Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Sách báo Phật Giáo


...... ... .

 
 

 NHÂN ĐỌC “NHỮNG NẺO ĐƯỜNG DU HỌC”

TRÊN TRANG NHÀ CHUYỂN PHÁP LUÂN

Thích Nhật Từ

***

Tôi được một pháp hữu, hiện là nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Ấn Độ, chuyển qua email bài viết "Những nẻo đường du học" của hai thầy Huyền Như - Tr Nguyên đăng trên trang nhà "Chuyển Pháp Luân." Lần theo trang nhà này, tôi đọc được thêm hai bài khác của Viên Minh và Phúc Đoàn. Đọc xong, tôi đã trao đổi trực tiếp trên Paltalk với Thượng toạ Thích Thiện Bảo, thư ký Báo Giác Ngộ. Bài viết này ghi lại một phần nội dung của cuộc trao đổi.

 ĐỪNG “SUY BỤNG TA RA BỤNG NGƯỜI”

"Thư gửi từ Delhi" của nguyenhoa24vn@yahoo.com chỉ là một email mang tính "nhỏ to tâm sự" của người viết gởi cho thầy Q.N. Lời tâm sự cá nhân đó đã biến chuyện "nhỏ" thành ra "to." To hơn nữa, lời tâm sự với nhiều thông tin sai và đánh giá thấp trình độ tiếng Anh của nhiều du học tăng đã được thầy Q.N. chuyển [?] và đưa lên báo, tạo tiền đề nhận định tốt xấu chuyện du học của tăng ni sinh Việt Nam trong gần hai thập niên qua.

Nguyenhoa24vn@yahoo.com quá khinh thường trình độ tiếng Anh của quý du học tăng Ấn-độ khi cho rằng “Nhiều người tiếng Anh viết chưa đầy cái lá mít mà vẫn tìm cách du học.” Rồi từ đó, suy luận võ đoán rằng “nhiều người chạy tiền để cho giáo sư nâng điểm.” Một người mới sang Ấn-độ du học, không hề chứng kiến những sự kiện diễn ra trước đó, lại dám bạo gan nhận xét như vậy, quả thực là chủ quan. Nối kết sự kiện "kém tiếng Anh của sinh viên" với việc "chạy tiền xin nâng điểm" là cách suy diễn có thể có logic nhưng chưa chắc có chân lý. Suy diễn cảm tính và tuỳ tiện là điều nên tránh trong "chánh ngữ" của nhà Phật.

Tôi không biết trình độ tiếng Anh của Nguyenhoa24vn@yahoo.com giỏi cỡ nào mà lại dám chê nhiều tăng ni sinh du học Ấn-độ “tiếng Anh viết chưa đầy cái lá mít.” Thái độ ngạo mạn như vậy thật là quá đáng, khi trình độ tiếng Anh của bản thân Nguyenhoa24vn@yahoo.com (theo lời tự sự của tác giả) chỉ thuộc vào cở "sách của tụi con nít lớp 2, lớp 3 thôi mà mình đọc cũng thấy mệt lắm rồi.” Lời tự sự đó có thể là lời khiêm nhường (!?) nhưng cũng có thể là sự thật. Để diễn tả cụm từ "phí sinh viên ngoại quốc" Nguyenhoa24vn@yahoo.com đã dịch sai bét "foreigner student fee" thay vì phải viết "foreign students fee" (nếu là sinh viên thuộc Đại học Delhi thì phải viết là foreign students registration fee tức “lệ phí ghi danh đối với sinh viên ngoại quốc," vì ngoài lệ phí này còn có học phí và những phí tổn khác nữa (tuition fees and other fees) hay "international students fee” hoặc thỉnh thoảng được viết là "The fee for self-financed foreign students” để phân biệt với sinh viên ngoại quốc được cấp học bỗng. Nguyenhoa24vn@yahoo.com viết sai văn phạm vỡ lòng như thế lại dám chê quý du học tăng khác "tiếng Anh viết chưa đầy là mít" thì thật là quá đáng. Điều đáng nói là email tâm sự "nhỏ" thành "to dzỏm” đó lại được quý thầy biên tập viên báo Giác Ngộ trân trọng đưa lên báo, làm tiền đề đánh giá về chuyện du học của hàng trăm tăng ni sinh Việt Nam, đã trở thành "to thật" !

Tệ hơn nữa, Nguyenhoa24vn@yahoo.com còn buộc tội "người Việt mình qua đây [Ấn-độ] làm "hư" giáo sư [Ấn-độ]". Không biết "chuyện làm hư giáo sư Ấn-độ” có hay không, chứ chính Nguyenhoa24vn@yahoo.com đã làm "hư thiệt" một nhân viên hành chánh theo lời tự sự của y: "Mà mình làm "hư" họ thiệt, vì khi vô phòng một anh nhân viên quèn để ký giấy tờ nhập học, anh ta ngồi ì ra đó, chỉ khi đưa tiền rồi mới chịu làm nhanh.” Đừng lấy bụng ta suy ra bụng người rồi quơ đủa cá nắm. Thiết nghĩ các biên tập viên của Báo Giác Ngộ nên làm việc với sự cân nhắc kỹ lưỡng hơn trước khi đem lên báo phân tích như một sự kiện “điển mẫu,” mà trên thực tế, nó chỉ đáng là một sự kiện "điên đảo." Đừng nên mượn cớ của một email không xứng đáng để nhận định đúng hay sai, nên hay không nên, tiêu chí của du học và những chuyện liên quan, mà bất chấp hay không nhìn thấy trước được mức độ tác hại của vấn đề khi được phân tích trên báo. Tại sao chúng ta lại không thảo luận chuyện du học bằng một sự bắt đầu thật sự nghiêm túc?

DU HỌC ẤN ĐỘ: NÊN HAY KHÔNG?

Dĩ nhiên, khi đọc xong loạt bài "Những nẻo đường du học” có nhiều tăng ni trẻ sẽ không khỏi băn khoăn tự hỏi là có nên đi du học Ấn-độ không? Những thông tin và nhận định trên báo Giác Ngộ là đúng hay sai, bôi đen hay tô hồng hiện thực? Câu trả lời “nên hay không" tuỳ thuộc vào "mục đích” của người đặt câu hỏi.

Nếu mục đích đi du học Ấn-độ để có dịp trau dồi kiến thức Anh ngữ thì thật là phí phạm, vì tiền học phí và ăn ở tại Ấn-độ mắc hơn nhiều so với học tiếng Anh trong các trung tâm Anh ngữ tại Việt Nam.

Nếu du học để kiếm một tấm văn bằng thì lại càng không nên vì giữa văn bằng và kiến thức có thể có một khoảng cách rất lớn. Đó là chưa nói đến tình trạng, học nghiêm túc mà không thi đậu thì làm sao có được văn bằng. Hơn nữa, văn bằng có thể trở thành bệ phóng cho bản ngã đối với ai có thói quen hãnh diện trước những thành tựu của mình.

Nếu du học Ấn-độ để trang bị cho mình một kiến thức nội điển và thế học vững vàng, làm hành trang cho các Phật sự, đặc biệt trong hoằng pháp và giáo dục về sau, hoặc xem du học là cơ hội để trải nghiệm tu học trên mảnh đất tâm linh của Phật giáo, thì đó là động cơ đáng tán thán.

THỂ CHẾ GIÁO DỤC ẤN-ĐỘ

Phần lớn, hệ thống giáo dục đại học ở Ấn-độ hiện nay mang phong cách của nền giáo dục Anh hơn 100 năm về trước. Đây là nền giáo dục niên chế, mỗi năm thi một lần. Chương trình cử nhân gồm 3 năm. Chương trình cao học gồm 2 năm. Chương trình phó tiến sĩ từ 1 năm đến 3 năm (có thể được bải miễn nếu điểm của khoá Cao học đạt được từ hạng tiên tiến trở lên). Chương trình tiến sĩ gồm từ 2 đến 5 năm. Số lượng năm của mỗi cấp học vừa nêu có thể thay đổi tuỳ theo từng trường và từng ngành học. Sinh viên cử nhân và cao học của hầu hết các trường đại học khỏi phải làm luận văn tốt nghiệp như hệ thống giáo dục của Việt Nam hiện nay. Chỉ có hai cấp học phó tiến sĩ và tiến sĩ mới viết luận án nghiên cứu. Các sinh viên cũng không phải làm các bài nghiên cứu (research papers) trong suốt chương trình học như ở các hệ thống giáo dục khác. Trường đại học Delhi và nhiều trường đại học khác tại Ấn-độ bải miễn kỳ thi tuyển sinh cho sinh viên ngoại quốc. Sự thuận lợi này đã tạo nghịch cảnh cho việc học của một số sinh viên ngoại quốc chưa trang bị cho mình kỹ năng nghe, đọc và nói tiếng Anh vững.

Vì thi cử mỗi năm một lần, khuynh hướng giáo dục của các trường Đại học tại Ấn-độ đề cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu và biến các sinh viên thành các "tự điển bỏ túi" về lãnh vực mà họ theo học. Nhiều sinh viên Ấn-độ đã trở thành những bộ "tự điển sống" về "kiến thức tổng quát" (general knowledge) trong các kỳ thi "Master Mind India” do đài truyền hình BBC tổ chức. Phương pháp giáo dục như vậy tương đối thích hợp với người Ấn-độ có truyền thống “học thuộc lòng” vốn ít nhiều gắn liền với truyền thống tôn giáo Veda, nhưng lại gây không ít khó khăn cho sinh viên ngoại quốc, được đào tạo từ các truyền thống giáo dục Mỹ, Pháp và Việt Nam. Cách thức học "mưa rào thấm đất" yêu cầu sinh viên phải học và soạn bài nghiêm túc từ đầu năm, bằng không, sinh viên có thể lúng túng trong thi cử: cả một chương trình học làm sao nhớ hết nỗi. Từ đó đã có khuynh hướng trong số sinh viên ngoại quốc ở những nước mà tiếng Anh chỉ là ngôn ngữ phụ như ở Việt Nam, phải "soạn tủ" và "học tủ" từ 10 đến 20 câu hỏi cho mỗi bài thi (paper). Với cách học này, dù không giỏi tiếng Anh, người học vẫn có thể thi đậu trong các kỳ thi cuối năm.

Do đó, đừng bao giờ hỏi rằng người đi học Ấn-độ có trình độ thật sự sau khi tốt nghiệp hay không. Người chuẩn bị du học nên hỏi rằng mình có đủ kiến thức Anh ngữ và kiến thức chuyên môn để theo học thành công tại các trường đại học Ấn-độ không.

Hơn thế, cần nói thêm rằng giáo dục đại học, bất kỳ đại học ở quốc gia nào, là tự giáo dục. Giáo sư và giảng viên đại học chỉ cung cấp cho sinh viên những kiến thức cần thiết. Sinh viên không thể trông chờ hoặc lệ thuộc vào kiến thức của người thầy. Kiến thức và thông tin của người thầy chẳng qua cũng chỉ là một dữ liệu tham khảo như bao nhiêu quyển sách khác, mà sinh viên có thể đọc được trong thư viện. Nếu có tinh thần tự học thì lo gì không có thực chất. Nếu không có tinh thần tự học thì dù tốt nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng nhất thế giới vẫn không đảm bảo được trình độ chuyên môn.

CÁCH THỨC SỬ DỤNG NGƯỜI CÓ HỌC

Bác học đa văn được đức Phật liệt vào một trong bảy loại tài sản của bậc thánh, mà tất cả những ai muốn giải thoát không thể không trau dồi. Trong thời đức Phật, con đường hành trì (tu) thường bắt đầu bằng học thông qua cái nghe (văn) có tư duy (tư). Tiến trình học, tư duy và tu là ba giai đoạn của con đường hành trì tâm linh trong đạo Phật. Rất tiếc gần đây, vai trò của học không được xem trọng, vì nhiều vị tôn túc sợ rằng tăng sĩ đi học có thể vì duyên tiếp xúc với các ngành thế học và học chung với người đời nên dễ "ra đời." Trong thực tế, có nhiều tăng sĩ Phật giáo thời hiện đại có học thức, có văn bằng học vị vẫn tiếp tục là những vị tu sĩ có phẩm hạnh và tâm huyết, đóng góp rất nhiều cho việc hoằng pháp và giáo dục.

Trong thời của đức Phật, hai ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên mặc dù xuất gia và chứng đắc quả A-la-hán nhờ vào ngài Mã-thắng, một trong năm anh em Kiều-trần-như nhưng vai trò đóng góp của hai ngài cho sự lớn mạnh của tăng đoàn và Phật giáo là vô song. Số là trước khi đến với đạo Phật, hai ngài đã từng là các nhà tri thức, nhà tư tưởng lớn. Như vậy, có thể nói, kiến thức nội ngoại điển là hai phương tiện rất hiệu quả, giúp nhà hoằng pháp thành tựu nhiều Phật sự độ sinh.

Trước năm 1975, GHPGVNTN đã biết mời gọi và tạo điều kiện cho tăng tài tham gia đóng góp cho ngôi nhà Phật giáo VN. Vào thời điểm đó, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ trở về nước, TT. Thích Minh Châu được cử làm tổng vụ trưởng vụ giáo dục (nay gọi là Trưởng Ban Giáo Dục Tăng Ni TW); TT. Thích Huyền Vi được cử làm tổng vụ trưởng vụ Hoằng pháp (=Trưởng ban Hoằng Pháp TW), TT. Thích Mãn Giác, tổng vụ trưởng vụ Vă n hoá, ĐĐ. Thích Trí Quảng làm tổng vụ trưởng vụ phiên dịch, rồi tổng vụ trưởng vụ thanh niên. Chư tôn đức khác như TT. Thích Quảng Độ, TT. Thích Quảng Liên, TT. Thích Thuyền Ấn, ĐĐ. Thích Trí Siêu, Sư cô TN. Trí Hải v.v... đều được mời tham gia vào các trách vụ quan trọng trong Viện Hoá Đạo và trong các tổng vụ. Hiện nay, tại hải ngoại, GHPGVNTN tiếp tục mời gọi nhân tài. ĐĐ. Thích Nguyên Tạng được cử làm phó tổng thư ký GHPGVNTN tại Úc châu (= Phó tổng thư ký Hội Đồng Trị Sự GHPGVN). ĐĐ. Thích Đồng Văn được cử làm Chi Bộ Phó Nội Vụ của Chi hội GHPGVNTN Đức Quốc (=Phó chủ tịch Hội Đồng Trị Sự) v.v...

Trong hệ thống GHPGVN hiện tại, có thể nói trên 90% quý tăng ni trẻ tốt nghiệp tiến sĩ, thạc sĩ v.v... trở về nước, chỉ được mời làm "uỷ viên dự khuyết" trong các ban trị sự tỉnh thành, chẳng hạn như BTSPG TP.HCM và Đồng Nai. Chưa có một vị tăng ni trẻ nào trong số đó được mời tham gia trong Hội Đồng Trị Sự (= Viện Hoá Đạo). Dĩ nhiên hai khuynh hướng sử dụng người có học vị khác nhau trong hai giáo hội trước và sau 1975 sẽ dẫn đến các thành quả khác nhau, đôi lúc trái ngược nhau, trong các hoạt động Phật sự của giáo hội, thiết nghĩ không cần nêu ra đây thì người đọc cũng có thể thấy được.

Thỉnh thoảng chúng ta vẫn nghe một số tôn đức than vắn thở dài tình trạng Phật giáo Việt Nam lâm vào cảnh "tre tàn mà măng chưa mọc." Trên thực tế, cứ sau mỗi khoá học Trung đẳng, Cao đẳng và Cử nhân Phật học, cũng như hai lớp Trung Cấp và Cao Cấp Hoằng Pháp, PGVN có thêm hằng trăm tăng sĩ trẻ có học lực vững vàng, có thể phụ giúp và gánh vác các công việc Phật sự của các bậc thầy của họ. Măng vẫn thường xuyên mọc bên cạnh các cụm tre già. Nhiều măng đã không còn là măng nữa, mà đã thành tre xanh. Trong số đó, cũng đã có một số đã trở thành tre vàng, rồi sẽ trở thành tre già. Ấy thế mà, vẫn còn đó thói quen nhìn hàng trăm luỹ tre xanh trên khắp các thôn xóm PG Việt Nam là "măng chưa nhú" hay “măng dự khuyết.” Chỉ cần một ngọn gió thổi lao xao thôi, các cụm tre già sẽ nhận ra rằng các luỹ tre xanh con cháu của mình đã, đang và tiếp tục sẽ vững mạnh bên cạnh mình. Sự vững mạnh của những luỹ tre sẽ làm cho họ hàng nhà tre sẽ không bị quật ngã trước những trận cuồng phong của cuộc đời. Chúng ta không chỉ cần có một bụi tre, mà cần nhiều luỹ tre và rừng tre, để các thành tựu Phật sự của các rừng tre có thể mang lại hạnh phúc và an vui cho số đông.

BẰNG CẤP VÀ BẰNG LÒNG

Giữa văn bằng của học đường và kiến thức trong thực tế có thể có một khoảng cách rất lớn. Bởi lẽ, văn bằng chỉ là tấm giấy xác nhận người học đã hoàn tất một chương trình hay khoá học thuộc về một lĩnh vực nào đó trong học đường; trong khi đó, kiến thức bao hàm tất cả những gì liên hệ học đường, hay ngoài học đường, ngay cả thông qua con đường tự học, tự suy nghiệm, kinh nghiệm và thể nghiệm tôn giáo hay tâm linh. Trong các nước có nền giáo dục tiên tiến, văn bằng tiến sĩ không có gì là ghê gớm. Do đó, không ai rãnh đi làm công việc “hạ bệ” người có văn bằng để chứng tỏ mình không có văn bằng mà vẫn hơn kiến thức của họ. Mặc dù vậy, nhiều nước phát triển vẫn khuyến khích người có văn bằng, bằng cách trả lương tuỳ theo văn bằng và trình độ chuyên môn mà đương sự có. Người không có văn bằng giáo dục ít khi được sử dụng trong học đường, ngoài trừ trường hợp ngoại lệ. Trong các chức nghiệp khác, không có văn bằng mà hành nghề là vi phạm luật, do đó, sẽ bị phạt. Trong PGVN có quá ít người có văn bằng tiến sĩ. Do đó, bên cạnh những lời tán thán và khích lệ tăng ni có văn bằng này, vẫn còn có nhiều người có thành kiến với văn bằng. Người có văn bằng có thể có kiến thức chuyên môn về ngành (departments) mà mình đã học và nghiên cứu, nhưng chưa hẳn đã có kiến thức chuyên sâu về lãnh vực đó. Người không có văn bằng nếu biết phương pháp tự nghiên cứu vẫn có thể giỏi bằng hoặc giỏi hơn người có văn bằng. Kiến thức có thể liên hệ hoặc không liên hệ đến văn bằng hay không văn bằng. Do đó, có gì đâu mà tranh hơn thua và cao thấp.

Giữa kiến thức và hành đạo cũng có thể có khoảng cách tương tự. Biết vận dụng kiến thức như một công cụ, sự nghiệp hành đạo dễ thành công hơn. Sử dụng sai kiến thức thì khó tránh tình trạng "thế trí biện thông nạn." Hành đạo không có kiến thức và không có phương tiện thì khó độ được giới trẻ trong các thời đại, và đôi lúc có thể hành đạo đi ngược lại với các tông chỉ và pháp môn của đức Phật đã dạy trong kinh điển.

Do đó, giữa kiến thức, hành trì và hành đạo có mối quan hệ đa chiều, hỗ tương lẫn nhau. Kiến thức có thể giúp cho hành giả đi trên con đường hành trì và hành đạo một cách có phương pháp hơn, và do đó, thành công Phật sự nhiều hơn, với thời gian và công sức có thể đầu tư ít hơn, so với trường hợp hành trì và hành đạo thiếu phương pháp, do thiếu kiến thức chuyên môn về phương pháp tu tập.

Có lần, người viết được nghe một vị thượng toạ, thuộc chư vị lãnh đạo PG miền Nam phát biểu trong một đại hội rằng “chúng tôi không cần những người có bằng cấp; chúng tôi cần những người biết làm bằng lòng." Câu nói đó có nhiều ẩn nghĩa. Thứ nhất, người có bằng cấp không biết cách làm chúng tôi bằng lòng, cho nên chúng tôi không cần họ. Thứ hai, chúng tôi không cần đến người có bằng cấp, bất chấp họ biết cách làm chúng tôi bằng lòng hay không. Thứ ba, người có bằng cấp không cùng chí hướng với chúng tôi, cho nên tại sao chúng tôi phải cần họ. Người có bằng cấp cống cao ngã mạn, cho nên chúng tôi phải dẹp họ v.v... Có thể còn nhiều ẩn ý khác nữa. Bằng lòng cũng có nhiều nghĩa. Kính trên nhường dưới tạo ra sự bằng lòng. Thấu lý đạt tình tạo ra sự bằng lòng. Tuỳ duyên bất biến tạo ra sự bằng lòng. Có chí nguyện lớn, có dấn thân giỏi tạo ra sự bằng lòng v.v... Nhưng cũng có những kiểu làm bằng lòng bằng các cách thức thiếu chất liệu của bi trí dũng. Chẳng hạn, đi bằng đầu gối, luyện cái cổ gật đầu thật giỏi, im lặng như một pho tượng: Nói gì nghe đó, đặt đâu ngồi đó, bảo gì làm đó, tuân thủ tuyệt đối, bất chấp giá trị và đúng sai v.v... Các phát biểu "bằng cấp và bằng lòng" như vậy sẽ làm cho sợi giây mâu thuẫn vô hình giữa học và không học, văn bằng và không văn bằng, ngày càng thắt chặt.

Để kết luận bài viết ngắn này, người viết xin khẳng định rằng theo tinh thần nhà Phật, nếu nghiên cứu, văn bằng và kiến thức không phải là bệ phóng, giúp cho con người có thể thành Phật, thành thánh, thì ngược lại, chúng cũng không phải là những thứ làm cho con người rớt vào địa ngục, ngạ quỹ và súc sinh. Vấn đề ở chỗ là chúng ta sử dụng sở học như thế nào, trong tiến trình nhân quả "văn-tư-tu." PGVN có quá ít người có văn bằng, có đạo tâm, có tiềm năng phục vụ, so với các nước Phật giáo Nam tông như Tích-lan và Thái Lan v.v... Chúng ta nên tạo điều kiện để cho số lượng tăng ni trẻ có tài có đức đi du học nhiều hơn, để sau này khi tốt nghiệp, dấn thân làm việc Phật sự nhiều hơn với thành tựu cao hơn. Đừng vì thiển cận, ác cảm, thành kiến mà có những lời chỉ trích, phê phán một chiều giá trị của du học, nhất là du học tại Ấn-độ, mãnh đất tâm linh đã khai sinh ra đạo Phật, nhờ đó, nhân loại có được ánh sáng tuệ giác như hôm nay.

 

 --o0o--

Cập nhật : 14-12-04


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Diễn Đàn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com