ĐỊA TẠNG
BỒ TÁT THÁNH ĐỨC ĐẠI QUAN
(Nhận định tổng
quát về thánh đức của Bồ Tát Ðịa Tạng)
Hoằng Nhất Ðại Sư biên thuật
Chuyển ngữ: Bửu
Quang tự đệ tử Như Hòa
---o0o---
MỤC LỤC:
Lời Tựa
Tháng Chín năm Dân Quốc 21 (Nhâm Thân
–1932), tôi sống tại Trĩ Sơn; cư sĩ Lý Viên Tịnh gởi thư nhờ tôi cung cấp
tài liệu để giúp ông biên soạn tác phẩm Cửu Hoa Sơn Chí. Tôi tự nghĩ từ
khi mình thế phát xuất gia đến nay, chí tâm quy y Ðịa Tạng Bồ Tát suốt 15
năm, thọ ân Ngài rất hậu, từ lâu đã muốn gom chép những giáo tích của Ngài
để lưu truyền trong đời, tán dương thánh đức ngõ hầu báo đáp thâm ân. Nay
chính là đúng lúc vậy. Tháng Hai năm sau, vân du Nam Mân, trụ ở Vạn Thọ
Nham, bèn thu chép những sự việc, gộp thành một cuốn đặt tên là Ðịa Tạng
Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan, giao cho thư cục khắc bản in riêng để lưu hành
và tặng cho cư sĩ Lý Viên Tịnh dùng làm tài liệu.
Cận đại, các sách tán dương, diễn
thuật sự tích Bồ Tát Ðịa Tạng của Tăng, tục rất nhiều; nhưng đa số chỉ dựa
vào mỗi riêng mình kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện. Nay tôi duyệt kỹ Ðại Tạng và
các trước tác của mọi nhà, những điều trước đây người khác đã nói rõ thì
tôi chỉ trình bày đại lược, chẳng hạn như ý chỉ lớn lao của bổn nguyện, sự
ứng tích của Bồ Tát nơi núi Cửu Hoa v.v… Những điều người khác chưa đề cập
đến hay còn thiếu sót thì tôi bổ túc, chẳng hạn như các bài văn khác. Chỉ
tiếc là trong suốt mấy mươi năm qua, đối với những chuyện hóa tích của Bồ
Tát được ghi chép trong Ðại Tạng và các tác phẩm của các nhà, tôi vẫn lưu
ý, nhưng chưa hề ghi chép, chọn lọc tỉ mỉ, đến nay phải biên soạn gấp,
chẳng thể kiểm chứng trọn vẹn được, đành cậy vào trí nhớ để lược chép
thành một quyển, khó lòng tránh khỏi sai sót, lầm lẫn.
Nói chung, tác phẩm này được chia
thành 10 chương:
1) Chương thứ nhất là Thích Danh,
Biện Dị (giải thích danh hiệu, bàn về những điểm sai khác): Do các kinh
khi truyền dịch danh hiệu của ngài Ðịa Tạng, văn tự nhiều ít, có sai khác
đôi chút, nay tôi nêu ra hết, chỉ ra những điểm sai biệt.
2) Chương thứ hai là thuật đại ý kinh
Thập Luân, nêu bật nghĩa kinh, chép ra tường tận. Phần kinh văn xưng tán
công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát trong phẩm Tự chép ra rất dài, chỉ mong những
người thấy nghe đều hoan hỷ lớn, cùng sinh lòng tin sâu xa, chí tâm quy y.
3) Chương thứ ba luận về đại ý kinh
Chiêm Sát, cũng trích lục tường tận.
4) Chương thứ tư luận về đại ý kinh
Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện, tôi theo đúng cuốn Duyệt Tạng Tri Tân của ngài
Ngẫu Ích, sao lục phần cương yếu và trích lục 2 tiết kinh văn phụ thuộc để
chỉ rõ nguyên nhân tại sao ngày nay chúng ta được thọ ân của Bồ Tát.
5) Chương thứ năm tán thán Pháp Thân,
đại ý của nghi quỹ và chân ngôn Diệt Ðịnh Nghiệp.
6) Chương thứ sáu luận về những bản
kinh khác đề cập đến Bồ Tát.
7) Chương thứ bảy nói về các bản chú
sớ của mọi nhà.
8) Chương thứ tám nói về các nghi
thức sám hối của mọi nhà soạn.
9) Chương thứ chín nói về các tác
phẩm tán thán, biên thuật của mọi nhà, trích dẫn nguyên văn cả 19 đoạn
trong tác phẩm Linh Phong Tán Ðịa Tạng Bồ Tát Biệt Tập, chiếm cả 10 trang
giấy, để thấy đại sư Ngẫu Ích cả một đời mổ tim vẩy máu, quy ngưỡng, tin
tưởng, tán dương Bồ Tát, ngõ hầu kẻ hậu học noi gương Bồ Tát tinh tấn tu
trì, thiệu long quang đại.
10) Chương thứ mười là vấn đáp quyết
nghi, chỉ gồm có bốn câu hỏi, lẽ ra chẳng phải chỉ có vậy, tạm đành khuyết
lược.
Lúc sao lục, vì thời gian gấp rút
chẳng thể kiểm chứng tường tận, nên hình thức trình bày cũng chẳng thể
hoàn thiện được…. (1) Trước ngày cảo bản hoàn thành 2 hôm, cư sĩ Lư Thế
Hầu cắt ngón tay lấy máu vẽ một bức thánh tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đem dâng
lên chùa. Thắng duyên khéo gặp, thật chẳng thể nghĩ bàn nên tôi cho chụp
ảnh cẩn thận, đăng ở đầu sách này. Lư cư sĩ, tên tự là Cù Nhi, giỏi hội
họa, xa nhà theo hầu cha già đang sống ở Tư Minh. Ông thiên tánh thuần
hậu, thờ song thân nổi tiếng hiếu nghĩa. Cũng có lẽ là từ nhiều kiếp đến
nay, ông Lư thường được Bồ Tát Ðịa Tạng giáo hóa đó chăng?
Sa môn Hoằng Nhất Diễn Âm trần thuật
tại chùa Ðại Hoa Nghiêm ở Vĩnh Ninh
Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan
Vĩnh Ninh Ðại Hoa Nghiêm tự Sa môn
Hoằng Nhất Diễn Âm kính soạn
A. Chương
thứ nhất: Thích Danh Biện Dị
^
Tên Bồ Tát đọc theo tiếng Phạn là
Khất Xoa Ðể Nghiệt Sa (Ksitigarbha), Hán dịch là Ðịa Tạng. Nhưng trong các
bản kinh truyền dịch, tên Ngài cũng có chỗ được dịch dài hơn, kể ra như
dưới đây:
a) Ðịa Tạng Bồ Tát. Danh hiệu này là
tên thông dụng trong các bản dịch kinh. Ý nghĩa chữ “Ðịa Tạng” như trong
Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh Sớ của đại sư Ngẫu Ích đã giảng rộng.
b) Danh hiệu Ðại Ðịa Tạng Bồ Tát phát
xuất từ phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm bản
dịch đời Tấn.
c) Danh xưng Trì Ðịa Tạng Bồ Tát phát
xuất từ kinh Phật Thuyết La Ma Già được dịch vào đời Tây Tần. Kinh này
chính là bản dịch khác của phẩm Nhập Pháp Giới.
d) Danh hiệu Ðịa Tạng Vương Bồ Tát
phát xuất từ kinh Ðại Thừa Bổn Sanh Tâm Ðịa Quán dịch vào thời Ðường. Ngài
Lai Châu đời Thanh giải thích: “Chấp chưởng U Minh, tùy nguyện tự tại; vì
thế được tôn là Vương”. Nghĩa chữ Vương rất rộng, lời giải thích trên chưa
được trọn vẹn.
B. Chương thứ hai: Ðại ý
kinh Thập Luân
^
Cả ba chương nói về đại ý các kinh
sau đây đều dựa theo tác phẩm Duyệt Tạng Tri Tân của đại sư Ngẫu Ích đời
Minh, chỉ tăng giảm đôi chút.
Kinh này có hai bản dịch:
1) Phật Thuyết Ðại Phương Quảng Thập
Luân Kinh, 8 quyển, dịch vào thời Bắc Lương, mất tên người dịch, cùng một
bản gốc với bản dịch sau, nhưng lời văn thiếu sót, sơ lược.
2) Ðại Thừa Ðại Tập Ðịa Tạng Thập
Luân Kinh, 10 quyển, ngài Huyền Trang dịch vào đời Ðường.
Ở đây, tôi căn cứ vào bản này, lược
chép đại ý.
Người chấp bút cho bản dịch là sư Ðại
Thừa Phưởng, ngài cũng là người soạn bài tựa đặt ở đầu kinh. Sư cho rằng:
Kinh Thập Luân nhằm để giáo hóa chúng sanh thời Mạt Pháp. Kinh minh thị
điều gì? Phật thấy đời ác Mạt Pháp, cách Thánh đã xa, bại căn (căn cơ bại
hoại) giống như đồ đựng hư hỏng, kẻ không kiến cậy vào hiểu biết sanh vọng
tưởng, chìm đắm, say sưa ngũ dục khác nào ruộng cằn, mạ chẳng trổ được,
phóng túng tạo tác thập ác tựa hồ thân cấu uế hôi thối. Vì thế, kinh này
gột rửa tấm thân hôi thối, mở con mắt lòa, đúc nặn lại đồ đựng đã hư vỡ,
vun bón cho ruộng cằn được phì nhiêu. Xem mấy lời ấy đã tạm biết được
những căn cơ được giáo hóa bởi kinh này vậy.
A.1. Phẩm Tự thứ nhất:
Phật ngự tại núi Khư La Ðế Da, từ
phương Nam có đám mây trôi tới, tuôn xuống các thứ cúng dường, diễn các
tiếng Pháp; trong tay mỗi người tham dự pháp hội đều có Như Ý châu tuôn ra
các báu, phóng quang khắp cả mười phương cõi. Họ lại thấy địa đại trên
thân mình tăng thêm nhiều, nặng nề, cứng chắc, khó giở thân lên nổi. Có vị
Thiên Ðế Thích tên là Vô Cấu Sanh, dùng kệ hỏi Phật. Phật vì ông ta rộng
khen công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát. Kinh chép:
“Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Vô Cấu
Sanh Ðế Thích rằng:
- Các ông nên biết: Có Bồ Tát Ma Ha
Tát tên là Ðịa Tạng đã từng trong vô lượng vô số đại kiếp, vào đời trược
ác, thành thục hữu tình trong thế giới không có Phật. Nay Ngài và tám mươi
trăm ngàn na-dữu-đa tần-bạt-đà-la Bồ Tát cùng muốn đến đây lễ kính, thân
cận, cúng dường ta. Vì thấy pháp hội Ðại Tập sanh tâm tùy hỷ nên Ngài cùng
các quyến thuộc hiện hình tướng Thanh Văn, sắp đến nơi đây, bèn dùng sức
thần thông hiện ra sự biến hóa ấy.
Vị Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát này có
vô số vô lượng công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn để trang nghiêm; hết
thảy thế gian, ThanhVăn, Ðộc Giác chẳng thể suy lường được nổi [các công
đức ấy]. Vị Ðại Bồ Tát này là kho tàng các công đức vi diệu, là xuất xứ
của các của báu giải thoát, là tròng mắt sáng sạch của các Bồ Tát, là
người dẫn đường cho các thương nhân đạt đến Niết Bàn. Ngài như châu Như Ý
tuôn ra các tài bảo, tùy theo lòng mong cầu đều được thỏa mãn trọn vẹn.
Ví như bến bãi để thương nhân thu
nhặt của báu, Ngài là ruộng tốt có thể sanh trưởng căn lành, là lạc khí
chứa đầy giải thoát, là hiền bình xuất sanh công đức diệu bảo. Bồ Tát
chiếu soi người hành thiện như mặt trời rạng rỡ, chiếu sáng người lạc
đường giống như đuốc sáng; trừ nóng phiền não như mặt trăng trong mát, như
kẻ không chân được xe cộ, như người đi xa chuẩn bị đầy đủ tư lương, như
người lạc lối gặp người chỉ đường, như kẻ cuồng được uống thuốc hay, như
kẻ tật bệnh gặp được lương y, như người còm cõi, già cả được nương ghế,
gậy; như kẻ mệt nhọc được nghỉ trên giường, tòa.
Ðối với kẻ vượt bốn dòng, Ngài làm
cầu cống. Với kẻ hướng đến bờ kia, Ngài làm thuyền bè. Ngài là quả báo thù
thắng của ba thiện căn, là những dòng nhánh dẫn khởi từ ba gốc thiện,
thường rộng bố thí như bánh xe luôn xoay chuyển, trì giới kiên cố như núi
Diệu Cao, tinh tấn khó hoại như báu Kim Cang, an nhẫn bất động hệt như đại
địa, tịnh lự thâm mật hệt như bí tạng, đạt đến bình đẳng, trang nghiêm,
đẹp đẽ như tràng hoa đẹp, trí huệ rộng sâu hệt như biển cả, chẳng bị nhiễm
trước như thái hư không, diệu quả cận nhân như các cánh hoa, chế phục các
ngoại đạo như sư tử chúa, hàng phục các thiên ma như đại long tượng, chém
giặc phiền não hệt như thần kiếm, chán các huyên tạp như Ðộc Giác thừa,
rửa nhơ phiền não như nước trong sạch, trừ khử hôi thối như gió thổi mạnh,
đoạn các kết phược như đao kiếm sắc, bảo hộ các kẻ sợ hãi như thân thuộc,
như bạn bè, phòng các oán địch như lũy, như thành.
Cứu các nguy nạn hệt như cha mẹ, giấu
kín các kẻ khiếp hèn hệt như rừng rậm, như mùa Hè đi xa náu mình dưới bóng
cây to. Ðối với kẻ nóng khát, ngài làm nước trong lạnh; với kẻ đói làm các
quả ngọt. Với kẻ lõa lồ, ngài làm các y phục. Với kẻ bị nóng bức, thiếu
thốn ngài làm đám mây dầy lớn. Vì kẻ bần cùng làm báu Như Ý. Vì kẻ hoảng
sợ làm chỗ quy y. Vì kẻ trồng cấy làm mưa ngọt nhuần thấm. Vì các nước dơ
làm Nguyệt Ái châu (2). Ngài khiến cho các hữu tình thiện căn chẳng hoại;
hiện cảnh giới mầu nhiệm khiến cho hữu tình vui sướng; khuyến phát hữu
tình càng thêm tàm quý. Với kẻ cầu phước huệ, Ngài làm cho họ được trang
nghiêm đầy đủ; trừ được phiền não như thuốc xổ, thâu nhiếp loạn tâm như
cảnh Ðẳng Trì, biện tài không úng trệ như nước xoay bánh xe guồng, nhiếp
sự buộc tâm như Diệu Sắc Quán, an nhẫn, trụ vững như núi Diệu Cao; tổng
trì rộng sâu hệt như biển cả, thần túc vô ngại ví như hư không; diệt trừ
hết thảy Hoặc Chướng tập khí hệt như vầng mặt trời chói lọi soi tan băng
mỏng, thường dạo chơi trong đường chánh Tịnh Lự Vô Sắc [và] bến bãi quý
báu Trí Nhất Thiết Trí, có thể vô công dụng chuyển đại pháp luân.
Này thiện nam tử! Ðịa Tạng Bồ Tát Ma
Ha Tát đây có vô số vô lượng công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn như thế
đó. Ngài cùng các quyến thuộc muốn đến nơi đây nên trước hết, hiện ra
tướng thần thông như vậy!”
Bồ Tát và các quyến thuộc hiện hình
tướng Thanh Văn, làm lễ dưới chân Phật, tán lễ, cúng dường. Phật lại vì
Hảo Nghi Vấn Bồ Tát rộng thuật vô lượng công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát. Kinh
chép:
“Phật ngôn:
- Hãy nghe cho kỹ! Khéo nghĩ nhớ lấy!
Ta sẽ vì ông lược nói ít phần. Vị Ðại Sĩ như thế thành tựu vô lượng công
đức chẳng thể nghĩ bàn. Ngài đã có thể an trụ trong Thủ Lăng Già Ma
tam-ma-địa; khéo có thể ngộ nhập cảnh giới Như Lai, đã đắc Vô Sanh Pháp
Nhẫn tối thắng, đã được tự tại trong Phật Pháp, đã có thể kham nhẫn hết
thảy địa vị trí huệ, đã có thể vượt qua biển Nhất Thiết Trí, đã có thể an
trụ Sư Tử Phấn Tấn Tràng tam-ma-địa, đã có thể khéo trèo lên núi Nhất
Thiết Trí, đã có thể đập tan ngoại đạo tà luận. Ngài muốn thành thục hết
thảy hữu tình nên đều dừng ở trong hết thảy cõi Phật. Bậc Ðại Sĩ như thế
này hễ dừng ở nơi cõi Phật nào, hễ an trụ trong các tam- ma-địa nào thì
đều phát khởi công đức thù thắng, thành thục vô lượng các hữu tình được
Ngài hóa độ”.
Tiếp đó, kinh văn trần thuật chi tiết
Bồ Tát nhập vào các thứ Ðịnh. Do sức của các Ðịnh ấy, các hữu tình [trong
pháp hội] kia được lợi ích, an lạc. Ở đây chỉ trình bày đại khái như sau:
|
Khiến cho hết thảy
hữu tình trong cõi Phật ấy: |
Ðều được cùng thấy
các cảnh giới Tam Ma Ðịa mà ngài đã thực hành |
|
Vô lượng vật cúng
thượng diệu đáng nên dùng thứ nào thì đều có thể dùng thứ đó để cung
kính cúng dường chư Phật Thế Tôn. |
|
Thảy đều cùng thấy
vô lượng tội lỗi của các cảnh giới cõi Dục nên tâm được thanh tịnh.
|
|
Ðều được đầy đủ
lòng tàm quý tăng thượng, lìa các pháp ác, tâm chẳng quên mất.
|
|
Ðều được thiện xảo
thiên nhãn, trí thông v.v… liễu đạt nhân quả đời này, đời sau.
|
|
Ðều lìa khỏi hết
thảy ưu sầu, hôn muội. |
|
Ðều được đầy đủ
thần thông thiện xảo. |
|
Thấy khắp các cõi
Phật trong mười phương |
|
Xả tà quy chánh,
quy y Tam Bảo. |
|
Thảy đều xa lìa
các sự sợ hãi trong đời sau, đắc pháp an ủi. |
|
Hễ nghĩ đến đều
được thức ăn sung túc. |
|
Không một ai là
chẳng được thế lực tăng thượng, lìa các bệnh khổ. |
|
Tùy theo ý thích
đều được giường, tòa, đồ trải, y phục, đồ trang sức quý báu, các thứ
vật cần dùng không thiếu hụt, thù thắng đẹp đẽ, đoan nghiêm.
|
|
Thật đáng ưa
thích, thân tâm mạnh mẽ, xa lìa hết thảy oán ghét trói buộc, hòa thuận
vui sướng, vui vẻ trọn đủ. |
|
Thí, Giới, an
nhẫn, dũng mãnh, tinh tấn, tâm không tán loạn, thành tựu trí huệ.
|
|
Ðều hưởng vô lượng
hoan hỷ thắng diệu. |
|
Ðắc Vô Ngại Trí,
có thể tu các sự nghiệp thanh tịnh. |
|
Ðều được đầy đủ
các căn chẳng thiếu, thường thích viễn ly, thâm tâm tịch tĩnh.
|
|
Ðều chê trách sâu
xa nghiệp họa của tự thân, đều khéo hộ trì đường trọng yếu để sanh lên
Trời là Thập Thiện Nghiệp Ðạo. |
|
Thảy đều phát khởi
từ tâm, bi tâm, tâm không oán hại, tâm phổ bình đẳng, tâm làm lợi ích
an lạc lẫn nhau. |
|
Lìa các sự đấu đá,
tật dịch, đói kém, mưa gió trái thời, đắng, rít, cay, chua. Các ác sắc
xúc thảy đều tiêu diệt. |
|
Khiến cho cõi Phật
ấy |
Tất cả hết thảy
Tiểu Luân Vi Sơn, Ðại Luân Vi Sơn, Tô Mê Lô Sơn và các núi khác, khe,
suối, ngòi, lạch, ngói, gạch, gai độc, các cây cỏ bẩn thỉu thảy đều
chẳng hiện. |
|
Tất cả hết thảy
các tà, cổ độc, các trùng, thú ác, tai hoạnh, dịch lệ, tối tăm, bụi
bặm, các thứ bất tịnh, hôi thối thảy đều tiêu diệt.
|
|
Ðất phẳng như lòng
bàn tay, các thứ tốt lành tự nhiên đột ngột hiện ra, thanh tịnh thù
thắng, các tướng trang nghiêm. |
|
Hết thảy Ma Vương
và các quyến thuộc thảy đều hoảng hốt, quy y Tam Bảo. |
|
Hết thảy cõi đất
do các báu hợp thành, hoàn toàn không có các khuyết điểm.
|
|
Các thứ cây báu,
cây y phục, cây sanh ra đồ vật báu, cây sanh ra anh lạc, cây hoa, cây
quả, cây sanh ra các thứ âm nhạc, vô lượng nhạc cụ đều trang nghiêm
trọn khắp cõi nước. |
Tiếp đó, kinh lại giảng rộng: Nếu có
ai chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma
Ha Tát thì sẽ đạt được các thứ lợi ích, an lạc. Kinh chép:
“Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
mong cầu các thứ, bị ưu khổ bức ngặt nghèo, mà có thể chí tâm xưng danh,
niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều
được thỏa những điều mình cầu mong đúng như pháp, lìa khỏi các ưu khổ. Tùy
theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay
Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
đói khát bức bách mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được thỏa điều mong cầu
đúng như pháp, thức ăn sung túc. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
thiếu thốn các thứ y phục, vật trang sức báu, thuốc men, giường chiếu, và
các vật cần dùng, có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được thỏa điều mình mong
cầu đúng như pháp: y phục, vật trang sức báu, thuốc men, giường chiếu, và
các vật cần dùng chẳng thiếu thứ gì. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát
sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
đang yêu thương mà bị biệt ly, dù oán ghét vẫn phải chung đụng, mà có thể
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thì hết thảy đều được yêu thương hội hợp, oán ghét biệt ly. Tùy theo
[căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết
Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
thân tâm ưu khổ, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được thân tâm yên ổn,
khỏi hẳn các bệnh. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên
đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
chống trái lẫn nhau, khởi lên các mối tranh đấu, mà có thể chí tâm xưng
danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết
thảy đều bỏ được tâm độc hại, hòa mục với nhau, hoan hỷ chịu đựng, sanh
lòng thẹn hổ đối với nhau, đối với nhau bằng tâm từ. Tùy theo [căn cơ]
thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
giam trong lao ngục, gông, cùm, xiềng, xích trói buộc nơi thân, chịu đủ
các nỗi khổ, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được giải thoát, lao ngục, gông
cùm, xiềng xích; tự tại yên vui. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
đang bị, hoặc lẽ ra phải bị giam cầm, đánh đập tra khảo, sắp sửa bị hại,
mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều tránh khỏi được sự giam cầm, đánh đập, gia
hại. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh
Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
thân tâm nhọc mỏi, khí lực yếu kém, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm
tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được
thân tâm vui sướng, khí lực cường thịnh. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ
Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
các căn chẳng đủ, bất cứ căn nào bị tổn hoại, mà có thể chí tâm xưng danh,
niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều
được các căn đầy đủ, chẳng bị tổn hoại. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ
Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
điên cuồng tâm loạn, bị quỷ mị dựa, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm
tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều được
tâm chẳng cuồng loạn, lìa các ưu não. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát
sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
tham dục, nóng giận, ngu si, phẫn hận, keo kiệt, ganh tỵ, kiêu căng, ngạo
mạn, ác kiến, ham ngủ, phóng dật, si mê v.v… thảy đều lừng lẫy, não loạn
thân tâm, thường chẳng yên vui, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng,
quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều lìa được
tham, sân v.v… thân tâm yên vui. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
lửa đốt, bị nước vùi, bị gió cuốn, hoặc bị rơi rụng, té xuống từ chỗ núi
non, vách núi, bờ vực, cây cối, nhà cửa, trong lòng kinh hoàng, mà có thể
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thì hết thảy đều lìa được nguy nạn, an ổn, không tổn hại. Tùy theo
[căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết
Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
rắn độc, trùng độc cắn phải, hoặc trúng nhằm các thứ độc dược, mà có thể
chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha
Tát thì hết thảy đều lìa được các sự não hại. Tùy theo [căn cơ] thích ứng,
Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
ác quỷ nắm giữ, thành ra các bệnh ngược nên cứ phát bệnh mỗi ngày, hoặc
phát bệnh cách ngày, hoặc cách ba, bốn ngày mới phát bệnh một lần; hoặc
quỷ khiến cho người ấy cuồng loạn, thân tâm run rẩy, mê man, mất cả ý niệm
trọn chẳng biết gì, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng
dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều giải thoát không sợ hãi,
thân tâm yên vui. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên
đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình bị
các Dược Xoa, La Sát, ngạ quỷ, quỷ Tất Xá Giá, quỷ Bố Ðát Na, quỷ Cưu Bàn
Trà, quỷ Yết Tra Bố Ðát Na, quỷ hút tinh khí, và các loài hổ, sói, sư tử,
ác thú, cổ độc, các thứ chú thuật ếm đối, oán tặc, quân trận, và các thứ
kinh sợ khác gây phiền nhiễu, thân tâm hoảng hốt, sợ mất thân mạng, tham
sống sợ chết, ghét khổ cầu vui, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng,
quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy đều lìa được
các sự sợ hãi, bảo toàn thân mạng. Tùy theo [căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ
đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
hoặc vì đa văn, hoặc vì tịnh tín, hoặc vì tịnh giới, hoặc vì tịnh lự, hoặc
vì thần thông, hoặc vì Bát Nhã, hoặc vì giải thoát, hoặc vì sắc đẹp, hoặc
vì giọng hay, hoặc vì hương thơm, hoặc vì vị ngon, hoặc vì cảm xúc êm ái,
hoặc vì lợi dưỡng, hoặc vì tiếng tăm, hoặc vì công đức, hoặc vì khéo léo,
hoặc vì hoa quả, hoặc vì rừng cây, hoặc vì giường tòa, hoặc vì đồ trải,
hoặc vì đường sá, hoặc vì tiền của, gạo thóc, hoặc vì thuốc men, hoặc vì
nhà cửa, hoặc vì tôi tớ, hoặc vì màu sắc, hoặc vì mưa lành, hoặc vì cầu
nước, hoặc vì mùa màng, hoặc vì quạt, phất trần, hoặc vì gió mát, hoặc vì
cầu lửa, hoặc vì xe cộ, hoặc vì con cái, hoặc vì phương tiện, hoặc vì tu
phước, hoặc vì ấm áp, hoặc vì mát mẻ, hoặc vì nghĩ nhớ, hoặc vì các sự lợi
lạc xuất thế gian hay thế gian; trong lúc truy cầu [những điều ấy] bị các
nỗi ưu khổ bức bách ngặt nghèo, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng,
quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì do công đức, sức oai
thần diệu định của vị thiện nam tử đây (tức Ðịa Tạng Bồ Tát) sẽ khiến cho
hết thảy đều lìa được ưu khổ, ý nguyện được thỏa mãn trọn vẹn. Tùy theo
[căn cơ] thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trên đường sinh Thiên hay Niết
Bàn.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình
dùng các hạt giống gieo cấy trong ruộng hoang hoặc ruộng thục (3), dù là
siêng năng chăm sóc hay chẳng siêng năng mà có thể chí tâm xưng danh, niệm
tụng, quy kính, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì do công đức, sức
oai thần diệu định của vị thiện nam tử ấy (tức Ðịa Tạng Bồ Tát) khiến cho
hết thảy quả, hạt sum suê. Vì cớ sao vậy? Vị thiện nam tử này từng ở trong
vô lượng vô số đại kiếp quá khứ, đối trước không thể biết nổi số lượng chư
Phật Thế Tôn, phát ra đại thệ nguyện tinh tấn, kiên cố. Do nguyện lực đó,
vì muốn thành thục các hữu tình nên Ngài thường gìn giữ khắp hết thảy đại
địa, thường gìn giữ khắp hết thảy hạt giống, thường khiến cho khắp hết
thảy hữu tình thọ dụng tùy ý. Do sức oai thần của vị thiện nam tử này
khiến cho rễ, tua, mầm, củ, cành, lá, hoa, quả của hết thảy thảo mộc trong
đại địa thảy đều sinh trưởng, cỏ thuốc, ngũ cốc, lúa mạ, hoa quả sum suê,
chín vàng, tươi tốt, thơm tho, mềm mịn, ngon lành.
Bất cứ ở nơi đâu, nếu các hữu tình vì
tham, sân, si v.v… mãnh liệt mà gây tạo sát sanh, hoặc không cho cứ lấy,
hoặc muốn làm hạnh tà, hoặc nói lời dối trá, hoặc nói thô ác, hoặc nói ly
gián, hoặc nói lời tạp uế, hoặc tham, hoặc sân, hoặc lại còn tà kiến, tạo
nghiệp Thập Ác, nhưng nếu có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính,
cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thì hết thảy phiền não thảy đều tiêu
diệt, xa lìa Thập Ác, thành tựu Thập Thiện, khởi tâm từ bi và tâm lợi ích
đối với các chúng sanh.
Vị thiện nam tử này thành tựu sức công đức oai thần diệu định, dũng mãnh,
tinh tấn như thế. Trong khoảng một bữa ăn, Ngài có thể ở trong vô lượng vô
số cõi Phật, trong mỗi một cõi Phật, trong khoảng bữa ăn có thể độ thoát
vô lượng, vô số các hữu tình được Ngài giáo hóa nhiều như số cát sông Căng
Già, khiến họ lìa các khổ, đều được an vui. Tùy theo căn cơ thích ứng, Bồ
Tát sẽ đặt yên họ trong đường sinh Thiên hay Niết Bàn”.
Phật còn giảng rộng về các thân của
Ðịa Tạng Bồ Tát trong mười phương cõi, vì các hữu tình thuyết pháp thích
ứng. Kinh chép:
“Hoặc có lúc Ngài hiện làm thân Ðại
Phạm Vương vì các hữu tình thuyết pháp thích ứng; hoặc lại hiện làm thân
Ðại Tự Tại Thiên, hoặc hiện thân Tha Hóa Tự Tại Thiên cõi Dục, hoặc hiện
thân Nhạo Biến Hóa Thiên, hoặc hiện thân Ðổ Sử Ða Thiên, hoặc hiện thân Dạ
Ma Thiên, hoặc hiện thân Ðế Thích Thiên, hoặc hiện thân Tứ Ðại Vương
Thiên, hoặc hiện thân Phật, hoặc hiện thân Bồ Tát, hoặc hiện thân Ðộc
Giác, hoặc hiện thân Thanh Văn, hoặc hiện Chuyển Luân Vương, hoặc hiện
thân Sát Ðế Lợi, hoặc hiện thân Bà La Môn, hoặc hiện thân Phiệt Xá, hoặc
hiện thân Thú Ðạt La, hoặc hiện thân trượng phu, hoặc hiện thân phụ nữ,
hoặc hiện thân bé trai, hoặc hiện thân bé gái, hoặc hiện thân Kiện Ðạt
Phược, hoặc hiện thân A Tố Lạc, hoặc hiện thân Khẩn Nại Lạc, hoặc hiện
thân Mạc Hô Lạc Già, hoặc hiện thân rồng, hoặc hiện thân Dược Xoa, hoặc
hiện thân La Sát, hoặc hiện thân Cưu Bạn Trà, hoặc hiện thân Tất Xá Giá,
hoặc hiện thân ngạ quỷ, hoặc hiện thân Bố Ðát Na, hoặc hiện thân Yết Tra
Bố Ðát Na, hoặc hiện thân quỷ Áo Xa Ha Lạc, hoặc hiện thân sư tử, hoặc
hiện thân hương tượng, hoặc hiện thân ngựa, hoặc hiện thân trâu, hoặc hiện
thân các loài cầm thú, hoặc hiện thân vua Diêm La, hoặc hiện thân ngục tốt
cõi Ðịa Ngục, hoặc hiện làm thân các hữu tình trong Ðịa Ngục. Hiện vô số
vô lượng các thân khác loại như thế đó, vì các hữu tình thuyết pháp thích
ứng. Tùy theo căn cơ thích ứng, Bồ Tát sẽ đặt yên họ trong đường sanh
Thiên, Niết Bàn”.
Phật lại so sánh: Chí tâm quy y, xưng
danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát cầu các sở
nguyện là thù thắng nhất. Kinh chép:
“Giả sử có người trong trăm kiếp chí
tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường các vị như Di Lặc,
Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại, Phổ Hiền… là thượng thủ của các đại Bồ Tát Ma
Ha Tát nhiều như cát sông Căng Già để cầu các sở nguyện thì chẳng bằng
người trong khoảng một bữa ăn chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái,
cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát để cầu các sở nguyện, mau chóng được mãn nguyện
trọn vẹn. Vì sao như thế? Ðịa Tạng Bồ Tát lợi ích, an lạc hết thảy hữu
tình, khiến cho sở nguyện của các hữu tình được viên mãn. Ngài giống như
châu Như Ý, cũng lại như kho tàng. Bậc Ðại Sĩ như thế vì muốn thành thục
các hữu tình nên từ lâu đã tu đại nguyện đại bi kiên cố, dũng mãnh, tinh
tấn hơn các vị Bồ Tát khác. Vì thế các ông phải nên cúng dường”.
Khi Phật giảng rộng công đức chẳng
thể nghĩ bàn của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đã xong, chúng hội đều hưng
khởi cúng dường. Kinh chép:
“Lúc bấy giờ, đại chúng đến từ mười
phương: hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát và các Thanh Văn, trời, người, Dược Xoa,
Kiện Ðạt Phược v.v… đều từ chỗ ngồi đứng dậy, tùy theo khả năng của mình,
ai nấy cầm các mảnh vàng, bạc… các hương, hoa báu dâng rải lên Ðịa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát, lại cầm các thứ y phục thượng diệu, bảo châu Mạt Ni, chân
châu, tràng hoa, chuỗi ngọc, dây báu vàng bạc, tràng phan, lọng v.v… dâng
lên Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát; lại dùng vô lượng âm nhạc thượng diệu, các
thứ tán tụng để cung kính cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát”.
Chúng hội đã hưng khởi cúng dường
xong, Ðịa Tạng Bồ Tát bèn chuyển cúng các vật ấy lên đức Thế Tôn, đồng
thời nói thần chú để lợi ích hết thảy.
Trên đây là đại ý của phần Tự Phẩm
thứ nhất. Kinh văn trong phẩm này đa phần tán dương công đức Ðịa Tạng
BồTát nên trích lục ra khá dài dòng, trong các phẩm tiếp sau đây, đa số
chỉ lược dẫn.
A.2. Phẩm Thập Luân thứ hai:
Ðịa Tạng Bồ Tát hỏi Phật: “Làm thế
nào để chuyển được Phật luân trong đời ngũ trược?” Phật đáp: “Do sức bổn
nguyện, thành tựu mười thứ Phật luân nên có thể ngự trong cõi này. Ðó
chính là Thập Ðịa Lực”. Với mỗi một lực, Phật đều ví như Chuyển Luân Thánh
Vương.
A.3. Phẩm Vô Y Hạnh thứ ba:
Lúc bấy giờ trong hội có Ðại Phạm
Thiên tên là Thiên Tạng hỏi Phật các việc: Thiền Ðịnh, đọc tụng, tạo phước
v.v… Phật kể ra mười hai hạnh Vô Y (hạnh không nên làm theo). Nếu như tu
Ðịnh mà vướng phải một hạnh đó thì trọn chẳng thể thành tựu được các tam
ma địa. Ðức Thế Tôn lại còn khen ngợi người tu Ðịnh sẽ được Thích, Phạm,
Hộ Thế Tứ Vương Thiên, Chuyển Luân Vương v.v… tán thán, lễ bái, cung kính,
hầu hạ, dâng cúng trăm ngàn na-dữu-đa vật cúng và nói kệ tụng. Kinh chép:
“Tu Ðịnh dứt được Hoặc, các nghiệp
khác chẳng làm được vậy. Vì thế, tu Ðịnh là cao quý, kẻ trí nên cúng
dường”.
Tiếp đó, Phật dạy người xuất gia dù
phá giới vẫn có thể phát sinh mười thứ tư duy thù thắng; quốc vương, đại
thần chẳng nên làm nhục họ một cách phi lý. Tiếp đó, kinh giảng về tội Ngũ
Vô Gián, bốn tội căn bản, tội báng chánh pháp và tội nghi Tam Bảo, [những
tội này] gọi là đại tội ác nghiệp cực trọng, là pháp chẳng nên thực hành.
Kẻ nào phạm phải đều chẳng phải là đệ tử Phật. Phải nên hộ trì bốn giới
Căn Bản.
Tiếp đó, nhân lời hỏi của tôn giả Ưu
Ba Ly: “Ðời mạt có ác hạnh Bật Sô (tỳ kheo) thì nên dùng phương tiện gì để
quở trách, cử tội, trục xuất và trị phạt?”, Phật giải đáp tường tận. Kế
đấy, ngài Ðịa Tạng Bồ Tát nguyện cứu đời mạt, nên nói trong đời mạt có
mười sự ác (thập ác luân), tức là: Quốc vương, tể quan v.v.. do vì bảo vệ
Bật Sô ác nên não hại những vị tu hành thanh tịnh, hạng vua quan như vậy
gọi là Chiên Ðà La; cho đến đối với kẻ phá giới, không có giới hạnh đều
chẳng nên làm hại, hạ nhục họ. Bồ Tát kể lại những chuyện cổ như La Sát,
voi say đều kính trọng áo ca sa để làm chứng. Nếu xa lìa được 10 điều ác
ấy thì sẽ được 10 pháp tăng trưởng, xa lìa hai mươi lỗi.
Phạm Thiên Thiên Tạng lại nói bài
thần chú Hộ Quốc Bất Thối Luân Tâm.
A.4. Phẩm Hữu Y Hạnh thứ tư:
Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi: “Phật đã
bảo kẻ phá giới chẳng phải là đệ tử Phật, nhưng sao chẳng cho phép hủy
nhục họ? Hơn nữa, trong các kinh khác kinh nào cũng chỉ riêng khen ngợi
Ðại Thừa, cớ sao trong kinh này lại nói: Ðối với pháp Tam Thừa đều chẳng
cho ẩn giấu?” Phật đáp: Có 10 loại hữu tình khó được thân người, lại có
mười pháp vô y hạnh sai khác, có bốn thứ Tăng và bốn thứ Sa Môn. Vì thế kẻ
phá giới tuy chẳng phải là đệ tử Phật, chẳng đáng hưởng cúng dường, nhưng
vẫn có hình dáng thánh hiền nên chẳng được làm hại, hủy nhục họ. Tam Thừa
đều là phương tiện độ sanh của Như Lai nên dù có tu Ðại Thừa cũng chẳng
được phế bỏ hai thừa kia.
Tiếp đó, Phật lại dạy mười Hữu Y hạnh
mà ba thừa cùng có, lại có mười Hữu Y Hạnh mà Ðộc Giác và Ðại Thừa cùng
chia sẻ. Rồi Phật dạy Ðại Thừa Vô Trần Cấu Hạnh Luân, Vô Thủ Hạnh Luân.
Tùy theo căn cơ chúng sanh nói pháp Tam Thừa, giới, tịnh, từ bi an lạc hết
thảy thì mới gọi là Ðại Thừa.
A.5. Phẩm Sám Hối thứ năm:
Chúng hội nghe pháp ai nấy đều sám
hối tội trước. Phật vì họ giảng mười pháp khiến cho Bồ Tát đạt được con
đường chánh Vô Tội Pháp Nhẫn. Tiếp đó, Phật dạy: đã đắc pháp nhẫn rồi,
Phật mới chấp thuận cho họ được ở ngôi vua. Hoặc phải hành Thập Thiện,
hoặc tin Tam Bảo mới đáng giữ ngôi vua. Nếu không, chắc chắn sẽ bị đọa
lạc.
A.6. Phẩm Thiện Nghiệp Ðạo, thứ sáu:
Kim Cang Tạng Bồ Tát lại hỏi: Làm thế
nào để người trong Tam Thừa đắc pháp không lầm lỗi, cho đến tâm hạnh
nguyện Bồ Ðề không chán đủ? Phật đáp: Mười thiện nghiệp đạo chính là thập
luân của Bồ Tát. Phật giảng rộng về nhân quả lợi ích; tiếp đó, Ngài bài
xích điều sai, khuyên tu [điều đúng]. Kinh chép:
“Vì thế, thiện nam tử! Nếu chẳng chân
thật mong cầu mười thiện nghiệp đạo như thế để chứng Phật Quả, và tệ nhất
là chẳng chân thật thủ hộ một thiện nghiệp đạo nào, cho đến lúc mạng
chung, tự xưng rằng: Ta là người hành Ðại Thừa chân thật, ta cầu Vô Thượng
Chánh Ðẳng Bồ Ðề, thì hãy biết rằng gã Bổ Ðặc Già La (hữu tình) ấy hư dối
đến cùng cực, là đại vọng ngữ, đối trước chư Phật Thế Tôn trong mười
phương cõi mà dối gạt thế gian, không thẹn, không hổ, nói Không Ðoạn Kiến,
lường gạt, dối trá, ngu si, [khi] thân hoại mạng chung sẽ đọa trong các
đường ác!
Này thiện nam tử! Nếu chỉ nói bàn và
chỉ thấy nghe, chẳng do tu hành Thập Thiện nghiệp đạo mà có thể đắc Bồ Ðề,
bát Niết Bàn; trong một kiếp, hoặc trong một niệm mà có thể khiến cho các
chúng sinh nhiều như toán, số, vi trần trong hết thảy cõi Phật nơi mười
phương đều đạt Chánh Giác, nhập Niết Bàn thì trọn chẳng có lẽ ấy. Vì cớ
sao thế? Thập Thiện nghiệp đạo là cội gốc của Ðại Thừa, là nhân của Bồ Ðề,
là thang bậc kiên cố để chứng Niết Bàn.
Này thiện nam tử! Nếu chỉ do sức phát
tâm thệ nguyện, chẳng do tu hành Thập Thiện nghiệp đạo mà có thể đắc Bồ
Ðề, bát Niết Bàn; trong một kiếp, hoặc trong một niệm mà có thể khiến cho
các chúng sinh nhiều như toán, số, vi trần trong hết thảy cõi Phật nơi
mười phương đều đạt Chánh Giác, nhập Niết Bàn thì trọn chẳng có lẽ ấy. Vì
cớ sao thế? Thập Thiện nghiệp đạo là căn bản của quả báo công đức xuất thế
thù thắng.
Này thiện nam tử! Nếu chẳng tu hành
Thập Thiện nghiệp đạo, dù có trải qua các kiếp nhiều như số vi trần trong
mười phương hết thảy cõi Phật, tự xưng là Ðại Thừa, hoặc nói, hoặc nghe,
hoặc chỉ phát tâm, hoặc phát thệ nguyện, vẫn trọn chẳng thể chứng được Bồ
Ðề Niết Bàn, cũng chẳng làm cho người khác thoát khổ sanh tử được nổi.
Này thiện nam tử! Phải do tu hành
Thập Thiện nghiệp đạo thì thế gian mới có các dòng đại phú quý như sát đế
lợi, bà la môn v.v… Từ Tứ Thiên Vương thiên cho đến Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ thiên hoặc Thanh Văn thừa, hoặc Ðộc Giác thừa, cho đến Vô Thượng
Chánh Ðẳng Bồ Ðề đều do tu hành Thập Thiện nghiệp đạo phẩm loại sai khác.
Vì vậy, thiện nam tử! Nếu muốn mau
được mãn nguyện Vô Thượng Chánh Ðẳng Bồ Ðề thì nên tu Thập Thiện nghiệp
đạo như vậy để tự trang nghiêm, chứ chẳng phải là trụ trong Thập Ác, chẳng
hợp luật nghi mà có thể viên mãn đại nguyện Vô Thượng Chánh Ðẳng Bồ Ðề như
thế được. Nếu cầu mau được ngộ cảnh giới Ðại Thừa, mau chứng Vô Thượng
Chánh Ðẳng Bồ Ðề, mau mãn hết thảy pháp nguyện thì trước hết phải hộ trì
Thập Thiện nghiệp đạo. Vì cớ sao thế? Thập Thiện nghiệp đạo là căn bản để
an lập hết thảy công đức thiện pháp, là nhân của quả báo thế gian, xuất
thế gian thù thắng. Vì thế phải tu Thập Thiện nghiệp đạo.
A.7. Phẩm Phước Ðiền Tướng thứ bảy:
Kinh lại dạy về mười Tài Thí Ðại Giáp
Trụ Luân của Bồ Tát, mười Pháp Thí Ðại Giáp Trụ Luân, Tịnh Giới Ðại Giáp
Trụ Luân, An Nhẫn Ðại Giáp Trụ Luân, Tinh Tấn Ðại Giáp Trụ Luân, Tịnh Lự
Ðại Giáp Trụ Luân, Bát Nhã và Thiện Xảo Phương Tiện Ðại Giáp Trụ Luân, Ðại
Từ Ðại Giáp Trụ Luân, Ðại Bi Ðại Giáp Trụ Luân, Kiên Cố Ðại Nhẫn Ðại Giáp
Trụ Luân. Có thế mới làm đại phước điền cho hết thảy Thanh Văn, Ðộc Giác.
A.8. Phẩm Hoạch Ích, Chúc Lụy (Ðạt
lợi ích, dặn dò) thứ tám
Ðại chúng ai nấy được lợi ích vô
lượng, Phật đem pháp này phó chúc cho Hư Không Tạng Bồ Tát. Kinh chép:
“Này thiện nam tử! Ta nay đem pháp
môn Ðịa Tạng Thập Luân Ðại Ký giao vào tay ông, ông nên thọ trì, khiến cho
được lưu truyền rộng rãi. Nếu các chúng sanh đối với pháp môn này mà có
thể đọc tụng, tư duy nghĩa lý, giải nói cho người khác trụ chánh hạnh thì
ông hãy nên vì người đó thủ hộ mười pháp khiến cho được lợi ích, an lạc
trong đêm dài. Những gì là mười?
Một là vì kẻ ấy thủ hộ khiến hết thảy
tiền của, địa vị chẳng bị thiếu hụt.
Hai là vì kẻ ấy thủ hộ khiến cho hết
thảy oán địch chẳng xâm hại được.
Ba là vì kẻ ấy thủ hộ khiến bỏ được
hết thảy tà kiến, tà quy, thập ác nghiệp đạo.
Bốn là vì kẻ ấy thủ hộ khiến chẳng bị
lãnh hết thảy hình phạt trên thân hay bị trách phạt bằng lời nói.
Năm là vì kẻ ấy thủ hộ, ngăn che,
đoạn trừ hết thảy báng hủy, coi thường, đùa bỡn.
Sáu là vì kẻ ấy thủ hộ khiến cho đối
với hết thảy quỹ phạm, thi-la (giới) đều chẳng vi phạm.
Bảy là vì kẻ ấy thủ hộ khiến trừ diệt
hết thảy phi nhân, tứ đại trái nghịch nhau, già, bệnh không đúng thời.
Tám là vì kẻ ấy thủ hộ khiến chẳng
gặp phải hết thảy tai nạn phi thời, phi lý, chết yểu.
Chín là vì kẻ ấy thủ hộ khiến lúc sắp
chết, được thấy hết thảy hình sắc của chư Phật.
Mười là vì kẻ ấy thủ hộ khiến cho sau
khi chết, được sanh trong đường lành, lợi ích yên vui.
Này thiện nam tử! Nếu các hữu tình
đối với pháp môn này mà có thể đọc tụng, tư duy ý nghĩa, vì người khác
giải nói, trụ trong chánh hạnh thì ông hãy nên vì người ấy càng thêm siêng
năng thủ hộ mười pháp như thế khiến kẻ ấy được lợi ích, an lạc trong đêm
dài”.
Phụ chú:
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Ðà Ra Ni, 1
quyển, do ngài Huệ Lâm dịch đời Ðường được nhắc đến trong quyển 18 của tác
phẩm Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa chính là bản dịch của phần kinh văn nói về
đà ra ni trong phẩm Tự của kinh ÐịaTạng Thập Luân.
Pháp Sư Huệ Lâm nói: “Ðịa Tạng Bồ Tát
Ðà Ra Ni trong kinh vốn là cổ dịch, âm vận không sát [với âm gốc], dùng
chữ mâu thuẫn. Nay tôi có bản thọ trì bằng tiếng Phạn, nhân đó, bèn sửa
đổi âm nghĩa, y theo kinh văn dịch lại. Những vị biết tiếng Phạn xin hãy
so sánh hai bản sau sẽ biết chi tiết”.
Nhận định:
Trước sau, Ðà Ra Ni này có ba bản
dịch, một bản được chép trong phẩm Tự kinh Ðại Phương Quảng Thập Luân đời
Bắc Lương, bản thứ hai là đà ra ni chép trong bản kinh Ðịa Tạng Thập Luân
dịch thời Ðường và bản thứ ba là bản dịch lưu hành riêng được nói ở trên
đây.
C. Chương thứ ba: Ðại ý
kinh Chiêm Sát
^
Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo
gồm 2 quyển, do sa môn Bồ Ðề Ðăng người ngoại quốc dịch vào đời Tùy.
Ðại sư Ngẫu Ích đời Minh bảo: “Kinh
này thật sự là thuốc thần để chữa bịnh trong đời mạt, chẳng thể chẳng gấp
gáp lưu truyền”.
Trong quyển thượng, Phật ngự trong
núi Kỳ Xà Quật tại thành Vương Xá, Bồ Tát Kiên Tịnh Tín vì chúng sanh đời
mạt thưa hỏi phương tiện. Kinh chép:
“Kiên Tịnh Tín Bồ Tát thưa:
- Như trước kia Phật đã nói: ‘Nếu như
ta đã qua đời, sau khi Chánh Pháp diệt mất, Tượng Pháp sắp tận, sắp vào
đời Mạt, trong thời gian như thế, chúng sanh phước mỏng, lắm nỗi suy não,
cõi nước lắm phen loạn lạc, tai nạn xảy ra mãi, các thứ ách nạn kinh sợ
bức nhiễu. Các đệ tử của ta đánh mất thiện niệm, chỉ thêm lớn tham, sân,
ghen ghét, ngã mạn, dù có vẻ dường như hành thiện pháp, nhưng chỉ chăm cầu
lợi dưỡng, danh tiếng thế gian là chính, chẳng thể chuyên tâm tu yếu đạo
xuất thế. Lúc bấy giờ, các chúng sanh thấy tai ương, loạn lạc trong đời,
tâm thường khiếp nhược, buồn sợ thân mình và các thân thuộc chẳng được cơm
no, áo ấm. Do bởi lắm nhân duyên chướng ngại như vậy nên đối với Phật
pháp, họ là kẻ độn căn, ít lòng tin, đắc đạo lại cực ít. Thậm chí dần dần
người sanh lòng tin, thành tựu trong Tam Thừa cũng lại rất hiếm. Tất cả
những người tu học Thiền Ðịnh thế gian, phát sanh các thần thông, tự biết
túc mạng, lần lần không còn có ai. Như thế, đến khi vào trong đời Mạt Pháp
đã lâu, kẻ đắc đạo, giữ lòng tin, tu Thiền Ðịnh đạt thần thông v.v... hoàn
toàn không còn có ai nữa’.
Con nay vì những kẻ thiện căn ít ỏi
trong thời ác vị lai Tượng Pháp sắp hết và trong đời Mạt Pháp, thưa hỏi
Như Lai lập phương tiện nào, khai thị, dạy dỗ khiến họ sanh tín tâm, trừ
được suy não, bởi vì lúc họ gặp phải sự ác, do sẵn lắm chướng ngại, họ sẽ
lui sụt thiện tâm. Ðối với pháp nhân quả thế gian và xuất thế gian, họ
nhiều lần đem lòng ngờ vực, chẳng thể vững tâm chuyên cầu pháp lành. Chúng
sanh như thế đáng thương, đáng cứu. Ðức Thế Tôn đại từ, Nhất Thiết Chủng
Trí, nguyện lập phương tiện để hiểu dụ, khiến họ lìa khỏi lưới nghi, trừ
các chướng ngại, tăng trưởng lòng tin, ở trong thừa nào cũng mau được bất
thối”.
Phật bảo Ngài đem hỏi Ðịa Tạng Bồ
Tát, đồng thời minh thị địa vị cao quý và nhân duyên thù thắng của Bồ Tát.
Kinh chép:
“Từ khi Ðịa Tạng Bồ Tát phát tâm đến
nay đã trải qua vô lượng, vô biên chẳng thể nghĩ bàn a tăng kỳ kiếp. Từ
lâu, Ngài đã vượt qua biển Tát Bà Nhã, công đức viên mãn, trọn đủ, nhưng
chỉ y theo sức bản nguyện tự tại, quyền xảo hiện hóa hiện bóng trong mười
phương.
Tuy Ngài đi vào khắp hết thảy cõi
nước, thường khởi công nghiệp, nhưng Ngài đặc biệt chú trọng đến đời ác
ngũ trược. Ðiều đó cũng là do sức bản nguyện huân tập vậy và cũng do chúng
sanh đáng được hưởng sự giáo hóa của Ngài. Từ mười một kiếp đến nay, Bồ
Tát trang nghiêm thế giới này, thành thục chúng sanh. Vì thế ở trong hội
này, thân tướng Ngài đoan nghiêm, oai đức thù thắng, ngoại trừ Như Lai,
không ai hơn được Ngài.
Lại nữa, sự nghiệp hóa độ của Ngài
trong thế giới này, chỉ trừ các vị Biến Cát (Phổ Hiền), Quán Thế Âm v.v…
các Ðại Bồ Tát đều chẳng sánh bằng được. Vì vậy, sức bản thệ nguyện của Bồ
Tát nhanh chóng thỏa mãn hết thảy sở cầu của chúng sanh, diệt hết thảy tội
trọng của chúng sanh, trừ các chướng ngại, được an lạc trong hiện đời.
Lại nữa, vị Bồ Tát nầy còn có tên là
Bậc Khéo Nói An Ủi, nghĩa là: khéo nói pháp sâu, khéo chỉ dạy khiến kẻ sơ
học khởi lòng cầu Ðại Thừa chẳng bị khiếp nhược. Do các nhân duyên như
thế, trong thế giới này, chúng sanh khát ngưỡng, nhận sự giáo hóa, đắc độ.
Bởi thế, ta nay bảo Bồ Tát ấy hãy nói”.
Ðịa Tạng Bồ Tát bèn dạy 3 thứ mộc
luân để khảo sát nghiệp báo thiện, ác trong ba đời, đồng thời chỉ dạy
phương pháp sám hối như trong kinh đã rộng nói.
Trong quyển hạ, Ðịa Tạng Bồ Tát lại
chỉ ra cảnh giới Nhất Thật và hai thứ phép Quán: Duy Tâm Thức Quán và Chân
Như Thực Quán. Ðịa Tạng Bồ Tát lại vì kẻ thiện căn mỏng manh, phiền não
dày đặc, lắm nghi, lắm chướng, dạy riêng một phương tiện để lìa chướng
duyên, cầu sanh Tịnh Ðộ. Kinh chép:
“Nếu ai dù học những tín giải như thế
nhưng vì thiện căn mỏng manh, chẳng thể tiến lên, chẳng tạm chế phục được
các ác nghiệp phiền não, trong lòng ngờ vực, khiếp hãi, sợ đọa ba đường
ác, sợ sanh trong chỗ tám nạn, sợ chẳng thường được gặp gỡ Phật, Bồ Tát
v.v… chẳng được cúng dường, nghe lãnh chánh pháp, sợ khó thể thành tựu
hạnh Bồ Ðề. Có những điều nghi ngờ, sợ hãi và các thứ chướng ngại như thế
thì hãy nên trong mọi lúc, trong mọi chỗ, thường siêng tụng niệm danh hiệu
của ta. Nếu được nhất tâm, thiện căn tăng trưởng, tâm ý sắc bén thì hãy
nên quán pháp thân của ta và pháp thân của hết thảy chư Phật thể tánh bình
đẳng với thể tánh của thân chính mình, không hai, không khác, chẳng sanh,
chẳng diệt, thường, lạc, ngã, tịnh, công đức viên mãn, đáng để quy y. Lại
nên quán sát tướng trạng thân tâm của chính mình là vô thường, khổ, vô
ngã, bất tịnh, như huyễn, như hóa, đáng nên chán lìa.
Nếu có thể tu học phép Quán như thế
thì sẽ mau được tăng trưởng tâm tịnh tín, tất cả các chướng dần dần tổn
giảm. Vì cớ sao? Người ấy gọi là học tập, nghe danh hiệu ta thì cũng có
thể học tập, nghe danh hiệu mười phương chư Phật. Ðã có thể học chí tâm,
lễ bái, cúng dường ta thì cũng có thể học chí tâm, lễ bái, cúng dường mười
phương chư Phật. Gọi là học nghe kinh Ðại Thừa sâu xa, gọi là học nắm giữ,
biên chép, cúng dường, cung kính kinh Ðại Thừa sâu xa, gọi là học thọ trì,
đọc tụng các kinh Ðại Thừa sâu xa, gọi là học xa lìa tà kiến, đối với
chánh nghĩa sâu chẳng hủy báng, gọi là học tin hiểu Ðệ Nhất Thật Nghĩa rốt
ráo rất sâu, gọi là có thể trừ được các tội chướng, gọi là sẽ được vô
lượng công đức tụ tập. Người ấy xả mạng thì trọn chẳng đọa vào ác đạo, chỗ
tám nạn, lại được nghe chánh pháp, quen tin tưởng, tu hành, cũng có thể
tùy nguyện vãng sanh cõi Phật thanh tịnh ở phương khác.
Lại nữa, nếu ai muốn sanh về cõi Tịnh
nào trong hiện tại ở mười phương thì hãy nên dốc lòng tụng niệm danh hiệu
của đức Phật ở thế giới đó, nhất tâm bất loạn; quán sát như trên thì quyết
định sẽ được sanh về cõi tịnh của đức Phật ấy, thiện căn tăng trưởng, mau
được bất thối”.
Kế đó, Bồ Tát dạy về tam nhẫn, tứ
Phật để tỏ rõ địa vị viên mãn, và khéo léo thuyết pháp an ủi kẻ khiếp
nhược, xa lìa cái lỗi chống đối nhau.
Ðịa Tạng Bồ Tát thuyết pháp xong,
Phật phó chúc thọ trì. Kinh chép:
“Lúc bấy giờ, đức Phật bảo các đại
chúng rằng:
- Các vị ai nấy hãy nên thọ trì pháp
môn này, lưu truyền rộng rãi trong nơi mình ở. Vì cớ sao vậy? Pháp môn như
thế này rất là khó gặp, có đại lợi ích. Nếu ai được nghe danh hiệu Ðịa
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát và tin lời Ngài dạy thì phải biết là người ấy mau
lìa được hết thảy tất cả sự chướng ngại, mau đạt đến đạo Vô Thượng.
Ngay khi đó, đại chúng đều cùng phát
nguyện: “Con sẽ thọ trì, lưu truyền trong thế gian, chẳng dám để mất”.
D. Chương thứ tư: Ðại ý
kinh Bổn Nguyện ^
Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện gồm
hai quyển, bản thông dụng chia thành 3 quyển, do sa-môn Thật Xoa Nan Ðà
người nước Vu Ðiền dịch vào thời Ðường.
D.1. Phẩm thứ nhất: Ðao Lợi Thiên
Cung Thần Thông
Phật ngự trên trời Ðao Lợi, vì mẹ
thuyết pháp. Mười phương chư Phật, Bồ Tát nhóm hội khen ngợi. Như Lai mỉm
cười, phóng ra mây quang minh, phát ra tiếng vi diệu. Mười phương Trời,
Rồng, quỷ thần thảy cũng đều đến dự hội. Phật vì Văn Thù Bồ Tát nói nhân
xưa của Ðịa Tạng Bồ Tát.
D.2. Phẩm thứ hai: Phân Thân Tập Hội
Các phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát
trong chốn địa ngục ở mười phương và các chúng sanh được Ngài giáo hóa đến
gặp Thế Tôn. Thế Tôn xoa đầu phó chúc, kinh chép:
“Ông xem: Ta trong bao kiếp siêng khổ
độ thoát các chúng sanh tội khổ ương ngạnh khó bề giáo hóa như thế. Những
kẻ chưa được điều phục sẽ phải theo nghiệp báo ứng. Như lúc chúng bị đọa
ác đạo chịu sự khổ lớn, ông hãy nên nghĩ nhớ lúc ta ở trên cung trời Ðao
Lợi ân cần dặn dò, đều khiến cho các chúng sanh trong thế giới Sa Bà mãi
đến khi đức Di Lặc xuất thế, đều được giải thoát, vĩnh viễn lìa khỏi các
khổ, gặp Phật thọ ký”.
D.3. Phẩm thứ ba: Quán Chúng Sanh
Nghiệp Duyên
Ma Da Phu Nhân hỏi về những đường ác
do nghiệp báo chiêu cảm, Ðịa Tạng Bồ Tát đáp đại lược về 5 sự vô gián.
D.4. Phẩm thứ tư: Diêm Phù Chúng Sanh
Nghiệp Cảm
Ngài Ðịnh Tự Tại Vương Bồ Tát lại hỏi
về nhân xưa, Phật lại lược thuyết 2 chuyện. Tứ Thiên Vương thỉnh vấn về
phương tiện đại nguyện của Bồ Tát, Phật lại thuật những pháp báo ứng mà Bồ
Tát đã nói.
D.5. Phẩm thứ năm: Ðịa Ngục Danh Hiệu
Phổ Hiền Bồ Tát hỏi, Ðịa Tạng Bồ Tát
đáp.
D.6. Phẩm thứ sáu: Như Lai Tán Thán
Phật phóng quang minh nơi thân, vang
ra âm thanh lớn khen ngợi Ðịa Tạng Bồ Tát. Phổ Quảng Bồ Tát thưa hỏi về
lợi ích. Phật vì Bồ Tát phân biệt giải đáp về các việc: thờ tượng, đọc
tụng kinh, trì danh v.v…
D.7. Phẩm thứ 7: Lợi Ích Tồn Vong
Ðịa Tạng Bồ Tát bạch Phật phổ khuyến
chúng sanh đoạn ác, tu thiện. Trưởng giả Ðại Biện thưa hỏi về công đức
siêu độ người chết, Ðịa Tạng Bồ Tát dạy: Siêu độ người chết, trong bảy
phần công đức, người mất chỉ hưởng được một.
D.8. Phẩm thứ tám: Diêm La Vương
Chúng Tán Thán
Quỷ Vương và Diêm La Thiên Tử nương
vào sức oai thần của Phật và Bồ Tát đều lên đến trời Ðao Lợi, thưa hỏi vì
sao chúng sanh chẳng nương theo đường lành. Phật dùng thí dụ người mê đi
lạc đường để giảng. Lại còn có Ác Ðộc Quỷ Vương, Chủ Mạng Quỷ Vương, mỗi
ông đều phát thiện nguyện, Phật khen ngợi, ấn khả và thọ ký cho Chủ Mạng.
D.9. Phẩm thứ chín: Xưng Phật Danh
Hiệu
Vì để lợi ích chúng sanh, Ðịa Tạng Bồ
Tát diễn thuyết công đức của danh hiệu chư Phật quá khứ.
D.10. Phẩm thứ 10: Giảo Lượng Bố Thí
Công Ðức Duyên
Ðịa Tạng Bồ Tát thưa hỏi, Phật phân
biệt đáp.
D.11. Phẩm thứ 11: Ðịa Thần Hộ Pháp
Kiên Lao Ðịa Thần minh thị mười điều
lợi do thờ hình tượng Bồ Tát.
D.12. Phẩm thứ 12: Kiến Văn Lợi Ích
Phật phóng quang minh từ trên đỉnh
đầu, dùng diệu âm xưng dương Ðịa Tạng Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát thỉnh vấn
về những sự chẳng thể nghĩ bàn, Phật bèn phân biệt giải đáp những sự cúng
dường hình tượng, thọ trì danh hiệu v.v…
D.13. Phẩm thứ 13: Chúc Lụy Nhân
Thiên
Phật lại xoa đầu Ðịa Tạng Bồ Tát,
giao phó Bồ Tát hóa độ các chúng sanh, kinh chép:
“Này Ðịa Tạng! Này Ðịa Tạng! Hãy nhớ
hôm nay ta ở trên trời Ðao Lợi, giữa đại hội của trăm ngàn vạn ức bất khả
thuyết bất khả thuyết hết thảy chư Phật, Bồ Tát, trời, rồng tám bộ lại đem
các hàng trời, người, chúng sanh chưa thoát khỏi tam giới còn ở trong nhà
lửa giao phó cho ông, chẳng để cho một chúng sanh nào đọa lạc trong đường
ác dẫu chỉ một ngày một đêm, huống hồ là lại bị đọa lạc vào Ngũ Vô Gián và
địa ngục A Tỳ suốt cả trăm vạn ức kiếp, chẳng có lúc ra.
Này Ðịa Tạng! Chí tánh của chúng sanh trong Nam
Diêm Phù Ðề đây vô định, quen thói ác thì nhiều, dù có phát thiện tâm,
trong khoảnh khắc lại lui sụt. Nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng.
Bởi lẽ đó, ta phân ra trăm ngàn ức thân để hóa độ, tùy theo từng căn tánh
mà độ thoát.
Này Ðịa Tạng! Nay ta ân cần đem hàng trời,
người giao phó cho ông. Trong đời vị lai, nếu có trời, người và thiện nam
tử, thiện nữ nhân gieo được chút thiện căn trong Phật pháp [chỉ bằng] một
sợi lông, một hạt bụi, một hạt cát, một giọt nước thì ông nên dùng đạo lực
ủng hộ kẻ đó, dần dần tu tập Vô Thượng chớ để thối thất.
Lại này Ðịa Tạng! Trong đời mai sau, dù trời
hay người theo nghiệp báo ứng, rớt trong ác đạo, lúc sắp đọa trong đường
ác, hoặc đã đến cửa đường ác mà nếu các chúng sanh ấy niệm được danh hiệu
một đức Phật, một vị Bồ Tát, một câu, một kệ kinh điển Ðại Thừa thì ông
nên dùng thần lực phương tiện cứu vớt các chúng sanh ấy. Ở chỗ người ấy,
ông sẽ hiện vô biên thân để làm tan nát địa ngục khiến kẻ ấy được sanh lên
trời, hưởng sự vui thù thắng, mầu nhiệm”.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bèn nói kệ rằng:
Hiện tại, vị lai chúng trời người
Ta nay ân cần giao cho ông
Dùng đại thần thông, phương tiện độ
Ðừng cho ác đạo lọt vào trong.
Kế tiếp đó, Hư Không Tạng Bồ Tát nói hai mươi
tám lợi ích do được thấy hình tượng Ðịa Tạng, nghe kinh điển này; và lại
nói bảy điều lợi ích.
Phụ chú:
Kinh Phật Thuyết Ðịa Tạng Bồ Tát Phát Tâm Nhân
DuyênVương Thập Vương, 1 quyển, do Tạng Xuyên đời Ðường biên thuật được
chép trong Tục Tạng Kinh của Nhật Bản là kinh do người đời ngụy tạo, chẳng
nên lưu thông.
E. Chương thứ năm: Ðại ý [các kinh] tán dương Pháp Thân, các nghi quỹ cùng
Diệt Ðịnh Nghiệp Chân Ngôn
^
a) Bách Thiên Tụng Ðại Tập Kinh Ðịa Tạng Bồ
Tát Thỉnh Vấn Pháp Thân Tán, 1 quyển, do ngài Bất Không dịch vào đời
Ðường. Kinh này tán thán công đức của Pháp Thân, Pháp Giới, Bồ Ðề, Niết
Bàn, Thập Ðịa, Ðẳng Giác, Diệu Giác, tất cả đều dùng thể loại kệ tụng 5
chữ; cuối cùng là bài kệ bảy chữ như sau:
Nếu ai tương ứng hiển lý này,
Chỉ dùng thân, huệ để phân tích,
Kẻ ấy sanh trong hoa sen sạch
Nghe Vô Lượng Thọ Phật nói pháp.
b) Ðịa Tạng Bồ Tát Nghi Quỹ, một quyển,
do ngài Thâu Bà Ca La người xứ Thiên Trúc dịch vào đời Ðường, Trung Hoa
thường dịch tên ngài là Thiện Vô Úy. Ðại ý: Phật ngự tại núi Khư La Ðề Da,
Ðịa Tạng Bồ Tát bay lên không trung, nói thần chú, rồi nói cách họa tượng
v.v…
Trong phần Thành Tựu Pháp, lại nói: Nếu niệm
thần chú thì sẽ được diệt tội sanh thiện, xả thân sẽ sanh sang Cực Lạc.
Dùng cỏ để hộ ma (4) ba vạn biến v.v…
c) Ðịa Tạng Bồ Tát Diệt Ðịnh Nghiệp Chân
Ngôn:
Thấy chép trong Bất Ðộng Tập của Cam Lộ Pháp Sư
ở Mông Sơn đời Tống, phần nghi thức Mông Sơn Thí Thực, chưa rõ trích từ
kinh nào, mong bậc hậu hiền sẽ khảo chứng tường tận vậy. Bài chú ấy như
sau:
Om, bát ra mạt lân đà nĩnh, sa ba hà.
(có bản chép chữ Lân thành “ninh”).
F.
Chương thứ sáu: Các kinh lưu truyền khác ^
F.1. Kim Cang Tam Muội Kinh:
2 quyển, dịch từ thời Bắc Lương. Trong phẩm
Tổng Trì thứ tám, Ðịa Tạng Bồ Tát thưa hỏi, đức Phật giải đáp, rộng phân
biệt nghĩa Vô Sanh để đoạn trừ lòng nghi của đại chúng. Kinh văn rất rộng,
ai cần xin hãy tự tìm đọc.
Sau đó, lòng nghi của đại chúng đã được giải
quyết, Ðịa Tạng Bồ Tát biết đại chúng đã hết nghi, bèn nói kệ tụng. Kinh
chép:
“Con biết chúng tâm ngờ,
Thế nên ân cần hỏi,
Như Lai đại từ thiện,
Phân biệt chẳng còn sót,
Cả hai chúng này đây
Thảy đều hiểu rõ cả
Con nay trọn khắp chốn
Giáo hóa khắp chúng sanh
Giống như Phật đại bi,
Chẳng buông bỏ bổn nguyện
Ở địa vị Nhất Tử (5),
Vẫn trụ trong phiền não”.
Phật lại giảng rộng cho đại chúng nghe về công
đức trì kinh, trì danh, kinh chép:
“Vị Bồ Tát này chẳng thể nghĩ bàn, luôn vì đại
từ cứu khổ chúng sanh. Nếu có chúng sanh trì kinh pháp này, trì danh hiệu
Bồ Tát này thì sẽ chẳng bị đọa trong đường ác, hết thảy chướng nạn thảy
đều trừ diệt. Nếu có chúng sanh trì kinh này, không còn tạp niệm khác,
chuyên niệm kinh này, tu tập đúng pháp thì lúc bấy giờ Bồ Tát sẽ thường
hóa thân để thuyết pháp, ủng hộ người ấy trọn chẳng buông bỏ, khiến cho
những người ấy mau đắc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Hàng Bồ Tát các
ông nếu muốn giáo hóa chúng sanh thì đều nên dạy họ tu tập Ðại Thừa quyết
định liễu nghĩa như thế này”.
Pháp Sư Viên Chứng đời Minh chú giải như sau:
“Kệ chép: ‘Chẳng bỏ bổn nguyện’ mà Bồ Tát
nguyện rằng: ‘Chúng sanh độ hết mới chứng Bồ Ðề, địa ngục chưa không, trọn
chẳng thành Phật đạo’. Do vậy, thệ nguyện của Ngài chẳng thể nghĩ bàn, từ
bi chẳng thể nghĩ bàn. Ngài cứu chúng sanh khổ nên chúng sanh chẳng thể
chẳng biết báo ân. Nếu muốn báo ân Ngài thì không có cách nào khác ngoài
việc trì kinh này. Nếu trì danh hiệu Ngài thì chẳng những là báo ân mà còn
là tự đạt được lợi lạc rộng lớn, chẳng đọa ác đạo, diệt chướng trừ tội.
Câu “các ông hiện tiền Bồ Tát” có hai duyên: Một là nên học theo Ðịa Tạng
Bồ Tát đại từ cứu giúp khắp cả, hai là thường dạy chúng sanh tu tập kinh
điển như vậy”.
E.2. Pháp hội Tu Di Tạng trong kinh Ðại Tập:
Gồm 2 quyển 57, 58 của kinh Ðại Tập bộ chữ Hàm,
thuộc phần Tu Di Tạng, do các vị Na Liên Ðề Gia Xá và Pháp Trí người nước
Ô Trành dịch vào đời Cao Tề.
F.2.1. Phẩm thứ hai: Bồ Tát Thiền
Phật bảo Bồ Tát chẳng đọa trong Ðịnh Tụ của Nhị
Thừa, như thực quán sát, đắc Nhất Thiết Pháp Vô Ngữ Ngôn Không Tam Muội;
như ngài Ðịa Tạng Bồ Tát đã đạt đến tự tại ở bờ kia trong tam muội này,
nên có thể lợi ích hết thảy chúng sanh.
Tiếp đó, kinh văn rộng nêu các chuyện Ðịa Tạng
Bồ Tát nhập định để lợi sanh. Kinh văn rất rộng, ở đây chỉ lược trích.
Kinh chép:
“Hoặc khiến cho những vật cần dùng để sanh sống
của chúng sanh như thức ăn, quần áo, ngọa cụ, vườn nhà v.v… hết thảy các
sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v… đáng yêu thảy đều được sung túc. Hoặc
khiến cho các bệnh phong, hoàng đảm v.v… của chúng sanh cho đến các bịnh
phiền não: tham, sân, si v.v…, những bệnh khổ nơi thân tâm như thế thảy
đều trừ diệt. Hoặc khiến cho nỗi khổ trong ba đường ác và nóng, lạnh, các
nỗi khổ: oán ghét phải gặp gỡ nhau, yêu thương xa lìa, cầu chẳng được thảy
đều trừ diệt. Khiến các chúng sanh lìa hết thảy khổ não và pháp chẳng
lành, thành tựu hết thảy pháp lành, dùng từ tâm đối xử với nhau, cho đến
khiến cho các chúng sanh tâm được khéo an trụ trong Ðệ Nhất Nghĩa Ðế”.
F.2.2. Phẩm thứ ba: Diệt Phi Thời Phong Vũ
(diệt trừ mưa gió trái thời)
Công Ðức Thiên vì Ðịa Tạng Bồ Tát
thuật lại thệ nguyện xưa kia, lại cầu Ðịa Tạng Bồ Tát khởi lòng từ mẫn.
Ðịa Tạng Bồ Tát bảo Công Ðức Thiên thỉnh Phật diễn thuyết Thủy Phong Ma Ni
Cung Ðà Ra Ni. Phật nói thần chú xong, đại địa chấn động, Ðịa Tạng Bồ Tát
cũng nói Ma Ðao Ðại Ðà Ra Ni.
Ðịa Tạng Bồ Tát nói đà ra ni xong,
đức Thế Tôn lại rộng khen công đức của Ðịa Tạng Bồ Tát Ðà Ra Ni, kinh
chép:
“Lành thay, lành thay! Thiện nam tử!
Ông nay có thể giống như đại diệu dược cho hết thảy chúng sanh, diệt được
hết thảy khổ não của chúng sanh, thí cho hết thảy chúng sanh những vật ưa
thích, thành tựu đại bi, cho đến do sức của đà ra ni này khiến cho dòng
giống Tam Bảo và Pháp Nhãn được tồn tại lâu dài trong đời, khiến cho những
kẻ ngu ám, bạc phước, bị ngã mạn bại hoại này và hàng sát lợi ác cùng các
tể tướng chẳng tu thiện căn sẽ chẳng diệt, chẳng hoại pháp mà ta đã tinh
tấn, siêng năng, khó nhọc tích tập trong trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp
như thế. Tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di không có các sự não
loạn. Do không bị não loạn nên chư Thiên chẳng giận dữ. Do chư thiên chẳng
giận dữ nên hết thảy chúng sanh đều được những vật vui thích như trên”.
F.2.3. Phẩm thứ tư: Ðà Ra Ni
Ðịa Tạng Bồ Tát lại nói Tràng Trượng
Ðại Ðà Ra Ni.
F.3. Các kinh khác:
Phật thuyết La Ma Già Kinh (dịch đời
Tấn, hai quyển), Hoa Nghiêm kinh (bản dịch trong niên hiệu Trinh Nguyên
đời Ðường), Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm (bản dịch trong niên
hiệu Trinh Nguyên đời Ðường), Hoa Nghiêm Thập Ðịa kinh, Ðại Thừa Bổn Sanh
Tâm Ðịa Quán Kinh, Phật Thuyết Bát Ðại Bồ Tát Kinh v.v… đều có nêu danh
hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát.
Trong Bí Mật bộ, thường có những kinh
văn lễ tụng, cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát. Chẳng hạn như:
- Trong Phật Thuyết Ðại Luân Kim Cang
Tổng Trì Ðà Ra Ni kinh có đề cập đến việc niệm tụng Nam Mô Ðịa Tạng Bồ Tát
Ma Ha Tát…
- Trong nghi quỹ Diêm La Vương Cúng
Hành Pháp Thứ Ðệ có câu: “Nhất tâm phụng thỉnh Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát”.
- Trong Thắng Quân Bất Ðộng Minh
Vương Tứ Thập Bát Sứ Giả Bí Mật Thành Tựu Nghi Quỹ có nói vị thiên vương
thứ hai mươi ba trong các Hỏa La Thiên là thân biến hiện của của Ðịa Tạng
Bồ Tát.
- Trong Ðại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật
Thần Biến Gia Trì Thành Tựu Nghi Quỹ có chép chân ngôn của Ðịa Tạng Bồ
Tát, và cũng chép kệ tụng. Nguyên văn:
“Phương Bắc: đức Ðịa Tạng,
Tòa ngài cực đẹp khéo,
Thân ngự trong diễm thai (6),
Các báu trang nghiêm đất,
Xen kẽ lẫn trang hoàng,
Bốn báu làm hoa sen,
Ðể thánh giả an trụ,
Kim Cang chẳng thể hoại,
Hạnh, cảnh giới, tam muội,
Danh tiếng đều lớn lao.
Có vô lượng quyến thuộc”
Những đoạn kinh văn đã lược dẫn ở
trên chưa được chép vào Ðại Tạng ở phương này (Trung Hoa). Gần đây, những
kinh ấy được truyền từ Nhật Bản vào, cho nên chỉ lược dẫn. Ngoài ra còn
rất nhiều kinh sách khác nữa, nếu muốn biết hết, xin hãy tìm trong Ðại
Tạng.
Hơn nữa, trong Mật Giáo, Bồ Tát có
mật hiệu là Bi Nguyện Kim Cang, hoặc còn gọi là Dữ Nguyện Kim Cang (vị Kim
Cang ban cho điều mong nguyện). Trong Kim Cang Giới, Ngài thị hiện làm
Tràng Bồ Tát chầu hầu Bảo Sanh Như Lai ở phương Nam. Trong Thai Tạng Giới,
Ngài chính là vị tôn thánh chính giữa ở ngôi thứ 9 trong Ðịa Tạng Viện với
tôn hiệu Ðịa Tạng Tát Ðỏa.
Phụ chú:
- Kinh Liên Hoa Tam Muội nói đến sáu
vị Ðịa Tạng Bồ Tát và Thắng Quân Ðịa Tạng Bồ Tát.
- Kinh Diên Mạng Ðịa Tạng nói về Diên
Mạng Ðịa Tạng Bồ Tát.
- Ðịa Tạng Bồ Tát Niệm Tụng Nghi Quỹ
nhắc đến sáu vị sứ giả của Ðịa Tạng Bồ Tát.
Ba kinh này chỉ thấy lưu truyền trong
một chi phái của Thai Mật (7) Nhật Bản, nghi là ngụy kinh, nên chẳng sao
lục vào đây. Lại còn các thuyết Ðỗ Soạn cổ truyền của Nhật Bản cũng chẳng
chép vào đây.
G. Chương thứ bảy: Chú sớ
của các nhà ^
1. Ðại Thừa Ðại Tập Ðịa Tạng Thập
Luân Kinh Giải của đại sư Ngẫu Ích đời Minh; tác phẩm này đang soạn, chưa
hoàn tất.
2. Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh
Huyền Nghĩa, 1 quyển do đại sư Ngẫu Ích đời Minh trước thuật.
3. Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo Kinh
Sớ, 2 quyển, cũng do ngài Ngẫu Ích soạn.
Trong lời bạt cuốn Chiêm Sát Thiện Ác
Nghiệp Báo Kinh Sớ của đại sư Ngẫu Ích, đại sư viết:
“Nhớ mùa Ðông năm Tân Mùi, ngụ ở
Thiên Bắc Mục, có cư sĩ Ôn Lăng Từ Vũ Hải, pháp danh là Hoằng Khải kể cho
tôi nghe về bản kinh Chiêm Sát mầu nhiệm này, tôi sai người qua chỗ ngài
Vân Thê xin một bản. Mở ra xem một lượt, buồn vui lẫn lộn. Một ngày mùa
Ðông năm Quý Dậu, tôi ngụ tại chùa Tây Hồ ở Kim Ðình, dựa theo kinh soạn
ra sám pháp. Ðầu mùa Hạ năm Ất Hợi, tôi ngụ ở am Trí Nguyệt tại Vũ Thủy,
giảng diễn, phân khoa (8) kinh này; ngay khi ấy đã có ý nguyện soạn sớ
giải, nhưng bệnh tật trầm trọng chẳng thỏa ngay được nguyện.
Bấm đốt tay đã 15 năm rồi, Phạm Võng,
Phật Ðảnh, Duy Thức, Pháp Hoa tôi đều đã chú giải rồi, riêng mỗi ý nguyện
cũ này vẫn chưa hoàn thành nổi, cũng đáng than thở vậy. Nay là năm Canh
Dần, sống ở đời đã năm mươi hai năm rồi, trăm ý niệm đã như tro tàn, chợt
có mấy người đồng chí đến kiết hạ tại Tàng Kinh Ðường ở Bắc Thiên Mục, dốc
lòng nơi Tỳ Ni (Giới Luật).
Tôi nghĩ đời mạt muốn được tịnh giới
mà bỏ pháp chiêm nghiệm luân tướng trong kinh Chiêm Sát đây thì không còn
cách nào khác nên bèn cất bút viết vào ngày mồng Một tháng Sáu, đến ngày
mười bốn thì xong. Dùng một giọt nước thêm vào biển cả, dâng một hạt bụi
đắp vào núi Tu Di, tuy chẳng ích gì cho bậc cao thâm, chỉ mong khéo lọc
lõi chất sữa lạc khiến những người đồng chí với tôi cùng hưởng Ðề Hồ”.
4. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh Sớ
của đại sư Ngẫu Ích đời Minh đang soạn dở, chưa hoàn thành.
5. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh
Khoa Văn, 1 quyển, do ngài Linh Thừa đời Thanh soạn.
6. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh
Luân Quán, 1 quyển, cùng tác giả.
7. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh
Khoa Chú, 6 quyển, cùng tác giả.
8. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh
Khai Mông, 3 quyển, do ngài Phẩm Ðiềm đời Thanh kết tập, dựa theo bản Khoa
Chú sao tập mà thành, nhưng lộn xộn, tạp nhạp, không đáng lưu thông.
9. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh
Diễn Hiếu Sớ, 3 quyển do ngài Tri Tánh đời Thanh soạn.
10. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh
Bạch Thoại Giải (chưa hoàn tất), do ngài Hồ Trạch Phạm đời Thanh soạn.
H. Chương
thứ tám: Các nghi thức sám hối của các nhà ^
1. Tán Lễ Ðịa Tạng Bồ Tát Sám
Nguyện Nghi, 1 quyển, do đại sư Ngẫu Ích đời Minh soạn.
Cuối tác phẩm này, đại sư Ngẫu Ích
ghi lời tự như sau:
“Ðại pháp chìm mất đã lâu, lắm kẻ
hiểu lầm, chấp Ðại báng Tiểu, khắp thế gian đều vậy. Nhưng các nỗi khổ ở
Ðịa Ngục vẫn cứ theo sau, các dư báo câm, ngọng vẫn khó hết được. Vì thế
Ðịa Tạng từ tôn trong hội Ðại Tập, hiện tướng Thanh Văn, đức Thế Tôn rộng
khen đức hạnh thù thắng của Bồ Tát. Phật còn so sánh rằng: Giả như trong
trăm kiếp quy y, xưng niệm, lễ cúng nơi các vị Ðại Bồ Tát như Diệu Cát
Tường, Quán Tự Tại, Phổ Hiền nhiều bằng số cát sông Căng Già để cầu các sở
nguyện vẫn chẳng bằng trong khoảng bữa ăn, quy y, xưng niệm, lễ cúng Ðịa
Tạng Bồ Tát vì Ngài đã từ lâu tu tập kiên cố, đại nguyện, đại từ, dũng
mãnh, tinh tấn, vượt hơn các Bồ Tát vậy.
Ôi, đời mạt ưa nói Ðại Thừa rất dễ,
nhưng tận lực hành trì Tăng hạnh thật là khó. Họ nào biết phế Tiểu, luận
Ðại thì Ðại cũng chẳng xong. Ngộ Ðại dụng Tiểu thì Tiểu càng thù thắng. Vì
thế, kinh Pháp Hoa răn người hoằng kinh phải y theo bốn An Lạc hạnh; kinh
Niết Bàn luận đàm Phật tánh đến cùng cực nhưng vẫn đề cao giới luật. Công
đức của Ðại Sĩ đặc biệt thù thắng đến thế, lẽ nào lại chẳng xuất phát từ
đây ư?
Trí Húc tôi ân hận sâu xa thói quen
tai ác từ đời trước, tuổi trẻ cực lực báng bổ Tam Bảo, tạo tội Vô Gián,
may thiện căn chưa mất sạch, còn được nghe Bản Nguyện tôn kinh, biết lẽ
đại hiếu xuất thế, chuyển tà kiến, phát sanh chánh tín, nhưng bởi dư
nghiệp báng pháp, dẫu siêng năng nhọc nhằn tu chứng vẫn chưa đắc pháp
nhẫn. Mỗi phen giở ba kinh của Ðại Sĩ ra đọc liền chẳng ngăn nổi nước mắt
đầm đìa, buồn tiếc ngày xưa vô tri, càng cảm ân Ðại Sĩ cứu vớt.
Nhân nghĩ nay là lúc trược trí lưu
chuyển, những kẻ cùng mắc phải lỗi ấy thật chẳng ít nên kính tuân theo
kinh Thập Luân và hai kinh: Chiêm Sát, Bản Nguyện, trước thuật sám pháp
này mong chóng rửa sạch lỗi cũ, định hạn cầu chứng quả về sau, trọn chẳng
làm hạnh Vô Y. Những người chưa chứng được chánh vị Vô Sanh đều có thể tu
tập [pháp sám này] chẳng luận là sơ tâm hay người tu học đã lâu”.
Ðời Thanh, pháp sư Ấn Quang trong bản
trùng khắc Tán Lễ Ðịa Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi đã viết lời tựa như sau:
“Tâm thể vốn tịnh, nhân căn trần mà
trược niệm bèn khởi. Phật tánh thường tồn, do mê muội, trái nghịch khiến
phàm tình lừng lẫy. Ngay nơi sức Tịch Chiếu, lại biến thành duyên hôn
động; ngay trong lẽ thường trụ, lại lầm chịu nỗi khổ sanh tử. Chấp trước
Ngũ Ấm, chẳng biết rốt ráo đều là Không, chướng lấp nhất tâm, chẳng rõ vốn
bất khả đắc. Ðắm nhiễm huyễn cảnh lục trần, đọa lạc trong đường khổ tam
ác, dù có trải qua vi trần kiếp số, vẫn chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi.
Vì thế, đức Thế Tôn ta riêng rủ lòng
thương xót, nhân lời hỏi của Ðịa Tạng Bồ Tát nói ra Thập Lực Phật pháp
luân để nghiến nát phiền hoặc, thành tựu đạo khí. Bởi đó, vứt bỏ ác pháp,
đoạn trừ hết thảy hạnh Vô Y, tu trì thiện pháp, đầy đủ hết thảy hạnh Hữu
Y. Nhưng muốn đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn thì phải sám trừ tội khiên túc thế.
Nếu có thể chẳng chấp trước Ngũ Ấm thì tự viên chứng được tam thân. Ngoài
nương vào Phật lực, Pháp lực, Bồ Tát thệ nguyện lực; trong cậy vào sức chí
thành, sức sám hối, sức công đức của tự tánh nên tiêu diệt triệt để mây mù
tội chướng mù mịt cả không trung, khiến bầu trời Chân Tánh sẵn có hiển
hiện toàn thể. Vì thế biết ba kinh: Thập Luân, Bản Nguyện , Chiêm Sát đều
do sức đại bi nguyện của ngài Ðịa Tạng khiến cho chúng sanh trơ trọi cô
quạnh trong đời mạt không nơi nương dựa đều có được chỗ nương cậy lớn lao.
Ðại Sư Ngẫu Ích đã chứng Pháp Thân,
nương bản nguyện hồi nhập cõi này, thoạt tiên hiện hình tích Xiển Ðề, sau
mới làm sứ giả của Như Lai. Một đời hạnh giải, sự lý viên dung, suốt đời
trước thuật, tánh - tu cùng đủ, muốn cho trược trí biến thành tịnh trí, y
theo ba kinh chế định sám nghi, ngõ hầu phàm tâm trở thành Phật tâm, đấy
chính là điều kinh Thập Luân ngợi khen, khuyên nhắc. Gương báu đã mài,
quang minh tự phát. Ma ni đã gột, trân bảo tự tuôn. Thật có thể nói là
diệu pháp để phản bổn hoàn nguyên, diệu đạo để ngay chính tâm này làm
Phật.
Thượng nhân Hoằng Nhất vốn đã ngưỡng
mộ trước thuật của Ðại Sư, đặc biệt cho khắc bản kinh này để lưu thông
rộng rãi ngõ hầu người hữu chí diệt vọng huyễn hoặc nghiệp, chứng được
chân tâm sẵn có, trên là nối tiếp huệ mạng của Như Lai, dưới là để làm
gương mẫu cho đời mạt đều được thọ trì”.
2. Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo
Hạnh Pháp, 1 quyển, do đại sư Ngẫu Ích đời Minh soạn.
Tác phẩm này được chia thành sáu môn:
a. Thứ nhất là duyên khởi,
kinh văn như sau:
“Phàm chư Phật Bồ Tát nghĩ thương
quần mê, khác nào mẹ nhớ đến con. Bởi thế, [dùng] mọi thứ phương tiện dạy
thoát khổ luân, nhưng chúng sanh chẳng rõ nhân duyên nghiệp báo, nào biết
đoạn ác tu thiện. Tịnh tín ngày một ít ỏi, ngũ trược ngày càng tăng mạnh.
Do vậy, sự khổ kịch liệt cơ cảm bội phần ứng đến lòng Vô Duyên Từ, nên mới
có bậc đương cơ tên là Kiên Tịnh Tín, cầu xin Thế Tôn rủ lòng bi cứu vớt.
Phật bèn rộng tán thán công đức của ngài Ðịa Tạng để hòng kiến lập phương
tiện.
Bởi đó, Bồ Tát dùng ba thứ Luân Tướng
để chỉ bày thiện ác sai biệt, dùng hai môn Quán Ðạo để dẫn về cảnh giới
Nhất Thật. Nhưng kẻ nghiệp nặng phải kiêng dè, chẳng được tu ngay vào Ðịnh
Huệ, phải nên dựa vào sám pháp. Sau khi được thanh tịnh rồi, mới nên tu
tập hai Quán, định hạn cầu quả khó gì! Ðấy thật là thuốc thần để trị bệnh
đời mạt, là phương tiện thù thắng nhất trong các phương tiện.
Tôi thẹn chướng sâu, tuổi trẻ loạn
pháp, Luật, Giáo, Thiền Tông, lẫn lộn, sai lạc nào phải một lỗi. May gặp
kinh này, vẹt toang đám mây mê lầm cho tôi, Lý Quán, Sự Nghi chiếu soi
rạng ngời dễ noi theo được. Trộm dùng mười khoa hạnh pháp của các pháp
sám, tường, lược sai khác đôi chút, nhất nhất tỏ bày, chút nghi dứt sạch,
nào dám khoe khoang, thuật trọn duyên khởi”.
b. Thứ hai là Khuyên Tu, kinh
văn như sau:
“Nếu đệ tử Phật muốn tu chánh pháp
xuất thế, muốn hiện tại không có các chướng duyên, muốn trừ diệt nghiệp
nặng ngũ nghịch, thập ác, vô gián, muốn cầu các vật cần dùng đều được sung
túc, muốn khiến cho nạn nặng, vạ nhẹ đều được tiêu diệt, muốn đắc luật
nghi ưu bà tắc, sa-di, tỳ-kheo thanh tịnh, muốn đắc Bồ Tát tam tụ tịnh
giới, muốn chứng các thiền tam muội, muốn đạt vô tướng trí huệ, muốn cầu
chứng được quả vị Tam Thừa ngay trong hiện đời, muốn tùy ý vãng sanh các
Phật Tịnh Ðộ, muốn ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn, viên mãn chứng nhập cảnh giới
Nhất Thật thì đều phải nên thọ trì pháp Sám Hối này.
Vì sao vậy? Ðây là lòng từ phi thường
của đức Thích Ca Như Lai, là bi nguyện xứng cơ của Ðịa Tạng Bồ Tát, không
khổ nào chẳng cứu, không vui nào chẳng ban. Nương theo đây tu hành, tịnh
tín kiên cố, như kinh đã giảng rộng, hãy nên tin chắc!”
Tiếp đó là bốn môn như trong Hành
Pháp đã thuật chi tiết.
Hai sám nghi vừa nêu trên là hoàn
thiện nhất. Nghi thức sám nguyện chủ yếu dựa theo kinh Thập Luân, Hạnh
Pháp lấy kinh Chiêm Sát làm chính. Kẻ hậu học tùy theo ý thích hãy tận lực
tu tập.
3. Từ Bi Ðịa Tạng Bồ Tát Sám Pháp,
3 quyển, văn từ dài dòng, hỗn tạp, chưa thích hợp để sử dụng.
4. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Sám
Nghi, 1 quyển, do ngài Thừa Giới đời Thanh soạn. Bản này văn nghĩa
giản dị, minh bạch, nhưng vẫn chưa hoàn thiện.
J. Chương
thứ chín: Các tác phẩm tán thuật của mọi nhà ^
Từ xưa đến nay, trong các tác phẩm
của các tác giả, phần tán thuật Ðịa Tạng Bồ Tát rất nhiều; hoặc là có tác
giả soạn riêng một quyển để chuyên thuật những sự linh cảm của Ðịa Tạng Bồ
Tát. Nay vì gấp gáp, chưa thể kiểm nghiệm đầy đủ, đành chỉ ghi lại những
tác phẩm tôi còn nhớ và căn cứ theo thời đại mà liệt kê trước sau như dưới
đây:
1. Trong các tác phẩm biên soạn của
tông Thiên Thai, thường hay dẫn kinh văn của kinh Chiêm Sát. Trong kinh
Chiêm Sát, kể theo thứ tự thì thành Phật có bốn loại. Ðại Sư Ngẫu Ích bảo
thuyết “lục tức” của tông Thiên Thai phát xuất từ kinh này.
2. Trong các tác phẩm như Tứ Phần
Luật Hành Sự Sao… của sáng tổ Nam Sơn Luật Tông (ngài Ðạo Tuyên), thường
dẫn kinh văn kinh Thập Luân.
3. Trong Hoa Nghiêm Kinh Truyện Ký
của Quốc Sư Hiền Thủ đời Ðường có tường thuật sự linh cảm của Ðịa Tạng Bồ
Tát, nguyên văn:
“Năm Văn Minh nguyên niên (684 -
Ðường Duệ Tông), người đất kinh sư, họ Vương, không rõ tên, đã không có
giới hạnh lại chẳng hề tu thiện. Mắc bệnh chết đi, thấy hai người dẫn đến
trước cửa địa ngục, thấy có một vị Tăng, họ gọi là Ðịa Tạng Bồ Tát, dạy họ
Vương tụng bài kệ nhất hạnh như sau:
Nếu ai muốn cầu biết
Tam thế hết thảy Phật
Nên quán như thế này:
Tâm tạo các Như Lai.
Bồ Tát dạy kinh văn xong, bảo: ‘Tụng
được bài kệ này thì mở toang được địa ngục’. Họ Vương tận lực tụng, liền
vào được bên trong gặp vua Diêm La. Vua hỏi người này có công đức gì. [Kẻ
hầu cận] đáp: Chỉ thọ trì một bài kệ bốn câu như trên đã kể. Vua liền thả
ra. Trong lúc họ Vương tụng kệ, tiếng tụng vang đến đâu, những người thọ
khổ ở đấy đều được giải thoát.
Họ Vương ba ngày sau tỉnh lại, nhớ kỹ
bài kệ ấy, kể lại cho các vị sa môn nghe. Khảo nghiệm kệ văn, mới hay đó
chính là bài kệ nằm trong phẩm Dạ Ma Thiên Cung Vô Lượng Chư Bồ Tát Vân
Tập Thuyết Pháp thuộc quyển mười hai của kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời Tấn
(9). Họ Vương tự đối trước pháp sư Tăng Ðịnh ở chùa Không Quán kể cặn kẽ
chuyện này”.
4. Trong tác phẩm Thích Hoa Nghiêm
Kinh của ngài Thanh Lương quốc sư đời Ðường, đề mục chú giải của phần thứ
nhất phẩm Thập Hồi Hướng là Ðại Khổ Cứu Hộ (chịu khổ thay, cứu giúp) cũng
tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát. Lời sớ thích như sau:
“Do chánh nguyện lúc mới tu của hàng
Bồ Tát là vì chúng sanh chịu khổ nên khi đạt đến địa vị rốt ráo, nguyện
lực tự tại, thường ở trong nẻo ác, cứu giúp chịu khổ thay cho chúng sanh
giống như ngài Ðịa Tạng Bồ Tát”.
5. Theo Thần Tăng Truyện của bộ Tống
Cao Tăng Truyện thì vào niên hiệu Vĩnh Huy (650-655, triều Ðường Cao Tông)
đời Ðường, người thuộc hoàng tộc nước Tân La họ Kim tên là Kiều Giác đến
Trung Quốc, sống ở núi Cửu Hoa. Linh tích rất nhiều, chép đủ trong truyện;
tương truyền vị này là Bồ Tát Ðịa Tạng ứng hiện.
6. Ðịa Tạng Bồ Tát Tượng Linh Nghiệm
Ký, 1 quyển, do ngài Thường Cẩn đời Tống soạn, được xếp vào Nhật Bản Tục
Tạng Kinh. Hiện thời, tác phẩm này được xếp vào bộ Ðịa Tạng Bồ Tát Bản
Tích Linh Ứng Lục.
7. Trong lời bạt viết cho Ðịa Tạng Bồ
Tát Bản Nguyện Kinh theo lời thỉnh của tỳ kheo Tánh An, đại sư Liên Trì
đời Minh hạ bút:
“Kinh Ðịa Tạng do ngài Thật Xoa Nan
Ðà dịch vào đời Ðường; nhưng bản dịch hiện thời lại đề tên người dịch là
Pháp Ðăng, Pháp Cự, chẳng đề niên đại, cũng chẳng ghi xứ sở, dòng dõi
[người dịch], không cách nào khảo nghiệm trong Ðại Tạng được. [So với kinh
văn ghi trong Ðại Tạng thì kinh văn của bản lưu hành] tuy tiểu dị đại đồng
nhưng nghĩa lý chẳng khác. Xét ra, để bản kinh này thực sự được lưu
truyền, tin tưởng thì ắt phải [chọn bản] có căn cứ, thế nên tỳ kheo Tánh
An mới thuận theo chí trước, khắc in bản Ðường dịch.
Nếu ai bảo rằng bản kinh này chỉ lăm
lăm bàn về nhân quả của chúng sanh, danh tướng địa ngục, chẳng có huyền
luận gì, chẳng đáng để đời nay xem, nghe tới thì ôi thôi! Vải bông, đậu
bắp lúc bình thời sao bằng được minh châu, nhưng lúc mất mùa hóa ra tột
quý. Cứu thế trong cơn hung hiểm đời mạt pháp, kinh này cũng có công chẳng
nhỏ! Còn như “chúng sanh độ hết mới chứng Bồ Ðề, địa ngục chưa không thề
chẳng thành Phật” thì những kẻ thích thăm dò lẽ huyền vời vợi, hãy thử
chung thân nếm thử mùi vị ấy xem sao!”
8. Linh Phong Tán Ðịa Tạng Bồ Tát
Biệt Tập, 1 quyển, do đại sư Ngẫu Ích đời Minh soạn, ngài Diễn Âm đời
Thanh kết tập.
Ngài Ngẫu Ích lúc còn trẻ, khi chưa
xuất gia, thường báng Phật pháp, sau nghe kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện
liền phát tâm xuất thế. Bởi thế, cả đời Ngài tận lực hoằng dương, tán thán
Ðịa Tạng Bồ Tát. Trong bộ Linh Phong Tông Luận, tôi thấy rất nhiều đoạn
tán dương Ðịa Tạng Bồ Tát. Do đó, môn đệ trích ra hết, kết tập thành một
quyển riêng đặt tên là Linh Phong Tán Ðịa Tạng Bồ Tát Biệt Tập, nay tôi
xin ghi cả vào đây để rộng truyền pháp ích. Tác phẩm này chia thành năm
môn.
8.1. Liên quan đến kinh Thập Luân
Bài tựa tự ghi ở cuối bản Tán Lễ Ðịa
Tạng Bồ Tát Sám Nguyện Nghi. Xin xem lại trong chương thứ tám.
8.2. Liên quan đến kinh Chiêm Sát
a. Lời tự bạt của Chiêm Sát Thiện Ác
Nghiệp Báo Kinh sớ, xin xem trong chương thứ bảy.
b. Lời tựa trong bản khắc Chiêm Sát
Hạnh Pháp Trợ Duyên Sớ:
“Kinh Dịch chép: ‘Nhà tích thiện ắt
sự vui có thừa, nhà tích điều bất thiện ắt tai ương có thừa’. Kinh Thư
chép: ‘Nhân ái dẫn đến điều tốt, giả sử có chuyện nghịch, xấu thì đó chỉ
là ảnh hưởng. Làm thiện thì trăm điều tốt lành giáng xuống, làm ác thì
trăm điều tai ương giáng xuống’. Thuyết nhân quả báo ứng chưa từng chẳng
hiển hiện rõ ràng trong thế gian. Nhưng Nho giáo chỉ luận việc đời này,
chưa đủ để dứt hết mọi ngờ vực của kẻ ngu. Từ khi kinh Phật du nhập Trung
Hoa, giảng rõ đủ nhân quả ba đời, tạo ích lợi cho sự hiểu biết còn hơn
những điều tỏ ngộ của Nam Cung lẫn đức hạnh của Khổng Tử, sự lý chẳng
ngoa. Thế nhưng Tam Tạng còn nói một cách quyền biến, chỉ giảng về nhân
duyên sanh pháp, chưa giảng thẳng vào nhân duyên vô tánh, vì thế mới bảo:
‘Phật chuyển được hết thảy nghiệp, nhưng chẳng chuyển được định nghiệp’.
Ðến trong hội Ðại Thừa, Phật mới rộng
tỏ lòng từ sâu xa phi thường, lập phương tiện thù thắng, lạ lùng, nương
theo lý ‘vạn pháp duy tâm, duyên sanh vô tánh’, lập ra hai pháp sám Thủ
Tướng (10) và Vô Sanh để gồm suốt đến cùng cực cách tác pháp. Kể từ đó về
sau, tội không phân lớn nhỏ, chướng chẳng luận cạn sâu, y giáo hành trì,
thảy đều tiêu diệt như vầng mặt trời rạng rỡ giữa hư không, sương móc
nhanh chóng tan biến.
Kẻ mê muội bảo tội nặng mới nên sám
hối, cứ khai tạo tội môn. Ấy chẳng những chẳng hiểu lòng từ của Phật, Bồ
Tát, mà cũng nào hiểu đạo nghĩa của Nho gia. Khổng Tử bảo: ‘Có lỗi mà
chẳng chịu sửa đổi là càng lỗi; lo buồn nếu vẫn còn một chút lỗi, trọn
không còn chút lỗi nào vẫn lo lắng’. Ðiều ấy đã minh thị đầu mối để tự đổi
mới con người vậy. Vả nữa, tội có nặng nhẹ, đâu phải là nhất loạt như
nhau, thế pháp không trị nổi, nhưng Phật pháp trị được. Tác pháp chẳng trị
được thì Thủ Tướng trị được. Thủ Tướng chẳng trị được thì Vô Sanh trị
được. Ðấy chính là pháp giải thoát lìa khổ rốt ráo; chẳng thể chẳng quy
công về Phật môn, mà cũng chẳng thể chẳng quy công về các bậc đại sĩ Quán
Âm, Ðịa Tạng vậy. Quán Âm ứng hiện mười phương cõi, hữu duyên nhất trong
đời ngũ trược. Ðịa Tạng dạo trong Sa Bà ngũ trược, lòng bi đặt nặng nhất
nơi chốn tam đồ. Như cha mẹ bình đẳng yêu mến con cái, nhưng vẫn lo lắng
hơn cho những đứa con nhỏ dại hay yếu đuối.
Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo
đây thật đúng là cầu bến bậc nhất cho kẻ đa chướng trong đời mạt. Kiên
Tịnh Tín Bồ Tát đã ân cần cầu thỉnh, Thích Ca Mâu Ni Phật trân trọng phó
chúc, lợi khắp ba căn, đầy đủ cả bốn Tất Ðàn (11), không chướng nào chẳng
trừ, không nghi nào chẳng phá. Ba thứ luân tướng đều là nương theo lý để
thành sự, cho nên có thể dùng ngay chính sự để đạt lý. Hai thứ quán đạo
hoàn toàn là dùng chính ngay sự để nhập lý, chưa hề chấp lý bỏ sự.
Ðã thế, kinh còn thuật rõ sám pháp,
tức là Thủ Tướng chính là Vô Sanh, ngay từ đầu đã chỉ thẳng, khai thị xưng
danh, quán pháp thân, quán tự thân chóng cùng một thể. Cho đến khéo nói an
ủi, các thứ phương tiện khéo léo chẳng trái nghịch Thật Lý. Hai quyển kinh
này đã bao quát đại cương của một đời giáo hóa, nêu bày trọn yếu lãnh của
Tánh, Tướng, Thiền Tông, phơi bày hết tấm lòng khổ thiết của Phật, của Tổ.
Tôi y theo kinh lập sám, cư sĩ Trình
Dụng Cửu cúng tiền và khuyến mộ thiện tín góp sức in xong. Ðây chính là
muốn tự lập cho mình, lập thành cho người, muốn mình đạt thành, khiến
người thành đạt. Ai bảo học Phật chẳng phải là phận sự của nhà Nho ư!”
c. Thư gởi cho Trầm Phủ Thọ, Phủ Ðôn:
“Chiêm Sát Hành Pháp tuy được Côn
Ngọc khắc bản in kinh, nhưng nếu chẳng nhiều phen kết đàn thì trọn chẳng
đạt được tướng mộc luân thanh tịnh, như vậy thì làm sao khiến thiên hạ đời
sau tin tưởng được? Nay hãy nên thề bày trận dựa lưng vào nước, đóng tử
quan mà lễ đi” (12).
d. Thư gởi Thánh Khả, có đoạn:
“Tôi bất tiếu, tội lỗi nơi tam nghiệp
chẳng ít, tâm nhơ tạp loạn thì làm sao cảm được tướng mộc luân thanh tịnh?
Bởi vậy, phát tâm thẹn hổ, tự lui xuống làm người chỉ mới Tam Quy, thề
chẳng làm ông thầy mô phạm cho chúng, thề chẳng nhận sự lễ bái của người
khác, thề chẳng ra khỏi núi. Thề đạt được luân tướng thanh tịnh, chẳng
luận là trăm ngày, ngàn ngày, sáu năm, chín năm, lấy cái chết làm hạn. Từ
tạ việc ở Gia Hưng xong, từ đấy sẽ từ tuyệt mọi sự!”
e. Thư gởi Liễu Nhân và hết thảy
Tăng, tục có đoạn:
“Tống Nho nói: ‘Tài quá đức thì bất
tường, danh quá thực ắt có họa, màu mè quá thực chất thì chẳng thể tồn tại
lâu được’. Húc tôi một thân mắc đủ cả ba căn bệnh ấy, nên chẳng lạ gì
chuyện tôi cứ kẹt mãi nơi địa vị phàm phu, chẳng vượt lên bậc thánh nổi!
Húc tôi lúc 12, 13 tuổi, nhân phóng
túng học đạo bèn báng Tam Bảo, tội ấy đáng đọa ngục Vô Gián, chẳng thuộc
trong [số những kẻ được cứu vớt bởi] bốn mươi tám nguyện của đức Di Ðà.
Thiện căn chưa diệt sạch, ngầm được sức gia bị của hai vị đại sĩ Quán Âm,
Ðịa Tạng nên chuyển nghi thành tín, chuyển tà quy chánh. Từ năm 20 đến
nay, tận lực hoằng truyền chánh pháp hòng tiêu tội báng pháp.
Khổ nỗi phiền não sâu dầy, với các
giới phẩm chỉ có nói được chứ không làm được. Tiết Trung Nguyên năm Quý
Dậu, rút thăm xin thối lui làm một Bồ Tát Sa Di (13). Ấy là vì làm tỳ kheo
đời nay thì thừa sức, nhưng làm một vị sa di thời cổ thì lại chưa xứng,
thế sao không bỏ cái thừa để bù đắp cái thiếu? Túc chướng sâu nặng, bệnh
ma vấn vít, từ đấy ẩn cư nơi Cửu Hoa, tưởng là đã có thể trọn đời ẩn cư.
Hơn nửa năm, lại dần dần đồn đại, dần dần lan qua Tân An, Mân Ðịa, Thiều
Thành, Tuy Lý, Lưu Ðô, hư danh càng thịnh, thật đức càng khuyết. Mùa Hạ
này hai lượt mắc phải bệnh lạ, cầu chết không xong. Bình nhật, tuy tôi huệ
giải rạng rỡ, chứ thực chưa từng được đại thọ dụng!
Vả như một cuốn Chiêm Sát Hạnh Pháp
đây, suy cặn nghĩ kẽ rồi mới dám tuân theo cách thức xưa mà soạn thành,
chỉ giữ lấy những điểm tinh giản, cốt sao không trái nghịch ý kinh. Ở Tây
Hồ, tôi lễ bốn thất chẳng được tướng mộc luân thanh tịnh. Năm ngoái lễ hai
thất vẫn chẳng được. Năm nay, vào núi lễ một thất thêm một ngày vẫn chẳng
được. Lúc lễ sám, phiền não, tập khí hiện khởi càng thêm dị thường. Vì
vậy, tôi phát tâm quyết định, bỏ sạch tất cả tịnh giới của Bồ Tát Sa Di,
chỉ làm một đệ tử Tam Quy, đợi gặp dịp tốt, vào núi bế quan ngàn ngày, cầu
Phật, Bồ Tát từ bi cứu bạt. Nếu chẳng được vậy đành nát mớ xương này trong
quan vậy”.
f. Trong Văn Sám Nguyện nhân dịp đặt
tượng Phật, Bồ Tát lên tòa, có đoạn:
“Từng nghe công đức tạo tượng thật có
thể diệt tội trừ khiên, lễ bái sám-ma thật có thể rửa lòng gột ý. Tôi vừa
phát lòng thành, góp của dựng sửa một tượng Phật, hai tượng Bồ Tát, bèn
phát thệ nguyện: luôn lễ bái nghi thức Chiêm Sát Hạnh Pháp, chẳng cần biết
đến năm tháng, chuyên cầu tướng mộc luân thuần thiện. Dẫu chúng sanh cấu
trược nặng nề, Phật, Bồ Tát vẫn chẳng chán bỏ, ắt các ngài sẽ vì đại bi
thương xót độ thoát tôi, khiến cho tôi từ nay về sau, tâm chẳng chao động,
thân được khinh an, giữ gìn lỗi miệng, chẳng thốt lời thêu dệt, lời ác,
thanh tịnh tâm ý, chẳng khởi tạp tư, dục giác, mau được thanh tịnh tam
luân (thân, khẩu, ý), quyết đạt đến tự lợi, lợi tha, phổ hóa chúng sanh
đồng sanh Tịnh Ðộ”.
g. Trong bài tựa tặng cho ông Thạch
Tông nhân dịp yểm quan lễ sám luân tướng, Tổ viết:
“Xưa làm tỳ kheo thẹn thùng nhiều nỗi
bèn lui xuống cầu mong vắng lặng. Nay lại hổ thẹn với chân nghĩa Sa Di,
bèn chỉ xưng là đệ tử Tam Quy, dám đâu đem lời xuông tặng người. Nhưng tôi
trộm thấy kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo vốn xuất phát từ tâm đại bi
triệt để của đức Ðại Thánh Thích Ca, là phương tiện phi thường của Ðịa
Tạng Bồ Tát. Ba thứ Luân Tướng khéo chỉ bày nghiệp báo nhân duyên vô ngại.
Hai phép Quán Ðạo tỏ rõ sâu xa phương tiện tiến lên để đạt Ðại Thừa. Dùng
Ngũ Hối Xưng Danh để bắt đầu nhận rõ bổn lai diện mục, lấy cảnh giới Nhất
Thực để hướng về bình đẳng.
Ngũ Hối (14) đủ sức dứt trừ tình chấp
thế gian, Nhị Quán đủ sức dứt trừ vọng tưởng chấp trước. Sám hối phát lộ:
vĩnh viễn đoạn diệt [sự ác] nối tiếp, diệt nghiệp chướng. Khuyến thỉnh
thuyết pháp: diệt ma chướng. Tùy hỷ công đức: diệt tật đố (ganh ghét, ghen
tỵ) chướng. Thiện xảo hồi hướng: diệt chướng chấp có. Phát nguyện kiên cố:
diệt chướng lui sụt, quên mất.
Duy Tâm Thức Quán: trước hết biết rõ
ngoại cảnh vốn hư giả, chỉ do tâm biến hiện; kế đó, hiểu thấu nội tâm như
huyễn, trọn không có gì là chân thật.
Chân Như Thực Quán: Thâm đạt dù cảnh
hay tâm cũng chỉ là pháp tánh. Pháp tánh chẳng sanh, chẳng diệt; vì thế
bản thể của các pháp đều chẳng sanh, chẳng diệt. Như ngàn bọt nước, vạn
con sóng đều cùng chung tánh thấm ướt, ngàn vật muôn tượng đều chung tánh
vàng.
Ngũ Hối phá chuyển vô thỉ Sự chướng;
Nhị Quán phá chuyển vô thỉ Lý chướng. Hai chướng đã sạch liền thành hai
thân: chân thân và ứng thân; trong một niệm phát khởi viên mãn tam tụ tịnh
giới
Nhưng, đối với tướng tam luân thanh
tịnh, tôi cần phải riêng mình biểu thị để thủ tín; hòng hiển thị: dù Trụ
Trì Tăng Bảo đã tuyệt vẫn có thể tiếp nối được, như lời Mạnh Kha đã nói:
“Kẻ hào kiệt không được như Văn Vương: nghe đến liền biết, chẳng khác gì
trông thấy mà biết…” Than ôi! Tôi biết được đại ý kinh Chiêm Sát bèn y
kinh lập sám, nhưng chưa đạt được luân tướng thanh tịnh thì ai mà tin được
nổi. Ðây thật là kê thuốc nhưng không uống, lỗi chẳng phải tại thuốc! Toa
hay, thuốc hay rành rành sẵn đủ, Ðịa Tạng Bồ Tát quyết chẳng lừa tôi. Lỗi
ở tôi đã biết mà chẳng chịu uống, thề sẽ uống lấy.
Pháp hữu Thạch Tông thấu hiểu lòng
tôi trước hết nên cũng yểm quan cầu được thanh tịnh. Nguyện ai nấy nỗ lực,
tháng ngày bôi đắp thuốc, kiêng những thứ kỵ thuốc, tránh phong hàn (15),
ngày sau sẽ cảm được chân thân Xá Na, phiến đá Linh Phong sẽ cùng ngọn núi
Linh Thứu bậc nhất cùng gật đầu vậy”.
h. Bài văn viết trong dịp hoàn mãn
Ðại Bi Sám Ðàn ở Tổ Ðường có đoạn viết:
“Trí Húc năm 46 tuổi tự thẹn thùng
lắm nỗi, thối lui thành người chỉ mới thọ Tam Quy, siêng lễ Thiên Phật,
Vạn Phật và Chiêm Sát Hạnh Pháp. May được chư Phật đại từ, đại bi ban cho
luân tướng thanh tịnh ngay trong ngày Nguyên Ðán tháng Giêng, cũng tự an
ủi đôi chút”.
(Nhận xét:
Ngày Rằm tháng Bảy năm Quý Dậu, lúc
35 tuổi, Ðại Sư lùi xuống làm Bồ Tát Sa Di, rồi phát tâm lễ Chiêm Sát Sám
Pháp. Năm Giáp Thân lúc Ngài 46 tuổi, Ðại Sư lùi xuống làm người thọ Tam
Quy. Ðúng Nguyên Ðán năm Ất Dậu, lúc 47 tuổi, Sư bèn đạt được luân tướng
thanh tịnh, đắc tỳ kheo giới).
i. Chiêm Sát Hạnh Nguyện Văn (Ðại Sư
viết bài văn này sau khi đã được luân tướng thanh tịnh một năm, tức là
Bính Tuất) có đoạn:
“Quy mạng đấng từ oai khôn sánh, đạo
trọng yếu dẹp khổ, ban vui xuất thế chân thật. Ðịnh lực trừ được kiếp tam
tai (hỏa tai, thủy tai, phong tai), bậc cứu thế chân sĩ rủ lòng từ cứu
vớt. Ðệ tử Trí Húc đau đớn nghĩ kiếp trược khó thể trốn tránh, đao binh
đua nhau nổi lên. Tuy bảo là đồng phận vọng kiến (16), nhưng thực sự không
điều gì chẳng phải là do lầm lạc mà chiêu cảm cả. Nghiệp cũ khó truy,
nhưng sự sắp đến có thể chọn lựa. Bởi thế, con với mấy người đồng chí (10
người) quyên góp tịnh tài, bày biện cúng dường, ba ngày phương tiện, bảy
ngày chánh tu, đúng pháp kết đàn thanh tịnh, đảnh lễ Chiêm Sát Hạnh Pháp.
Sáu thời hành đạo, Ngũ Hối luyện tâm; ai cầu đồng thể đại bi, khẩn xin vô
duyên cứu vớt.
Cúi nghĩ: Chúng sanh chướng cấu tuy
cực nặng, cực sâu, Tam Bảo lòng từ mênh mông chẳng chán, chẳng bỏ. Nếu một
niệm biết sửa lỗi, ắt sẽ thuận cho kẻ ấy tự thay đổi mới. Huống nữa, Thích
Ca được khen ngợi là bậc dũng mãnh tối thắng, ÐịaTạng đại sĩ thệ nguyện
chẳng dối. Con yếu đuối, cha thương hơn đứa mạnh, con kém cỏi, mẹ càng
thương quá thể. Xót con ngu si, bò lê té giếng, bèn dùng thân, tay, áo,
địu (17) giúp cho.
Ngưỡng mong: Hào quang chiếu thấu,
tiêu can qua để trời tốt, mây lành; pháp vũ thấm nhuần, chuyển tà nghiệt
thành giống thiêng, mầm đạo. Những mong mưa hòa gió thuận, quốc thái dân
an, chánh giáo lưu thông, tà ma trốn biệt. Lại nguyện tỳ kheo Trí Húc thân
không bệnh khổ, tâm thoát kết triền, giữ cân bằng được Ðịnh lẫn Huệ, Thừa
và Giới đều cùng thanh tịnh. Mong người lãnh xướng pháp xã dù kéo dài ba
năm vẫn giữ vẹn lời nguyện khác nào một buổi. Các vị… ai nấy thật vì sanh
tử, phát Bồ Ðề tâm, khắc trừ tập khí, gắng tu pháp môn, tam học (Giới,
Ðịnh, Huệ) viên thành, nhị nghiêm (Phước và Huệ) khắc chứng, nối huệ mạng
Phật, lợi khắp trời người.
Lại nguyện tăng tục tùy hỷ ngoài đàn,
hiểu ngộ Nhất Thật, khai hiển ba nhân, tu trọn Nhị Quán, chứng vẹn Tam
Nhẫn. Lại nguyện những vị trợ duyên ngoài đàn, rộng đến pháp giới hàm thức
được thấy hay nghe, hoặc chẳng thấy nghe, đều gieo căn lành như nhau, cùng
hưởng lợi ích thù thắng.
Lại nguyện Giang Bắc, Giang Nam, cho
đến toàn trong cõi Chấn Ðán (Trung Hoa), những người gần đây gặp phải nạn
binh hỏa, tiêu trừ các thứ nợ nần, oán hiềm mỗi mỗi đều cởi mở, thoát nỗi
khổ khốc liệt chốn u minh, siêu thăng chốn thai sen. Kính nguyện pháp giới
Tam Bảo, Ðịa Tạng Thánh Sư chân thật chứng tri, chân thật nhiếp thọ”.
j. Bài Hóa Trì Ðịa Tạng Bồ Tát Danh
Hiệu Duyên Khởi (Duyên khởi khuyên trì niệm danh hiệu Bồ Tát ÐịaTạng) có
đoạn:
“Cái thiết yếu nhất của chúng ta
không gì bằng tự tâm. Trong thế gian không có gì khéo tỏ rõ tâm yếu bằng
Phật pháp. Nhưng không có Tăng, Phật pháp chẳng truyền được; không có
Giới, Tăng Bảo chẳng lập được. Giới chính là giềng mối của Phật Pháp, là
đường trọng yếu để minh tâm.
Buồn một nỗi chánh giáo ngày càng
chìm lấp, lắm kẻ tập theo thói tục. Ðầu trọc, áo thâm mà chẳng biết giới
Tỳ Kheo là cái gì! Một hai vị hoằng truyền Luật học truyền theo Thế Ðế,
khai, già, trì, phạm còn chẳng hiểu tí nào! Huống là tăng thượng oai nghi,
tăng thượng tịnh hạnh, tăng thượng ba la đề mộc xoa ư! Huống hồ là nương
theo Tứ Niệm Xứ tu hành, tăng tâm, tăng huệ để thành tựu tam tụ ngũ chi
nữa ư?
Chao ôi! Chao ôi! Chẳng hiểu tam tụ
ngũ chi mà bảo là Ðại Thừa Tăng Bảo, tôi chẳng dám tin! Tăng đã hữu danh
vô thật, mà bảo là truyền trì Phật pháp, tỏ rõ tự tâm, tôi càng chẳng tin
hơn nữa! Kiên Tịnh Tín Bồ Tát xót thương, thưa hỏi Thích Tôn, đức Thích Ca
càng bội phần thương xót, giao Ðại Sĩ Ðịa Tạng đảm đương trách nhiệm. Ðại
Sĩ lại càng thương xót sâu xa, bèn nói ra kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp
Báo.
Kinh dạy: ‘Kẻ ác nghiệp nặng nhiều,
chẳng được học ngay vào Ðịnh Huệ, trước hết phải tu sám pháp. Vì cớ sao
vậy? Người ấy tâm ác đã quen tập từ trước rất mạnh mẽ, hiện tại ắt cũng
lắm phen hủy phạm trọng cấm. Nếu chẳng sám trừ cho sạch mà tu Ðịnh – Huệ
thì sẽ nhiều chướng ngại, quyết chẳng thể đạt được, hoặc mất trí, lầm
loạn, hoặc bị ngoại tà khuấy rối, hoặc nhận lãnh tà pháp, tăng trưởng ác
kiến. Vì thế cần phải tu sám hối trước. Nếu giới căn thanh tịnh và trọng
tội đời trước đã nhẹ mỏng thì sẽ lìa được các chướng’.
Kinh còn dạy: ‘Dù học tín giải, tu
Duy Tâm Thức Quán, Chân Như Thực Quán mà thiện căn nghiệp mỏng manh, chẳng
thể tiến triển được, chẳng tạm khuất phục được các ác phiền não, trong
lòng ngờ khiếp, sợ hãi và [bị] các thứ chướng ngại [khác] thì hãy nên
trong mọi lúc, mọi nơi, thường siêng tụng niệm danh hiệu của ta. Nếu được
nhất tâm thì thiện căn tăng trưởng, tâm ý mạnh mẽ, sắc bén. Hãy quán xét
pháp thân của ta và của chư Phật và thân của chính mình thể tánh bình
đẳng, không hai, không khác, chẳng sanh, chẳng diệt, thường, lạc, ngã,
tịnh; công đức viên mãn đáng để quy y.
Lại quán tâm tướng tự thân: vô
thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, như huyễn, như hóa, đáng nên chán lìa. Quán
như thế thì mau tăng trưởng được tâm tịnh tín, tất cả các chướng ngại dần
dần tổn giảm. Người ấy được gọi là người học tập, nghe danh hiệu ta. Nếu
tâm nhơ bẩn tạp loạn, tụng niệm danh hiệu ta thì chẳng thể gọi là “nghe”
[tên ta] vì chẳng thể sanh tín giải quyết định, chỉ đạt thiện báo thế
gian, chẳng được lợi ích rộng lớn thâm diệu’. (Chín câu trên đều là tóm
tắt kinh văn).
Than ôi! Theo đó mà suy, giới chẳng
thanh tịnh thì Nhị Quán quyết chẳng dễ tu thành. Nhị Quán chẳng tu không
cách nào chứng nhập, khế hợp Nhất Thật. Vậy thì muốn cho giới căn thanh
tịnh mà bỏ sám hối, trì danh thì còn có phương tiện nào nữa đây?
Vả nữa, một pháp trì danh nếu nói
thiển cận thì ngu phu, ngu phụ chẳng ai là không thể nhép miệng được; nếu
bàn sâu xa thì chẳng đạt Pháp Thân bình đẳng, tâm còn tạp loạn nhơ bẩn, sẽ
chẳng được gọi là “nghe” vậy! Bởi thế biết rằng: lấy Nhị Quán làm chỉ nam,
tu tập được Nhị Quán mới gọi là “nghe” được danh hiệu Bồ Tát. Lấy nghe
danh làm phương tiện, chân thật trì danh lại chính là gồm trọn Nhị Quán.
Vì thế, nghe danh nghiệp chướng thanh
tịnh, nghiệp chướng thanh tịnh nên đạt được giới. Do đắc giới nên Ðịnh-Huệ
phát sanh, Ðịnh Huệ như một, thật sự chứng nhập vậy! Minh tâm kiến tánh là
chân Tăng Bảo, chân truyền Phật pháp. Bọn ta sanh vào đời mạt, nghe pháp
chân thật này sao không nỗ lực tự gắng lên?
8.3. Liên quan đến kinh Bổn Nguyện
a. Trong lời tựa tác phẩm Trì Ðịa
Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân (Tự trì kinh và khuyên người
khác thọ trì kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện) của cư sĩ Kính Tâm, Tổ viết:
“Ôi! Thánh mê niệm liền thành cuồng,
cuồng chánh niệm liền thành Thánh. Lẽ nguy hiểm, nhỏ nhiệm ấy đã rõ vậy.
Phật pháp cũng thế, một niệm mê, cõi Thường Tịch Quang biến thành địa ngục
A Tỳ; một niệm ngộ, A Tỳ địa ngục liền thành cõi Thường Tịch Quang. Bởi
thế, kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện cùng một huyết mạch với kinh Hoa Nghiêm.
Hãy xét xem: Hoa Nghiêm thế giới
chính là Không, chính là Giả, chính là Trung chẳng thể nghĩ bàn; các nỗi
khổ trong địa ngục cũng chính là Không, chính là Giả, chính là Trung chẳng
thể nghĩ bàn. Hoa Nghiêm giảng về cõi Tịnh Ðộ vốn sẵn có trong tự tâm cho
người biết mà quay về; kinh Ðịa Tạng giảng sự khổ sẵn có trong tự tâm để
người ta biết mà tránh. Một quay về, một tránh né, chỉ thú (18) khác xa
nhau, nhưng cũng quy về tự tâm. Ngoài tâm quyết chẳng có pháp khác.
Nhà Nho nói đạo chỉ có hai: nhân và
bất nhân mà thôi; nguy sao, nhỏ nhiệm sao? Thích thiện và ham lợi chính là
cửa ải phân chia giữa vua Thuấn và Ðạo Chích, còn hay mất [thiện tâm]
chính là điểm phân biệt giữa người và thú. Ai đọc đến kinh Bổn Nguyện mà
chẳng nghĩ chuyện tự lợi, lợi tha, thoát địa ngục, về với Hoa Nghiêm, thì
ắt phải là kẻ bất nhân cùng cực.
Cư sĩ Kính Tâm thương xót, đã cả đời
thọ trì lại còn khuyên người, tôi bảo: Vừa phát tâm ấy, nỗi khổ trong địa
ngục ngay lập tức đã ngưng mất cả. Hoan hỷ viết tựa để thay cho pháp giới
chúng sanh phổ khuyến vậy”.
b. Sớ đọc trong pháp hội Hoa Nghiêm ở
Phù Dung Các núi Hoa Sơn như sau:
“Tôi hay nói kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện
và kinh Hoa Nghiêm tám mươi quyển có thể bổ trợ lẫn nhau. Hoa Nghiêm dạy
về Phật cảnh giới, xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn; kinh Bổn Nguyện giảng về
cảnh giới địa ngục, cũng xứng tánh chẳng thể nghĩ bàn. Một kinh là thuận
theo tánh mà tu, hưởng thọ niềm vui pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn; một kinh
là nghịch tánh mà tu, chịu đựng nỗi khổ chẳng thể nghĩ bàn. Thuận, nghịch
tuy khác nhưng toàn tánh khởi tu, toàn tu tại tánh, vẫn là một.
Một niệm mê lầm tánh chẳng thể nghĩ
bàn của Phật giới thì ngay nơi ý niệm đó, cõi Thường Tịch Quang hóa thành
non đao, rừng gươm, lò than, vạc sôi. Một niệm ngộ tánh chẳng thể nghĩ bàn
của địa ngục thì những khí cụ khổ độc trong Nê Lê (địa ngục) ngay trong ý
niệm đó biến thành Phổ Quang Minh điện, Tịch Diệt đạo tràng. Mê, ngộ tuy
khác, tánh đức chẳng tăng, chẳng giảm; lại cũng là một. Nhưng tánh đức dù
chẳng tăng giảm, chẳng phải là thuận, nghịch chẳng thuộc về mê, ngộ; nhưng
hễ mê thì liền nghịch tu trong cửu giới, liền cảm hai khổ báo: phần đoạn
tử và biến dịch tử.
Ngộ thì thuận tu trong Phật giới,
liền thành hai thứ chuyển y: Bồ Ðề, Niết Bàn. Mê là Tam Hoặc, ngộ là Tam
Trí. Nghịch tu là thập ác, ngũ nghịch; thuận tu là lục độ, vạn hạnh. Sanh
tử là tam giới, tứ tướng; chuyển y là tam thân, tứ đức (19). Khổ chính là
Pháp Thân, Hoặc chính là Bát Nhã, Nghiệp chính là Giải Thoát. Ngạn ngữ
nói: “Ðẩy người hay nâng người chỉ cùng một tay thôi; khen người hay chửi
người chỉ là một miệng thôi”.
Ðại Phật Ðảnh là như nước thành băng,
băng lại tan thành nước, chẳng tin nổi hay sao? Tôi tin chín đóa Phù Dung
(20) đây có thể tiêu biểu cho chín hội của kinh Hoa Nghiêm; há nào phải là
kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện chỉ bàn về địa ngục, nhân quả, sự tướng mà thôi!
Huống nữa, Hoa Tạng thế giới an trụ
trong đại liên hoa, Như Lai thành đạo cũng ngồi trên hoa sen báu. Nhưng
các tên địa ngục Ưu Bát La, Ba Ðầu Ma v.v… cũng là tên các loài hoa sen
xanh, hoa sen đỏ, đủ thấy một tên, một dụ, một sự, một pháp thảy đều có đủ
thập giới, chỉ vì đương nhân mê hay ngộ, thuận hay nghịch mà thành như thế
đó thôi. Pháp tánh chẳng thể nghĩ bàn, thể chẳng phải là các tướng, nhưng
chẳng ngại các tướng phát huy; sao còn phân chia địa ngục và Tịch Quang
nữa vậy?
Nguyện các vị Khai Sĩ suất lãnh các
đàn-việt liền lấy đó làm nhân duyên thuận tu, khai phát chánh ngộ thì hai
núi Thiết Vi chính là Kim Cang Bồ Ðề Ðạo Tràng, không cho ngọn lửa huyễn
hiện sen vàng, đấy là đại diệu vậy!”
8.4. Liên quan đến Diệt Ðịnh Nghiệp
Chân Ngôn
a. Lời sớ khuyên trì tụng Diệt Ðịnh
Nghiệp chân ngôn đến số lượng bằng hết thảy thế giới, trang nghiêm thánh
tượng Ðịa Tạng Bồ Tát:
“Ðức Thích Ca bảo chẳng cứu được định
nghiệp là để làm nguội lạnh cái tâm tạo tội. Ðịa Tạng Bồ Tát nói Diệt Ðịnh
Nghiệp Chân Ngôn để vỗ về khách đã cùng đường. Húc tôi lúc nhỏ học theo
Ðông Lỗ (21), thường báng Tây Càn; được Quán Âm đại sĩ chạm đến, nhiếp
thọ, sau nghe ÐịaTạng Bổn Nguyện tôn kinh, mới phát đại tâm, thề làm cửu
giới trống không. Nay được dự vào hàng Tăng, tu tập thọ giới, đều là do từ
nguyện [của Ðại Sĩ] ngầm gia bị, thật chẳng ngoa vậy.
Nhưng tôi nghĩ Sa Bà tệ ác, ba thứ
Hoặc, Nghiệp, Khổ tụ lại như chĩa ba; vô thượng Ðề Hồ đều thành độc dược.
Người trì luật tuy vâng giữ y bát, nhưng trọn chẳng hiểu tác, phạm, chỉ,
trì. Người tu tập Giáo chỉ thờ ngoài miệng, ngoài tai, Thiền Na, lý quán
mù mờ, không hề sở đắc. Kẻ tham Thiền lưu loát cơ cảnh (22), đùa giỡn tinh
thần, đối với cội nguồn chân chính của tâm và Phật, không một mảy thật
chứng. Một môn Tịnh Ðộ khá hợp với thời tiết, căn cơ, nhưng khổ nỗi hay bị
biến thành thối thác, chưa khế hợp bất khả tư nghị Ðại Thừa. Rõ ràng do
nghiệp nặng, chướng sâu, trược trí lưu chuyển, nên dẫu có bậc Thánh vẫn
chẳng biết làm thế nào!
Riêng mình đức Ðịa Tạng bi sâu,
nguyện nặng, chuyên thương xót kẻ ương ngạnh. Tà tâm sâu nặng của tôi
trong lúc ấy mà Ngài còn chuyển được, khiến cho tôi được chánh tín xuất
gia thì Ngài sẽ chuyển được chúng sanh không biết lỗi lầm trong cả đại
địa, khiến họ quay về với lẽ chân thật, nào có khó gì!
Vì vậy, đối trước Tam Bảo phát tâm,
muốn tạo ngôi Vạn Phật điện bằng đồng, trong thờ tượng Ðại Sĩ để vĩnh trấn
Cửu Hoa. Tôi bèn thọ phép ngày chỉ ăn một bữa, kết đàn một trăm ngày, trì
Diệt Ðịnh Nghiệp chân ngôn năm trăm vạn biến. Lại khuyên Tăng, tục những
ai có đại tâm hoặc trì mười vạn hoặc trì trăm ngàn vạn để cộng chung thành
mười vạn vạn, biểu thị con số tam thiên đại thiên thế giới. Ðem tổng số ấy
dâng trước tượng Ðại Sĩ để làm khoán ước rộng hóa độ mười phương đến tột
cùng vị lai vậy”.
b. Trong quyển 1 của bộ Linh Phong
Tông Luận, có chép Tục Trì Hồi Hướng Kệ để bổ sung cho Tổng Trì Sớ, Diệt
Ðịnh Nghiệp Chú Ðàn Sám Nguyện Văn (văn sám nguyện trong đàn tràng trì
tụng chú Diệt Ðịnh Nghiệp) và những câu đề cập đến chú Diệt Ðịnh Nghiệp
trong các bài nguyện văn khác thảy đều khuyết lược chưa sao lục được. Nếu
muốn xem đủ, xin hãy tìm xem vậy.
c. Thư đáp câu hỏi của ông Hoàng Trĩ
Cốc (gồm 2 đoạn) như sau:
Hỏi: Phật chẳng diệt nổi định nghiệp,
cớ sao Ðịa Tạng Bồ Tát lại có Diệt Ðịnh Nghiệp chân ngôn? Vả đã hiểu rõ
tội phước vốn không, sao lại nói như thế?
Ðáp: Nghiệp cùng với báo đều là hiện
lượng của tự tâm. Tâm không thì hết thảy đều không; tâm giả thì hết thảy
đều giả, tâm trung thì hết thảy đều trung. Nhưng phàm phu chẳng hiểu năng
tạo (người tạo nghiệp), sở tạo (nghiệp được tạo), năng thọ, sở thọ, đương
thể tam đức bí tạng nên cứ sốt sắng dốc chí tạo ác nghiệp nặng dày, nên ắt
phải chiêu lấy khổ báo dày nặng, đấy gọi là “định nghiệp”. Tâm họ đã định,
chẳng thể vãn hồi, thì đấng Ðại Giác cũng chẳng thể làm cho [định nghiệp
ấy] tiêu diệt được. Vì thế, đấng đại từ, đại bi khéo bày phương tiện, sai
Ðịa Tạng Bồ Tát nói chú khuyên họ trì, tức là chuyển định tâm của họ cho
dần dần tiêu diệt.
Bởi đó, công năng của Bồ Tát hoàn
toàn là công năng của Phật. Phật đã chẳng ở, Bồ Tát cũng chẳng ở, rốt cục
chỉ là cái tâm của đương nhân trong một niệm tin nhận trì chú mà thôi. Ðấy
chính là ý chỉ “Ðã thấu đạt tội phước vốn là không”; vốn chẳng phải là bài
bác không nhân quả vì đương thể của tội phước, nhân quả chính là không, mà
cũng chính là trung, là giả. Hễ mê thì diệt và bất diệt đều chẳng hiểu tận
gốc; còn đạt rồi thì diệt và bất diệt trọn chẳng trở ngại gì đến không cả.
Cổ nhân bảo: “Thế nào là vốn sẵn là không? Là nghiệp chướng. Thế nào là
nghiệp chướng? Vốn sẵn là không”. Hiểu được hai câu này rồi thì liền thoát
được vết cũ cáo hoang vậy! (23)”
Hỏi tiếp: Rốt lại, vì sao Phật chẳng
tự nói? Bởi Phật nói chẳng thể diệt được [định nghiệp] cho nên vẫn còn
nghi ngờ?
Ðáp: Ðể giải mối nghi ấy, cần phải
biết ba nghĩa:
a) Một là chư Phật thuyết pháp ắt đều
theo đúng bốn nhân duyên Tất Ðàn. Có kẻ nghe đức Phật nói sanh hoan hỷ,
sanh thiện, diệt ác, nhập lý thì Phật liền tự nói, như các chú Lăng
Nghiêm, Tôn Thắng đều là chú để diệt định nghiệp vậy. Có kẻ nghe Bồ Tát
nói mà sanh hoan hỷ, sanh thiện, diệt ác, nhập lý thì Bồ Tát phải nói, như
chú này, chú Ðại Bi v.v…
b) Hai là tội chẳng tự diệt, chẳng
tha diệt, chẳng cộng diệt, chẳng vô nhân diệt, nhưng có thời chỉ nói là tự
diệt, tức là nói tâm không, nghiệp không. Có lúc nói tha diệt, như nói
Phật lực, Bồ Tát lực. Có lúc nói cần phải “cộng diệt”, cùng nêu nội nhân
và ngoại duyên. Có lúc nói “vô nhân diệt”, nghĩa là: chẳng phải tự, chẳng
phải tha, đều là bốn nhân duyên Tất Ðàn. Nếu không liền thành Tứ Ðế.
c) Ba, chẳng thể diệt là nói theo
phương diện Tích Phật (24) trong Tam Tạng. Người diệt được tội là người
thuộc về Viên Giáo, như kinh Hoa Nghiêm nói: “Mới phát tâm đã hơn Mâu Ni”
cũng giống như vậy.
Biết được ba nghĩa ấy rồi thì không
có pháp nào là chẳng thông đạt.
8.5. Các trước tác khác
a. Bài phát nguyện trước tháp Ðịa
Tạng ở núi Cửu Hoa:
“Kính lạy đức Từ Bi đại nguyện
vương,
Bổn nguyên tâm địa Như Lai tạng,
Cứu thế chân thật khéo vỗ về,
Hiện tướng Thanh Văn để hộ pháp,
Nguyện dùng bổn thệ độ chúng sanh
Xét con lòng thành, thương gia hộ,
Trí Húc xưa tạo ương họa sâu, trẻ dại
trong đời mạt, tuy thọ Giới phẩm, khinh phạm lắm nhẽ, dẫu tập Thiền tư,
thô hoặc chẳng đoạn. Tụng Ðại Thừa chỉ hiểu theo nghĩa, xưng niệm danh
hiệu chưa nhập Chánh Ðịnh. Trông ra ngoài, ma đảng tung hoành, đau lòng
nhức óc. Trong thấy phiền não chao động tơi bời, thẹn trời hổ đất. Lại vì
ác nghiệp, chịu đủ bệnh khổ. Ðau Sa Bà tệ ác, than chìm đắm vô phương. Do
vậy, gượng bệnh vào núi, khẩn cầu Ðại Sĩ, cầu Bồ Ðề trong muôn kiếp, phó
thân mạng cho phù vân. Ðốt hương sáu lọn trên cánh tay. Ba lọn hương cúng
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát: vô số hóa thân trên trời Ðao Lợi, hiện tướng
Thanh Văn trong hội Ðại Tập thắng diệu, Bồ Tát hiện tướng Thanh Văn, sáu
căn tụ hội, thiện xảo thuyết pháp.
Một lọn sám hối lỗi nặng tam nghiệp,
sát nghiệp, dâm dật, chê bai, hủy báng Tam Bảo, tội lỗi nơi miệng, ác niệm
cho đến những lỗi nhơ từ trước, và các việc chẳng hoàn toàn đúng như pháp
sau khi mắc bệnh. Những tội như thế nguyện đều tiêu trừ.
Một lọn để cầu bốn nguyện: luật nghi
thanh tịnh, đoạn Hoặc, chứng chân, khỏe mạnh lâu dài, không bệnh, rộng làm
việc phước.
Một lọn để dứt lưới nghi, hoặc là
trước đã lễ sám cầu tịnh luật nghi, hoặc là trước đã tu Thiền đoạn trừ
phiền não, hoặc là trước đây đã đọc Kinh Tạng để mở mang huệ giải, hoặc
trước đã lập hạnh để mở rộng phước duyên, chỉ mong bậc Cứu Thế Chân Sĩ,
Ðại Trí Khai Sĩ, bậc thấy biết hết thảy, bậc chẳng quên nghĩ tới chúng
sanh đều rủ lòng thương, xét soi mở toang đám mây mê mờ cho con. Con lại
đối trước đấng Ðại Từ Bi Phụ, vẩy máu, khắc tim phát nguyện như thế này:
Nếu còn một chúng sanh chưa thành Phật thì con chẳng chứng Niết Bàn trước.
Giả sử túc nghiệp lôi kéo con vào ác đạo, nguyện Ðại Sĩ lòng từ sâu rộng
thường giác ngộ con, khiến con niệm niệm nhớ đến Bồ Ðề tâm, khiến cho Bồ
Ðề tâm liên tục chẳng đoạn. Nếu túc chướng nhẹ bớt, nguyện Ðại Sĩ oai thần
khiến con sớm thành tựu Niệm Phật tam muội, quyết sanh trong thế giới của
Phật A Di Ðà, nương bổn nguyện lực vào trong vô biên sát hải phổ độ hữu
tình, đến tột cùng đời vị lai chẳng hề chán mỏi”.
b. Bài khuyến hóa đúc tượng Ðịa Tạng
bằng sắt:
“Hồng chung đủ tánh vô biên âm, vừa
gõ, vẳng ngay tới Thiết Vi. Ðịa Tạng viên mãn đồng thể đại bi, vừa chiêm
lễ liền mau được cứu bạt. U Minh giác ngộ hãy nên mong, chướng duyên hiện
tại hãy nên chuyển; Linh Phong mang ý nguyện lễ Ngài, đã đúc chuông, thỉnh
chuông; lại nghĩ đến tượng Ngài bèn tạo tượng. Tuy [tượng ngài được] vẽ
vời, sơn khắc [khác nhau], tánh đều giống như hư không; nhưng nay lại đúc
tượng ngài thuần bằng gang để tiêu biểu sự kiên cố bất hoại.
Tứ đức không bụi trần nhưng phải nhờ
một trần để hiển hiện trọn vẹn. Tam thân không tướng, nhưng phải dùng ảnh
tượng để khéo léo tỏ bày. Xin bậc cao hiền cùng hành đàn thí: Giúp cho sắt
như chánh nhân phát tâm, có thể đạt diệu quả Pháp Thân; giúp than giống
như liễu nhân phát tâm, có thể ngộ quang minh Bát Nhã; giúp thức ăn, vật
dụng như duyên nhân phát tâm, có thể đặt nền tảng cho giải thoát, thần
thông.
Từ nơi Ðại Sĩ phát ra tâm ấy, chính
là toàn tánh khởi tu. Do các thiện tín thành được tượng này, chính là toàn
tu tại tánh. Sự như thế, lý như thế, nhân như thế, quả như thế, chân ngữ,
thật ngữ, hãy nghĩ kỹ, hành cho chắc”.
c. Bài Khuyến Hóa Cúng Dường Dầu Thắp
Ðèn Trong Lễ Cúng Hải Ðăng ở núi Cửu Hoa:
“Thuở kiếp sơ thân người có ánh sáng,
chẳng cần nhờ đến mặt trời, mặt trăng. Thân quang giảm dần, nhật nguyệt
sanh ra. Nhưng nhật nguyệt có lúc chẳng chiếu, nên tiếp đó bèn có đèn lửa.
Công đức của đèn lửa chẳng phải chỉ giống như công đức của mặt trời, mặt
trăng mà thôi. Nhật, nguyệt thuộc về bi điền; đốt đèn cúng dường đủ cả bi
lẫn kính.
Vả nữa, Ðịa Tạng đại sĩ do vô duyên
từ, tâm đồng thể đại bi, thị hiện trụ trên đảnh núi Cửu Tử, cứu khắp trần
sa hàm thức. Tháp thiêng nhục thân, bốn biển quy y. Do vậy mới có lễ cúng
Hải Ðăng.
Phải biết rằng: Một tia sáng chiếu
phô trọn tự tánh diệu minh, duyên thiện đã ấp, chánh nhân, liễu nhân cùng
hiển. Nếu bảo đấy là sự tướng, là trần duyên, là chẳng quan hệ gì với tu
chứng thì là lìa sự bàn lý, lìa cảnh tìm tâm, lý tựa lông rùa, tâm đồng
sừng thỏ. Ai đem vạn thiện trang nghiêm để thành quả Lưỡng Túc đó vậy?
Xưa có kẻ trộm vật của nhà chùa, xẻ
đèn cúng Phật, còn cảm nhiều kiếp chịu báo sắc thân u ám, huống là kẻ hảo
tâm thí cúng, nương lòng từ bi của Ðại Sĩ cầu được chiếu soi lồng lộng
trong nẻo u đồ, mới tiếp nối được đèn huệ của Như Lai, rạng rỡ đuốc báu
pháp giới. Dù tự hay tha đều mở toang ải tối trong đêm dài, chứ nào phải
chỉ là quả báo sung sướng trong chốn sanh tử mà thôi đâu! Xin mau phát
tâm, đừng để sau này phải hối!”
d. Văn khuyến hóa kiến tạo tháp Chúng
Tăng ở núi Cửu Hoa:
“Phước điền có hai là bi điền và kính
điền. Kính điền chú trọng đến điền (đối tượng được mình cúng dường, làm
phước). Bi điền đặt nặng về tâm.
Cúng xá lợi phước ngang hư không, đó
là Kính Ðiền. Thương xót đến cả mớ xương khô, muôn đời xưng là đấng Nhân
Chủ, đấy là Bi Ðiền.
Một điền công đức đã bất khả tư nghị,
huống là tu đủ cả Bi lẫn Kính. Vả nữa, La Hán Tứ Quả chứng nhập Vô Sanh,
vĩnh viễn lìa bỏ Ngã Chấp, đã nhập Niết Bàn thì chẳng quý gì nắm xương
khô. Phàm phu tỳ kheo chưa đoạn nổi Tư Hoặc, nếu như thi hài cốt tênh
hênh, ắt thần thức sẽ bất an. Thần thức bất an thật đáng thương vậy. Ðường
đường Tăng Bảo là bậc nên kính vậy.
Huống hồ phàm thánh khôn lường, thần
thánh sâu kín, rắn rồng ở lẫn, sao có thể dùng nhục nhãn để biết vị này là
phàm tăng, chẳng phải là đại sĩ ứng hóa cho được? Vì thế, cúng dường một
bộ xương lẽ đâu chẳng đủ hai điền bi, kính?
Cửu Hoa là thiên hạ đệ nhất danh sơn,
nhưng xương khô vẫn phơi tênh hênh trong chốn hoang vu, nhức mắt, đau
lòng. Lúc tôi mới đến núi, luôn lấy việc này làm chuyện quan tâm hàng đầu.
May có các bậc kỳ lão, ra sức cổ vũ, chẳng nề vụng dốt, xướng lên tiếng
nói đầu tiên. Có ai thấy, nghe, tùy hỷ, chẳng luận là Tăng hay tục, dù ít
dù nhiều, đều đã gieo nhân tối thắng, ắt đạt quả vô thượng. Kính thì thành
Phật đạo có thừa, Bi thì sẽ độ sanh vô lượng. Bèn có kệ rằng:
Tăng tướng đường đường
Là biển phước đức
Dẫu thành xương mục,
Phước tánh nào đổi!
Dựng tháp cúng dường
Ắt lên Phạm Thiên,
Huống còn tán đồng,
Ðâu chẳng được vậy?
Ðại Sĩ thị hiện
Khắp trong sanh tử
Xương rã xanh bầm
Ống khóa hoàng kim,
Chắp tay, khảy ngón (25)
Chân nhân đành rành,
Lấy gì làm chứng?
Diệu Pháp Hoa Kinh!”
e. Thư gởi tăng chúng thường trụ núi
Cửu Hoa:
“Năm trước dạo gót núi báu, đối với
hết thảy hành giả giữ luật thanh tịnh, tưởng như Ðịa Tạng Ðại Sĩ; đối với
một hai vị chẳng câu nệ tiểu tiết cũng tưởng họ giống như Chí Công, Tế
Ðiên… Cõi đất thánh đạo tràng, rắn rồng hỗn tạp, phàm thánh lẫn lộn, chẳng
dám dùng con mắt trâu, dê để suy xét xằng, tự chiêu lấy trọng tội vô gián.
Chợt nghe trong núi có chút lộn xộn. Tuy Bồ Tát thị hiện ngắn ngủi, nhưng
kinh có dạy: ‘Thà phá ngàn giới Phật, chẳng để người ngoài biết’. Sách vở
thế gian cũng chép: ‘Người đất Hồ (Hồ Nam, Hồ Bắc), đất Việt (Quảng Ðông)
thù địch nhau, nhưng ngồi thuyền gặp gió ngược thì liền cứu giúp nhau như
tay phải với tay trái”.
Cửu Hoa thật sự là nơi Ðịa Tạng Bồ
Tát hóa hiện. Ðại chúng trong núi không ai chẳng phải là con cháu thật sự
của ngài Ðịa Tạng, chẳng biết trải bao kiếp tu hành mới đến được chốn danh
sơn phước địa này; bèn vì chuyện hờn giận nhỏ nhặt một buổi mà chẳng bằng
được người đất Hồ, đất Việt ngồi chung một thuyền, chẳng khác nào: “Một
hạt cải che trời, một hạt bụi phủ kín đất” đó ư?
Trí Húc tôi bất tiếu, tuổi nhỏ vô
tri, hủy báng Tam Bảo, tội đầy hư không, nương nhờ lòng từ sâu xa, thệ
nguyện nồng hậu của Ðịa Tạng Ðại Sĩ dẹp tan tà kiến của tôi, khiến được dự
ké vào chúng Tăng; bởi thế, nay tôi xưng mình là viên quan cô độc của Ðịa
Tạng Bồ Tát. Ðại chúng trong núi đều là ấu chúa của tôi. Quan không ý niệm
khinh vua, nhưng có chức trách can gián vua; chỉ là thật dạ hoảng sợ, dập
đầu, rạp đầu, xa hướng về núi báu, bày tỏ lời thưa trung thành:
- Kính xin các sư, ai nấy bỏ tâm nhân
ngã thị phi, nghĩ đến thể thống của sơn môn, pháp môn, cùng tu Vô Tránh
Tam Muội, vĩnh viễn phát huy đạo phong của Ðại Sĩ. Cổ nhân nói: “Nhà không
tiểu nhân, chẳng thành quân tử”. Dù có kẻ thật sự chẳng phải là quyến
thuộc của Ðại Sĩ, cũng nên dùng lòng từ khoan thứ, khiến kẻ ấy dần dần
gieo trồng thiện căn thì mới nên vậy!”.
f. Tán vịnh hình tượng Ðịa Tạng Từ
Tôn
1) Ðồng thể đại từ,
Vô duyên hoằng thệ,
Tổ của ngàn Phật,
Dòng dõi quần sanh,
Ðịnh nhập sát trần
Châu treo tam thế (26)
Luân tướng phá nghi,
Biện tài hiển Ðế (chân đế)
Muốn cho giới học lại rạng
Ðảnh lễ chẳng nề số lượng,
2) Người ta chỉ biết ngài cứu khổ địa
ngục, chẳng biết ngài không đâu chẳng hiện. Người ta chỉ biết ngài phù trì
lúc lâm chung, chẳng biết ngài không lúc nào chẳng niệm.
Ba bộ kinh vương,
Hai thứ diệu quán.
Thập Luân khuông phò mạt pháp,
Tam luân xé toạc lưới nghi
Ðây chính là pháp môn thần tốc bậc
nhất trong vô lượng pháp môn, dẫu có gặp hay chẳng gặp, tựa hồ thấy hay là
chẳng thấy. Ðứa con bất tiếu một đời cực lực đề cao, riêng hứa quy y, tin
tưởng không gián đoạn. Nếu còn một sự hoài nghi, xin hỏi nên lấy pháp thân
nào khác để hoàn mãn nữa?
3) Chúng sanh đọa lạc địa ngục đều do
phá giới trọng chướng. Ðại Sĩ vào ngục cứu khổ, chỉ hiện giới tướng Thanh
Văn, chẳng giảng giải, phân tích Pháp Thân, chỉ giảng đề cao chuyện hướng
thượng. Ðấy là vô tác diệu sắc, chúng sanh tánh sẵn có trong nhà. Cầm minh
châu, giới thân kiên cường, Ðịa Tạng: ai ai cũng là Ðịa Tạng.
4) Ngũ thừa gồm trọn hiếu từ tâm
Thật đúng y vương nguyện lực thâm
Trăm rễ, nhánh cây nào sót bỏ
Khắp trong đại địa thảy tri âm.
g. Bài ca đuổi bệnh :
Ðỉnh Cửu Hoa mây mù phủ đẫm
Ba, Tư hai tháng rét căm căm
Quấn kín áo tàn nằm ngất ngưởng,
Hơi ấm trốn xa, mất biệt tăm
Ngọn suối Cửu Hoa quen nếm vị,
Ngàn giòng trăm lũ cuốn băng băng
Nhặt lấy quả thông phơi nắng ráo
Dùng thế sâm nhung trị bệnh mình
A Nan cách nhật, mình ba bữa
Bệnh tật chao ôi khó nỗi lành,
Sao vẫn đêm ngày luyến hoa đốm
Thương ta biết cửa, chửa về nhà
Bởi thế trì danh hằng chăm chắm
Mong khai đồng thể diệu tam từ
Bịnh ta hết, chúng sanh hết bệnh
Sát na chẳng chóng, kiếp nào lâu.
h. Lễ ngàn đức Phật ở Lầu Tàng Kinh
núi Cửu Hoa, tặng các bạn năm bài kệ:
* Dưa ngọt chớ thay bằng mướp đắng
Chốn chốn Từ Tôn sẵn nghiệp nhà
Niệm tánh uổng xem trăng đáy nước
Cúi đầu đã ngự bạch ngưu xa.
* Bụi trần vét sạch đắp đồi, non
Một trận từ phong sạch chẳng còn
Thiết Vi thổi nát còn đâu tối,
Cần gì dụi mắt hỏi đường quang!
* Thói xưa năm cũ sát na quên,
Năm hết Xuân về trời ấm lên
Những tưởng Côn Luân tràn mạch suối
Chỉ thấy sông băng khó vượt lên.
* Một điểm thông linh tánh vốn thông,
Chạm cảnh đối tình đạo tự dung,
Bỗng nhiên cùng lúc âm vang vọng
Lầu báu cùng nhìn vẫn ở trong
* Một thể chia ra tướng với tình
Lạnh lùng xét kỹ hóa vô sinh
Ngũ hối công thành phiền hoặc sạch
Lầu cao chi nhọc dạ kết minh?
Mùa Xuân năm Bính Tuất, huyễn du
Thạch Thành, tùy duyên duyệt Ðại Tạng để thỏa nguyện cũ, đêm mộng thấy đắp
tượng Ðịa Tạng Ðại Sĩ; thân, đầu đã thành, nhưng chưa nặn xong chân, tay,
xúc cảm làm bài phú:
“Mưa dầm mênh mông, khách nghĩ miên
man. Chim kêu ai oán, đổi sang cành mới. Mạch học ngàn năm biết gởi gắm
vào ai, nỗi sầu vạn cổ chỉ tự mình biết.
Trong gương, gương mặt bệnh hoạn đã
suy quá rồi. Trong mộng, hình tướng từ bi thân vẫn khuyết. Khi nào đền
xong nợ văn ngôn, sấn vào núi thẳm về chốn chữa bệnh cũ”.
9. Ðịa Tạng Bồ Tát Hạnh Nguyện Ký, 1
quyển, do ngài Hiển Ấm đời Thanh soạn.
10. Ðịa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm
Lục, 1 quyển, do cư sĩ Lý Viên Tịnh soạn vào đời Thanh.
11. Ðịa Tạng Ðại Sĩ Thánh Tích, 1
quyển, do Phạm Huyễn Tu soạn vào đời Thanh.
12. Ðịa Tạng Bồ Tát Vãng Kiếp Cứu Mẫu
Ký (Truyện Ðịa Tạng Bồ Tát cứu mẹ trong các kiếp trước), 1 quyển, do Uông
Phụng Trì soạn vào đời Thanh.
13. Ðịa Tạng Bồ Tát Cửu Hoa Thùy Tích
Ðồ Tán (tranh và thơ tán thán sự ứng hóa của Ðịa Tạng Bồ Tát tại núi Cửu
Hoa), 1 quyển, do Lư Thế Hầu đời Thanh vẽ.
14. Cửu Hoa Sơn Chí, chưa hoàn tất,
do ông Hứa Chỉ Tịnh đời Thanh biên soạn. Bản Sơn Chí đã ấn hành chưa được
hoàn thiện, không đáng để lưu thông.
K. Chương thứ mười: Vấn đáp
trừ nghi ^
1) Hỏi: Chương thứ nhất đã bảo Ðịa
Tạng Bồ Tát là tên thông dụng được dùng trong các kinh, nhưng vì sao gần
đây nguời trì danh Ngài đều niệm Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, chưa rõ nên tuân
theo cách nào thì tốt hơn?
Ðáp: Kinh Chiêm Sát quyển thượng,
phần dạy rõ về cách chiêm nghiệm nghiệp báo có ghi: “Nhất tâm thưa rằng:
Nam Mô Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát”, chuẩn theo đó, khi trì danh nên xưng
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát là đúng. Nếu vì câu dài khó trì tụng được thì có
thể lược chữ Ma Ha Tát đi, chỉ đọc Nam Mô Ðịa Tạng Bồ Tát. Nhưng nếu có ai
quen niệm theo cách cũ: “Nam Mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát” cũng nên thuận theo
sự ưa thích của họ, vì cách niệm ấy phù hợp với danh xưng được ghi trong
Ðại Thừa Bổn Sanh Tâm Ðịa Quán Kinh.
2) Hỏi: Kinh Thập Luân nói: Trong
trăm kiếp chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường các vị
Ðại Bồ Tát như Di Lặc, Văn Thù, Quán Âm, Phổ Hiền vẫn chẳng bằng trong
khoảng một bữa ăn, quy y cho đến cúng dường Ðịa Tạng Bồ Tát. Kinh Bổn
Nguyện cũng bảo: các vị Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc nguyện còn chưa
xong xuôi, Ðịa Tạng Bồ Tát đây đã phát thệ nguyện trong kiếp số nhiều như
trăm ngàn ức hằng hà sa. Chuẩn theo hai kinh này, Ðịa Tạng là cao nhất,
còn các vị Ðại Bồ Tát kém cỏi hơn ư?
Ðáp: Các Ðại Bồ Tát: Văn Thù, Phổ
Hiền, Quán Âm, Di Lặc cho đến Ðịa Tạng đều thị hiện ở địa vị Ðẳng Giác,
nhưng các ngài chẳng có cao thấp, sai khác, nhưng chúng sanh đã kết pháp
duyên từ nhiều kiếp đến nay chẳng phải là không có sâu cạn khác nhau. Vì
thế, ước về sự cơ cảm thì tựa hồ có hơn kém, nhưng nếu ước về vị trí của
các Bồ Tát, nhất định chẳng thể nói là có hơn kém được.
Ðịa Tạng Bồ Tát có đại nhân duyên đối
với các chúng sanh trong thế giới này nên đức Thích Ca mới riêng tán thán
Bồ Tát là tối thắng để làm cho chúng sanh tín tâm kiên cố, thảy đều khát
ngưỡng, lãnh thọ sự giáo hóa của Bồ Tát mà đắc độ vậy.
3) Hỏi: Vì sao trong kinh Ðịa Tạng
lại giảng rộng về quả báo nhân thiên, chẳng hề khuyên lơn, khen ngợi
chuyện vãng sanh Tịnh Ðộ?
Ðáp: Trong kinh Bổn Nguyện tuy chưa
nói rõ điều ấy, nhưng trong các kinh khác khuyên khen rất nhiều, nay xin
nêu đại lược vài kinh:
Kinh Ðịa Tạng Thập Luân chép: “Sẽ
sinh cõi Phật tịnh, là chỗ đạo sư ở”; lại chép: “Sẽ sanh Phật tịnh độ, xa
lìa các lỗi ác”; lại chép: “Chẳng lâu sau sẽ an trụ trong cõi Phật thanh
tịnh, chứng đắc Vô Thượng Chánh Ðẳng Bồ Ðề”; lại chép: “Mau trụ cõi Phật
tịnh, chứng đắc Ðại Bồ Ðề”.
Trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp
Báo, như kinh văn đã trích dẫn trong ba chương đầu: “Người ấy xả thân cũng
có thể tùy nguyện vãng sanh tịnh Phật quốc độ ở phương khác”, còn chép:
“Nếu ai muốn sanh về các cõi tịnh trong hiện tại ở phương khác thì hãy nên
chuyên ý tụng niệm danh hiệu của đức Phật ở thế giới ấy, nhất tâm bất
loạn, quyết định sẽ được sanh về tịnh độ của đức Phật ấy”.
Trong Ðịa Tạng Thỉnh Vấn Pháp Thân
Tán, như trong chương thứ năm đã trích dẫn bài kệ bảy chữ: “Người ấy sanh
trong hoa sen sạch, nghe pháp Phật Vô Lượng Thọ nói”.
Trong Ðịa Tạng Bồ Tát Nghi Quỹ như đã
dẫn trong chương thứ năm: “Xả thân xong sanh Cực Lạc”.
Hơn nữa, trong tác phẩm Chiêm Sát
Hạnh Pháp của đại sư Ngẫu Ích, như phần kinh văn đã dẫn trong chương thứ
tám: “Muốn được tùy ý vãng sanh tịnh Phật quốc độ thì phải nên thọ trì tu
hành pháp sám hối này”. Bởi thế, lời phát nguyện tối hậu trong Hạnh Pháp
là: “Xả thân, đời sau sanh trước Phật; đích thân phụng sự Di Ðà, đi hầu hạ
khắp các đức Phật; được thọ ký, trở vào trần lao, nhóm khắp các kẻ mê cùng
về Bí Tạng”. Ðại Sư soạn ra Hạnh Pháp, đề cao kinh văn của kinh Ðịa Tạng
Chiêm Sát, khen ngợi, khuyên lơn vãng sanh, đủ chứng thực vậy.
4) Hỏi: Chúng Tăng đời sau cho rằng:
Bài Văn Tán Thán Ðịa Tạng đang được lưu truyền chưa trang nhã, bóng bẩy,
chẳng đáng để vâng dùng. Nay muốn đối trước Bồ Tát xưng dương, tán thán
các công đức thì nên xướng bài kệ nào mới là thù thắng?
Ðáp: Bài kệ tôi dùng là hai bài kệ
soạn theo ý được diễn giải bởi kinh văn trong phẩm Tự của kinh Thập Luân.
Lại nữa, bài kệ Thuật Tán trong Sám Nguyện Nghi của Ðại Sư Ngẫu Ích diễn ý
đoạn văn trường hàng trong kinh Thập Luân, nêu bật thánh đức không điểm
nào chẳng hoàn bị, khen ngợi Chỉ - Quán. Nay tôi cũng sao lục sau chương
này để kết thúc quyển Thánh Ðức Ðại Quan này.
* Hai bài kệ tán thán soạn theo kinh
Thập Luân:
Bài thứ nhất
Kho tàng thất thánh tài,
Âm thanh Phật vô úy
Là tràng báu thù thắng
Của các vị Bồ Tát
Ðầu quý của chúng sanh
Là thành cho kẻ sợ,
Như trăng sáng soi đường
Sanh căn lành như đất
Phá Hoặc như kim cang,
Giả sử trong trăm kiếp,
Khen nói công đức Ngài,
Vẫn còn chưa hết nổi
Nên đều phải cúng dường.
Bài thứ hai
Một ngày khen công đức,
Tiếng tăm ngài Ðịa Tạng
Còn hơn câu chi kiếp
Nêu đức bậc trí khác,
Chúng sanh trong năm đường
Bị các khổ bức bách
Có khổ đều trừ cả
Hiện ra các thứ thân
Vì chúng sanh thuyết pháp
Thí công đức đầy đủ
Thương xót các chúng sanh
Giả sử trong trăm kiếp,
Nói khen công đức Ngài
Vẫn còn chưa hết được
Vì thế nên cúng dường.
Kệ tán trong Sám Nguyện Nghi của đại
sư Ngẫu Ích:
Nam mô Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát,
Dùng sức thần thông, hiện thân Thanh
Văn, là kho lớn của các công đức vi diệu, là chốn xuất sanh các trân bảo
giải thoát, là tròng mắt sáng sạch của các Bồ Tát, là người dẫn đường cho
các thương nhân tiến đến Niết Bàn, như châu Như Ý mưa các của báu, mong
cầu điều gì đều được trọn đủ. Chiếu người làm lành khác nào mặt nhật rạng
ngời, soi người lạc đường hệt như đuốc sáng. Trừ nóng phiền não như trăng
trong mát. Ngài làm cầu đò để vượt bốn dòng, Ngài làm thuyền bè để đến bờ
kia. Dẹp các ngoại đạo như sư tử chúa. Hàng các thiên ma như đại long
tượng. Giúp kẻ hoảng sợ như người thân, như bạn bè. Ngừa các oán địch như
thành, như lũy. Cứu các nguy nạn hệt như cha mẹ. Giấu kẻ khiếp nhược giống
như rừng rậm. Khiến các hữu tình thiện căn chẳng hoại. Hiện cảnh giới diệu
khiến chúng vui sướng. Khuyến phát hữu tình tăng trưởng tàm quý. Khiến kẻ
cầu phước huệ được đủ trang nghiêm, hay vô công dụng chuyển đại pháp luân.
Công đức thù thắng chẳng thể suy lường. Tu lâu đại nguyện, đại từ kiên cố,
dũng mãnh tinh tấn vượt các Bồ Tát. Trong khoảng bữa ăn, chí tâm quy y,
xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường, khiến cho hết thảy đều lìa ưu
khổ, những điều cầu nguyện mau được viên mãn, đặt yên trong đường sinh
thiên, Niết Bàn. Bởi thế, con nhất tâm quy mạng đảnh lễ.
Ðịa Tạng Bồ Tát Thánh Ðức Ðại Quan
hết
(Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa dịch xong
ngày 17 tháng 5 năm 2003)
1.
Lược một đoạn không dịch vì Ðại Sư thuyết minh cách ấn loát kinh
văn trong bản in lần thứ nhất tác phẩm này. Văn bản dùng để dịch ở đây là
phiên bản điện tử không trình bày theo cách ấn loát được Ðại Sư đề cập
trong lời tựa.
2.
Nguyệt Ái châu là một loại bảo châu theo truyền thuyết có thể làm
nước đục hóa thành trong.
3.
Ruộng thục: là ruộng đã được trồng cấy từ lâu, đất đã “thuần” nên
sản lượng cao.
4.
Hộ ma (homa): dịch nghĩa là Hỏa Cúng Dường, là một cách tác pháp
trong Mật Tông; hành giả dùng cỏ tranh, trầm, các dược liệu, mè, bơ, đề
hồ, vật thực vừa tụng chú vừa đổ vào lửa để cúng dường Bổn Tôn.
5.
Ðịa vị Nhất Tử là địa vị Ðẳng Giác Bồ Tát, coi như con một của thập
phương chư Phật.
6.
Diễm thai: tức là vầng quang minh tỏa sáng rực như hình những ngọn
lửa bao quanh thân, lửa này tượng trưng cho trí huệ mạnh mẽ thiêu đốt mọi
si ám,
7.
Thai Mật tức là Mật Tông theo truyền thống Thiên Thai của Nhật Bản.
Ở Nhật Bản có hai trường phái Mật Tông chính: Chân Ngôn Tông (còn gọi là
Ðông Mật, Ðông Tự Mật giáo) do ngài Không Hải sáng lập và Thai Mật. Thai
Mật tổng hợp giáo nghĩa của Thiên Thai, Mật Tông, Thiền và Luật mà thành.
Thai Mật bắt nguồn từ tông Thiên Thai của ngài Tối Trừng, nhưng người tập
thành hoàn bị Thai Mật là đại sư Viên Nhân, Viên Chân và An Nhiên. Thai
Mật về sau phân chia rất nhiều các chi phái nhỏ.
8.
Phân khoa: chia kinh văn thành từng chương đoạn.
9.
Do sự tích này, trong khoa Mông Sơn Thí Thực cúng thí cô hồn mỗi
chiều tại các tự viện luôn có đọc bốn câu kệ này (nhưng dùng bản Ðường
dịch):
Nhược nhân dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo.
(Nếu ai muốn biết rõ
Tam thế hết thảy Phật
Hãy quán tánh pháp giới,
Hết thảy do tâm tạo).
10.
Thủ tướng sám hối: Phương pháp sám hối cầu thấy những điềm lành
ứng hiện để ấn chứng tội chướng của mình đã tiêu. Vô sanh tác pháp là sám
hối bằng cách quán sát tội tính vốn không, không còn chấp vào tướng nữa.
11.
Tứ Tất Ðàn: hoan hỷ, phá ác, sanh thiện, nhập lý (thông hiểu đệ
nhất nghĩa đế)
12.
Bày trận dựa lưng vào nước, đóng tử quan mà lễ: Khi xưa để buộc
quân phải quyết chiến, Hàn Tín bày trận xoay lưng ra sông. Quân sĩ phải
liều chết chiến đấu vì nếu khiếp nhược lùi lại sẽ bị địch quân đẩy lùi
xuống sông. “Ðóng tử quan” (yểm tử quan) nghĩa là bế quan nhập thất chuyên
tu đến chết mới thôi. Tổ dùng hai điển tích này để khuyên các vị họ Trầm
phải tinh tấn chuyên tu lễ sám như quân lính bị đặt vào hiểm địa phải liều
chết phấn đấu.
13.
Bồ Tát Sa Di: ý tổ nói mình không xứng đáng làm tỳ kheo, chỉ xin
làm vị sa di giữ Bồ Tát giới.
14.
Ngũ Hối là 5 chi phần tác pháp của việc sám hối gồm: phát lộ (xưng
bày tội lỗi), khuyến thỉnh thuyết pháp (khuyên mời chư Phật, Bồ Tát thuyết
pháp), tùy hỷ công đức, hồi hướng, phát nguyện. 5 chi phần này dựa theo
mười nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát mà lập ra. Nhị Quán là Duy Tâm Thức
Quán và Chân Như Thực Quán.
15.
Ở đây, Tổ ví dụ việc tu tập như dùng thuốc: “Tháng ngày bôi đắp
thuốc” là thực hành tu tập sám pháp, kiêng thứ kỵ thuốc và tránh phong
hành là tránh những nguyên do khiến việc tu tập bị tán loạn. Chân Thân Xá
Na là báo thân Lô Xá Na của Phật. Tương truyền, xưa có vị cao tăng giảng
đạo cao huyền, đá nghe cũng gật đầu tán thưởng.
16.
Ðồng phận vọng kiến: cái thấy biết sai lầm của những người mang
cùng nghiệp lực. Chẳng hạn những người cùng sống trong một đất nước, cùng
chủng tộc thì sẽ cùng nhận biết, chia sẻ nghiệp cảnh giống nhau.
17.
Ðịu: một thứ đồ dùng bằng vải của người Trung Hoa, gồm một tấm vải
dài có may bốn sợi dây buộc, thường thêu hoa và có màu đỏ, mẹ đặt con vào
địu, cho con ôm lưng mẹ, rồi buộc dây giữ quang vai và bụng mẹ để có thể
vừa làm lụng vừa trông con.
18.
Chỉ thú: tông chỉ và thú hướng. Giáo môn hay giáo nghĩa được một
bộ kinh đề cao, đặc biệt tuyên dương gọi là tông hay tông chỉ. Mục đích
hướng về hay pháp môn tu hành mà bộ kinh quy kết lại gọi là thú hay thú
hướng. Chỉ thú thường gọi là “tông thú”.
19.
Tam giới là Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới. Tứ tướng là vô
thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Tam thân là Pháp Thân, Hóa Thân, Ứng Thân.
Tứ đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
20.
Núi Cửu Hoa nơi ứng tích của Bồ Tát Ðịa Tạng có chín ngọn, thường
được gọi là Phù Dung Cửu Ðảnh Sơn hay Phù Dung Cửu Ðóa Sơn.
21.
Ðông Lỗ chỉ Nho Giáo, vì Khổng Tử quê ở Khúc Phụ, thuộc đất Lỗ.
Tây Càn là Ấn Ðộ, Trung Hoa xưa thường gọi Ấn Ðộ là Tây Càn vì Ấn Ðộ ở
phía Tây Trung Hoa. Ở đây, Tây Càn chỉ Phật giáo.
22.
Nguyên văn: “lưu nhập cơ cảnh”, ý nói: thiền cơ sắc bén, phản ứng
nhanh nhẹn trong mọi hoàn cảnh. Các Thiền Sư hay dùng những “cơ phong” đối
đáp nhau chan chát.
23.
Vết cũ cáo hoang (dã hồ khỏa cữu): Dã hồ là thân cáo hoang, chồn
hoang. “Khỏa cữu” là khuôn sáo cũ, vết cũ. Lấy tích vị Tăng thời Ca Diếp
vì lầm giảng nhân quả, phải mang thân cáo năm trăm kiếp, may nhờ tổ Bách
Trượng điểm hóa nên được giải thoát. Thiền giả chấp lý phế sự sẽ dễ mắc
đúng ngay lỗi “bác không nhân quả” ấy nên Tổ Linh Phong gọi là “vết cũ cáo
hoang”.
24.
Tích Phật: Ðức Phật thị hiện. Theo giáo nghĩa tông Thiên Thai, chư
Phật thị hiện trong một quốc độ nào đó để giáo hóa gọi là Tích Phật, còn
báo thân chân thật gọi là Bản Phật. Chẳng hạn, đức Phật Thích Ca thị hiện
thành đạo, giáo hóa 40 năm, nhập Niết Bàn, đó là Tích Phật. Còn Bản Phật
thì thọ lượng vô lượng vô biên bất khả thuyết, bất khả thuyết.
25.
Ðoạn này Tổ nhắc đến phẩm Hiện Bảo Tháp trong kinh Pháp Hoa: Chư
Bồ Tát chắp tay khải thỉnh Phật mở tháp Ða Bảo, Phật khảy ngón tay, ống
khóa vàng khóa cửa tháp tự mở, Phật Ða Bảo hiện toàn thân, ngồi kiết già
trong ấy.
26.
Sát trần: thuật ngữ kinh Hoa Nghiêm, chỉ số lượng vi trần trong
một cõi Phật, dùng để ví với con số không thể tính đếm được. “Châu treo ba
cõi”: Châu ở đây là viên Như Ý Châu Bồ Tát thường cầm trong tay. Trong
Phật đường thường hay tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát như sau: “Chưởng ốc minh
châu quang bất muội, thủ trung kim tích nạp thiện duyên” (Tay cầm minh
châu ánh sáng chẳng mờ tối; tay cầm tích trượng vàng nạp thọ thiện duyên).
---o0o---
Source: http://www.niemphat.net/
Trình bày: T Đức Tuấn - Linh Thoại
Cập nhật
ngày: 01-06-2005