Diệu Thanh
Còn đâu nữa mỗi lần đưa
rước
Rước Thầy về thuyết pháp
giảng kinh
Đưa Thầy đi Cali miền
nắng ấm
Phật Học Viện là nơi
Thầy an trụ
Nuôi Tăng ni để đào tạo
lớp sau
In kinh sách để hoằng
dương chánh pháp
Hạng nguyện Thầy cao cả
biết là bao
Con thương kính vô vàn
thương kính
Nay Thầy đi con thương
tiếc vô cùng
Giáo hội mất một cao
tăng đức độ
Riêng chúng con mất Sư
phụ hiền hòa
Con đau lắm Thầy ơi con
đau lắm
Giờ phút nầy con biết
nới gì đây!
Con chỉ biết cúi đầu
niệm Phật
Cầu cho Thầy về với Phật
Di Đà
Miền Cực lạc Thầy an vui
đi nhé
Nơi trần thế con nhớ lời
Thầy dặn
Phải siêng năng tinh tấn
tu hành
Cầu giác ngộ để giúp
người và hộ đạo
Thôi vĩnh biệt ngàn thu
vĩnh biệt
Chào tạ từ con kính chúc
Thầy đi.
Diệu Thanh Kính Bái
Chicago,ngày 23-3-2003
Ngọn Gió Cuối Thu
Thích Như Điển
Ca dao xứ
Huế có câu:
“Trăm năm trước thì ta chẳng có
Trăm năm sau có cũng như không
Cuộc đời sắc sắc không không
Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi”.
Đúng là như
thế! Vì cái gì của ngày hôm qua, chẳng phải là của ngày hôm nay và cái
gì của ngày hôm nay, sang ngày mai sẽ còn nhiều sự thay đổi nữa. Do vậy
cuộc đời nầy có có không không là thế đó.
Đứng trong
khuôn viên Phật Học Viện Quốc Tế tại North Hills ngày hôm nay (2004), so
với hơn 20 năm về trước, tôi thấy khác xa nhau nhiều lắm. Trong đó có
niềm vui lẫn nỗi buồn xen lẫn. Vui vì ngày nay khuôn mặt của Phật Học
Viện đã đổi khác rất nhiều, đẹp hơn, xanh hơn và khung cảnh chung quanh
chùa toát lên một vẻ thoát tục; những cây ăn trái như vươn cao mãi lên
tận trời xanh; những đóa hoa nhiều màu sắc đã tô điểm cho viện thành
ngôi Già Lam thật yên tĩnh trong không gian động của vùng thung lũng nầy.
Xót xa và
một chút buồn đã len lỏi vào hồn tôi, như gợi nhớ về một bậc Tôn Sư khả
kính, bây giờ không còn hiện hữu nơi cõi thế này nữa. Đó là cố Hòa
Thượng Thích Đức Niệm, người đã khai sơn ra Viện này.Ngài đã vĩnh viễn
ra đi vào cuối tháng 3 năm 2003 vừa qua. Thấm thoát mà cũng sắp đến ngày
Đại Tường rồi. Đúng là thời gian chẳng đợi chờ ai cả.
Tôi gặp Ngài
từ năm 1979/80 khi Ngài từ Đài Loan sang Hoa Kỳ; nhưng thật ra khi ở
Nhật từ năm 1972 tôi đã có được liên lạc với Ngài từ thuở ấy. Cái thuở
mà tôi vẫn còn là một Tăng sinh du họa ở xứ Phù Tang. Còn Ngài cũng là
người đang cặm cụi để chuẩn bị cho luận án Tiến Sĩ ra trường của mình
tại Đài Loan nơi xứ lạ quê người ấy.
Tôi đã gặp
cố Hòa Thượng Thích Thiên Ân,Viện trưởng Viện Đại Học Đông Phương và đã
hầu chuyện cùng Hòa Thượng Thích Đức Niệm bên chung trà tại trung tâm
Quốc Tế Thiền Viện tại Los Angeles. Năm 79 khi Hòa Thượng Thích Thiên Ân
còn tại thế, Hòa Thượng Thích Đức Niệm cũng đã góp công sức vào, như là
một Phó viện trưởng của viện Đại Học Đông Phương. Sau khi Hòa Thượng
Thích Thiên Ân viên tịch năm 1980 thì Hòa Thượng Thích Đức Niệm đã dời
về nơi hiện tại, mà suốt hơn 20 năm qua, Ngài đã ra công tô bồi vun đắp
cho nơi này để trở thành một trung tâm đào tạo Tăng tài cũng như xuất
bản kinh sách rất nhiều loại, để cung ứng cho nhu cầu học Phật của chư
Tăng và Phật tử khắp nơi. Thật là một việc làm mà khó có ai có thể thực
hiện được như thế.
Năm
rồi(2003) Hòa Thượng viên tịch, tôi đã không đến đưa đám được. Vì lẽ có
nhiều Phật sự đã đề ra trước tại Âu Châu và năm nay nhân chuyến hoằng
pháp tại Hoa Kỳ trong tháng 4 vừa qua, tôi có ghé thăm Viện và đảnh lễ
giác linh Hòa Thượng, lại gặp được Hòa Thượng Thích Minh Tâm và Hòa
Thượng Thích Bảo Lạc ở đây, sau khi dự tuần Tiểu Tường. Quý Ngài và anh
em Tăng Ni trong viện có ý muốn có những buổi học cho Tăng chúng trong
Viện được tiếp tục như khi Hòa Thượng còn tại thế; nên tôi đã nhận liền
và thế là năm nay (2004) có 2 lần sang Mỹ.Lần thứ 2 nầy được sắp xếp vào
ngày 27 tháng 9 đến ngày 15 tháng 10 năm 2004. Đề tài mà tôi đã hướng
dẫn cho Tăng Ni là: Đại Thừa Khởi Tín Luận, Yết Ma Chỉ Nam, huấn luyện
trụ trì và diễn giảng. Còn đề tài mà tôi thuyết giảng cho các Phật tử
tại gia vào 2 cái cuối tuần gồm 4 buổi giảng là Quy Nguyên Trực Chỉ. Đã
có 17 vị tại Viện và các nơi về tham gia tu học trong suốt 2 tuần lễ
qua, không khí thật vui tươi hoan hỷ. Giờ đây ngự trên liên tòa, chắc
rằng Giác linh của Hòa Thượng sẽ hoan hỷ. Vì khi nhìn xuống thầy đệ tử
của mình đang thực hành di huấn đã để lại. Đó là “tiếp dẫn hậu lai, báo
Phật ân đức”.
Trong khi
giảng, tôi đã có đề cập đến những kỷ niệm của tôi đã có với cố Hòa
Thượng để học chúng Tăng Ni nghe và tưởng niệm về tôn sư của mình. Đó là
một câu chuyện như bao nhiêu câu chuyện của thiền môn thuở trước.
Một hôm Hòa
Thượng bảo tôi rằng: “ Thầy Như Điển có biết không! Ngày xưa khi mới vô
chùa, Thầy tôi giao cho tôi cái chuông và cái mõ. Bây giờ sau bao nhiêu
năm sách đèn để học xong học vị Tiến Sĩ, rồi tôi cũng trở về vị trí của
mình. Đó là cái mõ và cái chuông mà thôi!” Quả thật là như vậy. Đời
người Tăng sĩ, cái trí tuệ mới là sự nghiệp, chứ đâu phải bằng cấp là sự
nghiệp. Do vậy chuông mõ vẫn đi đầu, cho nên người xưa đã ví:
“Muốn đi tu công phu chưa có
Muốn lên chùa chuông mõ cũng không”.
Nếu
người đi tu mà hành trình chuông mõ không có thì không thể nào đi vào
cõi đạo được. Vì vậy chuông và mõ vẫn là 2 pháp khí quan trọng của nhà
Thiền.
Ngày xưa , cách đây 40 năm về trước. Năm ấy (1964) khi tôi
mới vào chùa, xuất gia học đạo. Thầy tôi bảo: Con hãy mua sách vở để đi
học. Tôi trả lời rằng: Bạch Thầy đi tu rồi, còn phải đi học để làm gì?
,Thầy tôi gõ yêu lên đầu một cái rồi bỏ đi. Lúc ấy tôi tròn 15 tuổi.
Thời gian qua , tôi nhờ câu niệm Phật và tiếng kinh lời kệ
mà học hành rất tiến bộ v àvì thế,tôi rất hãnh diện về thành quả của
mình. Thế rồi Thầy tôi bảo: “ Dẫu cho ông có bao nhiêu cái bằng của
nhân. Tiến Sĩ cũng không bằng một bài kinh Bát Nhã” Tôi nghe lúc ấy cũng
hơi bất đồng với Thầy, nên đã thưa lại rằng tại sao lại như vậy?
Thầy bảo: Ông hãy nhìn xem, khi ông đến nhà Phật tử đưa cái
bằng Tiến Sĩ ra, đâu có ai cho ông ăn được một bữa cơm nào, nhưng nếu
ông tụng được một bài kinh Bát Nhã cho nhà họ, thì ông sẽ có cơm ăn liền”.Tôi
thấy có lý: nên không giám hỏi tiếp nữa.
Mấy mươi năm sau, đã tu, đã học, đã làm Phật sự đó đây, cử
nhân tôi đã có, học vị Tiến Sĩ thì chưa, nhưng tôi đã cảm nhận được điều
đó là chí lý. Nhưng khi dạy học trò, đệ tử thì tôi luôn nói như thế nầy:
“ Sự học nó không làm cho người tu giải thoát được; nhưng nếu
muốn mở cánh cửa giải thoát kia thì không thể thiếu sự tu và sự học được”.
Đó là thời buổi bây giờ. Vì ngoại giao, vì tiếp xúc với đời; nên bằng cấp,
sự học nó chỉ là phương tiện mà thôi, chứ quyết không phải là mục đích.
Nhiều người bảo tôi là xem trọng bằngcấp, nhưng thực tế thì tôi quý những
người có tu và có học; nếu không như thế, thì Phật giáo tương lai sẽ tiến
về đâu?
Nhớ lại lời cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm đã nói bên trên
cũng giống như vậy thôi. Học cái gì, tu cái gì, thì cái chuông cái mõ đối
với người tu vẫn là điều quan trọng hơn những bằng cấp khác. Điều ấy Hòa
Thượng đã chứng thực.
Sau khi Hòa Thượng vắng bóng, học viện trở nên trống vắng.
Tôi về đây mấy ngày đầu thấy lòng mình se thắt lạ thường. Vì tôi biết rằng:
Ai rồi một ngày nào đó cũng phải ra đi thôi. Mấy ai biết được rằng: cuộc
sống này vốn vô thường và sự vô thường ấy có bỏ sót một ai đâu. Tôi đứng
nhìn những cây nhãn sây trái, những quả lựu màu đỏ ối. Rồi những cây hồng
cho ra những quả mọng chín, ngọt lịm nơi môi khi thưởng thức. Những trái
thanh long v.v. công ấy ai vun bồi và cây ấy ai tưới nước, mà thế hệ thứ
hai ở đây ngày nay đã gặt được quả? Vì vậy cho nên:
“Ẩm thủy truy nguyên=Uống nước nhớ nguồn”
Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”…
Là bổn
phận của những người đi sau phải nhớ ơn vậy.
Khi lên chánh điện Phật Học Viện Quốc Tế, tôi thấy một câu
thật có ý nghĩa được treo trên tường như sau:
“Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa ân sư muôn thuở khó đáp đền”.
Hai câu
này thật quá hay. Ơn giáo dưỡng đối với nghĩa ân sư. Một đời nên huệ mạng
đối với muôn thuở khó đáp đền. Quả là tuyệt diệu. Người xuất gia không
có gia đình riêng; nhưng chúng ta có một đại gia đình. Đó là cộng đồng
Tăng lữ. Chúng ta sống trong pháp Lục Hòa và cái đức chúng ầy như biển cả
mênh mông vô tận.
Tôi đứng từ trên bảng, nhìn xuống phía dưới, thấy mặt mày rạng
rỡ của Tăng Ni khi hiểu bài, và cũng đọc được nơi tâm họ, khi thấy họ buồn
vời vợi với những giọt nước mắt lăn tròn trên má. Đó là lúc nhắc lại
hình bóng của Tôn Sư. Đúng là: “Làm con muốn báo ơn cha mẹ, nhưng giờ
đây cha mẹ không còn nữa”.
Thông thường là thế, những gì người ta đang có trong
tay, người ta ít trân quý, để khi bị mất đi rồi thì giá trị ấy mới vô
song, không có gì sánh kịp.
Sau gần 2
tuần, quý Tăng Ni học với Hòa Thượng Thích Thắng Hoan, Thượng Tọa Thái
Siêu, Thượng Tọa Nguyên Siêu và tôi hướng dẫn; vào ngày cuối, có một
giờ tâm sự cũng như nói lên cảm tưởng của mình.
Bao nhiêu tiếng nói tri
ân, cảm niệm những tấm lòng đến Thầy Giám Viện, đến các vị giảng sư.
Còn có thêm những tiếng nói thổn thức từ cõi lòng của những đứa con đã
mồ côi sư phụ.Ngày xưa người ta bảo:
“Còn cha gót đỏ như son
Mai kia cha chết gót con đen sì”
Rất đúng với trường hợp và hoàn cảnh nầy. Tôi thấy họ, những
người đệ tử của Hòa Thượng bây giờ có những giọt nước mắt cảm thông hơn,
yêu thương nhau hơn trong tình huynh đệ pháp lữ. Tình Linh Sơn cốt nhục.
Quả thật là phép Phật nhiệm mầu. Xin Giác Linh Thầy hãy về đây chứng
giám.
Tôi cũng bị cảm động lây, mắt tôi cũng tự nhiên cay xé và
không chờ đợi, những giọt nước mắt đã lăn tròn trên 2 gò má. Tôi thật sự
xúc động. Tôi cũng mong rằng những sợi dây liên kết thiêng liêng ấy sẽ
xâu lại thành sợi dài, để kết nối sự yêu thương, đùm bọc trong huynh đệ
với nhau khi tôn sư vắng bóng, thì dẫu cho có ở cõi nào đi nữa, Giác
Linh Hòa Thượng cũng hoan hỷ vô cùng.
Sau hơn
2 giờ tâm sự như thế vào ngày 11 tháng 10 năm 2004 tại phòng học, tất cả
học chúng rời phòng học, ra sân rồi về phòng riêng. Bỗng nhiên tôi thấy
trời đất đổi thay; gió thổi xào xạc, nhưng chỉ riêng trong vườn chùa của
học viện mà thôi. Dường như Thầy đã về đây để chứng giám những gì mà đệ
tử của Thầy đã thành tâm sám hối và ngưỡng vọng về giác linh Hòa Thượng.
Tôi hơi lạnh người, vì khung cảnh về đêm; nhưng tôi cũng
tin là điều ấy có thật. Bởi lẽ trời hôm đó trong lắm; nhưng tại sao lại
có gió mạnh, mà gió ấy chỉ xảy ra chỉ tại một chỗ, đó là Phật Học Viện
Quốc Tế. Chắc rằng giác linh Thầy đã về để chứng giám cho lòng thành
của những người đệ tử vậy.
Nghe đâu hôm lễ cung tiến kim quan của Hòa Thượng
cũng như thế. Quý Thầy trong Ban Tang Lễ đã dựng lều để dự định sáng mai
đưa kim quan ra đó để an trí cho rộng rãi hơn. Thế nhưng đêm về gió lộng,
khiến cho lều bay hết cả. Điều ấy có nghĩa là tâm niệm của Hòa Thượng
muốn được viếng thăm chánh điện của chùa lần cuối. Nhất là từ sau khi
xây xong (2003) đến nay, vì bệnh duyên nên Hòa Thượng đã không có dịp
lên lễ Phật, cũng như dẫn lễ cho chư Tăng và Phật tử như lúc bình sinh.
Cuối cùng rồi ước nguyện của Hòa Thượng cũng đã được thành tựu.
Sau khi
thiêu, theo lời di chúc, thân cát bụi của Hòa Thượng, đã được rãi vào
lòng của biển cả. Thế là hết một đời. Những gì của đất, gió, lửa xin
trả về cho đất, nước , gió, lửa vậy. Đến và đi vô ngại giải thoát như
vậy, thật là tự tại của một nhà tu, mà nhà tu ấy không lấy danh lợi hay
học vị của mình để đi độ sanh, mà chỉ lấy lòng từ bi và trí tuệ để đi
chuyển hóa nhân sinh đây đó trên khắp nẻo luân hồi nầy.
Ngọn gió thu
đã đổi chiều, hiu hiu thổi đến. Những lá dâu vàng rực đã lìa cành, rơi
rụng khắp sân cỏ của chùa, dệt nên những tấm thảm chen lẫn màu xanh
vàng, như một giải lụa có nhiều màu sắc, đẹp tuyệt vời. Ngọn gió càng
ngày càng thổi mạnh làm cho nhiều loại lá trên các thân cây bắt đầu đổi
màu, để rồi rơi rụng khắp đó đây. Như để tô điểm thêm cho khuôn viên của
Phật Học Viện, vốn đã nên thơ rồi, lại càng đẹp hơn nữa bên ánh sáng mùa
thu đã dịu bớt đi sau một mùa hè rực rỡ và chính những cơn gió thu ấy
cũng đang mang đến sự mát dịu cho biết bao nhiêu tâm hồn hướng thượng
tại nơi đây.
Trước giác
linh Thầy, tôi đã thầm khấn nguyện là mong Hòa Thượng gia hộ cho Phật
Học viện Quốc Tế ngày càng thêm phát triển và đồ chúng nơi đây , xuất
gia cũng như tại gia, lúc nào cũng như lúc nào phải biết thương yêu
nhau hơn theo tinh thần Lục Hòa,như bài kinh thường tụng vào giờ ngọ
trước khi chư Tăng thọ thực, thì quả là đáng quý, đáng ghi nhớ biết là
dường bao !
Mùa thu, vốn
là mùa đẹp nhất của thi nhân, mùa của sự tưởng niệm và cũng là mùa của
những người đang mất cha hay mẹ. Ở đây quý Thầy, Cô tại Viện cũng đã mất
đi một bậc Thầy khả kính. Nhưng trong sự mất mát ấy quý vị hãy còn rất
nhiều. Đó là một lối để đi về theo hạnh nguyện độ sanh của Sư Phụ mình.
Kỷ yếu sắp
thành hình để đánh dấu ngày Đại Tường của Hòa Thượng, chúng tôi bậc hậu
học, xin đốt nén tâm hương để dâng lên Ngài và cầu nguyện cho giác linh
Ngài cao đăng thượng phẩm. Cùng lúc xin dâng cảm nghĩ thô thiển này lên
Hòa Thượng và kính nguyện Hòa Thượng thùy từ chứng giám cho.
Thích Như Điển
Viết xong vào một sáng cuối thu tại Phật Học Viện Quốc Tế (12-10-2004)
Tỳ Kheo
Quê Mùa
Thích Quảng Điền
Hồi đó,
những ngày đầu mới vào cửa Phật, tôi thường hay chạy giỡn nô đùa. Dường
như bất cứ chuyện gì cũng có thể làm cho tôi bật cười được cả.
Mấy điệu nhỏ
thức dậy công phu khuya gục lên gục xuống tụng thần chú Lăng Nghiêm chữ
còn chữ mất, lộn xộn làm cho Sư chú Minh D. gõ mõ kiểu nào cũng không
đều nhịp, bực quá, chú liệng dùi chuông xuống chỗ mấy Điệu.Mấy Điệu giật
mình hoảng vía, hết ngủ gục, tụng lên om sòm. Thế là sáng hôm ấy chúng
tôi kể cho nhau nghe chuyện hồi khuya, ai nấy ôm bụng mà cười. Chú Minh
C.tụng kinh líu lưỡi chữ này ra chữ kia, Sư cô Diệu T. xướng lộn giọng
tụng cầu siêu thành ra vọng cổ v.v.. nhiều lắm và chuyện nào cũng vui cả.
Thật ra, khi
xuất gia tôi cũng đã 20 tuổi rồi, đâu còn nhỏ gì nữa. Vậy mà ngộ lắm,
hình như hễ làm Điệu thì tự nhiên giống như con nít. Lúc ấy tôi chỉ biết
: tụng kinh, học kinh, niệm Phật, trực nhật, hành đường, quét lá, vậy
thôi. Tôi không lo lắng, nghỉ ngơi gì hết, dù trời sập tôi cũng không lo
không sợ. Nói vậy, chứ mà sợ Sư phụ lắm. Hễ Thầy kêu lên một tiếng là
xếp ra liền. Lần nọ, tôi giỡn vui quá, chạy băng ngang qua chánh điện mà
cũng không để ý, không hay biết gì cả. Tôi bị Thầy bắt gặp. Thầy không
rầy về việc này mà lại nói: “ Con xếp mền chưa ngay” Tôi liền xá Thầy
rồi trở về phòng để xếp mền lại. Nhưng mền đã rất ngay ngắn, thẳng thóm.
Tôi chợt ngờ lại, Thầy còn đứng ngoài chánh điện, chưa vào phòng mình
mà, làm sao biết được mền mình xếp ngay hay không? Tôi suy nghĩ hoài mà
cũng không thông.Vì vậy, suốt ngày hôm ấy tôi không chạy giỡn mà cứ suy
nghĩ mãi câu nói của Thầy. Sáng hôm sau, tôi chịu hết nổi, đi ngay vào
tịnh thất định hỏi Thầy cho rõ mọi việc vì rõ ràng Thầy chưa vào phòng
mình và mình đã xếp mền rất ngay sao Thầy lại nói không. Tôi vừa bước
chân vào tịnh thất, chưa kịp đảnh lễ, chưa kịp thưa hỏi gì cả thì Thầy
đã nói; “ Trọn ngày hôm qua con xếp mền rất ngay ngắn”. Tôi giật mình,
và chợt hiểu ra, Thầy mượn chiếc mền xếp không ngay để nói lên thân tâm
mình còn động quá, cứ mãi nô đùa đến nỗi chạy ngang qua chánh điện mà
không biết. Tôi không còn nói được gì và cũng không cần phải nói gì nữa
vì tôi đã hiểu rồi. Tôi bèn đảnh lễ Thầy và lui ra, lòng cảm thấy lâng
lâng nhẹ nhỏm vô cùng.
Lời Thầy
bình dị nhưng dường như có lúc chứa đầy mật ngữ trong ấy. Vài hôm sau,
có Phật tử Minh H. đến viện làm công quả. Tôi đem việc trên kể cho chú
nghe. Chú cười và nói rằng: “ Tại chú mới vào viện nên chưa biết, chứ
tôi thì biết. Thầy tuy nói lời giản dị, nhưng mình phải suy nghĩ kỹ mới
hiểu. Hình như Thầy muốn mình phải suy nghĩ để hiểu ý của Thầy. Nhiều
năm trước, lúc ấn quán Ananda của viện còn hoạt động, cả gia đình tôi
thường hay về viện giúp Thầy xếp giấy đóng kinh sách. Khi ấy, Thầy ươm
rất nhiều vạn thọ. Một hôm, Thầy bảo với má tôi: “ Phật tử Diệu H. cần
bao nhiêu cây vạn thọ, Thầy tặng cho”.Má tôi thưa ‘Mô Phật.bạch Thầy,
cho con xin 80 cây’. Thầy nói ’80 cây à’. Thôi 100 cây nhé’. Má tôi lại
trả lời: ‘Dạ 80 cây thôi’ cây đủ rồi. Thầy lại nói: ‘Vạn thọ mà 100 cây
nhé’. Má tôi trả lời: ‘Dạ 80 cây thôi’
Lúc đó , má
tôi không hiểu ý Thầy. Khi về đến nhà, má tôi mới suy nghĩ; Thầy muốn
tặng mình vạn thọ. Mình xin 80 cây, sao Thầy cứ bảo mình lấy 100 cây
hoài. Một hồi , má tôi chợt hiểu, thì ra Thầy muốn chúc má tôi sống lâu
100 tuổi mà má tôi không chịu nhận. Má tôi nói: biết vậy. lúc đó má nhận
100 cây, bây giờ nghĩ lại tiếc quá”.
Cuộc sống
của Thầy vô cùng giản dị. Quần áo của Thầy có khi vá 5 vá 7. Không phải
Thầy không có quần áo lành lặn để mặc, nhưng Thầy muốn dùng cho đến khi
hết vá được mới thôi. Mỗi lần chúng tôi thưa hỏi Thầy về việc này ,
Thầy chỉ nói: “ Tín thí khó tiêu”. Có khi Thầy dạy chúng tôi: “ Các con
phải biết tiếc của Tam Bảo đừng có xài phung phí. Chuyện gì cần xài,
đáng xài thì mới xài, không cần thì thôi; của đàn –na tín thì rất khó
tiêu, nếu phung phí thì dù sống giữa thành phố cũng không có mì gói để
ăn; kiếp sau phải mang lông đội sừng để đền trả cho thí chủ”.
Đã có nhiều
lần Phật tử không ngờ được Thầy làm việc vô cùng vất vả. Nhiều người
nghĩ rằng làm Thượng tọa hay là Hòa thượng thì không cần làm gì cả. Kỳ
thật, không phải như vậy. Làm lớn phải lao nhọc lắm, không lao thân thì
lao tâm, không lao tâm thì lao thân. Thầy tôi thì kiêm cả hai thứ. Phải
rồi, bởi lẽ, càng làm lớn thì bổn phận càng nhiều. Danh càng cao thì
việc làm càng vất vả để tương xứng với cái danh ấy,nếu không thì chỉ là
hư danh. Thầy thường dạy như vậy.
Ngoài giờ
dịch kinh, soạn sách, giáo dưỡng huynh đệ chúng tôi. Thầy còn để nhiều
thời giờ chăm lo vườn tượt, cây cối ở Tịnh viên xanh tươi hữu tình. Tịnh
viên tuy nhỏ, nhưng ai bước vào đây, nhất là vào những ngày nắng ấm,
ngồi dưới những băng ghế đá, đứng dưới những tàng cây tươi mát, sẽ cảm
nhận một cảnh thiên nhiên thanh tịnh vô cùng an lạc. Tất cả đều do bàn
tay và sự hướng dẫn của Thầy tạo nên.
Có một lần
nọ, Thầy bận quần ống cao ống thấp, áo bà ba ngắn tay đã bạc màu, đầu
đội chiếc nón lá tưa vành, chân mang đôi dày cũ kỷ, quá date, đến nổi
chắc không thể tìm đâu ra được ngoài viện bảo tàng, mồ hôi nhễ nhại, đào
đất trồng cây tỉa nhánh ngoài vườn. Có hai Phật tử tuổi ngoài thất tuần
dẫn theo con cháu về chùa lễ Phật. Nhìn thấy Thầy ông bà không biết ,
hỏi:
-Thưa bác, bác đến chùa
làm công quả hả?
-A Di Đà
Phật, dạ phải. Thầy đáp.
-Làm
công quả siêng năng như bác phước vô lượng đó.
-Dạ
-Bác qua
Mỹ được mấy năm rồi?
-Dạ cũng
lâu rồi.
-Bác đi
theo diện gì vậy? HO phải không?
-Dạ NHÂN
ĐẠO.
-Bác
được mấy cháu rồi?
-Dạ cũng
đông.
-Sao bác
không đợi chiều hãy làm, bây giờ trời nắng gắt quá.
-Dạ ,
tôi quen rồi.
-Bác làm
công quả ở chùa này chắc lâu lắm phải không?
-Dạ phải
, cũng mấy chục năm rồi.
-Ồ! Vậy
à. Chắc bác quen thân với thầy Đức Niệm lắm hả?
-Dạ, tôi
thân với Thầy lắm.
-Vợ
chồng chúng tôi nghe băng Thầy thuyết pháp thôi chứ chưa từng biết mặt.
Nghe nói Thầy xuất thân từ chùa Ấn Quang. Tôi quen nhiều Thầy ở Ấn Quang
lắm, nhưng chư Tăng đông quá, tôi chưa có dịp được tiếp xúc với Thầy Đức
Niệm. Hôm nay, nhân dịp lên chùa lễ Phật, chúng tôi cũng muốn gặp đế vấn
an Thầy. Thôi chào bác nhe.
-A Di Đà
Phật.
Hai vị
Phật tử ấy và con cháu lạy Đức Quán Âm lộ thiên, lạy Phật A Di Đà (
tượng cũ), lúc bấy giờ chưa có tượng ngài Di Lặc lộ thiên, rồi đi vào
chánh điện. Hai bác lễ Phật xong thưa với Sư cô tri khách:
-Thưa Sư
cô, gia đình chúng con hôm nay về chùa trước lễ Phật, sau là vấn an
Thầy. Hôm nay Thầy có ở chùa không?
-Dạ có.
Ủa , hình như hai bác gặp Thầy rồi mà.
-Dạ thưa
chưa.
-Hình
như trước khi hai bác vào đây, hai bác có thưa chuyện với Thầy rồi mà?
-Nãy giờ
chúng con chỉ gặp bác làm vườn thôi, chưa gặp Thầy nào cả.
Sư cô
cười:
-Bác làm
vườn nào đâu, chính là Thầy đó.
-Mô
Phật. Trời ơi! Tội lỗi quá! Hồi nãy giờ con gọi Thầy bằng bác không hà.
Hai bác
vội vã ra vườn xin sám hối:
-Bạch
Thầy, chúng con xin sám hối. Hồi nãy thưa chuyện với Thầy mà tại Thầy
đội nón, con không biết; con tưởng là Phật tử đến chùa làm công quả.
-Dạ, có
sao đâu. Bác làm vườn hay Thầy Đức Niệm cũng đều làm công quả như nhau
Nói
xong, Thầy cười và thân mật tiếp chuyện với hai bác Phật tử cùng các
cháu.
Thầy tôi như vậy đó. Ai muốn gọi Thầy sao cũng được. Ai
tưởng Thầy thế nào cũng tốt. Thầy vẫn là Thầy: vẫn bình thường, mộc
mạc, chịu đựng, vẫn với những câu nói giản dị nhưng chứa đầy đạo vị, vẫn
khiêm tốn như tự hiệu của Thầy: Tỳ Kheo Quê Mùa.
Khể thủ Tỳ
kheo Thích Quảng Điền
California,
trời chuyển lạnh, 2004
NHỮNG KỶ NIỆM VỚI HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NIỆM
Thích Tín Nghĩa
Riêng tặng quý thầy đệ tử của cố Hòa thượng như thầy Minh
Chí (đương kim Giám viện PHVQT, thầy Minh Quang (hiện đang theo học
chương trình Tiến sĩ tại Đại học đường FL.), thầy Quảng Độ, thầy Quảng
Thiện, thầy Quảng Đình và thầy Quảng Đạo- cùng Sư cô Thích nữ Diệu Tánh-
Quý đệ tử: Diệu Hải, Diệu Hậu, Quảng Huệ, Chơn Quang, Minh Kiến, Thanh
Chánh, Phước Hảo, và một số đạo hữu đã tùng học với Hòa thượng trên hai
chục năm.
Tôi đến định cư Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 09 năm 1979. Hòa
thượng Thích Đức Niệm đến trước tôi độ hai ba tháng gì đó. Những vị
cómặt và làm việc với Giáo hội lúc bấy giờ gồm có quý Ngài; Thiên Ân,
Mãn Giác, Trí Chơn, Đức Niệm, Thiện Thanh, Nguyên Đạt, Tịnh Từ, Trí Đức
và tôi ( Tín Nghĩa). Đây là nói về Giáo hội tại miền Nam, nói đúng hơn
là tiểu bang California và một vài tiểu bang phụ cận, còn vùng Hoa Thịnh
Đốn và phụ cận, lúc đó Pháp sư Giác Đức đang lo cho chùa Giác Hoàng, tôi
không được rõ là có bao nhiêu vị.
Bây giờ, tôi chỉ đi vào sự liên hệ giữa tôi và Hòa thượng
Thích Đức Niệm. Chú Tánh Thiện đón tôi từ phi trường về chùa Việt Nam.
Tôi được bảo lãnh là do hai ngài Thiên Ân và Mãn Giác. Đến chùa đúng sáu
giờ tối cùng ngày. Nghỉ ngơi một đêm. Trưa mai, ngài Thiên Ân đi dạy học
về, trước giờ thọ trai, ngài nói chuyện rất vui vẻ và niềm nở làm sao.
Ngài bảo:
-Bây giờ Giáo hội bảo trợ thầy qua đây, trả ơn hai chúng
tôi bằng cách đi làm Phật sự .
Tôi chỉ dạ và mỉm cười . Hòa thượng Mãn Giác nói tiếp:
-Ở Denver, họ đang cần Tín Nghĩa nhiều lắm. Ở đó đang thiếu
vị lãnh đạo Tinh thần và Trú trì.
Tôi cũng cười và vâng vâng dạ dạ vậy thôi, vì mới đến Mỹ
chưa được hai ngày. Giờ cơm đã đến, ngoài cổng có một vị tu sĩ trong
chiếc áo nâu bạc thếch, ung dung đi vào chùa rất tự nhiên. Mới bước lên
khỏi cầu thang, Hòa thượng Thiên Ân vừa cười vừa giới thiệu cho tôi:
-Đây là Thượng tọa Đức Niệm, tôi mới thầy qua làm Phó Viện
trưởng Đại Học Đông Phương, bữa nào khỏe mời thầy ( tức là tôi) ghé thăm
Đại học cho biết.
Tôi cũng dạ, đồng thời quay qua thầy Đức Niệm, tôi chấp tay
cuối chào và cùng vào bàn ăn. Cơm nước xong tôi hàn huyên với thầy Đức
Niệm khá lâu, rồi thầy xin kiếu để về nghỉ trưa. Thầy bảo:
-Trưa nào tôi cũng phải nghỉ một chút mới làm việc cho ban
chiều và tới khuya, không nghỉ cũng được.
Nói xong, thầy từ từ bước xuống cầu thang. Tôi cũng không
biết là thầy ở đâu nữa, vì quá mới nên cái gì cũng xa lạ hết.
Cứ thế, ngày nào Thầy cũng qua ăn cơm trưa, còn tôi thì được
mấy người trong đó có anh Hồng Quang chở đi chơi cho biết đó đây. Chủ
nhật đầu, tôi nói chuyện với đồng bào Phật tử chùa Việt Nam, rồi sinh
hoạt với Gia đình Phật tử Long hoa; Chủ Nhật kế, được ngài Trí Chơn lên
đón bằng xe Bus để về nói chuyện và thăm đồng bào Phật tử chùa Vạn hạnh
vùng San Diego. Ngài Trí Chơn rất chân tình và niềm nở đối với tôi, khi
mời tôi về thăm chùa Vạn Hạnh, mặc dầu Thầy và tôi chỉ biết nhau lờ mờ
hồi còn ở quê nhà, trên ba mươi năm. Chúng tôi đều là môn phái Tây
Thiên, thuộc dòng Liễu Quán, trên nguyên tắc, Thầy là vai vế chú bác
trong đạo.
Được mười tám hôm, tôi lên đường nhận lãnh nhiệm vụ mới.
Trước khi đi, ngài Mãn Giác có đãi một bữa ăn thịnh soạn. Thầy Đức Niệm
thì chúc mừng cho tôi. Tôi cũng có theo Thầy một hai lần đến nơi mà Thầy
thường nghỉ và làm việc. Thấy mà tội, mang danh Phó viện Trưởng, ở cái
phòng chỉ một chổ ngủ, một cái bếp cỏn con dùng nấu nước pha trà. Còn
nhà máy in là một cái Garage cũ được tạm chỉnh trang lại để dùng in kinh
sách. Điều đáng chú ý là số kinh sách cung ứng từ năm 1979 cho đến năm
1983 khắp đó đây đến những chùa ở hải ngoại và các trại tị nạn đa phần
đều từ nơi này mà có.
Ngày từ giã, ra phi trường tiễn tôi có ngài Thiên Ân và ngài
Đức Niệm. Ra đến phi trường LAX, ngài Thiên Ân bảo:
-Thầy là người đặc biệt mà tôi tiễn đưa ra tận phi trường.
Tôi chưa đưa tiễn ai bao giờ.
Thầy Đức Niệm nói thêm:
-Hòa thượng nói đúng.
Riêng , ngài Mãn Giác thì hướng dẫn tôi lên tận Denver, tiểu
bang Colorado để bổ nhiệm với chức vụ Lãnh đạo tinh thần Cộng đồng Phật
giáo kiêm Trú trì chùa Việt nam ở đây. Phải nói rằng : Khi tôi lên
Denver, hai vị gọi điện thoại hỏi thăm đủ điều cũng như khuyến khích làm
Phật sự là Thầy Mãn Giác và Thầy Đức Niệm. Có lẽ vấn đế làm việc ở xã
hội mới chưa quen thuộc cũng như tâm đạo của hàng Cư sĩ tại hải ngoại từ
1975 đến ngày tôi rời Denver chưa thuần nhất, chưa nhuần nhuyễn, sự tu
học và tin vào Phật pháp cũng chưa vững chắc lắm; cứ xem vị Tu sĩ như
chúng tôi là một ông từ giữ chùa không hơn không kém. Vả lại, vốn liếng
sinh ngữ để nghe điện thoại hoặc đi đường cũng không có được một
chữ,nên tôi phải trở về Los Angeles để có cơ duyên đi học Anh ngữ. Tôi
cộng tác với Thầy Đức Niệm từ đó.
Tôi lái xe hai ngày hai đêm về tận chùa Việt nam, vào chào
Thầy Mãn Giác và rồi ra xe về trụ sở Phật học viện Quốc tế. Ngủ một đêm,
sáng dậy tôi và thầy Đức Niệm nói chuyện hơi dài, Thầy bỏ buổi học Anh
văn.
Thầy nói:
-Thầy về đây làm việc với tôi. Chỗ ngủ nghỉ cùng phòng ốc,
bếp núc để nấu nướng thì không được thoải mái cho lắm; nếu thầy ngủ ở
phòng nầy, tôi qua chánh điện tạm thờ Phật để ngủ. Hai chúng ta nương
nhau làm Phật sự.
Tôi nói:
-Thầy yên tâm, Thầy cứ ngủ đây. Tôi qua bên đó. Trường hợp
ai bị đau ốm, thì ngủ tại phòng nầy. Còn từ nay về sau, chúng ta tự túc
nấu ăn. Buổi sáng Thầy đi học, tôi ở nhà nấu cơm và đóng kinh sách.
Chiều Thầy lo nhà in, nấu cơm chiều, tôi đi học Anh văn ban tối.
Phật sự ngày một thêm nhiều. Thầy Đức Niệm còn bổn phận phải
lên Fresno để giảng pháp mỗi một nửa tháng. Tôi thì xuống giảng và
truyền giới Bát Quan trai cho hàng Phật tử mỗi tháng một lần tại Trung
tâm Phật giáo Huệ Quang tức chùa Huệ Quang bây giờ của Thượng tọa Minh
Mẫn ở đường Bishop.
Tuy tôi làm việc và ăn ở với Thầy ĐứcNiệm, nhưng , mỗi nửa
tháng tôi đều qua chùa Việt nam để cùng hàng Phật tử nơi đây làm lễ lạy
Sám hối .
Sự sinh hoạt ngày một đa dạng. Hàng Phật tử ngày một thêm
đông, nên thầy Đức Niệm và tôi đều bỏ học và bắt đầu cho chương trình
mới là : vừa tiếp tục in kinh sách, vừa tìm đất hoặc nhà để kiến tạo cơ
sở cơ sở thực sự cho Phật Học Viện Quốc Tế.
Những ngày chúng tôi ở tại Los Angeles, tiền bạc rất eo hẹp.
Tôi mua một chiếc xe mới từ Denver đem về, nợ nần chưa trả hết. Mỗi
tháng Thầy cho $140.00 để phụ trả tiền xe. Những lúc túng thiếu, tôi
thưa với Thầy là:
-Thầy đế Tín Nghĩa xuống với anh Lê Viết Tấn ở Irvine, xin
cắt cỏ một tuần hai ngày, trả xong xe là tôi sẽ nghỉ cắt cỏ, nhưng, dù
thế nào tôi cũng phải chu tất công tác đóng kinh sách, Thầy đừng lo.
Thầy nói:
Tui mới vừa học xong, bên Tàu qua đây chân ướt, chân ráo,
chẳng có gì trong tay ngoài mảnh bằng. Vả lại, bằng cấp ở Tàu đâu có xài
gì được cho xã hội Tây phương này. Thầy cũng vừa từ trại tỵ nạn qua, cho
nên hoàn cảnh nầy hai chúng ta đều thiếu thốn thốn, ráng cùng nhau đều
chịu thiếu thốn. Có lòng thí chư Phật, Bồ tát cũng thương, cũng gia hộ
cho chúng ta, không sao đâu?
Tuy Thầy nói và an ủi thế, nhưng, những lúc không có tiền in
kinh sách, Thầy cho các chùa thỉnh luôn những chuông mõ lớn, tượng Phật
lớn để có tiền mà tiếp tục theo hạnh nguyện. Tượng Phật lớn nhất hiện
giờ đang thờ tại chùa Liên Hoa ở Canada, do cố đạo hữu Trịnh Minh Cầu
làm Hội trưởng nguyên là của thầy Đức Niệm. Chính bản thân chúng tôi lo
đóng thùng và gởi đi. Hàng Phật tử ở Fresno thấy Thầy không có phương
tiện, họ quyên góp nhau được chú đỉnh mua chiếc xe cũ với giá $1,800.00,
Thầy cũng bán và đưa vào chuyện in ấn kinh sách. Phật tử lấy làm ngạc
nhiên, liền thưa hỏi:
-Sao Thượng tọa bán xe, lấy gì để đi lại khi cần?
Thầy cười, rồi nói;
-Qúy vị nên biết đức Phật dạy rằng: trong các vấn đề bố thí,
thì bố thí Pháp là quan trọng hơn hết. Riêng Thầy thì sao cũng được. Khi
cần lắm thì nhờ Phật tử nào đó có phương tiện, cùng lắm thì đi xe Bus,
miễn sao có kinh sách cho hàng Phật tử trì tụng là tốt rồi,…
Có nhiều lúc Thầy nhường lại những bộ y-hậu, pháp cũ tốt
cho quý thầy để lấy tiền in kinh sách. Thầy chủ trương hoằng truyền
Chánh pháp và đào tạo Tăng tài lên hàng đầu.
Sau một thời gian tìm kiếm, tức là điạ điểm Phật Học Viện
bây giờ, hạ tuần tháng ba năm 1982, chúng tôi dời từ Los Angeles để về
đây. Ngôi nhà mấy phòng dùng để cho bốn hoặc năm người ở thì tốt, dùng
làm nơi tu học cho quần chúng Phật tử thì không thể được. Mọi sinh
hoạt trong khiêm tốn, nhưng vẫn gặp khó khăn với lối xóm, vì toàn là
người Mỹ da trắng. Những lễ lớn như Phật đản, Vu lan thì phải thuê mướn
hội trường của trường bên cạnh. Số Phật tử đến sinh hoạt mỗi lúc một
đông. Trong những Phật tử thân quen, thương tình khuyên bảo con cháu của
họ rằng:
-Nếu , những nhà chung quanh Phật Học Viện, cái nào bán thì
các con mua lấy, vừa gần với gia đình, vừa giúp cho Thầy Đức Niệm khỏi
bị kiện cáo lôi thôi.
Ý kiến rất hay, nên một số Phật tử dù ở xa Phật học viện cả
một giờ lái xe cũng lên mua nhà gần viện. Nhờ vậy mà Thầy đã không gặp
khó khăn mà lại thuận duyên khi phát triển cơ sở.
Trong tình đạo gắn bó giữa tôi và Thầy thì rất nhiều kỷ niệm
từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn. Nhưng có hai chuyện đáng ghi nhớ nhất
trong hai chúng tôi, tuy không mấy đặc sắc, thế mà mỗi lần nhắc lại là
cả hai cùng ôm bụng cười. Nhơn đây tôi cũng ghi lại vài dòng để gọi là
làm lưu niệm cho cuộc đời hành đạo xứ Hoa Kỳ.
Số là: Khi cơ sở mới đưa lên vùng này, chúng điệu chưa có,
duy nhất có chú Ân Hạnh, đệ tử của Hòa thượng Thiên Ân cùng trú xứ. Chú
nầy vì có bệnh nên kinh điển chẳng thông thuộc là bao, chỉ biết tụng
kinh ngắn, đánh chuông và làm công quả lặt vặt như nấu ăn, gói kinh sách
để gởi đi cho những nơi cần đến, hoặc tiếp bổn đạo dẫn vào lễ Phật trước
khi gặp quý thầy, hoặc trông chừng nhà cửa.
Chuyện thứ nhất: Số là hai chúng tôi, một ngày như mọi
ngày, lo quét dọn vườn tược, trồng cây này bới cây kia, vun quén những
luống rau mới trrồng, sứa sang ngôi nhà mới mua này, những gì của thế
gian biến thành cảnh thiền môn thanh tịnh. Công việc chỉ có vậy mà ngày
nào cũng như ngày nào mất gần 10 tiếng đồng hồ. Có khi chỉ tụng kinh
ban sáng, tối lại chỉ niệm Phật chứ không đủ thì giờ. Sáng sớm tụng kinh
xong, cả hai chúng tôi ra vườn làm say sưa quên cả ăn uống và cứ tưởng
là có chú Ân Hạnh bên trong, nên chẳng để ý gì cho bữa cơm trưa. Đến khi
mệt liền đi vào nhà để chuẩn bị ăn cơm trưa, nào ngờ chú đi gởi sách bị
lạc đường, không biết đường về. Chúng tôi kiếm thức ăn chẳng có. Thế
rồi, hai chúng tôi chấp nhận ăn mì gói với rau đã trồng sẵn. Bữa ăn
ngon lành làm sao, chúng tôi mỗi người ăn hết bốn gói mì và cộng thêm
rau sống. Ăn uống xong là hai giờ chiều, rồi đi ngủ và ngủ li bì cho đến
ba giờ sáng hôm sau. Cả hai đều khát nước không thể tả và no luôn gần
như cả ngày kế. Cho nên mỗi khi nói đến chuyện ăn mì gói là đều cười
ngất và cũng không thể nào ăn hai gói rưỡi chứ nói gì đến bốn gói như
dạo ấy.
Chuyện thứ hai: Nhà mua xong, trả nợ đưọc tám tháng. Kinh tế
bắt đầu eo hẹp. Tiền nhà tháng kế tiếp không tài nào có đủ. Hỏi mượn
quanh thì ai cũng bảo là đang kẹt. Số tiền thiếu độ ba trăm Mỹ kim. Túng
thế,liền khui thùng phước sương. Tay Thầy bưng thùng tiền thì nghe tiếng
kêu toàn lẻng kẻng, nên cả hai nhìn nhau, rồi tôi liền ra cửa trước để
trông chừng khách khứa ra vào, Thầy mang thùng phước sương vào phòng để
đếm tiền cắc. Gần một tiếng đồng hồ, Thầy đi ra với khuôn mặt vui và
nói: Dư rồi thầy Tín Nghĩa ơi, đừng lo! Và cả hai cùng cười.
Cá nhân tôi thì không nói, nhưng, tôi cười và tội cho thân
phận của Thầy, một người có học vị thật sự với văn bằng Tiến sĩ, lại
chơn tu, giới thể châu viên; thế mà khi ra làm Phật sự cũng không phải
là chuyện dễ dàng.
Có cơ sở xong, Thầy và tôi nghĩ ngay đến vấn đề đào tạo Tăng
tài. Chúng điệu bắt đầu có khoảng năm đến bảy vị, Thầy làm Giám đốc, tôi
làm Giáo thọ Tăng ni sinh của Viện. Chương trình tu học ở đây tiến đều,
đặc biệt là phần kinh luật ở đây rất khá. Khi thọ giới, Giới tử tụng
luật tiểu Trường hàng thuộc lòng đến độ hàng Thập sư và Tuyên luật sư
phải tấm tắt khen. Tháng ba năm 1982, Thầy đi Âu châu cũng như các chùa
tại địa phương để thăm và cung thỉnh chư tôn đức vào những ngôi vị Thập
sư, chuẩn bị cho Đại Giới Đàn đầu tiên, lớn nhất tại hải ngoại, được
khai thị tại Phật Học Viện Quốc Tế. Đại giới đàn mang tên vị Cao Tăng
Thiện Hòa, Thầy làm Chánh chủ đàn, tôi làm Trưởng ban điều hành kiêm
Công văn ( Hiện Kỷ yếu còn lưu lại tại Viện).
Cũng trong bổn phận và trách nhiệm hoằng truyền Chánh pháp,
cũng như phát triển cơ sở, tôi đến vùng Dallas, tiểu bang Texas để vận
động thành lập Tổ Đình Từ Đàm Hải Ngoại vào tháng 10-1983, Thầy đã cố
vấn và tận tình giúp đỡ về mọi mặt. Thầy đã từng hy sinh quyền lợi của
phần mình để giúp cho Từ Đàm Hải Ngoại trong những khó khăn lúc ban đầu
về mặt tài chánh. Từ đây, tôi và Thầy đều có cùng một trách nhiệm riêng
mà đường lối sinh hoạt thì hỗ tương cho nhau. Những công tác Phật sự
chính như thành lập Giáo hội hoặc những đại lễ Phật đản, Vu lan đều có
nhau. Phải thành thật mà nhìn nhận một điều, kể từ khi thầy Đức Niệm có
mặt tại hải ngoại, không một Phật sự nào mà Thầy bỏ sót, đặc biệt là
đường hướng của Giáo hội. Thầy đóng góp một cách tích cực từ vật chất
đến tinh thần và đóng góp tối đa. Tôi còn nhớ mãi lần đầu tiên Thầy đến
thuyết giảng và Chứng minh Đại lễ Phật đản năm 1984 tại Tổ đình Từ Đàm
Hải Ngoại. Lúc ấy, Từ Đàm chỉ là một ngôi nhà cũ, không có phòng ngủ,
không có phòng tắm. Tôi phải gởi Thầy đến một nhà Phật tử để ngủ qua đêm
và có phương tiện cho bản thân. Thầy chỉ ngủ một đêm, qua đêm sau, Thầy
ở lại với tôi và chấp nhận chịu mọi sự thiếu thốn như tôi. Thầy phải
ngủ dưới thảm không có nệm,không có nước nóng, không buồng tắm; tôi rất
ái ngại, nhưng Thầy rất hoan hỷ và Thầy còn nói:
-Tôi chịu đựng quen rồi. Nhờ sự chịu đựng đó mà những năm
tôi học ở bên Tàu, khỏi nấu nướng mới có thì giờ theo học chương trình
Cao học và Tiến sĩ.
Theo tôi nghĩ: Có lẽ Thầy thương hoàn cảnh của tôi lúc ấy
thì phải, nên Thầy nói ra như vậy để tôi yên lòng hoặc Thầy an ủi để tôi
có nghị lực một phần nào mà tiến tu và dõng mãnh mà lo cho ngôi nhà Phật
pháp thì đúng hơn. Tôi không thấy một vẻ gì buồn hiện lên nơi khuôn mặt
hiền hậu và phúc đức ấy. Cũng may, mùa Phật đản và Vu lan đều là mùa hạ,
khí trời của vùng Texas nóng nhiều hơn lạnh.
Hạnh nguyện độ sanh và trách nhiệm với Phật pháp đang trên
đà hạnh thông Thầy thọ bệnh.
Vào trung tuần tháng 12-2001, vừa đi tụng kinh công phu sáng
xong, tay bưng tách trà đi quanh để nhìn cây cảnh, tiếng chuông điện
thoại lại reo lên, tôi nhấc ống nghe, đầu dây nói tiếng của Sư cô Diệu
Tánh báo cho hay là:
-Thầy con vừa mới vào bệnh viện, con tin cho thầy hay để
thầy cầu nguyện cho Thầy con.
- Hai thầy trò nói chuyện với nhau chưa được mấy phút, Sư cô
xin gác máy để lo những chuyện cần thiết trước khi vào chăm sóc cho
thầy Đức Niệm tại bệnh viện.
Tôi biết Thầy bệnh từ lâu rồi, nhưng , những tưởng là được
gặp thầy, gặp thuốc. Tôi gọi điện thoại cho anh Bùi Ngọc Đường để hỏi
thăm bệnh tình của Thầy ra sao.
Anh trả
lời:
-Thấy Thầy tuần trước có hơi mệt, nhưng vì tuần này có mấy
việc cần làm cho bản tin của Ban Bảo trợ phiên dịch Pháp tạng Việt nam
nên tôi chưa lên viện được . Có chi chút nữa tôi chạy lên xem, về gọi
cho Thầy hay sau.
-Như vậy, anh vẫn chưa biết Thầy đi bệnh viện?
-Dạ, chưa.
-Bây chừ , anh theo dõi tin tức,có gì anh gọi cho tui hay
với. Có lẽ,tui cũng sắp đặt và về với Thầy vài ngày.
Thế rồi, tôi quyết định lấy vé và bay về Phật học viện Quốc
tế để biết rõ tình cảnh ra sao. Anh Đường đến phi trường Burbank chở
thẳng tôi vào tận bệnh viện. Vừa bước vào là Thầy đã cảm động và cả hai
đều chảy nước mắt. Chúng tôi không chịu đựng được và sợ Thầy quá xúc
động làm cho mệt thêm, nên chúng tôi tìm cách ra ngoài một lát. Bốn mươi
lăm phút sau, chúng tôi đi vào ngồi bên cạnh Thầy gần hai tiếng đồng hồ;
sau đó, về viện. Tôi ở lại được mấy hôm, thấy Thầy có vẻ khá, tôi xin
trở lại Từ đàm. Khi tôi rời khỏi bệnh viện thì Thượng tọa Tịnh Từ lái xe
từ Tu viện Kim sơn ghé thăm.
Bác sĩ quyết định mổ cái bướu trong gan, nhưng , Thầy từ
chối và chỉ chữa bằng thuốc. Bệnh tình thuyên giảm, Thầy trở lại Viện,
tiếp tục dưỡng bệnh. Bệnh tạm khá, tôi qua thăm và ở lại gần cả tuần.
Trong lần này, tôi thưa Thầy nên tổ chức giỗ Tổ Liễu Quán (đây là lần
giỗ Tổ thứ hai tại Hoa Kỳ, lần đầu tại Từ đàm Hải ngoại), vì không thể
lên chùa của Thầy Vân Đàm ở Falls, Church, tiểu bang Virginia được. Lý
do, lúc nầy vấn đề khủng bố đang xảy ra trầm trọng, sự di chuyển khó
khăn và có phần nguy hiểm. Và trong ngày Giỗ Tổ, Thầy tổ chức luôn Đại
lễ an vị chư tôn tượng Phật và Bồ tát tại Tân chánh điện mới rất trọng
thể và đông đảo quần chúng Phật tử, mặc dầu mới hoàn tất chương trình
xây cất được ba phần tư công tác.
Tôi và Thầy hay trao đổi cho nhau những tâm tình Phật sữ của
Viện, của Từ Đàm và của Giáo hội.
Tôi biết Thầy có bệng Tiểu đường, đi đâu, Thầy cũng lè kè
những bình thuốc do đệ tử chưng nấu hẳn hoi để mang theo mỗi khi đi diễn
giảng các hội Phật giáo xa xôi khắp Hoa kỳ và Canada. Không một đơn vị
nào dù là trong hay ngoài Giáo hội, dù là nhỏ hay lớn, một khi đã cung
thỉnh Thầy về thuyết giảng, chứng minh mà Thầy không tận tình trong
nhiệm vụ Sứ giả Như llai, của một bậc Sư trưởng, một nhà dìu dắt đầy
chân tình và tận tụy. Đi đến đâu, Thầy cũng khuyến tấn đàn hậu học dù
xuất gia hay tại gia, phát tâm tu học, hướng về con đường mà Giáo hội từ
ngàn xưa đã gầy dựng, xiển dương và duy trì.
Hình ảnh của Thầy đi đến đâu là ban rãi tình thương đến đó.
Những ai đã được gặp Thầy một lần, thì bằng mọi cách cũng tìm về Phật
Học Viện để xin cận kề học hỏi.
Những lần Đại hội sơ khởi để thành lập Giáo hội, hay là sau
khi đã được hình thành, nếu chọn Phật Học Viện làm nơi hội họp, thì Thầy
lo lắng và phục vụ hết mình từ vật chất đến tinh thần. Thầy nghe chư
Tăng cung tựu là Thầy vui vẻ, giống như mở hội chính trong lòng. Thầy
tận tình chăm sóc, hỏi han từng vị một, cho dù Tăng hay Ni, lớn hay nhỏ.
Riêng mối thâm tình keo sơn giữa Hòa thượng Hộ Giác và Thầy nối dài từ
quê nhà ra hải ngoại thì không nói.
Thầy đã cư xử, đối đãi với chư tôn đức, dù sơ giao hay thâm
giao, thường hay nhường chỗ nằm nghỉ thường nhật của mình cho các vị lớn
trong đó có hai vị thường lấy làm cảm động và hay tâm sự với tôi: đó là
Hòa thượng Thắng Hoan và thầy Thiện Trì.
Hai vị, mỗi khi trà đàm với tôi, đều nói:
-Ông cũ Đức Niệm cứ nhường chỗ nằm của cụ để mình ngủ nghỉ,
thấy ngại quá. Chúng tôi từ chối.
Nhưng Thầy nói:
-Quý Ngài về đây thành tâm chung lo Phật sự và hết lòng xây
dựng Giáo hội, xiễn dương Chánh pháp, phục vụ quốc gia dân tộc là quý
lắm rồi. Chúng tôi phục vụ các ngài có sao đâu. Miễn sao các ngài hoan
hỷ.
Kể từ khi Thầy lâm trọng bệnh gần một năm rồi, cách một hoặc
hai tháng, tôi lại về với Thầy một lần và mỗi lần như thế cả tuần lễ.
Những lúc Thầy có sực khỏe tương đối, tôi cùng Thầy thường hay đi bách
bộ có khi thì trong vườn thiền của Phật Học Viện, có khi đi xa hơn ra
ngoài đường phố để tâm sự với nhau về những Phật sự đã làm trong những
ngày sống đời xa xứ. Thầy thường bảo:
-Nếu tôi được bình phục, bằng mọi cách, tôi sẽ tạo dựng một
cơ sở tương đối khá lớn hơn Phật Học Viện hiện nay để cúng dường cho
Giáo hội làm cơ sở, văn phòng sinh hoạt được tốt và thuận duyên hơn.
Những Đại lễ mà đặc biệt là Phật đản, Đại hội,v.v …cũng dễ dàng cho Giáo
hội.
Nghe Thầy nói, tôi lấy làm cảm động và hồi tưởng lại những
ngày đầu, chư tôn đức Tăng Ni, không phân biệt tông phái, môn phái,
đã vâng Giáo chỉ của đức Tăng Thống Đại lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, về
dự phiên họp đầu tiên để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ- Làm lễ Tưởng niệm cố Hòa thượng Thích Đôn
Hậu-Đại hội Thường niên Một, nhiệm kỳ I-Đại hội Khoáng đại Tám do Giáo
hội Mẹ phó thác đều cử hành tại Phật Học Viện.
Những chi phí căn bản cho những Đại lễ hoặc Đại hội, tuy nói
là Giáo Hội lo liệu, nhưng thật ra, Thầy gánh vác tất cả. Chính tờ báo
Phật giáo Thống nhất cũng vậy. Điều nầy, tôi biết rõ và rất rõ. Và, chư
tôn Thiền đức đều thấy.
Cơn bệnh trầm trọng của Thầy khoảng hơn một năm lại tái
phát. Thầy vừa vào bệnh viện lần thứ hai chưa được hai hôm thì tôi đã có
mặt bên giường bệnh cùng Thầy. Tôi cầm tay Thầy và nói những câu chuyện
vui để cho Thầy có thể quên đi cái đau và quên đi một phần nhỏ lo lắng
trong cái lo lắng bao la mà cuộc đời Thầy đang gắn bó với Đạo pháp và
Quê hương.
Thân bệnh mà tâm không bệnh. Thầy vẫn cố gắng dạy đồ chúng
và vẫn hướng dẫn thợ thuyền làm cho xong chương trình xây cất Tân chánh
điện cũng như dựng các tôn tượng Phật A Di Đà và Di Lặc trong khuôn viên
của Viện. Thầy rất mong được chứng kiến và được tự thân dự lễ An vị.
Bệnh tình tái phát khá trầm trọng. Thầy vào bệnh viện trở
lại trước tết Quý mùi. Chư Tôn Giáo Phẩm và hàng Phật tử rất lo ngại.
Tăng chúng của Viện cũng như anh Đường báo cho tôi biết là Hòa Thượng
bệnh nặng lắm. Bác sĩ bảo chỉ vài ngày nữa.
Tôi thưa với anh Đường:
-Bây giờ chỉ biết cầu nguyện. Ngoài tha lực của Phật thì
không cách nào hơn. Chúng ta mong cầu làm sao để Hòa thượng qua khỏi
đêm Giao thừa là quý rồi.
Anh Đường nói:
-Tôi cũng mong như vậy.
Tôi thành tâm cầu nguyện trước Phật đài; đồng thời, tôi
cũng sắp đặt việc chùa và thưa trước với Phật tử của Từ đàm là:
-Hòa thượng Đức Niệm có thể hầu Phật bất cứ lúc nào.
Thầy mua sẵn vé trong tay. Nếu Ngài đi ngoài Tết thì quý. Giá như Ngài
đi trong tết thì quý vị theo Sư cô Trú trì mà chu tất mọi việc. Thầy
phải qua Phật Học Viện để lo liệu.
Hàng Phật tử
của Từ Đàm chỉ biết y giáo phụng hành.
Qua khỏi
tết, rồi qua khỏi rằm Thượng nguyên Quý mùi, lòng tôi mừng khấp khởi.
Mua vé về với Thầy và ở lại gần tuần. Trong rằm tháng hai, tôi hướng dẫn
đồ chúng của Phật học viện lạy Thù ân, sám hối và tụnh Lương hoàng Sám
pháp để hồi hướng cho Thầy. Trước khi tụng, tôi thưa với Thấy rằng:
-Nếu , trong
ngày Rằm này, Thầy xả bỏ báo thân để về với Phật thì tốt, nhưng nếu Thầy
nhắn nhủ và thị hiện điều gì thì đến ngày 19 tháng hai, vía Bồ tát Quán
Thế Âm, Thầy hầu Phật cũng được.
Thầy cười
vui vẻ.
Hằng ngày,
tụnh kinh bái sám cầu nguyện cho Thầy, nhưng cũng trực tiếp sám hối cho
chính mình và ở luôn bên Thầy cho đến giờ thầy ra đi.
Cách ngày
vía Quán Thế Âm, thấy thần sắc của Thầy vui và khỏe hẳn ra, tôi định đổi
vé trở lại Dallas để làm lễ. Vé chưa kịp đổi thì chiều ngày 17, Thầy có
vẻ như yếu và muốn ra đi, tôi mặc áo và ngồi suốt bên Thầy. Thầy bảo thì
thào;
-Mặc áo hậu
và đỡ tôi ngồi dậy cho trang nghiêm để nghe chư Tăng hộ niệm.
Thầy ngồi
rất nghiêm trang, vừa nghe chư Tăng hộ niệm vừa đưa mắt nhìn từng vị
một. Trong đêm 17 âm lịch nầy, có một lúc Thầy bảo:
-Cho Thầy ăn
uống một tí gì đi.
Cô Diệu Tánh
lấy muỗng đút cho Thầy ăn chút bánh bông Lan và uống nước ngọt.
Trong lúc
đang ăn, tôi hỏi:
-Sao Hòa
thượng ăn thấy ngon không?
Thầy cười và
gật đầu. Tôi nghiêng tai nghe Thầy nói:
-Ngon.
Tôi cười to
và Đại chúng cùng cười lên. Lúc ấy, ai nấy đều thấy cõi lòng của mình
vui chi lạ. Và, hình như không thấy ở nơi Thầy có một cử chỉ đau nhứt
nào. Khuôn mặt hiền hậu, dễ thương.
Có lẽ, những
giây phút rtong đêm 17, là ngọn lửa bùng cháy rực lên lần cuối trước khi
vĩnh viễn không còn được cháy sáng nữa. Suốt ngày 18, Thầy yếu dần nhưng
vẫn tỉnh thức. Tôi và anh Đường cứ theo dõi và chuẩn bị mọi thứ để sẵn
sang công bố.
Trong ngày
18 âm lịch, đúng 11 giờ, Hòa thượng Mãn Giác, từ chùa Việt Nam lên Phật
Học Viện để gặp Thầy lần cuối cùng. Rất dể thương trong những giây phút
gặp gỡ giữa Hòa thượng Mãn Giác và Hòa thượng Đức Niệm. Hòa thượng đến
rất bất ngờ, làm tôi cũng bối rối. Tôi cho gọi môn đồ của Viện, y hậu
chỉnh tề, đảnh lễ Hòa thượng Mãn Giác, trước khi đưa Ngài vào thăm. Tôi
hướng dẫn Hòa thượng Mãn Giác vào bên giường, Hòa thượng Đức Niệm, chấp
tay xá và ngài Mãn Giác nói:
-Nghe thầy
bị đau, thầy ni lên thăm.
Tôi đưa tay
nắm tay Hòa thượng Mãn Giác để lên tay của Hòa thượng Đức Niệm. Tay
trong tay và bốn mắt nhìn nhau, không ai nói với ai câu nào. Hòa thượng
Mãn Giác thì nước mắt lưng tròng, Hòa thượng Đức Niệm thì niệm Phật thì
thào qua hơi thở không được đều lắm.
Sau gần một
giờ thăm viếng, tôi tiễn đưa Hòa thượng Mãn Giác r axe. Trước khi ra về,
Hòa thượng có nhắn nhũ dạy bảo cho môn đồ của Viện những điều rất chân
tình.
Tôi lại trở
vào và bắt ghế ngồi bên cạnh Thầy, miệng niệm Phật, mắt đưa về khuôn mặt
của Thầy để theo dõi từng phút, từng giây. Hơi thở của Thầy khi dài, khi
ngắn, khi thì thông suốt, khi thì mệt nhọc. Hai mắt bắt đầu nhắm nghiền
lại. Chốc chốc lại hé ra như muốn nhìn hay nói lên một điều mà không thể
làm được. Chúng tôi cũng chỉ biết niệm Phật và nhìn trở lại.
Vào khoảng
hai giờ rưỡi chiều, ngày 18, Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Châu từ Los
Angeles lên thăm. Hòa thượng, đến đột ngột và tôi cũng bối rối, nhưng
tất cả đều thông cảm cho nhau. Hòa thượng theo tôi vào tận giường của
Thầy để thăm. Hòa thượng Tâm Châu nhìn và niệm Phật, đồng thời, Ngài
bảo:
-Thôi thì
hết duyên độ sinh thì về với Phật.
Hòa thượng
nói đến đó, và liên hồi niệm Phật độ hai mươi phút, ngài từ giã trước
khi ra về, ngài còn nói thêm:
-Có Tín
Nghĩa ở đây thì tôi yên tâm. Bây giờ tôi về trở lại trên Los. Có gì
Thượng tọa cho tôi hay.
Tôi dạ và
tiễn Hòa thượng lên xe, rồi cũng quay trở lại với Thầy.
Cái dễ
thương đặc biệt của hai Hòa thượng là: Vị nào cũng gọi điện thoại trước
khi lên Viện thăm Thầy, nhưng, không được. Vì trong giây phút sau cùng
nầy quá sức bối rối, cho nên không ai nhận điện thoại hoặc điện thoại
bận. Thế nhưng, nhị vị Hòa thượng vẫn bảo thị giả lấy xe chở đi. Hai
Ngài cũng có chung một ý nghĩ như nhau là :
-Con cứ chở
Thầy lên thăm Hòa thượng Đức Niệm đi. Nếu không vào thăm được, đứng
ngoài phòng nhìn vào, Thầy cũng đủ yên tâm lắm rồi.
Bởi thế, khi
có các vị vào cho tôi hay là có Hòa thượng lên, tôi chạy ra là các Ngài
đã ngồi đợi bên ngoài rồi.
Gần tám giờ
tối, đêm 18, tôi cho gọi hết đồ chúng và cung thỉnh nhị vị Hòa thượng
Trí Chơn, Huyền Dung cùng vào và đồng thanh niệm Phật. Câu Nam Mô A Di
Đà Phật vang lên cả gian phòng. Không ai nói năng gì chỉ chuyên một lòng
niệm Phật và chăm chú vào Thầy. Hơi thở dồn nhanh dần và có những lúc
như dứt khoảng. Tôi, thầy Minh Chí, Sư cô Diệu Tánh đồng ghé vào tai
Thầy để nói:
-Hôm nay là
ngày 19 tháng hai, vía Bồ tát Quán Thế Âm, Thầy về với Phật là rất tốt.
Nhị vị Hòa
thượng thức suốt đêm hôm đó. Đồng hồ vưa điểm hai giờ sáng, của ngày
vía, Thầy trút hơi thở và vĩnh viễn xả bỏ tấm thân nhỏ bé vô thường để
về cảnh giới thường tịch trong tiếng niệm Phật của Đại chúng.
Tôi đã trực
diện từ đầu đến cuối sự ra đi thanh thản của Thầy. Thoải mái, an nhiên,
hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi cơn bệnh trầm trọng của Thầy. Tôi rất
cảm phục. Tuy thế, lòng tôi vẫn đau buồn thương tiếc. Để gói lại những
sự liên hệ giữa tôi và Thầy, tôi có những câu thơ mộc mạc gởi đến Thầy:
Chúc Thầy thanh thản, an nhiên,
Tây phương Thánh cảnh là miền an vui,
Thầy nay mây trắng lưng trời,
Còn tôi ở lại, đầy vơi hồng trần.
Di Đà trì niệm chuyên cần,
Mong ngày tái ngộ tri âm cùng Thầy.
Đám tang của
Thầy được Giáo hội tổ chức trọng thể. Đây là đám tang lớn nhất xưa nay
tại hải ngoại kể từ khi có làn sóng vượt biển 1975.
Tỳ Kheo THÍCH TÍN NGHĨA
TƯỞNG NIỆM CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỨC NIỆM
Trần Quang Thuận
Không nói
mà nói
Nói mà không
nói
Mỗi lần qua
Phật Học Viện Quốc Tế tôi thường đến trước di ảnh của Hòa Thượng Đức
Niệm đặt trên bàn thờ ở Tổ đường để đảnh lễ vị khai sơn Chùa, hồi tưởng
lại những ngày Ngài còn sống trên trần thế, với những cái vui cái buồn
của thế gian, cái âu lo khắc khoải, cái âm thầm hoan hỷ về Phật Giáo
thăng trầm biến thiên; hồi tưởng lại những ngày đầu tiên cùng ngài ngồi
trước thềm nhà Ananda, Quốc Tế Thiền Viện,Los Angeles, bàn việc thành
lập Phật Học Viện Quốc Tế.Ngày tháng trôi qua như tên bắn, bao nhiêu vật
đổi sao dời.
Giờ đây nhìn
di ảnh ngài điềm nhiên tự tại,lẳng lặng như chứa chấp những gì muốn nói
mà không nói, hay không nói những điều muốn nói, giống như độ nào, trong
chuyến hành hương Ấn Độ cách đây gần 15 năm. Hòa Thượng đứng nhìn di
tích điêu tàn của ngục thất giam vua Tần Bà Ta La tại ngoại ô thành
Vương Xá. Lúc ấy Hòa THượng cũng không nói một lời, mặt trầm ngâm, thể
hiện nỗi buồn nhân thế. Tại đây vào thời xa xưa, Phật đã vì bà Vi Đề Hy,
hoàng hậu của vua Tần Ba Ta La và mẫu hậu của vua A Xà Thế nói Kinh A Di
Đà, tả cảnh Tây Phương Cực Lạc… Không biết lúc đó Hòa Thượng có nghĩ đến
số phận của ngôi chùa Nhật Bản ở Little Tokyo, Los Angeles, ngôi chùa
thành lập cách đây 100 năm, tiếp nối và truyền thừa dòng Tịnh Độ của
Nhật Bản cách đây 780 năm, có thể sống còn trên mảnh đất mới Hoa Kỳ hay
không, mà theo thống kê, số người Nhật theo Phật Giáo, theo Tịnh Độ Tông
ngày càng ít. Thống kê thực hiện vào năm 1998-2000 cho ta thấy 37.4% số
người tuổi từ 65 trở lên theo Phật Giáo, 35.7% theo Cơ Đốc Giáo, 7% theo
các tôn giáo khác, 20 % không theo tôn giáo nào, trong khi thanh niên
thuộc hạng tuổi từ 18 đến 29, chỉ 10.7% theo Phật Giáo, 21.5 % theo Cơ
Đốc ,32.1% theo các tôn giáo khác, 35.7% không theo tôn giáo nào . Với
thời cực thịnh đầu thập niên 1960, chùa có 20 đội thể thao, có tổ chức
thanh thiếu niên Phật Tử, có những khóa học Phật Pháp. Giờ đây những đội
thể thao, có tổ chức thanh thiếu niên Phật Tử, những lớp học Phật Pháp
đã vắng bóng, số người dự lễ hàng tuần không quá 100, so với trước đây
hàng nghìn người. Sự im lặng của Hòa Thượng, còn sấm sét hơn tiếng rống
của sư tử trong rừng hoang.
Trước khi
lên đường trong chuyến hoằng hóa cuối cùng, đức Thế Tôn ngự tại Núi Linh
Thứu ở thành Vương Xá, thủ đô của nước Ma Kiệt Đà, ngày nay là tiểu bang
Bihar của Ấn Độ. Núi Linh Thứu cao. Đầu núi nhô ra như đầu của con chim
ưng, bao tỏa khu rừng rậm bao la. Đức Phật đặt chân nơi đây, dù chưa nói
một lời, đã chuyển hóa được A Xà Thế, trở thành người hộ pháp đắc lực.
Tại đây đức Phật đã nói Kinh Vô Lượng Nghĩa, nhập Vô Lượng Nghĩa Xứ
Định, giảng thuyết kinh Pháp Hoa, khai thị tri kiến Phật, cho chúng sinh
biết đức Như Lai không rời thế gian. Ngài đắc đạo là do quán sát thế
gian pháp. Lìa bỏ thế gian thì tu hành không thể thành tựu. Trên núi
hiện nay còn có di tích chỗ Phật ngồi thuyết pháp, hang động của các đại
đệ tử. Tại nơi này cách đây gần 15 năm Hòa Thượng Đức Niệm đã đảnh lễ
pháp tọa của đức Như Lai, im lặng chấp tay thành kính, hướng đến đức Thế
Tôn. Hòa Thượng muốn tâm sự gì với Phật? Lời lẽ có đủ sức chuyên chở ước
mơ, kỳ vọng của Hòa Thượng?
Sau một thời
gian cư trú tại Núi Linh Thứu, Phật và hàng thánh chúng đi đến
Ambalathika, Nalanda, nơi sau này một trung tâm Phật Giáo nổi tiếng, một
trường đại học Phật Giáo vang danh thế giới, nơi dung chứa trên 10,000
tăng sinh tu học trong đó có Đường Tam Tạng được thành lập, nhưng giờ
đây chỉ còn những đống gạch vụn, Hòa Thượng âm thầm đứng nhìn nền của
thư viện mà quân Hồi phải mất ba ngày đốt cháy trước sự hoan hô của hàng
nghìn vạn quân chiến thắng. Người ta sung sướng, vui mừng trong sự khổ
đau của người khác. Hòa Thượng hồi tưởng lại lời nói của Quận Công
Wellington sau trận chiến Waterloo, khi nhìn cảnh chết choc điêu tàn sau
trận đánh lừng danh: “ Nothing except a battle lost can be half as
melancholy as a battle won…” Chiến tranh để lại nỗi buồn tê tái cho kẻ
thắng trận cũng như người chiến bại.
Từ Nalanda
Phật và hàng thánh chúng đi đến Pataligama , Nadika, Vesali. Vesali là
nơi sinh của Mahavira, là trung tâm của Kỳ Na Giáo, vừa bị hạn hán, dân
chúng đói khổ và chết chóc rất nhiều. Nghe tin Phật đến, Mahali, bạn
của vua Tần Ba Ta La, đại diện cho dân Vajjins, ra thành đón tiếp. Phật
và 500 Tỳ kheo vừa bước chân vào thành Vesali thì một trận mưa rào đổ
xuống, một điềm lành và là một món quà tặng cho dân chúng thành Vesali.
Sau mùa kiết
hạ an cư,Phật và hàng thánh chúng từ giả Vesali trên đường đến Kusirana.
Đến sông Kakuttha, Phật xuống sông để tắm. Tắm xong,Phật lên bờ, đi về
một vườn xoài gần đó, báo cho A Nan biết bữa cơm do Cunda cúng dường là
bữa cơm cuối cùng. Sau thời gian nghỉ ngơi Phật đi qua bên kia sông
Hirannavati để đi vào rừng cây Sala của bộ tộc Mala. Rừng cây này nằm
giữa ngã ba đi vào thành phố Kusinara. Trời đã xế chiều nhưng khí trời
oi ả, Anuruddha đứng bên cạnh Phật quạt hầu, Phật hỏi A Nan vào khuyên
nhủ và nói bài pháp cuối cùng mà sau này gọi là Kinh Đại Bát Niết Bàn.
Nói xong Ngài từ từ nhắm mắt. Đại địa rung động, hoa Sala rụng xuống như
mưa. Đức Phật đã nhập niết bàn.
Thành phố
Kusinara chiều này sao mà cô tịch. Không một bóng người qua lại. Từ ngôi
nhà trọ bên này đường, Hòa Thượng Đức Niệm và phái đoàn hành hương hướng
nhìn tháp Phật, rào rạt niềm xúc cảm, muốn khóc, muốn nói mà khóc không
lên tiếng, nói không lên lời, tại sao Phật nhập niết bàn, tại sao số
phận của chúng con qua hẩm hiu, tại sao Phật không ở lại với hàng chúng
sinh đang còn quằn quại trong biển sinh tử luân hồi?
Hòa Thượng
có biết không, những người đệ tử của Hòa Thượng, những người mến mộ Hòa
Thượng giờ đây cũng cùng một tâm sự, cũng than thân trách phận.
Tuy hai mà một.
Tuy một mà hai.
Hôm đó Phật
Học Viện Quốc Tế đứng ra tổ chức đón tiếp đại diện các tôn giáo bạn
trong phong trào vận động đòi tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền tại
Việt Nam. Cố Hòa Thượng nhân danh Viện Chủ, Giám Đốc Phật Học Viện Quốc
Tế và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ, tỏ
lời chào mừng và cám ơn quan khách. Hòa Thượng nhấn mạnh vận mệnh Phật
Giáo đi đôi với vận mệnh dân tộc trong tiến trình dựng nước và giữ nước,
để đi đến kết luận Dân Tộc và Đạo Pháp là một. Đại diện các tôn giáo
ngồi lắng nghe đạo lý tuy hai mà một , tuy một mà hai của Phật Giáo đối
với dân tộc Việt.
Sau buổi gặp
gỡ, mạn đàm, Phật Học Viện Quốc Tế đãi đại diện các tôn giáo và quan
khách một bữa cơm chay thân mật. Ngồi cạnh vị đại diện Cơ Đốc Giáo tôi
hỏi cảm tưởng của vị ấy về lời phát biểu của Hòa Thượng Viện Chủ, vị ấy
khéo léo cho biết Phật Giáo, trong dòng sinh mệnh Việt Nam, đã đóng góp
lớn. Tôi hỏi vị ấycó thoải mái không khi phải dùng hai đôi đũa, một đôi
dùng để và cơm và một đôi dùng để gắp đồ ăn. Vị ấy cho biết hơi bỡ ngỡ
lúc đầu. Tôi nói nếu dùng lâu rồi sẽ quen, sẽ rất tự nhiên, sẽ thấy tuy
hai đôi đũa mà giống như một đôi, không khác gì Dân Tộc và Đạo Pháp, nói
nhiều lần sẽ thấy tự nhiên không có gì trở ngại, không chê, không khen ,
không thành kiến, không độc tôn, giống như Hòa Thượng đã nói, đã phát
biểu mà vẫn bình dị, khiêm cung, tận tâm, phục vụ.
Vào Mùa Tạ
Ơn, Giáo Hội Thống Nhất Tin Lành, the United Church of Christ dự định
phát động chương trình quảng cáo toàn quốc trên hệ thống truyền hình, mở
cửa, dang tay đón tiếp mọi thanh niên nam nữ đồng tình luyến ái. Lời
nhắn nhủ rất giản dị: “ Chúa không từ bỏ bất kỳ người nào, vì vậy Giáo
Hội đón nhận tất cả.” Nhưng các đài truyền hình không nhận lời quảng cáo
nói trên, vì cho rằng lời quảng cáo ấy sẽ gây nên nhiều sự chống đối
v.v…
Thế giới
ngày càng phức tạp. Tại sao không giản dị nó đi, tại sao không tuy hai
mà một, tuy một mà hai?
Tuy có mà không.
Tuy không mà có.
Trong chuyến
hành hương Ấn Độ cách đây gần 15 năm, phái đoàn Việt Nam do cố Hòa
Thượng Thích Đức Niệm cầm đầu, được hai vị sư Tích Lan ở Calcutta và Bồ
Đề Đạo Tràng thay phiên túc trực, hướng dẫn đi chiêm bái khắp nơi. Giờ
phút chia tay thật hết sức cảm động. Cảm động ở chỗ giản dị của nó. Hòa
Thượng chấp tay từ giã, hai vị sư Tích Lan cũng chấp tay từ giã như
không có chuyện gì xảy ra.
Về Mỹ một
thời gian nghe tin vị sư Tích Lan sắp sửa trùng tu chùa ở Bồ Đề Đạo
Tràng, Hòa Thượng gởi tiền cúng dường, âm thầm và giản dị như không có
chuyện gì xảy ra. Vị sư Tích Lan trẻ tuổi giờ đây đến Hoa Kỳ tu học,nghe
tin Hòa Thượng viên tịch, đến đảnh lễ di ảnh để trên bàn thờ, dấu vết
cuối cùng còn lại Hòa Thượng, không mồ, không tháp, cát bụi trở về với
cát bụi, nắm tro tàn đã rải xuống biển Thái Bình Dương, hòa với nước,
với sóng. Cuộc đời tuy có mà không, nhưng trong cái không ấy có vô lượng
cái có, cái có thường hằng của thể tánh Như Lai, hiện tượng và thể tánh
hòa thành một.
Không cần di
ảnh, tôi vẫn có thể hình dung một cách rõ ràng hình bóng Ngài, tôi vẫn
cảm thấy ngài ở bên cạnh, hiền hòa, dung dị, vừa khuyến khích đường tu ,
vừa ân cần trò chuyện…
Tưởng Niệm
T.N.Như Đức
Con xin phép
trở về quá khứ, những ngày Thầy còn dạy Ni trường Dược Sư, những ngày
rất bình yên của chúng con.
Lớp học nằm
một bên sân, cạnh cây Sapôchê già cỗi, gốc to sù sì đen bóng, một cái
giếng đậy miệng cẩn thận, mấy hàng bông vui vẻ đơm hoa lá rì rầm. Những
bộ bàn ghế học trò lên nước có thể soi mặt được vì ngày nào cũng có
người ngồi, áo lam nhật bình hay áo tràng rộng, quét mãi trên mấy mặt
bàn ghế. Ở đó chúng con để những trang qua khứ của mình trong cái hộp
bằng vàng, mỗi lần nhờ kỷ niệm , giở ra cẩn trọng.
Thầy dạy môn
Sử Phật Giáo Việt Nam. Con nhớ hình ảnh Thầy rất vui, luôn tạo không khí
sinh động cho môn học vốn đã hứng thú. Khi Thầy nói đến các vị thiền sư
một thời giúp vua giúp nước, Thầy cũng muốn gởi tâm huyết của mình, muốn
nhắn nhủ chúng con. Hoài bảo của Thầy, là chúng con phải học giỏi, tu
giỏi để có thể làm việc được, gọi là tiếp nối trang sử rực rỡ của người
xưa. Hồi đó chúng con chỉ cảm nhận, nhưng còn thói quen ham chơi, và đôi
lúc Thầy cũng phải thấy tội nghiệp khi có đứa vừa dứt câu niệm Phật…đã
ngủ .Trả bài thuộc lòng với Thầy, đôi lúc phải thông minh khi Thầy hỏi
những câu ngoài bài. Một vị Thầy trẻ, năng động, có nhiều nguyện ước cần
thực hiện, gởi những điều kỳ vọng của mình khi dạy các vấn đề liên quan
đến mạch sử quê hương.
Con hay bị
lôi kéo theo trí tưởng . Cuộc đời của các vị Cao Tăng thời kỳ đầu tiên
mở nước, có nhiều hành tung khó hiểu. Có vị ở ẩn non cao, cất am trong
mây, vui với chim rừng vượn khỉ. Có vị vào ra chốn triều đình, danh lợi
chức quyền trọng vọng. Có vị đầy huyền thuật, dời núi thâu đường, trị
bịnh vua quan. Các Ngài hiện diện bên cuộc đời thường, chung một niềm lo
nước nhà, hòa mình với mong ước của dân, đôi lúc chì là mong có mưa
thuận gió hòa để cày bừa gặt hái. Chỉ hé lộ cái siêu nhiên của mình lúc
sắp ra đi, việc cần làm đã làm xong, gởi cho môn đồ một cành mai y nhiên
sân trước. Con vừa kính phục mà cũng thấy khó đoán định, đâu là cách
sống thật.
Bài học Sử
Phật Giáo là điều chúng con khắc khoải, như hoài vọng của người tu sĩ
hôm nay. Khi con gặp lại Thầy, ở Los mùa hạ năm 2002, Thầy chừng như
chứng nghiệm đầy đủ. Tuy vậy,Thầy hiền từ điềm nhiên hỏi thăm công việc
chúng con, tỏ vẻ hoan hỷ và khuyến khích, bảo nên gắng làm Phật sự trong
khi còn có thể. Thầy cũng có nói về bịnh của Thầy, như là chuyện phải
bịnh, phải trị liệu, kiên nhẫn với mình. Thầy không nói chuyện lâu
được, và con cứ xót xa trong tâm. Khi Thầy vô phòng nghỉ rồi, con dạo
quanh vườn chùa, khuôn viên êm ả thanh tịnh, biết bao công lao chăm sóc
của Thầy để dựng lại hồn dân tộc trên nước người.
Kính bạch
Thầy, con nghe tin Thầy viên tịch, trong ngày vía đức Bồ Tát Quán Thế
Âm, bùi ngùi hướng về phương trời xa kính lễ. Thế giới vật chất có cách
trở nhưng gần gũi với chúng con, là hình ảnh Thầy dạy học ngày xưa, là
những điều tâm nguyện mà Thầy luôn nhắc nhở. Nghĩ về cuộc đời của Thầy,
về lẽ vô thường sanh diệt, nhân duyên của thân, nhân duyên của thời đại.
Con như được mở mắt ra. Con hết thắc mắc vọng tưởng về các bài học Sử.
Không cần phải tìm xa xôi. Thầy chính là cách sống, cách suy tư làm việc
của các bậc Tăng sĩ Việt Nam. Tùy thời, tùy hoàn cảnh, phù hợp với nhịp
sống quanh mình, làm hết khả năng của mình, luôn nghĩ đến an lạc cho
chúng sanh. Mọi thứ đều biến chuyển, hôm nay không phải ngày xưa nên
không thể đem khuôn mẫu nào để áp đặt. Thầy hiện diện trong từng ấy năm,
để lại cho chúng con một tấm gương rất thật, lời dạy và việc làm của
Thầy chỉ cốt vẽ cho chúng con đường phải đi tới. Tu học trong ý thức
Phật Đà, nhớ mình là người sống ở đời nhưng cũng là bậc xuất thế.
Con kính xin
dâng Thầy đôi lời thô thiển.
T.N.Như Đức
Hoài Niệm Ân Sư
Quảng Tịnh
Lòng từ bi độ tận chúng sanh
Trí sáng suốt giải tan phiền não.
Đó là hạnh
nguyện của chư Phật, Bồ Tát và cũng là hạnh nguyện của Hòa Thượng ân sư
thượng Đức hạ Niệm.
Vâng, hạnh
nguyện của Ngài đó! Phước duyên cho tôi được làm đệ tử y chỉ của Ngài
vào một ngày đầu thu của năm 2000 sau khi tôi đến nước Mỹ được 20 tháng,
mà tôi nghĩ rằng nhân duyên Thầy trò có lẽ từ kiếp nào còn sót lại trong
đời nầy cho tôi được trọn vẹn. Thật vậy, thời gian quá ngắn ngủi đối với
tôi, chưa tròn ba năm, nhưng ân nghĩa của Ngài như đã gói trọn tất cả
cho cuộc hành trình mà tôi đang đi tới.
Nhớ lại buổi
chiều đầu tiên đến Phật Học Viện chờ đợi trong sự lo sợ miên man ( chiều
hôm ấy Ngài đi khám bệnh) dù trước đó tôi đã gặp Ngài và chính Ngài đã
làm hồ sơ bảo lãnh khi tôi còn ở trại tỵ nạn Thái Lan vào những năm
1990-1996. Tối đến Ngài về cho gọi tôi vào, sau khi đảnh lễ vấn an và
xin được y chỉ, hỏi han đôi điều Ngài hoan hỷ nhận tôi làm đệ tử và có ý
định sẽ đưa tôi qua Đài Loan du học sau khi tôi có quốc tịch vì Ngài đã
tu học tại đó suốt thời gian 13 năm, với đức độ bao dung của Ngài tôi
cảm thấy an tâm như được rưới nước cam lồ sau cơn nắng cháy.
Sau đó, Ngài
bổ xứ tôi đến Chùa Phật Quang tại tiểu bang Oregon để hướng dẫn Phật
tử, tôi bắt đầu hành trang cho sứ mạng trong lo sợ.(Vì suốt 17 năm tu
học tôi làm việc dưới sự chỉ thị của Thầy tổ mà đây là lần đầu tôi phải
độc hành) Ngài biết sự lo âu của tôi nên luôn an ủi và hổ trợ tinh thần
tôi qua điện thoại hằng ngày sau khi làm lễ nhập tự trù trì. Ngài thường
nói chuyện với tôi bằng tiếng Quan thoại mà tôi biết rằng Ngài rất
thích. Trong thời gian này Ngài giáo huấn tôi rất nhiều cũng như hướng
dẫn cách làm việc bằng sự kể lại kinh nghiệm trong cuộc đời tu tập của
ngài. Nhiều lúc hầu chuyện tôi cũng hay khóc, vì nơi xứ lạ quê người một
mình trong mái chùa hiu quạnh chung quanh là những tang cây cổ thụ âm u.
Ngài thường an ủi tôi qua những vần thơ:
Đời Tăng sĩ bốn phương rảo bước,
Không nhà riêng không ràng buộc
tình đời.
Đem từ bi trang trải khắp nơi nơi,
Cho nhân thế vơi đi bao sầu hận
Là Tăng sĩ nguyện lao mình vào chiến
trận,
Thắng tham, sân ,si, mạn độc thù.
Nêu cao đèn chân lý khuyến đồng tu,
Cho nhân thế sạch hận thù tăm tối,
Là Tăng sĩ nguyện đem mình mở lối…
Và Ngài kết
thúc với giọng cười thông cảm tôi thấy nhẹ đi sự buồn tủi. Nhưng hình
như Ngài luôn khắc khoải ưu tư cho giáo hội cũng như giới Tăng Ni trong
tương lai vì mỗi khi tôi hầu chuyện Ngài thường nhắc đến và khuyến tấn
tôi tu tập để giúp đạo giúp đời. Với tôi Ngài như tang cây cổ thụ che
mát mà tôi chỉ là chồi non mới chớm nở. sau bảy tháng làm việc, vì sức
khỏe không thích hợp nơi xứ lạnh Ngài cho tôi trở lại Cali và cho phép
về San Jose mở đạo tràng để làm Phật sự cũng với danh hiệu Phật Quang Tự
mà Ngài giải thích: “ Ngoài ý nghĩa ánh sáng của Phật nhưng Thầy dùng
chữ đầu của Phật Học Viện và Quang Minh cho con đó”, từ con dấu, văn thư
cho đến pháp tự của tôi mỗi mỗi Ngài đều giải thích chỉ dạy rõ ràng. Tôi
thầm nghĩ Ngài muốn nhắc nhở tôi trong việc tu hành cũng như sự liên kết
của chúng tôi sau khi Ngài vắng bóng.
Từ đó, tôi
thường xuyên về Tổ đình vấn an sức khỏe Ngài nhưng không sao tránh được
sự xúc động khi thấy vóc dáng Ngài suy mòn dần, mà lòng bi mẫn không hề
giảm stú. Trong huynh đệ chúng tôi đôi khi không tránh được những lỗi
lầm nhưng Ngài luôn rộng lòng tha thứ. Cho dù sức đã mõi hơi đã tàn
nhưng Ngài vẫn cố gắng dạy cho chúng tôi những buổi học cuối cùng. Hình
ảnh ấy là gương sáng cho hàng đệ tử chúng tôi. Nhiều lần Ngài gặn hỏi
tôi: “ Con cần gì sư phụ sẽ lo cho con, tôi chỉ trả lời: con không cần
gì cả con chỉ cần Sư Phụ bình phục sức khỏe mà thôi…!Ngài nhìn tôi với
ánh mắt hiền hòa thấu hiểu, dù tôi chỉ là đệ tử sau nầy nhưng Ngài xem
tôi như chúng xuất gia của Ngài. Tôi nhớ mãi nhân ngày vía Quan Thế Âm
tháng 9 năm Canh Thìn, sau buổi lễ bạch Phật cho tôi nhập chúng nơi
chánh điện tạm tại giảng đường (chánh điện mới đang xây) Ngài bảo tôi
hãy gọi Ngài là Sư Phụ như huynh đệ ở đây và thường nói với chúng tôi
trong những lần họp chúng; “ Với cương vị là Thầy của các con nhưng vừa
là cha là mẹ và cũng là bạn của các con nữa”. Ôi! Lời nói ấy sao mà thân
tình quá luôn đậm nét trong tôi , nếu không có tấm lòng quảng đại thì
làm sao thốt lên được những lời nầy? Do vậy, những nỗi vui buồn tôi đều
tâm sự thỉnh ý Ngài. Tôi ít nhiều cũng học được nơi Ngài về thân giáo
cũng như khẩu giáo “ nhẫn nhục chịu đựng”. Sự từ hòa ưu ái của Ngài đã
giúp tôi thêm phần nghị lực, tôi như thay đổi hẳn trở thành một con
người mới vì ngày xưa với “Thầy Tổ” tôi cũng là một “nghịch tử” sân si
chấp ngã và phiền não dẫy đầy.
Ngày tháng
qua dần, đầu năm Quý Mùi (2003) tôi về khánh tuế vấn an như thường lệ.
Trên giường bệnh nhìn thấy thân tứ đại Ngài sắp tan rã, tôi xót xa đảnh
lễ và quỳ bên cạnh với những dòng lệ tuôn trào, Ngài nhìn tôi vẫn ánh
mắt từ hòa với nụ cười yếu ớt thều thào nói: Thầy tưởng không còn gặp
con nữa và dạy tôi rằng: “ Sau nầy dù Thầy đã viên tịch con nên nhớ đây
là Tổ đình phải về cùng huynh đệ và thăm Thầy nha con.” Lời nói này tôi
đã gặp lại trong giấc mơ sau ngày chung thất.Những lời Ngài nói càng làm
cho tôi khóc nhiều hơn vì biết đó là lời vĩnh biệt, Ngài sắp rời bỏ
chúng tôi trong cõi trần ô trược này,chúng tôi đang sống trong bầu trời
u tịch. Sau hai ngày tôi lại về lo Phật sự tại San Jose trong nỗi buồn
khôn tả.
Những ngày
cuối đời Ngài tôi trở lại luôn bên giường bệnh cùng chư Tôn đức, huynh
đệ niệm Phật cầu nguyện và Ngài đã an nhiên ra đi với hạnh nguyện đại từ
đại bi của đức Quán Thế Âm Bồ Tát vào ngày 19 tháng hai năm Quý Mùi (
vía Quán Thế Âm). Chư Tôn đức khắp nơi vân tập về lo đám tang lễ của
Ngài. Sự mất mát không chỉ riêng cho hàng đệ tử xuất gia, tại gia chúng
tôi mà giáo hội từ đây cũng mất đi người bạn đồng hành cùng chung chí
hướng, biết bao người rơi lệ tiếc nuối, khóc thương, Ngài đã thật sự
vĩnh biệt tất cả để trở về cõi tịch tịnh, bỏ lại chúng tôi như những trẻ
mồ côi trong tháng ngày trống vắng. Thời gian lặng lẽ trôi qua, cát bụi
trả về với cát bụi. Tro cốt Ngài dạt dào trôi theo dòng nước trở về biển
cả mênh mông…!
Theo di giáo
của Ngài trước khi viên tịch, chúng tôi xin y chỉ với Hòa Thượng Khánh
Anh thượng Minh hạ Tâm tại Pháp quốc.Lễ y chỉ được cử hành trước ngày di
quan Ngài, có lẽ Ngài rất hoan hỷ với sự tuân chỉ của huynh đệ chúng
tôi. Nhờ ơn đức Ngài để lại, Hòa Thượng y chỉ cùng chư tôn đức luôn quan
tâm, từ bi thương xót thường về Phật Học Viện hướng dẫn, giảng dạy trong
những khóa học, giúp chúng tôi vơi đi sự lạc long bơ vơ. Chúng tôi
nguyện cùng nhau nỗ lực tinh tấn trên bước đường tu học để được báo đáp
ân Ngài trong muôn một.
Hạnh đã
tròn, nguyện đã mãn, Ngài đã đem hết tâm lực cả cuộc đời phụng sự cho
nhân loại, tổ đình giờ đây còn lưu lại biết bao dấu tích của Ngài, thân
giả huyển của Ngài không còn nữa nhưng âm vang còn vọng mãi đó đây.
Riêng tôi,
mỗi khi về lại Tổ đình thắp nén tâm hương quý trước di ảnh Ngài hồi
tưởng lại những tháng ngày qua lời Ngài dạy bảo như còn văng vẳng bên
tai. Dẫu biết rằng thân là cát bụi, hư không hoàn trả hư không, nhưng
trong tôi bóng hình Ngài luôn hiện hữu!
Hòa lòng nhân ái tìm chân lý,
Thượng cầu Phật quả độ phàm nhân,
Đức hạnh cao sâu xứng bậc Thầy,
Niệm tình đồ chúng rộng từ bi,
Ân Thầy, cha mẹ đà hiếu trọn,
Sư thung dung thẳng tiến liên đài.
Nguyện cầu
giác linh Ngài thượng phẩm thượng sanh, chứng đắc vô sanh pháp nhẫn thể
nhập đại nguyện, hoàn lai Ta bà phổ độ chúng sanh như bổn nguyện.
Ngưỡng
nguyện giác linh Sư Phụ nơi liên đài chứng giám hằng gia hộ cho huynh đệ
chúng con cùng nhau vững bước trên con đường tu tập, phụng sự chúng
sanh, báo Phật ân đức như hạnh nguyện của Sư Phụ.
Nam Mô Giác
linh Hòa Thượng ân sư thượng Đức hạ Niệm thùy từ chứng giám.
Đệ tử Quảng
Tịnh .Thành tâm khấu bái.
Phật Quang,
ngày xuân nhớ Thầy. (2004)
Tưởng Nhớ Thầy
Hồ Hương Lộc
Nhìn theo gió núi mây
ngàn
Lá hoa cây suối miên man
nhớ Thầy
Tưởng chừng giọt lệ vơi
đầy
Sắc Không tự tại tiếng
Thầy âm vang
Đường về Phật quả thênh
thang
Hóa sanh thị hiện cứu
ngànsinh linh
Tháng ngày phụng thỉnh
tâm kinh
Độ sinh hạnh nguyện tử
sinh sá gì
Hương hoa trầm quả uy
nghi
Lọng phang trướng liễn
đường thi tiễn Thầy
Thời gian ngừng lại ở
đây
Thiên thu khoảnh khắc
giờ nầy trăm năm
Chữ tu hòa quyện chữ tâm
Bóng Thầy tỏa sáng trăng
rằm muôn nơi.
Phật Học Viện Quốc Tế-Ngày tiễn đưa
Thầy
Hình Bóng Ân Sư
Càn Mộc
Mỗi tối,
huynh đệ chúng tôi thay phiên nhau vào xoa bóp Sư phụ.Trên 20 năm bị
bệnh tiểu đường,bây giờ đã chuyển tới gan, ung thư, chứng nào cũng nan y
cả, Ngài đều nhẫn chịu chẳng buồn than. Những chứng bệnh này đã làm cho
Sư phụ ốm yếu hẳn ra, đứng đi khó khăn, mặc dù lúc nào Ngài cũng hết sức
cố gắng. Chính vì phải nằm nhiều trên giường bệnh nên tứ chi thân thể
của Sư phụ thường hay bị nhức mỏi; nếu không được xoa bóp thì Ngài sẽ
nhức mỏi không thể ngủ được, và như vậy, bệnh vốn đã nặng lại càng nặng
thêm. Vì vậy, dù Sư phụ chẳng kêu, chẳng bảo ai phải lo cho mình, mà
huynh đệ chúng tôi và vài Phật tử như chú Từ Vân, Chơn Quang, Quảng
Nguyện và chú Nguyên Long tự thay phiên nhau xoa bóp. Riên tôi vì bận
Phật sự nên không được xoa bóp hằng đêm cho Sư phụ mà 3,4 đêm mới qua
tịnh thất xoa bóp một lần.
Tôi còn nhớ
rất rõ, vài tháng trước khi Sư phụ viên tịch, có đêm nọ, tôi và chú
Quảng Nguyện đang xoa bóp cho Sư phụ. Sư phụ đang nhắm mắt, bổng mở ra
nói rất rõ:
-Nãy giờ Thầy thấy thế
giới Cực Lạc, đẹp quá!
-Bạch Thầy, Thầy thấy gì
? Tôi hỏi.
-Thầy thấy rất nhiều hoa
sen rực rỡ màu sắc, ở trong nhiều hồ thiệt lớn, thiệt sáng, thiệt đẹp.
-Bạch Thầy, Thầy có thấy
đức Phật A Di Đà không?
-Thầy, nhưng chỉ thấy
Phật đứng ở đằng xa.
Tôi nghe Thầy nói như
vậy, mừng quá, tôi nhìn chú Quảng Nguyện nói: Chú có nghe Sư phụ nói
không, Sư phụ thấy cõi Cực Lạc đó.
Chú Quảng Nguyện cười
nói: Thưa Thầy, chắc tại Sư phụ đau quá nên nói sảng đó. Tôi không đồng
ý: Nói sảng à ? Đâu có. Tôi nghe Sư phụ nói rõ ràng lắm mà.Chú nói tiếp:
Dạ không. Sư phụ nói sảng đó. Để con thử cho Thầy coi. Nói xong, tay Chú
chỉ tôi, thưa cùng Sư phụ:
-Bạch Sư phụ, Sư phụ có
biết Thầy nầy là ai không?
-Sao không biết.Minh Chí
chứ ai.
-Còn con là ai?
-Quảng Nguyện chứ ai. Bộ
con tưởng Thầy bị mê nên nói sảng sao? Thầy còn tỉnh táo lắm, có mê đâu
mà nói sảng.
Biết được Sư phụ hoàn
toàn tỉnh táo kể cho chúng tôi nghe chuyện Ngài thấy cõi Cực Lạc, thấy
Phật, hào quang, ao liên trì v.v …tôi mừng lắm vì đón nhận được “ Tin
Tức Trời Tây” chính là mục đích của tất cả những người tu theo Pháp Môn
Tịnh Độ.
Đọc những
sách kể về cuộc đời của các bậc cao tăng tự tại với sự sống chết. Tôi
rất ngưỡng mộ quý Ngài. Nhưng dù sao, đó cũng chỉ là chuyện kể lại, có
những lần Sư phụ phải kêu lên khi y tá chích những mũi kim thật lớn vào
người. Tôi hiểu và vô cùng thông cảm, dù sao thì cũng là thân người; cái
thân tứ đại làm sao tránh khỏi sự đau đớn trước khi chúng phân ly. Chính
Ngài Giới Hiền, một cao tăng đắc đạo, Thầy dạy Phật Pháp cho Ngài Huyền
Trang, bị bệnh nghiệp hành đau chịu không nổi còn muốn tự tử. Nhờ có
phước duyên đã được Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền báo mộng cho biết đó là
nghiệp báo sát sanh của kiếp trước đáng lẽ phải đọa tam đồ, nhưng nhờ
tinh tấn tu hành mà chuyển thành quả báo nhẹ trong hiện tại. Chư Bồ Tát
cho Ngài biết ba năm sau sẽ có một vị Tăng tên Huyền Trang ở Đại Đường
đến cầu học Phật Pháp với Ngài, vì vậy cần nên sống để trả quả báo nhẹ
hiện tại và dạy Phật Pháp cho Ngài Huyền Trang. Điều quan trọng mà tôi
muốn biết là tâm của Sư phụ tôi có “đau” không. Và để tự mình mắt thấy
tai nghe mà không cần xuyên qua sự kể lại của sách vở, tôi đã trực tiếp
hỏi Sư phụ những câu hỏi mà dường như không một người đệ tử ngoan nào
lại dám hỏi Thầy mình như vậy.
Một hôm, đang lúc xoa
bóp, tôi hỏi:
-Bạch Thầy, Thầy có sợ
chết không?
-Làm sao mà sợ chết.
Thầy còn cầu nguyện đi sớm để khỏi làm khổ các con. Các con thấy Thầy
nằm trên giường tưởng là Thầy lúc nào cũng ngủ sao?Nhiều đêm Thầy thức
niệm Phật tới 3,4 giờ sáng. Thầy cầu nguyện Phật gia hộ cho Thầy được đi
sớm. Thầy không muốn vì Thầy mà các con bị khổ lây.
-Bạch Thầy, Thầy có
luyến tiếc gì không?
-Thầy có cái gì đâu mà
luyến tiếc. Đâu có cái gì là của Thầy.
-Bạch Thầy, nếu Thầy
không luyến tiếc sao hồi trưa, lúc đi bộ mệt Thầy không ngồi nghĩ mà lại
xoay ghế vào ngồi nhìn chánh điện mới.
-Chánh Điện thật sự chưa
hoàn tất. Đã lâu rồi, Thầy không biết công việc xây cất tiến hành ra
sao, nên Thầy nhìn kỹ để cân nhắc Phật sự cho mấy đứa con. Cái thân giữ
còn không được, tiếc cái chùa để làm gì.
Thầy trả lời
rất chậm rãi, hiền hòa, điềm đạm, không lộ vẻ buồn bực nào khi đệ tử
xuất gia thân tín hỏi mình như vậy.
Sau này,
nhân lúc nhớ Thầy, tôi cảm tác bài thơ sau đây:
Dìu dịu mặt hồ bóng nhạn bay
Suốt đời vì đạo lòng không phai
19 tháng 2 trời Tây gọi
Thầy về “ Quê Cũ” nhập Thánh Thai.
Tịnh thất ngày nay vắng bóng Thầy
Tùng xanh ngơ ngác bên rèm mây
Trúc biếc nghiêng mình vào hong cửa
Hình bóng Ân Sư thoáng đâu đây.
Vườn Thiền thao thức dáng thầy “Quê”
Sớm chiều chăm sóc bận muôn bề
Kiến tạo cảnh chùa cho bá tánh
Vào đất Già Lam thoát u mê.
Trống vắng lòng con nhớ đến Thầy
Tùng xanh trúc biếc vẫn còn đây
Cánh nhạn ngày xưa giờ đâu nhỉ
Mặt hồ in bóng áng mây bay.
Buổi sáng mùa đông nhớ
đến Thầy
Càn Mộc
Thầy Đi Như Ước Nguyện
Thích Quảng Định
Năm đó,nhân
đi lễ Vu Lan và nghe giảng tại chùa Bát Nhã ở Santa Ana, tình cờ một
Phật tử khi biết tôi ở vùng Los Angeles nên cho tôi địa chỉ của Phật Học
Viện Quốc Tế và khuyên tôi nếu có dịp nên đến đây. Tôi liền lái xe tìm
đến, đúng vào dịp Viện đang tổ chức Đại Lễ Vu Lan. Hồi còn ở Việt Nam,
tôi cũng thường theo Bà hoặc mẹ đi chùa Ấn Quang vào các ngày vía, đặc
biệt là các lễ lớn như Vu Lan, Phật Đản.Nhưng có lẽ đây là lễ Vu Lan có
ý nghĩa nhất vì nó đã tạo sự chuyển biến lớn cho cuộc đời của tôi. Lần
đó, cũng như thường lệ, trước khi cử hành lễ cầu nguyện mùa Vu Lan, Sư
phụ nói về ý nghĩa lễ Vu Lan và công ơn của cha mẹ, đặc biệt là mẹ. Lời
sư phụ bình dị, đơn giản nhưng hàm súc và tạo nhiều ấn tượng sâu sắc.
Hôm đó tôi rất xúc động với những lời Ngài giảng. Kể từ đó, tôi cảm thấy
có diễm phúc kết được thiện duyên với Sư phụ và thường xuyên lui tới
Phật Học Viện tụng kinh, nghe giảng và làm công quả. Đặc biệt nơi Sư phụ
là, dù thuyết pháp trong chánh điện hay nói chuyện bình thường khi ở
ngoài, ngay cả trong những lúc vui đùa, Ngài vẫn cho thấy một sự rõ
ràng, quyết tâm là con người phải tu hành để giải thoát, phải sớm lìa bỏ
dục lạc, phải biết rằng được gặp chánh pháp là một đại hạnh, đừng để
vuột đi, rất uổng phí. Sư phụ thường kể chuyện con rùa mù dưới đáy đại
dương, một ngàn năm mới trồi lên mặt biển một lần. Trên mặt biển có một
tấm gỗ đang nổi trôi và giữa tấm gỗ có một cái lỗ nhỏ vừa đủ cho cái đầu
con rùa. Thử hỏi đến bao giờ mới có được cơ may khi con rùa mù một ngàn
năm mới nổi lên mặt biển và đầu của nó chui qua được cái lỗ nhỏ của tấm
gỗ? Phải nói là hy hữu nếu không nói là khó có thể xãy ra. Mang được
thân người, gặp được Phật pháp cũng khó như vậy. Do đó, Thầy luôn luôn
khuyên mọi người nên tu kẻo không kịp và tốt nhất, nếu có thể là xuất
gia. Tôi đã xin Sư phụ chính thức xuất gia sau một năm gặp và nghe Ngài
khuyên giảng.
Sau khi
nhập chúng, tôi có dịp thấy và học nhiều hơn nếp sống đơn giản, tinh tấn
và luôn luôn duy trì thanh quy cổ kình trong chốn thiền môn của Sư phụ.
Sống giữa một đất nước nổi tiếng là giàu có, vật chất và tiếnn bộ nhất
thế giới mà áo quần thường ngày trong chùa của Ngài nhiều khi vá năm vá
bảy, sinh hoạt của riêng Sư phụ cũng như của Tăng chúng trong chùa,Ngài
cố gắng duy trì như cách đây trên nửa thế kỷ tại những ngôi chùa xưa. Sư
phụ vẫn ăn chung với chúng mãi cho đến khi Ngài bị bệnh nặng. Tuy lớn
tuổi,nhưng Sư phụ vẫn thường mặc áo mang giầy ra vườn làm việc với các
huynh đệ chúng tôi. Tôi hiểu qua lối sống của Sư phụ, Ngài muốn dạy cho
chúng tôi biết rằng “ tín thí nan tiêu”. phải tiết kiệm và tinh tấn tu
học, tinh tấn làm việc, tinh tấn phụng sự để không bị tổn đức và xứng
đáng với sự cúng dường của tín thí.Trên hết, lối sống đơn giản, bình dị,
tinh tấn làm việc cũng như tu học là phương thức hữu hiệu để thúc liễm
thân tâm của những người quyết tâm muốn tìm cầu sự giải thoát. Sư phụ
không thích ngồi nói chuyện phiếm vừa mất thì giờ vừa dễ loạn tâm, ngoại
trừ phải xã giao khi tiếp khách. Giờ giấc của Ngài, ngoài việc tu niệm,
là dịch kinh, viết sách, đọc sách, dạy Tăng chúng và làm vườn, tưới cây…
Tôi cũng quý
phục và học hỏi phong cách tiếp xử của Sư phụ. Đối với Phật tử, bất luận
họ là ai, già hay trẻ, Ngài luôn luôn niềm nở, vái chào thăm hỏi. Đối
với chư tôn đức, cách tiếp xử của Sư phụ đặc biệt biểu lộ sự quý trọng.
Ngay đối với chúng Tăng thuộc hàng hậu học, Ngài cũng khiêm cung, vui vẻ
và ân cần tiếp chuyện. Như để hướng dẫn và nêu những gương sáng cho
huynh đệ chúng tôi noi theo, Sư phụ thường dẫn chứng những thân giáo,
khẩu giáo và ý giáo của các bậc tôn túc mà Ngài đã có thiện duyên thân
cận, học hỏi.Ngài luôn luôn nhấn mạnh và thường xuyên nhắc lại “ Giới
luật còn, Phật pháp còn”.Về cách ứng xử khi đi làm Phật sự, Sư phụ dãy
bảo chúng tôi, đại khái: ở đời, ai cũng muốn tranh thắng, tranh hơn, từ
đó, gây ra hận thù, đố kỵ, đánh phá,chiến tranh…Để Phật sự được dễ dàng,
các con nên tập thua người thay vì muốn thắng, muốn hơn người. Được như
thế là mình tránh được những cơn sóng hận thù, đố kỵ, đánh phá…và như
thế ,một cách âm thầm, không cần phải đối phó,mình đã vượt thắng được
nhiều nghịch cảnh chướng duyên và quan trọng hơn, mình đã tự thắng được
chính mình, một sự chiến thắng ít người làm được.
Nhưng trên
hết, điều mà ảnh hưởng sâu sắc, vững mạnh đến tâm nguyện xuất gia của
tôi cũng như của tất cả huynh đệ là nội tâm của Sư phụ. Nội tâm của Ngài
được thể hiện ra bên ngoài là sự kiên định, thâm tín Tam Bảo. Mọi hoạt
động và sinh hoạt của Ngài đều quy hướng vào sự tôn kính chư Phật, hoằng
truyền chánh pháp và đền đáp thâm ân của Thầy Tổ. Ngài xây dựng, thiết
trí các tôn tượng của chư Phật và Bồ Tát, Ngài diễn giảng, viết dịch và
ấn hành kinh sách, Ngài thường xuyên nhắc đến Thầy Tổ…tất cả luôn luôn
biểu lộ sự chí thành, tha thiết, hăng say, tinh tấn không mỏi mệt.
Không biết
là một sự ngẫu nhiên trùng hợp hay Sư phụ có thiện ý quyết định: ngày
thế phát cho tôi nhập chúng nhằm ngày vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát; rồi
tiếp đến, ngày cho tôi thọ Sa Di cũng như sau đó ngày thọ Tỳ Kheo đều
đúng vào dịp vía Quán Thế Ấm. Ngay đến sự vô thường, sau bao năm chống
chọi với chứng bệnh nan y, Sư phụ đã xả bỏ báo thân đúng vào ngày vía
Đức Quán Thế Âm.
Thật tình
tôi không xúc động lắm khi Sư phụ vĩnh viễn ra đi vì nghĩ rằng Ngài đã
giải thoát được cái thân tứ đại già yếu,bệnh hoạn. Tôi chỉ tiếc rằng
mình đã thật sự không còn nữa một vị Tôn sư để làm nơi nương tựa trên
bước đường tu học và hành đạo. Từ thâm tâm, bên cạnh sự tiếc nuối, tôi
có niềm an lạc vì Ngài viên tịch đúng vào ngày vía Đức Quán Âm, tôi nghĩ
đó là ngày Sư phụ ước nguyện và chọn lựa. Mặt khác, đó cũng là ngày mà
Sư phụ có dụng ý cho chúng tôi thọ giới để được sức gia trì của một vị
Bồ Tát thường được tượng trưng như một người mẹ hiền mà tôi đã nghe
giảng lúc mới bước chân đến Phật Học Viện diện kiến Ngài lần đầu.
Khóc Thầy
Thích Nữ Đức Thường
“Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng
Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền”.
Thật vậy, ơn
nghĩa thầy tổ sâu nặng, Thầy cho ta giới thân huệ mạng, nhờ Thầy mà ta
được xuất gia học đạo, được đầu tròn áo vuông, nương nhờ cửa Phật, sớm
kệ chiều kinh, tìm về nẽo Chơn Như giác tánh. Ôi , ơn nghĩa ấy thật khó
đáp đền.
Nhớ lại khi
xưa tôi có nhân duyên được biết Thầy từ thời kỳ tranh đấu Phật Giáo
khoảng 1963 ở Sàigòn, rồi khi đất nước Việt Nam thay ngôi đổi chủ năm
1975. Lúc ấy người dân Sài Gòn khắp nơi loạn lạc vì sợ bổn mạnh khó được
yên, nên ai cũng tìm đường trốn chạy. Năm 1980, tôi cùng gia đình vượt
biên sang Mỹ quốc. Tôi tìm Thầy khắp nơi nhưng không gặp, mãi đến cuối
năm 1982 tôi mới gặp lại Thầy ở tiểu bang California.
Ngày đó tôi
đến Phật Học Viện Quốc Tế, gặp lại Thầy trong niềm vui mừng không sao tả
xiếc, vì đã gần hai mươi mấy năm Thầy trò xa cách giờ mới gặp lại nhau
nên không tránh khỏi sự xúc động, bao nhiêu kỷ niệm xa xưa chợt ùa về
trong lòng tôi như mới hôm nào.
Sau đó tôi
nhắc lại khi xưa ở Việt Nam Thầy bảo tôi rằng “ Cô có tướng xuất gia
làm người tu hành được, vậy hãy xuất gia đi”. Nhưng cái gì cũng phải đủ
nhân đủ duyên mới thành tựu, lúc Thầy bảo như thế trong lòng tôi còn
nhiều lo âu, vì đàn con dại khờ. Lúc ấy tôi thưa cùng Thầy: “ Khi nào
con xuất gia được xin Thầy tế độ cho con”. Thầy đã hoan hỷ hứa khả. Rồi
thời gian trôi qua và trôi mãi như dòng đời bất tận , nay gặp lại Thầy
thì dòng đời tôi dừng hẳn ở lại từ đây.
Vào một ngày
đẹp trời trong mùa Phật Đản 1983, Thầy làm lễ thế phát xuất gia cho tôi,
sau đó ba ngày được Thầy cho thọ giới Sa di ni ở tại Phật Học Viện Quốc
Tế. Nhưng tôi không đủ phước duyên hầu hạ họi hỏi nơi Thầy. Tôi xuất gia
thọ giới với Thầy mà ở trú xứ khác, lâu lâu tôi đến thăm Thầy và ở lại
Viện một vài ngày thôi rồi lại xa Thầy.Mấy năm sau cùng của đời Thầy,
tôi thường lui tới thăm nom nhiều hơn, nhưng thật buồn thay, tôi thì
tuổi già sức yếu nên không thể chăm sóc hầu hạ Thầy cho trọn nghĩa Thầy
trò, điều đó Thầy cũng hiểu và thông cảm. Lúc nào Thầy cũng khuyên tôi
rằng, Cô già rồi nên cố gắng niệm Phật, và mỗi lần đến thăm , Thầy luôn
ân cần nhắc nhở như thế.
Có lần Thầy
trò nhắc lại chuyện xưa khi còn ở Ấn Quang, tôi lúc ấy là một Phật tử
luôn đứng chung với quý Thầy trong chiến hào, hết lòng tranh đấu cho
Phật giáo.Những lúc xuống đường tuyệt thực, tôi luôn theo sát bên quý
Thầy để ủng hộ cùng đòi quyền tự do cho Phật giáo. Tôi đội từng thúng
rau vượt qua rào cảnh sát để lén trao qua cửa hậu của nhà Phật tử thông
qua sân chùa Ấn Quang cho quý Thầy đang bị phong tỏa bên trong. Những
lúc như thế có khi xảy ra kéo dài cả tuần lễ làm quý Thầy trong chùa
không có thức ăn…những lúc khó khăn gian khổ như vậy mà tình thầy trò ôi
sao mà gần gủi và thân thương làm sao ! Bây giờ nhắc lại những ngày
tháng ấy Thầy trò cười ra nước mắt.
Tình nghĩa
Thầy với đệ tử cũng như cha mẹ với con cái, cha mẹ thì luôn lo chăm sóc
cho con và con thì nương vào bóng của cha mẹ. Cha mẹ dắt dìu từng bước
chân con trẻ, Thầy thì hướng dẫn cho đệ tử đi vào cửa đạo, tìm đường
giải thoát khổ đau. Thầy là người thây thế Đức Phật soi sáng con đường
trí huệ thênh thang, cho con lời dạy chân tình và tạo điều kiện nào để
phù hợp với căn cơ của đệ tử, cho đệ tử tu tập đạt sự an lạc ngay trong
cuộc sống này. Ôi , nói đến ơn giáo dưỡng của Thầy thì như bể rộng sông
dài không bao giờ kể hết.
Rồi một ngày
trời buồn ảm đạm, Thầy trút hơi thở cuối cùng trở về an nghĩ cõi Niết
Bàn như hạc vàng vỗ cánh bay xa! Thầy ra đi vội vã trong lúc tuổi của
Thầy chưa đến đổi già, đáng lẽ Thầy phải ở lại với chúng con vài chục
năm nữa để đàn con của Thầy kịp lớn khôn trong giáo pháp. Thầy ra đi bỏ
lại đàn con hơn 20 vị như nhạn lạc bầy. Ôi! Thầy ra đi để lại nơi Phật
Học Viện nầy một khoảng trống vô cùng. Bây giờ những ngày trở lại nơi
đây cảnh cũ còn đây nhưng không tìm đâu ra hình bóng Thầy nữa! Tôi đi
lại trong vườn chùa, trong phòng học, phòng ở của chư Tăng và đến phòng
Thầy khi xưa, hình bóng Thầy lại hiện về trong lòng tôi và hình ảnh ấy
còn in đậm khắp nơi trong khuôn viên của Phật Học Viện Quốc Tế.
Nhìn những
tủ đựng sách đầy ấp và thứ tự, trong đó biết bao là công lao khó nhọc
của Thầy còn để lại cho hậu thế. Chúng con từ đây phải nương vào sách
vở, vào lời dạy của Thầy còn chứa đựng trong đó. Đến nhìn vào căn phòng
khi xưa, Thầy hay ngồi tả kinh trên chiếc nghễ gỗ mà trên án thư luôn
luôn có vài quyển kinh dày, bây giờ căn phòng thật trống trãi quá! Tôi
buồn bã bước vòng ra phía khu vườn sau nơi hòn non bộ có Đức Bồ Tát Quán
Thế Âm, nơi nầy khi xưa thầy còn khỏe mạnh. Thầy cùng chúng Tăng đã tạo
ra, và những khi nhàn rỗi Thầy thường ra đứng đây xem đàn cá vàng nhởn
nhơ trong nước để quên đi sự mệt nhọc sau những giờ làm việc. Đi đến nữa
là Tàng Kinh Các, kho chứa kinh sách Thầy thường lui tới xem xét chăm
sóc. Bên cạnh đó là những gốc cây lựu đầy trái sum xê, cây nhãn, đào
lông, hồng giònv.v.. tất cả đều là dấu tích của Thầy đã tạo ra.Không nơi
đâu mà không in hình bóng của Thầy.
Nhưng không
hình ảnh nào in sâu trong tôi bằng hình ảnh của Thầy khi xưa ở Ấn Quang.
Thầy thường đi chiếc xe đạp cọc cạch cũ kỷ. Vậy mà nơi đâu Thầy cũng đạp
xe tới để giảng pháp, dạy học , làm bổn phận “ Như Lai Sứ Giả”.Hình ảnh
một Thầy mộc mạc ấy nhưng đầy ấp chữ nghĩa và tình người sâu đậm trong
lòng. Tôi nhớ Thầy thích món bánh chưng và chả lụa, nhưng sau này do
bệnh tiểu đường nên Thầy kiêng cử. Tuy vậy, mỗi lần đến thăm Thầy tôi
cũng không quên mang theo những thứ ấy để dâng Thầy.
Nếu nói về
Thầy thì tôi còn nhiều kỷ niệm và đầy ân nghĩa không sao nói hết trong
một vài trang giấy nầy, nhưng để góp vài dòng vào lưu niệm trong tập Kỷ
Yếu để nhớ về Thầy nên tôi mạo muội viết lên niềm tưởng nhớ ân sư, mà
nghĩa ân sư thì muôn thuở vẫn trong lòng tôi. Tôi nguyện trong đời tu
hành của tôi nếu có được chút công đức nào, xin nguyện dâng lên cúng
dường hồi hướng Giác linh Thầy được tự tại nơi cõi Niết Bàn.
Đệ tử, Thích Nữ Đức Thường
Thành tâm khấp bái
my Master
Chơn Quang
My first
memory of my Master, the Venerable Dr. Thich Duc Niem, was in 1983. I
was only a child. My parents took my brother, sister, and I to the
temple for the weekly sermon. While my mother was inside chanting
Buddhist sutras, my siblings and I slept in the car. My father, on the
other hand, usually wandered around the garden and rarely did he
participated in the sermons.
The scene I
just described was in stark contrast to those years when my family and I
were in Viet Nam. In Viet Nam, I could easily immerse myself into the
temple. It was grand: the red pillars were high and large, engraving of
dragons swirling around the pillars made it feel majestic and mystique,
ample statues of Buddahas and Bodhisattvas provided warm sanctuary for
worshippiers, and the architecture was uniquely Vietnamese with its
curvy roof-top. In essence, temples in Viet Nam had that religious
atmosphere in which I felt comfortable being there, chanting Sutras,
listening to Dharma Talk, or playing with other children. In 1983, that
religious atmosphere was not present in America. The reason was simple.
My family
and I were refugees. As newly arrived immigrants, we were anxious to
start our life anew. America provided us an opportunity to acquire a
meaningful education and a more stable and prosperous career. More
importantly, America offered us freedom. However, America could not
provide us a place of worship. We were Buddhists living in a new land
where the majority of the population fofflowed the Christian faith. We
needed a place of worship where a religious leader was able to speak our
language, understand our religious beliefs, and relate to our hardships
as newly arrived immigrants. My Master, in his capacity, filled that
void for my family and many other Vietnamese refugees who were searching
for a place of worship.
He converted
a four-bedroom home into a Buddhist monastery. The newly established
organization was named Phat Hoc Vien Quoc Te (Institue of International
Buddhist Studies). Even though it was small, our temple was cozy and
warm. And on one Sunday afternoon in 1983, my Master gave me an apple.
He then gently rubbed my head and said softly, “Be a good boy ok? (con
ngoan nha)” This was my first memory of my beloved Master.
I have many
fond and heart-felt memories of him, particularly within the past five
years. He was a man of great virtues. I will describe two of those
virtues to share with the reader and provide a glimpse as to why so many
people around the globe respect and admire him.
In Decemeber
2001, my Master was diagnosed with a mass in his liver. Both of his
doctos, the Gastroenterologist and the Oncologist suspected he may have
liver cancer. The only way to confirm if he had the disease was to
perform a liver biopsy, where a Radiologist insert a small and olng
needle into the right-side of his abdomen and extract a tissue from the
liver. The tissue would then be sent to the lab for tests to confirm
whether the result was benign or malignant.
The liver
biopsy failed miserably. Before the Radiologist could get the result, my
Master suffered internal bleeded from the procedure. The doctors and
nurses rushed him to the Intensive Car Unit (ICU). His blood pressure,
oxygen level, and pulse were abnormal, all cause by the bleeding. My
Master was in extreme pain, particularly from the chest down to his
abdominal area. A deep breath or a subtle body movement would cause him
great discomfort, and he was given pain medication accordingly.
One morning,
I came to visit him at the ICU. It was three days after the liver
biopsy. My Master’s condition was listed as critical, but “stable”. He
had an oxygen tube in his nose, IVs in his veins, and a tube inserted
into his body to withdraw the excess bleeding. My Master was laying
upward on his bed. He looked very pale and in his fragile voice he asked
me, “Have you had breakfast?” and “did you sleep well last night?”
In normal
circumstances, these two questions may sound mundane. I can not recall
how many times my friends, teachers, and family members have asked my
these same questions, but never did “Have you had breakfast?” and “did
you sleep well last night?” sounded so deeply meaningful. The questions
were thoughtful. They were simple and unpretentious. They were
heart-warming.
The story I
just described is one example of my Master’s virtues. He was a
considerate and kind human being. He thought for the benefit of others
before he considered his own well-being. He respected those above him
and was humble towards those below him. And above all, he was genuine.
In Februaury
2002, my Master sent a delegation to do charitable work in Viet Nam.
Along Highway 1, the delegation went through provinces and districts
from south to north Viet Nam. They visited hospitals, ceners for the
disabled and the elderly, and elementary schools to donate money, food
and medicine. My Master’s disciple and successor, the Venerable Thich
Minh Chi, headed the delegation.
Upon his
return to America, Venerable Minh Chi decriched to my Master about the
trip and the living condistion in Viet Nam. It was heart-rending. Homes
in the countryside were old and dilapidated. Over the years, the roofs
and walls made from cocnut palms began to decay. These homes could not
withstand the tropical heat not the torrential rain. Standing inside the
house one can thus see the sun light bursting through the cracks of the
walls and roofs; and during raining season, the bear floor inside these
homes become wet and muddy.
Children,
ages 10 to 14 years old had to quit school and work to earn a living.
They helped their parents by supporting themselves. From morning to
dawn, these children sold lottery tickets, soft drinks, and candy, etc.
to ease the financial burden on their parents. Elderly people, in their
fifty’s and sixty’s, sold lottery tickets just to get by. Indeed poverty
knows no boundary and does not discrimante against anyone based on age
or gender.
That
evening, I came into my Master’s bedroom to give hime his daily
medication. It was quite. He was laying on his bed and seem to be
thinking about something. I greeted him and before I could say anyting
else, my Master broke down in tears. He asked himself, “What did the
people in Viet Nam do to endure such sufferings? For a brief moment, I
stood by his bedside frozen. I did not know what to say or how to react.
I finally gave him a pice of tissue paper and knelt by his bedside. A
few seconds passed by and the room was quiet again.
It was
beyond me to think that someone who had liver cancer and dying to be so
sympathetic to other people’s misery. My Master knew there was no cure
for his disease. Yet, he was still genuinely concerned about the other
people’s well-being; people he never knew or met. He regarded these
strangers as if they were his next-of-kin, his teachers, his colleagues,
his disciples.
During the
last six months of his life, my Master bear a lot of physical sufferings
from his disease. Never once did he turned those pain into anger,
whether he was at home, at the doctor’s office, or at the hospital. He
realized that it was his karma, and he endured it without resentment.
During this time span, all of us took care of our Master as best we can
to keep him physically and mentally comfortable because he spent most of
his life helping others feel comfortable, both mentally and spiritually.
It was only befitting that we provide the best possible care so that our
Master was able to depart this world peacefully. On March 21st,
my Master took his last breath as he was surrounded by disciple,
relatives, and colleagues, all reciting the Buddha’s name and praying
for him.
Since his
passing, there is not one day that goes by in which I do not think about
him. All I have now are loving memories of my Master. Although he is no
longer with us, my Mster’s legacies live on. The monastery he created,
the Zen garden he planted, the many disciples he trained, and the dozens
of books he had writted are all a manifestation of his legacies.
Everyday,
each morning and before bed-time, I stand in front of his altar. Placing
both my hands together in front of my chest, I solemnly said to him,
“Nam Mo A Di Da Phat. Kinh Bach Su Phu, con xin danh le Su Phu.”
Respectfully,
Chon Quang
,North hills,California May 24,2003
Tấm Lòng Của Thầy
Thích Minh Chí
Đêm ấy, trời
Cali lạnh lắm. Gió tây bắc thổi về làm ngã những chậu kiểng ngoài sân
Viện. Tay con kéo vali, chân đi run run, run vì gió lạnh hay run vì tâm
tư đang tưởng tượng kính thương đến một thân xác gầy yếu của một vị Thầy
đã dày công giáo dưỡng con trên suốt mười năm, giờ đêy đang lâm trọng
bệnh, sẵn sang đợi ngày về với Phật.
Từ Chicago
gọi điện thoại về vấn an Sư phụ, nghe tiếng Thầy đứt quảng trên điện
thoại, lòng con đau buốt, vội vả thu xếp Phật sự tại chùa Quang Minh về
thăm. Bước vào tịnh thất nơi Thầy đang dưỡng bệnh, con rón rén quỳ xuống
bên giường bệnh, chắp tay thưa: “ Nam Mô A Di Đà Phật. Bạch Thầy, con là
Minh Chí về vấn an sức khỏe của Thầy.”
Thầy mở mắt
đáp tiếng rất nhỏ, nhưng giọng nói rất rõ ràng: “ A Di Đà Phật. Con mới
về hả? Trời gió lạnh như vậy sao con không bận áo ấm, bệnh rồi làm sao?”
Con nghẹn ngào không biết đáp lời ra sao, nên ấp úng..dạ …dạ…
Tấm lòng của
Thầy là như vậy đó. Dù thân đang mang trọng bệnh mà vẫn cứ lo lắng sức
khỏe của chúng con.
Thầy như một
người cha, dạy bảo khuyên răn chúng con đủ mọi điều; từ cung cách ăn nói
xưng hô, chắp tay, cúi đầu, quỳ lạy, cho đến học kinh, tập diễn giảng
v.v…Những lần dạy kinh cho chúng con, Thầy đem hết tâm tư ra để dạy. Lớp
học dành riêng cho chúng xuất gia lúc đông nhất là 12 người.Có khi rơi
rớt chỉ còn lại bốn huynh đệ, Thầy đều dạy như nhau. Phòng học là một
gian phòng đơn sơ giản dị vừa là nơi tiếp khách cũng là chỗ thầy gieo
giống Phật vào tâm thức chúng con. Những ngày tháng ấy con thật sự an
lạc biết là bao. Chỉ biết đi học ở trường, về Viện học kinh, tụng kinh,
nghe pháp làm công quả,chỉ thế thôi, không vướng bận chi cả. Tuần nào
cũng vậy, mỗi sáng Chủ Nhật, sau thời Sám Hối Hồng Danh là thời pháp của
Thầy, sáng thứ Hai , tối thứ Ba, thứ Tư, thứ Sáu học kinh, sáng thứ Bảy
tập giảng, và tối thứ Bảy lại được học kinh một lần nữa. Mỗi lần học
khoảng một tiếng đồng hồ. Lần nào cũng thế, cứ mỗi lần giảng kinh xong,
Thầy đều kể chuyện về cuộc sống của các bậc cao đức, nhiều khi kể về
cuộc đời tu hành và kinh nghiệm của Thầy cho chúng con làm gương noi
theo. Lớp học vô cùng ấm cúng, nó vừa chan chứa tình thầy trò lại đậm đà
tình phụ tử.
Con mất cha
khi còn bé. Lúc lên chin, mười tuổi đi chơi nhà bè bạn, thấy mỗi lần Ba
của chúng đi làm về là ôm chúng vào lòng như bắt được của báu. Nhìn thấy
chúng bạn được Cha chúng ôm như vậy, con tuy chưa biết tủi thân là gì,
nhưng tự nhiên thấy lòng buồn vô hạn vì biết rằng mình đâu có Ba để được
Ba ôm vào lòng như thế.
Khi con vào
Phật Học Viện xuất gia, tự nhiên con lại có được một người Cha, dù là
Cha tinh thần, nhưng Thầy đã dùng lòng từ bi khiến con tìm lại được sự
ấm áp của tình phụ tử, những gì con đã mất khi còn bé.
Nhớ có một
lần, Thầy Tâm Quang mới dịch quyển sách đầu tay nên xin Thầy cho xuất
bản quyển sách ấy gấp. Thầy cần người đánh máy quyển sách “ Mối Tình
Vương Giả Bất Diệt Của Vua Sety”( sau này đã được đổi tên là Ba Ngàn Năm
Một Kiếp Luân Hồi).Lúc bấy giờ Sư cô Diệu Tánh quá bận việc, con phát
tâm đánh mày, dù chỉ gõ từng ngón mà trong một tuần đã hoàn tất quyển
sách dày mấy trăm trang. Thầy biết quyển sách đã được đánh máy xong,
mừng quá, Thầy ôm con vào lòng, vuốt đầu con và nói: “ Con ráng tu
nghe”. Lúc ấy con vui vô cùng, nhưng vì đã lớn ( 20 tuổi), nên con lại
tỏ ra ngượng ngùng mắc cở. Thầy hiểu ý nên từ đó về sau không bao giờ ôm
con vào lòng nữa. Sau này, đôi lúc con hối tiếc những giây phút ấy;
biết vậy,lúc trước con cứ đứng im, đừng ngượng ngùng để đón nhận tình
thương chân thật từ một người cha hoàn toàn không quan hệ huyết thống.
Những lúc
con lỗi lầm, bấm gan vào xin Thầy cho con sám hối, bụng nghĩ lần này
chắc Thầy sẽ cho một trận tơi bời. Nào ngờ , lần nào cũng như lần nấy,
Thầy đều nói: “ Con biết lỗi,sám hối là tốt rồi. Sau này nhớ đừng phạm
nữa”. Ngược lại , có khi phạm phải những lỗi lầm nhỏ,con nghĩ thôi tự
biết được rồi khỏi cần sám hối thì Thầy lại kêu đến quở cho một trận nên
thân. Thầy sẵn sang tha thứ lỗi lầm cho các đệ tử biết sám hối dù tội ấy
lớn đến đâu.Nhưng lại thẳng thắn quở phạt những người không biết sám hối
dù người ấy chỉ phạm một lỗi nhỏ.
Tấm lòng của
Thầy là tấm lòng vị tha, rộng mở thu nhiếp tất cả chúng sanh không bị
hạn hẹp bởi tình bà con quyến thuộc. Thầy đã dạy chúng con: “ Nếu các
con biết mở rộng cõi lòng để phát nguyện độ hết chúng sanh thì tự nhiên
trong đó đã có cha mẹ, anh em, bà con quyến thuộc của mình rồi. Ngược
lại, mình ích kỷ nhỏ nhoi chỉ muốn lo cho mình, cho bà con mình thì ở
nhà tu tại gia cũng được đâu cần xuất gia. Người xuất gia phải có chí
nguyện lớn hơn,phải thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”. Thầy thường
dạy chúng con, “Ở đời ai cũng muốn thắng, không ai muốn thua, các con cứ
tập thua đi, bởi vì thua người tức là thắng được lòng mình”.Lúc hành đạo
ở chùa Quang Minh, con đã dán câu này trên vách trước bàn làm việc của
con để như có Thầy luôn luôn đang nhắc nhở. Mỗi lần gặp phải chướng
duyên, con nhìn lên lời dạy ấy, nhờ vậy, mà con đã vượt qua được nhiều
chông gai trong thời gian hoằng pháp tại đây.
Thầy đã xa
chúng con nhưng hình bóng và lời dạy của Thầy vẫn còn in sâu đậm trong
tâm khảm của chúng con. Những lời dạy của Thầy sẽ là hành trang theo mãi
bên con để luôn luôn soi sáng sách tấn con trên bước đường dài trở về
nguồn cội.
Đêm nay,
trời trở lạnh, gió Tây bắc lại thổi về làm nghiêng ngã những chậu kiểng
ngoài sân Viện. Con bước vào tịnh thất của Thầy, cảnh vật nơi đây vẫn
còn giữ nguyên vẹn như khi Thầy còn tại thế: cái bàn, cái ghế quen thuộc
mà Thầy vẫn từng ngồi dịch kinh viết sách, cái giường Thầy nằm dưỡng
bệnh, tất cả vẫn còn đó chỉ thiếu hình dáng của Thầy. Con xúc động vô
cùng. Gió lùa qua khung cửa sổ làm con lạnh buốt người. Bỗng nhiên, con
như nghe lại câu nói của Thầy: “ Trời gió lạnh như vậy sao con không bận
áo ấm,bệnh rồi sao?”
Nam Mô A Di
Đà Phật. Bạch Thầy, con sẽ bận áo ấm.Nhưng con biết rằng không có chiếc
áo ấm nào trên thế gian này ấm bằng tấm lòng của Thầy.
Con nhớ Thầy
quá, Thầy ơi!
Phật Học Viện Quốc Tế
Ngày 5 tháng 2, 2004
Đệ tử kính bái
Tỳ kheo
Thích Minh Chí
Ai Điếu
Của Đệ Tử Tỳ Kheo Thích Tâm Quang Đọc Trong Tang Lễ Sư Phụ
Thích Tâm Quang
Nam Mô Thập Phương
Thường Trụ Tam Bảo, Tác Đại Chứng Minh.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật, Tác Đại Chứng Minh.
Nam Mô A Di Đà Phật.
Ngưỡng Bạch Chư Tôn Hòa
Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Tăng Ni.
Ngưỡng Bạch Giác Linh Sư
Phụ thùy từ chứng giám,
Đệ tử Tỳ
kheo Thích Tâm Quang, đại diện chư Phật tử chùa Tam Bảo Fresno và Hội
Phật Giáo Việt Nam Vùng Central Valley California quỳ trước Kim Quan ai
điếu Hòa Thượng Bổn Sư lời tâm sự sau cùng để tiễn đưa Thầy trở về Cảnh
Giới Tịch Tịnh Niết Bàn. Từ nay chúng con đành mất đi một bậc Thầy khả
kính, một đạo sư cương kỷ.
Kính bạch
Thầy, nhớ lại thuở nào Thầy kể những gian nan khổ hạnh trong cuộc đời tu
học của Thầy, khi làm chú điệu, khi là sinh viên nghèo nàn phải xin cơm
của một ngôi Chùa tại Đài Loan để ăn và mỗi đêm phải trốn trong thư viện
để học. Thế mà Thầy chịu đựng được và thành công.
Sau khi tốt
nghiệp Tiến Sĩ tại Đài Loan, Thầy được cố Hòa Thượng Thiên Ân mời về
hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Bước đầu Thầy sống khổ hạnh, cải đổi một nhà để
xe chật hẹp thành nơi ấn hành kinh sách, vốn là mục tiêu hàng đầu của
Thầy.
Trong một
chuyến đi hoằng pháp tại chùa Kim Quang Sacramento nhân mùa an cư năm
1979, Thầy ghé thăm đồng bào Phật tử tại Fresno trong đó có con. Thật
vậy, “ hữu duyên vạn dặm còn tận mặt, vô duyên gặp mặt vẫn cách lòng”.
Vào thời
gian đó , thấy Thầy cần có phương tiện di chuyển, chúng con có mua cúng
Thầy một chiếc xe hơi cũ và tập cho Thầy lái xe, nhưng Thầy đã đem đi
đổi với giá khiêm tốn để thực hiện việc phát hành kinh sách. Thầy cho
biết đối với Thầy kinh sách còn quý hơn chiếc xe. Từ đó con càng cảm
kích Thầy nhiều hơn. Rồi Thầy trò gặp nhiều lần, được nghe Thầy giảng
dạy, thấm nhuần giáo lý, con đã trở thành đệ tử của Thầy và xuất gia học
đạo, theo gương Thầy dạy: dịch kinh sách để lại cho đời. Con cũng theo
đó mà góp phần nhỏ nhoi trong việc hoằng pháp. Đó cũng là nhờ sự chỉ dạy
và độngviên của Thầy, nhờ công ơn sâu đậm như trời biển của Thầy mà con
có ngày hôm nay, một lần nữa con xin đội ơn giác linh Thầy.
Mô Phật,
Bạch Thầy, chúng con nghe được sự truyền bá chánh pháp khắp nơi của Thầy
khiến chúng con cũng lấy làm hãnh diện vì mỗi lời pháp của Thầy là sự
giải thoát tràn đầy đối với những người con Phật.
Sau một thời
gian Thầy lâm chứng bệnh ngặt nghèo, sức khỏe của Thầy có phần giảm sút,
dù vậy Thầy vẫn kiên trì làm Phật sự lợi lạc quần sanh, quyết tâm đi cho
trọn con đường phụng sự đạo pháp và dân tộc. Chùa Tam Bảo Fresno, Chùa
Quang Minh Chicago, Phật Học Viện Quốc Tế được tạo dựng nên ngày càng
khang trang, các kinh sách quý đều được phát hành nhờ công lao của Thầy
trong khi bệnh của Thầy ngày càng nghiêm trọng.
Sau nhiều
lần điều trị tại bệnh viện, rồi về, những tưởng Thầy đã qua cơn bệnh,
nào ngờ lực bất tùng tâm, bầu thuốc thánh không chuyển đổi được sự vô
thường, chén linh đơn sao chữa được bệnh nan y.Rồi Thầy thu thần thị
tịch nhân ngày vía Quán Thế Âm Bồ Tát 19 Tháng Hai năm Quý Mùi.
Than ôi! Sữa
pháp mất rồi, lòng con đói mãi, chư Tôn Đức Tăng Ni, Thiện Nam Tín Nữ
Phật tử đang thương tiếc Thầy, thầm khóc gọi Thầy Ơi, Thầy Ơi !
Bạch Thầy,
trên suốt đoạn đường còn lại của chúng con, làm sao tìm lại được một bậc
Thầy khả kính đây, chư huynh đệ chúng con biết đi đâu tìm được sư phụ để
báo đền công ơn tế độ, chúng con chỉ còn biết theo lời dạy của Thầy lúc
còn tại thế mà y giáo phụng hành thôi.
Bạch Thầy,
chúng con đau buồn thì cũng có, tủi lệ cũng không khỏi, nhưng chúng con
còn được hãnh diện là tiếng thơm của Thầy vẫn còn vang động trên cõi
trần thế này. Cái hạnh phúc thứ hai cho chúng con là được sự bảo bọc, sự
thương cảm của Giáo hội, của chư Tôn Đức, Tăng, Ni, cùng những người con
Phật của Ban Tổ Chức Tang Lễ dành cho. Chúng con xin cảm niệm công đức
quý Ngài.
Tình nghĩa
thầy trò kể sao cho hết được.
Thôi thì,
nơi thế giới niết bàn, xin Thầy hãy thong dong tự tại và thầm gia hộ cho
chúng con, cho nhân loại đều được an lạc trong tâm tư, hỷ xả trong đời
sống, hạnh phúc trong gia đạo, thành tựu trong việc làm và được về cõi
Phật khi vởi bỏ xác thân này.
Xin Vĩnh Biệt Thầy!
Nam Mô Đường Thượng Từ
Lâm Tế Chánh Tông tứ Thập Tứ Thế, Chánh Văn Phòng Hội Đồng Đại Diện,
Khai sáng Phật Học Viện Quốc Tế, Húy Thượng Nguyên Hạ Công tự Đức Niệm,
hiệu Thiền Đức, giác linh Hòa Thượng Bổn Sư tọa tiền chứng
Đệ tử Tỳ kheo Thích Tâm Quang
Nhìn Người Từ Xa
Quảng Thành
Nhân biên
tập cuốn “Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Đức Niệm”,tôi được Thầy Minh
Chí,người thừa kế điều hành Phật Học Viện Quốc Tế, gợi ý có thể đăng một
số thơ văn trích từ Nhật Ký của Cố Hòa Thượng. Thoạt đầu, tôi hơi ngần
ngại, vì thông thường, nhật ký là những gì được ghi lại từ những suy tư,
cảm niệm cá nhân trong cuộc sống, có nhiều nét riêng tư không nên công
bố. Nhưng sau khi đọc xong, tôi vừa ngạc nhiên xúc động vừa cảm thấy tâm
hồn hoan hỷ và an lạc.
Ngoại trừ
một đôi lần, một số trường hợp, ghi lại những sự kiện sinh hoạt nội bộ
tăng chúng của Viện, không có gì đặc biệt, hầu hết những trang nhật ký
của Cố Hòa Thượng ghi lại những tâm tư, cảm niệm, hoài bảo của một người
quyết tâm tìm đường giải thoát cho mình và tha thiết với nhiệm vụ hoằng
pháp độ sinh của một trưởng tử Như lai. Qua những trang nhật ký của Cố
Hòa Thượng, môn đồ và đàn hậu học sẽ cảm nhận được và nhìn thấy rõ hơn
tâm nguyện và hành trạng của Thầy và từ đó cảm thấy như được sách tấn,
khuyên nhủ, hướng dẫn trên con đường tu học và hành đạo.
Đó là lý do
tôi và Thầy Minh Chí cùng đồng ý đăng thơ văn trích từ Nhật ký của Cố
Hòa Thượng Thích Đức Niệm. Và phần này, chúng tôi sắp xếp vào chương
Tiểu sử, hành trạng và hình ảnh nhằm biểu lộ rõ hơn con người, tâm tư và
chí nguyện của Thầy ( mà không sắp xếp như một phần Phụ lục).
Khi biết
Thầy có để lại nhật ký, quả thật tôi ngạc nhiên. Có lẽ còn nhiều người
khác cũng ngạc nhiên như tôi. Trong cuốc tiếp xúc thường ngày, ai cũng
thấy Thầy bình dị, chất phác, nhiều khi còn có vẻ “ quê mùa” nữa, đúng
như bút hiệu “ Tỳ kheo quê mùa” mà Thầy thích xử dụng. Một người như
vậy, tôi vẫn có thói quen đánh giá, không phải là mẫu người cầm bút,nhất
là cầm bút viết nhật ký. Dĩ nhiên thói quen đánh giá” coi mặt mà bắt
hình dong” của tôi đã sai, và trên thực tế tôi đã sai nhiều lần. Thực
ra, tôi đã biết-không những biết mà còn có một ấn tượng sâu đậm-rằng
Thầy là một người trầm lặng, rất ít nói.Trong những kỳ Đại Hội của Giáo
Hội, một ngày, hai ngày, thậm chí ba ngày, Thầy không nói một lời nào,
ngoại trừ khi rất cần thiết hoặc được đích danh mời cho biết ý kiến
riêng của Ngài. Đã có nhiều lần, sau những buổi họp hoặc kỳ họp kéo dài,
quý Thầy đồng sự pháp lữ của Ngài hỏi đùa: “ Sao Thầy giỏi vậy, suốt mấy
ngày không nói mà không chán hoặc buồn ngủ sao”? Ngài chỉ cười: “ Thì
quý Thầy nói đủ và hay quá rồi” ! Tuy không nói, nhưng Thầy hiểu rõ nội
dung và luôn theo sát những diễn tiến của những vấn đề đang được thảo
luận với một tư thế ngồi họp nghiêm túc, tinh tấn không hề tỏ vẻ giải
đải. Đúng ra tôi đã có thể biết rằng một người trầm lặng có một cuộc
sống nội tâm phong phú, nếu không nói ra được bằng lời nói thì họ phải “
nói ra” bằng cây bút. Nhưng có lẽ tôi bị con người bình dị, chất phác,
“quê mùa” của Thầy che khuất nên tôi mới ngạc nhiên khi biết Ngài viết
Nhật ký.
Ai đã từng
viết Nhật ký đều biết rằng sự khó nhất của công việc này là phải viết
thường xuyên và lâu dài. Nhật ký của Cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm trong
cuộc đời hoằng pháp tại Hoa Kỳ được bắt đầu từ ngày 6 tháng 9 năm 1979
và chấm dứt vào ngày 9 tháng 11 năm 2002, tổng cộng trên 23 năm. Tôi
không đọc được Nhật ký được viết khi còn ở Việt Nam và Đài Loan, nhưng
đọc những giòng Thầy viết ngày 27-11-2000, lúc đã lâm trọng bệnh , thì
cũng biết thói quen viết nhật ký của Ngài:
“Ngày xưa
bận học thi mà mỗi đêm viết được nhật ký. Ngày nay không học không thi
mà không thường xuyên viết nhật ký như xưa, dù vẫn biết rõ yếu kém như
vậy, mà vẫn không làm được như xưa. Điều này đủ thấy được sức khỏe yếu
kém, sự hăng say không còn như xưa. Tuy nhiên về đường tu, về trao đổi
tâm tánh, về quán sâu tâm thức thì chin chắn rõ ràng hơn. Nghĩa là không
lãng phí, không bỏ quên, không dễ dãi với mình, không để thời gian luống
qua, nhàn rỗi vô ích…”
Thầy chấm
dứt viết nhật ký trước ngày viên tịch hơn bốn tháng khi không thể ngồi
và cầm bút được nữa.Nhưng trong thời gian này, tinh thần vẫn trong sáng,
thanh thản, an lạc như được ghi lại trong những giòng cuối cùng của tập
Nhật ký đề ngày 9 tháng 11 năm 2002:
“Hôm nay
trời vẫn tiếp tục mưa, tuy không nặng hột, nhưng liên tục suốt ngày đêm,
có thể nói là mở đầu cho mùa mưa bằng trận mưa lớn ít thấy trong những
năm qua. Trời mưa suốt ngày đêm đem lại sự tươi mát cho cỏ cây muôn loài
người vật. Suốt năm không có mưa, cho nên mưa đối với Nam Cali là nguồn
vui đáp lại sự ước ao của đa số người vật. Trời mưa rỉ rả, bầu trời u ám
suốt ngày, nhưng người tôi vẫn bình thường, tuy mang trọng bệnh, nhưng
không bị ảnh hưởng thời tiết gì mấy. Thân bệnh nhưng tâm không bệnh. Bởi
rõ lẽ vô thường, khổ không, có thân là có bệnh.Luận Bảo Vương Tam Muội,
Phật dạy “ Lấy bệnh khổ là thuốc thần”. Có thân mà không bệnh hoạn thì
dễ sanh dục vọng tự hào.”
Tuy thân
mang trọng bệnh và trên thực tế thì chỉ hơn bốn tháng sau, Thầy viên
tịch, nhưng lúc bấy giờ, từ giường bệnh, nhìn bầu trời u ám với cơn mưa
rỉ rả suốt ngày đêm, không những không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh ảm
đạm , không bị chi phối bởi cơn bệnh nan y khó qua khỏi, mà ngược lại.
Ngài vẫn “thấy” được sự tươi mát mà cơn mưa sẽ đem đến cho cỏ
cây muôn loài người vật cũng như đó là nguồn vui đáp lại sự ước
ao của đa số người vật.Bệnh đã không ảnh hưởng đến tâm trong sáng, thanh
thản của Thầy mà còn sách tấn Ngài chiêm nghiệm lời Phật dạy: “ Lấy bệnh
khổ làm thuốc thần”.
Không dễ dãi
với chính mình,luôn hướng tâm đến mục tiêu giải thoát,luôn nặng lòng với
trách nhiệm, đó là những nét nổi bật trong nhật ký của Thầy. Dường như
đó là phương pháp Ngài dùng để nhiếp tâm và tự sách tấn trên con đường
tiến tu đạo nghiệp.
Trước ngày
viết những giòng chữ cuối cùng trên đây hơn 23 năm, khi mới đến Hoa Kỳ
để bắt đầu cuộc đời hoằng pháp, Ngài đã “ tự hỏi lại mình” khi khai bút
viết Nhật ký ngày 6 tháng 9 năm 1979:
“ Hôm nay ,
ngày lễ Vu Lan, ngày rằm tháng bảy, ngày mà mọi người con Phật đều hướng
vọng tưởng nhớ đến tổ tiên cha mẹ.
Đây là lần
đầu tiên, trên đất Hoa Kỳ, mình cảm niệm lễ Vu Lan. Đã 10 mùa Vu Lan
cách xa quê hương. Ngày xưa, khi còn ở nhà nói đến Vu Lan, là bao nguồn
tâm tư hướng về quá khứ với bao nhiêu hình ảnh trong lòng. Nhất là hình
ảnh nhớ cha mẹ. Ngày xưa, khi mình còn nhỏ chưa giảng dạy được, thì mình
nghe các bậc Thầy, các bậc đàn anh giảng đến Vu Lan, tronglòng cảm xúc
muôn vàn.
Nay ngày lễ
Vu Lan, chính mình giảng về ý nghĩa đó. Khi giảng, mình đã cảm động và
mọi người nghe mình giảng cũng cảm động vô cùng.
Vâng ,
ngày xưa ngài Mục Kiền Liên nhớ mẹ và độ mẹ. Ngày nay, đã có ai chưa?
Trong đó, mình tự hỏi lại mình nữa.
Hôm nay đầu
tay quyển nhật ký này, để kỷ niệm Vu Lan trên đất khách Hoa Kỳ này.”
Khi đã ở Hoa
Kỳ được 12 năm, những công việc hoằng pháp như in kinh, đào tạo tăng
tài, xây dựng cơ sở cho quần chúng tu niệm đã thực hiện được khá nhiều,
nhưng nghĩ đến thân bệnh không cho phép làm được nhiều hơn, Thầy cảm
thấy không xứng đáng với những ơn sâu đã thọ, như được ghi trong trang
nhật ký đề ngày 12 tháng 6 năm 1991:
“…Cái khỏe
mạnh của cơ thể, cái đầu óc minh mẫn, cái tinh thần phấn khởi đã qua.
Thời trai tráng khỏe mạnh đã lui dần nhường chỗ cho suy tàn hiện ra.
Ôi!Hơn 50 năm trên đời trôi qua cái vèo, ta chưa làm được gì cả. Ơn cha
mẹ, cơm đàn na, ơn sư trưởng , công đức của Phật, tất cả 4 ơn nặng ta
thấy suốt đời hành đạo của ta chưa xứng đáng chút nào. Dù ngày đêm cố
gắng tu học không ngừng mà vẫn không thấm vào đâu với ơn sâu nghĩa nặng
tứ trọng ân mà mình đã thọ.
Lòng
không còn ham muốn gì nữa. Chỉ mong làm sao có kẻ hậu học đủ năng lực để
trao lại sự nghiệp hoằng pháp này đặng có thì giờ tịnh tu hầu tạo chút
tư lương trên đường về Cực Lạc …”
Cũng một tâm
tư tự vấn, tự trách, chưa bằng lòng với sự cố gắng của mình như ý của
đoạn thơ sau đây trong một bài thơ 5 đoạn được viết ngày 26 tháng 2 năm
1996:
“Tôi biết
rằng tôi chẳng thật đâu,
Mà sao thao
thức những đêm thâu
Phải
chăng chưa trọn lòng buông xả
Hành đạo đến
nay đã bạc đầu…”
Một dịp
khác, nhân Lễ Thành Đạo năm Bính Tý, 1996, sau khi nhắc lại một vài nté
về ngày lễ, Thầy cũng tự nhận xét để tự cảnh giác chính mình:
“Lễ Thành
Đạo năm nay trời nắng ấm, nắng đẹp tuy trước đó một ngày trời lạnh u ám
mưa. Đặcbiệt năm nay lễ Thích Ca Thành Đạo lại cũng là lễ cầu siêu Hòa
Thượng Thích Pháp Tri, Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo viên tịch tại Việt
Nam vào rằm tháng 10 năm Bính Tý. Do vậy mà chư tăng trong giáo hội đều
vân tập về làm lễ tại Phật Học Viện khá đông đủ. Buổi lễ được cử hành
vàolúc 2g30 chiều Chủ Nhật ngày 19 tháng 1 năm 1996 nhằm 11 tháng Chạp
Bính Tý. Lần đầu tiên viện làm lễ buổi chiều nên người tham dự khoảng
vài trăm không đông đảo như buổi sáng. Thành Đạo mà nghĩ đến phần
mình tu sao gần 45 năm rồi mà chẳng thấy chi, mặc dù cố gắng không
ngừng, tuy nhiên cũng thấy có chút thanh thoát khi trên tịnh thất
nhìn trời cao đất rộng”.
Những lời tự
vấn, tự trách trên đây cũng là lý do đã khiến tôi ngạc nhiên xúc động.
Phải tha thiết và sống thường trực ngày đêm với mục tiêu giải thoát đến
như thế nào mới viết ra những giòng chữ hàm chứa sự thống hối như vậy.
Không biết những người khác như thế nào, riêng tôi, dù đã có nhiều dịp
suy nghĩ và nói đến đức hiếu hạnh của ngài Mục Kiền Liên, suy nghĩ và
nói đến bốn ơn lớn trong đời mà mình đã thọ nhận, cũng như suy nghĩ và
nói đến mục đích giải thoát sinh tử, đặc biệt mỗi khi đọc tụng Tứ hoằng
thệ nguyện và bài tựa chú Lăng Nghiêm tôi cũng cảm thấy lòng mình rung
động, nhưng chưa bao giờ tôi có những câu tự vấn, tự trách như Thầy. Cứ
mỗi lần đọc những giòng chữ thống hối trên đây của Thầy, tôi đều nghĩ
đến bài văn khuyên Phát Bồ Đề Tâm của Ngài Thật Hiền ( hiệu là Tỉnh Am)
mà Hòa Thượng Trí Quang đã dịch từ lâu. Bài văn này được mở đầu như sau:
“Thật Hiền
tôi, một kẻ xuất gia phàm phu, đã bất tiếu lại ngu hèn, khóc mà lạy,
khấn thiết khuyến cáo đại chúng hiện tiền, cũng như nam nữ có đức tinh
thuần thành trong thì vị lai. Xin quý vị thương xót, gia tâm một chút
mà nghe và xét cho.
Tôi từng
nghe, cửa chính yếu để nhập đạo thì sự phát tâm đứng đầu, việc khẩn cấp
để tu hành thì sự lập nguyện đứng trước. Nguyện lập thì chúng sanh độ
nổi, tâm phát thì Phật đạo thành được. Cái tâm quảng đại không phát, cái
nguyện kiên cố chẳng lập, thì dẫu trãi qua đời kiếpnhiều như cát bụi,
cũng y nhiên vẫn ở trong phạm vi luân hồi…”
Bài văn hàm
chứa sự tha thiết, đến độ thống thiết, đã làm rung động và đã từng nuôi
lớn sơ tâm xuất gia của bao nhiêu thế hệ Tăng Ni Đông phương, đặc biệt ở
Trung Hoa và Việt Nam từ hơn bốn thế kỷ nay, đến nổi Bành Tế Thanh,
người đã thu thập ấn hành tập Tỉnh Am Pháp sư ngữ lục đã viết:
“đọc bài văn ấy không lúc nào tôi khỏi đổ mồ hôi, khỏi rơi nước mắt…”
Sở dĩ tôi
thường liên tưởng đến bài văn khuyên phát Bồ Đề Tâm của ngài Thật Hiền
mỗi khi đọc những giòng nhật ký tự vấn, tự trách của Thầy vì tôi thấy
trong đó sự tha thiết chí thành của cai tâm nguyện không mong gì hơn là
sự giải thoát của Thầy. Tôi nghĩ chắc chắn rằng , bên cạnh những túc
duyên được gieo trồng từ nhiều đời trước, bản hoài giải thoát của Thầy
cũng đã nuôi lớn với tâm nguyện rộng lớn, kiên cố Thượng cầu Phật đạo,
hạ hóa chúng sanh của Ngài Thật Hiền. Do đó, không chỉ mong cầu sự giải
thoát cho mình, Thầy còn thấy đó là lý tưởng, là con đường duy nhất cho
mọi người khác. Khi còn sanh tiền, Thầy có một đặc tánh mà nhiều người
biết. Đó là thường khuyên mọi người nên xuất gia, từ thanh thiếu niên
cho đến những vị đã lớn tuổi; từ những người thân trong thế quyến cho
đến những Phật tử quen biết trên đường hành đạo. Khi thấy ai đã có đủ
thiện duyên gần gủi với chùa, với Phật, được tụng kinh, nghe Pháp nhưng
sau đó lơ là, giải đải: Hoặc những vị đã có đủ túc duyên phát tâm xuất
gia nhưng giữa đường thối chí, bỏ chùa về đời, Thầy rất đau buồn như
chính bản thân mình đã đánh mất một cơ duyên quý báu. Thầy đã viết như
sau trong ngày 26-7-2001:
“Đến tuổi 65
bao nhiêu suy nhược xuất hiện, sự tránh kiện của con người sa sút rõ
rệt. Muốn làm công việc như xưa, nhưng đành thúc thủ đứng nhìn. Thấy
những thanh niên đem tuổi trẻ lãng phí ăn chơi lười nhát qua ngày thật
là uổng.Mình tử thuở lên 10 tuổi đến nay 65 chưa bao giờ có thì giờ để
đi chơi lang thang, lãng phí thì giờ. Khi còn nhỏ, còn ở nhà, vừa đi
học, vừa hái củi bán muối để gia đình cơm áo, bởi vì trong thời chiến
loạn binh đao tản cư vào rừng cửa nhà tan nát. Khi vào chùa tu thì chùa
nghèo, vừa học vừa đi đào khoai, nấu cơm, tưới nước, làm ruộng , làm
rẩy, chăn ngựa, theo nước ruộng cấy mạ, tát nước đủ thứ cực nhọc của
việc nông nghiệp đồng áng. Dù hoàn cảnh nào cũng không rời quyển kinh.
Do đó mà thuộc Di Đà, Hồng Danh, Phổ Môn, Sa Di, Oai Nghi, Tỳ Ni, Cảnh
Sách…và tất cả nghi thức căn bản về nghi lễ của một nhà tu Phật cần
thiết để ứng phú đạo tràng.
Nhìn lại các
đệ tử xuất gia với mình sống trong cảnh cơm no áo ấm đủ điều mà vẫn
không vững chí rồi rời chùa về tục, trong đó có Q.N mà thầy gửi lòng
thương:
Ngày xưa con đứng nơi đây,
Ngắm nhìn đức Phật con say đạo mầu
Bây giờ thánh thoát còn đâu
Đắm mùi dục lạc chìm sâu luân hồi
Rồi đây con sẽ nổi trôi
Ba đường sáu nẻo không thôi não phiền
Mong con sớm được thiện duyên
Trở về cảnh Phật bình yên tâm hồn
Sau khi
Thầy viên tịch gần một năm, tôi có dịp được đọc một bức thư của Thầy gởi
cho bà chị lớn còn ở Việt Nam.Bức thư được viết và gởi năm 1997, nghĩa
là khoảng gần 6 năm trước ngày Thầy viên tịch. Hiện tôi không có bức thư
trước mắt, nhưng tôi còn nhớ đại ý Thầy viết: “ Bây giờ chị già rồi, các
cháu cũng đã lớn và có gia đình, Hãy thu xếp chuyện nhà để vào chùa tu.
Đừng quyến luyến lắm với chuyện con cháu. Chuyện sinh tử không còn bao
xa, chị hãy làm một chút gì để có thể về với Phật. Nếu chị đồng ý, tôi
sẽ thu xếp mọi chuyện cần thiết để chị có thể vào chùa.” Lời lẽ trong
thư bình dị, nhưng chứa đựng sự ân cần, quan tâm, lo lắng đồi với một
người chị ruột thịt hơn 30 năm chưa có dịp gặp lại, và đặc biệt cũng cho
thấy đối với Thầy, vấn đề giải thoát sinh tử là vấn đề trọng đại nhất.
Cho đến ngày Thầy ra đi, bà chị của Thầy vẫn chưa vào chùa tu được mặc
dù bà vẫn thường xuyên đến chùa làm công quả. Thầy quan tâm và cố gắng
khuyên nhưng cũng biết rằng mỗi người có một duyên nghiệp riêng, không
phải muốn là được.Với liên hệ quyến thuộc, Thầy chỉ có thể và cũng chỉ
muốn giúp đến như vậy mà thôi. Cuối năm 2000, tôi có dịp về thăm Việt
Nam. Trước khi đi, tôi đến thăm để xem Thầy có cần gởi gì về cho ai ở
Việt Nam không. Nghe tôi sắp đi. Thầy gởi một ít tịnh tài về cúng dường
một số quý thầy. Riêng với gia đình, Thầy chỉ gởi lời thăm và ân cần
nhắc nhở mọi người nên tinh tấn trong việc đi chùa và làm việc thiện.
Thầy cũng nói nhờ nhắn lại, rằng tiền bạc của thập phương cúng dường Tam
Bảo để làm Phật sự, Thầy không muốn gởi về giúp gia đình ,vì làm như vậy
sẽ tổn đức. Nói là giúp nhưng thật sự sẽ làm hại. Tiêu xài của đàn na
tính thí, nếu không đủ phước đủ đức, như trong kinh đã dạy, phải mang
long đội sừng để trả. Thầy thường dạy tăng chúng trong chùa” tín thí,
nan tiêu”, phải rất cẩn thận và tiết kiệm. Nghe Thầy nói, tôi hiểu.
Nhưng tôi cũng trình bày hoàn cảnh khó khăn, đông con cháu của hai gia
đình người chị và người em gái của Thầy. Sau khi đắn đo cân nhắc, Thầy
đồng ý nhờ tôi đem về cho hai gia đình, mỗi gia đình 100 Mỹ kim. Sự đắn
đo cân nhắc khiến tôi thật xúc động. Hơn 25 thế kỷ sau khi Đức Phật
nhập diệt mà giới luật của Ngài vẫn còn được gìn giữ trân trọng. Tôi
liên tưởng đến việc trước mỗi bữa ăn, Phật dạy những người xuất gia phải
quán tưởng năm điều mà có lẽ điều quan trọng nhất là xem xét đức hạnh
của mình có đầy đủ hay không để xứng đáng nhận được thực phẩm cúng
dường. Tôi có cảm nghĩ, dường như từng giây, từng phút, trong từng hành
vi ngôn ngữ, Thầy đều có nghĩ đến tội phước, nhân quả và làm thế nào để
được giải thoát , không những riêng cho mình mà còn cho người mà trước
tiên là những người gần gủi,quen biết, tử đệ. Có lẽ cũng trong ý nghĩa
này mà Thầy di chúc cho môn đồ phải cúng lại cho Giáo Hội để làm Phật sự
tất cả số tiền phúng điếu trong dịp tang lễ của Thầy.
Khác với sự
đắn đo cân nhắc khi giúp cho người thân trong gia đình, Thầy không ngại
tổn phí, nếu sự tổn phí đó giúp ích cho công việc hoằng pháp lợi sanh.
Tại Việt Nam, hiểu rõ hoàn cảnh khó khăn xuất phát từ kinh tế và xã hội,
Thầy đã giúp một số chương trình có tính cách từ thiện xã hội, giáo dục,
trùng tu chùa chiền, nhưng đặc biết nhất là ấn tống kinh sách. Theo Ni
sư Như Hoa ở Việt Nam cho biết, Thầy đã cho ấn tống để gởi biếu khắp ba
miền Nam, Trung, Bắc 10 ngàn bộ kinh Pháp hoa, 10 ngàn quyển kinh nhật
tụng, 500 bộ Phật Học Phổ Thông, 5000 quyển kinh Dược sư, 5000 quyển
Lương Hoàng Sám, 5000 quyển Thủy Sám, 5000 quyển Địa Tạng…
Riêng về
giới luật, Thầy đặc biệt quan tâm đến những sinh hoạt hành trì luật nghi
do Phật và chư Tổ đức truyền lại nhằm nhiếp phục thân tâm, trao đổi giới
đức mà quan trọng nhất là tổ chức và tham dự những mùa an cư. Thầy đã
viết trong nhật ký ngày 24 tháng 8 năm 1993:
“ Một mùa hạ
êm đềm thoải mái trong tinh thần tu tập. Suốt mười mấy năm, năm nay mới
thật sự sống về thời ở chùa Ấn Quang trước 1963. Năm nay mới đúng quy cũ
truyền thống kiết hạ từ sau lễ Phật Đản 16-6-93 đến 22-8-93. Khi ra
ngoài, quá đường kinh hành, thân bái sám mỗi buổi sáng lúc 7 giờ 45.
Cuộc sống ổn định, sự tu hành thanh tịnh. Và đây là dịp để tạo cho các
huynh đệ tu hành sống theo thiền môn quy cũ. Tuy chưa tròn ba tháng an
cư, nhưng thật sự vô cùng lợi lạc. Tinh thần nhẹ nhàng, mới cảm được ý
nghĩa của sự tu hành, mới cảm nhận được sự thanh tịnh giải thoát. Vì
hoàn cảnh học hành của các huynh đệ mà phải xả hạ tự tứ sớm. Từ ngày qua
Mỹ đến nay, đây là một mùa an cư thoải mái nhất vậy.”
Môĩ năm Thầy
đều tổ chức an cư. Mùa an cư cuối cùng trong cuộc đời tu hành của Thầy
được diễn ra trong tháng 6 năm 2002, khoảng nữa năm trước khi viên tịch.
Thầy viết như sau trong ngày 12-6-2002:
“Kính lạy
đức Thế Tôn Từ Phụ
Hôm nay
chúng con kiết giới an cư. Trời vẫn còn mát dịu, lòng cảm thấy thoải
mái. Mặc dù bận rộn Phật sự, nhưng năm nào chúng con cũng y theo lời
Phật dạy kiết hạ an cư. Nhất là năm nay, con mắc phải trọng bệnh ung
thư, sức khỏe còn yếu kém lắm, nhưng con vẫn tập trung tăng chúng về
Phật Học Viện kiết giới an cư như mọi năm. Mùa an cư kiết hạ đến lòng
con cảm thấy phơi phới lạ lung. Mặc dù bệnh. Nhưng tinh thần sảng khoái
lắm . Dù cho mưa nắng đến đâu , giới luật, lời Phật dạy con vẫn cẩn
trọng giữ gìn. Ngưỡng mong chư Phật từ bi chứng giám.”
Từ đầu đến
cuối đời, Thầy vẫn chân thành thiết tha với giới luật nhằm thực hiện
hạnh nguyện hoằng pháp độ sinh. Chính qua những giòng nhật ký này, tôi
mới hiểu rõ thêm những Phật sự Thầy đã thực hiện, đặc biệt tại sao phải
tổ chức Đại giới đàn Thiện Hòa tháng 9 năm 1983. Dù mới đến Hoa Kỳ
khoảng 4 năm, mọi phương tiện vật chất từ cơ sở, nhân sự đến tài chánh
còn rất thiếu thốn, Thầy đã nghĩ ngay đến việc gìn giữmạng mạch Phật
pháp mà yếu tố quan trọng hàng đầu là giới luật. Giới luật còn, Phật
pháp còn. Chính do tâm nguyện thiết tha chân thành của Thầy mà chư tôn
đức giáo phẩm Tăng Ni và Phật tử hết lòng hậu thuẩn giúp đỡ Thầy tổ chức
thành công Đại giới đàn đầu tiên ở hải ngoại đúng theo truyền thống
thiền môn quy củ trong tinh thần tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức.
Thầy ý thức
rất rõ từng việc mình làm. Không phải tình cờ, đụng đâu làm đó. Tất cả
đều nhắm đến mục đích tạo chút tư lương trên đường về cực lạc , như Thầy
vẫn thường nói. Hơn một năm trước ngày viên tịch, Thầy thấy những việc
cần làm đã được thực hiện nên cảm thấy an lòng vãng sanh như đã viết
trong ngày 9 tháng 7 năm 2001:
“ Năm nay
như mọi năm vẫn an cư kiết hạ. Đặc biệt là năm nay an cư trong bận rộn.
Xe ủi đất bang bằng để làm chổ đậu xe theo họa đồ làm chánh điện mới.
Tuy bên ngoài làm việc rần rộ mà bên trong vẫn thanh tịnh theo nghi quy
tu học không chễnh mảng. Tháng Bảy năm nay làm rất nhiều việc. Lợp lại
toàn diện hai nhà Tăng xá và tỉnh tâm đường. Mọi việc làm đều trôi chảy
tốt đẹp. Tất cả việc cần làm đều làm tất cả. Đã sanh ra
đời,hiến thân cho đạo pháp, vận dụng tất cả khả năng phưong tiện làm hết
mọi việc cần làm để cho ngưòi tiếp tục được an tâm tu tập. Riêng mình
cũng được an lòng vãng sanh.
Thế là tâm
nguyện hoằng pháp, đào tạo tăng ni, in kinh sách, xây dựng cơ sở mỗi mỗi
đều thực hiện. Tuy không trọn vẹn nhưng đều có kết quả khả dĩ không thất
vọng.”
Lúc nào cũng
tâm tâm niệm niệm nghiêm trì giới luật, nhưng không phải vì thế mà xa
lánh cuộc đời vốn nhiều điên đảo thị phi. Thầy vẫn hòa mình vào để có
thể thực hiện hạnh nguyện hoằng pháp độ sinh, học theo hạnh “ ngũ trược
ác thế thệ tiên nhập” mà trong một đoạn thơ Thầy làm trước đây rất lâu
đã diễn tả:
“ Là Tăng sĩ
nguyện đem mình mở lối
Hướng quần
sanh thẳng đến quả Bồ đề
Đời ngũ
trược vào trước độ mê
Cho nhân
loại sớm quay về bờ Giác”
Thầy có một
đặc tánh mà những người thân cận đều thấy , đó là “ hòa nhi bất đồng”-
hòa mà không giống- Thầy hòa mình vào để làm việc, nhưng mỗi người có
mỗi hạnh nguyện riêng, phần Thầy, Thầy vẫn giữ bản nguyện của Thầy.
Ngạn ngữ của
Pháp có câu: chiếc áo không làm nên thầy tu. Tôi cũng quan niệm rằng
không phải mang được hình thức thầy tu là tức khắc thành Phật, thành
thánh. Bên trong của cái vỏ ngoài mới là giá trị chân thật. Giá trị chân
thật của người xuất gia như ngài Thật Hiền đã nói là phải phát tâm lập
nguyện. Tâm phải rộng lớn, nguyện phải sâu bền. Tâm nguyện của người
xuất gia không gì khác hơn là trên cầu được thành Phật, dưới nguyện độ
chúng sanh. Tâm nguyện đó phải được nuôi dưỡng liên tục, không gián đoạn.
Đọc những giòng chữ lúc nào cũng tha thiết với mục tiêu giải thoát, độ
sinh trong nhật ký của Thầy, phối hợp với những Phật sự Thầy đã thực
hiện, tôi cảm thấy phấn khởi an lạc. Bởi vì giữa thời đại và trong một
xã hội văn minh vật chất nhiều dục lạc lôi cuốn, chân giả khó phân, còn
có được những người như Thầy mà cuộc đời và hành trạng làm cho nhiều
người khác phát khởi được tín tâm, hướng về chánh pháp. Riêng tôi, nhờ
hồi tưởng những gì Thầy đã làm và đọc được tâm nguyện của Thầy qua những
trang nhật ký, tôi cảm thấy như tôi hiểu đạonhiều hơn những gì tôi đã
học, đã đọc và đã biết. Tôi phát khỏi được thiện niệm, thiện tâm. Thốt
nhiên tôi cảm thấy tôi mang ơn Thầy. Và không biết đích xác từ giây phút
nào, tôi cảm thấy Thầy là vị ân sư của tôi.
Khi Thầy còn
sanh tiền, tôi thường đến thăm Phật Học Viện của Thầy, nhưng tôi không
để ý lắm cây cảnh chung quanh. Từ ngày Thầy viên tịch, tôi cũng thường
đến đây do một vài Phật sự. Những khi rỗi rãnh, có nhiều dịp đi xung
quanh, tôi mới chợt thấy ra cây cảnh đã in đậm dấu vết và chí nguyện của
Thầy. Cây cảnh đã giúp tâm hồn Thầy gần với thiên nhiên, nhưng chính tâm
nguyện của Thầy đã nuôi lớn cây cảnh. Qua những khóm trúc, những cây
tùng, những cây Bồ đề vươn cao và tất cả những tang cây xanh tươi khác
đang tỏa bóng mát, tôi thấy ngôi chánh điện mới, những tượng Phật, con
đường thiền hành…
Tôi nhớ đã
đọc được đâu đó rằng, nhìn núi mà đứng gần thì chỉ thầy được một lùm cây,
một hóc đá chứ không thấy được trọn vẹn cảnh trí thâm u, hùng tráng của
toàn bọ ngọn núi. Với một khoảng cách không gian, thời gian, tâm lý…tôi
đã nhìn Thầy đầy đủ hơn trước đây, trong đó có hình ảnh một vị ân sư của
tôi.
Quảng Thành
---o0o---
Xem tiếp
: 01
> 02> 03>
04> 05>
06
Mục lục Kỷ Yếu
---o0o---
Vi tính:
Kim Thư; Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-10-2006