Sống trong bổn nguyện của Phật A Di Đà
Nguyễn Thế
Đăng
---o0o---
Tất cả chúng ta đang sống trong Ánh sáng Vô lượng
(Vô lượng Quang) và Đời sống Vô lượng (Vô lượng Thọ), trong
bổn nguyện của Phật A Di Đà, điều đó được nói trong 48 lời
nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng (Dharmakara), tiền thân của Ngài.
Những ước vọng của kiếp nhân sinh và những khổ
đau - mặt trái của ước vọng không thành của con người - đều
được gói trọn trong bổn nguyện của A Di Đà. Bổn nguyện đó là
Ánh sáng Vô ngại (Vô Ngại Quang Như Lai) có thể soi thấu đến
những chỗ tối tãm nhất trong lịng người và xuyên qua những chất
cứng nhất trong thế gian, cái bản ngã cứng đặc kiên cường và
đen tối, và như thế, năng lực chuyển hóa của bổn nguyện là vô
hạn. Bổn nguyện là tấm lưới của ánh sáng và đại bi trùm khắp
chúng sinh ba cõi, chỉ cần một niềm tin chân thành là tấm lưới ấy
hoạt động để đưa chúng ta đến với ánh sáng tỏa chiếu tình
thương vô tận.
48 lời nguyện ấy đã thành tựu từ rất lâu xa, khi
Bồ tát Pháp Tạng thành Phật đến nay đã được mười kiếp (một
kiếp gồm 4.320.000.000 nãm, theo cách tính của Aán Độ thời cổ, y
cứ lời của Đức Phật Thích Ca dạy trong kinh A Di Đà (Xá Lợi
Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai ư kim thập kiếp). Vì lý do đó
mà những lời nguyện trên được gọi là bổn nguyện. Chúng ta đang
sống trong bổn nguyện, trong ánh sáng vô lượng và đời sống vô
lượng mà theo ý niệm nhị nguyên của con người, chúng ta có thể
hiểu rằng, ánh sáng vô lượng là trí tuệ và đời sống vô
lượng là tâm đại bi của A Di Đà.
Cái làm cho chúng sinh tiếp xúc được với bổn
nguyện của A Di Đà là đức tin. Trong 19 lời nguyện nhắm đến tất
cả chúng sinh trong vũ trụ ấy, đều mang nội dung của đức tin. Đức
tin ấy có thể hình dung qua những yếu tố sau đây :
- Một ý thức sâu sắc về tính hữu hạn, thất thường, bất định,
mâu thuẫn và phải chết của con người\. Nếu chỉ đích danh hơn,
những tính chất hữu hạn, mâu thuẫn nội tại ấy là đặc tính của
cái ngã và những hoạt động phiền não của nó. Và trong tình
trạng hiện thời, toàn bộ đời sống con người dựa vào cái ngã
và những hoạt động tạo nghiệp của nó, hậu quả tất yếu là
những khuyết điểm, lầm lỗi và khổ đau mà chúng ta gọi là sanh
tử. Nhưng để thoát khỏi cái ngã đó, với phần đông con người
là không thể, vì làm bất cứ điều gì, dù tu hành để giải thoát
hay làm tốt cho người khác thì vẫn nằm trong sự giật dây của cái
tự ngã, chỉ làm cho cái ngã, phụng sự cái tự ngã. Với con
người, không phải bao giờ cũng có thể có vị tha thực sự, lợi
mình lợi người thực sự, vì thông thường có cái ta phản trắc
luôn ở trung tâm của mọi hành động. Không giải quyết được khổ
đau của mình, đồng thời chúng ta cũng gieo rắc khổ đau cho người
khác. Nói theo hình ảnh của kinh Pháp Hoa, chúng ta là những đứa con
khốn cùng, dù có may mắn nghe được cha mình giàu có đến trùm
khắp vô vàn thế giới đang ở nơi xa kia chờ mình thì cũng không
đủ sức trở về, dù có người dẫn dắt. Đôi chân con người
đã mỏi mệt vì khổ đau của sinh tử, trí óc đã quá nặng nề vì
những màn ảo hóa Ẩ và chỉ khi thấy rõ sự hữu hạn, nhỏ bé
và bất lự c của mình, thấy sự mâu thuẫn nằm trong chính nền tảng
của bản thân, con người khổ đau đó mới mở mình ra trước lời
kêu gọi của đại nguyện của Phật A Di Đà.
- Chúng ta không biết làm gì hơn là phó thác, hiến mình và tin cậy.
Khi tự lực trong mức độ chúng sinh chỉ là thất thường, mâu
thuẫn nội tại, chính lúc đó, bắt đầu sự lắng nghe sâu xa tiếng
kêu gọi của bổn nguyện, sự chấp nhận phó thác cho công việc đại
bi của Phật A Di Đà. Một chuyển hóa bắt đầu xảy ra, con người
từ bỏ những bất toàn, những xung đột mâu thuẫn nội tại của
mình, để đi vào nguyện lực của Đức A Di Đà. Do đó con người
thấy ra tha lực.
- Không chỉ để đối phó với khổ đau, đức tin cũng là một mong
mỏi bất tuyệt về một cõi không có ba đường ác (lời nguyện
thứ nhất), thậm chí không có cả một danh từ để chỉ một sự ác
nào (lời nguyện thứ 16). Tích cực hơn, đức tin cịn là một tình
cảm nồng nhiệt đối với tất cả những gì đẹp đẽ, thanh tịnh
đối với cõi nước, con người lành thánhẨ của Phật A Di Đà.
Chính sự kính ngưỡng đối với cõi Tịnh độ và Phật A Di Đà sẽ
chuyển hóa những đam mê vào cõi dục của chúng ta, nguyên nhân
của những phiền não khổ đau.
- Cuối cùng, đức tin đó khiến chúng ta mở tâm thức, mở tấm
lịng để đón nhận ánh sáng của lịng bi A Di Đà. Trong các kinh
Nikàya, có thuật lại rằng khi Đức Thích Ca giác ngộ, Ngài nhìn lại
thế gian, quan sát chúng sinh như những hoa sen, có cái còn nằm trong
bùn, có cái lên trong nước, có cái đã ra khỏi nước và có
cái bắt đầu nở hoa, thấy thế, Đức Phật đã quyết định chuyển
bánh xe pháp để đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Với đức tin vào
Phật A Di Đà và năng lực đại bi trùm khắp của Ngài, đoá hoa sen
tức Phật tánh của mỗi người sẽ vươn lên và nở hoa trong ánh
sánh vô lượng và đời sống vô lượng.
Đức tin là cái nối kết con người với lời kêu
gọi ngập đầy thương yêu và ân điển tức là 48 lời nguyện
của Đức A Di Đà với ánh sáng vô lượng và đời sống vô
lượng tức là bản tính của Đức A Di Đà. Nhưng sự kêu gọi
và sự đáp trả còn thể hiện cụ thể, đó là niệm danh hiệu
"Nam mô A Di Đà Phật", "Nam mô" là sự trở về trong
tâm linh của đưá con cơ nhỡ, lạc loài, vô phương tự thoát và
"A Di Đà Phật" là quê nhà của nó, sự sống và là ánh
sáng của nó.
Niệm Phật là thể hiện đức tin ấy. Trong 19 lời
nguyện nhắm đến các chúng sinh ở ngoài cõi Tịnh độ, có đến 14
lời nguyện nói đến "niệm danh hiệu" và "nghe danh
hiệu". Như thế, danh hiệu A Di Đà chính là Phật A Di Đà. Niệm
danh hiệu là phương pháp được nói đến nhiều nhất trong những
phương pháp để tiếp thông với Đức Phật. Niệm danh hiệu chính là
đi về Tịnh độ và đi vào bản tính của Phật, đồng thời làm hiện
thân Tịnh độ và bản thân Phật A Di Đà giữa thế gian.
Như trên đã nói, niệm danh hiệu được nhắc đến
nhiều nhất trong các đường lối để tiếp cận với Phật A Di Đà
và Tịnh độ. Niệm Phật là để sinh về Tịnh độ, nơi không có
những tranh chấp mâu thuẫn giữa ta Ố người, ta Ố thế giới, và
ta với chính ta, những mâu thuẫn muôn đời không thể nào giải
quyết ở đời sống vận hành theo chiều hướng tư duy hữu ngã
này.
Niệm Phật A Di Đà là niệm ánh sáng vô lượng, do
đó thải trừ bóng tối vô minh nơi mình. Niệm Phật A Di Đà là
niệm đời sống vô lượng, do đó thải trừ sinh tử nơi mình. Như
vậy, niệm danh hiệu đúng nghĩa chính là đang thực hiện sự tịnh
hoá. Nó không chỉ là loại bỏ sự sợ hãi trước bóng tối và
cái chết, mà còn đưa con người đến với ánh sáng vô lượng
và đời sống vô lượng, nghĩa là khai mở Phật tánh trong mỗi
người, như Tỳ kheo Pháp Tạng đã thành tựu và ứng dụng để tạo
thành Tịnh độ trước đây mười a tăng kỳ kiếp.
Bắt đầu niệm Phật là bắt đầu sự chuyển hoá.
Mỗi câu niệm Phật là một lần chuyển hóa. Sự chuyển hoá này
xảy ra tại đây và bây giờ, thải trừ năm độc tham, sân, si,
kiêêu mạn và đố kî trong thân tâm mỗi người\. Như thế, con
đường đi về Tịnh độ bắt đầu ngay lúc này và tại đây, bằng
danh hiệu Phật. Lấy một hình ảnh thí dụ của Đại thừa, Phật A Di
Đà ví như một mặt trãng giữa trời, mà mỗi câu niệm Phật như
một chậu nước, mỗi chậu nước có một mặt trãng trong đó. Niệm
Phật đến mức mặt trãng in hẳn vào dòng hiện sinh của hành giả,
không còn tách lìa, dù ở đâu và lúc nào. Khi đã thật sự có
mặt trăng Phật thường trực trong lòng, sự tái sinh về Tịnh độ
khi chết ắt là một tiến trình tất yếu.
Theo Kim Cương thừa, Phật A Di Đà ở về phương Tây
trong Ngũ Trí Như Lai, là chủ của Liên Hoa bộ. Thành tố của bộ này
là lửa và màu là màu đỏ. Phật A Di Đà ngồi trên một tòa sen
do một con công đội. Con công ãn thức ãn độc và chuyển hóa
thành màu lông rực rỡ của mình, càng độc lông càng đẹp. Bộ
Liên Hoa chuyển hóa tham dục của cõi này thành trí tuệ, biến ái
dục của cõi dục này thành từ bi. Bởi thế, khi nào tham dục - một
trong năm độc - khởi lên, chúng ta hãy niệm danh hiệu. Khi nào sắp
nổi giận, chúng ta hãy niệm Phật, khi nào muốn cầu nguyện cho ai
chúng ta hãy niệm Phật.
Danh hiệu Phật có tính cách của một thần chú (mantra),
một tổng trì (dharani) thỏa mãn cho những nguyện vọng xuất thế gian
("nghe danh hiệu tôi, được Vô sanh pháp nhẫn và các môn tổng
trì sâu xa" lời nguyện thứ 34) và những nguyện vọng thế gian
("nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung, sanh ra vào những gia đình
tôn qúy" lời nguyện thứ 43), ("nghe danh hiệu tôi, tất cả
các căn không xấu xí, kém khuyết" lời nguyện thứ 41). Sở dĩ
như vậy vì trong danh hiệu có đủ cả Pháp thân (Tâm giác ngộ, tâm
Phật), Báo thân (Aùnh sáng vô lượng, Thọ mạng vô lượng) và
Hóa thân (sắc thân Phật và cõi Tịnh độ) của Phật A Di Đà. Bởi
thế khi nào trong lòng chúng ta từ bi hỷ xả không sinh khởi, hãy
niệm danh hiệu vì danh hiệu là sự tập trung thuần khiết nhất của
từ bi hỷ xả. Sáu Ba la mật, nãm cãn, nãm lực, bảy Bồ đề phần,
tám Thánh đạo phần (kinh A Di Đà), cho đến đắc Vô sanh pháp nhẫn,
tức con đường Đại thừa chung cho mọi tông đều có đủ trong danh
hiệu Phật. Chúng ta cần nhớ rằng trong danh hiệu có Chánh báo và Y
báo, nghĩa là có cả bản tánh trí tuệ và đại bi của Đức A Di
Đà, đồng thời có Tịnh độ của Ngài.
Niệm Phật là thả mình vào công cuộc chuyển hóa của
bổn nguyện, trút những xácchết của khổ đau phiền não không thể
nguôi ngoai vào đại dương của bổn nguyện và để cho đại dương
đó chuyển hóa cho. Như Phật Thích Ca đã nói "trong đại dương
(Niết bàn) không dung chứa xác chết", đại dương ánh sáng và
đại bi của Phật A Di Đà cũng không chứa những phiền não khổ đau
của chúng sinh mà sẽ chuyển hóa chúng thành những phẩm tính của
Tịnh độ. Một bài kệ của Thân Loan (1173-1263), vị Tổ thứ hai Tịnh
Độ tông Nhật Bản, đã viết :
Khi nhiều dòng sông phiền não chảy
vào
Đại dương của lời nguyện đại bi
Của ánh sáng vô ngại, soi sáng mười phương
Chúng trở thành một vị với nước của trí tuệ.
Và như thế, không chỉ khổ đau phiền não của chúng
sinh mà toàn bộ hiện sinh của con người được đặt trên nền tảng
ban sơ và tối hậu của sự chuyển hóa : cuộc đời bấp bênh dễ
vỡ như bọt biển ("bọt trong biển cả uổng chìm nổi" Tuệ
Trung Thượng Sĩ) được an trú vào đại dương bổn nguyện của A Di
Đà; tâm thức chúng ta tiếp thông với ánh sáng vô lượng, cuộc
đời hữu hạn nhỏ nhoi của chúng ta tìm ra nền tảng của chính nó
là đời sống vô lượng, sức sống của chúng ta cắm rễ vào lòng
Bi không cùng.
Lúc ấy, thế giới này không còn là khổ đau sanh
tử mà tất cả đều đã được chuyển hóa để trở thành sự
biểu hiện của Phật A Di Đà như cõi Tịnh độ (giai thị A Di Đà Phật
dục linh tuyên lưu biến hóa sở tác Ố kinh A Di Đà). Lúc đó là
sự hợp nhất bất khả phân, ánh sáng hòa trong ánh sáng, hương
thơm hòa trong hương thơm, như Saichi (1850-1933) nói :
Lòng tôi là lòng Ngài
Lòng Ngài là lòng tôi
Chính lòng Ngài trở thành tôi;
Không phải tôi trở thành A Di Đà
Mà A Di Đà trở thành tôi
Nam mô A Di Đà Phật.
Trong ánh sáng vô lượng có sự chuyển hóa hoàn
toàn, tất cả đều trở thành ánh sáng, vẫn Saichi nói :
84.000 phiền não
84.000 ánh sáng
84.000 niềm vui tràn ngập
Ở trên là một vài trích dẫn lời phát biểu từ
các thành tựu của hành giả niệm Phật, đó cũng chính là những
tấm gương cho chúng ta, những lời ấy cho thấy chính đức tin chân
thành sâu sắc rằng tất cả chúng ta đang sống trong bổn nguyện, Aùnh
sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng của Phật A Di Đà. Sống
trong đức tin như vậy tạo thành Giới Định Tuệ cho một cuộc đời
của một Phật tử Tịnh độ. Chỉ nói một mặt và sơ lược về một
vài điều giới của một Phật tử Tịnh độ, đó là không tranh
chấp, không oán thù, từ bi hỷ xả, không gieo thêm khổ đau cho mình
và cho người khác, "không có ba đường ác, thậm chí không có
cả danh từ đường ác" (kinh A Di Đà). Một khi tâm không có
xấu ác như vậy, thì nhờ đó mà cảm nghiệm được sự thanh tịnh
đẹp đẽ của cõi Tịnh độ; tâm đó đã có tịnh nghiệp của cõi
Tịnh độ cho nên nó đã có phần tiếp thông với Tịnh độ. Như
thế, cuộc đời đó được thãng hoa, gần với sự an ổn của bổn
nguyện, gần với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng
hơn.
Trong thời đại hiện nay, tính chất tâm linh nơi con
người đã yếu nhạt nhiều, hoàn cảnh bên ngoài dễ dàng cho con
người sa vào tội ác. Nhưng cũng chính trong một thời khó khăn cho
tâm linh như vậy, bổn nguyện của Phật A Di Đà lại càng có ý nghĩa
hơn, khi bổn nguyện đó đã có trước cả sự sinh thành của thế
giới chúng sinh và sẽ còn mãi với đức Vô lượng thọ. Có lẽ
rằng trong thời yếu kém tâm linh này, con người không có cách gì
tiếp cận và vượt lên một đời sống cao thượng hơn, sáng sủa
hơn, đầy tin yêu hơn, hòa hợp hơn và với phương tiện nào dễ
dàng hơn pháp môn niệm Phật.
Những lời nguyện của Đức A Di Đà nhằm vào tất
cả chúng sinh trong mọi mặt của cuộc đời với bao nhiêu giới hạn,
tội lỗi, lỡ lầm . Như ngài Thân Loan đã nói :
"Khi tôi suy nghĩ về lời nguyện từ bi của A Di
Đà, được thiết lập qua nãm a tãng kỳ kiếp tâm niệm sâu xa,
lời nguyện đó là dành cho chính tôi, Thân Loan, cho chính một mình
tôi".
Khi đức tin đã phát khởi, chúng ta có sự tương
thông với Phật A Di Đà và sự tượng thông đó trở nên liên
tục, tương tục và luôn luôn mở rộng cả bề sâu lẫn bề rộng
bằng niệm danh hiệu Phật. Sự chuyển hóa liên tục xảy ra từ mối
nối kết này, biến đổi con người tội lỗi, bất toàn, tự mâu
thuẫn xung đột và phải chết của chúng ta thành một con người của
Tịnh độ. Sự chuyển hóa này ngày xưa các tổ Tịnh độ ví như
"gạch ngói vụn được biến thành vàng ròng" vì "trong
Tịnh độ tất cả trời người sắc tướng đều một màu vàng
ròng" (lời nguyện thứ 3). Chúng ta cần nhắc lại một lần nữa,
sự chuyển hóa không chỉ xảy ra ở nơi cõi Tịnh độ mà đã và
đang xảy ra ngay tại đây và lúc này. Sự chuyển hóa "gạch
ngói vụn thành vàng ròng", "sắc tướng con người đồng
thành một màu vàng ròng" phải được thiết lập ở đây và
lúc này, nghĩa là kinh nghiệm về Tịnh độ và Phật A Di Đà phải
được cảm nhận nơi mình ở đây và lúc này.
Để minh họa cho đời sống của đức tin hiện sinh
này, chúng ta đọc một vài mẩu chuyện của Shoma (1799-1871) trích từ
The Essence of Buđhism của D.T. Suzuki :
Có lần Shoma viếng một ngôi chùa quê. Vừa vào
chánh điện, anh thõng chân nằm dài tượng A Di Đà. Một người
trách anh thất kính, anh trả lời :
"Tôi vào đây là trở về nhà cha mẹ tôi, còn
anh bắt bẻ tôi như vậy chẳng qua anh chỉ là người ngoài gia đình
này thôi".
Có lẽ sống trong lòng đại bi bổn nguyện của Phật A
Di Đà là như vậy.
Có lần Shoma cùng các bạn đi trên một chiếc thuyền
buồm, gặp lúc gió lớn sóng to như muốn nhận chìm thuyền. Mọi
người quên hết việc niệm Phật mà chỉ biết van vái lung tung. Trong
khi ấy, Shoma nằm ngủ cho đến lúc người ta đập anh dậy, anh dụi
mắt hỏi :
"Tôi có còn trong thế giới Ta bà không?"
Có lần anh làm việc ngoài đồng, mệt bèn về nhà
nghỉ. Gió mát khiến anh nhớ đến Phật A Di Đà. Anh liền mang tượng
ra đặt bên cạnh nói : "Ngài ngồi đây hóng mát nhé !".
Một hôm giữa đường mắc bệnh, bạbè mướn
người võng anh về nhà, rồi dặn dò :
"Nay anh đã về quê rồi, hãy nghỉ yên và tạ ơn A
Di Đà", Shoma đáp :"Cám ơn, nhưng tôi bệnh ở đâu thì chỗ
đó là Tịnh độ của tôi, sát ngay bên cạnh tôi".
Có lần nghe người nói về hoạt động truyền giáo
của một tôn giáo khác, Shoma nói :
"Không gì tốt hơn là phàm phu thành Phật". Khi
có người hỏi làm sao giữ tròn được cuộc sống sau khi chết, Shoma
đáp : "Việc ấy để A Di Đà lo liệu, đó không phải là chuyện
của tôi".
Chúng ta thấy một con người, bằng đức tin và niệm
danh hiệu, đã gắn được cuộc đời mình với bổn nguyện của A Di
Đà, và như thế, dù thân còn ở đây chưa về đến Tịnh độ nhưng
tâm đã có phần dự vào trong Tịnh độ, trong Pháp thân, Báo thân
và Hóa thân của Phật A Di Đà để xóa tan khoảng cách giữa Ta bà
và Tịnh độ, giữa sinh tử và Niết bàn.
Có thể tóm lại, sống trong bổn nguyện là giao phó, đưa hết thẩy
thân tâm tùy thuận với công việc đại bi bao la vô tận của Phật A
Di Đà, một thân tâm quy y vào Phật A Di Đà như vậy thì thanh tịnh
để có thể phát khởi đức tin trông cậy vào A Di Đà và công
việc của Ngài. Thân tâm hữu hạn và khuyết điểm đó chìm ngập
trong thực tại của A Di Đà là Trí tuệ và Đại bi phổ trong 48 lời
nguyện, đây là tiền đề để sinh về Tịnh độ. Nhưng trước khi
thân tâm đi về trung tâm điểm đích đến của nó là Tịnh độ, thì
ngay ở đây và lúc này, nơi thế giới này, chúng ta đã hưởng
được những phần công đức của Tịnh độ.
Source : www.lotuspro.net
Cập nhật: 01-12-01