Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
CHÙA
TỪ ÂN VÀ THÁP ÐẠI NHẠN
Nguyên tác:
Võ Bá Luân
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
Có
một
thời
đại
nhà Ðường
(618 - 907),
đó
là một
thời
kỳ
rất
phồn
vinh của
xã hội
phong kiến
cổ
đại
Trung Quốc.
Ở
trong nước
thì sự
phát triển
kinh tế,
văn
hóa
đạt
đến
cao
độ
mà từ
trước
chưa
có.
Ở
nước
ngoài và các nước
Châu Á thì việc
giao lưu
tiếp
xúc với
các nền
văn
hóa bất
đồng
luôn diễn
ra phồn
thịnh
phi thường.
Nhân
đó,
từ
đời
Hán Phật
giáo mở
đầu
lưu
truyền
sang, rồi
tiến
đến
một
thời
kỳ
cực
thịnh.
Thủ
đô
Trường
An của
triều
Ðường
đã
trở
thành một
trung tâm văn
hóa rất
lớn
trên thế
giới
thời
bấy
giờ.
Trong thành Trường
An xuất
hiện
những
ngôi chùa Phật
to rộng
tráng lệ
chẳng
ít. Chùa Từ
Ân trong số
chùa
ấy,
nổi
danh là nhờ
chính nó và có quan hệ
mật
thiết
với
pháp sư
Huyền
Trang, một
nhà phiên dịch,
một
nhà lữ
hành trứ
danh Phật
giáo. Ngôi tháp Ðại
Nhạn
trong
chùa lại
chính do ngài Huyền
Trang
đã
đích
thân xây dựng.
Do
đó
trong lịch
sử
Phật
giáo Trung Quốc,
ngôi chùa
đã
chiếm
một
vị
trí trọng
yếu
và
được
sự
trọng
thị
của
mọi
người.
Kiến
trúc ban đầu
của
chùa Từ
Ân đã
chẳng
tồn
tại,
chúng ta chỉ
có thể
từ
trong sự
ghi chép của
tiền
nhân mà tưởng
tượng
ra qui mô của
nó. Tuy nhiên tháp Ðại
Nhạn
đã
trải
qua bao phen tu sửa
thêm nhưng
đại
thể
vẫn
bảo
tồn
được
hình thức
của
thời
Ðường,
đến
nay vẫn
còn đứng
sừng
sững
ở
vùng đất
phía nam của
đô
thị
Tây An, trở
thành một
đơn
vị
văn
hóa trọng
điểm
được
bảo
hộ
của
Trung Quốc.
Bài văn
này phỏng
theo việc
trải
qua hưng
phế
của
chùa Từ
Ân và tháp Ðại
Nhạn
mà trình bày một
cách khái quát.
Chùa Từ
Ân chính là vào năm
Trinh Quán thứ
hai mươi
hai (648) đời
Ðường
Thái Tông, thái tử
Lý Trị
(tức
là vua Cao Tông sau này). Vì để
kỷ
niệm
người
mẹ
quá cố
của
mình là Văn
Ðức
hoàng hậu
mà xây dựng
lên nên lấy
“Từ
Ân” đặt
tên. Sách “Ðại
Từ
Ân Tự
Tam Tạng
Pháp Sư
Truyện”
(gọi
tắt
là “Từ
Ân Truyện”)
quyển
thứ
bảy
có chép là, vua Ðường
Cao Tông vì kiến
lập
ngôi chùa ấy
mà tuyên lệnh
yêu cầu
tuyển
chọn
vùng đất
“rừng
suốiù
quyện
nhau, cốt
sao hình thế
hơn
hết”.
Ðến
đây
quyết
định
chọn
phường
Tấn
Xương
ở
đông
nam bộ
bên trong thành Trường
An của
nhà Ðường
làm địa
điểm
xây dựng.
Ðịa
phương
ấy,
mặt
bắc
đối
diện
với
điện
Hàm Nguyên của
cung Ðại
Minh, mặt
đông
nam phụ
cận Khúc Giang Trì
vùng phong cảnh rất
mỹ
lệ
của
toàn thành là hoàn toàn phù hợp
ý đồ
xây dựng
chùa. Quan hệ
với
việc
xây dựng
chùa, chính lúc ấy
được
gọi
là “năm
trị
vì Trinh Quán”, chính là lúc từ
trong bóng đêm
đời
trước
mà nhà Ðường
tiến
lên một
bước
theo xu hướng
toàn thịnh
thì đương
nhiên có khả
năng
làm đạt
đến
hết
mức
hoa lệ
rộng
lớn.
Nhân trong truyện
này có ghi rằng:
“Nghề
khéo hết
bực,
gỗ
tốt
chọn
lọc
đến
cùng, mã não (văn
thạch
),
cây thị
(gỗ
tử
), cây long não (gỗ
dự
chương
),
cây cọ
(bính lư
‘gỗ
gụ’...
đầy
trong rừng
ấy.
Châu ngọc
đỏ
xanh, đá
đỏ
(giã thạch
),
bùn trắng,
vàng, ngọc
biếc
đủ
trang trí công trình ấy.
Nào là lầu
kép, điện
đôi,
gác mây, phòng thông suốt...
có đến
hơn
mười
viện,
tổng
cộng
một
ngàn tám trăm
bảy
mươi
chín gian”. Diện
tích toàn ngôi chùa chiếm
một
nửa
vùng đất
của
phường
Tấn
Xương.
Quyển
thứ
tám sách Trường
An Chí của
Mẫn
Cầu
đời
Tống,
bên dưới
điều
nói về
phường
Tấn
Xương
ghi rằng:
“Một
nửa
về
phía đông
là chùa Ðại
Từ
Ân”. Nhưng
bên trong ấy
chỉ
nói là “thường
hơn
mười
viện”,
cũng
chưa
thấy
ông ấy
ghi chép cụ
thể
nói rõ là nhiều
hay ít viện,
thậm
chí bộ
phận
bên trong lầm
lạc
lại
không cách gì biết
được.
Trong quyển
thứ
bảy
sách Lịch
Ðại
Danh Họa
Ký của
Trương
Ngạn
Vỹ
đời
Ðường
ghi chép, ở
chùa Từ
Ân có những
bức
bích họa
của
các họa
sư
Duẫn
Lâm, Ngô Ðạo
Tử,
Diêm Lập
Bản,
Trịnh
Bân, Vương
Duy v.v...Những
bích họa
ấy
được
phân bố
ở
những
chỗ:
gian đông
và tây bên trong tháp, cửa
phía nam dưới
tháp, hai gian và hai cửa
nam bắc,
gian cửa
sổ
trước
điện
phía bắc
tháp, vách phía bắc
hành lang của
hiên phía đông
đại
điện,
từ
hành lang phía đông
đại
điện
đến
viện
thứ
nhất
ở
phía bắc,
vách phía bắc
đi
vào viện,
khoảng
cách hai hành lang, hơi
lệch
về
bên ngoài cửa
giữa
phía đông
nam của
tháp, đông
lang của
nội
viện
từ
gian phòng thứ
nhất
đến
vách phía nam, vách phía đông
bên trong đại
Phật
điện,
hai mặt
bên trong ba cửa
giữa
v.v... Vấn
đề
ấy
đương
nhiên chỉ
có thể
nói rõ về
kiến
trúc của
một
bộ
phận
và chẳng
thể
căn
cứ
vào để
tưởng
tượng
bố
cục
của
toàn bộ
kiến
trúc. Ngoài vấn
đề
này lại
có thể
nêu lên mấy
danh xưng
cụ
thể:
Phiên Kinh Viện
- Căn
cứ
vào Từ
Ân Truyện
quyển
thứ
bảy
ghi rằng:
“Ðạo
tràng mới
xây dựng
ấy
tên là chùa Ðại
Từ
Ân. Tạo
dựng
riêng Phiên Kinh Viện,
trang hoàng rất
tráng lệ,
nào là cầu
vòng bảy
sắc,
giếng
rong lộng
lẫy,
hơi
mây xanh đỏ,
đá
ngọc
kê chân cột,
nắm
đồng
sáng lóa, khâu vàng phô đẹp...
lệnh
cho pháp sư
dời
về
ở
phiên dịch”.
Thì có thể
biết
ngài Huyền
Trang trụ
ở
chùa Từ
Ân tức
là ở
tại
Viện
này mà phiên dịch
kinh.
Nguyên Quả
Viện,
Thái Chân Viện
- Sách Nam Bộ
Tân thư
của
Tiền
Dịch
đời
Tống
ghi rằng:
“Ở
Trường
An vào ngày mười
lăm
tháng ba, người
ta đi
xem mẫu
đơn
ở
hai con đường,
xe ngựa
chạy
rộn
ràng. Mẫu
đơn
của
Viện
Nguyên Quả
chùa Từ
Ân là các mẫu
đơn
nở
nửa
tháng trước,
mẫu
đơn
của
Viện
Thái Chân là những
mẫu
đơn
nở
nửa
tháng sau”. Căn
cứ
vào đây
có thể
biết
các viện
còn lại
của
chùa ấy
cũng
đều
có tên chuyên dùng.
Ðoan môn, Tây viện
- Sách Từ
Ân Truyện
quyển
thứ
bảy
chép rằng:
“Tháng ba mùa xuân năm
Vĩnh
Huy thứ
ba, pháp sư
muốn
tạo
Phù-đồ
bằng
đá
ở
phía nam cửa
Ðoan Môn của
chùa... vua ra lệnh
cho Trung Thư Xá Nhân
là Lý Nghĩa Phủ
báo cho pháp sư
rằng:
“Công xây tháp mới
lớn,
sợ
khó làm xong, nên dùng gạch
để
làm... đến
đây
thì sử
dụng
gạch,
mà vẫn
đổi
về
Tây Viện”.
Chính vị
trí của
tháp Ðại
Nhạn
ngày nay là Tây Viện
của
chùa Từ
Ân đời
Ðường.
Nam Trì (ao
phía nam) - Ðường
Thư
Ứng
Vật
có đề
bài thơ
là: “Từ
Ân Tự
Nam Trì Thu Hà vịnh”.
Ðã có Nam Trì thì có khả
năng
lại
có những
ao khác nữa.
Tháp Ðại
Nhạn
là vào năm
Vĩnh
Huy thứ
ba, Ðường
Cao Tông (năm
652 TL) căn
cứ
vào đề
nghị
xây dựng
của
ngài Huyền
Trang mà hưng
tạo.
Ngài Huyền
Trang đồng
thời
tự
nhận
thiết
kế
và giám sát công thợ
xây dựng.
Mục
đích
xây dựng
tháp chính là để
tàng trữ
kinh, luận
Phạn
bản
ngài đã
mang về
từ
Tây Vực.
Từ
Ân Truyện
quyển
thứ
bảy
ghi quá trình xây dựng
tháp nói rằng:
“Tháng ba mùa xuân năm
thứ
ba (Vĩnh
Huy), pháp sư
muốn
tạo
ngôi Phù-đồ
bằng
đá
ở
phía nam của
cửa
Ðoan Môn để
an trí kinh, tượng
Tây Vực
đã
đem
về...
Phù-đồ
cao độ
ba mươi
trượng...
lúc sắp
xây dựng
gửi
biểu
tâu xin, vua nghe tấu
lệnh
sai Trung thư
Xá nhân là Lý Nghĩa
Phủ,
báo cho pháp sư
rằng:
“Công xây dựng
tháp lớn,
sợ
khó làm xong, nên dùng gạch
mà làm”... đến
đây
thì sử
dụng
gạch
mà vẫn
đổi
về
Tây Viện.
Mặt
nền
ngôi tháp ấy
mỗi
bề
đều
một
trăm
bốn
mươi
thước,
mô phỏng
theo chế
độ
của
Tây Vực,
chẳng
tuân theo phương
thức
cũ
ở
đây.
Tháp có năm
cấp
và tướng
luân, lộ
bàn, thường
cao một
trăm
tám mươi
thước.
Từ
đây
có thể
biết
được
địa
điểm
và vật
liệu
sử
dụng
tạo
tháp. Vua Ðường
Cao Tông không có chiếu
theo ý kiến
của
ngài Huyền
Trang, nhưng
hình thức
thì có khả
năng
là của
ngài Huyền
Trang. Tháp cao chừng
một
trăm
tám mươi
thước,
mặt
nền
mỗi
bề
là một
trăm
bốn
mươi
thước,
hình thức
kỳ
lạ.
Tháp ấy
đại
khái là “mô phỏng
y chiếu
theo chế
độ
Tây Vực”.
Trong truyện
đồng
thời
nói rằng,
ngài Huyền
Trang vì tạo
ngôi tháp này đã
từng
đích
thân mang ky, xách giỏ,
vận
chuyển
gạch
đá.
Nhưng
tháp tạo
thành sau bốn
mươi,
năm
mươi
năm
thì phát sinh hiện
tượng
nghiêng đổ,
do đó
chẳng
thể
chẳng
tiến
hành trùng tu. Sách Trường
An Ký của
Mai Cầu
đời
Tống,
quyển
thứ
tám có nói rằng:
“Ngôi Phù-đồ
sáu cấp
của
chùa (Từ
Ân) cao ba trăm
thước”
bên dưới
ghi chú rằng:
“Năm
Vĩnh
Huy thứ
ba, Sa-môn Huyền
Trang đã
lập,
đầu
tiên chỉ
có năm
tầng,
cao một
trăm
chín mươi
thước
(đã
lầm
số
đo),
gạch
bên ngoài, đất
bên trong, phỏng
theo chế
độ
của
Tốt-đổ-ba
Tây Vực,
để
cất
giữ
tạng
Kinh Tây Vực.
Về
sau bên trong lòng Phù-đồ
cỏ
cây mọc
thủng
qua nên sụt
lở
hủy
hoại
dần.
Trong khoảng
năm
Trường
An (niên hiệu
của
Võ Tắc
Thiên - năm
701 - 704 TL) lại
phá đi
làm lại,
y theo kiểu
chùa dạng
thức
cũ
của
Ðông Hạ
(phía đông
Trung Quốc),
đặc
biệt
cao hơn
trước.
Có thể
thấy
rằng,
ở
khoảng
năm
Trường
An đời
Võ Tắc
Thiên, lúc trùng tu đã
có sự
cải
biến
về
hình thức
đối
với
ngôi tháp. Tra khảo
từ
đoạn
văn
chúng ta có thể
biết,
tháp Ðại
Nhạn
hiện
tại
mà dạng
thức
cơ
bản
được
bảo
tồn
là của
lần
trùng tu ở
đời
Võ Tắc
Thiên.
Liên quan
đến
cao độ
và tấng
cấp
của
tháp có sự
hổn
loạn
trong ghi chép của
thời
Ðường,
Tống.
Từ
Ân Truyện
nói rằng:
“Tháp đó
có năm
cấp,
thường
cao một
trăm
tám mươi
thước.
Ấy
là việc
ghi chép đầu
tiên, đương
nhiên không có vấn
đề
gì. Sách Du Thành Nam Ký chép rằng:
“Trong năm
Trường
An tháp đổ
ngã, Thiên Hậu
và Vương
Công cho tiền
xây dựng
lại
gia thêm đến
mười
tầng”.
Ðại
khái là thế
thì không có vấn
đề
gì. Năm
Ðại
Lịch
thứ
sáu đời
Ðường
Ðại
Tông (năm
771 TL), Chương
Bát Nguyên lên bậc
Tiến
sĩ,
ở
trong bài thơ
đề
tháp chùa Từ
Ân có hai câu:
Thập
tằng
đột
ngột
tại
hư
không
Tứ
thập
môn khai diện
diện
phong
Tạm
dịch:
Mười tầng
đột ngột vươn lên không,
Bốn mươi
cửa mở mặt gió lồng.
Tuệ
Khai dịch
Có thể
dùng để
làm chứng.
Tháp Ðại
Nhạn
hiện
tại
thì lại
mỗi
tầng
có bốn
cửa,
lúc ban đầu
mười
tầng
nên có bốn
mươi
cửa.
Nhưng
Vương
Chu đời
Tống
ở
phần
chú giải
dưới
đầu
đề
bài thơ
“Ðồng
Chư
Công Ðăng
Từ
Ân Tự
Tháp” của
Ðỗ
Phủ,
có dẫn
sách thuật
“Lưỡng
Kinh Tân Ký nói rằng:
“Phù-đồ
sáu cấp
ở
Tây Viện
của
chùa, cao ba trăm
thước”
(“Tứ
bộ
tòng san” bản
phân môn tập
chú “Ðỗ
công bộ
thi”) mà Tống
Mẫn
Cầu
ở
trong “Trường
An Chí” đã
sử
dụng.
Ðại
khái là sách đó
thuật
theo bài văn
này. Nhưng
mà Sầm
Tham đời
Ðường
trong bài thơ
đề
tên là “Ðăng
Từ
Ân Tự
Phù-đồ”
có hai câu: “Bốn
góc che mặt
trời
trắng,
bảy
tầng
sờ
vòm trời
xanh” (Tứ
giác ngại
bạch
nhật,
thất
tằng
ma thương
khung). Sầm
Tham đậu
Tiến
sĩ
năm
Thiên Bảo
thứ
ba đời
Ðường
Huyền
Tông (năm
744 TL), niên đại
sinh hoạt
của
ông ước
chừng
cùng với
việc
thuật
của
sách đồng
thời
mà một
thì nói sáu tầng,
một
thì nói bảy
tầng,
chẳng
nhất
trí. Tháp nguyên là năm
cấp,
cao một
trăm
tám mươi
thước,
tăng
chiều
cao thêm một
cấp
hoặc
hai cấp
thì đều
chẳng
thể
cao đến
ba trăm
thước.
Nhân đây
tợ
hồ
có thể
có thể
khẳng
định,
sở
dĩ
gọi
là sáu cấp
hoặc
bảy
cấp
đều
là do lầm
lẫn
mười
cấp
mà ra. Ba trăm
thước
là ứng
với
độ
cao của
mười
tầng
nguyên gốc.
Sách “Du Thành Nam Ký” của
Trương
Lễ
lại
nói rằng:
“Ngôi tháp từ
sau cuộc
binh lửa
chỉ
còn bảy
tầng,
trong năm
Trường
Hưng
(Niên hiệu
của
vua Ðường
Minh Tông, đời
thứ
năm
- năm
930-933 TL), Tây Kinh Lưu
Thủ
An Trọng
Bá tu sửa
lại
tháp, phán quan Vương
Nhân Dụ
vì việc
đó
làm bài ký”. Bài ký của
Vương
Nhân Dụ
chưa
thấy,
cái gọi
là “binh lửa”
chẳng
biết
chỉ
đích
danh là lần
binh lửa
nào, nhưng
khẳng
định
chẳng
phải
là lần
mà thế
lực
An Lộc
Sơn
tiến
chiến
Trường
An vào năm
Thiên Bảo
thứ
mười
lăm
(năm
756 TL) đời
Ðường
Huyền
Tông. Nhân vì nhiều
lần
loạn
lạc
mà nội
thành Tràng An chưa
gặp
binh lửa.
Vả
lại,
như
đã
dẫn
ra ở
trước,
bài thơ
làm ra sau cuộc
nổi
loạn
An Lộc
Sơn
của
Chương
Bát Nguyên, vẫn
nói là tháp mười
tầng,
không có bị
hủy
hoại.
Sau này giai đoạn
cuối
triều
Ðường
trở
về
nước,
nội
thành Tràng An lại
chưa
trải
qua binh loạn
lớn
nên tháp vẫn
một
mực
bảo
trì nguyên trạng
mười
tầng.
Cuối
nhà Ðường
Hoàng Sào lãnh đạo
nông dân chiếm
lĩnh
Tràng An, nội
thành đã
từng
mấy
phen phát sinh chiến
tranh “Cựu
Ðường
Thư,
Hy Tông Bản
Kỷ”
nói rằng:
“Ðầu
tiên Hoàng sào chiếm
cứ
kinh sư,
chín đường
(đi),
ba nội
(cung), cung thất
còn y nguyên; và các đạo
binh phá “giặêc”
tranh giành của
cải
đánh
nhau nên cung điện,
nhà ở,
chợ
búa, làng mạc...
mười
phần
cháy hết
sáu, bảy”.
Chúng ta có thể
thấy
ngược
lại,
kẻ
phóng hỏa
thiêu đốt
chính là quan binh. Cho quan binh làm việc
này chẳng
qua ý muốn
nói là chỉ
tìm cướp
lấy
của
cải.
Vậy
thì chùa Viện
e rằng
chẳng
phải
là mục
tiêu để
“tranh giành của
cải
đánh
nhau”. Nhân đây,
đang
là năm
đầu
niên hiệu
Thiên Hựu
(năm
904 TL), Chu Ôn cưỡng
bách Ðường
Chiêu Tông dời
đô
về
Lạc
Dương,
đồng
thời
đối
với
Tràng An cho tiến
hành phá hoại
mang tính chất
hủy
diệt
nên tháp cũng
bị
hủy
phá còn lại
bảy
tầng,
được
An Trọng
Bá tu chỉnh
lại.
Từ
đó
về
sau hình thức
tháp chưa
bị
cải
biến
lần
nào.
Tháp Phật
chính tên phải
là Tốt-đổ-ba,
nguyên lai từ
Phạn
văn
“Stñpa”. Người
Trung Quốc
cổ
đại
thường
theo đó
gọi
là Phù-đồ
(,
Phù-đồ
(hoặc
Phật
đồ
()
(điều
đó
thật
ra đều
là âm của
Phật
Ðà ).
Nhân đây,
những
người
đề
thơ
liên quan đến
tháp Ðại
Nhạn
như
Sầm
Tham, Ðỗ
Phủ
v.v... hoặc
gọi
là “Phù-đồ
của
chùa Từ
Ân” hoặc
gọi
là “lên tháp của
chùa Từ
Ân”, hình như
đây
là lúc đầu
tiên và không có tên chuyên dùng là Nhạn
Tháp. Hứa
Mai đời
Ðường
có bài thơ
“Ðề
Nhạn
Tháp” trong đó
có câu:
Bá Lăng xa mã thùy dương lý
Kinh quốc thành trì lạc chiếu
giang
Tạm
dịch:
Bá Lăng xe
ngựa dặm thùy dương
Kinh đô
thành trì rơi vùng sáng.
(Toàn Ðường Thi)
Tuệ Khai dịch
Bài “Tháp Viện
nhà nhỏ,
bốn
vách đều
là Khanh Tướng
đề
tên, nhân thành bốn
vần”
của
Từ
Di đời
Ðường,
hai câu đầu
bài thơ
là:
Nhạn tháp
sam không ánh cữu cù
Mỗi khan
hoa vũ mỗi trì trù
Tạm dịch:
Tháp nhạn vương cao rợp chín
đường,
Hiên hoa khi ngắm dạ bâng
khuâng.
(Toàn Ðường
Thi)
Tuệ Khai
dịch
Hứa
Mai, Từ
Di
đều
là người
từ
Trung Diệp
đời
Ðường
trở
về
sau, thế
nên tên chuyên dùng Tháp Nhạn
tựa
hồ
như
hình thành chậm
hơn.
Trong Từ
Ân Truyện
ghi lại
đầy
đủ
quá trình xây dựng
tháp cũng
chỉ
nói rằng:
“Làm theo chế
độ
Tây Vực”
và không nói
đến
từ
Nhạn
tháp.
Liên quan
đến
nguyên lai của
Nhạn
tháp, hình như
có hai thuyết.
Một
thuyết
là, phụ
cận
chùa Na-lan-đà,
trước
một
ngôi Già Lam có ngôi Tốt-đổ-ba
tên là Tăng
Ta, Trung Quốc
gọi
là Nhạn:
“Thuở
xưa
Già Lam này theo Tiệm
Giáo Tiểu
Thừa,
ăn
uống
theo phép Tam tịnh
thực.
Có một
lúc mua chẳng
được
gì, người
kiểm
giáo của
chùa
ấy
bàng hoàng không biết
làm sao. Chợt
thấy
một
đàn
Nhạn
bay lượn,
ông ngước
lên mà nói đùa
rằng:
Ngày hôm nay vật
dụng
cung cấp
cho Tăng
chúng khiếm
khuyết,
các vị
đại
Bồ-tát
(Ma-ha-tát-đỏa)
nên biết.
Nói xong, khi ấy
để
đáp
lại
tiếng
của
người
dẫn
trên kia, từ
trên cao những
con nhạn
như
viên sắt
bằng
lông gieo thân tự
rơi
xuống.
Những
vị
Bí-sô thấy
xấu
hổ,
bảo
khắp
các tăng
chúng... Họ
đều
nói với
nhau rằng:
“Ðây là Bồ-tát
vậy!”...
Họ
xây dựng
tháp linh, bên trong chôn xác chim nhạn
chết
để
biểu
dương
tấm
lòng của
chúng, khiến
cho mãi mãi lưu
truyền
danh thơm
rỡ
ràng: “Nhân chuyện
này có tên là tháp Nhạn
(Từ
Ân Truyện
- quyển
ba). Một
thuyết
nữa
là: “Nước
Ðạt-sấn
có ngôi Già Lam tên là Ca-diếp
Phật,
xuyên qua núi đá
làm ngôi tháp năm
tầng,
một
tầng
dưới
cùng làm hình chim nhạn
nên gọi
đó
là Nhạn
Tháp (sách Trường
An Chí của
Mai Cầu
đời
Tống
- quyển
thứ
tư,
dẫn
từ
sách Thiên trúc Ký). Nói tóm lại,
cái tên Nhạn
Tháp quả
thật
có trong Phật
điển.
Bấy
giờ,
ngài Huyền
Trang lúc ban đầu
có ý y chiếu
nguyên gốc
Ấn
Ðộ
chế
tác một
ngôi tháp đá
có hình dáng chim nhạn
nhưng
vua đời
Cao Tông cho là phí công khó thành nên không chấp
nhận,
nhưng
danh xưng
vẫn
được
giữ
lại
rồi
lần
lần
truyền
ra trở
thành tên chuyên dùng của
tháp. Ðến
cả
việâc
thêm chữ
“Ðại”
ở
trên chữ
Nhạn
Tháp thì ước
chừng
bắt
đầu
ở
đời
Minh. Trong bài Hà Tân Văn
Tuyển
của
Lý Giai (người
cuối
Minh đầu
Thanh), có bài văn
đầu
đề
là “Tiến
Phước
Tiểu
Tháp Ký”, trong ấy
nói rằng:
“tên đề
ở
tháp, Văn
Từ
Ân, Võ Tiến
Phước,
theo loại
người
hội
tụ
vậy”.
Những
cử
nhân văn
võ cập
đệ
(đậu)
của
khoa cử
khảo
thí đời
Minh được
phân biệt
(văn,
võ) ra để
tập
hội
ở
chùa Từ
Ân và chùa Tiến
Phước,
phỏng
chiếu
theo việc
cũ
của
người
đời
Ðường
mà lập
bia lưu
niệm,
gọi
là “Nhạn
Tháp đề
danh”. Ở
vùng đất
phía Nam thành Tây An có hai ngôi Nhạn
Tháp, vì để
tiện
cho sự
phân biệt
nên xưng
có Ðại
Nhạn
Tháp, Tiểu
Nhạn
Tháp mà thật
ra là tháp của
chùa Tiến
Phước
ở
buổi
Ðường
sơ
không gọi
là Nhạn
Tháp.
Trong thành Tràng An
đời
Ðường
chùa Phật
rất
nhiều,
chùa Từ
Ân cũng
chẳng
phải
là ngôi chùa có qui mô lớn
nhất.
Nhưng
danh tiếng
và
ảnh
hưởng
của
ngôi chùa ấy
đã
làm cho các chùa Viện
khác chẳng
bì kịp.
Nguyên nhân đầu
tiên ấy
đương
nhiên là bản
thân của
nó và có sự
quan hệ
với
ngài Huyền
Trang. Ngài Huyền
Trang chẳng
tránh gian hiểm,
một
thân đơn
độc
ra đi
đến
Tây Vực,
sưu
tập
được
số
lượng
lớn
tài liệu
phiên dịch,
đồng
thời
vì môn hạ
đệ
tử
phiên dịch,
giảng
giải,
ban phát khắp
bốn
phương,
giúp cho triều
đại
nhà Ðường
thêm vinh quang ở
nước
ngoài, tức
là đã
“quạt
gió Ðường
bay ra ngoài tám dòng sông, xiển
dương
quốc
hóa đến
vùng năm
nước
Thiên Trúc” (Từ
Ân Truyện
quyển
thứ
mười
- Thích Tuệ
Lập
luận
ngữ).
Từ
ngài Huyền
Trang trở
về
trước,
đã
có không ít người
ra đi
đến
Tây Vực,
nhưng
hình như
đều
chẳng
bì kịp
sự
thành tựu
lớn
của
ngài. Nhân một
lần
về
nước
này của
ngài lập
tức
tiếng
đồn
vang khắp
trong triều
ngoài nội.
Vua Ðường
Thái Tông thấy
ngài “học
nghiệp
phong phú, nghi vận
sâu xa” đã
khuyên ngài hoàn tục
để
“chung mưu
việc
triều
chính”, ngài không đáp
ứng,
yêu cầu
được
chuyên tâm theo việc
phiên dịch.
Trước
ngài ở
chùa Hoằng
Phước
phiên dịch
kinh, sau khi chùa Từ
Ân tu sửa
hoàn thành, vua Ðường
Cao Tông lại
ra lệnh
dùng nghi thức
thịnh
đại
rước
ngài về
làm Thượng
tọa
chùa Từ
Ân, đồng
thời
chủ
trì phiên dịch.
Sau này lại
từng
di dời
đến
trụ
ở
mấy
địa
phương
nữa
như
chùa Tây Minh, Cung Ngọc
Hoa v.v... Nhưng
thời
gian ở
chùa Từ
Ân là lâu nhất.
Từ
Ân Truyện
quyển
thứ
bảy
ghi lại
tình huống
khẩn
trương
phiên dịch
tại
chùa Từ
Ân của
ngài rằng:
“Từ
đó
về
sau, chuyên vào việc
phiên dịch,
không bỏ
phí một
chút thời
gian. Mỗi
ngày ngài tự
lập
ra khóa trình, nếu
ban ngày có việc
chưa
hoàn thành thì nhất
định
làm tiếp
tục
luôn đêm,
sau khi đến
chỗ
đánh
dấu
được
phép dừng
thì mới
ngừng
bút...” Do việc
khẩn
trương
công tác ấy
của
ngài nên tuy thời
gian ở
đây
không dài mà đã
dịch
ra nhiều
Kinh điển
mới.
Vua Ðường
Thái tông đã
vì những
Kinh điển
phiên dịch
của
ngài mà làm bài tựa
tên là “Ðại
Ðường
Tam Tạng
Thánh Giáo Tự”.
Khi vua Cao Tông còn làm thái tử
sau khi đọc
bài tựa
lại
sáng tác bài “Thuật
Thánh Ký”. Hai thiên văn
chương
ấy
đã
được
Tăng
Hoài Nhân tập
họp
thư
pháp Vương
Hy Chi khắc
vào một
phiến
đá
dựng
ở
bên trong chùa Hoằng
Phước
(hiện
còn ở
vườn
bia Tây An). Kế
tiếp,
do Chữ
Toại
Lương
viết
chữ
và khắc
vào hai phiến
đá
dựng
ở
bên trong chùa Từ
Ân (hiện
còn ở
chỗ
nguyên gốc
tháp Ðại
Nhạn).
Sau này, lại
do sự
thỉnh
cầu
của
ngài Huyền
Trang, vua Ðường
Cao Tông lại
tự
soạn
và đích
thân viết
chữ
cho khắc
vào đá
dựng
lên “Từ
Ân Tự
Bi”. Liên quan đến
thư
pháp và tình huống
dựng
bia tại
chùa Từ
Ân của
tấm
bia này, sách Từ
Ân Truyện
quyển
chín nói rằng:
“Bia đến,
quan Hữu
Ty cho kiến
tạo
nhà bia riêng ở
góc đông
nam trước
điện
Phật
để
an trí. Ngôi nhà ấy
lại
trụ
đôi
đôn
kép, xà mây mái đẹp,
hoa vàng chiếu
xuống,
chuông báu ngời
lên, tay tiên lộ bàn,
đồng nhất
với
linh tháp. Nhà vua giỏi
về
các lối
viết
chữ:
Khải,
lệ,
thảo,
hành, lại
rất
tinh về
“phi bạch”.
Bia ấy làm theo kiểu
chữ
“hành thư”,
lại
dùng thế
phi bạch
viết
bốn
chữ
“Hiển
Khánh Nguyên Niên” và thần
diệu
cùng cực,
hàng ngày người
xem có đến
vài ngàn người.
(bia này chẳng
biết
bị
hủy
vào lúc nào). Những
chuyện
ấy
hiển
nhiên đều
phần
lớn
là để
đề
cao địa
vị
của
chùa Từ
Ân. Lại
nữa,
việc
phiên dịch
kinh Phật
ở
đời
Ðường
trở
về
trước
phần
nhiều
do Phạn
Tăng
của
Tây Vực
làm chủ
dịch.
Ngài Huyền
Trang, một
tăng
nhân Trung Quốc,
tự
nhiên lấy
thành tích chủ
dịch
mà lại
vượt
qua tiền
nhân rất
xa. Thông qua sự
chủ
xướng,
dẫn
đường
của
ngài Huyền
Trang và sự
phát huy của
Khuy Cơ,
đệ
tử
ngài, thì bên trong giới
Phật
giáo Trung Quốc
đã
khởi
dậy
một
tông phái đặc
biệt
chú trọng
nghiên cứu
về
nghĩa
lý - Pháp Tướng
Tông. Do việc
ngài Huyền
Trang, ngài Khuy Cơ
đều
đã
từng
cư
trú lâu dài ở
Từ
Ân nên chùa Từ
Ân mặc
nhiên trở
thành đạo
tràng cơ
bản
của
tông phái này. Nhân đó
một
số
đông
người
đã
gọi
Pháp Tướng
Tông là Từ
Ân Tông. Ðiều
này làm cho chùa Từ
Ân lại
thêm hiển
bày được
sự
trọng
yếu.
Ngoài ra, lại
có một
nhân tố
rất
quan trọng
là lân cận
chùa Từ
Ân là Khúc Giang, vườn
Phù Dung, vườn
Hạnh
(cây Hạnh)
đã
cấu
thành một
thắng
địa
du lãm, phong cảnh
đẹp,
người
dạo
đông.
Ðỗ
Tuân Nhạn
đời
Ðường
ở
trong “Tùng Song Tạp
Ký” đã
nói đó
là một
giải
“bông hoa cây cối
vây vòng, khói nước
sáng đẹp,
người
kinh đô
dạo
chơi
thưởng
thức
đông
đúc
vào tiết
Trung hòa thượng
tỵ”.
Những
thi nhân danh tiếng
đời
Ðường
đều
có ngâm vịnh
liên quan đến
Khúc Giang hoặc
chùa Từ
Ân. Hoàng đế
đã
có lúc suất
cho người
lên tháp Ðại
Nhạn
làm thơ
xướng
họa,
đồng
thời
từ
cung Ðại
Minh xây dựng
giáp thành (thành kép) thông sang vườn
Phù Dung để
thuận
tiện
từ
trong cung ấy,
tùy lúc đi
sang dạo
chơi.
Sách Nam Bộ
Tân Thư
chép việc
Ðường
Văn
Tông đã
từng
từ
giáp thành ra vườn
Phù Dung, đến
chùa Từ
Ân, xem thấy
thơ
đề
ở
vách tường
điện
Phật
của
thi nhân Bùi Lân, lệnh
cho cung nữ
đọc
tụng,
nhân đó
mà truyền
khắp
sáu cung. Bài thơ
ấy
là vịnh
Mẫu
đơn
của
chùa Từ
Ân. Toàn bài thơ
là:
Trường An hào quí tích Xuân tàn
Tranh thưởng tiên khai tử mẫu
đơn
Biệt hữu ngọc bàn thừa lãnh lộ
Vô nhân khởi tựu nguyệt trung
khan
Tạm
dịch:
Trường An
hào phú tiếc xuân tàn,
Giành
thưởng mẫu đơn nở trước tiên.
Riêng có
ngọc bàn hứng móc lanh
Không người
đến ngắm trăng trong trăng.
(Tuệ Khai dịch)
Mẫu
đơn
của
Nguyên Quả
điện
chùa Từ
Ân nở
sớm
nửa
tháng đích
thị
là màu xanh biếc
(tía), mẫu
đơn
của
viện
Thái Chân nở
chậm
nửa
tháng đích
thị
là màu trắng
(tức
trong thơ
dụ
là “ngọc
bàn lãnh lộ”).
Mẫu
đơn,
hình như
là vào đầu
nhà Ðường
cây mọc
hoang, mới
đem
vào đình
viện
trồng
chăm
bón, được
khen là “Quốc
sắc
Thiên hương”.
Mỗi
khi hoa đang
nở
rộ
thì chốn
Tràng An “hai đường
xem mẫu
đơn,
xe ngựa
chạy
rần
rộ”,
chùa Từ
Ân là một
trọng
điểm
du ngoạn
thưởng
lãm.
Chùa Từ
Ân, nhân vì có nhiều
người
dạo
chơi
nên người
ta đã
thiết
lập
hý trường
ở
bên trong chùa ấy.
Có một
câu chuyện
cũ
nói về
em gái của
vua Ðường
Tuyên Tông là công chúa Vạn
Thọ
đã
gã cho thượng
thư
Trịnh
Hạo.
Em của
Hạo
là Khải
bị
bệnh,
vua Tuyên Tông phái người
trông nom. Người
đi
rồi
trở
về
nói rằng,
công chúa đang
ở
chùa Từ
Ân xem trò vui. Vua Tuyên Tông nổi
giận,
lập
tức
triệu
công chúa đến
trước
điện
mà quở
trách rằng:
“Sao có em bệnh
mà chẳng
đến
thăm
nom lại
mãi xem trò vui ư!”
(xem U nhàn Cổ
Xuy của
Trương
Cố
đời
Ðường
soạn).
Việc
này, chẳng
thấy
ở
“Ðường
Thư
- Tuyên Tông Bản
Kỷ”
cũ
và mới
và “Tân Ðường
Thư
- Công chúa truyện”.
Nhưng
từ
“Ðường
Thư
- Công chúa truyện”
đã
ghi vua Ðường
Tuyên Tông đối
đãi
thái độ
đến
thăm
của
công chúa Vạn
Thọ
thì việc
này có thể
tin là thật
có. Nói tóm lại,
đã
có nhiều
sự
ghi chép chứng
minh là chùa Từ
Ân đời
Ðường
trong thực
chất
là trường
sở
gồm
có công viên và tính chất
hoạt
động
vui chơi
giải
trí.
“Nhạn
Tháp Ðề
Danh” chính chùa Từ
Ân ở
thời
đại
Khoa cử
là một
đầu
mối
ảnh
hưởng
rất
lớn
đối
với
những
phần
tri thức
phong kiến.
Người
đời
Ðường
sau khi đỗ
Tiến
sĩ
được
dự
kiến
hội
tại
Hạnh
viên, đề
danh tại
Nhạn
Tháp. “Trích ngôn” (chọn
lời
nhặt
lấy)
của
Vương
Ðịnh
Bảo
đời
Ðường
nói rằng,
Bạch
Lạc
Thiên một
lần
cập
đệ
(đậu
Tiến
sĩ)
đã
đề
thơ
rằng:
Từ Ân tháp hạ đề danh xứ
Thập thất nhân trung tối thiếu
niên
Tạm
dịch:
Chỗ đề danh
dưới tháp Từ Ân
Trong mười
bảy người ít tuổi nhất.
(Tuệ Khai dịch)
Thì có thể
thấy
sự
đắc
ý của
ông ấy.
“Trích ngôn” lại
nói: “Quốc
Sử
Bổ
của
Lý Triệu
nói rằng:
Tiến
sĩ
được
ra làm quan còn lâu vậy.
Do đây
mà người
xuất
thân có khi trọn
đời
làm văn
nhân”. Lại
nói rằng:
“Khoa Tiến
sĩ
bắt
đầu
trong năm
Ðại
Nghiệp
(nhà Tùy), thịnh
hành ở
những
năm
Trinh Quán (đời
Ðường),
làm quan tuy là bề
tôi địa
vị
cực
cao nhưng
người
chẳng
xuất
thân từ
Tiến
sĩ
thì nhất
định
chẳng
tốt
đẹp
gì”. Có thể
thấy
nhiều
khả
năng
“Nhạn
Tháp Ðề
Danh” vào lúc bấy
giờ
quả
thật
là việc
rất
vinh dự.
Nhưng
việc
đề
danh bất
tất
đều
phải
ở
trên tháp, tường
vách của
chùa viện,
tuy theo chỗ
đều
có thể
đề.
Hơn
nữa,
chẳng
nhất
định
đều
phải
là người
thi đậu
Tiến
sĩ
mới
đề.
Phần
nhiều
đều
đề
là ngày, tháng, năm
nào đó
đã
đến
đây
dạo
chơi,
hoặc
là cùng đi
chơi
với
ai, hoặc
là cảm
hứng
ngâm vịnh
thơ...
trước
đã
dẫn,
Từ
Di cuối
đời
Ðường
đã
đề
rằng:
“Tháp, Viện,
tiểu
ốc,
bốn
vách đều
là khanh tướng
đề
danh, nhân đó
làm thành bốn
vần”
thơ
rằng:
Nhạn Tháp sam không ánh cữu cù
Mỗi Khan hoa vũ mỗi trì trù
Ðề danh tận thị thai hành tích
Mãn bích Khan vi tể phụ đồ...
Tạm dịch:
Tháp Nhạn
vươn cao rợp chín đường,
Hiên hoa
thường ngắm dạ bâng khuâng.
Ðề danh,
hành tích các quan cả.
Ðầy vách
mưu đồ bậc tể công.
(Tuệ
Khai dịch)
Có thể thấy tháp, viện, nhà
nhỏ... những khoảng ấy hoặc ngược lại là những nơi mà người đời Ðường tập
trung đề danh. Thơ Bạch Cư Dị cũng nói là đề danh “dưới tháp”. Nhưng chẳng
biết có phải là ở trong tiểu ốc này không? Thư pháp người đời Ðường được
đời sau yêu quý. “Nhạn Tháp đề danh” được người đời Tống mô phỏng khắc lên
đá, in rập lên giấy lưu truyền đến hiện tại, trở thành văn vật trân quí.
Vả lại thời bấy giờ không có báo chí, tập san, văn nhân sáng tác không tùy
theo thời phát biểu mà đề thơ lên vách có thể để cùng quần chúng thấy mặt.
Trước đã dẫn việc Bùi Lân đề thơ lên vách điện, được Ðường Văn Tông xem
thấy, nhân đó mà truyền khắp nội cung. Ðầu dời Thanh, Khang Thái Ất người
huyện Cát Dương
ở
Thiểm
Tây đề
thơ
lên tháp Nhạn
được
Vương
Ngư
Dương
phát hiện.
Nhờ
đó
mà danh dự
lan xa, tiếng
khen vang dội,
lời
đương
thời có câu “Quang Trung tam Lý,
bất như
nhất Khang”.
Nhưng những
thật
tế
ấy
chính là một
thứ
phong khí bại
hoại,
hiện
tại
trên khuôn cửa,
xà ngang cửa,
đá
xanh của
tháp Ðại
Nhạn
phần
nhiều
có khắc
đề
danh của
người
đời
Tống,
đời
Minh. Người
đời
Tống
phần
nhiều
chọn
lựa
vùng trống
rỗng
trên tường,
còn người
đời
Minh thì đều
khắc
trên đường
khắc
hoa văn
của
đời
Ðường,
khiến
cho văn
vật
trân quý gặp
phải
nạn
phá hoại
nghiêm trọng.
Một
số
người
thì tẩy
xóa tường
vách sạch
sẽ
rồi
mặc
tình tô vẽ
viết
lách, rất
là đáng
tiếc!
Do mối
quan hệ
với
học
thuật
và văn
hóa nên chùa Từ
Ân ở
đời
Ðường
một
mực
được
bảo
tồn.
Năm
Hội
Xương
thứ
năm
(năm
846 TL) đời
Ðường
Võ Tông, diệt
Phật
giáo, phá hủy
chùa viện
trong toàn quốc,
chùa Từ
Ân có minh lệnh
bảo
lưu.
Chùa chẳng
biết
bị
phá hủy
vào năm
nào? Trước
đã
dẫn
sách Du Thành Nam Ký của
Trương
Lễ
đời
Tống,
nói rằng:
“Hãy mau lên tháp xem người
đời
Ðường
đề
danh lưu
lại”,
không có đề
cập
đến
chùa, viện;
trong lời
chú cũng
chỉ
nói: “Tây Kinh Lưu
Thủ
An Trọng
Bá đời
Ngũ
Ðại
trùng tu tháp”, không có đề
cập
đến
chùa, viện.
“Tục
Ký” của
người
Kim thì nói: “Năm
Chính Ðại
(niên hiệu
của
vua Kim Ai Tông - năm
1224 - 1231 TL) di dời
về
thì mái chùa đã
bị
phế
hủy
gần
hết,
chỉ
nghiễm
nhiên còn một
ngôi tháp”. Ở
trong “Duật
Thủy
Tập”
của
Lý Phục
người
Tràng An thời
Bắc
Tống,
có một
ít bài thơ
vịnh hoài
về Cổ
Tích Tràng An, trong số
ấy
có một
bài họa
quan hệ
đến
chùa Từ
Ân mà đầu
đề
là “Từ
Ân Tự
Cẩu
Kỷ”.
Trong thơ
nói đến
tàn cây Cẩu
Kỷ
lan tràn rộng
lớn
thì có thể
tưởng
tượng
ra cảnh
hoang lương
của
ngôi chùa ấy.
Hình như
từ
đời
Tống
trở
về
trước
ngôi chùa đã
phế
hủy,
có khả
năng
cũng
bị
hủy
cùng một
lần
với
việc
Chu Ôn cưỡng
bách vua Ðường
Chiêu Tông dời
đô.
Trương
Lễ
đi
chơi
thành Nam vào năm
đầu
niện
hiệu
Nguyên Hựu
đời
Tống
Triết
Tông (năm
1086 TL), việc
trên cách triều
đại
nhà Ðường
diệt
vong đã
một
trăm
bảy
mươi
hay tám mươi
năm,
mà Tràng An đã
chẳng
còn là thủ
đô
nữa.
Trong khoảng
thời
gian giữa
ấy,
giả
sử
có người
tu sửa
lại
thì cũng
tuyệt
đối
chẳng
thể
khôi phục
được
quy mô nguyên gốc.
Sau nửa
thế
kỷ,
trải
qua chiến
tranh của
quân Kim, quân Nguyên buổi
giao thời
thay thế,
tức
đã
gọi
là “di dời
về
năm
Chính Ðại”,
chùa Từ
Ân lại
gặp
phải
một
lần
phá hoại
nữa.
Nay trong chùa còn hai tấm
bia khắc
đời
Minh, một
là tấm
lập
năm
Thành Hóa thứ
hai đời
Minh Hiếu
Tông (năm
1466 TL), tên là “Trùng Tu Từ
Ân Thiền
Tự
Ký”. Trong bia ấy
có những
lời
như:
“Trải
qua năm
tháng quá lâu, chùa đã
nghiêng đổ,
tháp đã
hoang lạc”
và “mới
xem ngày tốt,
triệt
bỏ
cái cũ,
phế
đi
cái tàn dư,
khởi
dựng
hai ngôi tiền
điện,
mỗi
cái năm
gian, sơn
môn, lang vũ,
phương
trượng,
tăng
đường...
đứng
sừng
sững”
v.v... Riêng một
bia đá
nhỏ
lập
vào năm
Vạn
Lịch
thứ
ba mươi
ba đời
Minh Thần
Tông (năm
1605 TL), tên là “Trùng Tu Nhạn
Tháp Lạc
Thành”, không có đề
cập
đến
việc
sửa
chùa. Nhưng
lần
ấy
hình như
là cần
xử
lý một
vấn
đề.
Trong “Hà Tân Văn
Tuyển”
có một
bài văn
tên là “Thành Nam Nhạn
Tháp Ký” viết
rằng:
“Nay căn
cứ
phiến
đá
nhỏ
trong tháp thì trong năm
Vạn
Lịch,
các quan Hàm Ninh, Mãn Lịnh
Bạc
sửa
chữa
ngôi tháp đó.
Ông Mãn Triều
Tiến
chẳng
sợ
cường
ngự
(sức
mạnh
của
vua), một
người
quân tử
vậy.
Từ
năm
hai mươi
trở
lại
đây
đã
cắt
phía nam Tháp của
chùa để
chư
tăng
ở,
rào lại
phía bắc
nơi
ấy
để
thân sĩ
(quan
về
hưu)
nghỉ
ngơi,
người
dạo
chơi
ít đến,
đề
danh cũng
hiếm”.
Căn
cứ
vào đây
thì hình như
là địa
chủ,
thân sĩ
chiếm
lấy
tài sản
của
chùa, Mãn Triều
Tiến
đã
làm cuộc
chỉnh
lý ngày nay, phía bắc
tháp là một
vùng nông thôn có thành trại,
phía nam tháp là tăng
viện,
có hai ngôi điện
năm
gian và sơn
môn, nhà cửa
v.v... điều
lược
nói cùng hai bài Ký thuật
ở
trên phù hợp.
Vậy
là quy mô chùa ngày nay nhất
định
ở
vào đời
Minh.
Tháp Ðại
Nhạn
từ
sau khi An Trọng
Bá đời
Ngũ
Ðại
trùng tu, trải
qua nhiều
đời
đều
đã
từng
tu chỉnh,
nhưng
đều
là thay thế
gách hư
hoại,
vá xếp
lại
diềm
mái của
tháp, còn dạng
thức
của
tháp không có biến
đổi,
nên chẳng
thuật
lại
nữa.
Việc
liên quan đến
vấn
đề
đi
lên tháp, ở
trong ghi chép có liên quan của
người
đời
Ðường
thì một
mực
đều
nói là có thể
lên tháp được.
Nhưng
sau này tình huống
hình như
một
lần
có qua biến
hóa. Sách Thành Nam Du Ký của
Triệu
Hàm đời
Minh nói rằng:
“Ngôi tháp từ
những
năm
Hy Ninh (niên hiệu
của
vua Tống
Thần
Tông - năm
1068-1077 TL) sau khi bị
hỏa
hoạn
thì chẳng
thể
lên được.
Năm
Vạn
Lịch
Giáp Thìn (năm
1604 TL) trùng tu trang trí thêm thì mới
lên được
đến
đỉnh
tháp ấy”.
Vậy
là trong khoảng
thời
gian hơn
năm
trăm
năm
từ
đời
Tống
đến
đời
Minh, tháp Ðại
Nhạn
chẳng
thể
đi
lên được.
Nhưng
ở
trong sách “Bảo
Khắc
Loại
Biên” của
Trần
Tư
đời
Tống
trước
tác đã
nói rằng:
“Ðời
Ngũ
Qúi chùa bị
phế,
chỉ
còn một
mình ngôi tháp đứng
sừng
sững,
có vị
tăng
tên là Liên Phương
bắt
đầu
sửa
sang mới
lại,
bên trong bên ngoài tháp đều
dùng đất
bùn tô trát, việc
đề
chữ
của
người
đời
Ðường
chẳng
thể
thấy
lại
nữa.
Khoảng
năm
Nguyên Phong (niên hiệu
của
vua Tống
Thần
Tông - năm
1078 đến
năm
1085 TL), ngôi tháp lại
bị
hỏa
hoạn,
người
làng tên là Vương
Chánh Thúc mới
thấy
họa
bích dứt
rách ra nên đã
tự
nạo
chuốc
sành, gạch
được
vài mươi
“đề
danh”, rồi
chép đem
về”.
Trong sách Du Thành Nam Ký của
Trương
Lễ
ở
năm
đầu
niện
hiệu
Nguyên Hựu
(năm
1086 TL) nói rằng:
“Hãy mau lên tháp xem người
đời
Ðường
đề
danh lưu
lại”.
Cái “người
Ðường
đề
danh lưu
lại”
của
Trương
Lễ
đã
xem đương
nhiên tức
là cái mà Vương
Chánh Thúc phát hiện
nhìn thấy.
Vậy
là tháp đó
ở
sau niên hiệu
Hy Ninh hình như
vẫn
có thể
lên được.
Sự
mâu thuẫn
ấy
không cách gì tra khảo
rõ ràng được.
Chẳng
qua, lời
nói Triệu
Hàm, từ
năm
Vạn
Lịch
Giáp Thìn, làm lại
thang lầu
thì mới
có thể
lên đến
đỉnh
tháp, đương
nhiên không có vấn
đề
gì. Nói tóm lại,
ngôi tháp từ
đời
Ðường
trở
về
sau không có người
quản
lý bảo
hộ.
Ðã từng
chịu
qua nhiều
lần
phá hoại.
Sự
khẳng
định
đó
không có gì nghi ngờ
cả!
Ngôi tháp hiện
cao sáu mươi
bốn
mét, là hình vuông bảy
tầng
theo dạng
thức
lâu các, cùng một
hạng
tháp mà hình thức
chẳng
đồng.
Mặt
vách mỗi
tầng
mô phỏng
kiểu
kiến
trúc chất
liệu
gỗ,
đều
có gạch
xếp
làm cây ngang, trụ,
tọa
đẩu...
từ
dưới
hướng
lên trên y theo thứ
lớp
nhỏ
dần,
hai tầng
dưới
làm chín gian, tầng
ba tầng
bốn
làm bảy
gian, ba tầng
trên làm năm
gian, nhô ra bốn
hướng
hình quả
chùy, chu vi tầng
thứ
nhất
dài một
trăm
mét, bên trong có thang lầu
bằng
gỗ,
có thể
dùng để
lượn
vòng mà đi
lên. Mỗi
tầng
đều
có cửa
vòm uốn
bằng
gạch
để
có thể
từ
bên trong tháp phóng tầm
nhìn ra bên ngoài. Mấy
điều
ấy
đều
có thể
khiến
cho người
ta cảm
thấy
phản
phất
những
câu thơ
của
Sầm
Tham đời
Ðường
“dòm xuống
trỏ
chim bay cao”, của
Chương
Bát Nguyên “bốn
mươi
cửa
mở,
mặc
gió lồng”.
Ngôi tháp lại
được
bảo
trì kết
cấu
nguyên gốc
đời
Ðường.
Trên đá
xanh tầng
đáy
tháp, khuôn cửa,
xà ngang trên cửa
(môn mi) với
những
tuyến
khắc
tượng
Phật,
tượng
Bồ-tát
đoan
nghiêm ưu
mỹ,
xà trên cửa
phía tây, Phật
điện
đều
điêu
khắc
từng
bộ
phận
nhỏ
nhặt
đều
đầy
đủ
hết.
Chúng đều
là nguyên vật
của
đời
Ðường.
Có thể
chính là tác phẩm
của
thời
Võ Tắc
Thiên trùng tu. Ðó là đường
điêu
khắc
tối
thượng
thừa
hiện
còn của
đời
Ðường.
Sở
dĩ
nhân dân Trung Quốc
có cái nhìn trân trọng
đối
với
tháp Ðại
Nhạn
không chỉ
do nó là một
tòa kiến
trúc to lớn
rộng
rãi còn lưu
lại
đến
nay, từ
hơn
một
ngàn ba trăm
năm
trước
mà đồng
thời
do nó đã
hòa hợp
liên kết
tên tuổi
với
ngài Huyền
Trang tại
một
mục
đích
hưng
khởi.
Hạng
người
của
ngài Huyền
Trang là chẳng
trốn
tránh khó khăn
hiểm
trở,
một
người
ra
đi
Tây Vực,
khắc
khổ
dùi mài nghiên cứu,
tinh thông học
vấn
Phạn
ngôn, Hán ngữ,
tinh thần
trọn
đời
cần
lao công tác, bổ
sung phần
biểu
hiện
truyền
thống
tốt
đẹp
cần
lao dũng
cảm
trí tuệ
của
dân tộc
Trung Hoa. Ngài chính là một
Phật
giáo
đồ
thành kính, những
thành tựu
và
ảnh
hưởng
của
ngài trong học
thuật
văn
hóa thực
tế
đã
vượt
ra khỏi
phạm
vi tôn giáo. Ðặc
biệt
là tác phẩm
trứ
danh Ðại
Ðường
Tây Vực
Ký của
ngài chính là tài liệu
tham khảo
trọng
yếu
để
ngày nay nghiên cứu
về
địa
lý, lịch
sử,
dân tộc,
phong thổ
của
các nước
vùng Trung Á, A-phú-hãn,
Ba-cơ-tư-thản
v.v... sách đã
được
dịch
ra văn
tự
một
số
nước.
Trong sách
đã
ghi,
ở
tại
tỉnh
Ba-mễ-dương
của
A-phú-hãn ngày nay, ngài nhìn thấy
hai tượng
Phật
lớn.
Hiện
tại,
xem lại
lời
tâu trong “Tây Vực
Ký Biểu”,
dâng lên vua Ðường
Thái Tông: “Vả
những
cảnh
bên ngoài
đi
qua cùng hết,
đều
đã
ghi chép thật
lại,
chẳng
dám có lời
điêu
ngoa”, câu này
đã
chứng
minh những
điều
đó
là hoàn toàn chân thật.
Ðối
với
cái di tích của
nhân vật
rất
đáng
tôn kính
ấy,
chúng ta
đương
nhiên cần
phải
xem là vòng ngọc
quí và có
đủ
cơ
chế
bảo
hộ
thật
tốt.
Phan Rang, ngày 5 tháng 6 năm
2002
Tuệ
Khai dịch