Trên kia có trăng và dưới này có
biển lớn.Đi tới đâu ta cũng thấy bóng trăng chiếu xuống.Đứng tại nơi này cũng
thấy bóng trăng, đi tới một trăm cây số nhìn xuống cũng còn thấy bóng
trăng.Bóng trăng ở khắp nơi, nghĩa là ánh sáng của trăng thu này không bị ngăn
cách bởi không gian và thời gian, giống như pháp thân A Di Đà trong ta luôn
luôn có mặt không chỉ ở phương Tây mà ở khắp nơi.Trùng dương là biển rộng.Vì
biển lặng nên mình thấy trăng thu có mặt khắp nơi.Đó là hình ảnh mà thi sĩ
dùng để diễn tả cái pháp thân A Di Đà của ta.Đó là quan niệm về A Di Đà và
Tịnh Độ của bậc thượng trí.
Bây giờ ta hãy nói đến quan niệm
của bậc trung trí.Chúng ta trở về với lời tuyên bố của vua Trần Thái Tông:
"Đối với bậc trung trí, tất cả đều cần mượn đến phương pháp Niệm Phật, chuyên
tâm tinh cần, niệm trước nối tiếp niệm sau, không vong thất, gián đoạn, tự tâm
thành ra thuần thiện.Thiện niệm được hiện thì ác niệm liền tiêu, ác niệm đã
tiêu thì chỉ còn lại thiện niệm.Dùng thiện niệm để ý thức đến sự có mặt của
khái niệm và dùng khái niệm để diệt trừ khái niệm.Khái niệm đã diệt, tất nhiên
hành giả trở về với chánh đạo.Khi mạng chung thì ta đạt tới niềm vui Niết
bàn.Thường, Lạc, Ngã, Tịnh vốn chính là chất liệu Niết bàn của Bụt vậy."
Đối với bậc thượng trí, A Di Đà là
Pháp thân của mình và Tịnh Độ cũng nằm trong Pháp thân đó.Đối với bậc trung
trí thì hành giả phải thực tập tinh chuyên niệm Bụt, niệm trước nối tiếp niệm
sau không vong thất, không gián đoạn.Và niệm Bụt trước hết là niệm cái tâm của
mình, trở về với tâm mình trong giây phút hiện tại.Bụt A Di Đà và cõi Tịnh Độ
là đối tượng của Niệm.Mình phải mượn hình ảnh của Bụt A Di Đà, hình ảnh của
ánh sáng, hình ảnh của một cõi không ô nhiễm bởi danh lợi, sân si, phiền não
làm đối tượng của Niệm.Vì niệm bao giờ cũng phải niệm một cái gì.Niệm là
nhớ.Niệm có chủ thể niệm và đối tượng niệm.Và niệm đó phải là niệm liên
tục.Đối với bậc thượng căn, thượng trí thì không cần niệm.Tại vì A Di Đà vốn
là pháp thân của mình, cõi Tịnh Độ vốn là pháp thân của mình.Nhưng đối với bậc
trung trí chưa thấy được A Di Đà là tâm của mình, thì cần phải thực tập niệm
để trở về với giây phút hiện tại, và đối tượng của giây phút hiện tại là đức A
Di Đà và cõi Tịnh Độ.Bậc trung trí luôn luôn nổ lực để duy trì chánh niệm để
chánh niệm có mặt liên tục.Nhờ sự thực tập liên tục đó mà một ngày kia, khi đã
được thuần thục, ta sẽ đạt tới chỗ vô niệm - nghĩa là không còn niệm nữa mà A
Di Đà và cõi Tịnh Độ vẫn hiện tiền.Bậc trung trí luôn luôn duy trì thiện niệm,
do đó ác niệm không sanh.Tại vì khi mà đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ còn tiếp tục
có mặt trên ý thức của mình thì những phiền não không có môi trường và cơ hội
để sinh khởi.Thiện niệm miên mật ngăn được tà niệm, đó là sự thực tập của bậc
trung trí.
"Đối với bậc trung trí, cần mượn
đến phương pháp Niệm Phật, chuyên tâm tinh cần niệm trước nối tiếp niệm sau
không vong thất, gián đoạn, khiến tự tâm thành ra thuần thiện, đưa hành giả
trở về với chánh đạo".Lúc đó hành giả từ nơi niệm trở về với vô niệm nghĩa là
không cần phải niệm nữa mà ánh sáng của Bụt A Di Đà vẫn hiện ra ở nơi tâm
mình.
"Đối với bậc hạ trí, miệng phải
chuyên niệm lời Bụt, tâm phải mong thấy tướng Bụt và phải nguyện sanh về nước
Bụt.Ngày đêm siêng năng tu hành không thối chuyển, sau khi mạng chung, tùy
thiện niệm của mình mà sanh về nước Bụt.Sau đó, được nghe chánh pháp do chư
Phật giảng dạy mà cũng chứng được quả vị Bồ đề.Đây là sự thực hành Tịnh Độ của
bậc hạ trí."
Hạ trí thì dùng cả thân, khẩu, ý để
niệm Bụt nghĩa là phải niệm Bụt bằng miệng và tâm phải mong thấy tướng Bụt.Vì
sao?Bậc hạ trí chưa có trí tuệ lớn để có thể thấy được đức A Di Đà và Tịnh Độ
chính là pháp thân của mình.Bậc hạ trí nghĩ rằng đức A Di Đà và cõi Tịnh Độ là
ở phương Tây và phải sử dụng danh hiệu "Nam mô Bụt A Di Đà" hoặc "Nam mô Tây
phương Cực Lạc thế giới đại từ, đại bi A Di Đà Phật".Họ phải sử dụng âm thanh
niệm Bụt, phải nương vào hình ảnh của Bụt để có thể quán tưởng.Tại vì người sơ
cơ cần có những hình ảnh và âm thanh làm điều kiện để duy trì chánh niệm.Và
đối tượng của chánh niệm là Bụt A Di Đà và cõi Tịnh Độ ở phương Tây.
Như vậy, bậc thượng trí tu theo
thượng trí, bậc trung trí tu theo trung trí, bậc hạ trí tu theo hạ trí, tu tập
theo bậc nào thì có lợi ích theo bậc đó.Do đó kinh A Di Đà đáp ứng được cho cả
ba trình độ tu tập, cho nên mình đừng bắt buộc người khác phải thực tập Tịnh
Độ giống hệt như mình.Đây là điều hết sức tế nhị.Mình không có quyền nói rằng
phương pháp thực tập của tôi mới đúng, còn phương pháp thực tập của anh là
sai.Ta phải biết rằng mọi phương pháp tu tập chỉ là phương tiện đưa người thực
hành đi tới với Tịnh Độ, hay đi tới với sự an toàn và hạnh phúc.Và mỗi người
đi tới với Tịnh Độ tùy theo căn trí của mình.Căn trí đã khác nhau, người thì
bắt đầu từ chỗ này, người thì bắt đầu từ chỗ kia.Vì vậy, nhận thức của mình về
sự thực tập Tịnh Độ phải là một nhận thức rộng rãi mới được.Đạo Bụt có tám
mươi bốn ngàn pháp môn; nếu may mắn thì mình tìm ra được một trong các pháp
môn ấy và sự thực tập đem lại cho mình hạnh phúc.
Ta hãy cẩn thận đừng nói chỉ có
pháp môn của ta mới đúng còn các pháp môn khác là không đúng.Nói như vậy là
không hợp với tinh thần đạo Bụt.Vì vậy giáo lý Tịnh Độ có thể nói là một hình
thức thực tập của Thiền.Tịnh có thể là Thiền mà Thiền cũng có nghĩa là
Tịnh.Đứng về phương diện Thiền ta có thể thấy rằng Tịnh Độ là một thực tại có
mặt ngay trong giây phút hiện tại.Khi mình bước đi những bước chân vững chãi
và thảnh thơi, khi hơi thở của mình đưa lại sự vững chãi, thảnh thơi và đem
lại an lạc thì Tịnh Độ hiện tiền ngay trong giây phút này.Vì vậy, mình không
thấy sự khác biệt giữa Thiền và Tịnh.Khi sử dụng âm thanh để niệm Bụt, sử dụng
hình ảnh để quán chiếu về Bụt mà ta có được một ít năng lượng Chánh niệm và
Tam muội thì lúc đó Thiền đang có mặt trong ta.Như vậy Thiền và Tịnh chỉ khác
nhau ở danh từ mà không khác nhau ở bản chất.Ta cần có cái nhìn tương tức như
thế khi đi vào kinh văn:
"Đây là những điều tôi đã được nghe
Bụt nói vào một thời Người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây của
Thái tử Kỳ Đà."Đó là lời của Thầy A Nan."Hồi đó cùng ở bên Bụt có một ngàn hai
trăm năm mươi vị khất sĩ, trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Bụt mà
ai cũng biết đến như các thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên
Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đà, Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La,
Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạt Câu La
và A Nậu Lâu Đà."
Tất cả những tên gọi này chúng ta
đều có tiếng Phạn ở trong bản tiếng Anh.Nếu có thể được, thì quý vị hãy tìm
hiểu về từng người, tại vì trong kinh có ghi chép về từng vị.Chúng ta nghe tên
quý vị nhưng chúng ta cũng phải biết sơ lược công hạnh của sự thực tập, cũng
như bản tính của từng người.Hiện nay, chúng ta đã có những cuốn sách nói về
quý thầy, và khi đọc những cuốn sách đó, chúng ta có một ít nhận thức về tánh
tình, sự hành trì và trí tuệ của từng người.Sự hiểu biết như vậy là rất quý!
"Lại cũng có mặt các vị Bồ tát đại
nhân như Văn Thù, A Dật Đa, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh Tấn, và rất nhiều các vị
Bồ tát lớn như thế, cùng với chư thiên như Thích Đề Hoàn Nhân, nhiều đến vô
lượng, đều cùng có mặt."
Tất cả những danh từ đó, chung và
riêng, chúng ta có thể học hiểu thêm từ những tác phẩm chú giải.
"Lúc bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi
Phất và bảo:Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Phật, có một
thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy, có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang
thuyết pháp."
Chúng ta biết rằng kinh này thuộc
về loại kinh "vô vấn tự thuyết" nghĩa là tuy không có ai hỏi cả mà Bụt tự
nhiên nói ra.Bụt Thích Ca giới thiệu đức A Di Đà và cõi nước Cực Lạc nằm về
phía Tây.Nằm về phía Tây, nghĩa là lúc đó Bụt ngồi tại tu viện Cấp Cô Độc và
Ngài chỉ về phía Tây của Ngài.Nếu lúc ấy ta ngồi ở bên kia bán cầu thì Tịnh Độ
lại nằm ở phương Đông của ta.Chỉ điều đó thôi cũng đủ cho chúng ta thấy rằng ý
niệm Tây, Đông là không quan trọng.
Bây giờ chúng ta hãy tìm đọc câu
kinh định nghĩa về Cực Lạc:"Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì sao gọi là Cực
Lạc?Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi thứ
an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc."Nếu ta hiểu được câu kinh này thì
ta khỏi cần học thêm kinh nào nữa hết.Câu kinh ấy trong văn hệ chữ Hán như
sau:"Kỳ độ chúng sanh, vô hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc, cố danh Cực Lạc."Đây
là định nghĩa về Cực Lạc.Chúng sanh ở trong cõi nước đó không biết khổ là gì,
chỉ hưởng thụ hạnh phúc mà thôi.Vì vậy, cõi đó gọi là cõi Cực Lạc.Câu kinh này
có thể được xếp loại vào các kinh văn "bất liễu nghĩa".Bất liễu nghĩa là chưa
đạt tới cứu cánh.Tôi còn nhớ ngày xưa ở Phật học đường Báo Quốc có một học
tăng tên là Viên Giác, bổn sư của Thầy Tịnh Từ, viện trưởng tu viện Kim Sơn
bây giờ.Hồi đó là mùa thi lên lớp.Sau khi làm bài rồi thì đến lượt thi vấn
đáp.Thầy Viên Giác được gọi tên, các học tăng khác ngồi dưới.Hôm đó thi kinh A
Di Đà.Các thầy giáo thọ còn hỏi lại:Cực Lạc nghĩa là gì?Thầy Viên Giác hơi có
tự ái, tại vì cho rằng mình đã học lên trung học rồi mà các thầy giáo thọ còn
bắt mình định nghĩa thế nào là Cực Lạc.Thầy Viên Giác không vui và thầy nói
liều:‘‘Cực là cực khổ, Lạc là hạnh phúc.’’Chữ "Cực" có nghĩa là rất; Cực Lạc
là rất sung sướng chứ không phải là cực khổ và sung sướng.Vì tự ái nên thầy đã
trả lời như vậy, chứ không phải là thầy không hiểu nghĩa chữ Cực lạc.Các thầy
giáo thọ đều thấy điều đó, nên ai cũng cười.
Khi đọc câu kinh này, mình thấy
được lòng từ bi của đức Thế Tôn.Vì sao? Vì trong chúng ta, ai cũng muốn trốn
chạy khổ đau, tìm tới một cõi không có khổ đau.Phần lớn chúng ta đều là những
người nhát gan, đều là những người yếu đuối, chúng ta ai cũng sợ đau khổ,
chúng ta ai cũng chạy trốn đau khổ, ai cũng muốn đi tìm tới một cõi không có
khổ đau.Đó là tính người.Bụt thấy được điều đó,nên Bụt nói:"Có một cõi không
có khổ đau, chỉ toàn là hạnh phúc." Nghe như thế, chúng ta tỉnh người ra và
vễnh hai tai lên nghe.Thi sĩ Chế Lan Viên viết như thế này:
‘‘Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh
Một vì sao trơ trọi cuối trời xa
Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh
Những ưu sầu, đau khổ với buồn
lo.’’
Thi sĩ ưu sầu, đau khổ, buồn lo
nhiều quá đi, nên bây giờ muốn đi tới một vì sao, xa bao nhiêu cũng được, nơi
mà ông có thể trốn chạy được những ưu sầu, đau khổ và buồn lo ấy trong cuộc
sống hiện tại.
Tội nghiệp cho thi sĩ quá!Trong khi
đó, với sự quán chiếu của tương tức, không thể có cái gọi là vui mà không đi
theo cái gọi là khổ.Cũng như vậy, không thể nào có cái rác nào mà lại không
thể biến thành hoa, cũng không thể nào có cái hoa nào mà lại không biến thành
rác.Cũng như cái bên phải và bên trái.Nếu không có bên phải thì làm gì có bên
trái, nếu không có bên trái thì làm gì có bên phải.Cái khổ với cái vui cũng
vậy thôi.Mình đi tìm một cõi mà trong đó chỉ có cái vui mà không có khổ, đó có
phải là một không tưởng không?Ở đây, đức Thế Tôn có muốn hiến tặng cho chúng
ta một cái không tưởng hay không?Nếu chúng ta không biết đói là gì, thì khi ăn
cơm chúng ta sẽ không có hạnh phúc.Sở dĩ ăn cơm mà có hạnh phúc là vì chúng ta
đã biết đói là gì.Hãy tưởng tượng một người chưa bao giờ biết đói.Người đó có
ăn cái gì đi nữa, thì cũng không có hạnh phúc.Những người chưa bao giờ bị rét
thì không thấy được cái hạnh phúc của người được mặc áo ấm, hoặc những người
chưa bao giờ nếm mùi địa ngục thì không thể nào thấy được giá trị của Thiên
đường.Rõ ràng là nếu chúng ta không biết khổ là gì thì chúng ta không thể nào
biết vui là gì.Vì vậy, một cõi không có khổ mà chỉ có vui là một cõi hoàn toàn
không tưởng."Dân chúng trong nước đó không biết khổ là gì, chỉ hưởng thụ mọi
thứ an lạc, nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc."Câu đó có phải là một câu kinh
"liễu nghĩa" hay không, hay là một câu kinh quyền nghĩa?Cho nên câu kinh này
là một câu kinh có thể làm cho chúng ta mất ngủ.
Chúng ta có thể đi sâu vào câu kinh
này để giải thích rằng cái Lạc của cõi Tịnh Độ không phải là cái Lạc tương đối
mà là cái Lạc tuyệt đối, vượt thoát ra khỏi cái vui khổ tầm thường, nhưng điều
đó cũng chỉ nằm trong phạm vi triết học và lý luận.Cũng như nói là:"Thiên hạ
đua nhau nói khổ vui, có chi là khổ, có chi vui" rồi kết luận:"thà rằng đừng
khổ cũng đừng vui."Đừng khổ, đừng vui mới là cái vui tuyệt đối, nói như vậy
cũng chỉ là lý thuyết thôi.Sự thật có những người trong chúng ta rất sợ đau
khổ, có những người nghĩ rằng có thể chạy trốn đau khổ, đi tìm tới một chỗ
không có đau khổ.Ta biết họ đang khao khát như vậy, nên ta mới thiết lập
phương tiện để hiến tặng cho họ một tia hy vọng, nói rằng có một cõi không có
đau khổ mà chỉ thuần là hạnh phúc thôi, đó là cõi Cực lạc.
Sư em Kính Nghiêm có một đứa em gái
tên là Ánh, mười hai tuổi.Nó tới Làng Mai và tuyên bố một câu động trời:"Con
muốn sống ở một nơi mà buổi sáng có hạnh phúc, buổi trưa có hạnh phúc, buổi
chiều có hạnh phúc."Theo ý nó thì chỉ có Làng Mai mới được như vậy thôi.Nếu ở
lâu tại Làng Mai chừng ba, bốn tháng thì nó sẽ biếthạnh phúc ở chỗ là tuy mình
có đau khổ nhưng nếu mình biết chuyển hóa đau khổ thì hạnh phúc sẽ có mặt.Cái
khổ ở bên cạnh nhắc mình nhận diện ra hạnh phúc cũng ở bên cạnh.Nếu không có
cái khổ đó thì mình không biết được là hạnh phúc đang có mặt.Do đó cõi Cực Lạc
của chúng ta, nếu quả thực là một cõi Cực Lạc đúng theo nghĩa của nó, thì phải
có những dấu hiệu của khổ đau để người ta được nhắc nhở rằng:Anh đang được
hạnh phúc.Có rất nhiều người đang ở Thiên đường nhưng không biết là họ đang ở
Thiên đường, tại vì họ không biết hoặc chưa biết khổ đau là gì.
Xin đại chúng hãy tổ chức pháp đàm
về câu kinh này.Đọc câu kinh này, trước hết ta thấy được lòng từ bi của
Bụt.Bụt thấy rằng con người yếu đuối, con người đau khổ, con người muốn chạy
trốn khổ đau và Bụt nói rằng có một cõi, nơi ấy chỉ có hạnh phúc thôi, không
có đau khổ.Đây là một Hóa Thành (a magic city) - một thành phố do nhà ảo thuật
biến hiện ra để cho đoàn người, sau bao nhiêu ngày đi mệt mỏi, có một chỗ để
mà nghỉ ngơi.Sau thời gian nghỉ ngơi, đoàn người đó có khả năng lên đường trở
lại - đây là một hình ảnh trong kinh Pháp Hoa.Một đoàn người đang đi kiếm châu
báu.Sau bao nhiêu tuần lễ trèo non, lặn suối, đoàn người đó mệt nhoài và trong
tâm có người muốn thoái lui.Vị Đạo sư - người dẫn đường - nói rằng:"Các người
cố gắng đi, gần đây có một thành phố.Nếu chúng ta đi thêm bốn, năm giờ nữa thì
chúng ta sẽ tới thành phố đó thì chúng ta sẽ được nghỉ ngơi, ăn uống, tắm
rửa.Khi nghe như vậy, đoàn người có năng lượng thêm và họ đi thêm được bốn,
năm giờ.Sau đó, người lãnh đạo dùng phép thần thông của mình biến hiện ra một
thành phố gọi là Hóa Thành.Hóa tức là biến hiện.Tất cả những người kia thấy
thành phố liền tìm nơi đi rửa chân, rửa mặt, tắm rửa, ăn uống, nằm ngủ.Sáng
mai thức dậy, thì thành phố đó biến mất, vì thành phố đó chỉ là một hóa thành.
Tôn giáo, nói chung, có mục đích là
để an ủi con người, để làm dịu bớt những đau khổ của cuộc sống, hứa hẹn một
nếp sống ít đau khổ, nhiều an lạc.Vì vậy tôn giáo hay cống hiến cho chúng ta
một cái gọi là Thiên đường và cho chúng ta nuôi một niềm hy vọng.Đạo Bụt cũng
có thể được diễn tả như là một tôn giáo, nhưng sự thật đạo Bụt không phải chỉ
là một tôn giáo.Đạo Bụt còn là một nền đạo đức có nhiệm vụ đáp ứng lại những
nhu yếu đích thực của con người.Và bản hoài của đức Thế Tôn là đưa ra những
biện pháp cụ thể, giúp con người chuyển hóa khổ đau, đạt được an lạc.Đó là cái
chính.Nhưng con người còn có những nhu yếu khác, nhu yếu bám víu vào một niềm
tin, nhu yếu chạy trốn khổ đau.Có những người không đủ khả năng tu tập để
chuyển hóa khổ đau, họ chỉ muốn chạy trốn khổ đau để tìm tới an lạc thôi.Vì
vậy, đạo Bụt cũng phải tạo tác ra những phương tiện và những câu giải đáp cho
những người đó.Đạo Bụt không phải dành riêng cho bất cứ ai.Bậc thượng căn,
thượng trí không bị bỏ đã đành; bậc trung căn, trung trí không bị bỏ đã đành,
mà bậc hạ căn, hạ trí cũng không bị bỏ.Cho nên chúng ta có thể hiểu được câu
kinh này.Chúng ta thấy được lòng từ bi bao la của đức Thế Tôn trong câu kinh
này.Ban đầu chúng ta nói câu kinh này không phải là một câu kinh liễu nghĩa,
tại vì nếu là liễu nghĩa thì nó phải chứa đựng tuệ giác tương tức, nghĩa là
không có cái này thì không có cái kia.Nếu chúng ta nhìn sâu hơn nữa vào những
nhu yếu của con người, những nhu yếu đa dạng của con người, thì chúng ta có
thể hiểu được câu kinh này và câu kinh có thể được nhận thức là liễu nghĩa.
Diệu Dụng Pháp
Thân
‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất!Ở nước Cực
Lạc có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được
làm bằng bốn thứ châu báu, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là cõi
Cực Lạc.’’
Câu kinh này nói về y báo trang
nghiêm của cõi Cực Lạc. Y báo là môi trường và hoàn cảnh tương hợp với chánh
báo. Chánh báo chính là bản thân đức Bụt A Di Đà. Y báo bao gồm cả nhân dân và
cõi nước. Y báo và chánh báo trang nghiêm của cõi Tịnh Độ là do bản nguyện của
đức Bụt A Di Đà và nhân dân của cõi nước ấy tạo nên. Cũng vậy, y báo và chánh
báo của cõi Ta Bà đều do nghiệp lực cộng đồng của chúng sanh ở cõi này tạo tác
ra. Nghiệp lực của chúng sanh nơi cõi Ta Bà này được tạo nên bằng ngũ dục.Nhân
dân cõi này luôn luôn lao mình vào ngũ dục, do đó chất liệu Tịnh Độ biến mất,
không còn nữa.
Tại sao Bụt Thích Ca nói ở cõi Tịnh
Độ không có mặt ba con đường ác?Một mặt thì Bụt A Di Đà thuyết pháp, một mặt
thì chim chóc nhắc nhở và giúp mình đi về nẻo hướng thượng, thì làm sao mà có
tam ác đạo được?Chỉ trừ khi nào ta chán Tịnh Độ và muốn bỏ đi.Điều này là do
ta mà ra.Tâm ta bất an.Bất an nên không an trú được.Ta đã sinh về Tịnh Độ với
một ít hành trang phiền não; còn giận, còn ganh, còn được muốn biệt đãi.Sinh
về Tịnh Độ rồi, ta thấy Bụt A Di Đà không dễ thương như ta đã tưởng.Cái mặt
ngài cứ lầm lầm lì lì, không chú ý nhiều tới ta.Ngoài những giờ thuyết pháp,
ăn cơm và đi thiền hành với dân chúng, Ngài chỉ bàn chuyện với các vị Bồ Tát
lớn.Các vị Bồ tát lớn cũng thế, họ để ý tới ta ít quá, vì họ suốt ngày bận rộn
hướng dẫn cho những người vừa được vãng sinh tới.Số người vãng sinh qua Tịnh
Độ hàng ngày sao mà đông quá, các vị Bồ tát phải lo cho họ, nên không còn thì
giờ để chú ý tới ta.Không được biệt đãi, ta chán, ta ghét, ta ganh tỵ và ta
muốn bỏ đi.Ta tới tuyên bố với Bụt A Di Đà như thế.Đức Bụt A Di Đà sẽ nói:
‘‘Tội nghiệp cho con.Con không muốn ở đây, con lại muốn trở về bên đó.Ở đây
thì con có Tăng thân, có Bụt, có chim, có hồ sen, có đủ điều kiện để giữ cho
con đừng đi thối lui.Nhưng nếu lòng trần của con đã biểu hiện và con muốn trở
về với cõi Ta Bà thì con sẽ đánh mất Tịnh Độ và Tăng thân này.’’
Tăng thân là một môi trường có khả
năng hiến tặng cho ta sự an ninh. Tăng thân với hai vòng tay vững chãi giữ ta
lại trên con đường giới, định và tuệ. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm ở lại với
Tăng thân. Chúng con nguyện một lòng về nương tựa Tăng thân.Cõi Tịnh Độ là một
trong những Tăng thân quý báu nhất.
Khi đi vào bếp nấu cơm, ta cũng có
thể tu chánh niệm được.Đến phiên ta nấu cơm cho đại chúng, ta vào bếp, thắp
một cây hương, dâng hương, rồi bắt đầu nấu cơm.Trong suốt thời gian một giờ
rưỡi hay hai giờ làm việc dưới bếp, ta biết thực tập theo dõi hơi thở, biết là
ta đang xắt gọt, rửa nồi hay xào nấu, v.vv..trong chánh niệm.Do đó ta vẫn còn
đang an trú trong cõi nước Cực Lạc. Còn nếu không biết tu thì ta vừa làm vừa
giận, vừa làm vừa buồn, vừa ganh, vừa làm vừa nói xấu người khác, thì tuy cũng
là khung cảnh ấy nhưng đó lại là cõi Ta Bà.Nếu ta có giới, định và tuệ, tức là
có sự thực tập, thì nhà bếp là Tịnh Độ chứ không phải là Ta Bà.Tất cả đều tùy
nơi ta.
Bất cứ một cái gì ta thấy được và
tiếp xúc được đều có thể biến thành pháp khí.Cái chổi hay cái nồi cũng là pháp
khí, cái gì cũng có thể trở thành một điều kiện thuận lợi cho sự tu học của
ta.Đó là tài năng của đức A Di Đà. Tài năng của đức A Di Đà là sử dụng tất cả
những gì đang có mặt để đưa dân chúng của mình đi lên trong sự tu học. Tài
năng của Tăng thân cũng vậy, từ chuyện nấu nướng, dọn dẹp, làm vườn, cho đến
việc chăm sóc cây cảnh, tất cả những cái đó đều trở thành phương tiện tu học.
Chúng ta phải sử dụng tất cả những yếu tố kia để đi tới trên con đường tu tập
và chuyển hóa.
Trong một cõi Tịnh Độ, người ta
cũng có nấu cơm, ăn uống, đi hái hoa cúng Bụt, nghe kinh và đi thiền hành; mọi
người thảnh thơi và an lạc trong khi làm những việc ấy.Cõi ta đang ở cũng vậy
thôi.Không cần phải qua bên đó ta mới làm được những chuyện kia.Ngay bây giờ
ta cũng có thể làm được những chuyện mà bên ấy người ta đang làm, tức là hái
hoa, cúng Bụt, tụng kinh, nghe kinh, rửa chén, ăn cơm, đi kinh hành...Cõi Tịnh
Độ đang có mặt cho chúng ta.Chỉ có một điều đáng hỏi là chúng ta đang có mặt
cho cõi Tịnh Độ hay không mà thôi.
Trong khung cảnh Tăng thân, mỗi khi
chúng ta rửa nồi, pha trà, đi tắm hay làm vườn, mỗi hành động và mỗi bước chân
của chúng ta đều phải trở thành một lời thuyết pháp.Bước đi một bước, đó là
một bài thuyết pháp; nâng chén trà lên để uống cũng trở thành một bài thuyết
pháp.Bởi vì trong khi nâng chén trà lên ta có sự vững chãi, thảnh thơi và ung
dung.Uống trà như vậy là thuyết pháp. Ăn cơm như thế nào để có hạnh phúc và an
lạc trong khi ăn, thì ăn cơm cũng là thuyết pháp.Nhìn vào ta, người khác thấy
một vị Bồ tát đang sống trong Tịnh Độ.Điều này không phải đợi tới ngày mai ta
mới làm được.Ta phải làm được ngay ngày hôm nay.Làm được một ngày là ta đã đi
đến Tịnh Độ được một ngày.
Vì muốn làm cho pháp âm được tuyên
lưu rộng rãi trong xứ của Ngài, đức A Di Đà đã sáng tạo ra các loài chim mầu
nhiệm. Cũng vậy, muốn cho pháp môn và giáo lý của đức Bổn Sư được thấm nhuần
trong Tăng thân, chúng ta cũng phải sáng tạo như thế.Mỗi cử chỉ, lời nói và ý
tưởng của ta đều phải trở nên một phương tiện để thuyết pháp.Ta phải tham dự
vào sự nghiệp của Pháp thân, vì Pháp thân là thân của Pháp, thân luôn luôn
biểu hiện Pháp.Một bài thuyết pháp của ng thân hay Hóa thân có thể dài tới
một giờ rưỡi hay là hai giờ.Nhưng thế nào ng thân cũng phải dừng lại để nghỉ
ngơi, để ăn cơm.Còn Pháp thân thì khác, pháp thân thuyết pháp liên tục không
ngừng.Thuyết pháp bằng chim, bằng mây, bằng gió, bằng bước chân hay bằng hơi
thở.Vì vậy chúng ta phải tham dự vào sự nghiệp của Pháp thân.Chúng ta thuyết
pháp bằng đời sống hàng ngày của chúng ta.Ta thuyết pháp bằng hai bàn tay,
bằng hai bàn chân, bằng cái miệng trong khi ăn hoặc khi nói và bằng hai con
mắt trong khi nhìn.Bổn phận của người sống trong Tịnh Độ là phải tham dự vào
sự nghiệp của Pháp thân.Nghĩa là phải thuyết pháp bằng đời sống hàng ngày của
mình.
Ngày xưa thánh Ghandhi có nói
rằng: ‘‘Đời sống của tôi là bức thông điệp của tôi’’(My life is my message).
Thông điệp không được viết trên giấy mà được viết bằng đời sống hàng ngày.Một
bài thuyết pháp cũng vậy, không phải chỉ làm bằng ngôn ngữ và danh từ.Bài
thuyết pháp còn được làm bằng bước chân, hơi thở, động tác và cái nhìn của
ta.Tham dự vào sự nghiệp của Pháp thân là điều chúng ta có thể làm được hàng
ngày.Nhìn vào cách ta đi, đứng và tiếp xử hàng ngày tự nhiên người ta sinh
lòng kính ngưỡng và phát tâm tu tập.Như vậy, ta đã là một phần của đức Bụt Di
Đà.
Xá Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi khi
có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được
nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được tấu
lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp tâm
niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.
Hiện tượng này ở đâu cũng có.Mỗi
khi có gió đi ngang các hàng cây tùng hay các hàng cây phong thì âm thanh cũng
mầu nhiệm vô cùng.Trong kinh không nói tới mưa, nhưng tiếng mưa cũng êm đềm dễ
chịu lắm.Những cơn mưa có khi rạt rào, có khi êm đềm làm cho tâm hồn ta dịu
lại và ta nghe trong tiếng mưa có âm nhạc của chư thiên, có tiếng thuyết
pháp.Nếu nhìn kỹ cõi Ta Bà với tất cả niệm và định, ta sẽ thấy cõi Ta Bà này
đẹp lắm.Tôi nghĩ rằng cõi Tịnh Độ có đẹp cách mấy thì cũng chỉ đẹp bằng cõi Ta
Bà mà thôi.Tất cả những gì ta thấy ở cõi Tịnh Độ thì bên này ta cũng có thể
thấy được cả.Chúng ta đã từng nghe các vị tổ sư nói: ‘‘Tịnh Độ ở trong tâm
mình.’’Trong tâm mình có sự nhẹ nhàng, có sự cởi mở, có sự thanh thoát thì tự
nhiên nhìn cái gì cũng thấy là Tịnh Độ cả.
‘‘Mỗi khi có gió nhẹ xao động các
hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta được nghe những âm thanh vi
diệu...’’
Chúng ta nghĩ rằng ở tiệm kim hoàn
mới có những hạt châu báu, nhưng kỳ thực những hạt sương long lanh trên ngọn
cỏ cũng đẹp và còn đẹp hơn cả kim hoàn nữa là khác.Và hay nhất là không có ai
muốn ăn cắp hoặc chiếm hữu.Tại vì ở đâu cũng có và chúng đẹp vô cùng.Nói rằng
những hàng cây bên đó làm bằng châu báu, nhưng những hàng cây làm bằng châu
báu thì làm sao đẹp bằng những hàng cây thật.Trên bàn Bụt, thỉnh thoảng ta
dâng cúng những hoa sen làm bằng gỗ, bằng bạc, bằng ngọc hay bằng vàng nhưng
những bông sen dâng lên trên bàn Bụt làm bằng vàng hay bằng ngọc thì không thể
đẹp bằng những bông sen thật.Những gì nhiệm mầu đã tả trong kinh A Di Đà đều
có đủ ở nơi ta ở, chỉ cần ta có tâm hồn thanh thoát và an lạc là có thể thấy
hết tất cả.
Ở cõi Tịnh Độ, khi có gió đi qua
các hàng cây và các màn lưới châu báu thì có những âm thanh vi diệu, có âm
nhạc và có lời thuyết pháp. Và khi được nghe những âm thanh như vậy thì có cơ
hội để dân chúng nhiếp tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Ở đây chúng ta
cũng có thể làm y hệt như vậy.Chúng ta có tiếng chuông đại hồng, tiếng chuông
gia trì, tiếng chuông báo chúng, tiếng đồng hồ và tiếng điện thoại.Chúng ta có
những tiếng xướng kệ của các sư chú và các sư cô, có những hình ảnh đi ra đi
vào của thiền sinh trong chánh niệm.Tất cả những cái đó đều là những phương
tiện để nhắc ta trở về với sự niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Tiếng mưa,
tiếng gió, tiếng chim ta cũng có.Quả thật là không cần đi đâu hết, ở đây ta
cũng có đủ tất cả những gì diễn tả trong kinh A Di Đà.
Tích Môn Bản
Môn
‘‘Xá Lợi Phất!Thầy nghĩ sao?Đức
Bụt kia tại sao có tên gọi là A Di Đà?’’
Tại sao đức Bụt ở cõi Tịnh Độ không
có tên khác mà có tên là Amitabha?Đức Thích Ca trả lời:
‘‘Xá Lợi Phất!Bởi vì đức Bụt ấy là
ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương
mà ánh sáng ấy không bao giờ bị ngăn cách. Vì vậy, nên ngài được gọi là A Di
Đà.’’
A Di Đà là ánh sáng vô lượng, cũng
vì vậy Tuệ Trung Thượng Sĩ đã nói:
‘‘Di Đà đích thực pháp thân ta
Nam, Bắc, Đông, Tây khắp chói lòa’’
Khi đốt lên một cây đèn nến hay một
cây đèn dầu, ta sẽ có ánh sáng, nhưng ánh sáng đó không vô lượng.Tại sao
vậy?Tại vì nến sẽ hết, dầu sẽ hết và theo đó ánh sáng sẽ hết. Nhưng đức A Di
Đà là một nguồn ánh sáng vô tận.Một vị bồ tát, một vị giác ngộ, một vị Bụt
luôn luôn từ cơ thể phóng ra ánh sáng.Đó là ánh sáng của chánh niệm.Ánh sáng
của các vị Bụt đi rất xa, đi xa lắm.Phóng ra ánh sáng đó để làm gì?Để soi
đường và giúp người ta đừng bước sa vào hầm hố của khổ đau.
Chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ có Bụt
và các vị Bồ tát mới có thể phát ra ánh sáng này.Người nào trong chúng ta cũng
có thể phát ra ánh sáng đó, ánh sáng của chánh niệm.Trong khi đi, đứng, nằm,
ngồi hay thuyết pháp, ánh sáng của chánh niệm tỏa chiếu đi rất xa.Khi người ta
tới chơi hay tới thăm viếng mà thấy chúng ta đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh
niệm, họ cũng thấy ánh sáng trong thân ta đang chiếu ra.Khi một tia sáng này
của ta chạm vào một người khác thì người ấy cũng cảm động và cũng muốn được
đi, đứng và làm việc ung dung như vậy.Các thầy, các sư cô, các sư chú và các
đạo hữu ở đây người nào cũng có thể phát ra ánh sáng từ thân thể, từ tâm hồn
của mình.Tất cả chúng ta đều có khả năng phát ra ánh sáng chánh niệm, và chỉ
có sự thực tập chánh niệm mới làm phát ra ánh sáng đó.Chánh niệm đưa đến chánh
định, chánh định đưa đến trí tuệ.Đó là những viên ngọc lưu ly có thể chiếu ra
ánh sáng.Chúng ta đừng có mặc cảm.Chúng ta cũng có thể phóng quang được như
đức A Di Đà, tuy ánh sáng của ta chưa đi xa bằng, nhưng chúng ta đã có thể
phóng ra được.Nếu mỗi ngày ta đều thực tập thì ánh sáng càng ngày càng được
phóng xa.Ánh sáng đó có thể được phát ra dưới nhiều hình thức.Ở trên thế giới
bây giờ có biết bao nhiêu người đang tu tập theo pháp môn của Làng Mai.Hàng
triệu người đọc sách, nghe băng và tiếp xúc với các vị giáo thọ ở Làng Mai.Vì
vậy ánh sáng của chúng ta đã đi rất xa, và chúng ta cũng đang tham dự vào công
nghiệp của đức A Di Đà tức là phát ra ánh sáng.Phát ra ánh sáng là điều chúng
ta làm được và làm được ngay ngày hôm nay.Hễ bước một bước chân có chánh niệm
thì có ánh sáng lóe ra liền.Ta phải hiểu ánh sáng là như vậy.Và ánh sáng của
đức A Di Đà là vô lượng.Đó là định nghĩa đầu của chữ Amitabha: ánh sáng vô
lượng.Bây giờ ta đi đến định nghĩa thứ hai:
‘‘Hơn nữa, Xá Lợi Phất!Thọ mạng của
đức Bụt ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài
tới vô lượng vô biên kiếp a tăng kỳ, vì vậy, danh hiệu của ngài là A Di Đà’’
A tăng kỳ có nghĩa là vô lượng, vô
số.Đứng về phương diện tích môn thì chúng ta có sanh có diệt.Kẹt vào ý niệm
thọ mạng, ta nghĩ rằng ta chỉ bắt đầu có mặt từ năm đó và sẽ trở thành không
có mặt từ năm kia.Nhưng theo giáo lý đạo Bụt thì bản chất của chúng ta là
không sanh và không diệt.Đứng về phương diện bản môn thì thọ mạng của ta cũng
vô lượng như thọ mạng của đức Thế Tôn và của đức A Di Đà.Nhìn cho kỹ ta thấy
tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ đều như vậy.Một bông hoa hay một chiếc lá
cũng có thọ mạng vô lượng.Nhìn cạn cợt thì ta thấy chiếc lá có sinh và có
diệt; nhìn sâu thì chúng ta thấy sinh diệt chỉ là cái bên ngoài.Bản chất của
một chiếc lá là vô sinh bất diệt, bản chất của chúng ta cũng như vậy.Ánh sáng
của đức A Di Đà là vô lượng nên thọ mạng của ngài cũng là vô lượng.Ánh sáng
của cái đèn dầu có khi tắt, nhưng ánh sáng của đức A Di Đà không bao giờ
tắt.Vì sao?Vì thọ mạng của đức A Di Đà là vô lượng.Chúng ta cũng vậy, chúng ta
cũng có thể tham dự vào thọ mạng vô lượng của đức A Di Đà. Bởi vì chúng ta
cũng có bản chất bất sanh và bất diệt.Niệm Bụt cho sâu sắc, quán chiếu về đức
A Di Đà cho sâu sắc, ta tiếp xúc được với bản môn, với tính vô sinh bất diệt
của chính ta, và đó là thành quả cao nhất của sự thực tập.Ta thấy được rằng
bản chất của ta cũng là bản chất vô lượng thọ.
Hai định nghĩa về đức A Di Đà như
vậy là vô lượng quang (ánh sáng vô lượng) và vô lượng thọ (tức là thọ mạng vô
lượng).Không phải chỉ có đức A Di Đà mới có bản môn mầu nhiệm, mới có bản chất
bất sanh bất diệt, mà tất cả chúng ta cũng đều có bản chất bất sanh bất
diệt.Vì vậy chúng ta có thể tham dự đời đời vào công việc chế tác ánh sáng của
đức A Di Đà và ánh sáng đó sẽ có mặt liên tục không bao giờ chấm dứt.
‘‘Xá Lợi Phất! Từ khi Bụt A Di Đà
thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất, số đệ tử
Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của đức Bụt ấy nhiều vô lượng không thể đếm được
bằng toán học. Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông đảo như thế.’’
Trên phương diện tích môn, từ khi
đức Bụt A Di Đà thiết lập ra cõi Cực Lạc chỉ có mười kiếp thôi và Bụt A Di Đà
đang biểu hiện như một Hóa thân.Và chúng ta thấy rằng tuy Hóa thân hay ng
thân của đức A Di Đà mới thiết lập cõi Cực Lạc được mười kiếp, nhưng số đệ tử
Thanh Văn đã đắc quả A La Hán của Ngài nhiều vô lượng không thể đếm được bằng
toán học.Không thể dùng điện toán để đếm.Số đệ tử bồ tát của ngài cũng đông
đảo như thế. Nghĩa là đức A Di Đà có đệ tử về phía Thanh Văn và cũng có đệ tử
về phía Bồ tát.Dân chúng Tịnh Độ gồm những người tu theo đạo Bụt nguyên thỉ và
những người tu theo đạo Bụt phát triển.Ở bên nào cũng đông đến nỗi các nhà
toán học cũng không thể nào đếm hết được.
‘‘Này Xá Lợi Phất! Nước Bụt kia đã
được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.’’
Những công đức đẹp đẽ như thế là
những điều chúng ta đã được nghe trong những đoạn kinh vừa qua, như các hàng
cây, các hồ sen có nước tám công đức, âm nhạc trên không, dân chúng có thì giờ
để đi hái hoa cúng dường các vị Bụt, nấu cơm, ăn cơm, đi kinh hành, nghe chim
hót, nghe thông reo, nghe thuyết pháp và dân chúng ở nước Cực Lạc rất đông.Tất
cả những cái đó đều là những công đức và những cái đẹp mầu nhiệm của cõi Cực
Lạc.
Đạo Tràng Lý
Tưởng
‘‘Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những
ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều
vị đã là bồ tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng,
không thể dùng toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A
Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.’’
Trong kinh này, Bụt liên tiếp đưa
ra những hình ảnh rất tích cực về nước Cực Lạc, và sau khi đưa ra những hình
ảnh tích cực kia Bụt lại nói: ‘‘Còn nữa... này nữa...’’ Trong nguyên văn là:
‘‘Phục thứ Xá Lợi Phất!’’. Chúng ta dịch là ‘‘Này nữa Xá Lợi Phất!''.''Này nữa
Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối
chuyển.’’ Bất thối chuyển có nghĩa là không còn bị sa đọa trở lại.Thối là đi
lui; hễ sinh sang nước đó rồi thì chỉ đi tới thôi, không còn đi lui, không rơi
rụng trở lại nữa, nghĩa là không rơi rụng trở lại trong cõi đau khổ, chìm đắm
và hệ lụy.Tại sao? Tại vì có một cái gì giống như một cái lưới đã được giăng
ra làm cho mình có muốn rơi xuống cũng không rơi xuống nữa. Cái lưới đó là cái
lưới gì mà giữ cho ta không sa đọa trở lại?Đức Thế Tôn sẽ cho chúng ta biết
trong một đoạn kinh tiếp theo.
Bất thối chuyển nghĩa là không còn
sa đọa trở lại. Những người nào sinh về cõi Cực Lạc đều có tư cách bất thối
chuyển.Và trong số đó có nhiều vị bồ tát đã là nhất sanh bổ xứ.Bồ tát nhất
sanh bổ xứ là bồ tát sẵn sàng được sinh ra một lần cuối để thành Phật.Muốn cõi
nào thì đi về cõi đó để thành Bụt.Đức Thích Ca Mâu Ni trước khi sanh đã là bồ
tát nhất sanh bổ xứ, sinh ra lần chót ở cõi Ta Bà và thành Bụt ở đây.Số lượng
các vị này, tức là các vị bồ tát nhất sanh bổ xứ, đông đảo vô cùng, không thể
nào dùng toán học để kiểm đếm được.Ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ
để diễn tả mà thôi.A Tăng Kỳ có nghĩa là vô số. Chữ Atức là vô và Tăng Kỳ là
số.
‘‘Xá Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi,
khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy.’’
Đó là lời gởi gắm, nhắn nhủ và
khuyên bảo của đức Thế Tôn.Đức Thế Tôn khuyên rằng:Nếu quý vị được nghe nói
đến cõi Cực Lạc thì nên phát tâm sanh về cõi đó. Và Thế Tôn đưa ra một lý do
rất chính đáng:
‘‘Tại sao? Tại vì sinh về nước đó
thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc thiện nhân cao đức.’’
Trong kinh có rất nhiều câu hay
nhưng câu này là câu hay nhất.Không phải là sinh về nước đó thì có vàng, bạc,
ao, hồ, gió, các loại chim, các hàng cây hay các thứ đẹp đẽ khác mà bởi vì một
lý do rất quan trọng.Nước này có một cảnh tượng rất đẹp: đó là nơi tụ họp của
rất nhiều người dễ thương, rất nhiều bậc cao đức.Đó là lý do số một để chúng
ta sinh về. Tại vì sinh về chỗ đó thì ta sẽ được sống chung và gần gũi với rất
nhiều người dễ thương.Tuy Bụt Thích Ca không nói rõ nhưng chúng ta biết rằng
Bụt A Di Đà là một người có khả năng rất lớn trong việc xây dựng tăng thân.Nếu
đức Bụt A Di Đà không dễ thương thì đâu có ai muốn đến cõi đó để cộng tác và
sống chung với Ngài.Vì đức A Di Đà dễ thương quá chừng, cho nên hầu hết tất cả
những người dễ thương đều quy tụ về bên đó.Chìa khóa của sự thành công là quy
tụ được những người dễ thương, những bậc thượng thiện nhân, về chỗ mình ở.Câu
hội nhất xứlà đến cùng ở chung một chỗ.Chúng ta người nào cũng muốn được như
đức Bụt A Di Đà.Khi chúng ta thiết lập một đạo tràng, một quê hương tịnh độ
thì ta cũng muốn rằng tất cả những người dễ thương trên thế giới đều quy tụ về
trú xứ đó để cùng cộng tác với chúng ta.Và ta biết trước rằng nếu ta độc tài,
khó chịu và không biết sử dụng ái ngữ thì các bậc thiện nhân sẽ không tới.Vì
vậy ta biết rằng đức Bụt A Di Đà là một người rất dễ thương, nghe tới đức Bụt
A Di Đà và cõi nước của ngài ai cũng muốn đi tới để được cùng sống và gần gũi
với những người dễ thương nhất trên đời.
‘‘Xá Lợi Phất! Chúng sanh mọi nơi,
khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao?
Tại vì sinh về nước đó thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc
thiện nhân cao đức.’’
Thiện nhân là những người có trái
tim rất rộng, có những hạt giống rất lành trong tâm thức, chỉ muốn nghĩ điều
lành, nói điều lành và làm điều lành thôi. Thiện nghĩa là tốt lành.Nhân phẩm
của các vị thiện nhân là nhân phẩm cao đẹp cho nên gọi là thiện nhân cao
đức.Trong cõi này, ta chỉ nghĩ tới những điều thiện thôi và tư tưởng của ta là
tư tưởng thiện.Vì sao vậy?Vì hoàn cảnh chung quanh có nhiều điều kiện để tưới
tẩm và đánh động tới những hạt giống lành ở trong ta.Ví dụ, khi nghe tiếng
chim hót, thì được nhắc nhở những giáo lý Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề
phần,... khi nghe tiếng gió reo qua đọt thông thì ta cũng được nghe pháp; sống
giữa những người biết đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh niệm thì ta cũng được
đi, đứng, nằm và ngồi trong chánh niệm và tâm tư ta luôn luôn nghĩ đến điều
thiện.
Buổi sáng nghĩ điều lành, buổi
trưa nghĩ điều lành, buổi tối nghĩ điều lành, ta có một niềm vui. Sở dĩ tâm ý
ta luôn luôn tương ứng với điều lành là do hoàn cảnh chung quanh rất thuận
tiện.Chung quanh ta toàn là những người lành.Và tất cả những gì ta thấy và
nghe ở chung quanh cũng đều có tác dụng tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp ở
trong ta, gọi là ý lành. Miệng lành, tức là những lời ta nói ra đều là lành.Ta
không còn chửi mắng, vu khống, thêu dệt hay nói xấu.Vì mọi người đang học tập
chánh pháp, do đó không ai có cơ hội để nghĩ và nói tới những điều không
lành.Mỗi lời nói của ta đều có tác dụng làm cho êm dịu tâm tư và ban phát hạnh
phúc cho những người ở chung quanh.Ở cõi Tịnh Độ không có ác ngữ mà chỉ có
thiện ngữ.Và thân ta cũng vậy.Tất cả mọi người đều thực tập với tư cách của
các vị bồ tát.Vì vậy nơi cõi Tịnh Độ, không có sự giết chóc lẫn nhau và không
có sự ăn cắp. Ở cõi Tịnh Độ không có sát, đạo và dâm.Vì ở bên đó có những niềm
vui rất lớn.Ở Tịnh Độ dân chúng thực tập giới cho nên không ăn thịt, không
uống rượu và không sử dụng những thứ kích thích.Vì vậy người ta không phạm
giới dâm dục, không phạm giới sát sanh, cũng không phạm giới trộm cắp.Những
con người bên đó đều có lý tưởng cao vời, ai cũng muốn những chuyện đẹp thôi,
tức là muốn thành lập Tịnh Độ.Sau khi đã ở Tịnh Độ với Bụt A Di Đà thì ta cũng
muốn đi xây dựng một Tịnh Độ theo mô thức của nước Bụt A Di Đà.Tại vì ta là
một vị bồ tát nhất sanh bổ xứ.Ta muốn về Việt Nam để làm Tịnh Độ, ta muốn về
Phi Luật Tân để làm Tịnh Độ, ta muốn về Mỹ để làm Tịnh Độ...
‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực
Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ
toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha
lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và
trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã
não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang
xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng
chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.Xá Lợi Phất!
Nước Cực Lạc được tô điểm bằng những cái đẹp như thế.’’
Trong đoạn kinh này ta thấy có danh
từ nước tám công đức.Tám công đức đó là: trong trẻo sạch sẽ, thanh tịnh mát
mẻ, có vị ngon ngọt, nhẹ nhàng mềm mại, thuần nhị mượt mà, yên ổn điều hòa,
uống vào thì trừ được vô lượng quá hoạn như đói khát ..., uống xong thì chắc
chắn có thể trưởng dưỡng được các căn.
‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Bụt
ấy, người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng
vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy
có thói quen buổi sáng lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi
cúng dường các vị Bụt đang cư trú ở vô số các cõi Bụt khác. Đến giờ cơm trưa,
mọi người đều về kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước
Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.’’
Chúng ta không biết những tiếng
nhạc từ hư không vọng xuống là nhạc gì?Thiên nhạc.Chúng ta biết rằng mỗi buổi
sáng thức dậy ở Xóm Thượng, Xóm Hạ hay Xóm Mới, nếu tâm hồn ta thanh tịnh thì
ta sẽ thấy đất trời rất thơm.Tuy là im lặng nhưng như có âm nhạc ở trong không
gian, rất thanh thoát và nhẹ nhàng.Tất cả những mùi hương, những âm điệu đó
đều ở trong tâm ta thoát ra. Chúng ta không nhất thiết phải mua hoa ở chợ.Hoa
đã có sẵn.Nếu chúng ta biết nhìn và thưởng thức thì sẽ thấy bất cứ cành hay lá
nào cũng đều là hoa cả và những người cắm hoa giỏi không cần phải đi ra mua
hoa ở chợ.Trong đoạn kinh này, ta nghe nói tới hoa, tới nhạc, tới chuyện đi
thăm các vị Bụt để cúng dường, tới chuyện ăn cơm trưa và đi kinh hành, chúng
ta tự hỏi: Ai nấu cơm?Nếu ăn cơm thì thế nào tám giờ sau cũng phải đi cầu.Ở
Tịnh Độ có cầu tiêu hay không?Đó là những câu hỏi rất thực tế.Chùa Bảo Liên ở
Hương Cảng ngày xưa có treo bốn câu thơ:
‘‘Hữu độ tức phi tịnh
Ngôn thuyên hà sở vi?
Phật thuyết nguyên vô ngã
Thiền sư vấn thị thùy?’’
Hữu độ tức phi tịnh tức là nếu đã
có một cõi nước thì làm sao mà cõi nước đó tịnh được? Hễ có ăn cơm thì thế nào
cũng phải đi đại tiện, có uống nước thì thế nào cũng có đi tiểu tiện.Trên Tịnh
Độ cũng có phân và rác, nghĩa là không tịnh theo cách ta đã tưởng tượng.
‘‘Hữu độ tức phi tịnh
Ngôn thuyên hà sở vi’’
Dịch là:
Có độ là không tịnh
Lời nói dùng làm gì?
Sự diễn tả của lời nói là để làm
gì?Hễ nói tới cõi nước thì không thể có tịnh được.Có cõi thì thế nào cũng có
người, có người thì thế nào cũng có sự tiêu thụ, có sự tiêu thụ thì thế nào
cũng có phân rác, thành ra không thể nào có độ mà không có bất tịnh.Có độ là
không có tịnh.Lời nói của mình được dùng để làm gì?Mở miệng ra là bị mắc kẹt:
‘‘Phật thuyết ngôn vô ngã
Thiền sư vấn thị thùy?’’
Dịch là:
Bụt đã dạy vô ngã
Thiền sư là ai kia?
Bụt đã dạy rằng chúng ta vốn không
có ngã.Vậy thì người được gọi là thiền sư đó là ai vậy? Tại sao đã vô ngã rồi
mà còn có cái ông gọi là thiền sư ?Thiền sư đó có phải là một cái ngã
không? Ngôn từ ta nói ra là có thể bị mắc kẹt.Đứng về phương diện Tịnh cũng
vậy, mà đứng về phương diện Thiền cũng vậy.Ta đang còn kẹt vào ngôn từ. Hễ nói
tới độ là không nói tới tịnh được, hễ nói tới vô ngã thì từ ngữ thiền sư không
thể nêu lên.Thiền sư là một cái ngã.Do đó, khi đọc kinh ta phải quán chiếu.Có
thể ta phải ăn cơm, uống nước, đi đại tiện, đi tiểu tiện, nấu cơm và rửa
bát.Ăn cơm thì phải dùng bát đĩa, có bát đĩa thì thế nào cũng phải rửa bát
đĩa.Mà rửa bát đĩa có dùng tới xà phòng không?Và thức ăn ở trên Tịnh Độ có dầu
mỡ hay không?Tịnh hay không tịnh là tùy theo nhận thức của chúng ta.Ban đầu
chúng ta đã nói tới tịnh là sự vắng mặt của ô nhiễm.Ô nhiễm của sự bận rộn,
của tiền bạc, của quyền hành, của sự ganh tỵ, của sự lo lắng hay của sự sợ
hãi.Ô nhiễm là những cái phân rác.Nếu biết cách chúng ta sẽ chuyển được phân
rác thành ra hoa quả và rau trái để sử dụng hàng ngày.Vì vậy tịnh ở đây có
nghĩa là không bị ô nhiễm bởi phiền não và danh lợi chứ không phải là vì có
cầu tiêu, nhà tắm, có nấu ăn và chén bát cần rửa.
Ở đạo tràng Mai thôn, chúng ta phải
đặt những câu hỏi như vậy.Đạo tràng Mai thôn có phải là một cõi Tịnh Độ hay
không?Nếu sống trong một khung cảnh mà ta thấy có an ninh, có hiểu biết, có
thương yêu và có khả năng chuyển hóa được những khổ đau, sợ hãi và vướng mắc
thì ta biết rằng đó là khung cảnh của Tịnh Độ.Còn nếu ta không thấy những yếu
tố an ninh, thương yêu, hạnh phúc và hòa điệu trong đó thì ta biết rằng đó
không phải là một cõi Tịnh Độ mà là một Uế độ.Ta cũng thấy rằng ta có khả năng
đóng góp hay phá hoại khung cảnh đó. Tịnh Độ là một nhu yếu rất lớn của tất cả
mọi người trong xã hội chúng ta. Vì vậy, đọc kinh A Di Đà là một cơ hội để
quán chiếu nhu yếu ấy và khám phá ra khả năng tạo dựng Tịnh Độ của mỗi chúng
ta.Tại vì mỗi chúng ta đều là một vị Bụt A Di Đà tương lai, mỗi chúng ta đều
có hoài bão muốn thiết lập Tịnh Độ cho chính ta và những người thân cận với
ta.
‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực
Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng
tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng... Những con chim ấy, sáu
buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của
chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất
bồ đề phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm
như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.’’
Trong đoạn văn này chúng ta thấy
Bụt nhắc lại pháp môn trì niệm.Trì niệm là một pháp môn thực tập có từ hồi Bụt
còn tại thế.Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí và niệm
Thiên.Theo giáo lý của kinh A Di Đà, những người thường trú ở thế giới Cực Lạc
cũng thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Niệm Bụt, niệm Pháp và niệm
Tăng là để tiếp xúc được với Tam Bảo và khi tiếp xúc được với năng lượng của
Tam Bảo thì ta được sống trong sự an ninh, vững chãi và thảnh thơi.Thử tưởng
tượng những người ở trong cõi Cực Lạc mà không thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và
niệm Tăng: cõi Cực Lạc sẽ không còn là cõi Cực Lạc nữa.Tại sao?Tại vì ở đó sẽ
không còn sự an ninh, vững chãi và thảnh thơi.
Gió Chim
Thuyết Pháp
Sở dĩ ta gọi cõi ấy là cõi Cực Lạc
là tại vì dân chúng ở đó có thực tập chánh niệm và vẫn thường được nghe pháp
thoại.Nếu có sự chú tâm thì khi những con chim hót lên, ta cũng nghe được pháp
thoại và pháp thoại này có đủ ba mươi bảy phẩm trợ đạo, là tứ niệm xứ, tứ như
ý túc, tứ chánh cần, v.v..Sang bên đó ta vẫn còn nghe pháp thoại như ở đây và
cũng sẽ được học những điều y hệt như ta đang được học trên cõi Ta Bà này,
nghĩa là ba mươi bảy phẩm trợ đạo.Chúng ta biết rằng đức A Di Đà là một vị
thầy. Ngay trong giây phút này ngài đang thuyết pháp. Đức Bụt Thích Ca dạy:
‘‘Từ đây đi qua phương Tây, cách
khoảng mười vạn ức cõi Bụt, có một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có
một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.’’
Bụt A Di Đà đang thuyết pháp và
những con chim bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già, và cọng
mạng... cũng đang thuyết pháp và giọng hót của những loài chim đó rất hòa
nhã. Những con chim này thay phiên nhau hót, một ngày sáu lần (trú dạ lục
thời).Đó là công phu sáu thời.Ngày xưa trong sự tu tập người ta chia một ngày
làm sáu phần gọi trú dạ lục thời.Trú là ban ngày, dạ là ban đêm.Khi hành trì
phép sám hối của vua Trần Thái Tông thì chúng ta cũng sám hối sáu lần một
ngày.Vua Trần Thái Tông sáng tác ra nghi thức sám hối này để tự hành trì, gọi
là Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, tức là khoa nghi để sám hối sáu lần trong một
ngày.Chia sáu thời trong một ngày, đó là sự thực tập trong truyền thống. Những
con chim này biết rằng dân chúng mỗi ngày đều thực tập sáu thời cho nên bắt
đầu mỗi thời là hót lên, và trong khi chim hót lên thì ta nghe được tiếng pháp
trong đó.Có thể khi chim hót thì đức A Di Đà ngừng thuyết pháp và khi đức A Di
Đà thuyết pháp thì chim ngừng hót. Cũng có nghĩa là Bụt A Di Đà và cả các loài
chim, cây và gió, khi mở miệng là chỉ thuyết pháp mà thôi.
Chung quanh ta cũng đang có rất
nhiều loại chim.Nếu sống trong chánh niệm và tâm có định thì chúng ta cũng có
thể nghe trong tiếng gió và tiếng chim có tiếng nói pháp. Tiếng nói pháp này
có thể được xem như là tiếng nói pháp của đức Bụt A Di Đà hay là của những con
chim ở cõi Cực Lạc.Nếu có niệm và định thì tất cả những gì chúng ta thấy và
nghe trong đời sống hàng ngày đều là những bài pháp thoại.Một chiếc lá rụng,
một bông hoa nở, một con chim bay ngang hay một tiếng chim hót đều là những
bài thuyết pháp và người đang nói pháp là Bụt Tỳ Lô Giá Na, tức là Bụt pháp
thân.
Chúng ta phân biệt ra ba thân của
Bụt, tức là pháp thân, báo thân và hóa thân.Pháp thân là bản thể trong sáng
bất sinh bất diệt.Báo thân là thân tướng tốt đẹp của những người đã tu học, đã
tạo ra rất nhiều công đức.Và hóa thân hay ứng thân là cái thân bình thường của
ta.Đức Thích Ca cũng có một thân như vậy, gọi là ứng thân hay hóa thân. Khi
đức Bụt Thích Ca ngồi ở trên núi Thứu mà thuyết pháp thì đó là ứng thân Bụt
hay hóa thân Bụt đang thuyết pháp. ng thân thì có khi ngủ, có khi thức dậy,
có khi đi tắm, có khi đi ăn cơm.Còn pháp thân của Bụt thì lúc nào cũng có mặt
để thuyết pháp.Vì vậy, nếu có chánh niệm thì chúng ta có thể nghe pháp bất cứ
lúc nào trong tiếng gió, tiếng chim, trong khi cành trúc lay, bông hoa nở và
người đang thuyết pháp là pháp thân của Bụt.ng thân hay hóa thân của Bụt thì
chỉ nói tiếng người, còn pháp thân có thể nói tiếng chim, tiếng hoa, tiếng gió
và tất cả mọi thứ tiếng. Đoạn kinh này cho chúng ta biết rằng nếu có niệm và
định thì chúng ta có thể nghe pháp trong khi chim hót, thông reo và hoa
nở.Pháp chúng ta đang nghe đó là pháp nguyên thỉ, nghĩa là tứ niệm xứ, tứ
chánh cần, tứ như ý túc... và phương pháp niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.
Kinh đại thừa này chuyên chở giáo lý nguyên thỉ.Trong cõi Cực Lạc, dân chúng
thực tập pháp môn nào?Thực tập ba mươi bảy phẩm trợ đạo và phương pháp niệm
Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.Ta là thiền sinh giỏi thì đừng đợi đến giờ pháp
thoại mới nghe thuyết pháp mà phải biết nghe pháp trong khi nhìn hoa nở, trong
khi nghe thông reo, chim hót và khi ngắm trúc lay.Pháp thân của Bụt chưa bao
giờ ngừng thuyết pháp.Trong bài Trường ca Avril, tôi có viết một câu: ‘‘Bông
hoa vẫn chưa ngưng lời hát ca.’’Câu này cũng có nghĩa như vậy: pháp thân của
Bụt vẫn đang thuyết pháp.Ở Việt Nam, trong thời chiến tranh Việt-Pháp, có một
thi sĩ trẻ tên là Quách Thoại.Quách Thoại cùng với Trụ Vũ đã từng sống ở chùa
Giác Nguyên.Quách Thoại chết trẻ, để lại một bài thơ rất hay là bài Bông Thược
Dược:
‘‘Đứng yên ngoài hàng dậu
Em mỉm nụ nhiệm mầu
Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.’’
Bông thược dược đứng ở ngoài hàng
rào và đang mỉm cười một cách mầu nhiệm.Có thể nhiều thiền sư cũng không làm
thơ hay bằng thi sĩ trẻ này.Tại vì trong giây phút đó, thi sĩ may mắn tiếp xúc
được với sự mầu nhiệm của bông hoa thược dược, thấy bông hoa thược dược là
biểu hiện nhiệm mầu của pháp thân Bụt.Thấy bông hoa thược dược chưa bao giờ
ngưng hát ca, chưa bao giờ ngưng thuyết pháp.
‘‘Lặng nhìn em kinh ngạc
Vừa thoáng nghe em hát
Lời ca em thiên thâu
Ta sụp lạy cúi đầu.’’
Đứng trước một sự biểu hiện nhiệm
mầu như vậy, tiếp xúc được với pháp thân của Bụt thì thái độ của ta chỉ là sụp
lạy và cúi đầu trước bông hoa thôi.Tại vì bông hoa đó là pháp thân của Bụt.Năm
1966, trong khi đi diễn thuyết bên Úc, tôi có tá túc tại một tu viện Thiên
Chúa giáo.Tôi đang ngồi ở ngoài sân cỏ thì có một bà sơ đem ra cho tôi một
chén nước trà.Rồi bà rút lui để đi thỉnh chuông.Tôi ngồi yên trên bãi cỏ uống
trà và làm được bài thơ Tiếng Gọi sau đây:
‘‘Sáng hôm nay,
tới đây
Chén trà nóng
Bãi cỏ xanh
Bỗng dưng hiện bóng hình Em ngày
trước
Bàn tay gió
Dáng vẫy gọi
Một chồi non xanh mướt
Nụ hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.’’
Ngồi đó và an trú trong giây phút
hiện tại, nên tôi thấy được một chồi cây xanh đang vẫy tay chào gọi.Đó là biểu
tượng của pháp thân.Và khi thấy được sự mầu nhiệm đó rồi, ta nhận thấy rằng
bất cứ nụ hoa nào, hạt sỏi và ngọn lá nào cũng đang thuyết pháp và đang thuyết
pháp đại thừa, thuyết kinh Pháp Hoa.
Bàn tay gió
Dáng vẫy gọi
Một chồi non xanh mướt
Nụ hoa nào
Hạt sỏi nào
Ngọn lá nào
Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.
Bài thơ này, cũng như bài thơ của
Quách Thoại, nói tới sự kiện pháp thân của Bụt hiện đang thuyết pháp.Nếu chúng
ta chăm chú, sống có giới và có định thì chúng ta tiếp xúc được với pháp thân
và được liên tục nghe thuyết pháp, chứ không phải cần bỏ băng giảng vào trong
máy bấm nút rồi mới được nghe. Chúng ta có thể nghe pháp bất cứ lúc nào.Đọc
đoạn kinh này, ta phải thấy được rằng ở cõi Cực Lạc, không những Bụt A Di Đà
đang thuyết pháp mà chim chóc, hoa lá đều thuyết pháp cả.Và ta có thể thấy
rằng Bụt A Di Đà cũng như chim chóc ở đây đều là biểu hiện của pháp
thân. Chúng ta hãy cùng đọc lại:
‘‘Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực
Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như hạc trắng, khổng
tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng... Những con chim ấy, sáu
buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của
chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất
bồ đề phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm
như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.’’
Một điều cần để ý là ở ngay đây,
trong giây phút hiện tại, chúng ta cũng có thể thừa hưởng được những tiện nghi
của cõi Cực Lạc.Nghĩa là ở đây chúng ta cũng có thông reo, hoa nở và cũng có
đức A Di Đà.Những yếu tố hấp dẫn được nói đến trong kinh A Di Đà chúng ta đều
đang có đủ.Chúng ta không cần đi đâu hết, không cần đợi tới sau khi chết rồi
mới đi vào thế giới Cực Lạc.
‘‘Xá Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng
các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở
nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về
ác đạo. Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm
cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.’’
Bên nước Cực Lạc dân chúng không
cần dùng máy video cassette, chỉ dùng chim thôi.Ở đây, chúng ta ngồi trong
phòng và mở video cassette ra nghe pháp được, nhưng ra ngoài đi thiền hành,
lắng nghe tiếng chim, tiếng suối, nghe thông reo hay nhìn hoa nở ta cũng có
thể nghe thuyết pháp. Không có ngọn lá nào, hạt sỏi hay nụ hoa nào mà không
đang thuyết pháp cả.Đứng về phương diện tích môn thì những con chim đó, những
bông hoa, cành trúc và những đám mây đó đều có sinh diệt và luân hồi.Nhưng
đứng về phương diện pháp thân thì tất cả đều là biểu hiện của pháp thân mầu
nhiệm.Trong đạo Bụt đại thừa, tất cả những mầu nhiệm trong vũ trụ như trời
xanh, mây trắng, trúc tím và hoa vàng đều là biểu hiện của pháp thân. Chúng ta
hãy luôn luôn ý thức điều này.
‘‘Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại
cảnh
Bạch vân, minh nguyệt hiện toàn
chân.’’
(Trúc biếc, hoa vàng đều không phải
là những cái gì bên ngoài.Trăng sáng, mây bay đều là biểu hiện của pháp
thân.)Nhìn từ phương diện nghiệp thì tất cả đều do nghiệp báo mà hiện
thành.Nhưng nhìn từ phía của pháp thân thì ta thấy tất cả đều là biểu hiện của
pháp thân.Những con chim kia cũng vậy, về phương diện nghiệp báo thì thấy
chúng là sản phẩm của nghiệp báo.Đứng về phương diện pháp thân thì chúng lại
là biểu hiện mầu nhiệm của pháp thân, không sinh cũng không diệt.Có khi ta tự
hỏi là không biết vì nghiệp báo nào mà ta phải sinh ra ở trên cõi đời này cho
khổ?Những con chim, con ruồi, con muỗi, con nai và con cá kia do nghiệp báo
nào mà phải sinh ra làm thân con chim, con ruồi, con muỗi, con nai hay con
cá?Đó là câu hỏi từ phương diện nghiệp báo. Cũng những cảnh tượng đó, mà nếu
ta bi lụy, sầu đau, nghi ngờ và giận hờn thì đó là biểu hiện cái quả của
nghiệp báo. Còn nếu tâm ta nhẹ nhàng, an lạc và giải thoát thì tất cả những
cái đó trở thành biểu hiện của pháp thân mầu nhiệm.Tất cả đều do nhận thức nơi
ta.Những con chim này không hẳn là khác với những con chim mà mình thấy và
nghe mỗi ngày.Đúng là những con chim đó, nhưng nếu tâm ta trong sáng, nhẹ
nhàng, không có ganh tỵ, sợ hãi và kỳ thị, thì tự nhiên chúng trở thành những
con bạch hạc, khổng tước, anh vũ, xá lợi, ca lăng tần già và cọng mạng... ở
cõi Cực Lạc.Còn nếu tâm hồn ta đen tối, lo lắng, sợ hãi và kỳ thị thì chúng
trở thành những con chim của nghiệp báo, của vô minh và khổ đau.Thực vậy,
chúng ta muốn tiếp xúc với loài chim nào (chim của đức Bụt A Di Đà biểu hiện
hay là chim của nghiệp báo) là tùy chúng ta.Ví dụ tiếng điện thoại hay tiếng
chuông đồng hồ.Tiếng điện thoại có thể làm ta bực bội và lo âu, đó là tiếng
điện thoại của nghiệp báo, của phiền não.Nhưng nếu ta làm như ở Làng Mai, tiếp
nhận tiếng điện thoại là một tiếng chuông chánh niệm thì khi tiếng điện thoại
reo lên, ta biết nhiếp tâm vào hơi thở, mỉm cười và làm cho thân tâm an lạc,
thì tiếng điện thoại đó là do uy lực của đức A Di Đà sáng tác.Tiếng điện thoại
có thể làm cho ta hồi hộp, lo lắng và sầu đau, mà cũng có thể làm cho ta có
chánh niệm, giải thoát và tự do.Tùy theo cách tiếp nhận của ta.Tiếng chuông
nhà thờ hay tiếng chuông chùa cũng vậy, có thể ta đang nghe tiếng chuông mà
vẫn tiếp tục buồn tủi, khổ đau và giận hờn.Nhưng nếu biết phương pháp biến hóa
của đức A Di Đà, thì ta cũng có thể chế tác ra được những tiếng chuông có bản
chất thanh thoát và nhẹ nhàng.Khi nghe những tiếng chuông ấy tất cả các phiền
não đều tan thành mây khói, bởi vì ta biết trở về với hơi thở và đem chất liệu
của sự thảnh thơi và vững chãi đi vào trong tâm hồn ta.Vì vậy, tiếng chuông
hay tiếng điện thoại cũng là sáng tạo phẩm của đức A Di Đà, của đức Thích Ca
và của tăng thân.Ta cần sử dụng những âm thanh đó cho cuộc đời bớt khổ.Khi gặp
nhau, chúng ta chắp tay lại thành búp sen để xá chào thì cử chỉ chắp tay đó
không phải chỉ là lễ phép mà là sự thực tập chánh niệm.‘‘Sen búp xin tặng
người, một vị Bụt tương lai.’’ Khi thở vào, ta làm nên một đóa sen búp bằng
hai bàn tay; khi thở ra, ta xá xuống người trước mặt. Trong thời gian làm như
thế ta có an lạc và hạnh phúc.Vì vậy, chắp tay búp sen cũng là sáng tạo phẩm
của Bụt A Di Đà, của Bụt Thích Ca, hay của tăng thân có mục đích đem lại an
lạc và hạnh phúc cho tăng thân.Nếu chắp tay giống như một cái máy, không có
niệm, không có định, không có tuệ, không có an lạc gì hết thì sự chắp tay ấy
không đưa tới một an lạc nào.Vì ở đây, ta nghe trong tiếng chim có tiếng
thuyết pháp, nên ta cũng biết rằng ta không cần đi đâu hết.Chỉ cần an trú
trong hiện tại với tâm có niệm và có định là ta nghe được tiếng chuông mầu
nhiệm, và tiếng chim đang thuyết pháp.Những tiếng chim hót ởcõi Cực Lạc, ởđây
mình cũng có. Học kinh A Di Đà,ta phải thấy rõđiều này.
Tạo Lập Tịnh
Độ
Khi tâm mình nhẹ nhàng, thảnh thơi
và hạnh phúc thì ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh không
thể xuất hiện.Những nẻo đường đen tối đó có thể phát hiện trong ta bất cứ lúc
nào trong ngày nếu ta đánh mất niệm, định và tuệ. Địa ngục, quỷ đói hay là súc
vật đang có mặt trong ta dưới hình thức của những hạt giống đen tối. Nếu ta
không có chánh niệm, không có tu tập, thì ba nẻo đường xấu ác đó có thể xuất
hiện bất cứ lúc nào. Bất cứ lúc nào ta nổi giận lên là lửa địa ngục bừng dậy
đốt cháy ta.Địa ngục mà phát hiện thì Tịnh Độ tự nhiên biến mất.Điều này rất
rõ.Bóng tối mà phát hiện thì ánh sáng không còn.Tịnh Độ cũng vậy.Khi địa ngục
biến đi thì Tịnh Độ biểu hiện.Ở trong ta có hạt giống của Tịnh Độ, ở trong ta
cũng có hạt giống của tam ác đạo, của ba nẻo về xấu ác.Nếu muốn có Tịnh Độ thì
ta có thể làm cho Tịnh Độ biểu hiện trong hiện tại.Và nếu muốn có tam ác đạo,
ta cũng có thể làm cho địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh biểu hiện trong hiện
tại.Địa ngục là gì, chúng ta đã biết.Tại vì chúng ta đã từng ở dưới địa
ngục."Con đã từng cất tiếng kêu gào dưới ngục A tỳ mòn mỏi hư hao." Mình đã
từng ở địa ngục nên mình biết địa ngục nóng hay lạnh như thế nào rồi.Và khi mà
chất liệu địa ngục ở trong ta không còn phát hiện thì ta có Tịnh Độ.
Ngày xưa mình cũng đã từng làm ma
đói (ngạ quỷ). Mình đã từng làm ma đói chạy đi chỗ này chỗ khác để mong kiếm
chác một chút tình thương, một chút hiểu biết, một nơi nương tựa.Hạt giống của
ma đói nằm ngay trong tâm của ta chứ ở đâu.Khi nào khuynh hướng cô hồn lạc
loài phiêu lãng trong ta phát khởi thì ma đói hiện ra và ta trở thành một con
ma đói.Khi bị sự thèm khát vật dục trấn ngự, ta lại trở thành súc sanh.Ta trở
thành một con thú vật, một con heo, một con bò, chỉ biết ăn, chỉ biết chạy
theo tình dục... Nếu cõi Tịnh Độ biến mất trong đời sống của ta, đó là vì
những hạt giống của địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh đang biểu hiện trong lời
nói, hành động và sự suy nghĩ của ta.
Ước muốn cao nhất của đời tôi là
gì?Tôi không muốn làm chùa lớn, không muốn đúc tượng lớn, không muốn có nhiều
trương mục lớn trong một nhà băng, không muốn có bằng cấp tiến sĩ.Tôi không
muốn làm Hội trưởng hội Phật học.Tôi không muốn làm Tăng Thống, không muốn làm
giáo chủ.Tôi chỉ muốn kiến thiết một Tịnh Độ thôi!Xây dựng Tịnh Độ để mời
những người dễ thương đến sống chung và làm chỗ nương tựa cho nhau.Trong tâm
ta nếu có Tịnh Độ thì ta đi đâu Tịnh Độ cũng hiển bày.Những người có Tịnh Độ
trong tâm là những người có phẩm chất nhân cách rất cao.Người nào có phẩm chất
như vậy thì được gọi là "thượng thiện nhân" hay làcao đức.Vì những người này
có tâm trí vượt khỏi danh lợi.Có một vị thượng thiện nhân là có một người dễ
thương.Cõi Cực Lạc là nơi mà các bậc thượng thiện nhân lưu trú rất đông:"Chư
thượng thiện nhân câu hội nhất xứ".Đây không phải là một câu kinh ước mơ mà là
một câu kinh chí nguyện, tại vì điều thích thú và hào hứng nhất của mình là
lập được một đạo tràng để những người dễ thương trên thế gian quy tụ lại sống
với nhau một cách rất hạnh phúc và để làm nơi nương tựa cho không biết bao
nhiêu người khác.Vì vậy trong ước muốn của chúng ta cũng có hạt giống của Bụt
A Di Đà.Hạt giống đó chính là ước muốn thành lập một trú xứ dễ thương, một
hoàn cảnh thuận lợi cho sự tu học.Có nhiều vị thượng thiện nhân đến sống chung
thì tự nhiên ta không cầu Tịnh Độ mà Tịnh Độ cũng vẫn hiển bày.Được ngồi gần
bên một người dễ thương, mình cảm thấy sung sướng biết bao.Huống hồ là mình
được bao bọc bởi biết bao nhiêu người dễ thương.Những người dễ thương ấy đến
với nhau, tuy chưa làm gì hết mà cảnh trí đã là cảnh Tịnh Độ rồi, phải
không? Những người không dễ thương ngồi bên nhau khoảng mười lăm phút thì
không khí đã thấy ngột ngạt.Địa ngục hiện ra ngay khi những người không dễ
thương tụ tập đông đảo đến ba bốn trăm người.Mình sẽ chết ngột.Vì vậy, cảnh
Tịnh Độ và cảnh Địa ngục đều có thể phát hiện từ lòng mình.Cho nên mỗi người
tu đều có sự thích thú và ước muốn thành lập một Tịnh Độ.Tịnh Độ tuy thế không
phải là công trình của một người, dù người đó là một bậc Toàn Giác.Tịnh Độ là
công trình của rất nhiều người, và những người đó được gọi là ‘‘thượng thiện
nhân’’. Chúng ta thấy cõi Cực Lạc (Sukhavati) không phải là công trình riêng
của một người, dù người ấy là Bụt A Di Đà.Cho nên ta đừng nghĩ với tư cách cá
nhân ta có thể tạo lập được Tịnh Độ.Ta tạo lập Tịnh Độ bằng công sức Tăng
thân.Nếu ta không dễ thương, không có khả năng lắng nghe, không có khả năng
nói lời ái ngữ, không biết làm việc tập thể, nếu ta độc tài, thì ai mà tới
cọng tác với ta?Như thế, làm sao ta có thể tạo ra được Tịnh Độ.Chúng ta phải
tự hỏi rằng chúng ta đã là một vị bồ tát nhất sanh bổ xứ hay chưa?Trong lòng
ta, ai cũng muốn thiết lập một trung tâm Tịnh Độ.Chúng ta có khuynh hướng nghĩ
rằng khi đứng ra làm chủ trung tâm ấy, ta sẽ không bị lệ thuộc vào sư anh này,
vào sư chị kia, sư em nọ, và ta sẽ có toàn quyền quyết định.Ước muốn làm chủ
Tịnh Độ là một ước muốn ngây thơ.Nếu mình không sống hạnh phúc được với sư
anh, sư chị và sư em của mình, thì làm sao mình có thể thiết lập Tịnh Độ?Những
người đến với mình sẽ bỏ mình và mình sẽ cô đơn.Mà một người cô đơn thì không
bao giờ thiết lập được Tịnh Độ.Chúng ta chỉ cần nhìn chung quanh để thấy.Không
phải người đó không có chí nguyện thiết lập Tịnh Độ.Chỉ tại người ấy chưa có
đủ hạnh phúc, chưa có đủ sự bao dung, chưa có đủ khả năng lắng nghe, chưa có
đủ khả năng nói lời ái ngữ, chưa có đủ khả năng làm việc chung; người ấy chỉ
muốn người ta làm theo ý của mình.Những người như vậy không có khả năng thành
lập Tịnh Độ, họ chưa phải là bồ tát nhất sanh bổ xứ.Ai có thể nói cho mình
biết mình đã là bồ tát nhất sanh bổ xứ?Chúng ta không cần ai nói hết.Cứ nhìn
vào tâm hành của chúng ta, là chúng ta biết ngay.Từ nay về sau, mỗi khi đại
chúng tụng đến câu này, thì xin để tâm quán chiếu.Tịnh độ là một nơi quy tụ
của các bậc thượng thiện nhân.Tịnh Độ không phải là công trình của một anh
hùng cá nhân.
‘‘XáLợi Phất!Những kẻ thiếu phúc
đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy’’.Câu kinh này có thể làm
cho ta nản chí.Nhưng sẽ có những câu kinh khác làm cho chúng ta phấn khởi trở
lại.Như câu chúng ta chỉ cần niệm Bụt một lần hoặc mười lầnlà đã đủ điều kiện
để sinh về Tịnh Độ.Ta nên tin vào câu kinh này hay là tin vào câu kinh
kia?Thật ra nếu ta hiểu được câu kinh này thì ta sẽ hiểu được những câu kinh
kia, và nếu không hiểu được câu kinh này thì ta cũng không hiểu được những câu
kinh kia.Hai câu không chống nhau mà bổ túc cho nhau.Hai câu kinh này là hai
mặt cùng một thực tại.
‘‘Xá Lợi Phất, những kẻ thiếu phúc
đức và căn lành thì ít hy vọng được sanh về cõi ấy.’’Phúc đức tức là những may
mắn, những thiện duyên.Căn lành là những gốc rễ tốt đẹp.Trong lòng chúng ta
nếu những gốc rễ ấy hiếm hoi thì chúng ta ít hy vọng được sanh về cõi đó.Căn
là gốc rễ, nhưng cũng có khi được hiểu là hạt giống.Có những lúc chúng ta
trồng cây bằng rễ, có những lúc chúng ta trồng bằng hạt.Trồng bằng hạt cũng
lên, trồng bằng rễ cũng lên.Như hoa sen vậy.Ta trồng sen bằng hạt hay bằng củ
thì sen cũng đều lên được.Vậy muốn sanh về cõi Cực Lạc ta phải có hạt hoặc là
rễ của Tịnh Độ.Nghĩa là những hạt giống tốt đẹp mà ta đã gieo vào trong tâm
thức của ta, như ta đã có lần đến chùa lạy Bụt, đã có lần bố thí cho một em bé
mồ côi, đã có lần cúng dường cho một vị xuất gia, đã có lần đưa tay ra cứu một
con kiến đang chết đuối.Tất cả những hành động đó đều là những hành động gieo
trồng căn lành.Hay ta đã từng mở miệng đọc Namo Buddhàya.Tất cả những cử chỉ
nho nhỏ đó đều là những căn lành đã gieo trồng.Điều này trong kinh Pháp Hoa có
dạy:
‘‘Nhược nhân tán loạn tâm, nhập ư
tháp miếu trung, nhất xưng Nam mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo.’’
Giả dụ có một người tâm ý tán loạn
mà bước vào trong chùa, hoặc bước vào trong tháp, rồi mở miệng niệm lên một
câu ‘‘Nam mô Phật’’ thì cái đó đã là một nhân duyên có thể đưa đến sự kiện
người đó thành Phật sau này.Tuy là một hạt giống rất nhỏ, một cái rễ rất nhỏ,
nhưng hành động ấy đã được gieo trồng vào trong tâm, và thế nào ngày mai nó
cũng sẽ trở thành những nhân duyên đưa mình đi đến với đạo và thành đạo.Nhất
xưng Nam mô Phật.Nhất xưng là chỉ niệm một lần Namo Buddhaya thôi.Ấy vậy mà
hạt giống đó sẽ đưa đẩy người kia đi đến cái nhân duyên thành Phật sau này.Đó
chính là những căn lành, những phước đức.Câu kinh này nói rằng những người ít
căn lành, ít phước đức thì ít có hy vọng sanh về cõi Tịnh Độ.Chúng ta biết tại
Làng Mai, có những thiền sinh đến từ những nơi rất xa xôi, họ đến từ bên Nga,
họ đến từ Na uy, Nam Phi, trong khi đó có những người sống ở Paris, chỉ cần
một giờ đồng hồ là có thể bay tới, vậy mà suốt đời không bao giờ có cơ duyên
bước đến Làng Mai.Tuy họ ở gần một bên mà họ cũng không biết sự có mặt của
Làng Mai, vì vậy, họ không có được cơ duyên tham dự:
‘‘Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng’’
Có nhân, có duyên thì dù cách xa
ngàn dặm cũng có thể gặp nhau, mà vô duyên thì ngồi đối diện nhau cũng chẳng
gặp nhau được.Vậy sự khác biệt giữa hữu duyên và vô duyên là như thế nào?Sự
khác biệt không phải do ở gần hay ở xa Tịnh Độ mà là chúng ta có nhân duyên
hay không?Tôi mới nghe Thomas báo cáo là:‘‘Cho tới hôm nay đã có ba chục ngàn
người Thụy Sĩ đi xem cuốn phim The Step of Mindfulness’’.Cuốn phim này kể lại
chuyến hoằng pháp của tôi tại Ấn độ năm 1997. Tại sao họ không đi rạp chiếu
phim khác, mà lại mua vé đi xem cuốn phim này.Có rất nhiều người sau khi xem
phim đã đi mua hết những quyển sách của tôi về đọc và đã có nhiều người viết
thư về xin tham dự khóa tu tại Làng Mai.Tại sao họ làm như vậy, khi họ chưa
một lần đi chùa?Họ chỉ có dịp đi xem phim, thấy được quý thầy, quý sư cô và
nghe những bài pháp thoại trong phim, thế mà những hạt giống tốt trong họ được
tưới tẩm và khi về nhà, họ mong muốn được tu học.Vậy sang Tịnh Độ không khó
khăn gì, nếu ta có chút nhân duyên.Chỉ cần ta biết rằng Tịnh Độ đang có mặt ở
đó, và ta chỉ cần cầm điện thoại lên và nói:‘‘Allo!Tịnh Độ đó phải không?Tôi
muốn được về tu học hai tuần’’.Sư chú hay sư cô sẽ trả lời:‘‘Dạ được, khóa tu
mùa đông còn chỗ.’’Có khó khăn gì đâu?Ăn thua là có cái duyên hay không.Vô
duyên thì có gần sát bên cũng không gặp, có duyên thì mấy ngàn cây số cũng
gần.Chỉ cần một mảnh điện thư (e-mail), một tờ truyền chân (fax) hay một cú
điện thoại là mình có thể bay sang Tịnh Độ.
Nắm Lấy Danh
Hiệu
‘‘Xá Lợi Phất, những kẻ thiếu phúc
đức và căn lành thì ít hy vọng sanh về cõi ấy.Vì vậy Xá Lợi Phất!Người con
trai lành, người con gái lành nào muốn sanh về cõi ấy thì khi nghe danh hiệu
Bụt A Di Đà, phải nắm lấy danh hiệu ấy.’’
Nghĩa là nghe danh hiệu thì phải
nắm lấy danh hiệu.Cho tôi địa chỉ đi, cho tôi số fax, số phone đi.Cho tôi đîa
chỉ điện thư.Phải nắm lấy chúng.Tại vì danh hiệu hay địa chỉ ấy rất quan
trọng.Vì sao?Vì cuộc đời dữ dằn lắm.Nó lôi kéo mình đi theo như một dòng
thác.Và trong những khi bị chìm đắm, trong khi bị lôi kéo như vậy mà giả sử
mình nhớ được cái tên đó và cái địa chỉ đó, thì mình có thể nhờ vậy mà được
cứu thoát.Còn nếu không ghi nhớ được, chỉ nhớ mờ mờ cái tên thì ta không thể
được cứu thoát.Ta phải nhớ danh hiệu và địa chỉ thật rõ ràng.
Nếu ghi nhận được danh xưng ấy, tên
gọi ấy, địa chỉ ấy, thì mình có cơ thoát ra khỏi cái trầm trệ khổ đau của
mình.Nước Úc, xa bên này biết bao nhiêu mà kể, vậy mà nhờ có một cái tên, nhờ
có một cái địa chỉ, nhờ có một số điện thoại mà chỉ trong một hai ngày, mình
đã được ngồi trong Đạo tràng Mai Thôn.Trong khi đó có rất nhiều người ở chung
quanh đây, đầy đủ các điều kiện để đến, vậy mà không bao giờ biết đến đạo
tràng.
‘‘Phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết
lòng thực tập quán niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng
một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày...’’
Đọc câu này, tôi chảy nước mắt,
tại vì nhớ tới kinh Niệm Xứ.Kinh Niệm Xứ là kinh căn bản của thiền tập nguyên
thỉ.Rất tiếc là ở trong các chùa viện đại thừa, có nhiều người không được biết
đến và không được học kinh Niệm Xứ, tại vì, kinh Niệm Xứ là kinh gối đầu
giường của các thầy và các sư cô thời Bụt còn tại thế.Đó là kinh mà các thầy
và các sư cô thời nguyên thỉ học thuộc lòng.Vì sao?Vì trong kinh này Bụt dạy
về quán niệm thân trong thân, quán niệm cảm thọ trong cảm thọ, quán niệm tâm
trong tâm, quán niệm pháp trong pháp.Đó là thiền của Bụt.Đó là thiền mà Bụt đã
thực tập, các thầy, các sư cô học trò của Bụt đã trực tiếp thực tập.Bụt đưa ra
những phương pháp rất cụ thể:Làm thế nào để quán niệm thân thể trong thân thể,
cảm thọ trong cảm thọ, tâm ý trong tâm ý, và đối tượng tâm ý trong đối tượng
tâm ý.Sự thực tập của các thầy và các sư cô là sự thực tập chính trong hàng
ngày: đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, rửa bát...Cho nên kinh phải được học thuộc
lòng.Sự thuộc lòng này đích thực là một trái tim, chứ không phải như một con
vẹt.Con vẹt có thể học thuộc được nhưng không phải thuộc lòng.Trong kinh Niệm
Xứ, Bụt dạy rằng:Người nào thực tập được bảy năm thì sẽ thành đạo.Rồi Bụt nói
không cần bảy năm, ba năm cũng thành.Rồi Bụt nói không cần ba năm, một năm
cũng thành.Rồi Bụt nói không cần một năm, nửa năm cũng thành.Rồi Bụt nói không
cần nửa năm, một tháng cũng thành.Rồi Bụt nói không cần một tháng, bảy ngày
cũng thành.Rồi Bụt nói không cần bảy ngày, một ngày cũng thành.Chính những câu
đó làm cho tôi chảy nước mắt.Khi mình nói bảy năm có người rất sung sướng:Trời
ơi! chỉ có bảy năm thôi.Nhưng có người nói:Bảy năm lâu quá, sao tôi có thể làm
được?Vì vậy mà Bụt nói không cần bảy năm, ba năm cũng được.Sở dĩ mình nghe mà
muốn khóc, tại vì thấy lòng thương của Bụt bao la không bờ bến.Bụt ngồi đó mà
mặc cả với chúng sanh:Nếu con không làm bảy năm thì ba năm cũng được, nếu
không làm ba năm thì một năm cũng được, tùy ý.Tôi khóc là khóc ở chỗ đó.Rồi
Kinh A Di Đà lại nói: Nếu niệm không được mười tiếng thì một tiếng cũng
được.Không khóc sao được.Ở đời làm sao lại có một người có tình thương lớn đến
như vậy.Nếu đọc kinh này mà không đọc bằng trái tim thì làm sao thấy được điều
đó.Có người khó có định, có tuệ, nghĩ rằng mình tu không được, người khác tu
chắc cũng không được.Nhưng Bụt nói:Tất cả đều tu được.Con cứ tu đi, nếu con
nghĩ rằng, con niệm mười tiếng không được thì con niệm một tiếng cũng
được.Đoạn kinh Tứ niệm xứ ở trên tương tự như đoạn kinh A Di Đà này.Điều cảm
động nhất là ở chỗ đó.Bụt duỗi cánh tay ra để cứu vớt những người trầm luân ở
trong cuộc đời, và độ những người không có khả năng giới, định và tuệ. Bụt
nói:‘‘Con hãy làm đi, con sẽ làm được’’.
Chúng ta biết rằng ở trong dược
khoa, nhiều khi vì thuốc đắng nên những nhà bào chế phải đưa chất ngọt vào và
làm cho thuốc đó trở thành ngọt.Những viên thuốc tể ở Đông y cũng vậy.Người ta
tán thuốc ra và trộn với mật ong để cho mình cảm thấy ngọt mà uống được.Có một
thứ chè gọi là sâm bổ lượng.Những thứ này mát, con nít chịu ăn vào thì cơ thể
chúng mới mát mẻ, mới không còn nổi mụt, vì vậy ta làm cho nó thành chè.Cũng
như mẹ bỏ viên thuốc ki-ninh đắng vào trong một miếng chuối để cho mình ngậm
vào miệng, rồi bảo: ‘‘Nuốt đi con.’’Tất cả những cái đó đều từ lòng thương mà
ra.Ở đây cũng vậy, Đức Thế Tôn là một bà từ mẫu, biết rằng con mình có đứa
mạnh giỏi, nhưng cũng có đứa yếu đuối, thành phải thi thiết ra những pháp môn
phương tiện để các con có thể thâu thập một chút nào của chánh pháp.Nếu không
thâu thập nhiều thì thâu thập ít.Tất cả đều là do lòng từ bi vô lượng của đức
Thế Tôn đối với chúng sanh.
Đọc kinh ta phải đọc với tất cả
trái tim của mình, đừng chỉ đọc bằng trí năng, sự tìm tòi, sự phân tích, một
sợi tóc chẻ làm mười.Nếu thấy được điều đó, chúng ta cũng sẽ có tình thương
giống như Đức Thế Tôn.Ta ôm lấy tất cả mọi người, không chê bai một pháp môn
nào, dẫu pháp môn đó rất dễ dàng.Nó dễ nhưng chưa chắc ta đã hiểu được.
‘‘Sẽ thấy được Bụt A Di Đà và thánh
chúng nước ấy hiện ra trước mặt.’’Câu này rất trung thành với ý niệm ‘‘thiện
căn, phước đức nhân duyên’’.Mỗi ngày mình niệm một câu, mà ngày nào cũng
niệm.Nếu giỏi thì niệm hai câu hay mười câu, và mỗi ngày đều niệm như vậy.Đến
khi lâm chung, tự nhiên mình sẽ nhớ mà niệm.Còn nếu nói:‘‘Thôi, bây giờ chưa
cần niệm, đợi đến phút gần lâm chung niệm một lần cho luôn.’’ thì mình sẽ mất
cơ hội. Vào giờ phút lâm chung, mình đau nhức quá trời.Làm sao nhớ mà
niệm.Quan trọng là ngày hôm nay.Chúng ta phải niệm, dù là niệm chỉ được một
hoặc hai câu.Người ta nói mình mê tín, mình cũng cứ niệm, bởi vì niệm như vậy
mình biết rằng mình đã gieo một hạt giống tốt đẹp vào trong tâm thức.Nếu một
ngày niệm một câu hay mười câu, thì thế nào đến giờ phút lâm chung mình cũng
không còn sợ hãi nữa.Mình đã có địa chỉ, đã có số điện thoại rồi, tự nhiên lúc
đó mình sẽ nhớ.Sư cô Thuần Nghiêm kể là hồi còn nhỏ ở bên Đức mấy chị em trong
nhà đều bắt phải học thuộc lòng địa chỉ của nhà, để lỡ đi chơi lạc đường thì
nói ra được địa chỉ để người ta có thể đem mình về nhà.Học thuộc địa chỉ là
lợi như vậy.Mình có một quê hương, mình không biết địa chỉ của quê hương thì
làm sao mà về được.Cho nên mình phải thuộc nằm lòng cái tên quê hương của
mình, cái địa chỉ quê hương của mình, để những lúc thất điên bát đảo, những
lúc bị ba đào sóng gió cuốn theo, nhớ đến tên gọi quê hương, nhớ tới địa chỉ,
mình có thể tìm về.Mỗi ngày chúng ta đều có công phu.Công phu ngồi, công phu
kinh hành, hay công phu tụng niệm... đều là công phu.Tất cả những cái đó là
những cái thực tập hàng ngày.Sự thực tập này hết sức quan trọng, nhất là khi
thực tập chung với anh em, chị em.Đừng nói tôi lớn rồi tôi khỏi cần thực tập
theo chúng.
Ta phải nắm lấy danh hiệu mà hết
lòng thực tập quán niệm.Phương pháp này gọi là phương pháp trì danh.Trì danh
không phải chỉ bằng miệng của mình, mà còn bằng tâm của mình.Nắm lấy là trì,
hết lòng là nhất tâm.Nắm lấy danh hiệu, không phải bằng trí năng, hoặc bằng
miệng lưỡi, mà bằng trái tim.Tâm của mình phải chuyên nhất.Mình phải để tâm
vào danh hiệu đó, phải làm cho danh hiệu của Bụt có mặt trong tâm mình.Khi
niệm ‘‘Nam mô Bụt A Di Đà’’ mà tâm ta nghĩ đến chuyện khác, thì đó là niệm
danh hiệu suông, cũng giống như vỏ trấu không có hạt gạo ở trong.Đó là hạt lúa
lép.Niệm Bụt mà không có nội dung, gọi là niệm Bụt không nhất tâm.Vỏ trấu
không thể nấu thành cơm được.Vì vậy trong vỏ trấu phải có hạt gạo.Cũng vậy,
niệm Bụt có nhất tâm thì gọi là niệm Bụt có nội dung. Khi mình niệm Bụt:‘‘Namo
Tassa Bhagavato Arahato Samasambu-ddhassa’’ (Con kính lạy Đức Thế Tôn, Bậc A
La Hán, Bậc ng Cúng, Bậc Chánh Biến Tri), thì mình biết Thế Tôn (Bhagavat) là
Đấng mà người đời tôn kính. ng Cúng (Arahato) là người xứng đáng được cúng
dường.Chánh Biến Tri là bậc có sự hiểu biết chân thực và toàn vẹn.Khi niệm
danh hiệu, lòng mình có sự rung động và tha thiết.Giống như mình gọi tên của
người thương vậy.Nghe tên người thương mình cảm thấy rung động.Nó làm cho mình
khỏe, nó làm cho mình có hy vọng.Niệm Bụt cũng phải như vậy.Niệm Bụt không
phải chỉ là gọi tên một cách trống rỗng, mà phải làm cho lòng mình tràn đày sự
tín kính.Có những người niệm Bụt chưa kinh nghiệm, không có nội dung.Có một bà
cụ khi giận quá niệm Bụt:‘‘Nam mô A Di Đà Phật, trời ơi là trời, tức quá, tôi
muốn chết quá đi!’’Niệm Bụt như vậy thì không có an lành, vững chãi và từ
bi.Niệm Bụt là phải có an lành, vững chãi và từ bi.Chúng ta đôi lúc gặp nhau,
chào:‘‘A Di Đà Phật’’ hay ‘‘Mô Phật’’.Tiếng chào không có nội dung, tiếng chào
rất buồn cười.Và đôi khi lại còn sử dụng từ ‘’Mô Phật’’ để mỉa mai nhau.Điều
này không nên, vì nó đưa đến tội bất kính.Do đó trì danh là phải nhất tâm.Nếu
trì danh mà không nhất tâm là trì danh không có nội dung, tức là không gieo
được hạt sen giác ngộ vào trong tâm địa của mình.
Có một bà cụ niệm Bụt rất siêng
năng, sáng nào bà cũng lên hương đèn rồi niệm Bụt, có mõ có chuông đàng
hoàng.Nhưng bà đã niệm Bụt như vậy trải qua mười năm mà tánh xấu của bà vẫn
không thay đổi gì cả.Bà dữ lắm.Và hàng xóm ai cũng ngán cái khẩu nghiệp của
bà.Có một người đàn ông trong làng muốn dạy cho bà một bài học.Buổi sáng hôm
ấy, đúng lúc bà lên hương đèn niệm Bụt, thì ông ta đến đứng trước ngõ gọi tên
của bà ‘‘Bà Tư ơi!Bà Tư ơi!’’Nghe gọi tên mình, bà Tư thầm trách là đã tới sao
không vào, lại còn đứng ngoài cửa mà kêu, và bà bắt đầu bực bội.Bà thỉnh
chuông mõ lớn hơn và niệm Bụt to hơn để gián tiếp nói rằng bà đang niệm Bụt và
ông hàng xóm không lịch sự.Ông hàng xóm giả bộ không nghe.Ông ta cứ đứng ngoài
cổng tiếp tục gọi tên bà.Ở trong này bà lại càng niệm lớn giọng.Hai bên đều
lớn tiếng.Nhưng ông hàng xóm cứ giả bộ không nghe, vẫn tiếp tục gọi tên bà.Đến
một lúc nào đó, bà chịu không nổi nữa.Bà vứt chuông mõ, ra đường chống nạnh để
chửi.‘‘Này cái anh kia, anh có biết giờ này là giờ ta đang niệm Phật không?Đồ
bất lịch sự, đồ khốn nạn.’’Bây giờ ông nọ mới cười lớn và bảo:‘‘Trời ơi!Tôi
mới gọi bà mấy chục tiếng như vậy mà bà đã giận như thế, huống gì mỗi ngày bà
gọi tên Đức Thế Tôn hơn cả một tiếng đồng hồ, chắc là Đức Thế Tôn giận bà
lắm.’’Qua câu chuyện bà Tư, ta biết rõ cái vô ích của sự trì danh mà không có
nội dung.Bởi vậy, trong kinh nói là phải nắm lấy danh hiệu mà hết lòng.Thực
tập chánh niệm theo phương pháp nhất tâm bất loạn là làm thế nào để trong khi
ta niệm Bụt thì tâm ta không nghĩ đến chuyện gì khác.Chỉ nghĩ đến Bụt mà
thôi.Điều đó rất đúng với phép tùy niệm Buddha anusrmti.Niệm Bụt là một giáo
lý nguyên thỉ của Phật giáo.Không phải mình chỉ niệm Bụt, niệm Pháp và niệm
Tăng trước khi vãng sanh.Sau khi vãng sanh, mình vẫn tiếp tục niệm Bụt, niệm
Pháp và niệm Tăng.Câu ‘’Nhất tâm bất loạn’’ hết sức quan trọng.Niệm Bụt phải
đạt đến nhất tâm bất loạn.Nghĩa là lúc niệm Bụt, tâm ta ngưng tụ vào danh hiệu
của Bụt mà không nghĩ đến bất cứ chuyện gì khác, không nghĩ đến chuyện nấu
cơm, chuyện nấu nước, chuyện thắp đèn, chuyện quá khứ, chuyện tương lai.Niệm
Bụt chỉ để niệm Bụt mà thôi.Thành tựu sự niệm Bụt nhất tâm bất loạn là một quá
trình thực tập.Ban đầu tâm còn tán loạn, nhưng ta đừng mất kiên nhẫn.Nhiều khi
ta niệm mười tiếng, mà chín tiếng lạc vào vọng tưởng, chỉ còn lại một tiếng có
chánh niệm; cũng còn đỡ hơn không có tiếng nào.Ngày mai ta niệm mười tiếng,
thì có thể có được hai tiếng trong chánh niệm.Như vậy đã là tiến bộ rồi.Niệm
Bụt, nên ngồi chung nhiều người để niệm, những người bạn cùng tu với mình.Niệm
Phật Đường là chỗ để niệm Phật.Ta ngồi chung với nhiều người niệm Bụt như vậy,
thì ta có năng lượng nhiều hơn.Ban đầu mình chỉ thành công được một phần mười,
nhưng từ từ niệm và định tăng trưởng thành hai phần mười, rồi ba phần mười,
bốn phần mười, cho đến một lúc nào đó, mình niệm Bụt mười tiếng thì có chánh
niệm cả mười.Đó là sự thành công lớn.
‘‘Khi nghe danh hiệu Bụt A Di Đà,
thì phải nắm lấy danh hiệu ấy, mà hết lòng thực tập quán niệm theo phương pháp
‘nhất tâm bất loạn’ hoặc ở trong vòng một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày,
năm ngày, sáu ngày, bảy ngày.Người ấy, đến khi lâm chung sẽ thấy được Bụt A Di
Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt.’’
Đó là phước đức tối thiểu mà khi
lâm chung ta được nương nhờ, vì giây phút lâm chung là giây phút hết sức quan
trọng và cực kỳ nguy hiểm của đời ta.Lúc ấy ta được dẫn dắt bởi năng lượng
thiện hoặc ác do ta tạo ra trong đời sống.Nếu ta thường niệm Bụt có chánh niệm
thì vào giờ phút lâm chung, tâm thức ta sẽ vững vàng để đưa ta đi về hướng
thiện, và gặp được các bậc ‘‘thượng thiện nhân’’.Còn nếu không được như vậy
thì ta sẽ đi về tam ác đạo.Giờ phút lâm chung ta cần có tăng thân bên cạnh để
hộ niệm cho ta, và ta biết rằng, được hộ niệm như vậy thì tâm ta vững vàng để
hướng về một cảnh giới tốt đẹp.Nếu thực tập giỏi thì ta không phải đợi giờ
phút lâm chung mới đến được Tịnh Độ mà trong mỗi giây phút niệm Bụt ta đã có
Tịnh Độ bên mình.Không phải niệm Bụt thì tới giờ phút lâm chung mới có định.Hễ
có niệm là có định ngay lập tức.Và hễ có niệm và có định thì cõi uế độ đã bắt
đầu chuyển hóa để trở thành cõi Tịnh Độ.Như vậy cõi Tịnh Độ bắt đầu hiện
tiền.Ta không đợi đến khi lâm chung mới đi về Tịnh Độ.Ta về Tịnh Độ ngay khi
ta đang niệm Bụt. Điều này ta phải thấy cho rõ vì nó hết sức quan trọng. Đức
Thế Tôn nói:‘‘Giáo pháp của Như Lai mầu nhiệm ngay từ lúc bắt đầu’’.Giờ phút
mà ta nắm lấy hơi thở và thực tập trong mỗi bước chân là ta đã bắt đầu thấy có
kết quả.Cho nên Tịnh Độ không những sẽ biểu hiện ra lúc lâm chung, mà còn biểu
hiện ra cho ta lúc ta bắt đầu thực tập niệm Bụt.Sử dụng tâm để niệm Bụt, tâm
ta lúc ấy trở thành tâm của các bậc ‘‘thượng thiện nhân’’.Khi ta bắt đầu niệm
Bụt và niệm cõi Cực Lạc thì tâm ta lúc đó có Bụt và có cõi Cực Lạc.Nếu quý vị
đã ở Làng Mai tu học một tháng, hai tháng hoặc sáu tháng thì quý vị đã có
những hạnh phúc của Làng Mai, và khi quý vị rời Làng Mai thì quý vị mang hạnh
phúc ấy của Làng Mai đi theo về nơi trú xứ của quý vị.Nhiều lúc ở nơi trú xứ
của quý vị, quý vị gặp nhiều khó khăn, nhưng nghĩ đến những hình ảnh và hạnh
phúc của Làng Mai, thì hình ảnh và hạnh phúc ấy sẽ hiện tiền.Như vậy lúc đó là
Làng Mai đang có mặt trong tâm của quý vị.Tịnh Độ cũng vậy, không phải ta đi
tới Cực Lạc mới có Tịnh Độ, mà Tịnh Độ đi tới với ta, Tịnh Độ có sẵn trong
lòng ta.Dù ta đang đứng ở chỗ trầm luân nhưng nếu ta nghĩ tới Bụt và tới Tịnh
Độ là ta đã thấy khỏe khoắn trong lòng.Những người không có chỗ để hướng về,
để nhớ tưởng, là những người đã đánh mất mình.Ta có chỗ để về, có Bụt để tưởng
nhớ, là ta đã có hạnh phúc lớn, có phước đức lớn.Ta có tăng thân cùng tu học,
có pháp Bụt để hành trì, có môi trường để thực nghiệm, đó là những điều hết
sức quý báu.Ta phải có bổn phận duy trì và phát triển những điều kiện ấy bất
cứ nơi nào ta có mặt.Nếu một người trong giờ phút lâm chung mà an trú được
trong định, nếu người ấy không hề điên đảo và tán loạn thì người ấy sẽ vãng
sanh ngay vào nước Cực Lạc.Điên đảo có nghĩa là chúc đầu ngược lại.Không điên
đảo gọi là chánh trực.Mình biết trời là trời, đất là đất, Bụt là Bụt, ma là
ma, cái biết đó là chánh trí.Nếu tâm ý ta lộn xộn, không ổn định, cho trời là
đất, đất là trời, Phật là ma, ma là Phật thì đến lúc lâm chung, trong tâm
trạng điên đảo đó, ta sẽ rơi vào tam ác đạo.Lúc lâm chung mà ta có định là nhờ
ta thực tập giới, niệm và định trong đời sống hàng ngày.Và vì ta có thực tập
giới, niệm và định, nên ta đã bắt đầu có hạnh phúc ngay trong đời sống hàng
ngày rồi, chứ không phải đợi đến lúc lâm chung ta mới có hạnh phúc.Sở dĩ chúng
ta nói đến lúc lâm chung vì lúc lâm chung là lúc sự tiếc nuối thường phát
hiện.Nếu có niệm Bụt là có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.Mỗi hơi thở,
mỗi bước chân mà ta có niệm Bụt là ta có thể đem Tịnh Độ về cho ta trong giây
phút hiện tại.Điều này là điều chúng ta thấy được trong lúc hành trì.
‘‘Xá Lợi Phất, vì thấy được điều
lợi ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng, những ai đang nghe
tôi nói đây hãy nên phát nguyện sanh về cõi ấy.’’
Trong giờ phút nói lên câu này tâm
lý Đức Thế Tôn cũng là tâm lý của chúng ta.Chúng ta cần có một khung cảnh an
toàn và hạnh phúc để chuyển hóa khổ đau, nên khi gặp ai đau khổ là ta giới
thiệu khung cảnh an toàn và hạnh phúc ấy cho họ để họ có dịp đến đó tu
học.Kinh A Di Đà là kinh đức Thế Tôn giới thiệu quê hương Tịnh Độ cho chúng
ta.Những đoạn kinh tiếp theo nói về sự hộ niệm của các vị Bụt trong mười
phương:
‘‘Này Xá Lợi Phất!Nếu trong giây
phút hiện tại, tôi đang ca ngợi sự lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của
Bụt A Di Đà, thì tại phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương
Thượng và phương Hạ, các Bụt đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi
tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của quý vị, bao trùm cả thế
giới Tam thiên đại thiên, và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình:Này
toàn thể chúng sanh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà các Bụt
trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.’’
Trong câu kinh này, Bụt nói rằng
không những ngài đang tán dương cõi Tịnh Độ của Bụt A Di Đà mà Ngài còn khuyến
khích chúng sanh các cõi khác phát nguyện sinh về cõi ấy.Các vị Bụt khác trong
thế giới mười phương, ít nhất là sáu phương, đều đang làm như Ngài cả.Kinh A
Di Đà là một kinh rất mầu nhiệm, cõi A Di Đà là một nơi lý tưởng để thực tập
đời sống giác ngộ, và Bụt A Di Đà là một bậc đạo sư lý tưởng.Vì vậy tất cả các
vị Bụt trong mười phương, vị nào cũng nâng đỡ và yểm trợ cho nhau.Vị Bụt nào
cũng có đạo tràng và có Tịnh Độ cả.Các Ngài có đạo tràng và có Tịnh Độ để yểm
trợ cho chúng sanh tu học, và các ngài cũng yểm trợ cho nhau trong việc thành
tựu lý tưởng giác ngộ.Chúng ta phải biến ngôi chùa của chúng ta thành đạo
tràng tu học, thành một cõi Tịnh Độ nho nhỏ và đồng thời hỗ trợ cho đạo tràng
của các ngôi chùa khác, nhằm mở rộng niềm tin cho hàng Phật tử tu học.Đọc đoạn
kinh này, ta thấy các vị Bụt cư xử với nhau hết sức cao đẹp.Nói đến Cực Lạc là
các đức Thế Tôn ở các quốc độ khác đều đồng thanh khen ngợi rằng cõi Cực Lạc
là cõi rất đẹp, đức Bụt A Di Đà rất giỏi.Các Ngài ca ngợi nhau một cách hết
lòng, chứ không phải khen nhau bằng những từ ngoại giao.Các ngài không bao giờ
nói xấu nhau, như chùa này nói xấu chùa khác.Các Ngài đang ngồi tại quốc độ
của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các Ngài.Người có lưỡi rộng và dài
là người nói thật.Cái lưỡi của Bụt dài đến nỗi le ra một cái là bao trùm được
hết tam thiên đại thiên thế giới. Đây là ngôn từ đại thi sĩ.Cái lưỡi của chúng
ta rất ngắn, cái lưỡi của chúng ta rất nhỏ, cho nên ta không thể dùng lưỡi của
chúng ta mà tạo ra được nhiều hạnh phúc, như cái lưỡi của các đức Thế
Tôn.Tướng lưỡi rộng dài là một trong ba mươi hai tướng tốt của đức Thế Tôn.Đức
Thế Tôn nào cũng có ba mươi hai tướng đẹp.Tướng đẹp thứ hai mươi bảy là tướng
lưỡi rộng dài.Và một người có cái lưỡi như vậy thì không thể nói ngang ngược,
nói châm chích, nói hai chiều, nói thêu dệt.Chỉ có cái lưỡi rộng dài mới nói
ra được những điều vi diệu thôi.Hãy quán tưởng Bụt A Di Đà đang ngồi trên cõi
Cực Lạc mà thấy các Bụt xung quanh đều nói tốt về mình.Điều này Bụt A Di Đà
thấy cũng bình thường thôi, không tự hào tự phụ, vì đã là Bụt, thì vị nào cũng
ủng hộ cho nhau hết lòng cả.
‘‘Này Xá Lợi Phất, thầy nghĩ
sao?Tại sao gọi kinh này là kinh mà tất cả các vị Bụt đều đem hết lòng xưng
tán và hộ niệm?Sở dĩ như thế là vì những người con trai hoặc con gái nhà lành
nào, nghe được vị Bụt A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo phương pháp
niệm Bụt, thì những người ấy được tất cả các vị Bụt hộ niệm, và tất cả đạt tới
địa vị cao tột không còn bị thối chuyển.Vì vậy, quý vị hãy tin vào những lời
tôi đang nói và cũng là những lời chư Bụt đang nói.’’
Trong đoạn kinh này, ta thấy ẩn dấu
một hạt minh châu.Phương pháp đó gọi là ‘‘nhất hạnh tam muội’’.Tam muội này là
thiền định theo phương pháp Niệm Phật Tam Muội.Khi thiền tập đạt được tam muội
rồi, thì bấy giờ ta niệm Bụt nào cũng được, miễn là mình niệm Bụt mà thôi.Ta
niệm Bụt A Di Đà cũng được, niệm Bụt Thích Ca cũng được, niệm Bụt Di Lặc cũng
được, ta chỉ cần niệm một vị Bụt thôi, mà nếu đạt đến nhất tâm, là ta có
định.Khi ta đã có định ở nơi một vị Bụt, thì thông qua vị Bụt đó, ta có thể
tiếp xúc được hằng hà sa số chư Bụt, vì một vị Bụt là tất cả các vị Bụt và tất
cả các vị Bụt là một vị Bụt.Cho nên, niệm Bụt A Di Đà cũng là niệm Bụt Thích
Ca, niệm Bụt Thích Ca cũng là niệm Bụt Ca Diếp, niệm Bụt Ca Diếp cũng là niệm
Bụt Tỳ Bà Thi, v.v...Vì vậy, niệm Bụt này cũng là niệm Bụt kia, ta đang kính
lễ Bụt này cũng có nghĩa là ta đang kính lễ Bụt kia, cái thấy đó, cái định đó
được gọi là nhất hạnh tam muội.Đến đây, chúng ta đọc tới một câu kinh khác rất
là huyền diệu:
Đã Về Đã Tới
‘‘Xá Lợi Phất, nếu có người đã,
đang hay sẽ phát nguyện sinh về cõi Bụt A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ
phút phát nguyện, đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối chuyển và đã
có mặt ở nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy chưa sanh, đang sanh
hay sẽ sanh về đó.’’
Câu kinh này có nhiều người dịch
khác nhau, nhưng theo cái hiểu của tôi thì dịch như trên mới rõ nghĩa.Nếu ta
tiếp nhận được ý nghĩa của câu kinh này thì ta xúc chạm tới được bản môn.
‘‘Xá Lợi Phất, nếu có người đã,
đang hay sẽ phát nguyện sanh về cõi Bụt A Di Đà.’’Ta có muốn sanh về Cực Lạc
hay không?Tất cả đều do ta.Ta có hai hoàn cảnh.Một là hoàn cảnh ta đang hệ lụy
khổ đau và hai là tuy ta đang ở trong hoàn cảnh ấy nhưng ta đã có tâm muốn
thoát ra khỏi hoàn cảnh ấy.Vì vậy vấn đề là ta có muốn thoát hay không muốn
thoát.Nếu ta muốn thoát, thì ta sẽ thoát được.Và nếu ta không muốn thoát, thì
ta sẽ không bao giờ thoát.Quý vị đã từng bị lâm vào một hoàn cảnh đau thương
và hệ lụy của cuộc đời chưa?Có rồi phải không?Cuộc đời sao mà nhiều khổ đau
quá.Nhìn xung quanh, ta thấy người nào cũng khổ, người nào cũng trầm luân,
người nào cũng hệ lụy.Ta cũng hệ lụy, ta cũng chìm đắm như người khác.Bấy giờ
tự nhiên ta có ý muốn thoát ra, muốn đi tới một chỗ có an toàn, có giới luật,
có chánh niệm, có Tăng thân. Ăn thua là mình đã có ý muốn đó hay không.Nếu có,
thì tuy mình đang ở đó, mà mình đã bắt đầu thoát ra khỏi chỗ đó rồi.Quý vị có
hiểu không?Tại sao?Tại vì tâm mình không còn vướng mắc vào chỗ khổ đau ấy
nữa.Tuy thân của mình đang ở chỗ đó mà tâm của mình đã vượt ra khỏi chỗ đó và
đã đi đến chỗ kia rồi.Nghĩa là ngay lúc tâm mình phát nguyện thì mình đã có
mặt ở Tịnh Độ.Nếu có người đã, đang hay sẽ phát nguyện sanh về nước Bụt A Di
Đà, thì người ấy ngay trong giờ phút phát nguyện, đã đạt tới quả vị cao tột,
không còn thối chuyển, tức là không còn bị sa đọa.Và tại sao người đó không bị
sa đọa?Là do sự quyết tâm từ bỏ cõi uế độ của người đó.Ngay lúc quyết tâm đó,
tâm của họ đã sanh vào Tịnh Độ, sanh vào địa vị không thối chuyển.Một khi ta
đã sanh vào địa vị không thối chuyển, thì ta không còn sa đọa nữa.Nên kinh nói
nguyện sanh Tịnh độ là đã sanh rồi, không kể đến sự kiện là người ấy đã sanh,
đang sanh hay sẽ sanh về nước ấy.Quý vị có thấy câu kinh này mầu nhiệm
không?Trong hoàn cảnh hệ lụy đau thương, mà nếu mình có ý muốn thoát ly là
mình có thể thoát ly ngay ở trong tâm của mình, và ngay trong tâm của mình đã
có cõi Tịnh Độ.Như vậy là tuy còn đứng ngay tại chỗ mà mình đã sanh về Cực
Lạc.Và mình có thể quay lại cứu vớt những người đang bị chìm đắm trong khổ
lụy.‘‘Khổ hải mang mang hồi đầu thị ngạn.’’Biển khổ tuy là mênh mông, nhưng mà
biết quay đầu lại, thì đã thấy đất liền.Vậy vấn đề là ta có muốn quay đầu lại
hay không?Trong giáo lý Tịnh độ, tâm nguyện là quan trọng, vì nguyện luôn luôn
gắn liền với đức tin.Có nguyện và có đức tin thì cho dù ta đang ở trong hoàn
cảnh khổ đau cùng cực đi nữa, ta vẫn có nẻo để thoát ra, và nẻo thoát ấy là
Tịnh Độ, là Tăng thân đang tu học có giới, định và tuệ.Nếu có Tín, có Nguyện
và có Hạnh thì sanh về Tịnh độ không phải là chuyện khó đối với ta.Cũng vậy,
nếu ta có Tín, có Nguyện và có Hạnh với Đạo tràng Làng Mai, thì việc đi về với
Đạo tràng Làng Mai sẽ không khó đối với chúng ta.Chỉ một cú điện thoại cũng đủ
giúp ta tới Đạo tràng Làng Mai rồi.Cô thiếu nữ tên là Thục Hiền có ý muốn xuất
gia và có quyết tâm xuất gia, thì trong giờ phút quyết tâm xuất gia đó, cô đã
thành tựu được hạt giống xuất gia ở trong tâm cô rồi.Còn vấn đề cạo đầu, mặc
áo chỉ là vấn đề hợp thức hóa thôi.Nhìn cho sâu sắc là ta phải thấy như
vậy.Tín, Nguyện và Hạnh là tinh hoa của việc tu tập Tịnh Độ.Tín là tin vào một
nẻo thoát.Nguyện tức là muốn; muốn một cách tha thiết.Hạnh là sự thực tập Tịnh
Độ hằng ngày.Hễ có Tín, Nguyện và Hạnh là lập tức ta sanh về Tịnh Độ, không kể
đến sự kiện người ấy đã sanh, đang sanh hay sẽ sanh.Đọc kinh là phải quyết tâm
để thấy được chiều sâu của kinh.Phải đọc kinh bằng trái tim, để khi tiếp xúc
với tích môn, mình cũng tiếp xúc được với bản môn.
Đức Thích Ca dạy tiếp:‘‘Quý vị hãy
nên tin vào kinh này, kinh mà các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán
và hộ niệm’’.‘‘Xưng tán’’ vì kinh này có công đức vô lượng và có thể tạo ra
nhiều thành tích, nhiều công đức.Và ‘‘hộ niệm’’ là yểm trợ bằng năng lượng
chánh niệm của mình.Như vậy tất cả chư Bụt đều khen ngợi sự thực tập của kinh
này, và hứa sẽ dùng năng lượng chánh niệm của mình để yểm trợ cho những người
nào muốn thực tập.Lý luận có tính cách biện chứng của sự hành trì này là: khi
mình để tâm vào bất cứ một vị Bụt nào, thì qua vị Bụt đó, mình có thể tiếp xúc
với tất cả các vị Bụt khác trong vũ trụ.Và vì vậy danh hiệu riêng của từng
Ngài không còn là một vấn đề nữa, vì qua một vị Bụt, mình có thể tiếp xúc với
tất cả các vị Bụt trên thế giới.Cho nên ta niệm Bụt nào cũng được hết, miễn là
ta niệm Bụt cho được nhất tâm.Chính nhờ các vị Bụt trong vũ trụ hộ niệm, mà
hành giả sẽ không bị thối chuyển, tức là không bị sa đọa.Thực tập là được giữ
gìn để đi tới, chứ không phải đi lui.
Nhìn sâu, ta thấy trong kinh có ý
niệm về Tăng thân, và đây là một ý niệm hết sức căn bản và quan trọng.Tại vì
Tịnh Độ là sáng tạo phẩm cộng đồng của Tăng thân.Không phải chỉ có Tịnh Độ của
một vị Bụt.Tất cả các vị Bụt trong vũ trụ đều có Tịnh Độ, và đều yểm trợ cho
các cõi Tịnh Độ.Ở bài kinh này ta học được rằng:chỉ cần để tâm niệm của mình
hướng về một vị Bụt và niệm Bụt đến chỗ nhất tâm thì mình có cơ hội tham dự
vào cõi Tịnh Độ, dù trong lòng mình vẫn đang còn có những hạt giống khổ
đau.Trong ta đang còn có những hạt giống khổ đau, nhưng ta vẫn có thể tham dự
vào cõi Tịnh Độ.Đây là một điều rất hay, vì ở trong giáo lý Tịnh Độ có ý niệm
‘‘đới nghiệp vãng sanh’’.‘‘Đới’’ là mang theo, quẩy theo.‘‘Nghiệp’’ là những
hậu quả khổ đau do những động tác của cơ thể, của tư tưởng và của lời nói
trong quá khứ đem lại.Mình có thể đem những nỗi khổ niềm đau của mình về tham
dự vào Tịnh Độ.‘‘Vãng sanh’’ là đến tham dự.‘‘Đới nghiệp vãng sanh’’ nghĩa là
đang quẩy nghiệp theo mà vẫn tham dự được Tịnh Độ.Khi ta cầm một hòn đá hoặc
một viên sõi và liệng xuống dòng sông, thì dầu viên đá hoặc hòn sõi có nhỏ, có
nhẹ đến mấy, nó vẫn chìm xuống sông như thường.Nhưng khi ta có một chiếc
thuyền để chuyên chở thì dù cho ta có đặt mấy trăm ký đá vào thuyền thì thuyền
cũng vẫn không chìm.Đây là một thí dụ rất hay về ‘‘đới nghiệp vãng sanh’’.Một
mình thì chìm nghỉm, nhưng có sức hộ niệm của Tăng thân, của Bụt và Bồ tát,
thì mình sẽ không chìm, mình vẫn nổi, và sự khác nhau là ta có Tăng thân hay
không, có Tịnh Độ hay không.Có Tăng thân và có Tịnh Độ thì cho dù mình còn có
đau khổ trong tâm, mình cũng không bị chìm.Cái hay là ở chỗ đó. Điều này có
thể gọi là tha lực, tức là sức mạnh không phải sức mạnh của mình mà của người
khác.Nhưng tha lực được làm bằng chất liệu của tự lực.Thí dụ:Tăng thân tuy là
tha lực, nhưng tăng thân được làm bằng tự lực.Mỗi người đều đóng góp năng
lượng hạnh phúc và năng lượng an lạc của mình vào Tăng thân, nên Tăng thân mới
có năng lượng của chánh niệm, năng lượng của hạnh phúc, năng lượng của an
lạc.Đem năng lượng đó ra thì tăng thân cứu vớt và chuyên chở được nỗi khổ niềm
đau của người mới đến.Người mới đến cũng vậy, sự thực tập chánh niệm của mình
cũng có thể đóng góp vào năng lượng chánh niệm và niềm vui của Tăng thân.Dù
mình chỉ mới có chút ít niềm vui thôi, dù mình chỉ mới có chút ít năng lượng
chánh niệm thôi, mình cũng có thể đóng góp được cho Tăng thân rồi.Cái đó gọi
là tha lực.Tha lực được làm bằng tự lực.Tha lực có sẵn, nên khi mình tham dự
và thừa hưởng những hạnh phúc và an lạc của Tăng thân thì mình phải đóng góp
cái tự lực của mình vào cho Tăng thân.Chúng ta thử nghĩ cõi Tịnh Độ có rất
nhiều người mới vãng sanh, trong tâm thức của họ vẫn còn những hạt giống của
tham giận, buồn rầu, sợ hãi, nghi ngờ, do đó, thỉnh thoảng họ vẫn còn khổ
đau.Bởi vì họ là hạng ‘‘đới nghiệp vãng sanh’’.Cho nên, ta đừng tưởng tượng
rằng khi được tham dự vào Tịnh Độ là ta sẽ không có vấn đề gì nữa hết.Nếu có
một cõi mà không phải Tịnh Độ, thì sự gặp gỡ của chúng ta trong cõi đó sẽ đưa
tới sự chất chứa những khổ đau và sẽ tạo thành địa ngục.Nhưng trái lại, nếu
chúng ta được gặp nhau ở cõi Tịnh Độ thì chúng ta có cơ hội để chuyển hóa khổ
đau.Bởi vì ở đó ta có Bụt và các vị bồ tát ‘‘nhất sanh bổ xứ’’, có nhiều bậc
‘‘thượng thiện nhân’’, cho nên các ngài ôm ấp được những nỗi khổ niềm đau của
người mới vãng sanh, ôm ấp trong tình thương, ôm ấp trong sự hiểu biết, ôm ấp
bằng đức kiên nhẫn và sự hướng dẫn của mình.Do đó cõi Tịnh Độ có sức chịu đựng
những nỗi khổ niềm đau của những người ‘‘đới nghiệp vãng sanh’’ mới tới, và
nghiệp của những người đó sẽ được chuyển hóa từ từ bởi sự thực tập hàng
ngày.Buổi sáng được đi hái hoa, được đi cúng Bụt, buổi trưa về ăn cơm chánh
niệm, được đi thiền hành, nghe pháp thoại do chim nói, do cây nói, được gần
gũi Bụt A Di Đà, được thân cận bậc thiện tri thức, đó là những điều kiện rất
thuận lợi để tu tập, để chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau mà mình đã mang tới
từ bên kia.Và vì vậy ở Tịnh Độ là dân chúng phải tu, có phải vậy không?Ở cõi
Tịnh độ tất cả dân chúng đều tu theo phép niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng,
nhờ gió, nhờ chim yểm trợ, nhờ Bụt và các vị Bồ tát yểm trợ.Ta đừng nghĩ rằng
qua đó, buổi sáng ta có thể dậy trưa, không đi ngồi thiền rồi cũng không ra ăn
cơm sáng với đại chúng.Không có chuyện đó đâu.Qua bên kia là thế nào ta cũng
sẽ làm đệ nhị thân cho một vị Bồ tát.Vị Bồ tát ấy thế nào cũng kéo ta dậy đi
ngồi thiền chung, và giúp đỡ ta trong lúc khó khăn.Vậy, ‘‘đới nghiệp vãng
sanh’’ là một thực tại, và vì vậy cõi Tịnh Độ có tính chất của một cõi ‘‘phàm
thánh đồng cư’’.Phàm là những người trần tục, và thánh là những người đã được
giải thoát, giải thoát một phần hoặc giải thoát hoàn toàn.Phần thánh ôm ấp
phần phàm, giữ gìn phần phàm đừng cho phần phàm bung ra, và để cho phần phàm
từ từ chuyển hóa.Cái hay của Tịnh Độ là không phải không có phần phàm, nhưng
cái phần phàm được ôm ấp, nâng niu và chăm sóc bởi phần thánh.Chúng ta hãy
quán tưởng đây là vòng tay của Bụt và của các vị Bồ tát đang ôm lấy tất cả
chúng ta trong nguồn năng lượng thánh thiện của các ngài.Nguồn năng lượng
thánh thiện này là nguồn năng lượng của chánh niệm.Và đây là những chúng sanh
vừa mới vãng sanh, có rất nhiều chất phàm trong họ.Nhờ có nhiều bậc ‘‘thượng
thiện nhân’’ tụ tập lại một chỗ, cho nên họ mới có đủ năng lượng thực tập
chánh niệm để tự ôm ấp được những phần phàm đó của họ.Mỗi cá nhân đều có phần
phàm trong tự thân, nhưng mỗi cá nhân cũng có phần thánh trong họ.Tuy mình là
người phàm, nhưng vì mình đang tu tập chánh niệm, nên phần thánh đã bắt đầu có
mặt.Do đó chất thánh không phải chỉ có ở nơi người khác mà cũng có nơi chính
mình.Mỗi bước chân có chánh niệm, mỗi hơi thở có chánh niệm đều có thể chế tác
ra được phần thánh của mình để mình có thể ôm lấy phần phàm của mình, và nếu
chưa đủ, mình mượn phần thánh của chư Bụt và của các bậc Bồ tát ‘‘nhất sanh bổ
xứ’’ hoặc các bậc ‘‘thượng thiện nhân’’ để ôm ấp và chuyển hóa phần phàm ở nơi
mình.Lý do tồn tại của Tăng thân là sự có tu và có học.Tới với Tăng thân là để
tu và để học, vì vậy, mỗi ngày mình chế tác được chất ‘‘thánh’’ thêm một chút
để ôm ấp lấy chất ‘‘phàm’’ trong mình và để chuyển hóa chúng.Ta hãy nhìn vào
Tăng thân của ta để thấy rằng Tăng thân của ta cũng là một cọng đồng phàm
thánh đồng cư.Chất thánh trong chúng ta mặc dù đang có, nhưng không thể nào so
với chất thánh của chư Bụt và Bồ tát.Và trong chúng ta có người có chất
‘‘thánh’’ nhiều hơn chất ‘‘phàm’’, nhưng cũng có người có chất phàm nhiều hơn
chất thánh.Mỗi chúng ta đều có cả hai chất liệu ấy, nhưng chất lượng phàm và
thánh ở trong mỗi chúng ta đều khác nhau.
Hoa Sen Chín
Phẩm
Người ta nghĩ rằng ở cõi Tịnh Độ
sen được chia thành chín bậc.Những người vãng sanh sang bên đó có nhiều trình
độ và tùy theo trình độ đó mà người ta có chất thánh nhiều hay ít, và chỗ ngồi
của họ được tượng trưng bằng hoa sen ‘‘chín phẩm’’.Khi còn ở trong cõi Ta bà
này, trong giờ phút hiện tại, mỗi khi quý vị niệm câu ‘‘Nam mô Bụt A Di Đà’’
với tâm thành khẩn, chuyên nhất, thì chất liệu của chánh niệm được phát sinh,
và tự nhiên ở bên cõi Tịnh Độ một bông sen búp được tượng hình. Đó là một hình
ảnh rất đẹp, rất thi ca.Hãy khoan xem đó là một sự thật khách quan.Hãy xem đó
trước hết là một hình ảnh thi ca rất đẹp.Mặc dầu nó là một búp sen nhỏ xíu
nhưng mà nó đã có mặt.Tôi vẽ trên bảng, chia bảng thành hai phần.Phần này là
cõi Ta bà.Phần kia là Tây phương Tịnh Độ.Mình là một chúng sanh đang ở bên
này, tức là ở cõi Ta bà.Mình niệm Bụt một câu.Ở bên phần kia, một bông sen
tượng hình.Đây là hình ảnh mà người ta hay sử dụng để thực tập.Tùy theo công
phu thực tập mà bông sen bên kia lớn nhanh hay lớn chậm.Bông sen ấy là để dành
cho mình.Mình sẽ sinh ra trong bông sen ấy.Khi bông sen lớn và già giặn rồi
thì nó nở ra.Ngay lúc đó ta được sinh ra.Ta xuất hiện từ bông sen.Ta được sinh
ra từ một bông sen (chứ không phải từ một bắp cải).
Ở cõi Tịnh Độ có chín phẩm sen.Theo
‘‘Quán A Di Đà Phật Kinh’’ thì chín phẩm chia làm ba trình độ, mỗi trình độ có
ba phẩm và khi mình sinh sang cõi đó mà sinh vào phẩm thấp nhất là "hạ phẩm hạ
sanh".Nếu là thượng căn thượng trí thì ta sanh ở phẩm ‘‘thượng phẩm thượng
sanh’’.
Ba trình độ được sinh làm chín phẩm
như sau:
Thượng phẩm- Thượng phẩm thượng
sanh
Thượng phẩm trung sanh
Thượng phẩm hạ sanh
Trung phẩm - Trung phẩm thượng
sanh
Trung phẩm trungsanh
Trung phẩm hạ sanh
Hạ phẩm - Hạ phẩm thượng
sanh
Hạ phẩm trung sanh
Hạ phẩm hạ sanh
Mới nghe, ta có cảm nghĩ bên cõi
Cực Lạc mà cũng có giai cấp xã hội và có sự kỳ thị giai cấp.Nhưng ta hãy coi
chừng.Ta phải học với sự thông minh của ta.Khi ta sinh ra ở Tịnh Độ với tư
cách hạ phẩm hạ sanh thì tuy ta đã qua được bên đó nhưng ta vẫn còn mang theo
rất nhiều khổ đau.Có phải vậy không?Ta rất cần tới Tăng thân bên đó ôm ấp và
nâng đỡ để chuyển hóa.Vì còn khổ đau nên mặc dầu đã ở Tịnh Độ mà ta không
hưởng được hết một trăm phần trăm niềm vui của Tịnh Độ.Ta chỉ hưởng được năm
phần trăm của niềm vui đó thôi, hay có khi còn ít hơn.Nhưng sự kiện ta đang ở
Tịnh Độ là một điều mầu nhiệm lắm rồi, mặc dù ta còn đau khổ, còn nghi ngờ,
mặc dầu thỉnh thoảng ta còn muốn bỏ đi. Đã ở Tịnh Độ rồi, nhưng ta vẫn còn
trồi lên sụp xuống rất nhiều.Cho nên ta phải cần đến Tăng thân.Chúng ta cần
phải bám lấy Tăng thân.Tịnh Độ là vậy.Ở bên kia, có những người hạnh phúc rất
lớn, vì họ được sinh ra trên những bông sen thượng phẩm thượng sanh.Nhưng cũng
có người còn khổ đau.
Đôi khi mình tự hỏi:Tại sao cùng
sống trong một môi trường mà người kia nhiều hạnh phúc như vậy?Họ cười vui
suốt ngày.Còn ta, ta cũng muốn cười lắm chứ.Thấy họ cười vui, ta cũng ráng
cười theo, nhưng nhìn vào gương ta thấy nụ cười ta méo xẹo.
Nếu muốn hiểu về Tịnh Độ, ta phải
nhìn thực tế vào Tăng thân trong đó ta đang sinh hoạt, lúc đó ta sẽ biết Tịnh
Độ là gì và biết mình đang ngồi trên loại sen nào; sen thương phẩm, sen trung
phẩm hay là sen hạ phẩm.
Tại sao trong cùng một Tăng thân,
cùng trong một hoàn cảnh, cùng một Thầy, cùng những người bạn tu, nhưng có
người thì hạnh phúc quá chừng, thảnh thơi quá chừng, còn mình thì vẫn cảm thấy
đau khổ, cảm thấy cô đơn.Mình còn có cảm tưởng rằng mình là công dân hạng bét
của tăng thân nữa là khác.
Hãy lấy một ví dụ.Tăng thân Làng
Mai đang đi thiền hành với Thầy.Cũng Thầy đó, cũng những sư anh đó, những sư
chị đó, cũng những sư em đó, cũng đi trên con đường đó, cũng thấy những hàng
cây và nghe những tiếng chim đó.Nhưng tại sao có người đi thiền hành thì đạt
được rất nhiều hạnh phúc, nhưng cũng có người không đạt được hạnh phúc bao
nhiêu.Đó có phải là tại vì ngoại cảnh hay tại vì tâm tư riêng của mình?Câu trả
lời thật dễ dàng.Cái đó không phải do ngoại cảnh, mà là do tâm, bởi vì tất cả
ngoại cảnh đều do tâm biểu hiện.
Cũng bước đi từng bước như vậy,
nhưng tại sao người ta thì lại thảnh thơi, vững chãi.Còn mình thì lại xụt xùi,
vướng víu bên này, bên nọ.Vậy thì vấn đề đâu phải là ngoại cảnh. Chúng ta
đừng tưởng rằng được vãng sanh qua cõi Tịnh Độ thì hết vấn đề và ta khỏi cần
phải tu tập gì thêm.Nghĩ như vậy thì quá sai lầm.Tại vì được vãng sanh sang
bên đó cũng giống như đã thi đậu vào trường đại học.Mà tại trường đại học thì
ta phải học rất nhiều ‘‘cua’’.Cho nên ta không thể cúp ‘‘cua’’ được, ta phải
đi học cho đều, phải đi công khóa cho đều.
Bụt A Di Đà tuy rất hiền, nhưng
Ngài rất muốn chúng ta tu học và thương yêu nhau như là con một nhà.Đó là tại
vì mình muốn Bụt A Di Đà là từ phụ, là đấng cha lành, nghĩa là người cha chỉ
thương yêu, dạy dỗ, mà không rầy rà, không la mắng.
Chúng ta hãy nhìn vào Tăng thân của
chúng ta để quán chiếu.Ban đầu chúng ta đã nhờ một cơ duyên nào đó mà đi tới
được với Tăng thân này.Thật sự là ta đang ở với Tăng thân.Nhưng cái sự thật ta
đang ở trong Tăng thân không có nghĩa là ta không còn có vấn đề gì nữa.Ta đã
gia nhập tăng thân với những nỗi khổ và niềm đau còn lại của ta.Nhưng ta đã
rứt ra được hoàn cảnh ngày xưa, và ta đã tới được với Tăng thân: đó là đã một
thành tựu lớn.Và vì vậy ta phải biết thực tập, tức là phải đưa nỗi khổ niềm
đau ra để cầu xin Tăng thân ôm ấp nó cho ta, và ta cũng phải thực tập để tự ôm
ấp nỗi khổ niềm đau ấy để chuyển hóa chúng.
Chúng ta phải biết nương tựa Tăng
thân, phải hoàn toàn phó thác thân mạng mình cho Tăng thân.Tại vì Tăng thân là
cơ hội duy nhất để giúp ta ôm ấp và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau của ta.Có thể
là ta đã qua tới cõi Tịnh Độ rồi, nhưng vẫn chưa ngồi chưa yên và hoa sen trên
đó mình ngồi chưa hẳn là hoa sen.Mình nói rằng Tịnh Độ này không phải của
tôi.Đó là tâm trạng của chúng sanh.Có khi đến một hoặc hai năm sau thì cái suy
nghĩ ấy mới không còn.Hạt giống muốn bỏ nhà ra đi, người nào trong chúng ta
cũng có.Tất cả mọi đứa trẻ đều có một lần muốn bỏ nhà ra đi do giận cha, giận
mẹ, giận anh hoặc giận chị.Có phải vậy không?Hạt giống ấy không phải tự mình
làm ra mà đã được trao truyền từ nhiều đời.Cho nên qua tới Tịnh Độ rồi mà
thỉnh thoảng ta vẫn muốn bỏ Tịnh Độ mà đi.Cái đó là chuyện rất thường thôi bởi
vì hạt giống bỏ nhà ra đi ấy trong ta vẫn còn chưa được chuyển hóa.
Các thầy, các sư cô, các sư chú và
các Phật tử ở đây ai cũng biết rất rõ chuyện này.Nếu có phước đức của tổ tiên,
chúng ta sẽ không bỏ đi.Kiên trì ở lại được vài ba năm thì ta thấy gốc rễ ta
vững mạnh và ta bắt đầu có thế di lên rất vững chãi. Điều đó đòi hỏi một niềm
tin nơi Tăng thân, một niềm tin nơi cõi Tịnh Độ mới được.
Bụt A Di Đà luôn luôn có mặt đó để
ôm ấp ta, các bậc thượng thiện nhân cũng luôn luôn có mặt để ôm ấp ta.Nhưng vì
quá đau khổ, thành thử ta không hưởng được cái hạnh phúc mà Bụt A Di Đà hay
những bậc thượng thiện nhân thương tưởng và trao truyền.Đôi khi nhìn mặt Bụt A
Di Đà, có thể ta thấy ngài không dễ thương mấy.Tại vì ta không thảnh thơi và
tự tại để có thể nhìn được rõ.Nhìn cái gì ta cũng thấy bị bóp méo, vì ta đang
bị vô minh che lấp tâm tánh.Muốn nhìn thấy Bụt A Di Đà trong tự thân của Ngài,
ta phải có sự tĩnh lặng, sự tự do. Còn nếu nhìn qua cặp mắt kính của hờn giận
và của ganh tức thì chúng ta chưa thể thấy được Bụt A Di Đà.
Sự thật là như vậy.Cho nên diễn tả
Tịnh Độ bằng chín phẩm hoa sen tuy là đúng sự thật, nhưng cũng rất nguy
hiểm.Nguy hiểm ở chỗ ta có thể nghĩ:Ở cõi Tịnh Độ mà cũng còn giai cấp, sang
bên này rồi mà mình cũng còn phải làm công dân hạng thứ chín chứ không phải
hạng thứ nhì, và suy nghĩ như thế, mình sanh tâm ganh tức những người
kia.Nhưng sự thật không phải như vậy.Những người kia sở dĩ họ có hạnh phúc
không phải vì họ được Bụt A Di Đà thương yêu và biệt đãi hơn đâu.Bụt đâu có
tâm kỳ thị chúng ta.Vì tâm của ta còn nhiều vô minh và đau khổ cho nên ta nghĩ
rằng ta đang bị bạc đãi, ta đang bị kỳ thị, ta đang làm công dân hạng nhì,
hạng ba hay hạng chín.Tất cả những mặc cảm đó là do mình mà ra.Đi sang cõi
Tịnh độ rồi mà hạt giống của Ta bà khổ đau vẫn còn và vẫn hiện khởi, cho nên
ta không hưởng được trọn vẹn cái vui của Cực Lạc.Trong khi đó những người khác
lại hạnh phúc quá chừng.Điều này ta đâu phải cần đi qua bên đó nhìn tận mắt
mới thấy.Ngồi đây, ở trong Tăng thân này, mình cũng có thể thấy được rồi.Ở
trong Tăng thân mình cũng thấy có chín phẩm.Có những người cảm thấy rất thoải
mái, rất hạnh phúc, nhưng cũng có những người vẫn còn nhảy nhỗm, vẫn còn muốn
bỏ đi, vẫn còn giận hờn, vẫn còn cảm tưởng bị kỳ thị.
Điểm này trên bảng chỉ cho cõi Ta
bà, còn điểm bên kia chỉ cho cõi Tịnh Độ.Điểm này là điểm bây giờ, và điểm kia
là điểm lúc đó - lúc đó là lúc sau khi mình chết và được sanh sang cõi Tịnh
Độ.Đây là điều chúng ta cần phải để ý.Bởi vì ta đang thực tập theo nguyên tắc
‘‘bây giờ và ở đây’’.Và ta có thể nghĩ rằng ta thực tập là để đạt được một kết
quả trong tương lai, nghĩa là sẽ được sinh ra ở điểm bên kia.Trong lúc thực
tập, đôi khi ta cũng sinh tâm chán bỏ, chán ghét bên này.Chán ghét bên này mà
đi tìm bên kia, chán ghét bây giờ để đi tìm một cái gì trong tương lai.Đây là
tâm lý của chúng sanh, rất có tính cách phổ biến.
Tâm niệm của chúng sanh thường chán
ghét hiện tại và nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể có mặt trong tương lai.Mình
chán ghét cái ở đây và mình đi tìm một cái ở nơi khác.Vì vậy, Bụt mới xót
thương và mới nói rằng có một cõi Tịnh Độ ở phương Tây.Điều này nghe như một
lời hứa hẹn.Đây là một điều rất quan trọng cần phải quán chiếu.Nếu muốn thật
sự hiểu được kinh, ta cần phải quán chiếu cho sâu sắc.
Đối tượng sự ước muốn và sự thờ
phụng của mình ban đầu thường nằm ở ngoài mình, như Thượng đế, như Ky-tô, như
Bụt, như Tịnh Độ, như nước Chúa, v.vv...Lúc đó mình có cảm tưởng ở đây và bây
giờ không có gì hết, chỉ có khổ đau, chỉ có tàn hoại, chỉ có héo hắt, chỉ có
sầu não thôi.Chính vì thế mình mới cần bám vào một cái gì ở nơi khác và ở
trong tương lai. Đó là nước Chúa, là Tịnh Độ, là Niết Bàn, là Bụt, là Bồ tát,
là Ky-tô.Tâm chúng sanh thường nghĩ như vậy.Sự suy nghĩ này bắt đầu từ một mặc
cảm mình là một con số không.Mình đi tìm một cái gì bên ngoài mình.Mình không
biết rằng những gì bên ngoài ấy đều là những điều do tâm mình phóng chiếu ra
cả.
Khi mình tạo ra một bức tượng để
thờ, dù là tượng Phật hay tượng Chúa, tượng điêu khắc hay tượng vẽ, thìbức
tượng ấy cũng từ trong tâm mình mà đi ra.Cái tượng ấy nếu không phải từ trong
tâm mình đi ra thì nó từ đâu tới?Tâm mình thảnh thơi, nhẹ nhàng thì nét mặt
trên tượng sẽ thảnh thơi, nhẹ nhàng.Tâm mình nặng trĩu buồn đau thì mình khó
mà tạo ra cho được một pho tượng có khuôn mặt thảnh thơi.
Do đó, tất cả những hình ảnh của
Thượng đế, của nước Chúa, của Tịnh Độ, đều là những sáng tạo của tâm.Và đó mới
là những hình ảnh chứ chưa phải là những thực tại.
Khi ta tạc ra một pho tượng Bụt để
thờ, và thấy pho tượng không được đẹp cho mấy, ta không dám bỏ đi, không dám
đập vỡ, cứ nghĩ rằng đập vỡ thì mang tội.Nhưng tượng đó là do tâm làm ra, chứ
đâu phải ở ngoài đi tới.Tri giác sai lầm căn bản là ở chỗ chúng ta có mặc cảm
rằng chúng ta không là gì hết, chúng ta chỉ là khổ đau và tiều tụy.Vì vậy
chúng ta mới đi tìm kiếm một cái gì có giá trị ở bên ngoài.Những khi ta chắp
tay cầu nguyện, ước mơ, hoặc quán tưởng thì tự nhiên trong tâm có sự bình yên
trở lại.Có niềm tin, tâm từ từ tĩnh lặng.Có tĩnh lặng thì bắt đầu có trí tuệ,
từ từ ta thấy được rằng cái mà ta tưởng rằng ở ngoài, nó thực sự đang ở trong
ta.
Ban đầu ta thấy Bụt là một thực tại
ở ngoài ta.Sau một thời gian tu tập và giác ngộ, ta thấy Bụt là một thực tại ở
trong ta.Và nếu ta tu tập tinh tấn, thì ta thấy Bụt không phải ở trong cũng
không phải ở ngoài.Tại vì ở ngoài và ở trong chỉ là hai ý niệm, trong khi sự
thật vượt thoát các ý niệm ở trong và ở ngoài.Ta thử hỏi:Ở trong là ở nơi
nào?Nơi lá phổi hay nơi lá lách, hay nơi trái tim?Có một chỗ nào nhất định
không?Chính vì thế, các ý niệm ở trong và ở ngoài đều chỉ là những ý niệm.Nói
rằng Bụt, Niết Bàn, Tịnh Độ và nước Chúa không thể được gọi là ở ngoài, ở
trong hay ở chặng giữa được.Tại vì những ý niệm kia đều chỉ là những phạm trù
của tư tưởng mà thôi.Điều này rất là quan trọng để cho mình hiểu được kinh.Và
như vậy, đi tìm Tịnh Độ hay đi tìm Bụt có nghĩa là đi tìm tự thân của chúng
ta.‘‘Con đã tìm ra Thế Tôn, con đã tìm ra con.’’Hai câu đó của bài thơ Tìm
Nhau chỉ có nghĩa như vậy.Ban đầu thì ta đi tìm Thế Tôn như một thực tại ở
ngoài, nhưng khi tìm ra được Thế Tôn rồi thì ta thấy rằng Ngài không phải là
một thực tại bên ngoài.Tìm thấy Thế Tôn đồng thời cũng là tìm thấy được tự
thân, và ta thấy được rằng Thế Tôn và ta không phải là hai thực tại riêng
biệt.
Khi ta niệm một câu ‘‘Nam mô Bụt A
Di Đà’’ thì một búp sen nhỏ được tượng hình ở trong đất Bụt.Niệm thêm một
tiếng nữa thì bông sen lớn lên thêm một chút.Cùng với công phu niệm Bụt ấy mà
đóa hoa sen lớn lên từ từ.Đóa sen đó là đóa sen của ta.Khi thành công rồi, thì
ta sẽ được sinh ra từ đóa sen đó.Đóa sen đó có thể là hạ phẩm, trung phẩm hay
là thượng phẩm, điều này tùy thuộc vào công phu tu tập của chúng ta.Đóa sen đó
nằm ở bên kia, nó được để dành cho những ai có tâm tu tập, dù là thời gian này
hay thời gian khác, dù thực tập nhiều hay ít.Nó bắt đầu tượng hình ở bên kia
nhưng đồng thời nó cũng đang được tượng hình ngay trong lòng mình.Có phải vậy
không?
Điều này là một điều rất khoa
học.Khi sư chú thở vào một hơi thở có chánh niệm và biết mỉm cười, thì búp sen
của sự an lạc và của hạnh phúc đã tượng hình trong người của sư chú, đã nở
trong trái tim của sư chú.Một đóa hoa an lạc của tình thương và của tĩnh
lặng.Ta dùng hình ảnh của một hoa sen để tượng trưng cho sự an lạc và tĩnh
lặng ấy.Tại sao phải đợi đến tương lai mới được hưởng bông sen kia?Tại sao ta
phải đợi qua Tây phương rồi mới được hưởng bông sen kia?Chỉ cần một câu niệm
Bụt thành khẩn, chỉ cần một hơi thở có chánh niệm là chúng ta có thể hưởng
được bông sen của sự an lạc và của thảnh thơi ngay bây giờ và ở đây.Và Tịnh Độ
nằm ngay ở đây và bây giờ chứ không phải đâu xa.Đây là điều mà mình phải
thấy.Đây là cách nhìn Tịnh Độ bằng con mắt của các nhà thiền quán.Thiền đây
không hẳn là thiền Tổ sư hoặc thiền Như Lai mà là thiền nguyên thỉ, nghĩa là
thiền mà chính Bụt và các thầy, các sư cô thực tập cách đây hai ngàn sáu trăm
năm, như thiền Niệm Xứ, thiền Quán Niệm Hơi Thở, thiền Hiện Pháp Lạc Trú.Chúng
ta thường hay quên rằng đức Thế Tôn đã từng dạy chúng ta pháp môn ‘‘Hiện Pháp
Lạc Trú’’, sống an lạc ngay trong giờ phút hiện tại.
Thiền Tịnh
Không Hai
Hiện Pháp là những gì đang xẩy ra
bây giờ và ngay ở đây.Lạc là hạnh phúc, và Trú là an trú, là sống.
Đây là giáo lý mà đức Thế Tôn
thường nhắc đi nhắc lại.Tại sao chúng ta phải đợi tới tương lai mới có an
lạc?Ta có thể có an lạc ngay trong ngày hôm nay.Giáo pháp của đức Thế Tôn là
giáo pháp đẹp đẽ và mầu nhiệm, có thể đem lại an lạc ngay lúc bắt đầu thực
tập.
Khi ta bắt đầu ‘‘thở vào tâm tĩnh
lặng, thở ra miệng mỉm cười’’ và bước những bước chân thanh thản và nhẹ nhàng
thì lúc đó ta đã có an lạc rồi.Đâu phải cần tám năm sau mới có an lạc?Tám năm
sau chắc chắn là có an lạc, nhưng bây giờ và ở đây cũng đã có an lạc.
Vì vậy cái búp sen kia ta có thể
làm cho phát sinh và nở bất cứ lúc nào.Bằng mỗi nụ cười, mỗi hơi thở, mỗi bước
chân, ta làm cho búp sen lớn lên, nở ra.Ta không cần đợi đến tương lai.Và ta
có thể gom những bài giảng này về kinh A Di Đà và làm thành một cuốn sách, gọi
là A Di Đà Kinh Thiền Giải.Không phải là Tổ sư thiền, Như Lai thiền hay là Như
Lai thượng thượng thiền.Không phải thiền Công Án hay thiền Mặc Chiếu.Thiền này
là thiền của đạo Bụt nguyên thỉ.Thiền của kinh Quán Niệm Hơi Thở, của kinh
Niệm Xứ, của kinh Người Bắt Rắn, của kinh Người Biết Sống Một Mình.Theo các
kinh này, Bụt dạy rằng hạnh phúc có thể có ngay bây giờ, và Tịnh Độ có thể có
ngay bây giờ trong khung cảnh này.Ta có thể đưa Thiền và Tịnh tới với nhau.
Ngày xưa, có nhiều người nói:Tu
thiền thì khó thành, tu Tịnh độ thì dễ thành.Thực ra theo cái nhìn của chúng
ta thì Tịnh độ là một loại thiền tập, Tịnh độ mà không có thiền tập thì đó chỉ
là một sự đầu tư vào tương lai mà thôi.Còn nếu có thiền trong Tịnh độ thì ta
có Tịnh Độ ngay bây giờ.Và giáo nghĩa Tịnh độ đi rất đúng vào tinh thần của
đạo Bụt nguyên thỉ.Mỗi chúng ta đều đã có hoa sen, ta không cần phải đi qua
bên cõi Tây phương để xem, hoặc nhờ người đem cái máy vidéo sang đó để thâu
hình, xem thử nó đã lớn được chừng nào.Tại vì hoa sen ấy đang có mặt trong ta,
cho nên búp sen lớn chừng nào thì ta phải biết chứ, phải không?Bông sen của
mình mà mình không tự thấy thì uổng biết mấy.
Ta có thể đem đóa sen ấy trở về với
ta.Trong kinh Pháp Cú, Bụt dạy:Trong tất cả các pháp, tâm là chủ. Trong kinh
Hoa Nghiêm, Bụt dạy: Tất cả đều do tâm,‘‘Tâm như họa sư, năng họa nhất thiết
hình tượng.’’
Bài kệ kinh Hoa Nghiêm như sau:
‘‘Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ưng quán pháp giới tánh
Nhất thiết duy tâm tạo.’’
Nếu người nào muốn thấy và muốn
hiểu được tất cả các đức Bụt trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai thì
người ấy nên quán chiếu rằng:trong bản chất của pháp giới, tất cả đều do tâm
của mình tạo ra.Vì vậy, Tịnh Độ cũng là một sáng tạo của tâm thức, tâm thức
của chư Bụt cũng như tâm thức của chúng ta.Cũng như đạo tràng Mai Thôn và tăng
thân này cũng là một sáng tạo phẩm của tâm thức; chúng ta đã cùng nhau cọng
tác để tạo ra tăng thân và đạo tràng này.Nó từ tâm ta mà ra, do lòng ước muốn
nương tựa vào nhau để tu học.
Đóa sen ở trong tim mình cũng là do
tâm tạo ra. Đóa sen biểu tượng được cảnh Tịnh Độ.Tịnh Độ cũng do tâm mà địa
ngục cũng do tâm.Chúng ta ai cũng biết địa ngục nóng như thế nào rồi.Chúng ta
đã từng ở địa ngục, đã từng bị lửa giận, lửa phiền não, lửa tuyệt vọng đốt
cháy.Chúng ta cũng đã biết rằng tất cả những đau khổ của địa ngục đều từ ở
trong tâm mình đi ra chứ không phải từ ở ngoài đi vào.Tịnh Độ cũng vậy.Chúng
ta có khả năng chế tác ra Tịnh Độ, chế tác bằng hơi thở, bằng bước chân, bằng
câu niệm Bụt.Và nếu ta muốn cho búp sen tượng hình là nó tượng hình, ta muốn
búp sen lớn thì nó lớn.Và khi bông sen ở trong trái tim ta lớn rồi thì ta bước
đi tới đâu là Tịnh Độ hiện ra ở đó.Nó tự trình bày ra, chứ mình không cần phải
đi qua phương Tây mới có được.Khi Bụt nói đến phương Tây thì đó chỉ là một
cách nói mà thôi.
Với bông sen trong ta, ta có thể
nhận rằng thật ra những bậc gọi là thượng thiện nhân, và bồ tát nhất sanh bổ
xứ, họ có ở xa đâu.Họ đang có mặt xung quanh ta.Tại ta mê mờ nên ta khổ đau;
tại ta ganh tỵ nên ta không nhận ra được họ thôi.Đức Thích Ca Mâu Ni đã không
chọn một chỗ nào khác, mà chọn ngay chỗ này.Ngài cũng thành Phật ngay cõi này.
Trong kinh Pháp Hoa có phẩm ‘‘Tùng
Địa Dõng Xuất’’, (từ dưới đất mà đi lên).Từ trái đất này vô số Bồ tát đã từ
dưới đất xuất hiện.Bụt Thích Ca nói với các vị Bồ tát đã đến từ mười
phương:Các vị Bồ tát này đều là những người học trò của tôi.Nghe vậy, các thầy
Ca Diếp và A Nan quá đỗi ngạc nhiên.Thầy Ca Diếp và thầy A Nan cùng một số đệ
tử của Bụt nói:‘‘Chúng con không ngờ rằng đức Thế Tôn mới hành đạo bốn mươi
lăm năm trên trái đất mà đã có nhiều học trò như vậy.’’Tại vì các thầy chưa
biết nhìn bằng con mắt của các vị Bồ tát cho nên chưa thấy đó mà thôi.
Khi các vị Bồ tát từ mười phương
đến nói rằng:‘‘Đức Thế Tôn cho phép chúng con ở lại đây để giúp đức Thế Tôn
hành đạo trong cõi Ta bà ác trược này’’ thì đức Thế Tôn mỉm cười, nói:‘‘Xin
cám ơn quý vị, ở trái đất chúng tôi cũng có đủ người hành đạo rồi.’’Và Ngài
cho họ thấy sự có mặt của các vị Bồ tát tùng địa dõng xuất ấy.
Vì vậy ta đừng nói rằng cõi này
không có ai.Những vị như Bồ tát Trì Địa, Bồ tát Thường Bất Khinh, Bồ tát Quán
Âm, Bồ tát Đại Thế Chí,v.vv... đang có mặt rất nhiều chung quanh ta.Họ đều là
những đứa con của trái đất.
Trong giáo lý Tịnh Độ, ta nghe nói
rằng đứng bên tay phải Bụt A Di Đà là Bồ tát Quan Thế Âm, và đứng bên tay trái
Ngài là Bồ tát Đại Thế Chí.Nếu tâm trí hẹp hòi, nghe thế chúng ta sẽ buồn.Ta
tưởng là Bồ tát Quan Thế Âm đang ở biển Nam Hải, không ngờ Ngài lại đang ở bên
đó.Nhưng thực sự Tịnh Độ và Ta Bà chỉ là một mà thôi.Những nhà khoa học vật lý
nói rằng một điện tử vừa có mặt ở đây mà cũng vừa có mặt ở bên kia.Đó là một
lời tuyên bố căn cứ trên sự thực nghiệm.Một điện tử vừa có thể có mặt ở đây và
vừa có mặt ở bên kia, vừa có thể là một làn sóng vừa có thể là một chất
điểm.Trí óc thông thường của ta cho rằng nếu là làn sóng thì chỉ có thể là làn
sóng thôi chứ không thể vừa là làn sóng mà cũng vừa là chất điểm.Nhưng ở đây,
khoa học có thể chứng nghiệm rằng nó có thể là cả hai và nó đồng thời vừa ở
đây mà cũng vừa ở bên kia.Vì vậy mình có thể thấy được đức Quan Thế Âm cũng
đang có mặt ngay tại đây.Đức Quan Thế Âm là một người con của trái đất, do
trái đất sinh ra.Mình cũng vậy.Cố nhiên Bồ tát Quan Thế Âm muốn ở lại phục vụ
cho những loài chúng sanh đang chịu khổ ở đây, thì ta cũng vậy.Ở chung quanh
ta có bao nhiêu bậc đại nhân và bao nhiêu vị Bồ tát.Nếu ta không bị vô minh
che lấp, nếu ta không có tâm ganh tỵ và tâm hận thù thì ta có thể nhận diện
được các vị một cách rất rõ ràng.Ngay trong tăng thân của chúng ta đây cũng có
những vị Bồ tát, những vị Bồ tát lớn tuổi và trẻ tuổi.Bồ tát xuất gia hay Bồ
tát tại gia đều có mặt.Nói đúng hơn ở trong mỗi chúng ta, ai cũng có một vị Bồ
tát, nhưng cơ hội biểu hiện chưa có, nên ta chưa phải là Bồ tát đích thực và
toàn thời gian (full time bodhisattva mà thôi.
Cách đây chừng mười lăm năm, dạy ở
tu viện Kim Sơn về Thiền và Tịnh trong một bài pháp thoại, tôi có nói:
‘‘Tịnh độ mà không thiền
Tịnh độ của tương lai
Tâm ta là đất tịnh
Thiền với Tịnh không hai.’’
Bài thơ này đã giúp cho thiền sinh
khóa ấy khá nhiều. Đem con mắt của thiền tập mà quán chiếu vào giáo lý Tịnh
độ, ta hiểu sâu được giáo lý Tịnh độ.Giáo lý Tịnh độ có thể thực tập để Tịnh
Độ hiển bày ra ngay bây giờ và ở đây.Các thầy ngày xưa đã từng dạy:‘‘Tự tánh
Di Đà, duy tâm Tịnh độ’’, tức là Tịnh Độ nằm trong tâm và Di Đà là tự
tánh.Biết bao nhiêu nhà chú thuật, biết bao nhiêu nhà bình giải, biết bao
nhiêu nhà trước thuật đã nói tới giáo lý duy tâm Tịnh độ.Búp sen kia đang nằm
trong trái tim mình.Mình phải làm cho nó lớn lên mỗi ngày.Chính bông sen đó sẽ
làm cho Tịnh Độ được biểu hiện trong đời sống hàng ngày của mình để mình được
thừa hưởng và để cho những người bạn tu của mình được thừa hưởng.Bông sen càng
lớn chừng nào, thì cái hỏa lò càng nhỏ chừng đó.Hỏa lò tức là địa ngục trong
lòng mình.
Lấy con mắt của thiền quán mà nhìn
Tịnh độ như thế thì Tịnh độ không còn là một mơ ước viễn vông, không còn là
một điều mê tín mà là một giáo lý rất thực tiễn.Tịnh độ là những gì mà ta sống
trong đời sống hàng ngày và ta thấy ta có liên hệ đến Tịnh độ một cách rất mật
thiết.Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi lời nói, mỗi cái nhìn đều phải có tác
dụng tạo ra Tịnh Độ.Sự thực tập xây dựng Tăng thân của ta được đồng nhất với
sự thực tập xây dựng Tịnh Độ.Có một thầy tuyên bố là thầy ấy chỉ có thể chấp
nhận cái lý của Tịnh Độ mà không thể chấp nhận cái sự của Tịnh Độ.Lý tức là lý
thuyết.Lý của Tịnh Độ là Tịnh Độ duy tâm, Di Đà tự tánh.Nhưng còn chuyện có
một cõi Tịnh Độ ở Tây phương và chỉ cần niệm Bụt đến bất thối chuyển để sau
khi mạng chung được sanh sang cõi đó, thì Thầy không chấp nhận.Thầy ấy chấp
nhận lý mà không chấp nhận sự.Nhưng nói như vậy chưa ổn, vì lý mà không đi đôi
được với sự, lý đó chưa phải là chân lý và sự không đi đôi với lý thì sự đó
chưa phải là chân sự.Ở đây, sự và lý, cả hai đều phải có mặt trong nhau và
không thể tách rời nhau.Sở dĩ ta thấy hai cái không đi đôi với nhau là vì
trong hai cái mà ta thấy, chưa có cái nào chín cả.Cái thấy về lý cũng chưa
chín mà cái thấy về sự cũng chưa chín.Nếu quả thật cái thấy về sự và về lý đã
thuần thục rồi, thì chúng sẽ luôn luôn đi đôi với nhau và dung hòa nhau.Niệm
Bụt và làm cho bông sen lớn lên và nở ra trong đời sống hàng ngày đó là
sự.Thực tập không phải là lý nhưng tất cả những lý mà chúng ta đã nêu lên để
thực tập đều phù hợp một cách tuyệt đối với sự.Sự thực tập về Tịnh Độ là sự
thực tập hàng ngày và cái hưởng thụ cũng là cái hưởng thụ hàng ngày, ta không
phải đợi đến chết mới bắt đầu có sự hưởng thụ.Cách đây chừng mười lăm năm,
giảng tại một nhà thờ Thiên Chúa giáo ở Philadelphia, tôi có tuyên bố một
câu:‘‘Anh đâu cần phải chết mới được đi vào nước Chúa.’’Nếu anh có niệm, có
định, có tuệ, thì anh có thể mở trái tim của anh ra và nước Chúa sẽ biểu hiện
và anh có thể đi vào nước Chúa trong giây phút hiện tại.
Ở Đạo tràng Mai Thôn, chúng ta tập
đi thiền hành như thế nào để mỗi bước chân của chúng ta dẫm lên được Tịnh
Độ.‘‘Mỗi bước chân đi vào Tịnh Độ.’’ Đó là sự thực tập của chúng ta.Trong sự
thực tập ấy, sự và lý đạt được đến mức tuyệt hảo.Nếu sự và lý chưa thực sự đi
đôi với nhau là vì Sự chưa được chín muồi, Lý cũng chưa được chín muồi.Nói
khác hơn, hai cái chưa dung thông được với nhau, chưa quyện được vào nhau.
Gạn Đục Khơi
Trong
Trong kinh A Di Đà, đức Thế Tôn
nói:‘‘Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca ngợi công đức không thể nghĩ bàn của
chư Bụt thì chư Bụt cũng xưng tán công đức không thể nghĩ bàn của tôi’’.
Ở đây, ta thấy các đức Như Lai luôn
luôn yểm trợ nhau, liên đới yểm trợ nhau trên con đường hoằng hóa.Công đức
không thể nghĩ bàn tức là đối với những thực hiện của một bậc giác ngộ, ta
không thể dùng tư tưởng mà hiểu thấu được, không thể dùng ngôn từ mà diễn tả
được.Không thể nghĩ bàn, tiếng Hán là ‘‘bất khả tư nghị’’.Tư có nghĩa là nghĩ,
nghị có nghĩa là bàn luận.
‘‘Bụt Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm
có.Ngay trong cõi Ta bà đầy năm yếu tố ô nhiễm là kiếp trược, phiền não trược,
chúng sanh trược, kiến trược và mạn trược mà ngài có thể chứng đắc được quả vị
giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sanh những pháp môn mà
bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm tin.’’
Có những pháp môn khi thuyết ra thì
được người ta tin ngay nhưng cũng có những pháp môn khi thuyết ra người ta
thấy rất khó tin.Pháp môn Tịnh độ chủ trương có một cõi ở Tây phương tên là
‘‘cõi Cực Lạc’’ và một vị Bụt tên A Di Đà đang thuyết pháp và trong cõi đó có
vô lượng vô số người đang sinh hoạt với nhau một cách rất là hạnh phúc, là một
pháp môn khó tin.Nhưng giáo lý Tịnh độ không phải là giáo lý khó tin duy
nhất.Nhiều giáo lý khác của đức Thích Ca, kể cả những giáo lý căn bản, cũng
rất khó tin.Ví dụ giáo lý vô ngã.Tất cả mọi người đang tin rằng họ có một cái
ngã.Vậy mà đức Thế Tôn nói rằng làm gì có cái ngã đó.Giáo lý vô ngã đi ngược
lại với nhận thức thông thường của cả một xã hội.Niềm tin của Ấn Độ giáo lúc
bấy giờ là thần ngã.Không những dân Ấn Độ giáo mới tin thần ngã mà mỗi chúng
sinh đều có ý niệm về ngã, khi sinh ra đã có sẵn ý niệm về ngã, cho nên ta mới
gọi đó là câu sanh ngã chấp, nghĩa là ý niệm về ngã ấy đã sinh ra cùng với
thân thể của ta.Đức Thích Ca Mâu Ni nói rằng không có một cái ngã đích thực.Vì
vậy, giáo lý vô ngã ngay từ đó là một giáo lý khó tin.Giáo lý về ‘‘không’’
cũng vậy.Bông hoa này, cái bàn này và con người này đều được diễn bày là
‘‘không’’.Điều đó cũng khó tin.Mỗi pháp đều có hình tướng mà đức Thế Tôn lại
nói rằng thực tại là vô tướng, điều đó cũng là điều khó tin.Giáo lý ‘‘vô tác’’
cũng vậy, cũng là một giáo lý khó tin.Vô tác có nghĩa là ta khỏi phải đeo đuổi
theo một dự án nào hết, khỏi phải thực hiện gì hết, tất cả đều đã được thành
tựu rồi.
Cho nên không phải chỉ có giáo lý
Tịnh độ mới khó tin mà cả những giáo lý căn bản do đức Thế Tôn thuyết ra đều
là khó tin cả.Nếu không chịu quán chiếu sâu sắc thì làm sao ta có được niềm
tin.Niềm tin có được là nhờ sự quán chiếu sâu sắc.Mới nghe qua mà tin liền thì
chuyện đó khó mà xẩy ra, nên ta mới gọi giáo lý này là giáo lý khó tin.Chư Bụt
trong mười phương đã khen ngợi đức Thích Ca Mâu Ni trong hai điểm:
Điểm thứ nhất:Ở ngay trong hoàn
cảnh khó khăn này mà thành Phật được và giáo hóa được.
Điểm thứ hai:Những giáo lý rất khó
tin mà đức Thích Ca Mâu Ni đã tuyên thuyết được và thuyết phục được con người
tin theo.
‘‘Xá Lợi Phất, thầy nên hiểu cho
rằng, cư trú trong thế giới đầy năm loại ô nhiễm này mà đạt tới quả vị giác
ngộ vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó tin
như pháp môn này, đó là việc làm quả là cực kỳ khó khăn.’’
Chúng ta thấy được đức Thích Ca Mâu
Ni là một con người, một mình một ngựa đi trong chiến trận đầy dẫy bao nhiêu
khó khăn, bao nhiêu nghi ngờ.Ngài đã một mình đánh phá và tiêu diệt được bao
nhiêu chướng ngại của mê tín, của huyền đàm để đưa ra những chân lý mà lúc ban
đầu thuyết ra, người ta thấy khó mà có thể tin được.Vậy mà đức Thế Tôn đã
thành công.
Đoạn kinh trên cũng nói tới năm
loại ô nhiễm và năm loại ô nhiễm đó được gọi là năm loại ô trược.‘‘Trược’’
tiếng Bắc gọi là ‘‘trọc’’ có nghĩa vẩn đục, không trong sáng.Năm yếu tố ấy làm
khổ.Năm yếu tố vẩn đục ấy là:
Kiếp trược:Kiếp có nghĩa là một
khoảng thời gian, khoảng thời gian ấy có thể là năm mươi năm, bảy mươi năm hay
một trăm năm...Khi ngắn thì gọi là tiểu kiếp, khi vừa vừa gọi là trung kiếp và
khi dài gọi là đại kiếp.
Sở dĩ thời gian đó gọi là vẩn đục
tại vì nó quá ngắn ngủi, nó đầy dẫy vô thường, nó không có sự ổn định và vững
chãi.Vì vậy chúng ta khó mà có được hạnh phúc.Thời gian quá ngắn ngủi, sống
trong cuộc đời, chúng ta không đủ không gian và thời gian để thực hiện những
ước muốn thâm sâu của mình.Chúng ta có thể có ảo tưởng rằng chúng ta có rất
nhiều thời gian và không gian để thực hiện những ước muốn của chúng ta, nhưng
thực sự thì cuộc sống rất vô thường, rất bấp bênh, không có sự ổn định, tai
nạn hay xẩy ra tới tấp và chận đứng đà tiến triển của chúng ta.Chúng làm cho
quá trình thực hiện lý tưởng của ta bị chận đứng lại nên gọi là kiếp trược.
Tình trạng chính trị không có sự ổn
định, xã hội nhiều tai nạn, tật bệnh và nghèo đói, khó cho xã hội tiến triển,
đó gọi là kiếp trược.
Ngược lại với kiếp trược là sự ổn
định mà chúng ta đạt được do thiền quán.Sống trong thế giới vẩn đục mà đức
Thích Ca đã thành công.Ở thế giới Cực Lạc, người ta vượt khỏi kiếp trược và
thiết lập được ổn định trong đời sống hàng ngày.Ở đó không có tai nạn xẩy
ra.Vì vậy đặc tính đầu tiên mà mọi người trong cõi Cực Lạc phải thực hiện, đó
là sự ‘‘ổn định’’.Sự ổn định giúp cho người tu tập thành công viên mãn đối với
công trình giải thoát và giác ngộ.
Nhìn vào một Tăng thân có tu học,
ta thấy rằng trong Tăng thân có nhiều yếu tố ổn định.Có người chỉ mới thọ trì
năm giới, giới Tiếp Hiện tại gia hay giới Bồ tát tại gia.Họ sẽ trở về với gia
đình họ, với khung cảnh hàng ngày của họ để sống và để thực tập.Họ biết rằng
hoàn cảnh địa phương không được ổn định như ở trong Tăng thân.Trong hoàn cảnh
đó, họ thực tập không được đều đặn và việc thực tập thường bị cắt đứt bởi
những biến cố của xã hội.Cái đó gọi là kiếp trược.Nhưng khi ta có điều kiện ở
lại với Tăng thân một năm, hai năm, ba năm hay mười năm, ta thấy rằng Tăng
thân có yếu tố ổn định nhiều hơn trong thế giới bình thường ở ngoài đời.Vì vậy
tăng thân rất gần với cõi Cực Lạc.
Tăng thân có yếu tố ổn định.Tăng
thân hiến tặng cho chúng ta thời gian và sự tiếp nối để chúng ta thực tập.Vì
vậy quay về nương tựa Tăng là để hưởng được yếu tố đầu tiên của Tịnh Độ, đó là
sự vững chãi, sự liên tục, sự ổn định của thời thế và của tình thế.
Một bên là đục, một bên là trong,
một bên là trược, một bên thanh.Đối với danh từ ngũ trược, ta có danh từ ngũ
thanh.Ở Tịnh Độ có ngũ thanh thì Ta bà có ngũ trược.Sống trong thế gian, ta bị
lôi kéo bởi năm thứ vẩn đục nhưng sống trong Tăng thân, ta có thể thấy được
năm sự trong sáng.Ở đây, sự trong sáng đầu tiên là sự ổn định.Người nào đã
từng rời Tăng thân là đã tự mình đánh mất sự ổn định nơi tự thân mình.Là người
xuất gia hay người tại gia cũng vậy, khi chúng ta đã đánh mất Tăng thân, trở
về với khung cảnh hệ lụy của ta ngày trước, thì ta thấy rằng ta đã đánh mất
một cái gì rất quý báu trong tự thân, đó là sự ổn định.
Yếu tố vẩn đục thứ hai là kiến
trược.Kiến tức là những cái thấy sai lầm, nói đủ là tà kiến.Ví dụ như sự vật
là vô thường mà ta cho là thường còn.Người thương của ta có thể ngày mai không
còn nữa, thế mà ta nghĩ rằng, họ sẽ có mặt với ta suốt đời, hàng ngàn năm.Thân
này không phải là ngã của ta, mà ta cứ cho đó là cái ngã của ta.Những cái thấy
như vậy được gọi là tà kiến.
Tà kiến lại có năm loại căn bản:
Thân kiến:Cho rằng ta là thân này,
ta đồng nhất ta với thân này.Nếu có cái nhìn như vậy, thì ta đau khổ lắm.Nhất
là khi sắp chết, ta rụng rời, lo sợ.Ta cứ nghĩ rằng khi thân thể ta tan rã,
thì mọi sự nghiệp sẽ cùng với thân thể ta tan rã luôn.Từ có ta trở thành
không, điều này làm cho ta sợ hãi.Sợ hãi hư vô.Thân kiến là cái thấy dại dột
như vậy đó.Chính vì thế ta phải giúp cho người đang hấp hối thấy rõ dược rằng
thân này không phải là họ.
‘‘Thân này không phải là tôi
Tôi không bị kẹt vào thân ấy
Tôi là sự sống thênh thang
Tôi chưa bao giờ từng sanh
Mà cũng chưa bao giờ từng diệt.’’
Điều này, trong đời sống hàng ngày,
ta phải tập quán chiếu để thấy cho được, có như vậy thì trong phút giây lâm
chung, ta mới buông bỏ thân này một cách dễ dàng.
Biên kiến:Vướng vào một bên, một
thái cực.Bên này là một bên, và kia là một bên, đó là những cặp đối nghịch với
nhau, như có - không, thường - đoạn, một - nhiều, tới - lui.Tin vào ý niệm
‘‘một’’ là một biên kiến, tin vào ý niệm ‘‘nhiều’’ là một biên kiến khác.Kẹt
vào bên này cũng là biên kiến, kẹt vào bên kia cũng là biên kiến.Tin rằng có
sanh cũng là biên kiến, tin rằng có diệt cũng là biên kiến.Kẹt vào những cặp
đối nghịch nhau là biên kiến.
Ví dụ trên một dòng sông có một
khúc củi đang trôi.Có thể khúc củi sẽ bị kẹt vào bờ này hay bờ bên kia và
không trôi ra được biển cả.Tin rằng ta là một cái gì thường hằng, niềm tin ấy
là một biên kiến.Tin rằng sau khi chết ta hoàn toàn đoạn diệt, đó cũng là một
biên kiến khác.
Tà kiến:Những cái thấy đảo ngược.Ví
dụ khổ đau mà ta cho là hạnh phúc, hệ lụy mà tin là tự do, trắng mà ta nghĩ là
đen, ác mà ta cho là thiện...
Ta phải quán chiếu sâu sắc các hiện
tượng vẩn đục ở cõi Ta bà để trong ta có thể sinh khởi hai chất liệu - Yếm và
Hân. Yếm là chán, Hân là thích.Chán là chán những gì vẩn đục ở nơi cõi Ta bà
và Thích là thích sự yên vui, thanh thoát ở cõi Tịnh Độ.Chán là chán cái tâm
trạng chạy theo danh lợi, tài sắc.Vì chúng đưa lại quá nhiều khổ đau, nên bây
giờ ta quyết định buông bỏ chúng.
‘‘Tôi không còn muốn cái đó, tôi
chán cái đó lắm rồi.’’ Đối với cái đó, lòng tôi lạnh như tro tàn.Cái đó gọi là
yếm.Trong khi đó, trong ta tự nhiên có một cái ước muốn mới: ước muốn xa lìa
cái cảnh hệ lụy chán chường này để đi tìm tới một khung cảnh có sự an toàn, có
sự thương yêu, có sự an lạc, để mà thực tập.Khung cảnh ấy là Tăng thân.Ta sẽ
đóng góp phần ta cho Tăng thân ấy.Khi tới đó, ta tới với bản nguyện, nghĩa là
ta biết ta tới đó để đóng góp phần của ta vào với Tịnh Độ và Tăng thân chứ
không phải tới chỉ để hưởng thụ.Cũng như Sư em Chân Uy Nghiêm ở tu viện Rừng
Phong.Trước khi xuất gia, Sư em có đọc sách, đọc kinh và Sư em đã đọc được lời
nguyện của đức Địa Tạng.Đức Địa Tạng nói:‘‘Địa ngục mà chưa trống không, thì
tôi vẫn phải còn làm việc và chưa muốn thành Phật.’’Khi đọc câu đó, Sư em đã
thấy rung động trong trái tim.Sư em nói rằng:‘‘Con cảm động quá và con muốn
giúp Ngài một tay (I am so moved, and I want to give him a helping hand).Khi
nói lên như vậy, Sư em đã bắt đầu phát khởi năng lượng của bản nguyện ấy
rồi.Ta tới với Tịnh Độ không phải chỉ là để hưởng thụ mà còn để giúp Bụt A Di
Đà một tay nữa.Tới với Tăng thân cũng vậy, không phải ta chỉ được thừa hưởng
sự an toàn của Tăng thân mà còn để giúp Tăng thân một tay.Đến với bản nguyện
là trong ta đã có đức A Di Đà.Đức A Di Đà có ngay trong lòng ta.Và chừng nào
ta còn niềm tin, chừng nào ước nguyện ta còn mạnh thì chừng đó ta vẫn còn là
ta và ta sẽ không tự đánh mất ta trong những trạng huống hệ lụy và khổ đau
nữa.Dù mình đang đứng trong hoàn cảnh hệ lụy hoặc đau khổ, nhưng nếu có tín và
nguyện thì mình đã có diều kiện để thoát ra.Tại vì trong ta, năng lượng của
tín, của hạnh và của nguyện đã bắt đầu có mặt.Tịnh Độ không phải chỉ là Tịnh
Độ của Đức Bụt A Di Đà.Đức Thế Tôn nào cũng muốn thành lập Tịnh Độ.Bất cứ một
vị Bồ tát nào, dù lớn hay nhỏ, cũng đều muốn thành lập Tịnh Độ.Nếu ở Tây
Phương có cõi Cực Lạc (Sukhavati), thì ở cõi Đông Phương lại có cõi Diệu Hỷ
(Abhirata)...Ở cõi Diệu Hỷ ấy có đức Bụt A Súc Bệ (Bất Động).Đó là đức Thế Tôn
của sự vững chãi (Aksobhya).Cõi của Ngài là cõi Diệu Hỷ, trong đó có nhiều
niềm vui. Ở cõi Diệu Hỷ không có ai bị giận hờn đốt cháy, nên cõi đó là một
cõi rất mát mẻ.Các kinh đầu của hệ Bát Nhã có đề cập đến danh hiệu của Đức Bụt
A Súc Bệ.Kinh Pháp Hoa cũng như kinh Bảo Tích đều có nói tên của Ngài.A Súc là
một vị Đạo sư đang giảng dạy ở phương Đông.Ngài ngồi trên một bông sen.Tay
trái Ngài nâng chéo áo, tay phải Ngài sờ xuống chấm vào mặt đất trong tư thế
địa xúc.Có rất nhiều cõi Tịnh Độ, nhưng vì một nguyên do nào đó mà chúng sanh
ở cõi Ta bà thường hướng về Tịnh Độ của Bụt A Di Đà.Vì những điều kiện để được
sinh sang cõi Tịnh Độ của Bụt A Di Đà hết sức đơn giản.Còn muốn sanh sang Tịnh
Độ Diệu Hỷ của Bụt A Súc Bệ thì phải cố gắng nhiều hơn một chút.Bản tánh của
chúng ta ở cõi Ta Bà là làm biếng.Cho nên cõi Tịnh Độ của đức Bụt A Di Đà được
ta chọn lựa nhiều hơn và Ngài biết phần lớn chúng ta là những người hay sợ hãi
khó khăn.Tịnh Độ cũng có thể có mặt trong hình thức một Tăng thân.Tăng thân có
mặt khắp nơi, do đó nếu chú ý một tý là ta có thể tìm ra địa chỉ của một Tăng
thân và khi ta tới được với Tăng thân ấy rồi thì tức khắc ta được hưởng khung
cảnh an ninh và hoàn cảnh thuận lợi cho sự tu học của nó.Nếu muốn biết đó có
phải là một Tịnh Độ đích thật hay không thì ta có thể căn cứ trên tiêu chuẩn
thanh và trược.Ở đâu mà có quá nhiều chất liệu vẩn đục, thì ở đó chỉ có Ta Bà
mà không có Tịnh Độ.Và ở đâu chất liệu vẩn đục rất ít mà chất liệu của sự
trong sáng như là ổn định, trí tuệ, an lạc, tình thương, bình đẳng và đại
nguyện có nhiều thì ta biết đó là Tịnh Độ.Ta có thể tham dự và cọng tác để xây
dựng thêm cho Tịnh Độ ấy.Tín và Nguyện là hai nguồn năng lượng có khả năng làm
cho ta bớt khổ ngay trong giờ phút hiện tại.Trong trạng thái chán chường và
tuyệt vọng của cõi Ta Bà, ta đau khổ rất nhiều.Nhưng đứng trong cõi Ta Bà mà
có năng lượng của Tín và Nguyện, thì ta cảm thấy nhẹ nhàng ra và sẽ hết
khổ.Tín và Nguyện là năng lượng đưa ta tới Tịnh Độ, đưa ta tới với Tăng thân
mà ta cần nương tựa.Thứ ba là năng lượng Hành.Hành hay là Hạnh.Hành là thực
tập, là cái biểu hiện cụ thể.Chúng ta đừng tưởng rằng chúng ta chỉ hành trước
khi đi về Tịnh Độ và về Tịnh Độ rồi thì khỏi cần hành.Nghĩ như vậy là ngược
lại với lời kinh dạy.Chúng ta đã đọc kinh A Di Đà và thấy rất rõ rằng ở tại
cõi Tịnh Độ, ngày nào dân chúng cũng thực tập niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng
và thực tập Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát chánh đạo phần.Các chi tiết
này cho ta thấy rằng tới Tịnh Độ rồi ta cũng phải thực tập, nếu không thực tập
thì mất Tịnh Độ.Vì vậy mỗi bước chân phải đi trong chánh niệm, mỗi hơi thở
phải thở trong chánh niệm, mỗi buổi ăn phải ăn trong chánh niệm thì Tịnh Độ
mới tiếp tục hiện tiền.Cũng như trong khi hành xử, nếu ta đánh mất chánh niệm
là ta đánh mất Tịnh Độ.Xây dựng Tịnh Độ không phải là tổ chức cho giỏi, mà chủ
yếu là sống cho có chánh niệm.Tịnh Độ là vấn đề hành trì.Hành thì ‘‘bất lao
đàn chỉ đáo Tây phương’’, nghĩa là không cần một tích tắc nào cũng vẫn tới Tây
phương được.Nếu thiết lập được thân tâm trong giây phút hiện tại, an trú được
trong chánh niệm, thì mình có được Tăng thân, có được Tịnh Độ ngay tại chỗ.Và
cách sống hằng ngày của mình là tự đặt mình trong Tịnh Độ và duy trì Tịnh Độ,
đừng để cho Tịnh Độ biến mất.Chữ hành ở đây có nghĩa như vậy.Hành là action,
là practice.Hành làm cho Tịnh Độ được biểu hiện và được duy trì.Năng lượng của
tín và của nguyện đủ để giúp cho ta không chìm đắm vào biển khổ sông mê.Năng
lượng của hành có khả năng duy trì cõi Tịnh Độ.Nó có khả năng gìn giữ mình
trong cõi Tịnh Độ để cho mình đừng đánh mất Tịnh Độ.Hành ở đây có thể là sự
niệm Bụt thường xuyên.Mà niệm Bụt là gì?Niệm Bụt là duy trì sự tỉnh thức.Bụt
là tỉnh thức, là chánh niệm, và vì vậy niệm Bụt là duy trì tỉnh thức và chánh
niệm.Thực tập chánh niệm cũng là niệm Bụt.Niệm Bụt cũng là thực tập chánh
niệm.Thực tập chánh niệm có công năng làm hiển lộ Tịnh Độ và xây dựng Tăng
thân trong mỗi bước chân của mình.Nó có công năng duy trì Tịnh Độ cho chính
mình.Tịnh Độ không phải là chỉ có mặt cho bây giờ mà Tịnh Độ còn có mặt cho
tương lai nữa.Nếu giờ phút này là Tịnh Độ, thì giờ phút kế cũng sẽ là Tịnh
Độ.Thành ra mỗi bước chân, mỗi hơi thở và mỗi cử chỉ trong đời sống hằng ngày
của ta đều có khả năng phát hiện và duy trì Tịnh Độ.
Cái vô thường mà cho là cái thường,
cái thường mà cho là cái vô thường, khổ mà cho là lạc, lạc mà cho là khổ, cái
không phải ngã mà cho là ngã, cái ngã mà cho là không ngã, cái an tịnh mà cho
là không an tịnh, cái không phải an tịnh mà cho là an tịnh, v.vv... Những cái
thấy ngược như vậy gọi là tà kiến.
Thứ tư là Kiến thủ kiến: kẹt vào
một ý tưởng, một quan điểm.Chữ ‘‘thủ’’ ở đây có nghĩa là bám víu, là kẹt
vào.Chữ ‘‘kiến’’ ở đây là kiến thức, ý niệm, nhận thức.Khi ta có một nhận thức
rồi thì ta có khuynh hướng cho nhận thức đó là chân lý tuyệt đối.Kẹt vào cái
đó và không buông nó ra được nữa thì gọi là kiến thủ kiến.Ví dụ anh học được
cách làm đậu hủ và anh nghĩ rằng cách làm đậu hủ của anh là duy nhất hoặc hay
nhất trên thế giới.Anh không thấy có nhiều người làm đậu hủ hay hơn và đậu hủ
của họ ngon hơn.Đó là kiến thủ.Hay là mình được nghe một một ý thức hệ hoặc
một giáo điều nào đó rồi mình cho đó là chân lý tuyệt đối và mình nói người
nào không theo cái ấy là người đó đi lầm đường, người đó không có trí tuệ.Bị
kẹt vào trong ý thức hệ đó, mình cho tất cả nhận thức khác, các lý thuyết khác
là sai lầm và mình trở thành cuồng tín.Cái đó gọi là kiến thủ kiến.Kiến thủ là
bị kẹt vào trong một kiến thức, kẹt vào trong một nhận thức.Mình học được một
pháp tu, mình nói phương pháp tu của mình là nhất, không có phương pháp nào
hay hơn và mình không chịu mở lòng ra để học hỏi thêm.Đó là kiến thủ kiến.Hoặc
mình nghĩ rằng mình sẽ có hạnh phúc lớn nếu mình nắm được cái này, nắm được
cái kia, có cái bằng cấp này, có cái chức vụ kia, làm chủ được cái chùa này
hay làm hội trưởng được cái hội kia.Và khi không đạt được những cái đó thì
mình đau khổ suốt đời.Cái đó cũng là kiến, và kẹt vào ý niệm đó là mình sẽ
không bao giờ có hạnh phúc.Nếu buông bỏ được những cái kiến đó thì mình sẽ
được tự do, mình sẽ có những cái thấy sâu sắc hơn.Có nhiều người đau khổ từ
năm này sang năm khác là vì họ đang bị kẹt vào những ý niệm và những cái thấy
của họ.Ví dụ mình tin chắc rằng có một người đang ghét mình, muốn trả thù
mình, muốn tiêu diệt mình.Có ý niệm ấy thì họ khổ suốt đời.Trong kinh Bách Dụ,
đức Thích Ca có kể một câu chuyện rất hay về kiến thủ kiến.Có một nhà buôn
trong khi đi vắng, ăn cướp vào đốt làng và bắt cóc đứa con bốn tuổi của ông
đi.Khi trở về, ông thấy nhà mình cháy tan và bên trong nhà lại có tử thi của
một em bé cháy đen.Trong tâm trạng hoảng hốt đó, ông tin rằng em bé cháy thành
than đó là con của mình.Ông ta đau khổ vô cùng.Ông ta làm lễ hỏa thiêu thân
xác em bé.Thương con quá, ông ta giữ tro trong một cái túi bằng gấm và mang
theo bên mình.Suốt ngày, ăn cơm, làm việc, đi ngủ, ông đều ôm theo cái túi tro
của đứa con.Một hôm, đứa con thoát khỏi tay bọn ăn cướp và tìm được về làng.Về
tới nhà mới của ông ta, nó gõ cửa vào lúc hai giờ khuya.Lúc đó ông ta còn đang
ôm cái túi tro, tin tưởng rằng đứa con mình đã chết và nước mắt đang chảy ròng
ròng.Nghe tiếng gõ cửa, ông hỏi :Ai đấy?Đứa bé nói:Con đây, con là con của ba
đây.Ông ta nổi giận la lên:Con của tao đã chết rồi.Mày là đứa nào mà quá nửa
đêm còn tới đây để phá phách chòng ghẹo?Và cuối cùng đứa bé phải bỏ đi.Đây là
một câu chuyện rất hay.Đức Thế Tôn muốn dạy rằng có nhiều khi ta ôm ấp một tri
kiến sai lầm mà tin tưởng đó là chân lý, cho đến nỗi khi tự thân chân lý tới
gõ cửa mà ta cũng không chịu mở.Thường thường người ta đi tìm chân lý.Ở đây,
đích thân chân lý tới gõ cửa mà mình vẫn không mở.Cái đó gọi là kiến thủ kiến.
Thứ năm là Giới cấm thủ kiến.Giới
đây là những kiêng cử, những cấm kỵ, những hình thức nghi lễ, những giáo điều
hoặc những tín điều mà mình bị kẹt vào.Ví dụ mình tin rằng con bò là vật linh
thiêng và mình không dám động tới nó.Hoặc tin rằng ông táo hay bình vôi là
những vật thiêng liêng.Hoặc mình tin rằng tổ tiên mình là cây cau, mình không
dám động tới cây cau.Xứ nào, dân tộc nào cũng có những niềm tin phát sinh do
sự tưởng tượng hay do sự sợ hãi của con người xứ đó.Nghi lễ được đặt ra là để
nhắm tới bảo vệ và làm cho mình an tâm.Nhưng rút cuộc mình bị kẹt vào trong
nghi lễ.Giới cấm thủ kiến là sự bị kẹt vào các hình thức nghi lễ, giáo điều và
tín điều không phù hợp và không có lợi ích gì cho việc thực tập chuyển hóa.
Phiền não trược là những thứ làm
cho tâm ta bị vẩn đụcnhư tham lam, sân hận, si mê, hiếu danh, kiêu mạn... Ở
cõi Cực Lạc, không có những thứ phiền não ấy, hoặc có rất ít.Trong Tăng thân
cũng vậy, nhờ có sự tu tập nên những thứ phiền não làm vẩn đục tâm mình ít
phát hiện hơn ở ngoài thế gian.
Chúng sanh trược tức là những lỗi
lầm tội ác của chúng sinh như bất hiếu, không chịu giữ giới, ganh tỵ lẫn nhau,
không hành xử bình đẳng, phân chia thành từng giai cấp để bóc lột lẫn nhau,
cấu xé lẫn nhau.Trong xã hội, người ta chia ra nhau thành nhiều giai cấp, giai
cấp này bóc lột giai cấp khác, giai cấp này đè nén giai cấp khác.Họ sống không
có lý tưởng, họ làm khổ nhau.Ở cõi Tịnh Độ không có chúng sanh trược, vì ở
Tịnh Độ có Bụt, và ta được sống chung với các bậc thượng thiện nhân và các vị
bồ tát nhất sinh bổ xứ.Các chất vẩn đục và nhơ bẩn không còn lại bao nhiêu, do
đó không còn chúng sanh trược.Nhìn vào Tăng thân, ta thấy rằng chất vẩn đục
trong Tăng thân tương đối ít hơn ở những tổ chức ngoài đời nhiều và sự tu học
hằng ngày của chúng ta là để cho sự vẩn đục này tiếp tục giảm bớt.Hạnh phúc
của chúng ta là ở chỗ đó.Nhờ sự thực tập mà các chất vẩn đục của chúng sanh
trược nơi ta mỗi ngày mỗi được chuyển hóa và tiêu diệt.
Cuối cùng là mạng trược.Mạng trược
ở đây tức là sự đi vòng quanh, là sự chìm đắm ở trong sanh tử luân hồi.Ở cõi
Ta bà, người ta ít có một hướng đi cao thượng.Người ta chỉ đi vòng quanh để
tìm kiếm danh lợi.Người ta sống không có mục đích nào khác, ngoài năm
dục.Người ta sanh ra rồi chết đi, chết đi rồi sanh ra trở lại là chỉ để đi
vòng quanh và theo đuổi danh lợi mà thôi.Chính điều đó là sự vẩn đục ở cõi Ta
Bà.Còn ở Tịnh Độ thì mọi người đều có một hướng đi và đều hướng đến quả vị Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.Nếp sống của con người nơi cõi Tịnh Độ có một mục
đích và một lý tưởng.Lý tưởng đó được chia sẻ với các vị bồ tát nhất sanh bổ
xứ, với các bậc thượng thiện nhân chung sống với mình.Vì vậy, cõi Tịnh Độ là
một cõi trong sáng. Ở trong Tăng thân cũng vậy, mình không đi vòng quanh, mình
biết rằng mình gia nhập tăng thân là để chấm dứt sự đi vòng quanh.Mình tham dự
vào một con đường hướng thượng và nhắm tới sự giải thoát và giác ngộ, cứu giúp
cho những loài chúng sanh đang chìm đắm.Vì thế, trong một Tăng thân thanh
tịnh, không có những chất liệu đục ngầu, gọi là cái đi tìm danh lợi theo mạng
trược.Vậy muốn sanh về cõi Tịnh Độ, chúng ta cần phải gạn lọc, cần phải làm
cho những chất liệu đục ngầu kia lắng lại và làm cho những chất liệu trong
sáng phát hiện.Chúng ta biết rằng cái đục có thể hàm chứa đựng cái thanh trong
lòng nó, và nếu chúng ta biết cách thì chúng ta có thể biến đục thành trong,
gạn đục khơi trong. Có một ly nước đục trên sa mạc khô cháy mà liệng ly nước
đục đó đi thì làm sao có ly nước trong để uống.Vì vậy, ta phải giữ ly nước đục
đó và từ ly nước đục đó làm cho nó trong lại.Cũng như thế, ngũ thanh nằm trong
ngũ trược và Tịnh Độ nằm ngay trong Ta Bà.Ta Bà là Tịnh Độ.Như hoa nằm trong
rác, nếu chúng ta biết cách quản lý rác thì ta có thể chế tác ra được hoa,
điều này rất rõ.Đức Thích Ca là một bậc có khả năng chuyển rác thành hoa, vì
vậy cho nên ở trong cuộc đời ngũ trược mà ngài đã tạo dựng được Phật Độ.
Nếu ta gọi yếu tố kiếp trược là
thuộc tính của cõi Ta bà, thì ở cõi Tịnh Độ thuộc tính kiếp trược này đã được
chuyển hóa thành yếu tố ổn định hay thanh tịnh, gọi là ‘‘chúng biển lớn thanh
tịnh’’ (thanh tịnh đại hải chúng).Yếu tố kiến trược là sự vẩn đục của nhận
thức, là một thuộc tính của cõi Ta bà.Ở cõi Tịnh Độ thuộc tính kiến trược này
đã được chuyển hóa thành yếu tố Chánh kiến hay Trí tuệ.Nó đã được chuyển hóa
thành biển hội liên trì (liên trì hải hội).Nghĩa là chúng hội của những hồ sen
trên biển cả bình lặng, xanh tươi và trong mát.Cái vẩn đục kia đã được chuyển
hóa thành chất liệu ‘‘vô lượng quang’’, nghĩa là ánh sáng vô lượng.Yếu tố
phiền não trược, tức là tâm hồn dơ bẩn, là một thuộc tính của cõi Ta Bà.Ở cõi
Tịnh Độ, thuộc tính phiền não trược này đã được chuyển hóa thành tâm bồ đề tức
là tâm tính giác ngộ.Tâm tính giác ngộ là tâm tính hạnh phúc, an lạc, không
còn hờn giận, tham lam, ganh tỵ, ích kỷ, tuyệt vọng.Yếu tố chúng sanh trược
tức là sự vẩn đục trong đời sống của chúng sanh, là một thuộc tính khác của
cõi Ta bà, đã được chuyển hóa ở đây thành ‘‘tự tánh thanh tịnh bình đẳng’’, do
đó ở cõi Tịnh Độ không còn có sự kỳ thị giữa loài này với loài khác, không còn
sự kỳ thị giữa người này với người khác, không còn sự phân biệt về giới tính
mà chỉ có Từ bi.Yếu tố mạng trược, tức là sự vẩn đục về thọ mạng, nghĩa là
sinh mạng đi vòng quanh trong sinh tử, là một thuộc tính của cõi Ta bà.Nay ở
cõi Tịnh Độ thuộc tính mạng trược này đã được chuyển hóa thành ‘‘thọ mạng vô
lượng’’, nghĩa là thọ mạng vượt ra ngoài không gian, trạm nhiên, tự tại và
giải thoát.Nó được biểu hiện từ đại nguyện chứ không phải do nghiệp duyên.Do
đó, sanh về Tịnh Độ là do ta có lý tưởng của bản nguyện.Không những trong kiếp
này mà trong vô lượng kiếp về sau, ta vẫn được tiếp tục đi trên con đường của
lý tưởng bản nguyện ấy để tu tập và hành đạo.
Cái khác của Ta Bà và Tịnh Độ là
một bên có năm sự vẩn đục và một bên có năm sự thanh trong.
Ba Nguồn Năng
Lượng
Chúng ta đi tới cõi Tịnh Độ và
thiết lập cõi Tịnh Độ bằng cách nào?Muốn đi tới cõi Tịnh Độ hay thiết lập cõi
Tịnh Độ của Tăng thân, chúng ta phải hội đủ ba yếu tố hay ba nguồn năng lượng.
Nguồn năng lượng thứ nhất là niềm
tin.Ta tin tưởng rằng khổ đau của ta có thể được chuyển hóa bằng những con
đường thoát ly sanh tử.Tịnh Độ là một trong những con đường ấy.Niềm tin này
hoàn toàn không phải là những ý niệm, căn cứ trên những suy nghĩ vu vơ, mà
được căn cứ trên nền tảng của lý trí và sự chiêm nghiệm của chính mình.Niềm
tin đó gọi là chánh tín, chứ không phải là mê tín.Chúng ta đang ở trong một
hoàn cảnh bi đát tuyệt vọng, nhiều hệ lụy và khổ đau, và cũng từ nơi chính ta,
khởi dậy niềm tin và ý chí muốn thoát ly những hệ lụy khổ đau ấy.Do đó mà niềm
tin Tịnh Độ bắt đầu có mặt ở nơi ta và ta bắt đầu đi tìm kiếm con đường xây
dựng Tịnh Độ hay con đường xây dựng Tăng thân để nương náu, vui sống, tin
tưởng và thực tập.
Nguồn năng lượng thứ hai là bản
nguyện.Bất cứ một bậc Đại nhân hay một vị cao tăng nào cũng đều có bản nguyện
trong sự tu tập.Và do có bản nguyện, các Ngài mới thiết lập được một cõi Tịnh
Độ hay một Tăng thân để cùng nhau nương tựa và tu tập.
Chư Bụt và Bồ tát cũng vậy, vị nào
cũng đều có đại nguyện muốn thiết lập một cõi Tịnh Độ hay một Tăng thân để tạo
ra những điều kiện thuận lợi cho sự tu tập.Tăng thân cũng có khi còn gọi là
Tịnh Độ.Đã là Tăng thân, thì dù Tăng thân lớn hay nhỏ cũng đều có những chất
liệu như nhau.Đã là Tịnh Độ thì dù cõi Tịnh Độ lớn hay cõi Tịnh Độ nhỏ cũng
đều phải có những chất liệu như nhau, đó là niềm tin, bản nguyện và sự thực
tập.
Bản nguyện nào cũng được tạo ra từ
hai chất liệu.Chất liệu thứ nhất là ‘‘buông bỏ’’.Buông bỏ hệ lụy khổ đau.Buông
bỏ mọi sự vẩn đục trong đời sống.Và chất liệu thứ hai của bản nguyện là ‘‘hân
thích’’.Hân thích là mong muốn đi tới sự an lạc, với hạnh phúc, với năm chất
liệu thanh trong của Tịnh Độ.
Nguồn năng lượng thứ ba là sự thực
hành.Thực hành Tịnh Độ tức là biến niềm tin và bản nguyện Tịnh Độ trở thành
hiện thực trong đời sống hàng ngày, bằng cách niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
nghĩa là luôn luôn nuôi dưỡng chánh niệm trong từng giây từng phút, để các
vọng tâm không có điều kiện sinh khởi.Mỗi khi thực hành đời sống Tịnh Độ, đạt
tới nhất tâm bất loạn, thì Tịnh Độ hiện tiền.Bấy giờ dầu ta không cầu sinh
Tịnh Độ mà Tịnh Độ vẫn hiện bày trong đời sống của ta.Tịnh Độ chỉ là sự chuyển
hóa năm thuộc tính vẩn đục của Ta bà thành năm chất thanh trong của Tịnh
Độ.Mỗi ngày, trong ta, chất vẩn đục được gạn lọc bao nhiêu, thì chất liệu Tịnh
Độ trong ta được lưu xuất bấy nhiêu.Do đó, mỗi tiếng niệm Bụt, mỗi tiếng niệm
Pháp, mỗi tiếng niệm Tăng đều có công năng tạo ra nguồn năng lượng hóa giải
những yếu tố vẩn đục trong ta, tháo gỡ những hệ lụy khổ đau trong ta, đưa ta
đi tới với tự do, với hạnh phúc, với an lạc.Hay nói cách khác, mỗi tiếng niệm
Bụt của ta là nguồn năng lượng đưa ta đi tới với Tịnh Độ và với Tăng thân.Bởi
vậy, Tín, Nguyện và Hạnh là ba yếu tố căn bản để dựng nên Tịnh Độ, nơi nương
náu cho ta và cho biết bao nhiêu kẻ khác.Kinh A Di Đà
(Thầy Nhất Hạnh dịch từ Hán Văn)
Đây là những điều tôi đã được nghe
Bụt nói vào một thời người còn cư trú ở tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây của
thái tử Kỳ Đà. Hồi đó cùng ở bên Bụt có một ngàn hai trăm năm mươi vị khất sĩ,
trong đó có những vị A La Hán đệ tử lớn của Bụt mà ai cũng biết đến như các
thầy Xá Lợi Phất, Mục Kiện Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Hy La, Ly Bà Đà,
Châu Lợi Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô
Phả La Đọa, Ca Lư Đà Di, Kiếp Tân Na, Bạt Câu La và A Nậu Lâu Đà. Lại cũng có
mặt các vị Bồ Tát đại nhân như Văn Thù, A Dật Đà, Càn Đà Ha Đề, Thường Tinh
Tấn, và rất nhiều các vị Bồ Tát lớn như thế, cùng với chư thiên Thích Đề Hoàn
Nhân, nhiều đến vô lượng, đều cùng có mặt.
Lúc bấy giờ Bụt gọi thầy Xá Lợi
Phất và bảo: "Từ đây đi qua phương Tây, cách khoảng mười vạn ức cõi Bụt, có
một thế giới gọi là Cực Lạc, trong cõi ấy có một vị Bụt tên là A Di Đà, hiện
đang thuyết pháp.
"Này Xá Lợi Phất, đất nước ấy vì
sao tên là Cực Lạc? Bởi vì dân chúng trong nước ấy không biết khổ là gì, chỉ
hưởng thụ mọi thứ an lạc, cho nên cõi ấy được gọi là Cực Lạc.
"Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực
Lạc, có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, tất cả đều được
làm bằng bốn thứ châu bảo, bao quanh giáp vòng, vì vậy cõi ấy được gọi là Cực
Lạc.
"Này nữa, Xá Lợi Phất, ở nước Cực
Lạc có rất nhiều hồ thất bảo chứa đầy thứ nước có tám công đức, dưới đáy hồ
toàn là cát vàng; bốn bên hồ có những lối đi làm bằng vàng, bạc, lưu ly và pha
lê; phía trên các con đường ấy lại có vô số lâu đài, cũng được xây dựng và
trang trí bằng các chất liệu vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu và mã
não. Sen trong các hồ lớn như những chiếc bánh xe, sen xanh chiếu hào quang
xanh, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen đỏ chiếu hào quang đỏ, sen trắng
chiếu hào quang trắng, hương sen tỏa ra vi diệu và tinh khiết.
"Xá Lợi Phất! Nước Cực Lạc được tô
điểm bằng những cái đẹp như thế.
"Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Bụt
ấy, người ta thường được nghe nhạc từ hư không vọng xuống. Đất được làm bằng
vàng ròng. Mỗi ngày sáu lần có mưa hoa mạn đà la rơi xuống. Dân chúng nước ấy
có thói quen buổi sáng lấy lẵng hứng đầy các bông hoa mầu nhiệm ấy để đem đi
cúng dường các vị Bụt đang cư trú ở vô số các cõi Bụt khác. Đến giờ cơm trưa,
mọi người đều về kịp nước mình để ăn cơm rồi đi kinh hành. Xá Lợi Phất, nước
Cực Lạc đẹp tuyệt vời như thế đấy.
"Này nữa, Xá Lợi Phất! Ở nước Cực
Lạc kia, thường có nhiều loại chim đủ màu rất kỳ diệu như Hạc trắng, Khổng
tước, Anh vũ, Xá lợi, Ca lăng tần già và Cọng mạng... Những con chim ấy, sáu
buổi mỗi ngày, thường hót lên những thanh âm hòa nhã: trong giọng hót của
chúng, người ta nghe được tiếng diễn xướng các pháp môn ngũ căn, ngũ lực, thất
bồ đề phần, bát thánh đạo phần... Dân chúng trong nước nghe được những pháp âm
như thế đều nhiếp tâm trở về thực tập niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng.
"Xá Lợi Phất, thầy đừng tưởng rằng
các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì ở
nước Bụt kia không có ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Xá Lợi Phất! Ở nước ấy danh từ ác đạo mà còn không có, huống hồ là sự thực về
ác đạo. Những con chim kia đã được Bụt A Di Đà biến hóa ra với mục đích là làm
cho pháp âm được tuyên lưu rộng rãi trong xứ của ngài.
"Xá Lợi Phất, ở nước Bụt ấy, mỗi
khi có gió nhẹ xao động các hàng cây và các màn lưới châu báu thì người ta
được nghe những âm thanh vi diệu, giống như là có trăm ngàn nhạc khí cùng được
tấu lên một lần. Người dân nước ấy mỗi khi nghe các âm thanh kia thì đều nhiếp
tâm niệm Bụt, niệm Pháp và niệm Tăng. Xá Lợi Phất, nước Cực Lạc đẹp tuyệt vời
như thế đấy.
"Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Đức
Bụt kia tại sao có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất! Tại vì đức Bụt ấy là ánh sáng
vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh
sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài được gọi là A Di Đà.
"Hơn nữa, Xá Lợi Phất! Thọ mạng của
đức Bụt ấy cũng như của dân chúng trong nước ngài là thọ mạng vô lượng kéo dài
tới vô lượng vô biên kiếp A Tăng Kỳ, vì vậy cho nên danh hiệu của ngài là A Di
Đà.
"Xá Lợi Phất! Từ khi Bụt A Di Đà
thành đạo đến nay tính ra là đã mười kiếp. Này nữa, Xá Lợi Phất! Số đệ tử
thanh văn đã đắc quả A La Hán của đức Bụt ấy nhiều vô lượng, không thể đếm
được bằng toán học, số đệ tử Bồ Tát của ngài cũng đông đảo như thế.
"Này Xá Lợi Phất! Nước Bụt kia đã
được xây dựng bằng những công đức đẹp đẽ như thế.
"Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những
ai sinh về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều
vị đã là Bồ Tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các vị này đông đảo vô cùng,
không thể dùng toán học mà kiểm đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A
Tăng Kỳ để diễn tả mà thôi.
"Xá Lợi Phất! Chúng sinh mọi nơi
khi nghe nói tới nước Cực Lạc đều nên phát nguyện sanh về nước ấy. Tại sao?
Tại vì sanh về nước ấy thì sẽ được sống chung và gần gũi với rất nhiều các bậc
thiện nhân cao đức.
"Xá Lợi Phất! Những kẻ thiếu phúc
đức và căn lành thì ít hy vọng được sinh về cõi ấy. Vì vậy, Xá Lợi Phất, người
con trai lành hay người con gái lành nào muốn sinh về cõi ấy thì khi nghe đến
danh hiệu Bụt A Di Đà phải nắm lấy danh hiệu ấy mà hết lòng thực tập quán niệm
theo phương pháp nhất tâm bất loạn, hoặc trong vòng một ngày, hai ngày, ba
ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày. Người ấy, đến khi lâm chung,
sẽ được thấy Bụt A Di Đà và các vị thánh chúng nước ấy hiện ra trước mặt.
Trong giờ phút ấy, tâm ý người kia sẽ an trú trong định, không hề điên đảo và
tán loạn, do đó người ấy được vãng sinh ngay về nước Cực Lạc.
"Xá Lợi Phất! Vì thấy được cái lợi
ích lớn lao này cho nên tôi muốn nói với quý vị rằng những ai đang nghe tôi
nói đây hãy nên phát nguyện sinh về nước ấy.
"Xá Lợi Phất, nếu trong giờ phút
hiện tại tôi đang ca ngợi những lợi ích và công đức không thể nghĩ bàn của Bụt
A Di Đà thì tại phương Đông có các vị Bụt A Súc Bệ, Bụt Tu Di Tướng, Bụt Đại
Tu Di, Bụt Tu Di Quang, Bụt Diệu Âm và các vị Bụt khác đông như số cát sông
Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài
của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố
thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào
kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ
niệm.'
'Xá Lợi Phất, tại phương Nam có các
vị Bụt Nhựt Nguyệt Đăng, Bụt Danh Văn Quang, Bụt Đại Diệm Kiên, Bụt Tu Di
Đăng, Bụt Vô Lượng Tinh Tấn và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị
nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các
vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành
thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh
này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ
niệm.'
'Xá Lợi Phất, tại phương Tây có các
vị Bụt Vô Lượng Thọ, Bụt Vô Lượng Tướng, Bụt Vô Lượng Tràng, Bụt Đại Quang,
Bụt Đại Minh, Bụt Bảo Tướng, Bụt Tịnh Quang và các vị Bụt khác đông như số cát
sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng
dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên
bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin
vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và
hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất, tại phương Bắc có các
vị Bụt Diệm Kiên, Bụt Tối Thắng Âm, Bụt Nan Trở, Bụt Nhựt Sanh, Bụt Võng Minh
và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc
độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam
thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể
chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt
trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất, tại phương Hạ có các
vị Bụt Sư Tử, Bụt Danh Văn, Bụt Danh Quang, Bụt Đạt Ma, Bụt Pháp Tràng, Bụt
Trì Pháp và các vị Bụt khác đông như số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi
tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế
giới tam thiên đại thiên và thốt lên lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này
toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả
các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng xưng tán và hộ niệm.'
'Xá Lợi Phất, tại phương Thượng có
các vị Bụt Phạm Âm, Bụt Tú Vương, Bụt Hương Thượng, Bụt Hương Quang, Bụt Đại
Diệm Kiên, Bụt Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Bụt Ta La Thọ Vương, Bụt Bảo Hoa
Đức, Bụt Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Bụt Như Tu Di Sơn và các vị Bụt đông khác như
số cát sông Hằng, vị nào cũng đang ngồi tại quốc độ của mình, biểu lộ tướng
lưỡi rộng dài của các vị, bao trùm cả thế giới tam thiên đại thiên và thốt lên
lời tuyên bố thành thật của mình: 'Này toàn thể chúng sinh các cõi, quý vị hãy
nên tin vào kinh này, kinh mà tất cả các Bụt trong vũ trụ đều đem hết lòng
xưng tán và hộ niệm.'
"Xá Lợi Phất! Thầy nghĩ sao? Tại
sao gọi kinh này là kinh mà tất cả các Bụt đều đem hết lòng xưng tán và hộ
niệm?
"Sở dĩ như thế, là vì những người
con trai hoặc con gái nhà lành nào nghe được kinh này và nghe được danh hiệu
Bụt A Di Đà, hết lòng hành trì và thực tập theo phép niệm Bụt thì những vị ấy
sẽ được tất cả các vị Bụt hộ niệm, và tất cả sẽ đạt tới quả vị giác ngộ cao
tột, không còn bị thối chuyển. Vì vậy cho nên quý vị hãy tin vào lời tôi đang
nói, và cũng là lời chư Bụt đang nói.
"Xá Lợi Phất, nếu có người đã,
đang, hay sẽ phát nguyện sinh về nước Bụt A Di Đà, thì người ấy ngay trong giờ
phát nguyện đã đạt được quả vị giác ngộ cao tột không thối chuyển và đã có mặt
tại cõi nước ấy rồi, không kể đến sự kiện là người ấy đã sinh, đang sinh, hay
sẽ sinh về đó.
"Xá Lợi Phất, trong khi tôi đang ca
ngợi công đức không thể nghĩ bàn của chư Bụt, thì chư Bụt cũng đang xưng tán
công đức không thể nghĩ bàn của tôi, và nói: 'Bụt Thích Ca Mâu Ni thật là hiếm
có. Ngay trong cõi ta bà đầy dẫy năm yếu tố ô nhiễm là kiếp trược, kiến trược,
phiền não trược, chúng sinh trược và mạng trược mà ngài có thể chứng đắc được
quả vị giác ngộ vô thượng và còn tuyên thuyết được cho chúng sinh những pháp
môn mà bất kỳ ở đâu, mới nghe qua người ta cũng rất khó mà phát sinh niềm
tin.'
"Xá Lợi Phất! Thầy nên hiểu cho
rằng cư trú trong thế giới đầy năm loại ô nhiễm này mà đạt tới được quả vị
giác ngộ vô thượng và còn diễn giải được cho mọi giới những pháp môn rất khó
tin như pháp môn này, đó là một việc làm quả là cực kỳ khó khăn."
Nghe Bụt nói kinh này, thầy Xá Lợi
Phất, tất cả các vị khất sĩ, và mọi giới Thiên, Nhân, A Tu La, v.v... ai cũng
phát lòng tin tưởng, tiếp nhận, làm lễ Bụt và lui về trú sở của mình.
(Sukhàvati - vyùha sùtra)