ông cho rằng qũi
đạo vận động của hành tinh theo hình bầu dục, đánh đổ thuyết qũi đạo
hình tròn của Copernicus.
Isaac
Newton (1642 - 1727), nhà Bác học người Anh, đề xướng Ðịnh luật
hấp dẫn: “Hai vật thể hút nhau theo một lực hướng tâm, tỷ lệ thuận
với khối lượng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách “ Ðịnh luật
này đã cho phép giãi thích và tính toán chuyển động của các hành tinh
quanh Mặt trời. Ðịnh luật này cũng có thể tóm tắt 3 định luật của Kepler
vào 1 định luật duy nhất. Newton cũng sáng chế ra 1 loại kính thiên văn
gọi là kính thiên văn phản xạ.
Einstein (1879 - 1955):Với “lý thuyết tương đối hẹp” ra đời năm 1905
là một tiếng nổ dữ dội của khoa học về không gian và thời gian. Einstein
đã phá vỡ các khái niệm tuyệt đối của không gian và thời gian trong lý
thuyết của Newton. Theo ông: không gian và thời gian không phải bất di
bất dịch, mà trái lại nó có thể thay đổi “co” lại tùy tình hình... _
Oâng đã thay không gian thời gian tuyệt đối bằng không gian thời gian
tương đối. Ðến năm 1910 ông công bố “lý thuyết tương đối tổng quát”,
trong đó nhấn mạnh rằng: Không gian, thời gian không nhữnh có thể co lại
như trong lý thuyết tương đối hẹp, mà còn có thể cong đi do vật chất.
Nghĩa là: Vật chất vận động trong một không gian thời gian lồi lõm do
chính nó tạo ra
.
Nguyên
nhân gì khiến các hằng tinh
phát
sáng ? Ðây là điều bí ẩn đối với nghành thiên văn học suốt 100 năm qua.
Cho đến khi Einstein dựa vào lý thuyết tương đối, đã đưa ra 1 công thức
liên quan giữa khối lượng và năng lượng của vật thể, qua đó đã giúp các
nhà thiên văn giãi quyết vấn đề. Thì ra trong lòng các hằng tinh nhiệt
độ cao tới 10 triệu độ C, khiến các vật chất trong đó xảy ra phản ứng
nhiệt hạch. Từ hạt nhân nguyên tử Hydrô biến thành hạt nhân nguyên tử
Heli và sản sinh ra nguồn năng lượng khổng lồ. Năng lượng này truyền từ
trong ra ngoài và từ bề mặt hằng tinh truyền vào không gian bằng phương
thức bức xạ. Cứ như vậy hằng tinh phát sáng không ngừng.
3) Trong vườn
thiên văn muôn hoa đua nở:
Ngày
càng có nhiều kính thiên văn lớn hơn, tốt hơn, mạnh hơn hướng vào bầu
trời. Sự khám phá trong lãnh vực thiên văn ngày càng phong phú. Những
tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật nhiều nghành đã giúp thêm đôi
cánh cho nghành thiên văn học. Thiên văn học ngày càng có nhu cầu chia
chẽ ra nhiều phân nghành để chuyên sâu vào các lãnh vực chuyên biệt. Ðã
có đủ loại khí cụ và loại kính thiên văn để có thể quan sát khắp cả dãy
phổ của sóng điện từ, từ tia Gamma có bước sóng ngắn nhất đến sóng vô
tuyến có bước sóng dài nhất. Từ những kính thiên văn đặt trên những núi
cao, ngày nay người ta đã đem kính lên vệ tinh, trạm không gian vũ
trụ... Từ những chiếc kính thiên văn thời Galilée chỉ phóng đại được 30
lần, ngày nay đã có những kính thiên văn có độ phóng đại rất lớn. Kính
thiên văn ở đài thiên văn Zêlentruk (núi Ural - Nga) có đường kính 6m,
độ phóng đại 12.000 lần. Trong những năm 80 Mỹ đã nghiên cứu chế tạo
loại kính viễn vọng cực lớn có đường kính ống kính tới 25m, bao gồm từ
mấy chục tới mấy trăm kính viễn vọng và kính phản xạ loại nhỏ tạo thành.
Nếu như các hằng tinh gần hệ Mặt trời có kèm theo các tiểu hành tinh ở
xung quanh thì loại kính viễn vọng khổng lồ này có thể nhìn thấy chúng.
Ðối
với kính thiên văn vô tuyến, vì giới hạn phân giãi trên bước sóng vô
tuyến kém hơn trên bước sóng khả kiến, nếu ta muốn nó có độ phân giãi
tương tự như một kính thiên văn có gương 10m trong vùng khả kiến, thì
kích thước ăng ten của kính vô tuyến phải lớn đến 10 Km ! Ðể khắc phục
nhược điểm này, người ta đã làm những hệ thống kính thiên văn vô tuyến
cách xa nhau, trộn tín hiệu với nhau để làm tăng độ phân giãi. Dàn ăng
ten VLA đặt tại New Mexico - Hoa Kỳ, gồm 27 ăng ten, mỗi ăng ten có
đường kính 25m, được xếp đặt theo qũi đạo hình chữ Y. Khoảng cách tối đa
giữa những ăng ten khoảng 35 Km. Dàn này tương đương với 1 ăng ten vô
tuyến có đường kính 35 Km. Hiện nay khả năng phân giãi càng cao hơn, khi
người ta hợp tác với nhau để cho giao thoa những kính thiên văn ở rất xa
nhau trên các đại lục. Còn có những dự án phóng những ăng ten quay trên
qũi đạo để làm tăng thêm nữa độ phân giãi...
4)
Qua ống kính thiên văn:
Khoảng
không ở giữa các vì sao do các vật chất thể khí và vật chất thể bụi
với mật độ rất loãng, ngoài ra còn tồn tại các tia vũ trụ vô hình và
sóng điện từ rất yếu ớt của các thiên thể, tinh vân... Các vì sao luôn
luôn phun vật chất vào không gian của vũ trụ dưới dạng các hạt thể bụi.
Các đám mây vật chất thể bụi sau hàng tỷ năm vận động cô đọng lại tạo
thành những vì sao.
Tinh
vân: Qua kính viễn vọng, tinh vân nom giống như những đám mây
mù phát sáng. Ta phân biệt ra 2 loại tinh vân: Tinh vân trong hệ thiên
hà và tinh vân ngoài hệ thiên hà của chúng ta. _ Tinh vân ngoài hệ thiên
hà của chúng ta là những thiên hà khác, cách Trái đất cực kỳ xa xôi. Hai
đám tinh vân Triết Luân và Tiên Nữ gần nhất cũng cách chúng ta trên 2,2
triệu năm ánh sáng. Nhìn bằng mắt thường chúng chỉ nhỏ bằng hạt gạo. _
Tinh vân trong hệ thiên hà của chúng ta là những đám mây do các khối khí
rất loãng và bụi vũ trụ tạo thành, cũng được chia ra làm 2 loại: Loại
tinh vân mờ mịt có hình dạng không theo qui tắc nào, không có ranh
giới rõ rệt, tuy thể tích rất lớn nhưng mật độ cực nhỏ. Có những đám mây
bụi lớn đến nổi khối lượng của chúng bằng khoảng 100 tỷ khối lượng Mặt
trời. Những đám mây bụi này là mầm mống tạo thành những thiên hà.
Tinh vân dạng hành tinh là 1 loại thiên thể rất đặc biệt. Ở giữa
thiên thể đó là 1 hằng tinh có nhiệt độ cao hằng vạn độ C, xung quanh là
1 vùng có hình cầu phát sáng.
Sao
đôi là một nhóm 2 sao cặp với nhau, quay xung quanh nhau theo 1 qui
luật nhất định.
Tổ
sao là 1 nhóm từ 3 đến hàng vạn sao, tập trung với nhau thành từng
cụm, quay cuồng với nhau.
Sao
mới (siêu tân tinh) là những sao đột nhiên tăng độ sáng rất nhanh
thậm chí đến mấy trăm triệu lần.
Sao
neutron có thể tích rất nhỏ, nhưng khối lượng rất lớn. Một cm3
trong sao nặng hàng tỷ tấn. Có từ trường rất lớn, gấp hàng nghìn tỷ lần
từ trường trên Qủa đất. Sao neutron tự quay với tốc độ rất nhanh, tốc độ
có thể lên tới 640 vòng trong 1 giây. Sao neutron quay làm phát ra những
sóng xung điện có chu kỳ rất chính xác. Thiên thể này còn được gọi là
Pulsar, nghĩa là sao xung (pulsating star).
Sao
lùn trắng là tên đặt cho một loại sao trong giai đoạn gìa. Chúng có
những đặc điểm sau: Bề mặt Mặt trời chỉ nóng khoảng 60000 C,
nhưng bề mặt của sao lùn trắng còn nóng hơn tức khoảng 10.0000
C, nên phát ra ánh sáng trắng. “Lùn” cho thấy thể tích của chúng nhỏ. Có
những sao lùn trắng thể tích chỉ bằng 1 phần chục triệu Mặt trời, nhưng
trọng lượng tương đương với trọng lượng Mặt trời. Các sao lùn trắng
thông thường có thể tích tương đương Trái đất. Ðến nay (1992) các nhà
thiên văn học đã phát hiện ra hơn 1000 sao lùn trắng. Chỉ vì chúng qúa
nhỏ nên mặc dù rất sáng, nhưng con người rất khó phát hiện ra chúng.Theo
thống kê, sao lùn trắng trong hệ thiên hà của chúng ta nhiều vô kể, có
khoảng 10 tỷ sao loại này.
Sao
hồng ngoại: Hơn 40 năm trước, con người dùng máy thu vô tuyến điện
phát hiện ra những thiên thể mới, đó là những thiên thể phát ra sóng vô
tuyến. Nhưng giữa sóng vô tuyến và sóng ánh sáng có thể nhìn thấy còn 1
khoảng trống, đó là khu vực sóng hồng ngoại. Loại sóng này mắt người
không nhìn thấy và kính thiên văn vô tuyến cũng không dò ra được, mà chỉ
có thể dùng máy đo hồng ngoại mới phát hiện được.
Một số
hằng tinh đang trong qúa trình hình thành hoặc trong qúa trình gìa lão
cũng ở tình trạng giống như cục sắt mới nung nóng hoặc đang nguội dần,
chúng phát ra ánh sáng đỏ tối hoặc là các tia hồng ngoại. Chúng ẩn nấp
trong vũ trụ và không thể nhìn thấy chúng bằng mắt thường. Ðó chính là
những sao hồng ngoại. Khí quyển Trái đất hấp thụ phần lớn các tia hồng
ngoại. Bởi vậy các nhà khoa học thiên văn phải dùng máy bay, khí cầu,
tên lửa đưa máy móc, vệ tinh lên trên tầng khí quyển để quan trắc các
sao hồng ngoại.
Lỗ
đen là 1 loại thiên thể kỳ lạ nhất trong vũ trụ, được giả thiết bởi
các nhà vật lý lý thuyết: Sau khi sao tiêu thụ gần hết nhiên liệu thì
năng lượng hạt nhân không còn đủ để ngăn cản lực hấp dẫn, làm sao
co lại. Trường hấp dẫn ngày càng lớn và không - thời gian xung quanh sao
ngày càng cong. Khi thời gian cong đến mức các hạt prôtôn (hạt ánh sáng)
phát từ sao chuyển động theo đường cong của không - thời gian phải quay
trở lại bề mặt sao. Lúc đó sao co lại tới một kích thước “tới hạn”. Kích
thước tới hạn này tùy thuộc khối lượng của sao. Các tia hạt vật chất,
ánh sáng, tia hồng ngoại, sóng vô tuyến, tất cả đều bị bẫy lại trong
sao. Thiên thể này như chờ đợi mồi kể cả ánh sáng bén mảng đến xung
quanh để lôi cuốn vào trong lòng như vào trong một vực thẳm nên được gọi
là “lỗ đen”, “hố đen”. Tuy nhiên không phải sao nào cũng sẽ biến thành
lỗ đen. Tùy theo khối lượng mà sự kết thúc có khác. Loại sao có khối
lượng cở Mặt trời sẽ phun hết khí quyển ra không gian để lại 1 lõi sao
lớn hơn kích thước tới hạn và sẽ trở thành sao lùn trắng. Những
sao nặng bằng khoảng bốn, năm Mặt trời thì bùng nổ thành sao siêu mới
và lõi sao co lại đến mức những hạt êlectrôn và prôtôn bị nén liền
với nhau thành những hạt nơtrôn. Chỉ có những sao nặng hơn 8 lần Mặt
trời thì có thể co mãi đến kích thước tới hạn và trở thành lỗ đen. Lúc
đó 1 cm3 trong sao có thể nặng bằng cả Trái đất (1022
tấn). Có lý thuyết cho rằng có những lỗ đen tí hon kích thước bằng hạt
prôtôn nhưng nặng hàng tỷ tấn đã được tạo ra trong vũ trụ nguyên thủy.
Không
thể dùng loại kính gì để phát hiện lỗ đen. Tuy nhiên những tác động do
lỗ đen tạo ra có những tính chất rất đặc biệt và là những yếu tố tiêu
biểu cho sự hiện diện của chúng. Trung tâm hệ thiên hà của chúng ta nơi
phát hiện ra nhiều bức xạ xincrôtrôn có 1 lỗ đen nặng bằng 1 triệu lần
Mặt trời nhưng kích thước chỉ nhỏ bằng vài nghìn lần đường kính Mặt
trời.
Tinh thể Quasar:(cũng gọi là chuẩn sao) Những năm 60 của thế kỷ này,
các nhà thiên văn tìm thấy những điểm sáng giống như các vì sao, nhưng
cường độ ánh sáng và tính chất của điểm sáng đó rất giống với tinh hệ.
Các nhà thiên văn gọi nó là “tinh thể “. Cho tới nay đã phát hiện ra hơn
1500 tinh thể loại này. Những tinh thể quasar ở cách xa Trái đất từ mấy
tỷ đến mấy chục tỷ năm ánh sáng. Ðộ sáng gấp từ 100 đến 1000 lần độ sáng
của cả hệ Ngân hà
cộng lại. Cường độ phóng điện cũng mạnh gấp 10 lần hệ Ngân hà. Thế nhưng
thể tích của quasar lại rất nhỏ, chỉ bằng 1 phần tỷ tỷ (1/1018)
hệ Ngân hà. Nguyên nhân gì khiến 1 tinh thể nhỏ bé lại chứa được 1 nguồn
năng lượng khổng lồ như vậy ? Bản chất của quasar vẫn còn là 1 điều bí
mật.
Big
Bang: giả thuyết về 1 vụ nổ lớn khai sinh vũ trụ từ 1 điểm rất nhỏ
(10-33) có mật độ rất lớn (1094 gram trong 1cm3).
giả thuyết được khai sinh từ lý thuyết hấp dẫn lượng tử của khoa
Cơ học lượng tử. Theo thuyết này: Vũ trụ hiện nay có bán kính 30 tỷ năm
ánh sáng. Thuyết vụ nổ lớn không giãi thích được hết các sự kiện quan
sát trong vũ trụ, và đang được các nhà vật lý thiên văn có nhiều cảm
hứng phát triển và bổ sung.
Thiên
hà của chúng ta là loại thiên hà xoắn ốc, có đường kính khoảng 100
nghìn năm ánh sáng, bề dày khoảng 10 nghìn năm ánh sáng. Hệ Mặt trời nằm
trong 1 cánh tay xoắn ốc ở ngoài rià thiên hà cách trung tâm khoảng 2/3
bán kính, tức là khoảng 30 nghìn năm ánh sáng. Ðó là hình ảnh thiên hà
chúng ta được nhìn thấy bởi những “người” (nếu có) ở 1 thiên hà khác. Vì
chúng ta ở trong thiên hà nên không có tầm mắt rộng và chỉ nhìn được
hình chiếu của từng khúc thiên hà trên vòm trời, dưới hình dạng 1 vệt
nhạt trong đó có nhiều sao, gọi là dãi Ngân hà. Trong hệ thiên hà
mênh mông có khoảng 100 tỷ mặt trời. Có thể ta cho rằng không còn không
gian nào lớn hơn hệ thiên hà. Nhưng các nhà thiên văn học dùng kính viễn
vọng hiện đại nhất đã phát hiện ra hơn 1 tỷ hệ thống không gian như hệ
thiên hà. Thiên hà thường tụ tập trong những quần thể gồm có từ 10 đến
100 thiên hà. Những dãi thiên hà có hình dạng rất khác nhau: xoắn ốc,
bầu dục, hình cầu, hình điếu xì gà, hình bất định như những đám mây...
Ngày nay, cho dù các kính viễn vọng tối tân đã nhìn thấy những tinh hệ
cách xa Trái đất 12 tỷ năm ánh sáng, nhưng tầm nhìn đó vẫn chưa tới đâu
so với không gian vô hạn...
Thì ra
bức tranh vũ trụ dần dần biến đổi theo sự tiến bộ văn minh của con
người. Từ thuyết Ðịa tâm, đến Nhật tâm, và rồi mặt trời cũng không
còn đứng yên được nữa nó phải di chuyển theo qui luật của hệ thống
thiên hà. Còn những thiên hà, chúng cũng không đứng yên, chúng cũng đang
đi theo con đường của chúng trong cõi bao la vũ trụ...
5)
Tìm kiếm những nền văn minh khác:
a)
Du hành giữa các hệ sao:
Nếu
các nhà khoa học chế ngự được năng lượng tổng hợp hạt nhân, thì có thể
phóng được những tàu vũ trụ với vận tốc 1/10 vận tốc ánh sáng. Lúc đó
muốn tới thăm dò hệ sao gần nhất, sao Alpha Xentauri, cách Trái đất 4
năm ánh sáng, cũng phải mất 40 năm đi và 40 năm về. Với trình độ khoa
học hiện nay việc chinh phục vũ trụ bằng tàu vũ trụ còn nằm trong phạm
vi viễn tưởng vì đòi hỏi qúa nhiều năng lượng và kinh phí. Tàu vũ trụ
phải chứa khoảng 40 nghìn tấn nhiên liệu hạt nhân mới đủ để phóng 3
nghìn tấn trọng tải lên tới sao Alpha Xentauri.
b)
Lắng nghe...từ vũ trụ:
Theo
các nhà khoa học, hiện nay sự tìm kiếm những nền văn minh trong vũ trụ
dùng kỹ thuật thu tín hiệu vô tuyến, tuy còn gặp rất nhiều khó khăn,
nhưng có nhiều triển vọng hơn là phóng tàu vũ trụ để thăm dò trực tiếp.
Nếu có phương tiện tài chính đủ để xây một dãy hàng nghìn kính vô
tuyến 100m đường kính, thì ta có thể nghe lỏm được tín hiệu ra đa hay
truyền hình phát từ trên 1 hành tinh cách xa Trái đất 250 năm ánh sáng.
Tầm xa này bao gồm một thể tích trong vũ trụ trong đó có khoảng 1 triệu
hệ sao
nên có khả năng có nhiều nền văn minh kỹ thuật phát tín hiệu vô tuyến
hơn.
Năm
1974 các nhà thiên văn đã dùng 1 kính thiên văn vô tuyến đường kính 300m
của đài thiên văn Arexibo để phát 1 thông điệp về hướng quần sao Vũ Tiên
(hình cầu, mang số M13, trong danh mục tinh vân của Metxiê) cách xa Trái
đất 25 nghìn năm ánh sáng. Tuy thông điệp được truyền đi với vận tốc ánh
sáng, nhân loại cũng phải kiên nhẫn đợi ít nhất 50 nghìn năm nữa may ra
mới có hồi âm !
Kết luận:
Qua
một số nét minh họa như trên, Chúng ta có thể nhận định một cách tổng
quan sự khác biệt và đặc điểm của hai nguồn thông tin từ Phật giáo và
Khoa học. Ở đây chỉ xin nêu lên một vài ý tưởng:
·
Từ nguồn thông tin Phật học chúng ta nhận thấy:
__
Thông tin đề cập tổng quát, liên quan trên hai mặt bản thể và hiện
tượng.
__
Không đi sâu lắm vào chi tiết trên những vấn đề ít thiết thực, ít liên
quan đến sự tu hành giãi thoát của con người. Lại do trình độ của con
người,và ngôn ngữ rất hạn chế. Lại do sức tư duy, tưởng tượng của con
người có hạn, nên Ðức Phật không thể nói ra những điều mặc dù đúng với
sự thật, nhưng lại qúa cao vượt lên qúa tầm với của con người.
__
Những thông tin hiện có trong kho tàng Kinh điển Phật giáo do trãi qua
thời gian lâu xa, trãi qua những thời kỳ kiết tập, phiên dịch, luận
giãi, chú thích,... nên hiện tượng “tam sao thất bổn” không thể tránh
khỏi. Cho nên (theo tinh thần Phật giáo) ngay cả các lời trong Kinh
Phật,... chúng ta còn phải thẩm sát lại trước khi chấp nhận để thực
hành. Tuy thế chúng ta phải bảo vệ và duy trì những di sản văn hóa qúi
báu đó, tránh những lỗi lầm sai sót thêm nữa trong khi phiên dịch, diễn
giãi, sao chép, v.v... Bởi vì có nhiều điều mà trình độ trí tuệ của
chúng ta chưa tiếp cận được, chúng ta phải bảo tồn chúng như là một món
qùa trao tặng những thế hệ tương lai.
__
Thông tin Phật giáo nhằm khích lệ, sách tấn các cá nhân tu tập để cải
tạo bản thân và Thế giới ngày một tốt đẹp hơn: Lìa mê được ngộ, rời khổ
được vui.
__ Ðức
Phật nói về vấn đề gì đó, không nhằm thỏa mãn tính tò mò của tri thức.
Ngài nói ra những vấn đề về chúng sanh và cảnh giới, để con người nhận
thức ra thực chất của cảnh giới trong ba cõi: Ví như căn nhà cũ mục bén
lửa sắp sụp đổ cháy tan, mà chúng sanh đang ở trong đó vẫn chưa hay biết
gì. Vẫn đông tây rảo chạy, mê mãi vui chơi
.
Ngài nói về những cõi Tịnh độ với chư Phật, Bồ tát, Thánh chúng,.. nhằm
chỉ ra những cảnh giới phương tiện giúp chúng sanh tìm về với bản tánh
uyên minh của mình để không còn mê lầm trôi nổi trong vòng luân hồi sanh
tử nữa.
Trong
Kinh Thập Thiện: “Long Vương hỏi Ðức Phật rằng: Tại sao trong Thế
giới có rất nhiều loài chúng sanh khác biệt nhau ? Ngay trong từng loài
cũng có sự khác biệt? __ Ðức Phật trả lời: Chúng sanh do tâm tưởng khác
nhau, nên tạo nghiệp khác nhau, do đó có sự lưu chuyển các thú”.
Theo
đó tâm tưởng càng đạt đến Chân Thiện Mỹ thì cảnh giới sanh thú càng an
lành, hạnh phúc. Do đó thông tin Phật giáo nhấn mạnh vào việc cải thiện
tâm tưởng cho chúng sanh, nhất là con người, theo tám chi phần trong Bát
chánh đạo.
__ Giáo dục
Phật giáo không phải chỉ nhắm đến mỗi một đời sống này. Cải thiện con
người hiện tại là trực tiếp tác động đến dòng sinh mạng vô tận trãi dài
trong kiếp luân hồi.
Giáo
dục Phật giáo không chỉ nhắm đến từng cá nhân mà còn đi sâu vào cải
thiện gia đình, Xã hội, Quốc gia, Thế giới.
Giáo
dục Phật giáo còn là một nguồn sinh lực vô biên, khởi phát lên những giá
trị văn hoá, nghệ thuật, v.v...
· Từ nguồn thông tin Khoa học
chúng ta nhận thấy:
__
Thông tin rất chi tiết, chuyên môn hóa cao và chỉ xác lập trên bề mặt
hiện tượng. Dù có chia chẻ rất chi ly, chẳng qua chúng cũng là những
mảnh vụn của hiện tượng. Cho nên mới gọi là Khoa học Thực nghiệm.
__ Từ
những thông tin đã thu lượm được, người ta tính toán, mô hình hóa, tìm
hiểu qui luật tác động, từ đó đưa ra những giả thuyết. Sau đó quan sát
hay thực nghiệm,... để chứng minh cho giả thuyết đó. Ta có thể nói rằng
con đường của Khoa học là con đường phát hiện những qui luật và khống
chế những qui luật đó bằng những sản phẩm ứng dụng:
“Người ta dần dà cướp giật được của thiên nhiên một vài bí nhiệm, và
chân lý anh ta tìm được, cũng là chân lý suốt cõi muôn năm...”
__
Thông tin của Khoa học có tính kế thừa rất cao. Ðó là khả năng tận dụng
những kinh nghiệm đã có của loài người để hòan thành sản phẩm. Những thế
hệ sản phẩm ra đời sau thường thường tốt hơn những sản phẩm trước. Sản
phẩm của Khoa học lúc nào cũng có tính tập hợp tri thức, phương tiện và
sức lực của nhiều người. Ví dụ việc chế tạo ra 1 chiếc phi cơ không thể
do trí lực...của 1 người làm được...
__
Những thông tin và số liệu đã được thông báo ở một thời khoảng nào đó
chưa hẳn là đúng sự thật. Một phần do trí tuệ hạn chế của con người, một
phần do hạn chế của thiết bị, phần khác do hạn chế của phương pháp,
nguyên lý được y cứ vào. Những thông tin đó có thể chỉ có một giá trị
tương đối, cần cập nhật và bổ sung...
__
Khoa học cung cấp thông tin đa dạng, chi tiết về mọi vấn đề. Phục vụ các
cá nhân, tập thể tùy nghi xử dụng. Mục tiêu đạt đến cũng tùy theo người
xử dụng quyết định. Người ta có thể tìm trong Khoa học đủ loại tri thức.
Từ tri thức để làm một viên thuốc... đến tri thức chế tạo những qủa bom
vi trùng, v.v...
__
Song hành với những phương tiện, công cụ ngày càng tối tân một cách kỳ
diệu, trí óc con người ngày càng phát triển phong phú. Con người ngày
càng biết suy tư đến những cõi miền mà những thế hệ trước đó chưa hề
nghĩ đến:
“
Từ cõi lãng quên, từ miền xa vắng, từ những xứ cách biệt nghìn trùng,
chúng tôi đã lôi ra và dựng dậy những hình hài, những ủy khúc chi ly...”
(Cõi người ta, Sđd)
__ Do
sự tiến bộ vượt bực của các phương tiện truyền thông và tin học, con
người ngày nay có thể ngồi ở một nơi mà nắm được thông tin khắp Thế giới
một cách nhanh chóng. Trí não con người ngày càng chứa đựng và phân tích
những nguồn thông tin dồi dào và đa dạng hơn. Những máy móc đa dạng giúp
con người làm việc có hiệu qủa và nhanh chóng hơn...
Ngòai
những đặc điểm trên, tất nhiên vẫn còn tồn tại những bề mặt hạn chế và
những hậu qủa nảy sinh:
__
Phật giáo là tôn giáo của trí tuệ và chánh tín. Nhưng do phương tiện
truyền đạt yếu kém, đa số tín đồ Phật giáo ít hiểu biết về tôn giáo của
chính mình, từ đó nảy sinh những hiện tượng mê tín, tiêu cực,... chưa kể
đến những kẻ lợi dụng tôn giáo.
__ Còn
những hậu qủa của nền văn minh kỹ thuật đối với môi trường cũng không
nhỏ: Sự khai thác đại qui mô những tài nguyên của Trái đất sẽ dẫn đến sự
kiệt quệ về tài nguyên và chủng loại, phá vỡ sự cân bằng sinh thái của
Trái đất. Những nguồn phế phẩm độc hại tuôn ra từ bộ máy công nghiệp
khổng lồ trên toàn Thế giới đang làm ô nhiễm môi trường, phá hủy cảnh
quan thiên nhiên, đe dọa đến sự sống còn của sinh vật trên hành tinh...
Con người ngày càng sống nhanh, sống vội hơn theo nhịp quay của máy móc.
Những tiêu cực cũng bề bộn nảy sinh trong tiện nghi vật chất, trong sức
mạnh của các loại phương tiện và trong những mưu đồ toan tính của con
người...
Chúng
ta có thể khẳng định rằng: Tri thức Khoa học của con người đã bước đi
những bước rất vững chãi. Thu phục sự ngưỡng mộ và lòng tin tưởng của
hầu hết nhân loại. Do bởi tính cách phân minh, rạch ròi, cụ thể của nó
và được sự minh chứng một cách hùng hồn bởi những sự vật, máy móc hay
những thành tựu đang hiện hữu. (Chứ không phải là những triết lý nằm
trên trang giấy và sự giãi thoát, cứu rỗi nằm trong những cõi miền tâm
tưởng thâm sâu).
Nhưng
chúng ta cũng phải thành thật mà nhìn nhận rằng: Tri thức Khoa học không
thể giãi quyết một cách ổn thỏa những suy tưởng trong tận cùng u ẩn của
con người. Mỗi con người tự nhìn nhận rằng mình mang một “số phận”. Có
lẽ nào số phận ấy chỉ mới bắt đầu khi cất tiếng khóc chào đời ?
Có lẽ nào số phận ấy cũng chấm dứt vĩnh viễn sau hơi thở cuối
cùng ? Con người khát khao một dòng sinh mạng vô tận. Một sự khát khao
nồng cháy âm ỉ ngấm ngầm trong tận cùng của miền vô thức. Sự khát khao
đó vô lẽ không có cơ sở ?
“Em có nhớ ngày đầu tiên khi mẹ đưa tôi về,
Nhờ năm nhóm nhiệm mầu,
Em mới trông thấy bóng hình tôi hiển lộ “..
Nhất Hạnh (Một mũi tên rơi hai cờ ảo tượng)
Năm
nhóm nhiệm mầu giúp ta hiện hữu ở Thế gian. Năm nhóm đó là Sắc, Thọ,
Tưởng, Hành, Thức. Trong đó thân xác (Sắc) chỉ chiếm 1/5 của yếu tố hiện
hữu.
Ðể
minh họa thêm cho ý này chúng tôi xin được phép trích ra đây một đoạn
trong Kinh Lăng Nghiêm:
“
Vua Ba-Tư-Nặc đứng dậy bạch Phật:
__
Trước con chưa được vâng nghe lời Phật, con thấy bọn Ca-Chiên-Diên,
Tỳ-La-Chi đều nói thân này chết rồi mất hẳn là Niết bàn. Nay tuy được
gặp Phật nhưng con vẫn còn hồ nghi. Xin Phật chỉ rõ thế nào chứng biết
tánh không sanh diệt ở ngay thân tâm này. Các hàng hữu lậu trong đại
chúng đều trông mong được nghe.
Ðức
Phật hỏi:
__ Ðại
Vương, nhục thân hiện nay như Kim cang thường còn hay cũng biến đổi và
tan rã ?
__ Bạch
Thế tôn, thân con đang thay đổi và rốt cuộc sẽ tiêu diệt.
__ Ðại
Vương chưa hề diệt, làm sao biết thân này sẽ diệt ?
__
Bạch Thế tôn, thân vô thường biến đổi tuy chưa diệt, song con xét hiện
nay nó niệm niệm đổi dời mãi mãi không thôi. Như lửa đốt gỗ thành tro
lần lần tiêu mất. Vì biến hoại nên thân quyết định chắc chắn sẽ diệt.
__
Ðúng thế ! Ðại Vương nay đã gìa yếu, nhan mạo so với lúc trẻ thế nào ?
__
Bạch Thế tôn, lúc còn bé nhỏ da thịt mởn mơ. Ðến khi trưởng thành huyết
khí sung túc. Nay về gìa ngày càng suy yếu, hình sắc khô gầy, tinh thần
lẫn lộn, tóc bạc da nhăn. Tuổi thọ chẳng còn bao lâu nữa. Làm sao so
sánh được với lúc đương còn trẻ mạnh.
__
Ðại Vương, hình dung nào phải đương trẻ mà gìa liền đâu ?
__
Thân con vô thường biến hoại, niệm niệm không dừng, âm thầm thay đổi lúc
nào không biết. Năm 20 tuổi tuy nói là trẻ mà thật đã gìa hơn năm 10
tuổi. Năm 30 lại gíà hơn khi 20. Bây giờ 62 tuổi so với ngày 50 thật kém
cường tráng. Xét kỹ hàng năm, hàng tháng, hàng ngày, niệm niệm đổi dời.
Nên biết thân này chắc chắn hoại diệt.
__
Ðại Vương thấy biến hóa dời đổi không ngừng, ngộ biết thân này phải
diệt. Vậy Ðại Vương có biết trong thân cái gì không diệt chăng ?
__
Thật con không biết.
__
Nay tôi chỉ cho Ðại Vương tánh không sanh diệt. Ðại Vương năm lên mấy
thấy sông Hằng ?
__
Khi con 3 tuổi, mẹ con dắt đi lễ Thần Kỳ-Bà-Thiên, lúc đó con được thấy
sông Hằng.
__
Như lời Ðại Vương nói, 20 tuổi gìa hơn năm 10 tuổi. Ðến nay 62 tuổi, năm
tháng ngày giờ dời đổi. Vậy khi 3 tuổi thấy sông Hằng so với năm 13 tuổi
có khác nhau không ?
__
Thưa cũng giống khi 3 tuổi như nhau không khác. Nay con 62 tuổi thấy
sông Hằng vẫn không khác.
__
Ðại Vương tự tủi tóc bạc da nhăn. Cái thấy hiện nay so với cái thấy lúc
nhỏ có già trẻ không ?
__
Bạch Thế tôn không.
__
Ðại Vương, mặt già nhăn mà cái thấy không hề già nhăn. Có già nhăn là có
biến hoại. Không già nhăn là không biến hoại. Có biến hoại ắt phải diệt.
Không biến hoại không sanh diệt.Làm sao cái không sanh diệt lại chịu
luật lệ sanh diệt mà Ðại Vương dẫn những thuyết của bọn Mạt-Già-Lê, bảo
rằng thân này chết rồi diệt hẳn.
Vua
nghe lời Phật dạy, tin biết bỏ thân này sẽ có thân khác, cùng với đại
chúng phấn khởi vui mừng được điều chưa từng có”.
Có lẽ
những bức tường sanh tử cản ngăn một cách thô bạo dòng chảy của sinh
mệnh thường tồn. Nên những câu hỏi không ngừng được đặt ra để trằn trọc,
băn khoăn cho số phận của dòng sinh mệnh đó.
Mặt khác,
tri thức Khoa học cũng không thể và không dám đứng lên để làm Trọng
tài Chân lý, hay làm Người phán quyết tối hậu cho những
giá trị phải trái của lương tâm.
Thế
thì AI sẽ chịu trách nhiệm điều chỉnh, quân bình lương tâm, đạo
đức cho Thế giới Nhân loại ?
Tri
thức Khoa học có thể được dùng để giáo dục rộng rãi tinh thần nhân đạo,
ý thức bảo vệ môi trường chung, ý thức về quyền công dân và nghĩa vụ
tuân hành Pháp luật,... trong một phạm vi có sự giới hạn. Nhưng nó không
thể được dùng để tác động đến chỗ thâm sâu trong tâm hồn con người. Con
người cũng không mong chờ điều đó ở Khoa học.
Mỗi
con người là một thế giới bí ẩn. Họ chỉ có chung nhau nhiều lắm
là cái thế giới bên ngoài. Còn cái riêng nhau của mỗi người, nào
ai biết thấu !
“Trong bao lâu người ta bước đi sát cánh bên nhau, nhưng mỗi người im
lìm trong mỗi cõi, có nói cũng chỉ nói những tiếng vu vơ...” (Cõi
người ta, sđd)
Mỗi
người đều có những lý lẽ của riêng mình, và tự tìm lấy một chân lý mình
ưa thích. Không ai có thể thực sự ép buộc ai cả về mặt này. Mỗi người
đều có ý thức và trách nhiệm trên những hành vi của mình, nhưng sự khủng
hoảng của môi trường có thể dẫn đến sự khủng hoảng của ý thức...
Thế
giới ngày nay đang tiến tới những chân trời hảo vọng. Nhưng những
cơn bão tố nào đương sữa soạn gây rối rắm cho cuộc viễn du đầy hứa hẹn
này ?
Thế
giới ngày nay nhất định phải có nhu cầu tìm về và phát huy những giá trị
của Nhân bản, của Ðạo đức và của Triết học.
Con
người phải tự mình tìm lại một nền hòa bình và an lạc ngay trong chính
tự thân, để có thể ban rãi tình thương và niềm vui vô tận cho tha nhân
và thế giới./.
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Kinh Hoa Nghiêm, bản dịch Hòa Thượng Thích Trí Tịnh.
2. Kinh Pháp Hoa, -nt-
3. Kinh Ðịa Tạng , -nt-
4. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, (THPG.Tp.HCM,1992) Bảo Giác.
5. Kinh Trường A Hàm 1, (VNCPHVN, 1991).
6. Kinh Trường Bộ 2, -nt-
7. Kinh Na Tiên Tỳ Kheo, (Sài Gòn:Minh Ðức, 1971) Cao Hữu Ðính.
8. Thập Ðại Ðệ Tử Truyện, Thích Tịnh Vân, dg Như Ðức (không ghi
năm & tác giả)
9. Trang tử - trí tuệ của tự nhiên, dg Nguyễn Hồng Trang (Ðồng
Nai, 1995).
10. Ðạo Phật ngày nay, Thích Nhất Hạnh (Lá Bối in lần 4, 1969).
11.Phật Giáo một nguồn hạnh phúc, Piyadassi, dg Phạm Kim Khánh
(THPG- TpHCM,1995).
12. An trú trong hiện tại, Thích Nhất Hạnh (không ghi NXB,
Pl-2540).
13. Ðạo Phật và đời sống hiện tại, K.Sri. Dhammananda, dg Thích
Tâm Quang- 1995.
14. Những lời Ðức Phật dạy về hòa bình & giá trị con người, Thích
Minh Châu (VNCPHVN, 1995).
15. Những nét văn hóa của đạo Phật, Thích Phụng Sơn (VNCPHVN,
1995).
16. 25 bài thuyết pháp, Thái Hư Ðại sư, dg Thích Khánh Anh
(THPG-TpHCM,1993).
17. Phật học tinh yếu, Thích Thiền Tâm (THPG-Tp.HCM, 1992).
18. Amanach Những nền văn minh Thế giới, (Hà Nội: VHTT, 1996).
19. Bộ sách 10 vạn câu hỏi vì sao-Thiên văn học, (Hà Nội: KHKT,
1992).
20. Phụ bản Khoa học phổ thông, (Uûy ban KH&KT-Tp.HCM,1984).
21. Vật lý lớp 12, Ðào Văn Phúc (Hà Nội: Giáo dục, 1994).
22. Xã hội học-Khái niệm-Khuynh hướng-Vấn đề, Nguyễn Xuân Nghĩa
(ÐH mở Bán công Tp.HCM tái bản lần 2, 1996).
23. Tư tưởng mỹ học Phật giáo, Thích Tâm Thiện
(THPG_Tp.HCM,1996).
24. Cõi người ta, Saint Exupéry, dg Bùi Giáng (Tp.HCM: Văn nghệ,
1994).
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 1-2-2004