Qua thực tế sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng của Phật
giáo Việt Nam hiện nay, có thể thấy rằng dấu ấn của pháp môn Tịnh
độ là hết sức sâu đậm. Đây là một trong những vấn đề đáng
quan tâm và cần sự nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để xác định
truyền thống tu học của người Phật tử Việt Nam, nhằm xây dựng
các nguyên tắc tổ chức trong các tự viện nói riêng và đời
sống tín ngưỡng, tu học của người Phật tử nói chung một cách
hiệu quả, phù hợp với tâm lý, bối cảnh văn hóa và truyền
thống của dân tộc. Vậy tư tưởng Tịnh độ du nhập Việt Nam bao
giờ, phát triển ra sao và có đặc điểm gì, trong bài viết này,
chúng tôi sẽ bước đầu tìm hiểu về những vấn đề trên qua các
tư liệu hiện có.
1.Sự du nhập và phát triển của tín ngưỡng Tịnh độ
tại Việt Nam
Danh hiệu của Đức Phật A Di Đà được nhắc đến
sớm nhất trong lịch sử Phật giáo VN là ở Cựu tạp thí dụ kinh,
truyện 60. Pháp môn niệm Phật cũng đã được đề cập trong Lục
độ tập kinh do Khương Tãng Hội (?-280) dịch sang chữ Hán. Đây là
những bộ kinh xưa nhất lưu hành tại Việt Nam hiện biết được. Như
vậy, ngay từ rất sớm, vào trước thế kỷ thứ III, trong khuynh
hướng tư tưởng Phật giáo Đại thừa được giới thiệu tại
nước ta, người Phật tử Việt Nam cũng đã bước đầu được
tiếp xúc với tín ngưỡng Tịnh độ (A Di Đà). Tư tưởng này đã
đi vào đời sống tu tập của người Phật tử và trở thành một
trong những trào lưu lớn mạnh ở thế kỷ thứ V với sự có mặt
của các bản kinh quan trọng làm nền tảng cho nó là Vô lượng thọ
(Quán thọ), (1) do sư Đàm Hoằng (?-455), một vị Tăng người Trung Quốc
chuyên hành trì pháp môn Tịnh độ với ước nguyện vãng sinh Cực
Lạc, đến việt Nam tu học tại nước ta truyền bá.
Theo Cao tãng truyện của Huệ Hạo, sư Đàm Hoằng (Thích
Đàm Hoằng) người Hoang Châu, Trung Quốc, xuất gia từ nhỏ, là
người giới hạnh tinh nghiêm, sâu sắc về Luật bộ. Khoảng năm 423,
sư đến nước ta, ở tại chùa Tiên Sơn, chuyên hành trì kinh Vô
lượng thọ và Quán Vô lượng thọ. Năm 455 sư tự thiêu nhưng
không thành vì giữa chừng học trò biết được và dập tắt
lửa\. Sau đó, nhân cả thôn làng bận rộn vì gần có hội, cả
chùa đều đi Phật sự, sư lén vào hang núi tự thiêu lần nữa\.
Khi mọi người biết được đến nơi thì sư đã tịch. Tương truyền,
hôm đó, dân làng nhìn thấy sư thân có sắc vàng, cỡi một con nai
vàng, không nói năng gì mà đi về hướng Tây rất nhanh. Phật tử
trong Tãng ngoài tục biết đó là điều thần dị nên thu nhặt tro
xương, dựng tháp để tôn thờ.
Nguyên nhân sự tự thiêu của sư Đàm Hoằng là do
đâu? Như chúng ta biết, vào thế kỷ thứ V, tại nước ta đang diễn
ra một cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt. Nền tư tưởng Phật giáo
quyền nãng được thiết định mấy thế kỷ trước tỏ ra không còn
sức thuyết phục trước bước phát triển của dân tộc, đặc biệt
ở giai đoạn đấu tranh vận động cho sự ra đời của nhà nước
độc lập Vạn Xuân. Những tranh luận này đã để lại cho chúng ta
ngày nay tư liệu 6 lá thư giữa Lý Miễu và hai vị thầy của ông là
các ngài Pháp Minh (k.370-460) và Đạo Cao (k.365-445), tranh luận xung quanh
vấn đề tại sao nói Phật thần thông biến hóa nhưng người Phật
tử không thấy chân hình của Ngài ở đời (nạn Phật bất kiến
hình sự). Sự kiện tự thiêu của sư Đàm Hoằng xảy ra vào thời
điểm cao trào của cuộc đấu tranh này và chắc chắn đó không phải
là một trường hợp ngẫu nhiên. Thêm nữa, sư Đàm Hoằng tự
thiêu là một sự kiện lớn thời bấy giờ. Bởi lẽ tiếng tăm
của nó đã vang dội vượt ra ngoài nước ta, đến cả Trung Quốc và
mấy trăm nãm sau, Huệ Hạo đã ghi vào tác phẩm của mình là Cao
tăng truyện. Phải chãng sự tự thiêu này, cùng với những tương
truyền về việc dân làng thấy điều thần dị là một câu trả lời
trong nỗ lực củng cố niềm tin đối với nền tư tưởng Phật giáo
quyền nãng, mà khuynh hướng Tịnh độ sư Đàm Hoằng chuyên tâm
thực hành là một trong những đại biểu.
Như vậy, có thể nói rằng, ở thế kỷ thứ V, tư
tưởng Tịnh độ đã phát triển và trở thành một trào lưu tại
nước ta. Đó cũng là giai đoạn quan trọng với sự lưu hành rộng
rãi các bộ kinh cãn bản của tư tưởng Tịnh độ mà chúng ta đã
được biết qua tiểu sử của sư Đàm Hoằng, chùa Tiên Sơn. Tuy
nhiên, giai đoạn tiếp theo, tức từ sau sư Đàm Hoằng đến nửa
đầu thế kỷ thứ IX, chúng ta hiện không có tư liệu nào để lại
đề cập đến Tịnh độ, mà mãi đến nãm 826, nó mới được nhắc
đến trong bài kệ của sư Vô Ngôn Thông (759?-826) nói cho đệ tử
là sư Cảm Thành (?-860). Trong bài kệ có câu : "Tây Thiên là
đất này, Đất này là Tây Thiên " (Tây Thiên thử độ, Thử
độ Tây Thiên ). Chữ Tây Thiên ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa,
chỉ cho thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, đồng thời
cũng có thể hiểu đó là nước Ấn Độ, quê hương của Phật
giáo.
Từ giữa thế kỷ thứ XI trở đi, khuynh hướng Tịnh
độ được phổ biến rộng rãi với sự hình thành của nhiều ngôi
Tam bảo, đạo tràng Ẩ Đặc biệt là vào thờivua Lý Thánh Tông
(1023-1072), nhà vua tuy thuộc thế hệ thứ 1 dòng thiền Thảo Đường,
nhưng đã cho tạc một pho tượng Phật A Di Đà độc đáo có một
không hai trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc của dân tộc hiện nay
vẫn còn (2) và cho dựng một ngôi tháp để thờ tại chùa Vạn
Phúc. Ngoài ra, còn có tượng Phật A Di Đà do sư Trì Bát (1049-1117),
người thuộc thế hệ thứ 12 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, chủ
trương tạo dựng năm 1099 (3), tượng A Di Đà trong hội Quảng Chiếu
trước Đoan Môn, được tạo lập để cầu nguyện cho hoàng hậu Linh
Nhân siêu sinh Tịnh độ (4) v.v.. Cùng với tín ngưỡng A Di Đà, tín
ngưỡng Quán Thế Âm, vị Bồ tát thân cận của Phật A Di Đà, ở
thời này cũng trở nên phổ biến. Từ giai đoạn này trở về sau,
trên phương diện tín ngưỡng, trào lưu Tịnh độ đã thực sự có
một vị trí quan trọng trong đời sống vãn hóa tâm linh của nhân dân
ta.
Thế kỷ XII, qua một các tiểu truyện về các thiền sư
được Thiền uyển tập anh ghi lại, chúng ta biết được có thiền sư
mặc dù được coi là thuộc hệ truyền thừa của các thiền phái
nhưng vẫn hành trì theo pháp môn này, chẳng hạn Thiền sư Tịnh Lực
(1111-1175), thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông, 12 thời
thực hành sám hối và thâm nhập được pháp môn niệm Phật tam
muội (5); Thiền sư Trì Bát "nhân tưởng niệm Phật A Di Đà ở
thế giới Phương Tây Cực Lạc, nên đã phổ khuyến đạo tục,
dựng một đạo tràng lớn " (6). Đến đời Trần, các nhà tư
tưởng lớn như Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Thái Tông Ẩ cũng bàn
đến vấn đề niệm Phật. Tư tưởng Tịnh độ với cơ bản là quan
niệm về Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện của Ngài cũng
được đặt ra trong các kỳ thi tuyển nhân tài do triều đình tổ
chức mà hiện biết được qua bài thi của tiến sĩ Lê Ích Mộc
(1459-?), kỳ thi năm 1502. Dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử do Trần Nhân
tông chủ trương cũng có nói về Đức Phật A Di Đà và thế giới
Cực Lạc, tuy ở một sắc thái khác, chúng tôi sẽ đề cập trong
phần sau.
Sự phát triển này ngày mỗi mạnh mẽ, nhất là từ
cuối thế kỷ XVI trở đi\. Nhiều tác phẩm về Tịnh độ được viết,
phiên âm và chú giải nhằm cổ súy và truyền bá cho trào lưu này.
Có thể kể một vài tên tuổi như ngài Viên Văn (1590-1644) viết tác
phẩm Bồ đề yếu nghĩa, thuyết minh về Tự tính Di Đà; thiền sư Minh
Châu Hương Hải (1628-1708) phiên âm A Di Đà kinh sớ sao của ngài
Châu Hoằng; thiền sư Chân Nguyên (1647-1726) với nhiều tác phẩm mang
đặc điểm tư tưởng Tịnh độ của Trung Hoa như Phật tâm luận, Tịnh
độ yếu nghĩa , đặc biệt là đã cho thiết kế ba đài Liên hoa cửu
phẩm làm pháp khí trong lễ nghi thực hành niệm Phật (7); thiền sư
Tánh Thiên với Phổ khuyến niệm Phật, v.v.. Sự phát triển đó
được tiếp nối cho đến ngày nay, chúng ta có thể thấy tín ngưỡng
và pháp môn niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh Cực lạc là một trong
những khuynh hướng tín ngưỡng lớn, nếu không nói là chủ yếu,
của Phật giáo nước ta hiện tại\. Tuy nhiên, quan niệm Tịnh độ của
người Phật tử Việt Nam mang những điểm đặc thù, dẫu có sự
ảnh hưởng nhưng vẫn khác biệt so với Tịnh độ tông của Trung Hoa
hay của Nhật Bản.
2.Đặc điểm của trào lưu Tịnh độ tại Việt Nam
Nói "trào lưu" mà không phải là "tông
phái", đây cũng là một trong những đặc điểm về sự phát
triển của tư tưởng Tịnh độ tại Việt Nam.
Sự lưu hành của các bộ kinh quan trọng thuộc hệ tư
tưởng Tịnh độ là Vô lượng thọ và quán Vô lượng thọ ở
nước ta vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ V là một điều đáng
chú ý, nó cho phép chúng ta nghĩ rằng Việt Nam thời bấy giờ có
thể là một trung tâm Tịnh độ có tiếng tãm ở vùngg Viễn Đông
mà chùa Tiên Sơn, nơi sư Đàm Hoằng, một vị Tăng Trung Quốc chọn
làm chỗ dừng chân tu tập, là một thí dụ. Bởi khi sư Đàm Hoằng
đến chùa Tiên Sơn, sau năm 422, cách thời điểm thành lập Bạch
Liên xã của ngài Huệ Viễn (334-416), người sáng lập Tịnh độ tông
ở Trung Hoa, chỉ khoảng 20 nãm (nãm 402).
Tuy du nhập Việt Nam từ những thế kỷ đầu của kỷ
nguyên Tây lịch, được phổ biến và trở thành một trong những
trào lưu chủ yếu của đời sống tín ngưỡng của Phật giáo nước
ta, và dẫu có lúc phát triển mạnh mẽ, nhưng tư tưởng Tịnh độ
không như ở Trung Hoa và Nhật Bản, hình thành một tông phái với
chủ trương, lịch sử truyền thừa chặt chẽ và độc lập, tách biệt
với các tông phái khác như Thiền, Mật hay Luật tông. Ở nước ta,
nó không đứng biệt lập và không hề thấy xảy ra những tranh luận
với các hệ tư tưởng khác cũng như đấu tranh trong tự thân nó
để phát triển. Vậy, đặc điểm chung của tư tưởng Tịnh độ tại
nước ta là thế nào?
Để có một nhận định chính xác về điều này, chúng
ta cần khảo sát và so sánh với Tịnh độ tông ở Trung Hoa và Nhật
Bản. Tuy nhiên, ở khuôn khổ một bài báo, chúng tôi không tiện
làm việc đó và cũng không thể khảo sát sự phát triển, các
mặt tư tưởng của trào lưu này ở các giai đoạn lịch sử, mà chỉ
đưa ra vài nhận xét bước đầu qua một số quan niệm đặc thù mang
tính chủ yếu mà thôi.
Như đã nói, từ thời vua Lý Thánh Tông, trào lưu
Tịnh độ đã phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các quan niệm bàn luận
về A Di Đà và Tịnh độ thì mãi đến thế kỷ XIII mới được vua
Trần Thái Tông (1218-1277) đề cập một cách chính thức. Trong sách
Khoá hư lục, Trần Thái Tông đã có hẳn một đề mục là
"Niệm Phật luận", bàn về những lợi ích của phương pháp
niệm Phật. Nhà vua quan niệm con người có ba loại : thượng, trung và
hạ trí. Bậc thượng trí thì tâm tức Phật, do đó pháp môn niệm
Phật chỉ dành cho hai đối tượng là trung và hạ trí. Bên cạnh đó,
cũng trong tác phẩm này, về phương diện thực hành, Trần Thái Tông
cũng đã soạn "Lục thời sám hối khoa nghi" mà kính lễ Phật
a Di Đà và các vị Bồ tát thân cận để sám hối nghiệp chướng
là chủ yếu\. tự tính Di Đà và Tịnh độ được Trần Thái Tông
quan niệm chỉ có ở ngay hiện tiền, trong tâm của con người này mà
không phải thuộc một quốc độ khác tồn tại ngoài thế gian. Quan
điểm đó cũng thống nhất trong các tác phẩm của Tuệ Trung Thượng
Sĩ (1230-1291) và Trần Nhân Tông (1258-1308) (8). Như vậy, trên mặt lý
luận, quan niệm Tịnh độ ở đây được nhìn và giải thích theo đôi
mắt thiền. Đấy là một trong những đặc điểm của trào lưu Tịnh
độ ở giai đoạn thời Trần nói riêng và cũng là một trong những
đặc điểm cãn bản trên phương diện lý luận của tư tưởng Tịnh
độ tại Việt Nam nói chung.
Sau đó, từ thế kỷ XVII trở đi, tư tưởng Tịnh độ
tông Trung Hoa cũng đã được giới thiệu và truyền bá ở nước
ta, bắt đầu là sư Viên Văn Chuyết Chuyết (1590-1644) với tác phẩm
Bồ đề yếu nghĩa, Minh Châu Hương Hải với A Di Đà kinh sớ sao, tư
tưởng của ngài Châu Hoằng qua sự giới thiệu của sư Chân Nguyên
. Những mô tả về sự toàn thiện của thế giới Cực lạc, chủ
trương niệm Phật để nhẹ nghiệp chướng được phước đức trong
đời này, vãng sinh về thế giới Cực lạc sau khi chết cũng được
truyền bá rộng rãi, phù hợp với nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng
của đông đảo quần chúng Phật tử, nhất là cuối thế kỷ XIX đến
nửa đầu thế kỷ XX,
khi đất nước ta đang rơi vào một hoàn cảnh bị xâm
lược, đời sống nhân dân cơ cực lầm than dưới sự đô hộ
khắc nghiệt của thực dân Pháp (9). Cũng trong giai đoạn này, nhiều
nhóm chuyên thực hành niệm Phật (Liên Trì xã, Niệm Phật liên xã
) được thành lập khắp nơi trong nước. Dấu ấn của cao trào này
được thấy qua Phổ khuyến niệm Phật của Thiền sư Tánh Thiên
(1784-1847), các tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật (1755-1832), Phật Thầy
Tây An Ố Đoàn Minh Huyên (1807-1856), các sư Tâm Truyền (1832-1911),
Phước Huệ (1875-1863) v.v.
Tóm lại, trào lưu Tịnh độ ở nước ta dẫu có một
lịch sử lâu dài nhưng không tự thân phát triển thành một tông
phái, không có vị trí độc lập, tách biệt với các pháp môn
khác; đồng thời cũng không phong phú trong lý luận và phương pháp
thực hành như Tịnh độ tông Trung Hoa hay Nhật Bản. Ở phương diện
lý luận, Đức Phật A Di Đà chủ yếu được quan niệm như một mẫu
hình con người lý tưởng tuyệt đối và phương pháp thực hành
nổi bật gần như duy nhất là phương pháp niệm Phật. Sự không tách
biệt độc lập này, có lẽ thuộc về đặc tính của dân tộc ta,
cũng như đã thấy trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, qua sự ra
đời, sinh hoạt và truyền thừa của các dòng thiền. Dẫu là thiền
sư, nhưng trong thực hành tâm linh thì vẫn trì tụng thần chú và
niệm danh hiệu Phật. Trường hợp các thiền sư Lý Thánh Tông, Tịnh
Lực, Trì Bát, Trần Nhân Tông v.vẨ. đã nói sơ lược trên có
thể xem là những tiêu biểu.
Tư tưởng Tịnh độ cũng đã có những ảnh hưởng
sâu sắc đến đời sống tâm linh, vãn hoá, tín ngưỡng của Phật
giáo Việt Nam nói riêng và của dân tộc ta nói chung, đặc biệt là
trong lĩnh vực nghệ thuật (văn học, kiến trúc, điêu khắc.). Chúng
tôi hy vọng sẽ giới thiệu đến độc giả những ảnh hưởng này
một cách tập trung hơn vào dịp khác, nhằm góp phần vào việc tìm
hiểu những điểm đặc thù của tư tưởng và phương pháp thực
hành tâm linh trong truyền thống Phật giáo Việt Nam.
1. Vô lượng thọ kinh chủ yếu trình bày những tiền
thân của Đức Phật A Di Đà và 48 lời nguyện lớn của Ngài khi
chưa thành Phật, khi còn là một tỳ kheo có tên là Pháp Tạng
(Dharmakara). Quán vô lượng thọ chủ yếu nói về 16 phép quán liên
hệ đến thế giới của Đức Phật A Di Đà và các vị Bồ tát Quán
Thế Âm, Đại Thế Chí.
2. Tượng được tạc vào nãm 1066, hiện được thờ
tại chuà Phật Tích (Vạn Phúc tự), thuộc tỉnh Bắc Ninh.
3. Chuà Một Mái, tức chùa Hoàng Kim, nay thuộc xã
Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây\.
4. Theo văn bia tháp Song Thiện Diên Linh ở chùa Đọi.
5. Xem tiểu truyện Thiền sư Tịnh lực, trong Lê Mạnh
Thát, Nghiên cứu về Thiền Uyển Tập Anh, Nxb. TPHCM, 1999, trang 223.
6. Theo những dòng chữ khắc trên bệ tượng hình sư
tử đội tòa sen ở chùa Một Mái, xã Hoàng Ngô, huyện Quốc Oai,
tỉnh Hà Tây
7. Một trong các đài Liên hoa cửu phẩm đó hiện còn
tại chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự), tỉnh Bắc Ninh.
8. Trong bài phú nổi tiếng nói lên chủ trương của
dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử : "Cư trần lạc đạo phú",
ngài Trần Nhân Tông đã viết : "Tịnh độ là lòng trong sạch,
chớ còn hỏi đến Tây phương, Di Đà là tính sáng soi, mựa phải
nhọc tìm về Cực Lạc.".
9. Chẳng hạn, trong Phổ khuyến niệm Phật, thiền sư
Tánh Thiên đã viết :