Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

CHÙA TỪ ÂN VÀ THÁP ÐẠI NHẠN

 

Nguyên tác: Võ Bá Luân

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ

 

Có mt thi đại nhà Ðường (618 - 907), đó là mt thi k rt phn vinh ca xã hi phong kiến c đại Trung Quc. trong nước thì s phát trin kinh tế, văn hóa đạt đến cao độ mà t trước chưa có. nước ngoài và các nước Châu Á thì vic giao lưu tiếp xúc vi các nn văn hóa bt đồng luôn din ra phn thnh phi thường. Nhân đó, t đời Hán Pht giáo m đầu lưu truyn sang, ri tiến đến mt thi k cc thnh. Th đô Trường An ca triu Ðường đã tr thành mt trung tâm văn hóa rt ln trên thế gii thi by gi. Trong thành Trường An xut hin nhng ngôi chùa Pht to rng tráng l chng ít. Chùa T Ân trong s chùa y, ni danh là nh chính nó và có quan h mt thiết vi pháp sư Huyn Trang, mt nhà phiên dch, mt nhà l hành tr danh Pht giáo. Ngôi tháp Ði Nhn trong chùa li chính do ngài Huyn Trang đã đích thân xây dng. Do đó trong lch s Pht giáo Trung Quc, ngôi chùa đã chiếm mt v trí trng yếu và được s trng th ca mi người. Kiến trúc ban đầu ca chùa T Ân đã chng tn ti, chúng ta ch có th t trong s ghi chép ca tin nhân mà tưởng tượng ra qui mô ca nó. Tuy nhiên tháp Ði Nhn đã tri qua bao phen tu sa thêm nhưng đại th vn bo tn được hình thc ca thi Ðường, đến nay vn còn đứng sng sng vùng đất phía nam ca đô th Tây An, tr thành mt đơn v văn hóa trng đim được bo h ca Trung Quc. Bài văn này phng theo vic tri qua hưng phế ca chùa T Ân và tháp Ði Nhn mà trình bày mt cách khái quát.

Chùa T Ân chính là vào năm Trinh Quán th hai mươi hai (648) đời Ðường Thái Tông, thái t Lý Tr (tc là vua Cao Tông sau này). Vì để k nim người m quá c ca mình là Văn Ðc hoàng hu mà xây dng lên nên ly “T Ân” đặt tên. Sách “Ði T Ân T Tam Tng Pháp Sư Truyn” (gi tt là “T Ân Truyn”) quyn th by có chép là, vua Ðường Cao Tông vì kiến lp ngôi chùa y mà tuyên lnh yêu cu tuyn chn vùng đất “rng suiù quyn nhau, ct sao hình thế hơn hết”. Ðến đây quyết định chn phường Tn Xương đông nam b bên trong thành Trường An ca nhà Ðường làm địa đim xây dng. Ða phương y, mt bc đối din vi đin Hàm Nguyên ca cung Ði Minh, mt đông nam ph cận Khúc Giang Trì1 vùng phong cảnh rt m l ca toàn thành là hoàn toàn phù hp ý đồ xây dng chùa. Quan h vi vic xây dng chùa, chính lúc y được gi là “năm tr vì Trinh Quán”, chính là lúc t trong bóng đêm đời trước mà nhà Ðường tiến lên mt bước theo xu hướng toàn thnh thì đương nhiên có kh năng làm đạt đến hết mc hoa l rng ln. Nhân trong truyn này có ghi rng: “Ngh khéo hết bc, g tt chn lc đến cùng, mã não (văn thch ), cây th (g t ), cây long não (g d chương ), cây c (bính lư  ‘g g... đầy trong rng y. Châu ngc đỏ xanh, đá đỏ (giã thch ), bùn trng, vàng, ngc biếc đủ trang trí công trình y. Nào là lu kép, đin đôi, gác mây, phòng thông sut... có đến hơn mười vin, tng cng mt ngàn tám trăm by mươi chín gian”. Din tích toàn ngôi chùa chiếm mt na vùng đất ca phường Tn Xương. Quyn th tám sách Trường An Chí ca Mn Cu đời Tng, bên dưới điu nói v phường Tn Xương ghi rng: “Mt na v phía đông là chùa Ði T Ân”. Nhưng bên trong y ch nói là “thường hơn mười vin”, cũng chưa thy ông y ghi chép c th nói rõ là nhiu hay ít vin, thm chí b phn bên trong lm lc li không cách gì biết được. Trong quyn th by sách Lch Ði Danh Ha Ký ca Trương Ngn V đời Ðường ghi chép, chùa T Ân có nhng bc bích ha ca các ha sư Dun Lâm, Ngô Ðo T, Diêm Lp Bn, Trnh Bân, Vương Duy v.v...Nhng bích ha y được phân b nhng ch: gian đông và tây bên trong tháp, ca phía nam dưới tháp, hai gian và hai ca nam bc, gian ca s trước đin phía bc tháp, vách phía bc hành lang ca hiên phía đông đại đin, t hành lang phía đông đại đin đến vin th nht phía bc, vách phía bc đi vào vin, khong cách hai hành lang, hơi lch v bên ngoài ca gia phía đông nam ca tháp, đông lang ca ni vin t gian phòng th nht đến vách phía nam, vách phía đông bên trong đại Pht đin, hai mt bên trong ba ca gia v.v... Vn đề y đương nhiên ch có th nói rõ v kiến trúc ca mt b phn và chng th căn c vào để tưởng tượng b cc ca toàn b kiến trúc. Ngoài vn đề này li có th nêu lên my danh xưng c th:

Phiên Kinh Vin - Căn c vào T Ân Truyn quyn th by ghi rng: “Ðo tràng mi xây dng y tên là chùa Ði T Ân. To dng riêng Phiên Kinh Vin, trang hoàng rt tráng l, nào là cu vòng by sc, giếng rong lng ly, hơi mây xanh đỏ, đá ngc kê chân ct, nm đồng sáng lóa, khâu vàng phô đẹp... lnh cho pháp sư di v phiên dch”. Thì có th biết ngài Huyn Trang tr chùa T Ân tc là ti Vin này mà phiên dch kinh.

Nguyên Qu Vin, Thái Chân Vin - Sách Nam B Tân thư ca Tin Dch đời Tng ghi rng: “ Trường An vào ngày mười lăm tháng ba, người ta đi xem mu đơn hai con đường, xe nga chy rn ràng. Mu đơn ca Vin Nguyên Qu chùa T Ân là các mu đơn n na tháng trước, mu đơn ca Vin Thái Chân là nhng mu đơn n na tháng sau”. Căn c vào đây có th biết các vin còn li ca chùa y cũng đều có tên chuyên dùng.

Ðoan môn, Tây vin - Sách T Ân Truyn quyn th by chép rng: “Tháng ba mùa xuân năm Vĩnh Huy th ba, pháp sư mun to Phù-đồ bng đá phía nam ca Ðoan Môn ca chùa... vua ra lnh cho Trung Thư Xá Nhân2 là Lý Nghĩa Ph báo cho pháp sư rng: “Công xây tháp mi ln, s khó làm xong, nên dùng gch để làm... đến đây thì s dng gch, mà vn đổi v Tây Vin”. Chính v trí ca tháp Ði Nhn ngày nay là Tây Vin ca chùa T Ân đời Ðường.

Nam Trì (ao phía nam) - Ðường Thư ng Vt có đề bài thơ là: “T Ân T Nam Trì Thu Hà vnh”. Ðã có Nam Trì thì có kh năng li có nhng ao khác na.

Tháp Ði Nhn là vào năm Vĩnh Huy th ba, Ðường Cao Tông (năm 652 TL) căn c vào đề ngh xây dng ca ngài Huyn Trang mà hưng to. Ngài Huyn Trang đồng thi t nhn thiết kế và giám sát công th xây dng. Mc đích xây dng tháp chính là để tàng tr kinh, lun Phn bn ngài đã mang v t Tây Vc. T Ân Truyn quyn th by ghi quá trình xây dng tháp nói rng: “Tháng ba mùa xuân năm th ba (Vĩnh Huy), pháp sư mun to ngôi Phù-đồ bng đá phía nam ca ca Ðoan Môn để an trí kinh, tượng Tây Vc đã đem v... Phù-đồ cao độ ba mươi trượng... lúc sp xây dng gi biu tâu xin, vua nghe tu lnh sai Trung thư Xá nhân là Lý Nghĩa Ph, báo cho pháp sư rng: “Công xây dng tháp ln, s khó làm xong, nên dùng gch mà làm”... đến đây thì s dng gch mà vn đổi v Tây Vin. Mt nn ngôi tháp y mi b đều mt trăm bn mươi thước, mô phng theo chế độ ca Tây Vc, chng tuân theo phương thc cũ đây. Tháp có năm cp và tướng luân, l bàn, thường cao mt trăm tám mươi thước. T đây có th biết được địa đim và vt liu s dng to tháp. Vua Ðường Cao Tông không có chiếu theo ý kiến ca ngài Huyn Trang, nhưng hình thc thì có kh năng là ca ngài Huyn Trang. Tháp cao chng mt trăm tám mươi thước, mt nn mi b là mt trăm bn mươi thước, hình thc k l. Tháp y đại khái là “mô phng y chiếu theo chế độ Tây Vc”. Trong truyn đồng thi nói rng, ngài Huyn Trang vì to ngôi tháp này đã tng đích thân mang ky, xách gi, vn chuyn gch đá.

Nhưng tháp to thành sau bn mươi, năm mươi năm thì phát sinh hin tượng nghiêng đổ, do đó chng th chng tiến hành trùng tu. Sách Trường An Ký ca Mai Cu đời Tng, quyn th tám có nói rng: “Ngôi Phù-đồ sáu cp ca chùa (T Ân) cao ba trăm thước” bên dưới ghi chú rng: “Năm Vĩnh Huy th ba, Sa-môn Huyn Trang đã lp, đầu tiên ch có năm tng, cao mt trăm chín mươi thước (đã lm s đo), gch bên ngoài, đất bên trong, phng theo chế độ ca Tt-đổ-ba Tây Vc, để ct gi tng Kinh Tây Vc. V sau bên trong lòng Phù-đồ c cây mc thng qua nên st l hy hoi dn. Trong khong năm Trường An (niên hiu ca Võ Tc Thiên - năm 701 - 704 TL) li phá đi làm li, y theo kiu chùa dng thc cũ ca Ðông H (phía đông Trung Quc), đặc bit cao hơn trước. Có th thy rng, khong năm Trường An đời Võ Tc Thiên, lúc trùng tu đã có s ci biến v hình thc đối vi ngôi tháp. Tra kho t đon văn chúng ta có th biết, tháp Ði Nhn hin ti mà dng thc cơ bn được bo tn là ca ln trùng tu đời Võ Tc Thiên.

Liên quan đến cao độ và tng cp ca tháp có s hn lon trong ghi chép ca thi Ðường, Tng. T Ân Truyn nói rng: “Tháp đó có năm cp, thường cao mt trăm tám mươi thước. y là vic ghi chép đầu tiên, đương nhiên không có vn đề gì. Sách Du Thành Nam Ký chép rng: “Trong năm Trường An tháp đổ ngã, Thiên Hu và Vương Công cho tin xây dng li gia thêm đến mười tng”. Ði khái là thế thì không có vn đề gì. Năm Ði Lch th sáu đời Ðường Ði Tông (năm 771 TL), Chương Bát Nguyên lên bc Tiến sĩ, trong bài thơ đề tháp chùa T Ân có hai câu:

Thp tng đột ngt ti hư không

T thp môn khai din din phong

Tm dch:

 

Mười tầng đột ngột vươn lên không,

Bốn mươi cửa mở mặt gió lồng.

                             Tu Khai dch

Có th dùng để làm chng. Tháp Ði Nhn hin ti thì li mi tng có bn ca, lúc ban đầu mười tng nên có bn mươi ca. Nhưng Vương Chu đời Tng phn chú gii dưới đầu đề bài thơ “Ðng Chư Công Ðăng T Ân T Tháp” ca Ð Ph, có dn sách thut “Lưỡng Kinh Tân Ký nói rng: “Phù-đồ sáu cp Tây Vin ca chùa, cao ba trăm thước” (“T b tòng san” bn phân môn tp chú “Ð công b thi”) mà Tng Mn Cu trong “Trường An Chí” đã s dng. Ði khái là sách đó thut theo bài văn này. Nhưng mà Sm Tham đời Ðường trong bài thơ đề tên là “Ðăng T Ân T Phù-đồ” có hai câu: “Bn góc che mt tri trng, by tng s vòm tri xanh” (T giác ngi bch nht, tht tng ma thương khung). Sm Tham đậu Tiến sĩ năm Thiên Bo th ba đời Ðường Huyn Tông (năm 744 TL), niên đại sinh hot ca ông ước chng cùng vi vic thut ca sách đồng thi mà mt thì nói sáu tng, mt thì nói by tng, chng nht trí. Tháp nguyên là năm cp, cao mt trăm tám mươi thước, tăng chiu cao thêm mt cp hoc hai cp thì đều chng th cao đến ba trăm thước. Nhân đây t h có th có th khng định, s dĩ gi là sáu cp hoc by cp đều là do lm ln mười cp mà ra. Ba trăm thước là ng vi độ cao ca mười tng nguyên gc. Sách “Du Thành Nam Ký” ca Trương L li nói rng: “Ngôi tháp t sau cuc binh la ch còn by tng, trong năm Trường Hưng (Niên hiu ca vua Ðường Minh Tông, đời th năm - năm 930-933 TL), Tây Kinh Lưu Th3 An Trng Bá tu sa li tháp, phán quan Vương Nhân D vì vic đó làm bài ký”. Bài ký ca Vương Nhân D chưa thy, cái gi là “binh la” chng biết ch đích danh là ln binh la nào, nhưng khng định chng phi là ln mà thế lc An Lc Sơn tiến chiến Trường An vào năm Thiên Bo th mười lăm (năm 756 TL) đời Ðường Huyn Tông. Nhân vì nhiu ln lon lc mà ni thành Tràng An chưa gp binh la. V li, như đã dn ra trước, bài thơ làm ra sau cuc ni lon An Lc Sơn ca Chương Bát Nguyên, vn nói là tháp mười tng, không có b hy hoi. Sau này giai đon cui triu Ðường tr v nước, ni thành Tràng An li chưa tri qua binh lon ln nên tháp vn mt mc bo trì nguyên trng mười tng. Cui nhà Ðường Hoàng Sào lãnh đạo nông dân chiếm lĩnh Tràng An, ni thành đã tng my phen phát sinh chiến tranh “Cu Ðường Thư, Hy Tông Bn K” nói rng: “Ðu tiên Hoàng sào chiếm c kinh sư, chín đường (đi), ba ni (cung), cung tht còn y nguyên; và các đạo binh phá “giêc” tranh giành ca ci đánh nhau nên cung đin, nhà , ch búa, làng mc... mười phn cháy hết sáu, by”. Chúng ta có th thy ngược li, k phóng ha thiêu đốt chính là quan binh. Cho quan binh làm vic này chng qua ý mun nói là ch tìm cướp ly ca ci. Vy thì chùa Vin e rng chng phi là mc tiêu để “tranh giành ca ci đánh nhau”. Nhân đây, đang là năm đầu niên hiu Thiên Hu (năm 904 TL), Chu Ôn cưỡng bách Ðường Chiêu Tông di đô v Lc Dương, đồng thi đối vi Tràng An cho tiến hành phá hoi mang tính cht hy dit nên tháp cũng b hy phá còn li by tng, được An Trng Bá tu chnh li. T đó v sau hình thc tháp chưa b ci biến ln nào.

Tháp Pht chính tên phi là Tt-đổ-ba, nguyên lai t Phn văn “Stñpa”. Người Trung Quc c đại thường theo đó gi là Phù-đồ (, Phù-đồ (hoc Pht đồ () (điu đó tht ra đều là âm ca Pht Ðà ). Nhân đây, nhng người đề thơ liên quan đến tháp Ði Nhn như Sm Tham, Ð Ph v.v... hoc gi là “Phù-đồ ca chùa T Ân” hoc gi là “lên tháp ca chùa T Ân”, hình như đây là lúc đầu tiên và không có tên chuyên dùng là Nhn Tháp. Ha Mai đời Ðường có bài thơ “Ð Nhn Tháp” trong đó có câu:

Bá Lăng xa mã thùy dương lý

Kinh quốc thành trì lạc chiếu giang

Tm dch:

Bá Lăng xe ngựa dặm thùy dương

Kinh đô thành trì rơi vùng sáng.

(Toàn Ðường Thi)

Tuệ Khai dịch

 

Bài “Tháp Vin nhà nh, bn vách đều là Khanh Tướng đề tên, nhân thành bn vn” ca T Di đời Ðường, hai câu đầu bài thơ là:

Nhạn tháp sam không ánh cữu cù

Mỗi khan hoa vũ mỗi trì trù

Tạm dịch:

Tháp nhạn vương cao rợp chín đường,

Hiên hoa khi ngắm dạ bâng khuâng.

(Toàn Ðường Thi)

Tuệ Khai dịch

Ha Mai, T Di đều là người t Trung Dip4 đời Ðường tr v sau, thế nên tên chuyên dùng Tháp Nhn ta h như hình thành chm hơn. Trong T Ân Truyn ghi li đầy đủ quá trình xây dng tháp cũng ch nói rng: “Làm theo chế độ Tây Vc” và không nói đến t Nhn tháp.

Liên quan đến nguyên lai ca Nhn tháp, hình như có hai thuyết. Mt thuyết là, ph cn chùa Na-lan-đà, trước mt ngôi Già Lam có ngôi Tt-đổ-ba tên là Tăng Ta, Trung Quc gi là Nhn: “Thu xưa Già Lam này theo Tim Giáo Tiu Tha, ăn ung theo phép Tam tnh thc5. Có mt lúc mua chng được gì, người kim giáo ca chùa y bàng hoàng không biết làm sao. Cht thy mt đàn Nhn bay lượn, ông ngước lên mà nói đùa rng: Ngày hôm nay vt dng cung cp cho Tăng chúng khiếm khuyết, các v đại B-tát (Ma-ha-tát-đỏa) nên biết. Nói xong, khi y để đáp li tiếng ca người dn trên kia, t trên cao nhng con nhn như viên st bng lông gieo thân t rơi xung. Nhng v Bí-sô thy xu h, bo khp các tăng chúng... H đều nói vi nhau rng: “Ðây là B-tát vy!”... H xây dng tháp linh, bên trong chôn xác chim nhn chết để biu dương tm lòng ca chúng, khiến cho mãi mãi lưu truyn danh thơm r ràng: “Nhân chuyn này có tên là tháp Nhn (T Ân Truyn - quyn ba). Mt thuyết na là: “Nước Ðt-sấn6 có ngôi Già Lam tên là Ca-diếp Pht, xuyên qua núi đá làm ngôi tháp năm tng, mt tng dưới cùng làm hình chim nhn nên gi đó là Nhn Tháp (sách Trường An Chí ca Mai Cu đời Tng - quyn th tư, dn t sách Thiên trúc Ký). Nói tóm li, cái tên Nhn Tháp qu tht có trong Pht đin. By gi, ngài Huyn Trang lúc ban đầu có ý y chiếu nguyên gc n Ð chế tác mt ngôi tháp đá có hình dáng chim nhn nhưng vua đời Cao Tông cho là phí công khó thành nên không chp nhn, nhưng danh xưng vn được gi li ri ln ln truyn ra tr thành tên chuyên dùng ca tháp. Ðến c viâc thêm ch “Ði” trên ch Nhn Tháp thì ước chng bt đầu đời Minh. Trong bài Hà Tân Văn Tuyn ca Lý Giai (người cui Minh đầu Thanh), có bài văn đầu đề là “Tiến Phước Tiu Tháp Ký”, trong y nói rng: “tên đề tháp, Văn T Ân, Võ Tiến Phước, theo loi người hi t vy”. Nhng c nhân văn võ cp đệ (đậu) ca khoa c kho thí đời Minh được phân bit (văn, võ) ra để tp hi chùa T Ân và chùa Tiến Phước, phng chiếu theo vic cũ ca người đời Ðường mà lp bia lưu nim, gi là “Nhn Tháp đề danh”. vùng đất phía Nam thành Tây An có hai ngôi Nhn Tháp, vì để tin cho s phân bit nên xưng có Ði Nhn Tháp, Tiu Nhn Tháp mà tht ra là tháp ca chùa Tiến Phước bui Ðường sơ không gi là Nhn Tháp.

Trong thành Tràng An đời Ðường chùa Pht rt nhiu, chùa T Ân cũng chng phi là ngôi chùa có qui mô ln nht. Nhưng danh tiếng và nh hưởng ca ngôi chùa y đã làm cho các chùa Vin khác chng bì kp. Nguyên nhân đầu tiên y đương nhiên là bn thân ca nó và có s quan h vi ngài Huyn Trang. Ngài Huyn Trang chng tránh gian him, mt thân đơn độc ra đi đến Tây Vc, sưu tp được s lượng ln tài liu phiên dch, đồng thi vì môn h đệ t phiên dch, ging gii, ban phát khp bn phương, giúp cho triu đại nhà Ðường thêm vinh quang nước ngoài, tc là đã “qut gió Ðường bay ra ngoài tám dòng sông, xin dương quc hóa đến vùng năm nước Thiên Trúc” (T Ân Truyn quyn th mười - Thích Tu Lp lun ng). T ngài Huyn Trang tr v trước, đã có không ít người ra đi đến Tây Vc, nhưng hình như đều chng bì kp s thành tu ln ca ngài. Nhân mt ln v nước này ca ngài lp tc tiếng đồn vang khp trong triu ngoài ni. Vua Ðường Thái Tông thy ngài “hc nghip phong phú, nghi vn sâu xa” đã khuyên ngài hoàn tc để “chung mưu vic triu chính”, ngài không đáp ng, yêu cu được chuyên tâm theo vic phiên dch. Trước ngài chùa Hong Phước phiên dch kinh, sau khi chùa T Ân tu sa hoàn thành, vua Ðường Cao Tông li ra lnh dùng nghi thc thnh đại rước ngài v làm Thượng ta chùa T Ân, đồng thi ch trì phiên dch. Sau này li tng di di đến tr my địa phương na như chùa Tây Minh, Cung Ngc Hoa v.v... Nhưng thi gian chùa T Ân là lâu nht. T Ân Truyn quyn th by ghi li tình hung khn trương phiên dch ti chùa T Ân ca ngài rng: “T đó v sau, chuyên vào vic phiên dch, không b phí mt chút thi gian. Mi ngày ngài t lp ra khóa trình, nếu ban ngày có vic chưa hoàn thành thì nht định làm tiếp tc luôn đêm, sau khi đến ch đánh du được phép dng thì mi ngng bút...” Do vic khn trương công tác y ca ngài nên tuy thi gian đây không dài mà đã dch ra nhiu Kinh đin mi. Vua Ðường Thái tông đã vì nhng Kinh đin phiên dch ca ngài mà làm bài ta tên là “Ði Ðường Tam Tng Thánh Giáo T”. Khi vua Cao Tông còn làm thái t sau khi đọc bài ta li sáng tác bài “Thut Thánh Ký”. Hai thiên văn chương y đã được Tăng Hoài Nhân tp hp thư pháp Vương Hy Chi khc vào mt phiến đá dng bên trong chùa Hong Phước (hin còn vườn bia Tây An). Kế tiếp, do Ch Toi Lương viết ch và khc vào hai phiến đá dng bên trong chùa T Ân (hin còn ch nguyên gc tháp Ði Nhn). Sau này, li do s thnh cu ca ngài Huyn Trang, vua Ðường Cao Tông li t son và đích thân viết ch cho khc vào đá dng lên “T Ân T Bi”. Liên quan đến thư pháp và tình hung dng bia ti chùa T Ân ca tm bia này, sách T Ân Truyn quyn chín nói rng: “Bia đến, quan Hu Ty cho kiến to nhà bia riêng góc đông nam trước đin Pht để an trí. Ngôi nhà y li tr đôi đôn kép, xà mây mái đẹp, hoa vàng chiếu xung, chuông báu ngi lên, tay tiên lộ bàn7, đồng nht vi linh tháp. Nhà vua gii v các li viết ch: Khi, l, tho, hành, li rt tinh v “phi bạch”8. Bia ấy làm theo kiu ch “hành thư”, li dùng thế phi bch viết bn ch “Hin Khánh Nguyên Niên” và thn diu cùng cc, hàng ngày người xem có đến vài ngàn người. (bia này chng biết b hy vào lúc nào). Nhng chuyn y hin nhiên đều phn ln là để đề cao địa v ca chùa T Ân. Li na, vic phiên dch kinh Pht đời Ðường tr v trước phn nhiu do Phn Tăng ca Tây Vc làm ch dch. Ngài Huyn Trang, mt tăng nhân Trung Quc, t nhiên ly thành tích ch dch mà li vượt qua tin nhân rt xa. Thông qua s ch xướng, dn đường ca ngài Huyn Trang và s phát huy ca Khuy Cơ, đệ t ngài, thì bên trong gii Pht giáo Trung Quc đã khi dy mt tông phái đặc bit chú trng nghiên cu v nghĩa lý - Pháp Tướng Tông. Do vic ngài Huyn Trang, ngài Khuy Cơ đều đã tng cư trú lâu dài T Ân nên chùa T Ân mc nhiên tr thành đạo tràng cơ bn ca tông phái này. Nhân đó mt s đông người đã gi Pháp Tướng Tông là T Ân Tông. Ðiu này làm cho chùa T Ân li thêm hin bày được s trng yếu.

Ngoài ra, li có mt nhân t rt quan trng là lân cn chùa T Ân là Khúc Giang, vườn Phù Dung, vườn Hnh (cây Hnh) đã cu thành mt thng địa du lãm, phong cnh đẹp, người do đông. Ð Tuân Nhn đời Ðường trong “Tùng Song Tp Ký” đã nói đó là mt gii “bông hoa cây ci vây vòng, khói nước sáng đẹp, người kinh đô do chơi thưởng thc đông đúc vào tiết Trung hòa thượng t8”. Nhng thi nhân danh tiếng đời Ðường đều có ngâm vnh liên quan đến Khúc Giang hoc chùa T Ân. Hoàng đế đã có lúc sut cho người lên tháp Ði Nhn làm thơ xướng ha, đồng thi t cung Ði Minh xây dng giáp thành (thành kép) thông sang vườn Phù Dung để thun tin t trong cung y, tùy lúc đi sang do chơi. Sách Nam B Tân Thư chép vic Ðường Văn Tông đã tng t giáp thành ra vườn Phù Dung, đến chùa T Ân, xem thy thơ đề vách tường đin Pht ca thi nhân Bùi Lân, lnh cho cung n đọc tng, nhân đó mà truyn khp sáu cung. Bài thơ y là vnh Mu đơn ca chùa T Ân. Toàn bài thơ là:

Trường An hào quí tích Xuân tàn

Tranh thưởng tiên khai tử mẫu đơn

Biệt hữu ngọc bàn thừa lãnh lộ

Vô nhân khởi tựu nguyệt trung khan

Tm dch:

Trường An hào phú tiếc xuân tàn,

Giành thưởng mẫu đơn nở trước tiên.

Riêng có ngọc bàn hứng móc lanh

Không người đến ngắm trăng trong trăng.

      (Tuệ Khai dịch)

Mu đơn ca Nguyên Qu đin chùa T Ân n sm na tháng đích th là màu xanh biếc (tía), mu đơn ca vin Thái Chân n chm na tháng đích th là màu trng (tc trong thơ d là “ngc bàn lãnh l”). Mu đơn, hình như là vào đầu nhà Ðường cây mc hoang, mi đem vào đình vin trng chăm bón, được khen là “Quc sc Thiên hương”. Mi khi hoa đang n r thì chn Tràng An “hai đường xem mu đơn, xe nga chy rn r”, chùa T Ân là mt trng đim du ngon thưởng lãm.

Chùa T Ân, nhân vì có nhiu người do chơi nên người ta đã thiết lp hý trường bên trong chùa y. Có mt câu chuyn cũ nói v em gái ca vua Ðường Tuyên Tông là công chúa Vn Th đã gã cho thượng thư Trnh Ho. Em ca Ho là Khi b bnh, vua Tuyên Tông phái người trông nom. Người đi ri tr v nói rng, công chúa đang chùa T Ân xem trò vui. Vua Tuyên Tông ni gin, lp tc triu công chúa đến trước đin mà qu trách rng: “Sao có em bnh mà chng đến thăm nom li mãi xem trò vui ư!” (xem U nhàn C Xuy ca Trương C đời Ðường son). Vic này, chng thy “Ðường Thư - Tuyên Tông Bn K” cũ và mi và “Tân Ðường Thư - Công chúa truyn”. Nhưng t “Ðường Thư - Công chúa truyn” đã ghi vua Ðường Tuyên Tông đối đãi thái độ đến thăm ca công chúa Vn Th thì vic này có th tin là tht có. Nói tóm li, đã có nhiu s ghi chép chng minh là chùa T Ân đời Ðường trong thc cht là trường s gm có công viên và tính cht hot động vui chơi gii trí.

 “Nhn Tháp Ð Danh” chính chùa T Ân thi đại Khoa c là mt đầu mi nh hưởng rt ln đối vi nhng phn tri thc phong kiến. Người đời Ðường sau khi đỗ Tiến sĩ được d kiến hi ti Hnh viên, đề danh ti Nhn Tháp. “Trích ngôn” (chn li nht ly) ca Vương Ðnh Bo đời Ðường nói rng, Bch Lc Thiên mt ln cp đệ (đậu Tiến sĩ) đã đề thơ rng:

Từ Ân tháp hạ đề danh xứ

Thập thất nhân trung tối thiếu niên

Tm dch:

Chỗ đề danh dưới tháp Từ Ân

Trong mười bảy người ít tuổi nhất.

(Tuệ Khai dịch)

Thì có th thy s đắc ý ca ông y. “Trích ngôn” li nói: “Quc S B ca Lý Triu nói rng: Tiến sĩ được ra làm quan còn lâu vy. Do đây mà người xut thân có khi trn đời làm văn nhân”. Li nói rng: “Khoa Tiến sĩ bt đầu trong năm Ði Nghip (nhà Tùy), thnh hành nhng năm Trinh Quán (đời Ðường), làm quan tuy là b tôi địa v cc cao nhưng người chng xut thân t Tiến sĩ thì nht định chng tt đẹp gì”. Có th thy nhiu kh năng “Nhn Tháp Ð Danh” vào lúc by gi qu tht là vic rt vinh d. Nhưng vic đề danh bt tt đều phi trên tháp, tường vách ca chùa vin, tuy theo ch đều có th đề. Hơn na, chng nht định đều phi là người thi đậu Tiến sĩ mi đề. Phn nhiu đều đề là ngày, tháng, năm nào đó đã đến đây do chơi, hoc là cùng đi chơi vi ai, hoc là cm hng ngâm vnh thơ... trước đã dn, T Di cui đời Ðường đã đề rng: “Tháp, Vin, tiu c, bn vách đều là khanh tướng đề danh, nhân đó làm thành bn vn” thơ rng:

Nhạn Tháp sam không ánh cữu cù

Mỗi Khan hoa vũ mỗi trì trù

Ðề danh tận thị thai hành tích

Mãn bích Khan vi tể phụ đồ...

Tạm dịch:

Tháp Nhạn vươn cao rợp chín đường,

Hiên hoa thường ngắm dạ bâng khuâng.

Ðề danh, hành tích các quan cả.

Ðầy vách mưu đồ bậc tể công.

       (Tu Khai dch)

Có thể thấy tháp, viện, nhà nhỏ... những khoảng ấy hoặc ngược lại là những nơi mà người đời Ðường tập trung đề danh. Thơ Bạch Cư Dị cũng nói là đề danh “dưới tháp”. Nhưng chẳng biết có phải là ở trong tiểu ốc này không? Thư pháp người đời Ðường được đời sau yêu quý. “Nhạn Tháp đề danh” được người đời Tống mô phỏng khắc lên đá, in rập lên giấy lưu truyền đến hiện tại, trở thành văn vật trân quí. Vả lại thời bấy giờ không có báo chí, tập san, văn nhân sáng tác không tùy theo thời phát biểu mà đề thơ lên vách có thể để cùng quần chúng thấy mặt. Trước đã dẫn việc Bùi Lân đề thơ lên vách điện, được Ðường Văn Tông xem thấy, nhân đó mà truyền khắp nội cung. Ðầu dời Thanh, Khang Thái Ất người huyện Cát Dương Thim Tây đề thơ lên tháp Nhn được Vương Ngư Dương phát hin. Nh đó mà danh d lan xa, tiếng khen vang di, li đương thời có câu “Quang Trung tam Lý9, bất như nhất Khang10”. Nhưng nhng tht tế y chính là mt th phong khí bi hoi, hin ti trên khuôn ca, xà ngang ca, đá xanh ca tháp Ði Nhn phn nhiu có khc đề danh ca người đời Tng, đời Minh. Người đời Tng phn nhiu chn la vùng trng rng trên tường, còn người đời Minh thì đều khc trên đường khc hoa văn ca đời Ðường, khiến cho văn vt trân quý gp phi nn phá hoi nghiêm trng. Mt s người thì ty xóa tường vách sch s ri mc tình tô v viết lách, rt là đáng tiếc!

Do mi quan h vi hc thut và văn hóa nên chùa T Ân đời Ðường mt mc được bo tn. Năm Hi Xương th năm (năm 846 TL) đời Ðường Võ Tông, dit Pht giáo, phá hy chùa vin trong toàn quc, chùa T Ân có minh lnh bo lưu. Chùa chng biết b phá hy vào năm nào? Trước đã dn sách Du Thành Nam Ký ca Trương L đời Tng, nói rng: “Hãy mau lên tháp xem người đời Ðường đề danh lưu li”, không có đề cp đến chùa, vin; trong li chú cũng ch nói: “Tây Kinh Lưu Th An Trng Bá đời Ngũ Ði trùng tu tháp”, không có đề cp đến chùa, vin. “Tc Ký” ca người Kim thì nói: “Năm Chính Ði (niên hiu ca vua Kim Ai Tông - năm 1224 - 1231 TL) di di v thì mái chùa đã b phế hy gn hết, ch nghim nhiên còn mt ngôi tháp”. trong “Dut Thy Tp” ca Lý Phc người Tràng An thi Bc Tng, có mt ít bài thơ vịnh hoài10 về C Tích Tràng An, trong s y có mt bài ha quan h đến chùa T Ân mà đầu đề là “T Ân T Cu K”. Trong thơ nói đến tàn cây Cu K11 lan tràn rng ln thì có th tưởng tượng ra cnh hoang lương ca ngôi chùa y. Hình như t đời Tng tr v trước ngôi chùa đã phế hy, có kh năng cũng b hy cùng mt ln vi vic Chu Ôn cưỡng bách vua Ðường Chiêu Tông di đô. Trương L đi chơi thành Nam vào năm đầu nin hiu Nguyên Hu đời Tng Triết Tông (năm 1086 TL), vic trên cách triu đại nhà Ðường dit vong đã mt trăm by mươi hay tám mươi năm, mà Tràng An đã chng còn là th đô na. Trong khong thi gian gia y, gi s có người tu sa li thì cũng tuyt đối chng th khôi phc được quy mô nguyên gc. Sau na thế k, tri qua chiến tranh ca quân Kim, quân Nguyên bui giao thi thay thế, tc đã gi là “di di v năm Chính Ði”, chùa T Ân li gp phi mt ln phá hoi na.

Nay trong chùa còn hai tm bia khc đời Minh, mt là tm lp năm Thành Hóa th hai đời Minh Hiếu Tông (năm 1466 TL), tên là “Trùng Tu T Ân Thin T Ký”. Trong bia y có nhng li như: “Tri qua năm tháng quá lâu, chùa đã nghiêng đổ, tháp đã hoang lc” và “mi xem ngày tt, trit b cái cũ, phế đi cái tàn dư, khi dng hai ngôi tin đin, mi cái năm gian, sơn môn, lang vũ, phương trượng, tăng đường... đứng sng sng” v.v... Riêng mt bia đá nh lp vào năm Vn Lch th ba mươi ba đời Minh Thn Tông (năm 1605 TL), tên là “Trùng Tu Nhn Tháp Lc Thành”, không có đề cp đến vic sa chùa. Nhưng ln y hình như là cn x lý mt vn đề. Trong “Hà Tân Văn Tuyn” có mt bài văn tên là “Thành Nam Nhn Tháp Ký” viết rng: “Nay căn c phiến đá nh trong tháp thì trong năm Vn Lch, các quan Hàm Ninh, Mãn Lnh Bc sa cha ngôi tháp đó. Ông Mãn Triu Tiến chng s cường ng (sc mnh ca vua), mt người quân t vy. T năm hai mươi tr li đây đã ct phía nam Tháp ca chùa để chư tăng , rào li phía bc nơi y để thân sĩ (quan v hưu) ngh ngơi, người do chơi ít đến, đề danh cũng hiếm”. Căn c vào đây thì hình nhưđịa ch, thân sĩ chiếm ly tài sn ca chùa, Mãn Triu Tiến đã làm cuc chnh lý ngày nay, phía bc tháp là mt vùng nông thôn có thành tri, phía nam tháp là tăng vin, có hai ngôi đin năm gian và sơn môn, nhà ca v.v... điu lược nói cùng hai bài Ký thut trên phù hp. Vy là quy mô chùa ngày nay nht định vào đời Minh.

Tháp Ði Nhn t sau khi An Trng Bá đời Ngũ Ði trùng tu, tri qua nhiu đời đều đã tng tu chnh, nhưng đều là thay thế gách hư hoi, vá xếp li dim mái ca tháp, còn dng thc ca tháp không có biến đổi, nên chng thut li na. Vic liên quan đến vn đề đi lên tháp, trong ghi chép có liên quan ca người đời Ðường thì mt mc đều nói là có th lên tháp được. Nhưng sau này tình hung hình như mt ln có qua biến hóa. Sách Thành Nam Du Ký ca Triu Hàm đời Minh nói rng: “Ngôi tháp t nhng năm Hy Ninh (niên hiu ca vua Tng Thn Tông - năm 1068-1077 TL) sau khi b ha hon thì chng th lên được. Năm Vn Lch Giáp Thìn (năm 1604 TL) trùng tu trang trí thêm thì mi lên được đến đỉnh tháp y”. Vy là trong khong thi gian hơn năm trăm năm t đời Tng đến đời Minh, tháp Ði Nhn chng th đi lên được. Nhưng trong sách “Bo Khc Loi Biên” ca Trn Tư đời Tng trước tác đã nói rng: “Ði Ngũ Qúi chùa b phế, ch còn mt mình ngôi tháp đứng sng sng, có v tăng tên là Liên Phương bt đầu sa sang mi li, bên trong bên ngoài tháp đều dùng đất bùn tô trát, vic đề ch ca người đời Ðường chng th thy li na. Khong năm Nguyên Phong (niên hiu ca vua Tng Thn Tông - năm 1078 đến năm 1085 TL), ngôi tháp li b ha hon, người làng tên là Vương Chánh Thúc mi thy ha bích dt rách ra nên đã t no chuc sành, gch được vài mươi “đề danh”, ri chép đem v”. Trong sách Du Thành Nam Ký ca Trương L năm đầu nin hiu Nguyên Hu (năm 1086 TL) nói rng: “Hãy mau lên tháp xem người đời Ðường đề danh lưu li”. Cái “người Ðường đề danh lưu li” ca Trương L đã xem đương nhiên tc là cái mà Vương Chánh Thúc phát hin nhìn thy. Vy là tháp đó sau niên hiu Hy Ninh hình như vn có th lên được. S mâu thun y không cách gì tra kho rõ ràng được. Chng qua, li nói Triu Hàm, t năm Vn Lch Giáp Thìn, làm li thang lu thì mi có th lên đến đỉnh tháp, đương nhiên không có vn đề gì. Nói tóm li, ngôi tháp t đời Ðường tr v sau không có người qun lý bo h. Ðã tng chu qua nhiu ln phá hoi. S khng định đó không có gì nghi ng c!

Ngôi tháp hin cao sáu mươi bn mét, là hình vuông by tng theo dng thc lâu các, cùng mt hng tháp mà hình thc chng đồng. Mt vách mi tng mô phng kiu kiến trúc cht liu g, đều có gch xếp làm cây ngang, tr, ta đẩu... t dưới hướng lên trên y theo th lp nh dn, hai tng dưới làm chín gian, tng ba tng bn làm by gian, ba tng trên làm năm gian, nhô ra bn hướng hình qu chùy, chu vi tng th nht dài mt trăm mét, bên trong có thang lu bng g, có th dùng để lượn vòng mà đi lên. Mi tng đều có ca vòm un bng gch để có th t bên trong tháp phóng tm nhìn ra bên ngoài. My điu y đều có th khiến cho người ta cm thy phn pht nhng câu thơ ca Sm Tham đời Ðường “dòm xung tr chim bay cao”, ca Chương Bát Nguyên “bn mươi ca m, mc gió lng”. Ngôi tháp li được bo trì kết cu nguyên gc đời Ðường. Trên đá xanh tng đáy tháp, khuôn ca, xà ngang trên ca (môn mi) vi nhng tuyến khc tượng Pht, tượng B-tát đoan nghiêm ưu m, xà trên ca phía tây, Pht đin đều điêu khc tng b phn nh nht đều đầy đủ hết. Chúng đều là nguyên vt ca đời Ðường. Có th chính là tác phm ca thi Võ Tc Thiên trùng tu. Ðó là đường điêu khc ti thượng tha hin còn ca đời Ðường.

S dĩ nhân dân Trung Quc có cái nhìn trân trng đối vi tháp Ði Nhn không ch do nó là mt tòa kiến trúc to ln rng rãi còn lưu li đến nay, t hơn mt ngàn ba trăm năm trước mà đồng thi do nó đã hòa hp liên kết tên tui vi ngài Huyn Trang ti mt mc đích hưng khi. Hng người ca ngài Huyn Trang là chng trn tránh khó khăn him tr, mt người ra đi Tây Vc, khc kh dùi mài nghiên cu, tinh thông hc vn Phn ngôn, Hán ng, tinh thn trn đời cn lao công tác, b sung phn biu hin truyn thng tt đẹp cn lao dũng cm trí tu ca dân tc Trung Hoa. Ngài chính là mt Pht giáo đồ thành kính, nhng thành tu và nh hưởng ca ngài trong hc thut văn hóa thc tế đã vượt ra khi phm vi tôn giáo. Ðc bit là tác phm tr danh Ði Ðường Tây Vc Ký ca ngài chính là tài liu tham kho trng yếu để ngày nay nghiên cu v địa lý, lch s, dân tc, phong th ca các nước vùng Trung Á, A-phú-hãn12, Ba-cơ-tư-thn13 v.v... sách đã được dch ra văn t mt s nước. Trong sách đã ghi, ti tnh Ba-m-dương14 ca A-phú-hãn ngày nay, ngài nhìn thy hai tượng Pht ln. Hin ti, xem li li tâu trong “Tây Vc Ký Biu”, dâng lên vua Ðường Thái Tông: “V nhng cnh bên ngoài đi qua cùng hết, đều đã ghi chép tht li, chng dám có li điêu ngoa”, câu này đã chng minh nhng điu đó là hoàn toàn chân tht. Ði vi cái di tích ca nhân vt rt đáng tôn kính y, chúng ta đương nhiên cn phi xem là vòng ngc quí và có đủ cơ chế bo h tht tt.

 

Phan Rang, ngày 5 tháng 6 năm 2002

Tu Khai dch


 

1 Khúc Giang Trì : Là sông Khúc Giang tại huyện trường An tỉnh Thiểm Tây.

2 Trung Thư Xá Nhân : Quan giữ việc trình tấu án chương, thảo chiếu cáo, dự cơ mật.

3 Tây Kinh Lưu Thủ : Chức quan lưu giữ (tây) kinh thành. Khi Hoàng đế thân chinh hoặc tuần hành nơi xa thì giao cho thân vương, trọng thần lưu giữ kinh thành, tuỳ nghi xử lý công việc.

4 Trung Diệp : Hay gọi là Trung thế. Về tư tưởng triết học của Thương Ưởng, ông chia lịch sử phát triển làm 3 giai đoạn: Thượng thế, Trung thế, Hạ thế. Trung thế là tôn trọng người hiền vui thích người nhân (Trung thế thượng hiền nhi duyệt nhân).

5 Tam tịnh thực : Hay Tam bạch tịnh, là sữa, lạc (cao sữa), cơm. Khi hành giả Mật giáo hành trì pháp tu thì dùng ba món này.

6 Nước Ðạt-sấn : Skt. Daksïinïª, là Nam Kiều-tát-la, phía nam nước Ma-kiệt-đà. Vị trí hiện nay là cao nguyên Ðức-can (Deccan ‘Dekkan’) (bán đảo Ấn Ðộ).

7 Lộ bàn: Xem cht. 21, tr. 92.

8 Phi bạch : Một thể của thư pháp. Thể bút hay cất lên như viết chữ vào khoảng không (cht. Dịch giả).

8 Tiết Trung hòa thượng tỵ : Lễ trung Dung: “Hỷ, nộ, ai, lạc chưa bộc phát gọi là trung, phát đều bênh trong gọi là hòa”. Thượng tỵ là phép tế lễ bên sông (vào mùa xuân và mùa thu) nhằm ngày tỵ trung tuần tháng ba Âm lịch, để trừ các quái ác (hỷ, nộ, ai, lạc trong lòng). Cho nên gọi tiết Trung hòa thượng tỵ. Ðến năm Dân quốc thứ 19, lễ này đổi thành ngày mùng ba tháng ba Dương lịch.

9 Quan Trung tam Lý : Ðời nhà Thanh tại Quan Trung (tỉnh Thiểm Tây) có ba danh Nho: Lý Ngung ở huyện Chu Chất, Lý Nhân ở huyện Phú Bình, Lý Bách ở huyện Mi đều là bạn tâm giao, nên mọi người gọi Quan Trung tam Lý.

10 Bất như nhất Khang : Nhất Khang tức Trần Nguyên Khang, người Bắc Tề, làm chức Ðại thừa tướng công tào. Khi Văn Tương Ðế (Cao Trừng) đến đất Nghiệp thì Thôi Tiếm, Thôi Quí Thư, Thôi Ngang, Trương Lượng, Trương Huy Toản được giao phó làm Thần Vũ, họ gặp nhau nơi ngoại môn của Văn Tương, cùng đàm luận với Nguyên Khang nhưng không bằng, do đó người ta nói: ba Thôi hai Trương không bằng một Khang.

10 Thơ vịnh hoài : Thể thơ tả tình du tử nhớ nhung quê hương để nhấn mạnh tới tình cảm nội tâm, đồng thời phản ánh kiếp người, cảm thán cho cuộc đời.

11 Cây Cẩu Kỷ : Tên khoa học - Lycium chinense, cây cao ba thước, lá hình trứng, quả đỏ dùng làm thuốc.

12 A-phú-hãn: Xem cht. 15, tr. 269.

13 Ba-cơ-tư-thản : Pakistan.

14 Ba-mễ-dương : Bamiyªn.

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au