PHẬT Ở TRONG TÂM
HAY PHẬT Ở NGOÀI TÂM
Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng
---o0o---
Phật! Phật! Phật!
Tâm! Tâm! Tâm
Thức! Thức! Thức! Tỉnh! Tỉnh! Tỉnh
Ðó là hai câu
thơ của ngài Thượng Sỹ Tuệ Trung, một vị công hầu đời Trần, đã từng cầm
quân chống giặc Nguyên, sau bỏ đi tu Phật để suy ngẫm về cái hiện tượng
của Tâm và cái lẽ của Thiền.
Hai câu thơ đó
có ý nói rằng nền giáo lý của Phật, tuy mênh mang như biển cả, xong có thể
thu gọn trong hai chữ Tâm và Phật, hoặc Mê và Ngộ.
Hãy nói về cái
Tâm.
Một lần, trên
núi Linh Sơn, Ðức Thích Ca ngự trên tòa sen, sắp thuyết pháp. Nhưng Ngài
không nói gì cả, chỉ khoan thai đưa một cành hoa, rồi lặng lẽ mỉm cười.
Ðó là tịch niện hoa vi tiếu, độc đáo lối thuyết pháp Phật giáo. Ý Ngài
muốn nói như thế này: "Ta có một chân lý tối thượng, đó là chân lý của
cái Tâm, nhưng cái Tâm này nó lặng lẽ lắm, nó nhỏ nhiệm, tịch mịch, vi
diệu lắm. Ta không thể dùng lời lẽ thế gian mà diễn tả nó được. Vì nếu
ta chỉ động một niệm, chỉ nói một chữ, là Tâm đó đã biến thế rồi. Vậy các
người phải lặng lẽ, nhỏ nhiệm, tịch mịch, vi diệu mà lãnh hội nó. Nhớ đấy!
Nhớ đấy! ..." Nhưng các đệ tử đều ngơ ngác không hiểu, riêng có ngài
Ca Diếp là mỉm cười đáp lại mà thôi. Do đó, Ngài đã truyền tâm ấn cho Ca
Diếp, cùng y bát để làm đệ nhị tổ của Thiền Tông. Trong giòng này, Ðức
Ðạt ma là tổ thứ 28.
Một lần khác,
Ðức Thích Ca xuất định, giảng về kinh Lăng Nghiêm. Cũng là giảng về Tâm.
Nhưng lần này, Ngài bảo ông A Nan đại khái như sau: "Người nên thận
trọng, chớ có vọng tưởng. Cái Tâm ấy nó lạ và huyền nhiệm lắm vì nó là
nguồn gốc của tất cả phép lạ đã tạo nên vũ trụ này. Nó như cái gương
trong đó, vũ trụ này hiện lên như một cảnh huyễn, như một giấc chiêm bao,
như tiếng vang, như mặt trăng dưới đáy nước, như bóng chiếc nhạn in dưới
hồ thu, như ảo ảnh nước mà kẻ lữ hành nhìn thâý trên sa mạc, như những đóm
đỏ vàng mà kẻ dặm mắt nhìn thấy ở hư không. Hãy thức tỉnh! thức tỉnh!
Cái tâm ấy hiển hiện dễ dàng lắm, nhưng nó khó nắm, khó bắt lắm! Nó không
ở trong thân người, nó không ở ngoài thân người, nó cũng không ở khoảng
giữa. Nó không ở chỗ nào hết, nhưng nó ở tất cả. Nó trụ vào cái gì, thì
cái đó trở nên có, nó buông cái đó ra thì nó trở nên không. Nó là anh thợ
vẽ, và chính nó vẽ vời nên cảnh thế gian này cùng tâm giới. Nó động một
niệm là nó nguệch một nét, nét đó biến thành thức, thức đó động lại trên
giòng tâm tư của chúng sinh để trở nên cảnh giới của vũ trụ thế gian....
Nhưng nếu người tỉnh cơn mê, dẹp bỏ lục tặc là lục căn, thì cái thức đó sẽ
hồi đầu, rút khỏi các căn và trở về và ngươi sẽ nắm được cái Tâm."
Sau này, Ðức Huệ
Năng gọi Tâm đó là bản lai diện mục.
Cũng trong kinh
Lăng Nghiêm, Ðức Phật còn dạy: Cái Tâm ấy, bổn tính nó vốn trong sáng.
Vì thế, các ngươi mới có "cái thấy". Cái thấy này là nồng cốt của lục căn,
nhưng nó không phải là lục căn. Lục căn có thể bị tiêu hoại, nhưng nó
không tiêu hoại. Nó không gián đoạn, nó bất diệt, và chính nó đã triển
chuyển theo lẽ nhân quả, trong cái vòng luân hồi qua các kiếp.
Ðọc Tây Du Ký,
thì ta thấy Tề Thiên Ðại Thánh là cái Tâm. Nó ngang ngược, thay đổi không
ngừng, nhưng quyền năng của nó cũng vô cùng. Nó có thể phá cửa nhà trời,
cũng như có thể hồi đầu khi bị giam bởi thần lực của câu chú: Ôm Ma Ni Pát
Mê Hồng. Nó muốn lớn là được lớn, muốn nhanh được nhanh, muốn chậm có
chậm. Có thể biến hoá cây thiết bổng, có thể bước một bước càn đẩu vân
vượt qua 84 ngàn dặm, hoặc muốn bay như con ruồi cũng được. Muốn có một
thân cũng được, hoặc phân thân làm trăm ngàn cũng có... Và Ngài Huyền
Trang đã phải nương vào cái tâm đó, mới đi tới Tây Trúc cầu một cuốn kinh
vô tự.
Bây giờ nói
đến Phật
Ðức Bồ Ðề Ðạt
Ma, chống cây gậy trúc sang Trung Hoa ngồi quay mặt 9 năm vào vách đá,
nhắm đôi mắt biếc lại. Vua Lương Võ Ðế hỏi: Trẫm xây hàng trăm ngôi chùa,
nuôi hàng vạn chư Tăng, có công đức gì không? Ðức Ðạt ma bảo, có chút ít,
nhưng không ăn thua gì... Sở dĩ Ngài nói thế vì muốn bảo vua rằng cần nhất
là phải soi vào Tâm, để trở thành Phật.... Trong một buổi thuyết pháp,
Ngài lại bảo: Phật và Bồ Tát cũng đều là huyễn cả, còn là mê. Hỡi ôi,
tất cả đều là mê cả!!!
Trong Bổn Kinh A
Di Ðà, thì Ðức Thích Ca lại căn dặn: "Về phía Tây, có lạc quốc của Ðức
A Di Ðà, bên cạnh có Ðức Quán Âm và Ðại Thế Chí. Ðức Phật ấy có thực đấy
và nguyện lực của Ngài lớn lắm. Các người nên cầu nguyện mà sang đó."
Tại sao lại có
sự mâu thuẫn như vậy, một đằng bảo Phật là rất có thực, một đằng nói là
huyễn?
Thực ra không có
gì mâu thuẫn. Chỉ là do mê và ngộ mà thôi.
Chư Phật vừa là
huyễn vừa là thực. Khi tâm chúng ta còn mê mờ, chúng sinh coi thân và tâm
là thực, thì chư Phật đối với chúng sinh vẫn là thực và có thể dùng tha
lực cứu độ. Nhưng khi tâm chúng sinh đã ngộ rồi, thì chúng sinh cũng trở
thành huyễn, và chư Phật, vốn là những hình bóng, cũng trở thành huyễn.
Vì cái Tâm ngộ đã vượt qua được lãnh vực đối đãi (dualistic) và đạt tới
trực quan bất nhị. (phi hữu phi không)
Bởi thế, khi một
người niệm Phật, và nuôi một ông Phật trong tâm, thì lúc đầu chỉ có một
ông Phật trong tâm thôi. Niệm lâu sẽ gây một luồng cảm ứng làm động tâm
Ðức Phật ở bên ngoài, tức Ðức A Di Ðà ở Tây Phương. Ðức A Di Ðà liền làm
mọc sẵn một chiếc hoa sen nơi lạc quốc để chờ người niệm Phật. Niệm lâu
hơn nữa, thì Ðức A Di Ðà sẽ đến trước mặt người đó. Như thế, là có hai vị
Phật, một ở ngoài và một ở trong tâm. Niệm đến chỗ rốt ráo và tâm bất
loạn, thì Ðức A Di Ðà sẽ lọt vào tâm người đó, và trở thành một, và Phật
thực cũng trở nên huyễn.
Cho nên, không
thể nói Phật ở ngoài tâm hay trong tâm được. Nói ở ngoài là nói thấp, nói
ở trong là cao hơn một chút. Ðến chỗ rốt ráo, thì Phật là tâm và tâm là
Phật. Cả hai vừa là thực vừa là huyễn. Vả lại, Tâm ở tất cả mọi chỗ, nên
không có trong hay ngoài.
Có mấy chú học
sinh Thiền học ngồi cãi nhau, chỉ một tảng đá trước mặt, và tranh luận
hăng hái. Kẻ thì bảio tảng đá ở ngoài tâm, một anh khác hùng biện hơn nói
là ở trong tâm, và có vẻ thắng lý. Chợt ông thầy đi qua, cười bảo anh này:
Ðá ở trong tâm mày, chắc đầu mày phải nặng, và nhức đầu lắm!....
---o0o---
Cập
nhật : 01-04-2002