Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Đức Phật và Phật Pháp


 

 

 

 

Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni

(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005) 

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh

Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội: 

Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai

---o0o---

 

Phần 7

 

5- Hạ thứ 10 trong rừng Rakkhita (năm -580)

 

Phật an-cư một mình trong rừng Rakkhita[1] 

Rời tinh xá Ghosita, nơi đang có sự tranh chấp giữa hai nhóm khất sĩ kinh sư và luật sư, đức Phật đến ở một mình trong rừng Rakkhita, thuộc làng Parileyyaka và an cư luôn tại đây. Khu rừng này rất vắng vẻ thanh tịnh, cây lá xinh tươi, có đồi, có suối lại có hồ. Sống một mình, Phật thấy rất thoải mái và dễ chịu trong cảnh thanh nhàn. Phật thường tĩnh tọa dưới gốc cây sala to lớn bên bờ suối. Nơi đây thường có một con voi chúa dẫn một đàn voi vừa lớn vừa nhỏ đến suối uống nước và tắm rửa, và cũng có một bầy khỉ thường đến nơi nô đùa nhảy nhót trên cành cây và trên những tảng đá bên bờ suối. Bầy voi và bầy khỉ lần hồi đến làm quen với Phật. Ðược Phật chăm sóc và dạy dỗ, chúng lại càng quý mến, mang trái cây đến cúng dường Phật. Có lần Phật bắt chước tiếng con voi chúa rú lên, cả đàn voi lớn nhỏ đều chạy tới nằm mọp trước mặt Phật.

Sau mùa an cư, Phật từ giã đàn voi, bầy khỉ và khu rừng xinh đẹp. Ngài đi về hướng bắc. Nửa tháng sau ngài tới tinh xá Jetavana ở thủ đô Sravasti.

 

Phật dạy xử sự đúng chánh pháp[2]  

Ðức Phật vừa về tới tinh xá Jetavana. Các đại đệ tử có mặt xúm xít đến chào mừng và rước Phật về am thất của ngài. Các đại đức Sariputta, Moggallana, Mahakassapa, MahaKaccana, Upali, Mahakotthiya, Mahakappina, Mahakunda, Revata và Devadatta đều có mặt. Các đại đức Anuruddha, Kimbila và Nandiya từ công viên Ðông Trúc cũng đã về tới. Ni sư Gotami và Rahula cũng có mặt.

Ðại đức Ananda đang quét dọn am thất của Phật, thấy Phật về tới, thầy vui mừng buông chổi, bước tới đảnh lễ Phật. Phật hỏi:

- Này Ananda, sau khi Như Lai đi rồi, tình trạng ở tinh xá Ghosita như thế nào?

- Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi rồi, một số huynh đệ đến tìm con và nói "Này sư huynh, Thế Tôn đã bỏ đi rồi. Ngài đi một mình. Sao sư huynh và thầy thị giả Nagita không đi theo Thế Tôn để chăm sóc cho ngài. Nếu hai sư huynh không đi thì chúng tôi đi vậy". Con đáp "Nếu Thế Tôn đi mà không cho ai biết là vì ngài muốn đi một mình. Chúng ta không nên làm phiền ngài". Sau đó khoảng sáu tháng, một số huynh đệ lại tới nói với con "Này sư huynh, lâu nay chúng mình không được nghe Thế Tôn dạy bảo, không được nghe giáo pháp trực tiếp từ kim khẩu của bậc giác ngộ. Chúng ta nên đi tìm ngài". Chúng con đã lên đường đi tìm Thế Tôn nhưng không được gặp. Không ai biết Thế Tôn ở đâu. Cuối cùng chúng con tìm về Sravasti để báo tin cho các sư huynh lớn. Chúng con nghĩ rằng thế nào Thế Tôn cũng về đây.

- Khi thầy rời Kosambi, các vị khất sĩ còn cãi cọ nhau nhiều không?

- Bạch Thế Tôn, lúc ấy tình trạng còn căng thẳng lắm, còn hơn lúc Thế Tôn chưa ra đi. Không có mặt Thế Tôn, hai bên không còn e dè gì nữa, càng cãi nhau dữ dội. Không khí thật là ngột ngạt khó thở. Mỗi lần vào thành phố khất thực, chúng con lại bị giới cư sĩ hỏi han về vụ tranh chấp. Chúng con nói "Có nhiều vị khất sĩ đứng ngoài vụ tranh chấp. Xin quý vị biết cho điều đó". Ðó là điều duy nhất mà chúng con có thể làm. Dần dần giới cư sĩ bắt đầu phản ứng. Họ tìm tới tinh xá nói với các vị khất sĩ trong vụ tranh chấp "Quý thầy đã không nghe lời Phật dạy, để cho Phật phải buồn lòng mà bỏ đi. Quý thầy có trách nhiệm rất lớn. Quý thầy phải mau đi tìm Phật để xin sám hối". Ban đầu thì các thầy không chú ý tới lời cảnh cáo của giới tại gia. Nhưng sau đó giới tại gia cương quyết bảo nhau không cúng dường cho các vị có mặt trong cuộc tranh chấp. Bạch Thế Tôn, giới cư sĩ ở Kosambi có vẻ cương quyết lắm. Ngày rời Kosambi, con nghe nói là hai bên đã định ngày họp nhau lại để đi tới sự hòa giải. Con nghĩ là họ sẽ hòa giải được và sớm muộn gì họ cũng tìm về đây để xin sám hối với đức Thế Tôn.

Ðức Phật quay sang các vị đại đệ tử nói:

- Này các thầy, chúng ta phải tìm cách nào để từ rày về sau không còn những cuộc cãi cọ vô nghĩa lý như thế tại các trung tâm tu học nữa.

Vài ngày sau, đại đức Sariputta được báo tin các thầy ở Kosambi đang lục tục kéo về Sravasti. Họ đông tới cả mấy trăm người, hiện còn ở ngoài phố. Ðại đức đến trình Phật:

- Bạch Thế Tôn, con nghe nói các huynh đệ ở Kosambi đã về đến phố rồi, có lẽ không bao lâu họ sẽ đến tinh xá. Bạch Thế Tôn , chúng con phải đối xử với các huynh đệ đó như thế nào?

- Thì các thầy cứ đối xử đúng theo Chánh Pháp.

- Bạch Thế Tôn, đúng theo Chánh Pháp nghĩa là sao? Xin Thế Tôn chỉ dạy cho.

- Này Sariputta, thầy mà cũng còn hỏi một câu như thế sao?

Ðại đức Sariputta im lặng. Vào lúc đó các thầy Moggallana, Mahakassapa, Kaccana, Kotthiya, Kappina và Anuruddha cũng vừa tới tịnh thất của Phật. Các thầy hỏi:

- Bạch Thế Tôn, các huynh đệ ở Kosambi sắp về tới. Chúng con phải đối xử với các huynh đệ đó như thế nào?

- Thì các thầy cứ đối xử đúng theo Chánh Pháp.

Các thầy đưa mắt nhìn đại đức Sariputta. Ðại đức chỉ mỉm cười. Phật nhìn các vị đại đệ tử, rồi chẫm rãi nói:

- Các thầy không nên có thành kiến đối với bất cứ ai, đối với bất cứ bên nào. Các thầy nên bình tỉnh lắng tai nghe cả hai bên. Thấy điều nào đúng với Chánh Pháp thì nên khen ngợi, khuyến khích. Thấy điều nào không đúng với Chánh Pháp thì nên tìm cách giải thích cái tai hại của nó và khuyên nên sửa đổi. Những tư tưởng, lời nói, hành động đúng với Chánh Pháp luôn luôn đem lại sự an lạc, thanh tịnh, giải thoát. Những tư tưởng, lời nói, hành động do tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, kiến thủ ... xúi dục, thường mang đến sự bất hòa, tranh cãi, buồn khổ, sân hận, là những điều không đúng với Chánh Pháp, nên xa lánh, diệt trừ. Ðiều quan trọng là phải khéo léo nói thế nào cho mỗi bên nhìn nhận chỗ sai của họ thì mới mong hòa giải được.

Vừa lúc ấy, các vị thí chủ lớn của tinh xá cùng đi với cư sĩ Sudatta Anathapindika cũng vừa tới nơi. Ông Sudatta hỏi:

- Bạch Thế Tôn, những vị khất sĩ ở Kosambi sắp tới. Chúng con phải đối xử với các vị ấy như thế nào? Chúng con nên cúng dường hay không nên cúng dường? Nếu cúng dường thì nên cúng dường bên nào?

- Quý vị nên cúng dường cả hai bên. Và nên tỏ ý yểm trợ và tán thán mỗi khi có người nói lên những điều đúng với Chánh Pháp.

Ngay lúc ấy, đại đức Ananda bước vào báo tin các thầy ở Kosambi đã đến cổng tinh xá đầy đủ, nhưng còn chưa dám vào. Ðại đức Sariputta nói:

- Bạch Thế Tôn, con có nên mở cửa cho họ vào không?

- Nên mở cửa cho họ vào.

- Rồi con giải quyết thế nào về nơi ăn chốn ở của họ?

- Thầy nên sắp xếp cho hai phe ở riêng ra hai bên.

Theo lệnh của đại đức Sariputta, các thầy tri khách mở cửa đón tiếp các vị khất sĩ từ Kosambi tới. Các vị được sắp xếp chỗ ở và các tiện nghi đồng đều như tất cả mọi người. Tất cả mọi việc đều được diễn tiến trong im lặng.

Sáng ngày hôm sau, tất cả các vị mới đến đều được đại đức Sariputta phân chia thành từng nhóm và chỉ định họ đi khất thực ở từng địa phương khác nhau để hai phe đối nghịch khỏi đụng độ nhau. Buổi chiều, các thầy ngỏ ý xin đại đức Sariputta dàn xếp cho họ được làm lễ sám hối với Phật. Ðại đức nói:

- Theo tôi nghĩ, việc sám hối với đức Thế Tôn không phải là điều tiên quyết. Việc quan trọng nhất là các huynh đệ nên dàn xếp với nhau để đi đến hòa giải. Khi các huynh đệ đã hòa giải với nhau xong rồi thì lễ sám hối mới có ý nghĩa và mới có tánh cách chân thật. Tôi đề nghị hai bên huynh đệ nên có phiên họp hòa giải với nhau trước. Nên xem hòa khí giữa các khất sĩ trong giáo đoàn và việc tu học để đạt đến giải thoát là chuyện sinh tử tối quan trọng. Còn những việc nhỏ nhặt khác, các huynh đệ nên hỷ xả để tâm ý được nhẹ nhàng thanh tịnh, dễ dàng cho việc thực hành thiền quán.

Tối hôm ấy, vị kinh sư chủ chốt trong cuộc tranh cãi tìm tới vị luật sư hay cố chấp. Thầy chắp tay đảnh lễ rồi quỳ xuống tác bạch:

- Bạch đại đức, tôi xin công nhận là tôi đã phạm giới, và sự kết tội của đại đức vào mùa hè năm ngoái là đúng luật. Tôi xin thành tâm sám hối trước đại chúng để được trở lại tình trạng giới thể thanh tịnh.

Vị kinh sư làm được như vậy vì thầy không thấy có lối thoát nào khác. Thầy sẵn sàng hy sinh tự ái để đem lại hòa khí cho giáo đoàn. Biết thế, vị luật sư liền phản ứng một cách mau lẹ. Thầy cũng quỳ xuống trước vị kinh sư và nói:

- Tôi cũng xin sám hối với đại đức là tôi đã thiếu khiêm nhượng và khéo léo trong vụ này. Xin đại đức từ bi chứng minh cho tấm lòng thành khẩn của tôi.

Ngay sau đó đại đức Sariputta triệu tập đại chúng đến giảng đường, rồi đại đức thỉnh Phật đến chứng minh lễ phát lồ sám hối. Hai đại đức kinh sư và luật sư đồng bước ra đảnh lễ Phật và cầu sám hối trước đại chúng. Phật nói:

- Này hai thầy, hôm nay cả hai thầy đều tự nhận thấy lỗi mình, đồng làm lễ phát lồ sám hối trước Như Lai và đại chúng, là một điều rất tốt. Như Lai hoan hỷ chứng minh cho hai thầy được phục hồi giới thể thanh tịnh. Này các vị khất sĩ, việc không hay vừa xảy ra cũng là một kinh nghiệm quý báu cho toàn thể quý vị, từ nay về sau các thầy nên cố tránh đừng để xảy ra một chuyện đáng tiếc như thế nữa.

Ai nấy đều thở phào, nhẹ nhỏm, nhất là các vị khất sĩ từ Kosambi đến, trong số đó có nhiều thầy chưa bao giờ dính líu đến cuộc tranh chấp. Tuy vậy, phải cần một thời gian nữa thì vết thương mới có thể lành hẳn.

 

Thất Diệt Tránh Pháp (Saptadhikarana-samatha)[3] 

Theo đề nghị của đại đức Mahakassapa, một cuộc hội họp được tổ chức tại giảng đường Jetavana. Mục đích của buổi họp là để rút tỉa kinh nghiệm và đề ra những nguyên tắc ngăn ngừa những cuộc tranh chấp có thể xảy ra trong giáo đoàn. Ðại đức Mahakassapa làm chủ tọa buổi họp.

Mở đầu buổi họp, đại đức Mahakassapa yêu cầu thầy Anuruddha trùng tuyên pháp chế Lục Hòa mà đức Thế Tôn đã dạy tại công viên Ðông Trúc. Ðó là sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp của giới khất sĩ. Ðại đức Moggallana rất vui mừng sau khi được nghe pháp chế này. Thầy đề nghị:

- Sáu nguyên tắc sống chung hòa hợp này cần được học thuộc lòng để đem phổ biến tới các trung tâm tu học khác.

Sau một thời gian dài thảo luận, các thầy đã thiết lập được bảy phương pháp để dập tắt các cuộc tranh chấp, gọi là Thất Diệt Tránh Pháp (Saptadhikarana-samatha), như sau:

1- Hiện Tiền Tỳ Ni (sammukha-vinaya):  Tất cả những phát biểu về cuộc tranh chấp phải được nói ra trước đại chúng, với sự có mặt của hai bên tranh chấp.

2- Ức Niệm Tỳ Ni (sati-vinaya): Trong buổi họp mặt có sự hiện diện của cả hai bên tranh chấp, các đương sự phải hồi tưởng lại những gì đã thực sự xảy ra và tuần tự trình bày tất cả những điều đó theo trí nhớ của mình, với tất cả những chi tiết, và nếu có thể thì đưa ra những bằng chứng xác thực. Ðại chúng phải im lặng nghe cả hai bên để có đủ dữ kiện nhận xét một cách đúng đắn và vô tư.

3- Bất Si Tỳ Ni (amudha-vinaya): Hai bên đương sự phải có thiện chí hòa giải, không nên có thái độ ngoan cố. Trường hợp có đương sự nêu lên lý do là vì mình ngu dốt không biết hoặc vì vô tình phạm vào quy luật thì đại chúng phải nương vào đó mà luận án cho hai bên đều được đẹp lòng.

4- Tự Ngôn Tỳ Ni (tatsvabhaisya-vinaya): Hai bên đương sự nên có thiện chí tự nhận lỗi mình để cuộc hòa giải được thực hiện dễ dàng.

5- Ða Ngử Tỳ Ni (pratijnakaraka-vinaya): Sau khi đã nghe hết tất cả lời tường thuật và chứng kiến thiện chí của hai bên, đại chúng sẽ biểu quyết bằng đa số.

6- Tội Xứ Sở Tỳ Ni (yadbhuyasikiya-vinaya): Án lệnh tối hậu về tội tướng và cách thức hối cải được đưa ra để đại chúng quyết định bằng phương pháp bạch tứ yết ma (jnapticaturbin-karmavacana), nghĩa là đọc lớn bản án lên và đọc ba lần. Nếu sau ba lần đọc mà tất cả đều im lặng, không ai lên tiếng phản đối thì bản án lệnh có hiệu lực. Dĩ nhiên là các đương sự không có quyền phản đối, vì từ đầu đã phát nguyện tin tưởng vào phán quyết của đại chúng.

7- Thảo Phú Ðịa Tỳ Ni (tranastaraka-vinaya): Trong buổi họp mặt hòa giải, hai vị trưởng lão đức độ được chỉ định để bảo trợ cho hai bên tranh chấp. Các vị này thường được đại chúng tôn kính và nghe lời. Các ngài thường ngồi chăm chú lắng nghe, rất ít nói, nhưng mỗi khi nói là có ảnh hưởng rất lớn. Tiếng nói của các vị trưởng lão này nhằm hàn gắn những vết thương, kêu gọi thiện chí hòa giải và tha thứ, cũng như phủ rơm cỏ lên mặt đất sình lầy để mọi người bước lên khỏi bị lấm chân.

Bảy phương pháp dập tắt tranh chấp được các vị đệ tử lớn đem trình lên Phật. Ðức Phật đã hoan hỷ chấp thuận, tỏ lời khen ngợi các thầy và đồng ý đưa Thất Diệt Tránh Pháp vào giới luật.

Phật ở lại tinh xá Jetavana trong sáu tháng, sau đó ngài về Rajagriha.

 

Phật độ bà Janapada-Kalyani[4]

Công chúa Janapada-Kalyani là một phụ nữ rất đẹp và rất tự hào về sắc đẹp của mình. Nhưng vừa mới đám cưới xong thì chồng là thái tử Nanda đi xuất gia. Các công chúa khác mệnh danh cho bà là Rupa-Nanda (Người đẹp Nanda). Bà rất buồn khổ, nhưng cuối cùng thấy rằng đức Phật và Nanda đều bỏ ngai vàng đi xuất gia, rồi đến Rahula, Hoàng hậu Maha Pajapati và 500 công nương dòng Sakya và Koliya cũng đã xuất gia, bà cũng xin xuất gia theo Giáo Ðoàn Tỳ Kheo Ni.

Sau khi xuất gia, bà nghe Phật giảng sắc đẹp là vô thường, là vô ngã, là nguồn gốc của đau khổ cũng như 4 uẩn (ấm) khác là thọ, tưởng, hành và thức. Bà không đồng ý. Bà thầm nghĩ Sắc đẹp của ta ai cũng nhìn ngắm, trầm trồ, khen ngợi mà bảo là nguồn gốc của đau khổ thì không hợp lý chút nào! Hơn nữa bà vẫn thầm trách Phật đã bắt người chồng mới cưới của bà là Nanda xuất gia, do đó bà luôn luôn tránh, không muốn gặp mặt Phật.

Một hôm các nữ khất sĩ trong nhóm của bà đều mong đến Jetavana nghe Phật thuyết pháp. Bà buộc lòng phải đi theo nhưng ngồi lẫn ở phía sau cho Phật không thấy. Ðức Phật muốn độ bà Janapada-Kalyani nên trong lúc thuyết pháp dùng thần thông cho bà thấy một thiên nữ tuyệt đẹp lối 16 tuổi ăn mặc và trang sức lộng lẫy, đẹp hơn bà rất nhiều, sắc đẹp của thiên nữ từ từ biến đổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, rồi lần lần đến da nhăn, má hóp, răng tóc lưa thưa, lưng còng, tay chân rung rẩy, bệnh hoạn, rên siết, chết cứng, thân thể thúi rửa ... Bà Rupa-Nanda nhìn thấy từng giai đoạn già nua của người thiên nữ liền nghĩ đến thân mình rồi đây cũng thế. Bà cảm thấy chán chê, ghê tởm thân mình, không còn hảnh diện về sắc đẹp của nó nữa. Bỗng nghe Phật nói kệ:

Này Rupa-Nanda,

Thân do xương thịt máu,

Bệnh hoạn và hôi thúi,

Có gì gọi là đẹp?

Có gì đáng ngợi khen?

Biết thân này vô thường

Biết thân này không sạch

Bỏ đi không luyến tiếc

Sống cuộc đời an lành.

Nghe xong, bà Janapada-Kalyani liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Ngưng một lát, đức Phật nói tiếp:

Này Rupa-Nanda,

Thân này không thật có,

Là thành phố dựng lên

Bằng thịt, gân, máu, mủ,

Và ba trăm miếng xương,

Chứa già nua bệnh tật.

Kiêu hãnh và thất vọng. (Kinh Pháp Cú, bài 150)

Nghe xong, bà Janapada-Kalyani đắc quả A-la-hán.

 

6- Hạ thứ 11 tại Ekanala, gần Rajagriha (năm -579)

 

Chú bé chăn trâu Svastica xuất gia[5] 

Trước khi về Rajagriha, Phật ghé làng Uruvela để thăm cây Bồ-đề, nơi ngài thành đạo. Rồi Phật đến thăm Svastika, chú bé chăn trâu xưa kia đã thường đến thăm viếng và giúp đỡ ngài sau khi năm anh em ông Kondanna bỏ đi. Svastika bây giờ đã được 20 tuổi, trở thành một thanh niên vạm vỡ. Nhớ lời hứa năm xưa, Phật trở lại đây để độ chú, cho chú xuất gia, làm quen với Rahula, rồi Phật đưa chú đến Venuvana.

Bước chân vào tinh xá Venuvana, Svastika thấy cái gì cũng lạ, cũng đẹp, cũng xinh. Chú được Rahula dắt đi giới thiệu với các vị khất sĩ. Mặc dù chú lớn hơn Rahula đến ba tuổi, chú tự thấy cần phải học hỏi với Rahula rất nhiều, từ cách đi đứng ăn nói cho đến giáo lý, thiền tọa, thiền hành, cái gì cũng hay, cũng mới lạ.

Một hôm chú được ngồi nghe hai thầy Assaji và Ananda kể công trình hành đạo của Phật trong mười năm qua. Chú nghe một cách say mê. Cùng ngồi với chú có cả ni sư Gotami và Rahula. Thầy Ananda có trí nhớ lạ thường. Thầy đã nhắc rất nhiều chuyện mà thầy Assaji quên không nói tới. Svastika rất cảm phục hai thầy Assaji và Ananda, và rất thương mến ni sư Gotami và Rahula. Nếu không có bốn vị này làm sao chú được dịp nghe kể từng ấy chuyện đã qua về Phật. Chú hy vọng từ nay về sau chú sẽ được thân cận Phật để được học hỏi trực tiếp với người từ giáo lý đến cách ăn ở và cách đối xử với người khác.

Tuy xuất thân là một chú bé chăn trâu, Svastika cũng có đôi chút học thức và chữ nghĩa. Ðó là công trình của chị Sujata[6], con gái ông xã trưởng Senani trong làng Uruvela. Sujata đã dạy cho Svastika đọc và viết từ năm chú mới được chín tuổi. Mấy năm gần đây chú không được học với chị nữa vì chú đã lớn và chị phải đi lấy chồng ở làng Nadika, phía nam thành phố Vesali.

Mặc dù Rahula mới được mười bảy tuổi, chưa  được thọ giới tỳ-kheo, nhưng chú rất rành về bốn mươi lăm uy nghi và tế hạnh của một vị tỳ-kheo. Svastika rất sung sướng được có Rahula ở bên cạnh chỉ bảo và nhắc nhở cho chú. Có điều gì còn chưa hiểu rõ thì chú mới hỏi lại thầy Sariputta, thầy Assaji hoặc thầy Ananda. Rahula nói với Svastika:

- Giới luật của sa-di (samanera) chỉ có mười điều là không sát sinh, không trộm cướp, không dâm dục, không nói dối, không uống rượu, không trang điểm hoặc xức nước hoa, không nằm hoặc ngồi trên giường ghế cao sang rộng lớn, không ca vũ, không sử dụng tiền bạc, không ăn sau giờ ngọ. Giới luật của tỳ-kheo (bhikkhu) còn gọi là cụ-túc-giới[7] hiện có tới 120 giới trong đó có 45 điều về uy nghi và tế hạnh, nhưng có lẽ còn tăng lên nữa. Bốn giới đầu gọi là trọng giới (Parajika, Ba-la-di), vị khất sĩ nào phạm vào thì không còn là một tỳ-kheo nữa, cũng như khi một cây cau bị chặt ngọn thì không còn mọc lên lại được. Bốn trọng giới là: không dâm dục, không trộm cướp, không sát hại, không tuyên bố là mình có thực chứng đạo quả khi mình chưa thực chứng đạo quả.

 

Giới luật có từ lúc nào?  

Rahula kể cho Svastika nghe là trong những năm đầu chưa có giới luật gì hết mà trong giáo đoàn khất sĩ vẫn không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Lễ xuất gia thật đơn giản, chỉ cần quỳ dưới chân Phật hoặc dưới chân một vị khất sĩ, đọc lên ba câu quy y Phật Pháp Tăng là đã chính thức thành người xuất gia. Bây giờ muốn xuất gia thì phải phát nguyện tiếp nhận và hành trì giới luật. Số người xuất gia đã trở nên đông đảo nên có những thành phần thiếu tự giác, do đó giới luật mới được đặt ra để nhắc nhở và giữ gìn cho giới xuất gia được thân tâm thanh tịnh.

Cách nay chừng năm năm, ở làng Kalanda gần thành phố Vesali, có ông Sudina, con nhà khá giả, đã lập gia đình nhưng chưa có con. Một hôm, được nghe Phật thuyết pháp tại Mahavana, Sudina xin xuất gia theo Phật. Ít lâu sau, nhân dịp thầy đi ngang qua làng Kalanda, gia đình thỉnh thầy về nhà thọ trai. Sau khi thọ trai, cha mẹ thầy khuyên thầy hoàn tục để chăm sóc tài sản gia đình. Thầy không bằng lòng. Cha mẹ thầy than phiền rằng thầy là con một mà đi tu thì trong gia đình không còn ai nối dõi, và sản nghiệp sẽ lọt vào tay người khác. Cuối cùng mẹ thầy đề nghị nếu thầy cương quyết không hoàn tục thì ít nhất thầy cũng phải để lại một đứa con. Nể lời cha mẹ, thầy đồng ý. Sau đó , người vợ cũ của thầy có thai, sinh được một đứa con trai, được ông bà nội đặt tên là Bijaka, có nghĩa là hạt giống. Biết được chuyện này, các bạn của Sudina gọi đùa thầy là "cha của hạt giống". Bắt đầu có sự gièm pha trong quần chúng. Thầy Sudina bị Phật khiển trách, và giới luật bắt đầu được chế ra từ đó. Mỗi khi có vị khất sĩ nào làm một việc gì trái với tinh thần của đạo lý giác ngộ và giải thoát thì giáo đoàn lại được triệu tập, và một điều luật mới được ghi vào giới bổn gọi là Patimokkha (Pratimoksa, Ba-la-đề-mộc-xoa).

 

Phật giảng kinh Chăn Trâu[8]  

Hôm nay trời mát, sau bữa ngọ trai, các vị khất sĩ lặng lẽ đi rửa bát của mình, rồi trải tọa cụ ngoài trời ngồi quây quần xung quanh Phật. Tinh xá Venuvana có rất nhiều sóc. Chúng quanh quẩn bên các thầy, không có vẻ gì sợ sệt. Nhiều con sóc leo lên các thân tre, đưa mắt nhìn xuống. Thấy Rahula ngồi ngay trước mặt Phật, Svastika cũng rón rén đến trải tọa cụ bên cạnh Rahula và nghiêm chỉnh ngồi xuống. Không khí thật trang nghiêm. Không ai nói với ai lời nào, nhưng Svastika biết rằng ai cũng đang theo dõi hơi thở trong khi chờ đợi Phật mở lời chỉ dạy.

Phật ngồi trên một chiếc chõng tre, cao hơn mọi người chừng vài gang tay. Ngài ngồi ung dung và uy nghiêm như một con sư tử chúa ngồi trong bầy sư tử. Ngài đưa mắt nhìn đại chúng một cách hiền hòa, nhìn Svastika và Rahula, rồi ngài lên tiếng:

- Hôm nay Như Lai sẽ nói với quý thầy về đề tài chăn trâu, và thế nào là một em bé chăn trâu giỏi. Quý thầy hãy lắng nghe. Một em bé chăn trâu giỏi là một em bé biết nhận dạng từng con trâu của mình một cách dễ dàng. Biết hình dáng của mỗi con, biết cách cọ xát tắm rửa cho trâu, biết chăm sóc những vết thương của trâu, biết đốt khói un muỗi cho trâu, biết tìm đường đi an toàn cho trâu, biết thương yêu trâu, biết chọn nơi an toàn cho trâu lội qua sông, biết chỗ có cỏ non và nước sạch cho trâu ăn uống, biết bảo trì những vùng thả trâu, và biết để cho những con trâu lớn làm gương cho những con trâu nhỏ.

Này các thầy, một vị khất sĩ giỏi cũng phải làm như thế.

Nếu em bé chăn trâu biết nhận ra được trâu của mình thì người xuất gia cũng phải biết nhận ra 32 thành phần cấu tạo nên sắc thân của mình[9].

Nếu em bé chăn trâu biết hình tướng của mỗi con trâu thì người xuất gia cũng phải biết những hành động nào của thân, miệng và ý là những hành động đáng làm hay không đáng làm.

Nếu em bé chăn trâu biết cách tắm rửa sạch sẽ cho trâu thì người xuất gia cũng phải biết cách buông xả và gột rửa khỏi thân tâm những tham dục, si mê và hờn oán.

Trong khi Phật nói những lời trên, Svastika có cảm tưởng rằng chú là nguồn cảm hứng của Phật trong bài pháp hôm nay. Chú nhớ lại cách nay hơn mười năm, chú đã được ngồi bên Phật hằng giờ, và Phật đã từng hỏi chú một cách tỉ-mỉ về công việc chăn trâu và cắt cỏ. Vốn là một vị hoàng thái tử xuất thân, làm sao Phật có thể biết rõ như thế về nghề chăn trâu nếu chú không kể hết những chuyện đó cho ngài nghe? Phật chẫm rãi nói tiếp:

- Nếu em bé chăn trâu biết săn sóc các vết thương cho trâu thì người xuất gia cũng phải biết gìn giữ sáu căn của mình là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cho được thanh tịnh không bị sáu trần làm ô-uế.

Nếu em bé chăn trâu biết un muỗi cho trâu thì người xuất gia cũng phải biết đem đạo lý giải thoát giảng dạy cho người chung quanh để họ tránh khỏi những đau khổ về thể xác và tinh thần.

Nếu em bé chăn trâu biết tìm đường đi an toàn cho trâu thì người xuất gia cũng phải biết chỉ cho người khác con đường Bát Chánh Ðạo nên đi và những con đường danh lợi, sắc dục, hý trường ... nên tránh.

Nếu em bé chăn trâu biết thương yêu trâu thì người xuất gia cũng phải biết thực hành từ bi và lục độ[10].

Nếu em bé chăn trâu biết chọn nơi an toàn cho trâu lội qua sông thì người xuất gia cũng phải biết dùng Tứ Diệu Ðế để đưa chúng sanh từ bờ mê sang bờ giác.

Nếu em bé chăn trâu biết tìm chỗ có cỏ non nước sạch cho trâu ăn uống thì người xuất gia cũng phải biết chỉ cho người khác cách thực hành Tứ Niệm Xứ để làm nhân giải thoát.

Nếu em bé chăn trâu biết bảo trì những vùng thả trâu thì người xuất gia cũng phải biết cẩn thận, dè dặt trong việc tiếp xúc với quần chúng và thu nhận của cúng dường.

Nếu em bé chăn trâu biết dùng những con trâu lớn làm gương cho những con trâu nhỏ thì người xuất gia cũng phải biết nương tựa vào đức hạnh và kinh nghiệm của các bậc thầy đi trước.

Này các thầy, một vị khất sĩ biết thực hành đúng theo những điều vừa chỉ dẫn ở trên có thể đạt đến quả vị A-la-hán trong vòng sáu năm tu học.

Vị khất sĩ trẻ tuổi Svastika lấy làm kỳ lạ. Những điều chú nói với Phật cách đây trên mười năm, Phật còn nhớ hết, và còn đem áp dụng vào việc tu học của người khất sĩ nữa. Tuy Phật đang giảng giáo lý chung cho đại chúng, Svastika có cảm tưởng là Phật đang dạy riêng cho mình nên chú chăm chỉ nghe và nhớ rành rọt từng lời của Phật. Có những danh từ chuyên môn như "sáu căn", "sáu trần", "tứ diệu đế", "tứ niệm xứ", Svastika chưa hiểu được tường tận, chú tự bảo sẽ nhờ Rahula giảng giải cho.

Chiều lại, Svastika hỏi Rahula về những danh từ chuyên môn trong bài pháp thoại của Phật hồi trưa, rồi nhân tiện chú hỏi thêm:

- Này Rahula, ngồi thiền phải ngồi như thế nào? và trong lúc ngồi thiền phải dụng tâm như thế nào?

Rahula chỉ cho Svastika cách sử dụng tọa-cụ[11](nisadana) và bồ-đoàn[12](asana), cách ngồi bán già và kiết già. Rồi chú nói tiếp:

- Về cách dụng tâm trong lúc ngồi thiền thì có sáu phương pháp chánh gọi là Lục Diệu Pháp Môn: 1- Sổ tức, 2- Tùy tức, 3- Chỉ, 4- Quán, 5- Hoàn, 6- Tịnh.

Sổ tức (Anapana-sati) là dụng tâm điều khiển hơi thở theo ý muốn của mình, lúc đầu thô, lúc sau tế. Thô là hít vào bằng mũi mạnh và dài rồi ngưng. Trong lúc ngưng thở, đếm từ một đến 10, 20 hoặc 30, rồi thở ra bằng miệng mạnh và dài. Làm như thế đến 10 hoặc 20 lần. Tế là hít vào bằng mũi nhẹ và dài không nghe tiếng, ngưng một lát, rồi thở ra bằng miệng nhẹ và dài không nghe tiếng, đếm 1. Lần thứ nhì đếm 2, vân vân đến 30 hay 50 mươi lần. Pháp sổ tức nhằm thanh lọc không khí trong thân và làm cho thế ngồi được cân bằng, vững chãi; ngoài ra còn thanh lọc các buồn phiền lo nghĩ trong tâm.

Tùy tức cũng thuộc sổ tức nhưng chỉ dụng tâm theo dõi hơi thở tự do ra vào nhẹ nhàng bằng mũi tùy theo nhu cầu của cơ thể, miệng ngậm lại, đầu lưỡi cong lên vòm hàm trên để hơi ra vào bằng mũi được dễ dàng. Biết rõ hơi thở lúc ra, lúc vào, lúc ngưng. Nếu có chảy nước bọt trong miệng cứ nuốt vào bụng rất tốt vì rất bổ dưỡng. Pháp tùy tức làm cho thân tâm được nhẹ nhàng thư thới.

Trong lúc thực hành sổ tức hoặc tùy tức, có thể quán sát xem động cơ nào đã làm phát sanh hơi thở. Ðộng cơ đó ở chỗ nào, hình tướng nó ra sao.

Chỉ (Samatha) là dứt trừ phiền-não và vọng-tưởng bằng cách tập trung tư tưởng vào một nơi trên cơ thể, như là đỉnh đầu, tam tinh, chóp mũi, tim, rốn, lòng bàn tay, trong khi vẫn để hơi thở ra vào tự do như khi thực hành tùy tức. Trong khi thực hành Chỉ, nếu có vọng tưởng hay phiền não xen vào mà ta không thể dứt trừ được thì chuyển sang Quán đối tượng của vọng tưởng hay phiền não đó. Ví dụ như vọng tưởng là sự nghĩ tưởng về cái nhà, tức là đối tượng của vọng tưởng là cái nhà, thì ta nên quán cái nhà là sinh diệt, vô thường, không có tự tánh, lại hay làm nảy sanh phiền não, vậy ta không nên nghĩ đến cái nhà nữa.

Quán (Vipassana) là quán-sát tất cả các pháp đều vô thường, sinh, trụ, dị, diệt, vướng mắc vào đó dễ bị phiền não và đau khổ. Hoặc tìm hiểu về giáo lý như Tứ Diệu Ðế[13] là gì. Hoặc thực hành phép quán Tứ Niệm Xứ[14]. Hoặc thực hành Ngũ Ðình Tâm Quán[15]. Hoặc thực hành Cửu Tưởng Quán[16]... Mục tiêu của Quán là để nhận chân được ba cánh cửa giải thoát: vô thường, vô ngã và niết-bàn. Vô thường là tất cả sự vật đều sanh diệt, biến chuyển luôn. Vô ngã là tất cả sự vật đều không có tự tánh chân thật. Niết-bàn là mục đích của sự tu tập dứt trừ phiền não và vọng tưởng để tiến tới an lạc, thanh tịnh, giải thoát. Sau khi Quán liền chuyển sang Hoàn để nhận xét tâm mình xem đã dứt trừ được vọng tưởng hay phiền não đó chưa. Ví dụ như sau khi quán cái nhà liền trở lại (Hoàn) nhận xét xem đã dứt trừ được vọng tưởng về cái nhà trong tâm mình chưa. Nếu chưa thì tiếp tục Quán cái nhà; nếu đã dứt trừ được rồi thì chuyển sang Tịnh.

Hoàn là quán sát tâm mình xem hiện đang còn vọng tưởng hay phiền não nào không. Nếu thấy còn thì tiếp tục Quán để trừ; nếu thấy hết vọng tưởng, phiền não rồi thì chuyển sang Tịnh.

Tịnh là Hỉ và Xả, không Chỉ không Quán, giữ tâm an lạc thanh tịnh, không nghĩ tưởng, trong khi vẫn thở theo tùy tức. Nhờ không nghĩ tưởng nên không sanh phiền não. Lúc đầu chưa quen thì nên trì chú để giữ tâm thanh tịnh.

      Này Svastika, pháp môn Thiền (jhana, dhyana) là phương pháp giữ tâm không cho chạy theo hoặc vướng mắc vào sáu trần[17]. Thiền gồm có Chỉ và Quán. Tu Chỉ (Samatha) để được Ðịnh (Samadhi). Tu Quán (Vipassana) để được Huệ (Panna, Prajna). Ngoài ra còn phải trì Giới (Sila) để được sạch Nghiệp (Kamma, karma). Giới, Ðịnh, Huệ là ba vô-lậu-học, là ba môn chánh cần phải tinh tấn thực hành, là cốt tủy của Chánh pháp vậy. Người thực hành Thiền, tùy theo trình độ sẽ tiến từ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền đến tứ thiền. Cao hơn nữa là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng phải đến diệt thọ tưởng định (nirodha-samapatti) mới thực sự được giải thoát, không còn pháp chấp và ngã chấp.

Svastika bỗng thở ra, nghĩ đến con đường tu học của mình còn quá dài. Rahula hiểu ý, liền nói:

- Sư huynh đừng vội thối chí. Coi vậy chứ nếu biết thực hành đúng phương pháp thì cũng mau có kết quả lắm. Sư huynh không nhớ sao? Hồi trưa đức Thế Tôn nói vị khất sĩ nào tu đúng như một em bé chăn trâu giỏi thì chỉ cần sáu năm là có thể đắc quả A-la-hán.

Svastika nắm chặt bàn tay của Rahula trong hai tay mình. Chú gật đầu, nói:

- Tôi sẽ cố gắng, tôi sẽ cố gắng. Tôi rất may mắn có sư huynh bên cạnh để nhắc nhở và chỉ bảo cho tôi.

 

Phật dạy sa-di Rahula trì giới[18]  

Rahula kể cho Svastika nghe là Phật dạy chú rất nghiêm, dù chú biết Phật thương chú lắm. Hồi chú 11 tuổi, lúc chú ở lâm viên Ambalatthika (Ôn-tuyền), có vài lần chú đã đùa chơi bằng cách nói gạt những người đến tìm Phật: Nhằm lúc Phật đang ở Venuvana thì chú nói Phật ở Griddhakuta, nhằm lúc Phật đang ở Griddhakuta thì chú nói Phật ở Venuvana để những người đó phải mất công đi tới đi lui. Hay được chuyện này Phật từ tinh xá Venuvana đến lâm viên Ambalatthika tìm Rahula. Thấy Phật tới, Rahula bắc ghế cho Phật ngồi, rồi lấy thau đi múc nước cho Phật rửa chân. Rửa chân xong, Phật đổ nước đi nhưng còn giữ lại một ít nước trong thau. Phật nhìn Rahula hỏi:

- Này Rahula, nước trong thau còn nhiều hay ít?

- Bạch Thế Tôn, nước trong thau còn rất ít.

- Rahula, con nên biết người nói dối thì căn lành không còn lại bao nhiêu, ít như nước trong thau này.

Phật lại đổ hết nước trong thau đi và hỏi:

- Này Rahula, con có thấy ta đổ hết nước trong thau đi rồi không?

- Dạ, con có thấy.

- Ðối với những người tiếp tục nói dối thì thiện căn sẽ mất hết như cái thau không còn nước này.

Phật lật úp thau lại rồi hỏi:

- Rahula, con có thấy cái thau bị úp lại không?

- Bạch Thế Tôn, con có thấy.

- Nếu ta không tu tập chánh ngữ, nhân cách ta cũng sẽ bị đảo lộn như cái thau này. Này Rahula, con nên cẩn thận giữ gìn lời nói, không nên nói dối dù là để đùa chơi. Con có biết cái gương dùng để làm gì không?

- Dạ, cái gương dùng để soi mặt mình.

- Này Rahula, con cũng phải quán sát hành động, tư tưởng, lời nói của con như người soi gương vậy.

Cứ mỗi tháng hai lần, vào ngày trăng tròn và ngày trăng mới, tất cả các vị khất sĩ phải tập họp để bố tát (tụng giới). Các giới điều đều được tuyên đọc, và đại chúng được hỏi có vị nào phạm giới ấy hay không. Nếu đại chúng giữ im lặng tức là không có ai vi phạm. Nếu có người phạm thì vị ấy đứng dậy tự nói lỗi mình ra (phát lộ) để sám hối. Trừ những lỗi parajika (ba-la-di, trọng giới) mà người phạm vào thì tự động bị khai trừ, những lỗi khác đều có thể sám hối được.

Nghe Rahula kể, Svastika ý thức được tầm quan trọng của việc trì giới đối với một khất sĩ.

 

Ði tu cũng là lao động và sản xuất[19] 

Phật nhập hạ thứ 11 tại đồi Ekanala, thuộc làng Dakkhinagiri, phía nam thành Rajagriha. Dưới đây là bài kinh Kasi-Bharadvaja sutta:

Một thời, đức Phật ngụ tại đồi Ekanala, trong làng Dakkhinagiri, một làng theo Bà-la-môn giáo của xứ Magadha. Lúc ấy 500 tay cày làm việc cho ông Bà-la-môn Kasi Bharadvaja sắp sửa ra đồng. Ðức Phật đắp y mang bát đến nơi người ta đang phân phối thức ăn và đứng sang một bên. Vị Bà-la-môn Kasi Bharadvaja thấy vậy nói:

- Này tôn giả, tôi cày bừa và gieo mạ, nhờ đó tôi mới có ăn. Ông cũng vậy, này tôn giả, ông cũng nên cày bừa và gieo mạ để có ăn.

- Này ông Bà-la-môn, Như Lai cũng cày bừa và gieo mạ vậy. Ðã cày bừa và gieo mạ xong rồi,  bây giờ Như Lai mới ăn.

- Nhưng nào tôi có thấy cây cày, cái ách, lưỡi cày của tôn giả đâu? Tôi cũng không thấy con bò hay cây roi của tôn giả Gotama đâu cả. Tôn giả tự xưng là nông dân, nhưng chúng tôi có thấy những lằn cày của tôn giả đâu. Vậy xin tôn giả cho chúng tôi biết tôn giả cày ở đâu?

- Ðức tin (saddha) là hột giống, kỷ luật (tapo) là mưa, trí huệ (panna, prajna) là cái ách và cây cày, khiêm tốn (hiri) là cán cày, tâm (mano) là dây cương, và niệm (sati) là lưỡi cày và cây roi.

Như Lai sống với sáu căn thu thúc, hành động và lời nói chính đáng, ăn uống độ lượng. Như Lai đã dùng sự chân thật để cắt những cọng cỏ dại. Thành đạt đạo quả tối thượng là mở dây thả bò (giải thoát).

Tinh tấn (viriya) là loài thú chở nặng đã đưa Như Lai đến trạng thái an tịnh (Niết-bàn). Không còn phiền não, trực chỉ, thẳng tiến, không bao giờ quay trở lại nữa. Ðó, lằn cày của Như Lai đã thực hiện như thế đó. Kết quả của nó là trạng thái bất sanh bất diệt. Ðã kéo xong lằn cày này thì không còn phiền muộn âu sầu nữa.

Nghe xong, vị Bà-la-môn Kasi-Bharadvaja bới đầy một chén cơm trộn sữa dâng lên đức Phật và nói:

- Cầu xin tôn giả Gotama độ chén cơm trộn sữa này. Tôn giả quả thật là một nông dân vì ngài đã trồng một loại cây trổ trái "vô sanh bất tử".

- Vật thực nhận lãnh do sự giảng đạo không thích đáng cho Như Lai dùng. Này ông Bà-la-môn, đó là thông lệ của bậc Ðại Giác. Ðấng Chánh Biến Tri không thể dùng vật thực ấy. Nếu ông muốn cúng dường, xin để đến một hôm khác.

Vị điền chủ rất cảm phục, sụp xuống lạy Phật và xin quy y tam bảo.Ể

 

Phật dạy Rahula giữ chánh niệm trong lúc đi khất thực[20] 

Sau mùa an cư thứ 11, Phật lại đi hoằng hóa về hướng tây bắc. Cuối mùa thu năm ấy Phật tới Sravasti. Ðây là lần đầu tiên thầy Svastika đến tinh xá Jetavana. Thầy thấy tinh xá rất đẹp và đầy đủ tiện nghi cho sự tu học. Khung cảnh đã tươi mát mà khí hậu lại đầm ấm. Thấy Svastika, thầy nào cũng chào hỏi vui vẻ vì biết rằng thầy là nguyên nhân Phật nói kinh Chăn Trâu tại Venuvana.

Một buổi sáng, trong khi ôm bát đi khất thực sau lưng Phật, Rahula đánh mất chánh niệm (samma-sati). Tuy vẫn bước đi theo mọi người, tâm chú đang nghĩ vớ vẩn đến chuyện khác. Chú tự hỏi nếu ngày xưa Phật không đi tu thì không biết bây giờ Phật đang làm gì và mình đang làm gì. Chú đã nghe kể lại là khi Phật mới sanh, có các nhà tiên tri đoán rằng nếu Phật không đi tu thì sẽ trở nên một vị chuyển luân thánh vương, tức một vị đại đế có quyền hành rộng lớn trên nhiều vương quốc. Không biết đời sống của một vị chuyển luân thánh vương ra sao? Và nếu Phật làm chuyển luân thánh vương thì chú đang làm gì? Nhìn đức Phật đang đi phía trước, chú lại nghĩ thân hình của đức Thế Tôn, cha ta, thật uy nghiêm đẹp đẽ, thân hình của ta cũng đẹp đẽ không kém. Vì đang nghĩ vơ vẩn nên bước chân, hơi thở và dáng đi của chú không còn an trú trong uy nghi nữa. Lạ quá, Phật đi phía trước mà ngài cảm thấy được điều đó. Phật biết là chú mất chánh niệm. Ngài dừng bước, quay trở lại. Tất cả các vị khất sĩ cũng dừng bước. Phật bảo Rahula:

- Này Rahula, con có theo dõi hơi thở và duy trì chánh niệm không?

Rahula cuối đầu, im lặng. Phật dạy:

- Muốn an trú trong chánh niệm thì phải duy trì hơi thở có ý thức. Trong khi đi khất thực, ta phải thực tập thiền quán. Ta có thể quán sát về tính cách vô thường, vô ngã của những yếu tố tạo nên muôn loài chúng sanh là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Bất luận hình dáng đẹp đẽ hay xấu xa, hay thế nào đi nữa, con cũng phải quán sát như vầy: "Cái này không phải của ta (N'etam mama); cái này không phải là ta (N'eso' ham' asmi); cái này không phải là linh hồn của ta (Na me so atta)[21]". Nếu ta duy trì hơi thở có ý thức thì ta mới thực hành thiền quán có kết quả và không bị mất chánh niệm.

Nói xong, Phật quay lại và tiếp tục đi. Ðược sách tấn, tất cả mọi người đều chú ý vào hơi thở để duy trì chánh niệm. Nhưng một lúc sau, Rahula tách ra khỏi hàng ngũ các vị khất sĩ, đến ngồi dưới một gốc cây trong cụm rừng bên đường. Thấy thế, Svastika cũng rời hàng ngũ và đi theo Rahula. Thấy Svastika tới gần, Rahula nói:

- Sư huynh cứ đi khất thực với các thầy đi. Tôi không còn lòng dạ nào mà đi khất thực nữa. Tôi vừa bị Phật quở (rầy) trước đại chúng là đánh mất chánh niệm. Tôi phải dành cả ngày hôm nay để thực tập thiền quán. Tôi xấu hổ lắm.

Biết không làm gì hơn được, Svastika từ giã Rahula, trở lại nhập đoàn với các vị khất sĩ. Trên đường về, đại đức Sariputta đã cùng Svastika ghé lại cụm rừng để đón Rahula về tinh xá. Svastika chia xẻ phần ăn của mình xin được vào bát của Rahula. Sau giờ thọ trai, thầy Sariputta bảo Rahula đến gặp Phật. Svastika xin được đi theo.

 

Phật dạy Rahula tu hạnh của tứ đại[22] 

Biết tâm ý của Rahula đã thuần thục, có thể tiếp nhận giáo lý giải thoát, Phật dạy Rahula tu theo hạnh của tứ đại:

- Này Rahula, con hãy học theo hạnh của đất. Dù người ta đổ và rải lên đất những thứ tinh sạch và đẹp đẽ như hoa, nước thơm và sữa thơm, hoặc người ta đổ lên đất những thứ dơ bẩn hôi hám như phân, nước tiểu hay máu mủ, hoặc người ta khạc nhổ xuống đất thì đất cũng tiếp nhận tất cả những thứ ấy một cách thản nhiên, không vui vẻ mừng rỡ mà cũng không chán ghét tủi nhục. Cũng thế, khi những cảm thọ khoái lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để cho chúng làm nhiễu loạn tâm con và chiếm cứ lòng con.

Này Rahula, con hãy học theo hạnh của nước. Khi người ta giặt rửa những thứ dơ bẩn trong nước, nước cũng không vì thế mà cảm thấy tủi nhục, buồn khổ và chán chường. Cũng thế, khi những cảm thọ khoái lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để cho chúng làm nhiễu loạn tâm con và chiếm cứ lòng con.

Con lại nên học theo hạnh của lửa. Lửa đốt cháy mọi thứ, kể cả những thứ dơ bẩn, vậy mà lửa cũng không vì thế mà cảm thấy tủi nhục, buồn khổ và chán chường. Cũng thế, khi những cảm thọ khoái lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để cho chúng làm nhiễu loạn tâm con và chiếm cứ lòng con.

Con lại cũng nên học theo hạnh của không khí. Không khí có thể dung chứa và làm tan đi các thứ mùi mà vẫn không cảm thấy tủi nhục, buồn khổ và chán chường. Cũng thế, khi những cảm thọ khoái lạc hoặc buồn khổ phát sinh, con đừng để cho chúng làm nhiễu loạn tâm con và chiếm cứ lòng con.

 

Phật dạy Rahula tu hạnh Từ Bi Hỷ Xả[23] 

Rồi đức Phật nói tiếp:

- Này Rahula, con hãy tu tập lòng Từ để đối trị giận hờn. Lòng Từ là lòng thương yêu tất cả chúng sanh, lúc nào cũng nghĩ đến cách đem lại niềm vui cho kẻ khác, không đặt điều kiện, không mong đền đáp.

Con hãy tu tập lòng Bi để đối trị ý giết hại. Lòng Bi là lòng thương yêu tất cả chúng sanh, lúc nào cũng nghĩ đến cách làm vơi sự khổ đau nơi người khác, không đặt điều kiện, không mong đền đáp.

Con cũng nên tu tập lòng Hỷ để đối trị tánh đố kỵ, ganh ghét. Lòng Hỷ là lòng thương yêu tất cả chúng sanh, vui theo cái vui của người khác, vui khi thấy người khác thành công, hạnh phúc.

Và con cũng nên tu tập lòng Xả để đối trị tánh cố chấp, ích kỷ, kỳ thị. Lòng Xả là tâm không cố chấp phải/quấy, đúng/sai, mê/ngộ, hay/dỡ, tốt/xấu ... Lòng Xả là tâm không phân biệt ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Lòng Xả là tâm bình đẳng giữa muôn loài chúng sanh. Lòng Xả là tâm niệm thanh thoát cởi mở đưa ta đến an lạc, thanh tịnh và giải thoát.

Này Rahula, Từ, Bi, Hỷ, Xả là bốn tâm tư rộng lớn không bờ bến, và cũng đẹp đẽ không cùng. Ðó gọi là Tứ Vô Lượng Tâm. Tu tập theo phép này thì mình trở nên một nguồn suối mát đem lại sinh lực và niềm vui cho tất cả chúng sanh muôn loài.

 

Phật dạy Rahula quán vô thường[24]

Ðức Phật ngừng một lát, rồi ngài nói tiếp:

- Này Rahula, nếu con muốn vào cảnh giới bất sanh bất diệt thì con phải tập quán vô thường để trừ pháp chấp và ngã chấp. Con nên phân tách tỉ mỉ từng yếu tố cấu tạo nên thân ta[25], từng yếu tố cấu tạo nên tâm ta[26], từng yếu tố cấu tạo nên bất cứ một vật thể nào để nhận thấy rằng không có bất cứ yếu tố nào, dù nhỏ đến đâu, không có một vật thể nào, dù lớn đến đâu, có thể thoát khỏi các giai đoạn thành, trụ, hoại, không. Tất cả đều biến đổi không ngừng tùy theo nhân duyên trong mỗi thời. Tất cả đều vô thường.

Một khi con đã nhận thức được một cách sâu xa tánh cách vô thường của muôn sự, muôn vật ở thế gian, tâm con sẽ không còn ham muốn danh lợi tài sản thế gian, không còn đắm nhiễm các thú vui thế tục. Bấy giờ là lúc con bắt đầu bước chân lên con đường giải thoát đó con ạ.

 

Phật dạy Rahula quán hơi thở[27] 

Ngưng một lát, đức Phật nói tiếp:

- Này Rahula, mỗi ngày con cũng phải siêng năng thực tập phép quán hơi thở để giữ chánh niệm, để thân tâm được an lạc. Mỗi khi thở vào ta biết là ta đang thở vào, mỗi khi thở ra ta biết là ta đang thở ra. Trong lúc chú tâm vào hơi thở như thế ta trừ được những tạp niệm, những suy nghĩ viễn vong loạn động. Tạp niệm dứt là tâm ta được an trú trong chánh niệm. Ta biết ta đang thở, ta biết ta đang tỉnh thức, ta biết ta không bị tạp niệm[28] lôi cuốn, ta biết ta đang an trú trong chánh niệm. Trạng thái tỉnh thức đó chính là Phật tính sẵn có trong mọi người chúng ta.

Này Rahula, quán niệm hơi thở giúp ta giữ chánh niệm. Sống trong chánh niệm là sống trong tỉnh thức, là sống trong sự giác ngộ. Càng giữ chánh niệm được lâu thì tính giác ngộ nơi ta càng sáng tỏ và lớn mạnh.

Ngồi bên cạnh Rahula, Svastika chăm chú nghe tất cả những lời Phật dạy. Thầy cảm thấy hân hoan sung sướng. Ðây là lần thứ hai thầy được nghe Phật giảng giáo lý thâm sâu bằng những lời lẽ thật đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hành. Thầy bắt đầu tự tin rằng mình có đủ khả năng học, hiểu và thực hành có kết quả giáo lý giác ngộ và giải thoát của đức Phật. Sau khi Phật dứt lời, Rahula và Svastika lạy tạ lui ra. Svastika rủ Rahula đến ngồi dưới một tàng cây cổ thụ để ôn lại những lời Phật dạy và cùng nhau thảo luận về chi tiết để thực hành. Svastika thấy rằng mình cũng hiểu giống như Rahula.

 

7- Hạ thứ 12 tại Veranja, xứ Kosala (năm -578)

 

Nạn đói tại Veranja[29] 

Sắp đến mùa an cư thứ 12, lúc Phật thuyết pháp dưới cội cây Nimba to lớn mát mẻ, trong khu vườn của ông Naleru, gần làng Veranja, thuộc xứ Kosala, có một thí chủ Bà-la-môn giàu có tên Agnidatta đến nghe và hỏi tại sao đức Phật không bao giờ đảnh lễ một vị Bà-la-môn lớn tuổi? Ðức Phật đáp:

- Nếu Như Lai đảnh lễ vị nào chưa đầy đủ phẩm hạnh thì vị ấy phải bị vở sọ ra từng mảnh. Vì thế Như Lai chưa từng đảnh lễ một vị Bà-La-môn nào dù đã lớn tuổi.

Sau khi nghe Phật giải đáp thêm một số câu hỏi khác về giáo lý giác ngộ và cách thực hành, ông Agnidatta lấy làm hoan hỷ, xin quy y tam bảo, và thỉnh Phật cùng chư tăng đến nhập hạ tại làng Veranja, trong khu vườn nhà ông. Nhưng ông Agnidatta thường bận rộn với việc đi xa buôn bán, ít khi có mặt ở nhà. Trong khi đó nạn đói xảy ra tại Veranja, ngay trong mùa an cư.

Các vị khất sĩ than thở với nhau là thức ăn xin được mỗi ngày càng lúc càng hiếm. Có nhiều thầy đi khất thực về với chiếc bình bát rỗng không. Các thầy phải ngồi chung lại chia nhau thức ăn xin được. Dân chúng cho biết năm nay ở đây mất mùa, kho lúa dự trữ của chính quyền địa phương cũng sắp cạn, nhà cầm quyền phải phát thẻ cứu trợ thực phẩm cho dân chúng. Dân chúng không đủ ăn thì làm gì có để cúng dường. Số lượng 500 vị khất sĩ nhập hạ là một số lượng quá lớn đối với số dân chúng trong làng.

Ðại đức Moggallana đề nghị nên dời về làng Uttarakuru ở miền nam để tiếp tục an cư, vì ở đó không có nạn đói. Phật bảo:

- Không nên làm thế, Moggallana. Có phải chỉ có một mình mình đói mà thôi đâu. Cả dân làng đều đói, chỉ trừ những nhà giàu. Nếu ta vì đói mà bỏ đi, không chia xẻ những khó khăn, thì làm sao thông cảm được nỗi khổ của dân chúng ở đây? Này Moggallana, chúng ta nên ở lại đây cho đến hết mùa an cư.

Một hôm, sau khi đi khất thực về, đại đức Ananda đi kiếm một cái om đất, rồi bắt om lên bếp làm bằng ba cục đá. Ðại đức nhặt các cành cây khô và loay hoay nhóm lửa. Thấy lạ, Svastika tới gần nói:

- Thầy để con nhúm lửa cho.

Svastika nhúm bếp thật tài, chỉ trong chốc lát lửa đã cháy bùng lên. Ðại đức Ananda trịnh trọng lấy bát ra. Trong bát có một thứ gì giống như mạt cưa. Thầy đổ tất cả vào trong chiếc om đất. Thầy nói với Svastika:

- Ðây là cám. Chúng ta rang cám nầy cho thơm rồi đem dâng cho Phật độ ngọ.

Trong khi Svastika cầm hai que củi nhỏ để trộn cám đang rang trên bếp, đại đức Ananda kể cho chú nghe chuyện một thương gia buôn ngựa từ miền bắc xuống, đem theo 500 con ngựa, hiện đang ở tại Veranja. Sáng hôm nay, ông gặp đại đức Ananda đang dừng lại trước nhà ông để khất thực. Qua câu chuyện hỏi thăm đại đức về giáo lý, pháp môn tu học và tình trạng của giáo đoàn tại đây, ông thương gia nói với đại đức là hôm nào không xin được thức ăn thì các vị khất sĩ có thể ghé nhà ông để nhận lãnh mỗi vị một vóc cám ăn cho đỡ đói. Cám này được dự trữ cho ngựa ăn, nhưng phẩm chất khá tốt, có thể rang cho người ăn rất bổ dưỡng. Nghe nói thế, đại đức Ananda liền ngỏ ý xin thêm một phần cám về cho Phật. Thầy hứa sẽ báo tin mừng này cho các vị khất sĩ.

Cám đã thơm. Thầy Ananda trút cám trở lại vào bát. Thầy rủ Svastika đi với thầy đến am của Phật. Thầy chia cho Phật nửa phần cám trong bình bát. Phật hỏi Svastika có gì để ăn không? Svastika bạch là sáng nay thầy đã xin được hai củ khoai. Rồi ba người cùng ngồi xuống, quán niệm và độ ngọ trong im lặng. Svastika nhìn thấy Phật bốc cám ăn một cách thản nhiên và ngon lành. Thầy bồi hồi cảm động trước một vị đế vương, một vị giáo chủ đang sống một cuộc đời vô cùng đạm bạc.

Sau buổi pháp thoại chiều hôm đó, đại đức Ananda báo tin cho đại chúng biết lời nguyện cúng dường cám của người chủ ngựa. Thầy dặn thêm là chỉ khi nào không xin được thức ăn mới đến nhận cám vì số lượng cám cúng dường được trích ra từ các phần ăn của 500 con ngựa.

 

Nên ban hành giới luật lúc nào?[30] 

Một hôm, sau khi xuất thiền, đại đức Sariputta đến hầu Phật và cung kính bạch:

- Bạch đức Thế Tôn, giáo pháp của vị Phật nào tồn tại lâu dài và giáo pháp nào không tồn tại lâu dài?

- Này Sariputta, giáo pháp của chư Phật Vipassin (Tỳ-Bà-Thi), Sikhin (Thi-Khí) và Vessabhu (Tỳ-Xá-Phù) không tồn tại lâu dài; còn giáo pháp của chư Phật Kakucchandha (Câu-Lưu-Tôn), Konagamana (Câu-Na-Hàm) và Kassapa (Ca-Diếp) tồn tại lâu dài[31]. Phật pháp có tồn tại lâu dài hay không là tùy theo nếp sống kỷ cương của giới xuất gia, do đó cũng tùy theo các giới luật căn bản (Patimokkha, Giới Bổn) được ban hành.

- Bạch Thế Tôn, nếu vậy chúng con xin thỉnh cầu Thế Tôn hoan hỷ thiết chế và ban hành đầy đủ giới luật để làm mẫu mực ngàn đời cho giới xuất gia.

- Chưa được đâu, Sariputta. Giới luật không thể do một người lập ra đầy đủ trong một ngày. Hãy nhẫn nại. Chừng nào có những vụng dại lỗi lầm phát sanh trong tăng chúng, lúc ấy mới nên ban hành những biện pháp kỷ luật và thiết chế giới luật. Khi thấy các giới điều đã đầy đủ, chúng ta sẽ ban hành Cụ Túc Giới (Upasampada).

Mùa nhập hạ tại Veranja là đầu đề cho lời giới thiệu 4 giới trọng[32] Ba-la-di (Parajika) trong tạng Luật (Vinaya Pitaka).

Ngày tự tứ[33] mãn hạ đã tới. Thí chủ Agnidatta từ phương xa trở về. Nghe nói nhiều vị khất sĩ bị đói trong mùa an cư, ông ta rất lấy làm hối hận. Ông ta tổ chức một buổi trai tăng thật long trọng tại nhà, cúng dường Phật ba bộ áo cà-sa và các vị khất sĩ mỗi người một bộ. Sau buổi thuyết pháp, Phật và các vị khất sĩ từ giã ông, lên đường đi Sravasti. Sau đó đức Phật lại tiếp tục đến hoằng-hóa tại Soreyya, Samkassa, Kannakujja, Payaga. Ngài đến Benares ở ít lâu, rồi từ đó trở về Vesali, ở tại tinh xá Mahavana. Ðộ một tháng sau Phật lại lên đường đi đến xứ Koliya. 


 

[1] Xem Buddhist Legends, quyển I, trang 179-180, và quyển III trang 211-213; Udana IV.5; Ðường Xưa Mây Trắng, trang 302-303.

[2] Xem Majjhima-nikaya 128; Ðường Xưa Mây Trắng, trang 303-307.

[3] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 1428; Ðường Xưa Mây Trắng, trang 308-310.

[4] Xem Buddhist Legends, quyển II, trang 336-339.

[5] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 310-312.

[6] Hai chị em cô Sujata đã dâng bát cháo sữa cúng Phật trước ngày Phật thành đạo.

[7] Cụ-túc-giới (Upasampada) hay Giới-bổn (Patimokkha) về sau lên tớI 250 điều cho tỳ-kheo và 348 điều cho tỳ-kheo-ni theo Bắc tông. Theo Nam tông thì tỳ-kheo có 218 điều và tỳ-kheo-ni có 311 điều.

[8] Xem Majjhima-nikaya 33-34: Maha- và Culla-Gopalaka-sutta; Kinh Phóng Ngưu.

[9] 32 thành phần cấu tạo nên sắc thân (dvattinsakarapatha) là tóc, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, màn phổi, lá lách, phổi, ruột, màn ruột, dạ dày, phẩn, mật, da trong, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mao dịch, nước miếng, chất nhờn (như đàm, mũi), chất nhớt (ở các khớp xương), nước tiểu và bộ óc. Tất cả 32 thành phần của cơ thể đều do duyên hợp nên đều vô thường, không có tự ngã.

[10] Lục độ là hạnh của Bồ-tát gồm có: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Thực hành 6 hạnh này là cách đưa chúng sanh trong đó có mình từ bờ Mê đến bến Giác, nên gọi là lục độ.

[11] Tọa cụ hiện nay là một tấm thảm hình vuông, mỗi cạnh độ 80 cm, dùng để trải chỗ ngồi hoặc chỗ lễ bái cho sạch sẽ. Xưa kia tọa cụ là một tấm vải trải phía dưới cái y lúc ngồi hoặc nằm cho y khỏi lấm dơ.

[12] Bồ đoàn hiện nay là một cái gối để ngồi thiền, hình trụ, đường kính độ 22 cm, bề cao độ 16 cm, khi ngồi lên còn cao lối 10 cm, bên trong dồn rơm, hoặc cỏ khô, hoặc gòn, hoặc dâm bào nhỏ.

[13] Tứ diệu đế là khổ, tập, diệt, đạo.

[14] Tứ niệm xứ là bốn phép quán: thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngã, thọ là khổ.

[15] Quán Bất Tịnh (quán thân bất tịnh để trừ ái dục), Quán Từ Bi (quán tâm từ để trừ nóng giận), Quán Nhân Duyên  để trừ ngu si, làm tăng trưởng trí huệ, Quán Giới Phân Biệt (quán 18 giới là 6 căn, 6 trần và 6 thức đều là duyên hợp, đều là vô thường, để trừ ngã chấp), Quán Sổ Tức (quán hơi thở để trừ buồn rầu, lo nghĩ và giận hờn).

[16] Cửu tưởng quán là phép quán thân bất tịnh. Nghĩ tưởng đến chín giai đoạn tan rã của thân người sau khi chết.

[17] Sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (ý).

[18] Xem Majjhima-nikaya 61: Ambalatthika-Rahulovada-sutta, 147; Tăng Nhất A-Hàm XVII.1; Trung A-Hàm 200: Giáo La-Hầu-La Tiểu Kinh.

[19] Xem Sutta-Nipata I.4: Kasi-Bharadvaja-sutta; Samyutta-nikaya VII.11.

[20] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 316-318; Majjhima-nikaya 62: Maha-Rahulovada-sutta.

[21] Majjhima-nikaya 62: Maha-Rahulovada-sutta.

[22] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 318.

[23] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 318-319.

[24] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 319.

[25] Theo trong kinh thì thân thể có 32 thành phần cấu tạo.

[26] Theo Duy Thức Học thì Tâm gồm có 8 Tâm Vương và 51 Tâm Sở.

[27] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 319.

[28] Tạp niệm có 6 thứ: 1- Lo nghĩ tham dục; 2- Lo nghĩ giận hờn; 3- Lo nghĩ làm hại người khác; 4- Lo nghĩ đến người thân; 5- Lo nghĩ đến quê hương, xứ sở; 6- Lo nghĩ đến sự sống chết, còn mất.

[29] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 321-323; Majjhima-nikaya 42: Veranjaka-sutta.

[30] Xem Ðường Xưa Mây Trắng, trang 324-325.

[31] Vinaya Pitaka: kinh Vibhanga (Parajika), trang 1-11. Ðó là 6 vị Phật đã ra đời trước Phật Thích-Ca.

[32] Bốn giới trọng (Parajika) là Sát, Ðạo, Dâm, Vọng.

[33] Tự tứ (Pavarana): Vào ngày mãn hạ, mỗi vị tỳ-kheo phải phát lồ sám hối các tội mình đã phạm trong thời gian an cư để tâm được thanh tịnh và sanh vui mừng.

 

---o0o---

 

Mục Lục > 01 > 02 > 03 > 04 > 05 > 06 > 07 > 08 > 09  > 10

11 > 12  > 13 > 14 > 15  > 16 > 17 > 18 > 19> 20

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 8-2007


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Đức Phật & Phật Pháp

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544