Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


 

 

 

 

 

Dấu Ấn Khó Thể Phai Mờ


Thích Bảo Lạc

 

 

Sáng ngày 22 tháng 3 năm 2007 tại phòng khách Phật Học Viện Quốc Tế, thành phố North Hills – Los Angeles – tiểu bang California, Hoa Kỳ, đang ngồi dùng trà nói chuyện cùng các huynh đệ của Viện, chợt Thượng tọa Thái Siêu – giáo thọ – dạy Đại Cương Trung Quán Luận bước vào, Thầy vừa tới từ chùa Bảo Tịnh ở Los Angeles để phụ trách giờ học lúc 9 giờ.  Vừa hỏi thăm tôi (T.B.L.) vài câu, Thầy rút trong túi áo ra một phong thơ để trên bàn và cho hay trong đó có tiền Phật tử gởi qua Úc cúng dường cho một ngôi chùa bên Úc, và nhờ tôi chuyển dùm.

Trước nhất, tôi đọc địa chỉ và tên chùa.  Địa chỉ đề: 313 Barkley Street, Footscray – Vic. 3011 – Australia, chùa tên là Quán Thế Âm. Ở Úc lâu năm ai cũng biết chỉ có chùa Quán Thế Âm Ni Tự tại Perth (Tây Úc), tiểu bang Queensland có chùa Quan Âm do Thượng tọa Minh Nhẫn trụ trì; còn tiểu bang Victoria làm gì có chùa Quán Thế Âm. Tôi hỏi Thượng tọa Thái Siêu: Tại sao Phật tử không gởi thẳng về đó?

-         Vì họ liên lạc mãi không được nên mới nhờ.

-         Victoria là tiểu bang không có tên ngôi chùa đó.

-         Nhưng Phật tử gởi cúng dường $200 Mỹ kim đúc tượng Quán Thế Âm.

-         Thầy nhận lại thư và hoàn lại người gởi, để tôi kể chuyện này Thầy nghe.

Sau khi nói chuyện một lúc, tôi mượn lại cái thơ và nhờ photo copy vài bản, và đây là một số điểm cần nêu lên để đồng hương và Phật tử hiểu rõ, hầu làm sáng tỏ vấn đề.  

 

* – Phật học Quán Thế Âm, cứu tế xã hội:

 1- Bức thư kêu gọi với tiêu đề: “Lưu Truyền Chánh Pháp Cốt Tượng để mãi cho đời sau”. Bên góc trái bức thư có hình tác giả (Thích Chánh Đạo) với y hậu nghiêm chỉnh mà là hồng y nữa.  Dưới hình có hai câu chữ Hán đóng khung cở 15cm chiều đứng và 4cm chiều ngang như sau: “Thượng Chánh hạ Từ húy Nhựt Tâm pháp danh Ngộ Pháp và câu bên trái: Lâm Tế Chánh Tông gia phổ tứ thập nhứt thế”.  Đó là thầy Thích Chánh Từ chứ không là Chánh Đạo nào cả.  Trừ người không biết chữ Hán, chữ Lâm Tế viết Lâm là rừng chứ không phải như Lâm Tế tông.  Thư dẫn chứng nào bác mê tín dị đoan, nêu nhân quả luân hồi, thuyết vô thường, duyên nghiệp, quả báo ba đời, đẹp xấu, sống lâu, chết yểu v.v... có đoạn viết: “Ngôi chùa Phật học Quán Thế Âm là nơi phụng sự cứu tế từ thiện xã hội mới được thành lập do thầy Minh Thời khai sáng Phật đường và cung thỉnh bần đạo chủ trì pháp sự để hóa duyên với chúng sanh, nhưng hiện tại ngôi chùa còn quá thiếu thốn Phật tượng, cùng pháp cụ, kinh sách để hành lễ theo nghi thức tôn giáo truyền thống”.

“Kính thưa quý liệt vị mạnh thường quân, cùng quý vị hảo tâm đầy lòng từ thiện thường hay tạo phước đức.  Vì tình đồng hương, nghĩa đồng bào không phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng – chân lý vẫn là một – kính xin quý ông bà và cô chú mở lòng bi tâm bác ái theo tinh thần của Phật và chúa Jêsu trợ giúp phương tiện làm phước cho những người mới đến sau, lại là một người tu sĩ đang hành đạo để giúp đời”.

“Nay vì đạo pháp và trách nhiệm chung của những người con nhà Phật, sứ giả Như Lai – hành Bồ Tát đạo.  Bổn tự hết lòng mong mỏi viết lên BỨC TÂM THƯ THÀNH KHẨN này, kính xin thông bạch qua quý liệt vị có nhiều tấm lòng đạo tâm chiếu cố mà giúp đỡ cho ngôi chùa và người chân tu có nơi an tâm hành đạo tu học, lợi ích chúng sanh”.

Tưởng khỏi cần bình luận chi cho mất công, người nào chịu suy nghĩ hẳn thấy rõ cái đạo hầm bà lằng của thầy này nó ra sao rồi.  Lại còn xưng chân tu, bần đạo, sứ giả Như Lai, hành Bồ Tát đạo ... mà kỳ thực là tay tổ thượng thặng, thuộc hạng cao thủ kiểu này từ hơn 15 năm nay tại Úc nói riêng và tại khắp nơi trên thế giới mà không ai tố giác hành tung phạm pháp của y thị.

2- Ngôi chùa Quán Thế Âm có thật tại Victoria? Năm 2002 nhân kỳ an cư kiết hạ của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Úc Đại Lợi – Tân Tây Lan tổ chức tại chùa Linh Sơn – Melbourne vào tháng 7 năm 2002, có một Phật tử nhận được cũng dạng cái thư y chang đưa cho quý thầy xem.  Thượng tọa Quảng Ba và vài thầy nữa lái xe tới địa chỉ có trên bì thư, tìm mãi một hồi không thấy ngôi chùa và cũng không có địa chỉ đó.  Lúc đó (2002) bức thư vận động kêu gọi đóng góp của thầy Chánh Đạo  tung ra cũng đã gần 10 năm rồi.  Thế mà nay năm 2007 tôi sang Hoa Kỳ vẫn còn gặp lại cái thư kêu gọi kiểu đó.  Phật tử các nơi vẫn tín tâm tiếp tục đóng góp.  Không hiểu quý vị có biết việc làm phước hay công đức của mình vô tình tạo thêm tội lỗi cho người chủ trương và lại càng vô duyên thiếu phước nữa là khác.  Chùa không có, tượng Phật cũng không thử hỏi số tiền quý vị đóng góp từ năm 1990 tới nay thầy Chánh Từ dùng làm việc gì?

Trong thời buổi pháp nhược ma cường, lòng người chao đảo, đạo pháp suy vi này, trong đạo chúng ta có những tay giảo hoạt như  Tỳ kheo Thích Chánh Từ nầy đây, để cho những ai quá tin tưởng: hể vị Thầy mở lời kêu gọi là sẵn lòng ủng hộ mà không chịu cân nhắc cẩn trọng; vô tình lại tạo thêm ác nghiệp cho người và làm cho đạo pháp ngày càng tệ hại suy tàn.  Tục ngữ có câu: “Chiếc áo không làm nên thầy tu”. Nếu chịu khó suy nghĩ, cân nhắc câu nầy cũng giúp ta rất nhiều trong việc tu tập, hành đạo.  Đừng vì bạn bè mời gọi mà mình tham gia việc Phật sự không biết rõ nguồn gốc.  Chúng ta không dễ dãi đến độ thờ ơ theo cách đó.  Vì Phật dạy ta rõ ràng cả ba đức tánh: từ bi – trí tuệ – dũng lực.  Lòng từ bi vô cùng cần thiết trong đời sống chúng ta; chỉ có từ bi mà thiếu trí tuệ cũng không ổn, bởi lẽ, người ta lợi dụng lòng tốt của mình và cho tới lúc phát hiện ra được thì việc đã trể, ta chỉ còn biết ngồi nhấm gẫm niềm đau trong sự hối tiếc, ân hận.  Ngoài đức tánh từ bi và trí tuệ, người Phật tử phải cần có dũng lực tức là sức mạnh tinh thần để xua đuổi, bẻ dẹp những tà thuyết, lời đường mật, đạo đức giả, danh hảo huyền, những chủ trương lừa gạt v.v... mới may ra tránh khỏi bị người lợi dụng lòng tốt của mình.

3- Trang mặt sau của bức thư có kẻ ô chia làm 5 cột: số thứ tự, họ tên, địa chỉ, phát tâm và hồi hướng gồm có 16 hàng.  Bên dưới có ghi chú rằng: Mọi sự giúp đỡ về tịnh tài và tịnh vật cho chùa Quán Thế Âm  được lưu BẢNG VÀNG CÔNG ĐỨC, đồng thời danh sách tên các liệt vị phát tâm được giữ lại chùa để hồi hướng công đức cầu an trong mỗi thời khóa kinh hàng ngày.

Sau cùng đề hai địa chỉ chùa Quán Thế Âm bên trái tiếng Việt, bên phải tiếng Anh ghi là: Quán Thế Âm temple

P.O. Box 1250, Collingwood – Vic. 3066 – Australia

4 – Bài học xưa đối chiếu chuyện đời nay

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí và Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức và một số sách khác ghi câu chuyện như sau: Ông Võ Thủ Hoằng (thường được gọi là Thủ Huồng) là một nhà tỷ hộ (tỷ phú) ở thôn Tân Chánh, huyện Phước Chánh, dinh Trấn Biên (nay là tỉnh Đồng Nai).  Đồn rằng: phú hộ Võ Thủ Hoằng xuất thân là một viên Thơ Lại làm việc trong các nha môn (quan văn).  Sau hai mươi năm làm việc, tìm nhiều cách để lấy tiền của dân chúng (tham nhũng, hối mại quyền thế...) ngoài số vàng bạc chôn giấu, Võ Thủ Hoằng mua rất nhiều ruộng đất, cất nhà, cho vay lấy lời... Ruộng đất cò bay thẳng cánh, mỗi mùa thu hoạch ngàn giạ lúa.

Khi thấy tiền của quá nhiều, sống đến chết cũng dư thừa, Võ Thủ Hoằng xin nghĩ việc, về quê nhà (Biên Hòa) sống cuộc đời trưởng giả, vợ chết sớm, lại không có con nên không biết tiêu vào đâu cho hết số tài sản khổng lồ đó.

Một hôm, có người cho Thủ Hoằng biết là ở chợ Mãnh Ma tại Phan Rang, là nơi người sống có thể gặp được người chết vào giữa đêm mồng Một tháng sáu âm lịch hằng năm.  Thủ Hoằng là người rất thương vợ, tuy vợ đã chết trên mười năm mà vẫn còn thương nhớ, nên Thủ Hoằng quyết ra đó để tìm gặp vợ.

Khi gặp vợ thấy vợ ăn mặc theo kiểu nhà phong lưu đài các, bà vợ cho biết bà làm cung nữ trong cung của vua Diêm Vương ở dưới âm phủ, Thủ Hoằng muốn xin xuống âm phủ cho biết, bà vợ bằng lòng.

Thủ Hoằng và vợ cùng đi, sau mấy dặm đường tốt mịt, mới đến cõi âm phủ.  Đi qua các cung đình của Diêm Vương đều có các tên quỉ gác cổng, mặt mày dữ tợn ghê gớm.  Nhờ có vợ nên Thủ Hoằng đi qua được, đến một gian nhà thấp, vợ bảo Thủ Hoằng: Đây là nhà bếp, đằng kia là nhà ngục, trước mặt là cung Hoàng Hậu – chỗ tôi làm việc hằng ngày – qua khỏi chỗ này là cung của Diêm Vương, cứ ở tạm trong gian nhà vắng này chờ tôi.

Chiều hôm đó, bà vợ đi hầu Hoàng Hậu về, trao cho Thủ Hoằng một tờ lịnh được phép đi xem các nơi ở âm phủ, trừ cung Diêm Vương và cung Hoàng Hậu.

Thủ Hoằng đi dạo các nơi, cuối cùng đến nhà ngục.  Từ trong ngục, tiếng la khóc vang dội, nghe thật ghê rợn.  Thủ Hoằng nhìn vào các ngục, thấy quỉ sứ đang hành hình tội nhân: mổ bụng, móc mắt, cắt lưỡi, bỏ người vào vạc dầu sôi... Thủ Hoằng thấy rõ cảnh trả báo những tội lỗi của con người ở trên trần thế, đúng như lời truyền của người đời về nhân quả, về âm phủ....

Thủ Hoằng đến một nhà ngục: sau cái bàn để xẻo thịt tội nhân là cả một kho “gông”, có cái lớn, có cái nhỏ.  Thủ Hoằng hỏi viên cai ngục: gông này để làm gì? Viên cai ngục trả lời:

-         Gông này bắt tội nhân mang, gông lớn hay gông nhỏ là do tội ở trên thế gian nhiều hay ít.  Thủ Hoằng chỉ vào cái gông lớn hỏi:

-         - Đó là gông của ai vậy?

Viên cai ngục mở cuốn sổ dày, tra tên và đọc: Võ Thủ Hoằng tục danh là Thủ Huồng, nguyên quán ở huyện Phước Chánh, phủ Gia Định, nước Đại Nam.  Thủ Hoằng nghe đọc đúng tên mình, giật mình kinh hãi, sau lấy lại bình tĩnh hỏi:

-         Tên này ở trần gian có tội gì vậy?

Viên cái ngục xem sổ và nói:

-         Tên này, khi làm Thơ Lại, hắn bẻ mặt làm trái, tạo ra không biết bao nhiêu việc oan ức, bất công cho người dân để lấy vàng bạc, tiền của của dân, tội ác chép cả mấy trang giấy.  Như năm Ất Sữu, hắn sửa hai chữ “ngộ sát” thành “cố sát”, làm cho hai mẹ con họ Nhàn bị chết, để người anh họ chiếm đoạt hết gia tài.  Việc này Thủ Hoằng được 10 nén vàng, 10 nén bạc và 100 quan tiền.  Cũng trong năm đó, Thủ Hoằng làm cho ông Ngô Lại ở thôn Bình Ca bị hai năm tội đồ, chỉ vì trong nhà có cái áo vàng để đoạt không của ông Lại 12 mẫu ruộng...

Thủ Huồng nghe đọc sợ tái mặt, không ngờ là mọi việc trên trần gian của mình, từ việc lớn đến việc nhỏ, ở âm phủ đều biết rõ ràng từng chi tiết.  Thủ Huồng lại hỏi viên cai ngục:

-         Nếu như hắn muốn cải hối tội lỗi được không?

Cai ngục đáp:

-         Đã vay thì phải trả, nếu hắn muốn hết tội thì phải sám hối và đem của cải, tiền bạc làm ăn bất chánh, cướp giựt của người... bố thí cho hết đi.

Sau khi nghe xong, Thủ Hoằng không còn bụng dạ nào để đi xem nơi khác nữa, trở về nhà gặp vợ đòi về, bà vợ đưa Thủ Hoằng ra khỏi Diêm Đình.  Lúc sắp chia tay, Thủ Huồng nói với vợ:

-         Tôi về thế gian trang trải nợ nần, ba năm nữa tôi trở xuống, mình nhớ lên chợ đón tôi nghe!

Về đến nhà, Thủ Huồng quyết bố thí để chuộc lại tội lỗi ngày trước.  Thủ Huồng đem ruộng đất cúng cho chùa, cho làng, chia cho họ hàng thôn xóm...Thủ Huồng cũng bố thí cho các người nghèo đói trong vùng, thỉnh chư Tăng đến lập trai đàn cúng dường…...Thủ Huồng còn bỏ tiền của ra sửa đường, làm cầu...giúp cho dân chúng đi lại được dễ dàng.

Trong ba năm đó, Thủ Huồng bố thí ba phần tư tài sản.  Đến ngày hẹn, Thủ Huồng lại ra chợ Mãnh Ma gặp vợ và nhờ vợ đưa xuống âm phủ một lần nữa.  Thủ Huồng đến nhà ngục có gông ngày trước, thấy cái gông của mình đã nhỏ lại rất nhiều, Thủ Huồng bèn hỏi viên cai ngục:

-         Cái gông này ngày trước rất lớn mà sao nay lại nhỏ lại như thế?

Viên cai ngục đáp:

-         Trên dương thế, tên này đã làm phước để chuộc tội, nếu cố gắng nữa thì chắc sẽ được phước lớn.

Thủ Huồng lại trở về thế gian.  Y tiếp tục bố thí và làm phước.  Lần này, Thủ Huồng bán hết tài sản lập chùa để thờ Phật, tức chùa Chúc Thọ, dân địa phương gọi là chùa Thủ Huồng (và Thủ Huồng ở cù lao Phố, xã Hiệp Hòa, Biên Hòa vào thế kỷ 19) xuôi theo sông Đồng Nai, thực hiện việc bố thí cuối cùng trong đời.

Vào thời đó, từ Đồng Nai – Biên Hòa – xuống Saigon chưa có đường bộ, chỉ đi bằng ghe – ngã ba sông Đồng Nai và sông Saigon (cửa Tam Giang) – lúc đó còn hoang vu.  Từ Biên Hòa xuống Saigon hay ngược lại, ghe xuồng phải tạm đậu ở ngã ba đó để chờ con nước thuận mới đi được.  Thủ Huồng mướn thợ đóng một chiếc bè lớn bằng tre, trên dựng nhà, có đủ chỗ ngủ, chỗ nấu bếp, và sắm đủ các đồ dùng làm bếp: nồi nêu, dao thớt, gạo củi, mắm muối...cho khách lỡ đường nấu cơm, nấu nước, ăn uống, ngủ nghĩ.

Sau đó, ông Thủ Hoằng chết (không rõ năm nào).  Một thời gian sau, vua Đạo Quang lên ngôi ở Trung Quốc (1821 – 1875) vua cho sứ giả sang triều đình Huế để hỏi vua Nguyễn xem ở Gia Định có ai tên là Thủ Hoằng không? Vì hoàng tử con của vua Đạo Quang mới sanh ra, trong lòng bàn tay có mấy chữ: “Đại Nam, Gia Định, Thủ Hoằng”. Sau khi biết được có ông Võ thủ Huồng ở huyện Phước Chánh, phủ Gia Định (thành phố Biên Hòa ngày nay) có sự tích như trên, vua Đạo Quang mới gởi sang tặng chùa Thủ Hoằng (chùa Chúc Thọ) 3 tượng Phật bằng gỗ trầm hương và một tấm bia đá ghi lại sự tích trên.

Ngày nay, ở thành phố Biên Hòa còn một số di tích liên hệ đến sự tích Thủ Huồng như sau:

-         Chùa thủ Huồng hay chùa Chúc Thọ ở xã Hiệp Hòa, trong đó còn giữ ba tượng Phật và tấm bia đá do vua Đạo Quang gởi tặng.

-         Rạch Thủ Huồng, chảy ngang qua Tân Vạn – Bửu Hòa, vòng lên quốc lộ 1, do ông Võ Thủ Hoằng đứng ra mướn người đào vét để tiện việc đi lại bằng ghe thuyền của dân địa phương thời đó.

-         Chiếc cầu bằng đá xanh trên đường nhỏ dọc theo sông Đồng Nai, ở xã Bửu Hòa (gần chùa Thanh Lương), do ông Thủ Hoằng lập ra để giúp cho dân đi đường bộ thời đó được thuận tiện (cầu này đã hư hiện nay được đúc lại bằng xi măng cốt sắt).

-         Nhà Bè ở ngã ba sông Đồng Nai và sông Saigon không còn nữa, nhưng từ “Nhà Bè” trở thành tên của vùng đất đó.  Địa danh Nhà Bè vẫn còn được truyền tụng, cho đến nay, và nổi danh với câu ca dao:

 

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về.

 

* – Qua sự tích trên chứng minh cho thấy thuyết luân hồi nhân quả của Phật giáo rõ ràng dứt khoát không một tơ hào sai lệch đúng như ca dao còn truyền:

 

Ngày xưa quả báo thì chầy

Ngày nay quả báo một giây nhãn tiền.

 

* – Thử nêu một vài nhận xét:

 

-         Ông Thủ Hoằng làm giàu bằng nhiều mưu kế gian ác hẳn bị tội báo đọa địa ngục để đền tội, nếu y cứ tiếp tục hành tung gây thêm tội ác trên thế gian.  Còn nhà sư Chánh Từ – Chánh Đạo – cứ tiếp tục gởi thư kêu gọi quyên góp tiền bạc tạo tượng, lập chùa...chùa không có, tượng chẳng tạo có bị tội báo hay không? Như đã nói, nhân quả không lầm, hễ bất cứ  ai gieo nhân không lành hẳng phải gặt trọn mọi hậu quả xấu ác không trừ một ai.  Nếu có thiên lệch, bất công trong việc đưa tới những hậu quả thì Phật giáo đã không còn là Phật giáo nữa rồi.  Đây là điều khẳng định dứt khoát ta phải tin tưởng một cách chắc chắn như hai cộng hai là bốn vậy.

-         Ông Thủ Hoằng về sau biết hồi tâm làm việc bố thí, làm cầu, đào kênh, sửa đường, xây chùa... nên hết tội; lại còn được phước báu, nên kiếp sau đầu thai thành hoàng tử ở Trung Quốc, còn sư Chánh Từ quyên góp tiền làm chùa, tô tượng, làm việc từ thiện, hoằng dương Phật pháp... hẳn được phước báu nhiều hơn chứ? Câu chuyện sau tới nay gần 200 năm còn truyền qua những hình ảnh có thật và nhân vật Thủ Hoằng là có thật; còn câu chuyện trước có thật nhưng nhân vật ném đá dấu tay, cho tới nay đã gần 20 năm vẫn chưa thấy lập chùa, dựng tượng.  Tiền bạc quý vị hảo tâm đóng góp bấy lâu nay đi đâu? Tiêu dùng vào việc gì?  Ở đây tôi xin mượn câu nói bất hủ của Hòa thượng Huyền Quang để gán cho hai nhân vật này như một: “Đã chôn chưa chết, và một đã chết chưa chôn”.  Quý độc giả đừng suy diễn lệch lạc cho việc so sánh như thế e có phần lỗi và làm cho người ta hiểu vấn đề một cách khác đi.  Thú thật, tôi không biết phải dùng ngôn từ cách sao trình bày cho quý vị khỏi thắc mắc, bởi vì tôi đâu có quyền hành gì lên án hay kết tội cho ai đâu.  Người viết câu chuyện này chỉ ước mong hai điều:

-         Thứ nhất: Thầy Chánh Từ – Chánh Đạo còn ở Úc hay ở tại bất cứ nơi đâu đọc được bài này để xem Thầy có phản ứng ra sao? Tác giả để chờ xem và cố gắng đón nhận mọi chuyện có thể xảy ra, ai mà biết được

-         Thứ nhì: Những ai là nạn nhân hay ân nhân của Thầy T. Chánh Từ dù cũ hay mới cũng đọc được câu chuyện nầy để quý vị cẩn trọng hơn trong việc phát tâm cúng dường mà không có công đức, cũng như tiền cúng dường cho cảnh sát vậy.

-         Có người lý luận rằng, cúng dường là được phước, có thể phước đó ít hay nhiều, chứ sao lại không có phước?   Còn tội là do người nhận phải đối trước vấn đề nhân quả rõ ràng minh bạch.  Lập luận này mới nghe qua như hữu lý, nhưng xin thưa rằng, chúng ta chưa hiểu gì về lời Phật dạy cả.  Điều đó cũng có nghĩa là cứ mặc kệ, để cho ai kia cứ tiếp tục bị gạt, bị lầm mà vô tình trong đó chính ta đồng lõa gây nên tội lỗi.  Và đồng thời cũng giúp cho kẻ có tâm địa xấu, lợi dụng lòng từ thiện của ta tiếp tục làm những công việc phạm pháp, phạm giới, sai đạo lý...mà không ai ngăn chặn, xử lý?

-         Một văn sĩ  người Pháp nói câu này thật là vô cùng thấm thía: “Luật pháp thế gian là những màn nhện mà những con ruồi nhặng thì bị mắc lưới; còn những con lớn thì trót lọt qua khỏi hết”.  Nhưng còn luật nhân quả đâu có phải thế đâu: lưới trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó lọt kia mà!  Cho dù anh qua mặt được luật pháp thế gian, nhưng đâu có đường nào tránh trời cho khỏi nắng?

Vấn đề vô cùng tinh tế sâu rộng, vì nhân quả trải rộng trong ba đời, như lưới trời không làm sao ai chạy tránh cho lọt.  Có người hiểu chưa tới nơi tới chốn và đạo tâm nông cạn, tâm tham lam, ích kỷ ngăn chướng.  Thấy việc trước mắt: người ăn hiền ở lành lại gặp nhiều bất trắc, tai nạn xảy ra liên tiếp trong cuộc đời; còn kẻ chẳng bao giờ biết làm thiện, bố thí... lại ung dung hưởng thụ, nhà cao cửa rộng, với kẻ hầu người hạ, tiền xài như nước...rồi đâm ra thắc mắc, không hiểu nổi đời sống, sao lại có sự bất công như thế?

Là người Phật tử chân chánh ta phải tin theo lời Phật dạy để không bị lầm nhân quả mới mong giải tỏa được mọi điều nghi vấn thiếu chính xác.  Nhân quả diễn tiến qua 3 thời kỳ:

-         Hiện báo: gieo nhân là có kết quả liền như đánh trống phát ngay ra tiếng, uống nước liền đả khát, bỏ tiền ra mua lấy được món hàng...

-         Sanh báo: nhân gieo bây giờ nhưng chưa có kết quả ở đời này mà chờ qua đời sau mới đưa lại kết quả, hay trong khoảng thời gian lâu 10, 20, 30 hoặc 50 năm sau.  Ví dụ như gieo lúa phải chờ 3,4 tháng mới gặt, trồng hoa cũng cần thời gian lâu mau tùy loại; gây nhân xấu ác cần chờ đời nầy, đời sau.

-         Hậu báo: Kết quả không chỉ đến trong đời sau mà còn kéo dài nhiều đời sau nữa, người tác tạo mới nhận được quả cho nên chúng ta phải tuyệt đối tin tưởng mà không dễ duôi khinh xuất để tránh gây nhân xấu ác bây giờ và mãi mãi.

 

Los Angeles – Hoa Kỳ ngày 23 tháng 3 năm 2007.

Sa môn Thích Bảo Lạc

Sách tham khảo:

1-     Diệu Lý Nhân Quả Bảo Ứng, Thích Bảo Lạc dịch, xuất bản năm 1983 tái bản lần thứ 3 năm 2003 và lần thứ tư năm 2005

2-     Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ, chuyện Bạch Khởi giết hại cùng lúc 40 bại binh, sau bị quả báo gặp hoàn cảnh bắt buộc phải tự sát

3-     Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức do nhà xuất bản thành phố HCM ấn hành năm 1995 các trang 276-279 (Q.2)


 

 

----o0o---

Trình bày: Tịnh Tuệ

Cập nhật: 4-2007


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544