Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
85
Luận sử tông Tịnh độ
Việt dịch:
Quảng Tấn - Quảng Ân - Quảng Bình
Quảng Hiếu
- Huệ Hải - Quảng Xả
Quảng Mẫn
- Tâm Đức - Huệ Chí - Tâm Đại
Hạnh Minh
- Nhuận Độ - Nguyên Thành
Tâm Hiếu -
Như Giáo - Nguyên An
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Phụ chú:Thích
Tâm Nhãn
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
LỜI GIỚI THIỆU
Bất luận kẻ Tăng người tục nào, sau khi đến
với Phật giáo, thời gian đầu hầu hết đều thuộc câu: “Nhất cú Di-đà vô biệt
niệm, bất lao đàn chỉ đáo Tây phương”, nghĩa là Di-đà sáu chữ niệm luôn,
Tây phương thẳng đến nhọc nhằn chi đâu.
Tổ tổ tương truyền: Trong tám vạn bốn ngàn
pháp môn đối với đời mạt pháp, chỉ có pháp môn niệm Phật cầu sanh Tịnh độ
là dễ tu nhất, căn cơ nào tu cũng được. Cho nên pháp môn niệm Phật được
mệnh danh “Thần dược”. Vì
“Thuốc không ở chỗ quý
hay tiện, trị bệnh bớt là tốt. Pháp không có cao có thấp, khế hợp căn cơ
gọi là diệu”. Như trăm sông đều chảy về biển cả. Biển đây là biển giải
thoát. Tám vạn bốn ngàn pháp môn chung qui cũng là “Chỉ tâm nhất xứ” (chấm
dứt vọng niệm).
Dịch phẩm “Luận sử tông Tịnh độ” này, là
chuyên đề luận về sự diễn tiến lịch sử pháp môn niệm Phật của các vị Thiền
sư, Tông sư Trung Quốc; tương đối bàn về pháp môn Tịnh độ một cách cụ thể,
dễ lãnh hội.
Trong khi chuẩn bị ấn hành tập Pháp Tạng
Phật Giáo Việt Nam số 85 (Luận sử tông Tịnh độ) thì cư sĩ Võ Như Bửu,
trưởng Ban bảo trợ của Ban phiên dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam tại Hoa
Kỳ tạ thế. Chúng tôi xin trân trọng hồi hướng phước báo dịch phẩm “Luận sử
tông Tịnh độ” đến hương linh cư sĩ Võ Như Bửu được vãng sanh Tịnh độ, để
rồi vị “cư sĩ thăng hoa” này tiếp tục phò hộ chúng tôi hoàn thành Phật sự
phiên dịch Pháp Tạng.
Chúng tôi nhất tâm giới thiệu tập Pháp
Tạng “Luận sử tông Tịnh độ” với lời đề nghị: Chúng ta tập thế nào cứ mỗi
hơi thở vô đều thầm niệm hai chữ “Nam Mô” và mỗi hơi thở ra với bốn chữ
“A-di-đà Phật”. Vậy ngày nào chúng ta còn có hít vô thở ra là ngày ấy tâm
niệm gắn liền Hồng danh Phật, và đời sống của chúng ta luôn thấy đức Phật
A-di-đà hiện hữu. Như thế nghĩa là “Di-đà
sáu chữ niệm luôn, Tây phương thẳng đến nhọc nhằn chi đâu”.
Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh
kính bạch
LỜI NÓI ĐẦU
Sự manh nha tư tưởng
Tịnh độ phát nguyên từ tinh thần căn bản Phật giáo Ấn Độ; tư tưởng ấy
không những siêu thoát ra ngoài cõi đời ngũ trược ô nhiễm mà còn bỏ lại
sau lưng thế giới đang cháy rực bởi ngọn lửa phiền não thiêu đốt. Và đặc
biệt tư tưởng Tịnh độ cũng thẩm thấu được toàn thể “Bản nguyện” mà đức
Thích Ca Mâu Ni đã hoài bão. Nhưng theo những học giả cận đại khảo chứng
về lịch sử bối cảnh xã hội, họ nhận thức rằng giáo thuyết này không phải
bắt nguồn từ Ấn Độ mà có thể truyền nhập từ Ba Tư, vì tính cách quan niệm
của họ liên tưởng giáo phái tôn thờ sùng bái lửa “Zoroastrianism”, hợp với
nghĩa “Vô lượng quang” của đức Phật A-di-đà (Đức Phật có ánh sáng vô tận).
Nhưng quan niệm ánh quang minh của giáo phái thờ lửa không nhất thiết liên
hệ với nghĩa “Vô lượng quang”, theo truyền thống Bà-la-môn giáo đa phần
cũng có quan niệm này.
Cuộc sống nhân loại
từng trải qua thời kỳ bóng đêm ngự trị thì ai mà không mong cầu, khát
ngưỡng đến “ánh sáng”, cho nên ánh sáng ấy là biểu tượng truy cầu của nhân
loại. Hàm nghĩa A-di-đà Phật cũng chỉ là như vậy, nhưng trên tinh thần cụ
thể lại là hiện thân của đức Thích Ca Mâu Ni. Tinh thần ấy do Phật giáo
Đại thừa phát triển theo mỗi lời thệ nguyện của Phật A-di-đà – mười phương
chư Phật đều có thể thành tựu. Hiện nay, tất cả chúng ta đều nguyện cầu
sanh về thế giới của Đại nguyện chủ A-di-đà cách mười vạn ức cõi Phật. Ý
nghĩa tín ngưỡng này rất thâm thúy, nó ảnh hưởng thiết thực đến đời sống
thường nhật và đến thực thể sinh mạng của mỗi con người. Do Ấn Độ truyền
giáo thuyết này vào Trung Quốc đầu tiên nên nó trở thành sự thực, trở
thành chơn chánh. Tịnh độ tông bắt đầu xuất hiện từ thời Đông Tấn; đó cũng
là điểm mốc thời gian lịch sử Tịnh độ tông khởi nguyên. Sự hoằng dương
kinh qua hơn một ngàn năm trăm năm, đã trở thành tông phái Phật giáo quan
trọng nhất tại Trung Quốc, đồng thời cũng làm nền tảng tinh thần cho người
Trung Quốc, “người người kính Quan Âm, nhà nhà thờ Di-đà”. Chúng tôi gọi
là sử Tịnh độ tông, vì từ khi Tịnh độ tông phát nguyên cho đến Tịnh độ
tông phát triển trên hai ngàn năm đều có một dàn ý (tiểu sử) rõ ràng trong
mỗi bài, hiển hiện trước mắt độc giả.
Tập sách này gồm 19
bài, chín bài đầu mang tính chất thông sử luận về Tịnh độ, mười bài sau
chủ yếu nêu lên những nhân vật tông Tịnh độ và mỗi nhân vật đại biểu như
bậc “Long tượng” cho Tông môn trong một thời đại. “Ngọn đuốc” tinh thần
Tịnh độ tông được thắp sáng miên viễn là nhờ các ngài đã một đời tận tụy
tuyên dương và khai triển.
Trong bổn Tịnh độ
này bao quát cả quan niệm về Tịnh độ Đâu-suất, Tịnh độ Lưu Ly v.v… nhưng
tại Trung Quốc trên danh nghĩa lập tông Tịnh độ chỉ thuần tuý tôn kính
Di-đà làm đối tượng tín ngưỡng. Trong bộ “Phật giáo học thuật tùng san”1
có những tập “Tịnh độ luận”, hoặc “Tịnh độ tư tưởng luận” cũng hoàn toàn
hướng đến tín ngưỡng Di-đà làm chuẩn mực cho Tịnh độ tông. Phần tín ngưỡng
Tịnh độ Đâu-suất Di-lặc chỉ dành riêng trong quyển 692, tựa “Nghiên cứu
Bồ-tát hạnh và Tịnh độ Di-lặc”.
Chúng tôi hy vọng
các Thức giả, Thiện hữu sùng kính, qui ngưỡng Tịnh độ tông có thể xem trọn
tập và tuỳ duyên tu học hành trì.
Ban biên tập
“Phật giáo học
thuật tùng san”
Tâm Nhãn dịch
THƯ MỤC
THAM KHẢO PHỤ CHÚ
1.
Đại Chánh tân tu đại tạng kinh
2.
Phật quang đại từ điển - Phật quang xuất bản xã ấn hành
3.
Trung Quốc Phật giáo nhân danh đại từ điển - Thượng Hải từ thư xuất
bản xã ấn hành
4.
Phật giáo tiểu từ điển - Thượng Hải từ thư xuất bản xã ấn hành
5.
Thực dụng Phật học từ điển - Phật đà giáo dục cơ kim hội
6.
Từ điển Thiền học Hán Việt - Nhà xuất Tp. HCM
7.
Từ điển Phật học Hán Việt - Nhà xuất bản Khoa học xã hội
8.
Trung văn đại từ điển - Trung Quốc văn hoá nghiên cứu sở ấn hành
9.
Đại từ điển - Tam dân thư cục ấn hành
10.
Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc - Nguyễn Tôn Nhan biên dịch
11.
Liên tông thập tam tổ - Hòa thượng Thích Thiền Tâm soạn dịch
12.
Các tông phái của Phật giáo - Tuệ sỹ dịch
13.
Đại cương văn học sử Trung Quốc - Nguyễn Hiến Lê soạn dịch
BAN ÐIỀU HÀNH PHIÊN DỊCH
PHÁP
TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM
-Trưởng
ban điều hành:
Thích Ðỗng Minh
-
Phó ban kiêm hiệu đính:
Thích Ðỗng Tuyên
-
Phó ban kiêm tài chính:
Thích Minh Thông
-
Phó ban kiêm điều hành, chứng nghĩa:
Thích Tâm Hạnh
-
Phụ tá Trưởng ban:
Thích Huệ Ðắc
Thích Nguyên Xuân
Thích Nguyên An
Thích Tâm Pháp
Thích Tâm Nhãn
- Thư ký: Cư sĩ Giác Tuệ
Thành Viên
Ban Phiên dịch:
|
1.Thích
Đỗng Minh
2.Thích
Tịnh Diệu
3.Thích
Đỗng Tuyên
4.Thích
Minh Thông
5.Thích
Tâm Hạnh
6.Thích
Minh Thành
7.Thích
Nhật Từ
8.Huệ Đắc
9.Quảng
Hạnh
10.
Nhật Hiếu
11.
Nguyên Xuân
12.
Tâm Pháp
13.
Tâm Nhãn
14.
Nguyên Đăng
15.
Nguyên An
16.
Quảng Niệm
17.
Vạn Hành
18.
Nguyên Thành
19.
Nguyên Chơn
20.
Đạo Luận
21.
Nguyên Tâm
22.
Huệ Hải
23.
Đạo Tri
24.
Quảng Mẫn
|
25. Tâm
Đại
26. Đạo
Biện
27. Hạnh
Minh
28. Đạo
Trí
29. Quảng
Thông
30. Minh
Chánh
31. Hoằng
Trí
32. Tâm
Tôn
33. Quảng
Sanh
34. Tịnh
Nhơn
35. Đạo
Không
36. Diệu
Nghiêm
37. Hành
Giải
38. Hạnh
Thiện
39. Tịnh Nguyên
40.
Nguyên Nhuận
41. Cư sĩ
Thiện Đức
42. Cư sĩ
Tuệ Khai
43. Cư sĩ
Giác Tuệ
44. Cư sĩ
Hạnh Cơ
45. Cư sĩ
Phước Thắng
46. Cư sĩ Pháp Hiền
47. Cư sĩ
Tịnh Minh
|
Phương danh Ban bảo trợ tại Hoa Kỳ
về Phật sự phiên dịch
“Pháp
Tạng Phật Giáo Việt Nam”
Trưởng ban:
Cư sĩ Như Bửu
Thư ký:
Cư sĩ Quảng Thành
Phó thư ký:
Cư sĩ Ðức Hạnh
Thủ quỹ:
Cư sĩ Nguyên Phương
Thành viên Ban bảo trợ:
Cư sĩ Thiện Thông
Cư sĩ Nguyên Lượng
Cư sĩ Từ Mẫn
Cư sĩ Chơn Quang
Và cựu Học Tăng Phật Viện Việt Nam
cùng chí hướng, hiện cư trú tại Hải ngoại.
|
--- o0o ---
[
Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09]
[10] [11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18]
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn HT Thích
Đổng Minh đã gởi tặng bản điện tử tập sách này.
TK Thích Nguyên Tạng.
01-04-2004
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005