Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nhân Vật Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 

 

 


Thành Kính Tưởng Niệm
Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác
 

 



KỶ NIỆM CUỐI CÙNG VỚI THẦY MÃN GIÁC
Hồng Quang

 

        Phật tử miền Trung, thường gọi quý Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức bằng danh xưng “thầy” nghe rất thân mật và gần gủi. Nhưng trong cuộc tranh đấu Phật giáo 1963, vì phải tiếp xúc với các đoàn thể bên ngoài, nhất là với các viên chức chính quyền Ngô Đình Diệm trong Ủy ban Liên Bộ, nên các danh xưng về giáo phẩm trong Phật giáo Việt nam mới thấy dùng nhiều. Điều đó làm giảm bớt tình cảm thân thiện giữa tình thầy trò. Vì thế, thay vì gọi là Hoà thượng Thích Mãn Giác, tôi gọi là Thầy để vẫn giử được tâm cảm đậm đà nguyên sơ.

        Là một giáo sư, một thi sĩ, một nhà văn hóa và một bậc lãnh đạo Phật giáo nên rất khó để viết đủ và viết hết về Thầy Mãn Giác trong một vài trang giấy. Nên tôi chỉ xin kể hai kỷ niệm cuối cùng với Thầy để kỷ niệm ngày Thầy ra đi nhưng vẫn còn đó.

     

Kỷ niệm thứ nhất, vào dịp sau Tết năm Bình Tuất (2006), tôi đến thăm và mang theo Thư Mời tham dự Hội thảo với chủ đề “Phật giáo trong thời đại mới, Cơ hội và Thách thức” do viện Nghiên cứu Phật học Việt nam gởi qua. Mở Thiệp mời ra đọc, với bản tính của một thi sĩ dễ xúc động, Thầy mếu máo khóc và nói rằng “Đây là việc làm của các Trưởng tử Như Lai, nhưng nay Hồng Quang và những anh em cư sĩ hỗ trợ công việc Phật sự hy hữu nầy của VNCPH, thầy rất tán thán công đức, Thầy sẽ gởi tịnh tài hổ trợ và viết bài...” Thầy bảo anh quản lý, CVT, viết chi phiếu một ngàn Mỹ kim đưa tôi để gởi về VNCPHVN. Những tháng ngày sau đó, Thầy yếu dần vì bệnh tiểu đường. Mặc dù vậy, Thầy cũng đã hoàn tất bài phát biểu, dưới hình thức Thư Ngỏ, của mình để gởi đến hội thảo như là những lời nhắn gởi cuối cùng của một người vốn nặng tình với quê hương và đạo pháp. Đoản văn nầy, riêng đối với tôi, đã trở thành di sãn văn hóa cuối cùng mà Thầy để lại cho Tăng Ni và hậu thế. Dưới đây là một vài trích đoạn để những người con Phật chiêm nghiệm cho những bước đi trên con đường hoằng hóa độ sanh và hộ quốc an dân mà Thầy trao gửi:

·        “Kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi...”

·        “Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng tìm đến Phật...”

·        “Đạo làm cho người gần nhau, nhưng người lại làm cho đạo trở thành tử thù. Cho nên, dù Phật giáo đang xuất hiện như một liều thuốc giải cho căn bệnh thời đại, một hi vọng cho tình huống tuyệt vọng của nhân loại đang tấp tễnh bước vào thế kỷ 21, chúng ta cũng nên để ý đến hai điều…”

Nhận thức được những biến động tai hại do việc có những thế lực đời cũng như đạo, núp bóng và nhân danh tôn giáo để làm hại tổ quốc, Thầy kêu gọi Phật tử ý thức về trách nhiệm của mình đừng để tổ quốc bị lâm vào tình trạng như các nước láng giềng:

·        “Dù đạo Phật có thể là một phương thuốc của thời đại, nhưng chúng ta cũng đừng quên những biến động chính trị và tôn giáo đang xảy ra ở Thái Lan, Sri Lanka, Miến Điện và Népal là những xứ mà đạo Phật là tuyệt đại đa số, để thấy rằng muốn cho đạo Phật trở thành phương thuốc hòa bình thì người Phật tử phải tinh tấn cảnh giác và cố gắng nhiều hơn nữa...”

Trên phương diện hành trì, Thầy nhắn gởi những điều thực tế:

·        “Người Phật tử Việt Nam phải gia tâm học tập bài học dấn thân hiện đại hóa đạo Phật ..”.

Với thế sự, quan điểm của Thầy là hàng sơn môn không nên cận kề với quyền lực:

·        “Sơn Môn phải tạo cơ duyên cho Phật tử tại gia đóng góp vào công cuộc giữ nước dựng nước, nhưng Sơn Môn cũng phải tránh vết xe đổ của việc quá cận kề với quyền lực thế trị. Muốn vậy thì về phương diện định chế, Phật giáo như một đạo hay một tôn giáo phải tách biệt hẳn với phạm vi thế trị. Phật đã chối từ ngai vàng không phải để làm vua, nói chi đến chuyện làm vua của những vì vua. Phật chối bỏ ngai vàng để làm thầy, làm tấm gương cho đời.”

Với chính phủ Việt Nam, Thầy ước mong những nỗ lực chống tham nhũng được thành tựu:

·        Tôi ghi nhận quyết tâm của Nhà Nước trong cuộc chiến cam go chống quan liêu tham nhũng, thụ hưởng và vọng ngoại. Tôi cầu mong toàn thể Phật tử xuất gia cũng như tại gia, cá nhân cũng như đoàn thể cảnh giác và quyết tâm ngăn chận những biểu hiện tiêu cực đó không xâm nhập vào chùa chiền tự viện và các tổ chức Phật sự.” 

      Trên đây là vài điều mà tôi trân trọng như là những lời di chúc của một Sa môn biết mình sắp lìa khỏi cỏi đời để về với Chân không Tự tánh.

 

Kỷ niệm thứ hai với Thầy Mãn Giác: Chiều ngày 25.9.2006, tôi đến thăm Thầy tại chùa Việt Nam ở thành ph Los Angeles. Trong những lời hỏi han giữa tình Thầy trò, tôi xin Thầy được in “sản phẩm văn hoá cuối cùng của Thầy” vào tác phẫm “Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới, Tập 3, Tại Sao Phải Chấn Hưng” do Giao Điểm xuất bản. Thầy cảm động và mếu máo khóc. Sư cô Chân Mẫn, người hầu cận xoa tay Thầy và an ủi. Thầy hỏi tôi chừng nào in xong. Tôi thưa “Dạ, khoảng tháng 11 năm nay”.

       Thứ Sáu ngày 29.9.06, Tăng chúng chùa Việt Nam tổ chức sinh nhật mừng Thầy tròn 78 tuổi. Một buổi chiều trong khuôn viên chùa Việt Nam không khí ấm cúng giữa tình Thầy trò và các đệ tử, Phật tử và thân hữu. Có thầy từ Sacramento đến, có vị từ Hawaii về, từ Florida qua, và một số Phật tử và chư tôn đức nhiều nơi đã vượt trùng dương về dự lễ thượng thọ của Thầy. Những lời chúc tụng, những dọng ngâm thơ thiền do Thầy sáng tác làm cho buổi lễ thượng thọ trở thành một lễ hội vui mừng, tuy đơn sơ nhưng ấm cúng khó quên. Tôi có linh tính như hôm nay là buổi lễ sinh nhật cuối cùng của Thầy nên sau những lời chúc của nhiều vị hiện diện, tôi cũng muốn phát biểu đôi lời để Thầy vui trong những ngày còn lại. Nhưng thầy Tâm Thiện trong ban tổ chức cho biết “muốn rút ngắn thời gian vì Thầy ngồi lâu trên xe lăn, không được khỏe”. Dưới đây tôi ghi lại những điều tôi nghĩ trong đầu nhưng không có cơ duyên để chúc mừng và tiển biệt một vị Thầy khả kính trong ngày sinh nhật.

“… những áng thơ thiền siêu phàm thoát tục thong dong hồn nhiên diễu cợt như mây nước lững lờ trôi mà thi sĩ Huyền Không đã để lại cho hậu thế:

 Ta từ sinh tử về chơi
 Ngồi trên chóp đỉnh mĩm cười với trăng.

        Một thi sĩ đã an trú trong định, trong thiền dững dưng với sinh tử, đùa dỡn với sông nước mây ngàn, với gió trăng, với vũ trụ, với thiên nhiên bao la vô tận. Nhưng gần gủi hơn là hai câu thơ bất hủ, trở thành hai câu ca dao tục ngữ của dân gian, mô tả được nhiệm vụ của mái chùa đã từng cưu mang và ấp ủ hồn tính của dân tộc trong suốt chiều dài thăng trầm của vận nước:

     Mái chùa che chở hồn dân tộc
     Nếp sống muôn đời của tổ tông.

        Những sử gia uyên bác, những nhà làm văn học nghệ thuật tài ba cũng phải cần hàng chục trang giấy mà vẫn khó lòng để mô tả hồn tính của dân tộc dưới những mái chùa.

      Nơi đây, dưới mái chùa, nhiều văn giai thi sĩ đến nghe kinh, tu học, uống trà, đàm đạo với các thiền sư. Từ đó, nguồn cảm hứng đã giúp họ cho ra đời những tác phẫm văn hóa kiệt xuất mà truyện Kiều của Nguyễn Du là một trong số. Các nghĩa quân, kháng chiến chống ngoại xâm, gặp lúc sơn cùng lộ tuyệt của cuộc đời thì chạy vào chùa ẩn náo để bảo toàn lực lượng. Các thiền sư đã từng đào tạo cho giòng giống Việt những ông vua, những vị quan những nhà cách mạng, những người lính đầy tâm chất bi hùng tuyệt trác, biết hy hiến cuộc đời cho công cuộc an bang tế thế, giúp dân giữ nước đuổi ngoại xâm trong suốt chiều dài chìm nỗi của dân tộc.

      Dưới mái chùa, một Vạn Hạnh thiền sư, một Khuôn Việt thiền sư đã giáo dưỡng được những ông vua, những vị quan đầy đủ ba đức tánh Bi, Trí, Dũng để quân Nguyên Mông, một đạo quân bách chiến bách thắng đã chiếm phần lớn thiện hạ, nhưng lúc đến Việt Nam, đạo quân nầy không những chỉ thua trận một lần mà thua trận đến ba lần.

        Thi sĩ Huyền Không, trong hai câu thơ bình dị mà tuyệt tác, đã cho thấy cái mái chùa đơn sơ nhưng che chở được hồn tính của dân tộc. Do đó, từ thành thị đến thôn quê, từ trong nước ra hải ngọai, nơi đâu có chùa thì nơi đó có hình ảnh Huyền Không. Trên 80 triệu người Việt Nam đến lễ bái tại những nơi che chở được hồn tính của dân tộc thì cũng đến với con người đã mô tả được công dụng của những mái chùa qua hai câu thơ bất hủ vừa nói.

       Buổi sinh nhật thượng thọ hôm nay về phẩm thì rất lớn, nhưng lượng thì chỉ có gần 100 người. Nhưng con số lớn, rất lớn, là hằng triệu triệu người Phật tử thuộc nằm lòng hai câu thơ để đời mà tác giả là thi sĩ Huyền Không, là Thầy Mãn Giác. Và chính đó mới là con số đông. Họ tuy không có mặt nhưng vẫn đang tham dự ngày sinh nhật của thi sĩ Huyền Không hôm nay, và hình ảnh Thi sĩ cũng ẩn hiện trong lời ca tiếng hát mỗi lúc đọc đến hai câu thơ tuyệt tác nầy.

        Thư Ngỏ gởi khóa Hội thảo, như là một sản phẩm văn hoá cuối cùng của Thầy, đã được đưa lên mạng (web) của hầu hết các trang nhà Phật giáo, rồi sẽ có hằng trăm ngài người đọc. Và những tác phẩm về thơ, về thiền, văn hoá, triết học, tôn giáo, những cống hiến của Thầy đối với nền văn hoá và giáo dục nước nhà, những ai có học với Thầy, có đọc sách và ngâm thơ của Thầy thì những người đó không hiện diện trong ngày sinh nhật của Thầy hôm nay, nhưng họ đã, đang và sẽ hiện diện trong dòng văn hoá dân tộc mà trong đó những tác phẩm và công hạnh của Thầy cũng đã đóng góp. Do đó, chúng ta vui mừng ngày sinh nhật của Thầy là vui mừng về sự ra đời của một thi sĩ, của một nhà giáo dục, một nhà văn hoá đã đóng góp công hạnh của mình để tô bồi thêm cho đời cho đạo, cho lớp hậu sinh.

      Trong những tháng năm sống tha hương trên xứ lạ quê người, nếu con có những điều thiếu chân thực với Thầy, thì hôm nay, một lần nữa, con xin lỗi và sám hối. Một ngày nào đó, Thầy sẽ ra đi như bao nhiêu người khác. Thân tứ đại sẽ trở về với cát bụi, nhưng những công hạnh của Thầy đối với nền giáo dục, với văn hóa, với đạo, với quê hương vẫn sống mãi với núi sông. Nói đúng hơn là Thầy chăng đi đâu, Thầy vẫn sống mãi trong lòng mọi người và trong lòng dân tộc.”

        Những tâm tình tôi vừa ghi lại là những ý tưởng định phát biểu tại ngày sinh nhật thứ 78 của Thầy để Thầy còn nghe được, nhưng ban tổ chức không cho phép vì thì giờ giới hạn. Giờ đây thì Thầy không còn nghe, mà Thầy cũng chẳng cần, để:

“Nghe tiếng hoa khai bổng dật mình

Sáng nay thức dậy choàng thêm áo

Vũ trụ muôn đời vẫn mới tinh”.

Thật vậy, Thầy đang bước vào một cuộc hành trình mới tinh trong dòng Vô Sinh.

      

Hồng Quang
Trong những giây phút nhớ đến Thầy Thích Mãn Giác

 

 

 


Trở về Trang Tưởng Niệm
Cố Hòa Thượng Thích Mãn Giác

 

---o0o---

Trình bày: Tịnh Tuệ

Cập nhật: 19-10-2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com Trở về Trang Tưởng Niệm

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544