Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh

qd.jpg (8936 bytes)

Tản Mạn


...... ... .

 

 

ÐẠO PHẬT VÀ ÐỜI SỐNG CON NGƯỜI

Nguyên Khang

---o0o--- 

ÐẠO Ý:

Trước khi vào phần luận thảo, tôi xin giãi bày cùng qúy bạn một vài suy nghĩ của tôi về Ðạo Phật. Trong đời sống hiện tại của thế nhân hai chữ Ðạo Phật đã bị đồng hóa (theo cái hiểu chung) là một thứ tôn giáo riêng biệt đứng ngang hàng hay tương xứng với môt thứ tôn giáo khác mà thời trước ở Việt Nam hay ở Trung Hoa gọi là Ngũ giáo (Phật giáo, Khổng giáo, Ðạo giáo, Cơ Ðốc giáo và Hồi giáo), nhưng đến hiện nay thì không còn là ngũ giáo nữa mà là vạn giáo có dư rồi. Riêng tôi, khi chưa thực sự bước vào Phật Ðường để học Ðạo Lý nhà Phật thì sự hiểu biết của tôi cũng không thoát ra khỏi cái ý niệm chung đó, bây giờ sau khi thực sự tham thấu trong quá trình học Ðạo Phật và tham thiền tu Ðạo một thời gian đủ để nhận thức ra rằng cái giáo lý (tạm gọi là như vậy) mà Phật để lại cho dân sinh nó không phải là một thứ tôn giáo như ta vẫn tưởng mà thực sự Giáo lý nhà Phật nó vượt hẳn ra ngoài cái tư tưởng hay cái sự suy tưởng của con người đã áp đặt lên Ðạo Lý nhà Phật từ trước đến nay. Một số nhà khoa bảng trí thức còn gọi giáo lý nhà Phật là Triết lý hay giáo lý nhà Phật là khoa học DUY TÂM, môn phật học hay các tôn giáo học khác thì được áp đặt cho cái tên là môn hay khoa thần học v.v..hiện có mặt trong các đại học đường ở những quốc gia nào đã chấp nhận sự hiện hữu của tôn giáo trong xã hội của quốc gia đó.

Có thể nói đó là một sự hiểu lầm lớn đối với giáo lý nhà Phật và là một sự hạ thấp giáo lý nhà Phật xuống hàng giáo lý thế gian trong cái cảnh giới vô thường mà Phật đã nhìn ra cách đây vài chục ngàn năm về trước, điều đó là một tai hại cho những người tu hành muốn tìm cho mình con đường giải thoát!

Theo thiển ý của tôi thì những người đã quy y Ðạo Phật nên dứt khoát trong ý niệm của mình là Ðạo Phật không phải là một thứ tôn giáo, không phải là một thứ triết lý hay một môn khoa học nào, mà ta có thể áp đặt lên giáo lý nhà Phật. Trong ta Ðạo Phật là một cứu cánh giúp ta thường đạt trong con đường giải thoát vĩnh hằng, giúp cái Ngã của mình vượt ra khỏi vòng sinh tử luân hồi của nghiệp. Ðạo Phật trong ta là Ðạo chứ không phải là thứ tôn giáo thường có ở đời vì rằng tôn giáo, triết lý, khoa học cũng chỉ là một thứ vô thường, chính nó nó có sự suy-thịnh, thành-hoại, hưng-mạt như muôn vàn cái hiện hữu ở trên đời này mà thôi. Cho nên Ðạo Phật phải ở ngoài cái sự vô thường đó.

Trong Ðạo Ðức Kinh có viết:   

Ðạo khả Ðạo phi thường Ðạo,

Danh khả danh phi thường danh”

Hiểu nôm na là: Ðạo nếu nói được thì không phải là Ðạo, nếu gọi được cũng không phải là tên đúng của nó. Hay nói một cách văn nho là: Ðạo đại vô danh, cưỡng danh viết Ðạo.

Vì thế Ðạo Phật là con đường vĩnh hằng đưa ta tới giải thoát, Ðạo Phật không chịu sự thành hoại, không có sự hưng mạt, thịnh suy. Nói như vậy mà không sợ quá lời, vì rằng nếu ta tạm tính từ thời Thích Ca Mâu Ni Phật đến nay thì Ðạo Lý của Phật vẫn tồn tại với thế gian trên 2600 năm rồi và chắc chắc một điều là dẫu dù Tạo hóa này có tới ngày tận thế thì Ðạo lý này vẫn là vĩnh hằng. Pháp thế gian có thể thịnh suy như hiện thời thế nhân thường sử dụng cụm từ: “thời mạt pháp”, tôn giáo có thể lúc cực thịnh, khi suy thoái với cụm từ: “thời mạt thế”, như độ dài lịch sử đã chứng minh mà ta đã nhìn thấy.

Nhưng Chân lý giải thoát vẫn không mai một và chẳng bao giờ có sự thay đổi.

Ta đã nguyện (Quy y) theo Ðạo Phật là ta theo cái Chân Thường chứ không phải là theo cái vô thường, ta theo cái vĩnh hằng chứ không theo cái tạm có, cho nên Ðạo là cái gì đó của ta thuộc về riêng ta, do ta vì ta, tại nơi ta mà hình thành, có cái Ngã vĩnh hằng của ta thì ta thuộc về cái vĩnh hằng đó, nếu ta quên con đường đó, tự nhiên ta sẽ lạc lối lầm đường “Thất bản cầu mạt” mà đi vào con đường do Nghiệp dã dẫn dắt ta vào (ma dẫn lối qủy đưa đường) theo thói nhân sinh thường nhật suy niệm.

Tức là ta lọt vô luân hồi đạo.

Ðạo là: “Thiên mệnh chi vị Tánh, xuất tánh chi vị Ðạo” (trích sách Trung Dung). 

Cái Tánh này chính là : “Thị Chư Pháp không tướng bất sinh bất diệt…” mà trong Tâm Kinh Bát Nhã thường dạy. Tìm Ðạo là: Tìm "Phật tại tâm" hay tìm "Phật tánh tự có" hoặc quay về nơi "Nhân chi sơ tánh bổn thiện", làm được, thấy được điều đó là ta tìm được con đường giải thoát cho ta. Ðó là con đường tự độ mình. Sau đó nếu thấy có đủ Ðức năng thì ta gánh vác thêm công việc Tha độ chúng sinh, giúp cho chúng sinh (sự khai mở) để họ tự tìm thấy con đường giải thoát của họ tùy theo cái duyên nghiệp trong vận mệnh mà họ đã nhận cái quả nghiệp hiện tiền này.

Từ cái hiện nghiệp mà trả nghiệp, từ cái hiện nghiệp mà đoạn nghiệp quyết không tác nghiệp hoặc không gieo nghiệp tiếp theo nữa. Không gieo trồng thì không thu hoạch, nói cách khác tức là không nhân thì không qủa, không sinh thì không tử (xin đọc bài luận thảo về Sen với Phật). Ðược như vậy là ta đã ra khỏi vòng sinh tử luân hồi.(xin đọc bài luận thảo về Duyên và Nghiệp)

Qủa đúng như sự chỉ dạy của các vị Tiền nhân : …

” Nhân liễu thử Tâm, nhân tự độ

Linh sơn chỉ tại nhữ Tâm đầu..”

(trích trong “Lương Minh Chiếu Thái Tử Phân Kinh Thạch Ðài” của Ðại văn Hào Nguyễn Du)

tạm dịch:

Linh Sơn ngự tại Tâm Ta

Ngộ ra Tâm ấy là Ta độ Mình.

Hoặc hiểu theo cách bình dân mà trong tục ngữ dân gian Việt thường nhắc nhở ta:

“Ta về Ta tắm ao Ta,

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

Ở câu tục ngữ này, cái hành động “tắm” ám thị cái hành thức tẩy rửa hay gột rửa mà sự gột rửa ấy phải dùng nước (Thủy) mà rửa nên gọi là “tắm ao”(Ao mà xuống tắm được thì phải có nước), nhưng không phải là “tắm ao” người khác mà là cái “ao” trong Ta. Ao đó “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” là bởi vì nó là cái Chân thực không giả dối, không lường gạt mình, chính vì thế dẫu nước có “đục” (thân nghiệp nặng) thì vẫn có tác dụng rửa sạch được những cái dơ mà ta nhiễm phải từ bên ngoài (thói hư tật xấu ở đời). Huống hồ nước ao trong ta mà là thứ nước trong (chắc chắn là vậy, do bởi “Nhân chi sơ tánh bổn Thiện”) thì hẳn phải tốt hơn biết chừng nào.

Trong dân gian còn một câu tục ngữ khác là:

 “ Mình với Ta tuy hai mà một.

Ta với Mình tuy một mà hai”.

Ðúng vậy, “Mình” với “Ta” trong câu tục ngữ chỉ cho ta thấy trong ta có hai thể Ngã hợp lại thành ta, đó là cái Chân Ngã và cái Giả Ngã. “Mình” đây là cái xác thân ta (giả Ngã), “Ta” đây là cái chính Ta tức cái Linh Tính hay cái Chân Ngã. Hai cái Thể Ngã này không thể thiếu nhau được vì nếu tách rời nhau ra thì cái ta không còn là sinh thể sống nữa. Chính vì vậy mà sinh ra cái Pháp “ Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc…” và “ Thị Chư Pháp Không tướng …” cũng chính là cái “Ta” Chân Ngã chứ không phải cái “Mình” giả Ngã.

Qua những lời của các bậc Tiền Nhân để lại, khiến ta phải suy ngẫm tìm cho ra cái Minh Triết Chân Lý mà các Vị đã gửi gắm qua những Kinh Ðiển, văn ngôn hay thơ phú hoặc qua những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ còn lưu truyền tới ngày nay.

Cụ Nguyễn Du trong suốt cuộc đời Tu Ðạo học đạo cũng Ngộ ra rằng:

“ ..Minh kính diệc phi đài

Bồ Ðề bản vô thụ

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung ảo chi đa bất minh

Cập đáo Phân Kinh Thạch đài hạ

Chung tri: Vô tự thị Chân kinh.”

(Trích thơ “ Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh thạch Ðài” của Ðại thi Hào Nguyễn Du)

Tạm dịch:        

Gương sáng chẳng cậy Ðài

Bồ Ðề vô thân cội

Kim cương! Kinh tụng ngàn lần

Uyên thâm mờ ảo như gần như xa

Thạch Ðài tri ngộ riêng ta

Chung quy: Vô tự mới là Chân Kinh.

Qủa đúng vậy, “Vô tự mới là Chân Kinh” hiểu nôm la là: “lời trong câu mà ý ngoài chữ”, mọi cái hữu tự ở trần thế này chỉ là cái tạm mượn nhằm diễn đạt cái lý của Ðạo để hướng dẫn thế nhân từng bước một tiếp cận với Ðạo lý của Thượng Thiên. Nhưng cái hữu tự, tự nó lại là cái vô thường của thế gian nên nó không thể, thể hiện đúng đắn cái Chân lý của Ðạo lý được. Do vậy nó chỉ mang tải được cái pháp thế gian mà thôi. Vì thế nên Phật luôn luôn nhắc nhở chúng sinh rằng: Muốn hiểu Pháp của Phật thì phải ”mượn giả tu chân” tức là qua cái kinh hữu tự (pháp hữu vi) mà tìm ra cái vô tự (Pháp vô vi), cái vô tự mới là cái Chân lý mà Phật muốn truyền giáo cho chúng sinh nào có chân tâm đi tìmcầu Ðạo giải thoát. Cái Tri thức của người muốn tìm và cầu Ðạo giải thoát là cái tri thức tu hành sao cho tìm và giải cho được những ám thị xuyên qua những kinh hữu tự của thế gian. Giải mã đúng thì tìm được con đường tu tiến đúng (chân tu), nếu giải mã sai thì hiển nhiên sẽ bị lầm đường lạc lối và đường tu chắc chắn là hỏng, dĩ nhiên kết qủa không gặt hái được gì, nhiều khi còn nhận lãnh thêm những nghiệp chướng chẳng tốt đẹp gì cho kiếp sau (gieo nghiệp, ký nghiệp..) .

Tóm lại: Một con người muốn tìm tới Ðạo giải thoát, một khi đã gặp được cái duyên khởi (dẫn bảo Sư) thì phải biết phát tâm nguyện (Chân Tâm) cộng với hấp lực của niềm tin mà đi tìm cho được Ðạo, khi tìm được Ðạo phải phát Tâm Nguyện mà cầu Ðạo (chịu sự chỉ điểm của Minh Sư), cầu được Ðạo rồi thì phải tu Ðạo (lý-giải Ðạo) và hành Ðạo (sự-giải nghiệp), trong sự tân tiến của Hạnh tu và Hạnh hành ta sẽ thu đạt được kết qủa của Chứng Ðạo (đắc Ðạo). Như vậy ta có biểu đồ như sau:

 

DUYÊN KHỞI

TÌM ÐẠO   -    CẦU ÐẠO   -    TU VÀ HÀNH ÐẠO   -  CHỨNG ÐẠO

Ðó là con đường duy nhất mà ta phải tới cho được, con đường của chính ta khai phá, nó hoàn toàn độc lập với mọi con đường của các chúng sinh khác tuy nhiên chỉ có chung một điểm là chốn về hội tụ gặp nhau mà thôi. Nơi đó trong pháp thế gian thường gọi là Niết Bàn hay Thiên Ðàng v.v…Nơi chúng ta về (Tây phương cực lạc) cũng chính là nơi mà chúng ta Ði xuống (điểm xuất phát) để tới thế gian này (Ðông thổ).

Nói một cách Logic là có Ði thì mới có Về. Ở đời có cái kỳ lạ là từ Ðông sang Tây chẳng ai bảo ai mà sao loài người tự nhiên đồng hợp một quan niệm rằng: Khi họ tiễn đưa một người thân nào đó mà từ giã cõi đời này thì đều dùng cái động từ “Về” để kính tiễn hương Linh (Chân tánh) người quá cố sớm được về nơi Niết Bàn hay nơi Thiên đường v.v.. tùy theo danh từ mà tự cái tôn giáo của họ áp đặt cho cái tên để chỉ nơi chốn tận trên thượng Thiên là nơi mà Hương Linh người qúa cố cần phải “Về” tới, như ta thường đọc thấy trên những trang báo chia buồn, hay trên những tấm thiệp tang chế phân ưu thường viết “ Kính tiễn Hương Linh cụ…sớm được về nơi Niết Bàn”. Thế nhưng hầu như vô tình hoặc hữu ý một cách trớ trêu là chính những con người đang sống mà gửi thiệp phân ưu đó lại quên ngay chính cái Linh Tính của họ một cách đáng thương và tội nghiệp, có người còn không tin tưởng là con người có cái được gọi là Linh tính, họ cho “Chết là hết”, loại người đó ta chưa bàn đến lúc này. Quay trở lại với chữ “Về” thì rõ ràng là đã có cái quan niệm “Về” thì nó phải xuất phát từ cái quan niệm “Ði” và Ði từ đâu thì khi trở về, ta Về lại nơi đó, đơn giản vậy thôi và ngược lại nếu kẻ nào đó không biết điểm xuất phát “Ði” từ đâu tới thì hẳn không biết nơi chốn nào mà về (không biết nơi Ði sao biết chốn Về), phải vậy không thưa qúy bạn?

Ðể kết thúc bài luận thảo này tôi xin mượn câu trong kinh:

Thiên thượng, thiên hạ duy Ngã độc tôn”

Riêng câu Kinh này, suốt bao năm qua cũng đã gây ra nhiều tranh luận gay gắt trong các phái tôn giáo khác nhau:

·        Những tôn giáo không phải là là Phật giáo thì ra lời phê phán câu này là sự ngạo mạn, là đức tính xấu tự cao tự đại của Thái tử Tất Ðạt.

·        Trong hàng ngũ Phật giáo có không ít lối giải thích cho đó là đức tính tự tin của Thái tử Tất Ðạt. Dựa vào hoàn cảnh, tính cách ra đời cùng sự tiên đoán của vị Quốc Sư trong Triều Ðình lúc bấy giờ mà chấp nhận tán thán Ðức Phật.    

Thực ra câu trên hàm ý nói rằng: Giữa Trời Ðất chỉ có Chân Ngã là độc tôn mà thôi. Mà “Chân Ngã” chính là Ðạo. Chính là vị Phật của ta, cũng là vị Tôn Sư hướng dẫn ta đi tới ráo rốt giải thoát. Tìm Ðạo là tìm cho được vị Chân Sư đó. May thay cho những ai tìm thấy Phật tính của mình.

 

Mọi ý kiến trao đổi xin liên lạc:

Nguyên Khang, Tel: 03 9449 1279 sau 7pm

E-Mail: nguyenk42@hotmail.com 

 

--- o0o ---

Cập nhật ngày: 01-09-2004

 

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

 Trở về trang Tản Mạn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com