Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

DANH LAM KÝ

 

Nguyên tác: Bán Tăng

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ 

           

I. CHÙA THIẾU LÂM.

Ngụy Thư chép rằng: “Ngài Bạt-đà1 từ Tây trúc sang, có đạo nghiệp, rất được sự kính trọng của Hiếu Văn Ðế (467-499). Nhà vua xuống chiếu lập chùa Thiếu Lâm ở phía Bắc núi Thiếu Thất cho ngài ở”.

Huyện chí của huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam chép rằng: “Chùa Thiếu Lâm do Hiếu Văn Ðế đời Hậu Ngụy xây dựng. Ngôi chùa ở tại chân núi phía nam ngọn Ngũ Nhũ về phía bắc núi Thiếu Thất, có am Sơ Tổ, thời Lương Võ Ðế, tổ Ðạt-ma ở đây “diện bích” chín năm, lại có Chiếu ảnh thạch (đá chiếu ảnh)”.

“Du Trung Nhạc Ký” của Phan Lỗi ghi rằng: “Chùa Thiếu Lâm ở phía nam ngọn núi Ngũ Nhũ, dưới chân núi phía bắc Thiếu Thất, không gian rộng thâm u, hình thành cảnh thiên nhiên thắng diệu. Nơi ngài Bạt-đà tạo tháp, ngài Tuệ Quang phiên dịch kinh đã làm nên thần dị. Từ khi Tổ Ðạt-ma đến từ phía nam, ẩn cư ở chùa ấy, cuối cùng có được ngài Thần Quang để truyền “Tâm ấn”. Thiền Tông Ðông Ðộ bắt đầu hưng vượng từ đây. Nhưng đời sau chư Tổ đều hành hóa địa phương khác, chẳng ở Thiếu Lâm. Ðăng Lục đã chép, những bậc tôn túc đời Ðường, Tốâng, người làm chủ tịch Thiếu Lâm rất ít. Ðến thời Thế Tổ nhà Nguyên, ngài Tuyết Ðình Dụ Công phụng chiếu đến làm trụ trì, xưng là khai sơn đời thứ nhất. Những hậu nhân của ngài truyền đời ở theo, nhưng pháp đạo không quang hiển lắm”.

Sáng sớm ngày mười lăm tháng năm năm Dân Quốc thứ hai mươi chín, chân đi hài cỏ, tay cầm gậy trúc, tôi cùng thị giả xuất phát từ huyện Ðăng Phong đến chùa Thiếu Lâm chiêm ngưỡng lễ bái di tích sơ tổ Ðạt-ma. Ra cửa tây mà đi về hướng bắc, vào công lộ chuyển sang hướng tây bắc mà đi, ăn trưa ở phố Thập Lý. Gặp tháng trời lạnh lẽo, vả lại thu ý (cảnh mùa thu) thêm não nùng. Nghỉ ngơi một chút, lại tiến về phía trước. Trông về bắc, những ngọn của dãy Thái Thất (Trung nhạc) giăng ngang theo chiều đông - tây như con rồng xanh nằm sóng soải trên đất, thân dài, xương sống cao, đoan nghiêm đáng sợ. Trông về hướng tây, những ngọn núi mặt nam của núi Thiếu Thất như ngôi tháp, như cây gươm, như mụt măng, như cây kích... nạo vót mài dũa vọt cao lên chẳng thể nêu danh trạng. Ði qua khoảng hai núi Thái Thất và Thiếu Thất, nhìn trái, trông phải, có cảm giác như “trên con đường phía bắc núi ứng tiếp chẳng thôi”.

Mười tám dặm thì đến nhà nghỉ ở bên ngoài, đất đai men theo đường không mầu mỡ, chẳng thích hợp cấy lúa. Núi đồi trơ trụi, mây mù lạnh lẽo, khung cảnh thật hoang lương. Vào nhà nghỉ bằng tranh nghỉ ngơi giây lát rồi chuyển sang hướng tây mà đi. Ði ước chừng hai dặm thì gặp ngã ba đường. Ðường lớn hướng tây bắc là đi về Lạc Dương, đường nhỏ hướng chánh nam là đến Thiếu Lâm. Ðành phải bỏ đường lớn mà đi vào đường nhỏ vậy.

Ði về phiá trước, đường núi quanh co chướng ngại trùng điệp, khe cao suối thấp cuồn cuộn chảy ầm ĩ, inh tai muốn điếc. Từ xa trông thấy cửa ải Hoàn Viên, giữa mở một đường khúc chiết quanh co, hình thể hiểm trở. Hậu Hán Thư chép rằng: “Năm Kiến Võ thứ chín đời Quang Võ (Ðông Hán năm 25 TL), tháng sáu mùa hạ Hạnh Hầu Thị lên Hoàn Viên”. Ðó tức là đất ấy.

Còn năm dặm nữa đến chùa Thiếu Lâm. Ngôi chùa ở tại chân núi phía nam núi Ngũ Nhũ, núi Thiếu Thất nằm ngang phía trước, một dòng suối trong bao quanh, quả thật là hình ảnh thắng địa. Tiếc là rừng cổ bách xanh tươi ngày xưa đã bị chặt phá hầu hết nên sao tránh khỏi cảm giác hoang vu!

Qua khỏi cửa Trung Thiên Phước Ðịa, trên ngạch đá có khắc bốn chữ “Bạt-đà Khai Sáng”. Bên ngoài sơn môn có một đôi sư tử đá điêu khắc rất tinh xảo. Nhan đề trên cửa là “Thiếu Lâm Tự”. Ðó là ngự bút của hoàng đế Khang Hy, chữ viết đoan nghiêm đáng xem. Tiến vào Sơn môn làm lễ Phật Di Lặc, pháp tượng tô vẽ rất tinh xảo, đáng gọi là một cấu tạo đẹp, sau lưng thờ pháp tượng Vi Ðà mà nét đẹp chẳng bì kịp. Tiến về phía sau, hai bên lối đi giữa có hai góc ngân hạnh2, vài gốc cổ bách3 mà tàng cây khép tán, bóng che nửa mẫu, bởi cây đã có số tuổi vài trăm năm. Ðiện chùa ấy có bảy tấn (nhà chia ra từng phần), qui chế cao rộng, ít đâu sánh bằng. Chỉ có điện Tứ Thiên Vương, Ðại Hùng Bảo Ðiện, Tàng Kinh Các, liêu tăng đông và tây cùng Diện Bích Thạch4, số còn lại thì vào năm Dân Quốc thứ mười sáu gặp cảnh binh lửa loạn lạc đều phó mặc cho một ngọn đuốc, đá gạch ngổn ngang trước mắt khiến cho người thương tiếc bùi ngùi! Du khách đến Tung Sơn phần nhiều là do Thiếu Lâm là đất danh thắng, nhưng nay xem ra khác xưa xa nên chỉ với tấm lòng thăm viếng chân thành mà thôi.

Trước điện Ðại Hùng là một rừng bia, tính gộp lại có hơn một trăm cái. Như: “Thích Ca Như Lai Song Tích Linh Tướng Ðồ”, “Tứ La-hán Họa Tượng”, “Ðạt-ma Ðộ Giang Họa Tượng”; Mễ Nguyên Chương viết “Ðệ Nhất Sơn”, “Nghi Sơn Họa Trúc” “Càn Long Ngự Thư Bi”. “Sơ Tổ Ðạt-ma Thật Tích Ký”. “Ðường Thái Tông Cáo Võ Hậu Thi Bi”, “Bùi Hoắc Bi” v.v... không luận là ở phương diện Phật giáo hoặc phương diện nghệ thuật chúng đều có giá trị tương đương. Bia của Ðường Thái Tông cao chín thước, rộng bằng nửa chiều cao, đề ngạch rằng: “Thái Tông Văn Hoàng Ðế Ngự Thư”, cuối bia ghi là: “Khai Nguyên Thập Lục Niên Thất Nguyệt Thập Ngũ Nhật Kiến” (Kiến tạo ngày rằm tháng bảy năm Khai Nguyên thứ mười sáu). Thư pháp viết theo thể chữ Lệ phóng túng tự nhiên đẹp đẽ. Những gì trong các bia ở đây rất là quý báu.

Sau cùng, có điện Tỳ-lô gồm năm gian. Vách điện vẽ năm trăm Ứng Chơn và pháp tượng Tổ Bồ-đề-đạt-ma, tương truyền do Ngô Ðạo Tử đời Ðường vẽ. Trên bức vẽõ, mây nước xa thăm thẳm, thần thái sinh động, thực là một tác phẩm kết cấu đẹp. Tăng chúng chùa ấy còn luyện tập việc võ, giỏi kỹ năng quyền kích. Lịch sử cho là Ðường Thái Tông phá giặc Vương Thế Sung đã được nhiều lực lượng tăng binh chùa Thiếu Lâm trợ giúp. Lại, vào đời Minh, một dãi duyên hải đông nam bị Nụy khấu5 làm loạn, tổng chế Hồ Tôn Hiến cũng đã mượn sử dụng tăng binh Thiếu Lâm. Ngày xưa đã cùng với quyền thuật Võ Ðang tranh đoạt danh tiếng trong nước, xưng là “Thiếu Lâm Phái”. Những tác giả tiểu thuyết võ hiệp cũng thỉnh thoảng múa diệu bút làm phát sinh ra tinh hoa của phái ấy, cực lực làm thấm đượm lan truyền phái võ ấy. Ngày nay trên đất Phật điện còn bảo tồn dấu chân đạp khi diễn tập quyền kích nên sự thâm hậu thuần thục của công phu ấy có thể thấy ở đây vậy. Những kẻ bài bác Phật đôi lúc cho rằng, tư tưởng Phật giáo bi quan, tiêu cực, yếm thế... Thử nghĩ, ở hai đời Ðường, Minh tăng chúng Thiếu Lâm cầm mác vung quyền mà hộ vệ xã tắc mà gọi là “tiêu cực” “yếm thế” ư?

Trên vách mái vũ phía đông có vẽ “Quyền kích đồ tượng”, những tư thế sở hữu đều có đủ hết, nhưng đó mới là “lam bản ” (bản gốc) của quyền kích sơ học vậy.

Từng đọc “Danh Họa Ký” của Trương Ngạn Viễn đời Ðường chép rằng: “Ngài Tăng-già Phật-đà6  ở chùa Thiếu Lâm, đến nay họa thần còn trên cửa phòng tức là dấu tích Tăng-già Phật-đà”. Ngày nay tìm khắp các cửa phòng đều mù tịt chẳng tìm được, hỏi các vị tăng trong chùa, cuối cùng cũng không ai biết. Danh họa chìm mất làm cho kẻ này than thở ân hận hồi lâu! Lại sách của Mai Tung nói rằng: “Sau Tàng Kinh các chùa Thiếu Lâm có một gốc hòe cổ, tương truyền được trồng vào thời Tần và được phong hàm Ngũ phẩm. Thơ của Văn Ngạn Bác đời Tống có câu: “Ngũ phẩm phong hòe kim thượng tại ”. (Cây hòe ngũ phẩm nay còn đó). Du ký của Ðô Mục ghi rằng: Cây hòe Tần cao mười trượng, chu vi hai mươi thước”. Tiếc thay! Cây hòe Tần ngũ phẩm cũng đã thành danh từ trong lịch sử thôi vậy.

Ngôi chùa ấy có thiết lập một sở học hiệu Quốc Dân, học sinh lối hai, ba mươi người, tăng đồ theo học được một phần tư trong số ấy, còn lại đại đa số là con em nông gia vùng phụ cận. Ngày học tập khóa nghiệp, ban đêm luyện tập quyền kích, còn bảo tồn được Tông phong thượng võ của Thiếu Lâm. Giáo sư của trường ấy có hai vị: Một vị họ Ngụy, người huyện Yển Sư. Một vị họ Ðịch, người huyện Lâm Nhữ, đều là những người đôn hậu trung thành, có lễ nghĩa hoàn hảo.

Ðến pháp đường, thừa lệnh tri khách tăng Vĩnh Quý chuẩn bị trà, dọn cơm, khoản đãi rất ân cần. Vị tăng hơn hai mươi tuổi, tính tình khóat đạt ngay thẳng, trước có năm ở Hạ Môn, khá tinh thông Thiền lý và am tường việc học tân thời, là một thanh niên mới vậy.

Sau khi ăn trưa, nhờ tăng Vĩnh Qúy và ông Ðịch làm người dẫn đường đi xem Sơ Tổ am. Sơ Tổ tức là tổ Bồ-đề-đạt-ma, người đảo Tích Lan, nam Ấn Ðộ, vào thời Lương Võ Ðế bắt đầu vào Trung Quốc. Ðầu tiên ngài đến Quảng Ðông, tiếp theo đến Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Ngài vì Lương Võ Ðế đàm luận Thánh Ðế Ðệ Nhất Nghĩa, nhà vua chẳng ngộ, biết cơ duyên không khế hợp, ngài mới đi lên bắc đến Ngụy, dừng bóng (ý nói ở lại) trong hang đá núi Ngũ Nhũ của chùa Thiếu Lâm, diện bích chín năm. Sau khi chứng đạo, ngài làm Tổ của Phật giáo Thiền Tông Trung Quốc. Cho nên gọi là “Sơ Tổ”. Tăng đồ đời sau ngưỡng mộ đạo của ngài mới xây dựng am để kỷ niệm.

Am cách chùa hai dặm về phía tây bắc, qua khỏi đài Cam Lộ trèo lên gò cao mà đi về phía tây, xuống khe rồi lên trở lại là đến nơi. Am dựa vào chân núi mà xây dựng, cây rừng che kín, phong cảnh thanh tịnh tuyệt vời. Tiếc cho điện vũ đã nghiêng đổ, tường lở ngói hư, mắt chẳng nỡ nhìn vậy. Trước sân có một gốc bách chính tây Lục Tổ trồng, tương truyền là người đem từ Quảng Ðông đến. Thân cây bách chừng ba người ôm, cành lá như xưa, xanh biếc đáng yêu. Ðộng diện bích của Tổ Ðạt-ma ở trên Ngũ Nhũ phong, cách am còn xa. Am Nhị Tổ ở chân núi phía bắc Thiếu Thất đều theo lối núi mòn mà lên nên dừng lại mà không đến. Vả lại trời mưa lâm râm. giá lạnh quá sức nên vội vàng đi quan sát một lượt vườn tháp, rồi theo đường cũ trở về chùa. Nhìn trở lại, hơi mây bốc lên, màu núi mênh mông, các ngọn núi phía tây nam như ở trong sương mù, nghiễm nhiên trở thành bức tranh thủy mặc vậy.

Trời chiều mưa tạnh. Ðêm ở trong sân xem Sa-di và các học sinh biểu diễn quyền kích, múa đao đánh gậy (bổng), đều phấn chấn tinh thần. Bất đồ hôm nay tôi còn được ở đây đích thân xem tông phong võ thuật hơn ngàn năm của Thiếu Lâm, cũng gọi là may mắn lắm vậy!.

Xem xong, trở về ngồi ở pháp đường cùng với hai ông Ðịch và Ngụy chuyện vãng một lúc, rồi cởi áo đi ngủ. Nhớ bài ký của Phan Lỗi “Nghỉ đêm chùa Thiếu Lâm”, viết rằng: “Núi sâu nhà rộng, nắng nhiều mà trọn ngày mát mẻ. Cổ bách hơn hai trăm cây, thân vươn cao tròn ngay thẳng, dáng chẳng chút ủy mị. Sân vắng sáng ngần, trăng vẽ bóng cổ bách dọc ngang như rau hạnh, rong tảo. Cây Bồ-đề chẳng gặp lúc ra hoa thì vươn cao (lăng tiêu ) bám rễ nhiều bên cây bách, thắm hồng khả ái”. Tình này cảnh đây như thơ như họa, tiếc rằng ta không có duyên một lần nhìn thấy cảnh tượng danh thắng mà chỉ có tinh thần lĩnh hội thôi.

                       

II. CHÙA HỘI THIỆN.

Vừa du Ngoạn chùa Thiếu Lâm xong lại tiện đường xe, tôi đến chiêm ngưỡng lễ bái chùa Hội Thiện. Chùa cách chùa Thiếu Lâm mười lăm dặm về phía đông, ở bên dưới ngọn Tích Thúy phía tây nam núi Tung Sơn, nguyên là ly cung (cung điện ngoại thành) của Hiếu Văn Ðế nhà Ngụy. Nhà Ngụy mất, chùa đổi tên là Trừng Giác Thiền Sư Tinh Xá. Thời Khai Hoàng nhà Tùy chùa mới được ban tên như ngày nay.

Từ miếu Quan Ðế phía nam nhà nghỉ ngoại thành theo con đường nhỏ rẽ về phía Ðông mà đi. Vượt qua hai con đường bằng phẳng và quanh co (không thẳng) dưới chân núi Tung Sơn, thấy bên đường có một tòa tháp của Ðại Ðức Tịnh Tạng Thiền sư. Tháp bảy tầâng cao chừng hai trượng, tiếc là đã bị tàn phá chẳng chịu nỗi. Ðến đây thì còn chừng ba dặm nữa là đến chùa Hội Thiện. Vòng quanh ngôi chùa trồng hơn một ngàn gốc bách cổ thụ, xanh tươi bát ngát, ngăn ánh mặt trời, chen lên với trời xanh. Bên ngoài sơn môn, có cây ngân hạnh lâu đời, tư thái rất lớn.

Vào cửa góc bên trái, tiến về phía trước thì ngay trước mặt là Ðại Hùng Bảo Ðiện, phía trái trước điện có nhà bia đặt tấm bia “Càn Long Ngự Bi”. Bia cao hơn một trượng, trên khắc bài thơ ngự chế, thể chữ đẹp đẽ khả ái. Bên phải điện có một cái chuông đồng đúc vào niên hiệu Thành Hóa đời Minh và một tòa tháp Ba-la-mật-đa Tâm Kinh. Ngôi tháp xây bằng đá, hình lục lăng (sáu cạnh), chữ khắc mạnh mẽ khéo léo đẹp đẽ. Ngôi điện và hai mái vũ đều bị chiếm mượn làm trường trung học Thiểm Châu, đại điện là nhà ngủ, hai mái vũ là phòng học, thấy giáo và học sinh có đến vài trăm người, hằng ngày giảng dạy, học hành bàn luận, đàn hát không ngơi nghỉ, vả có phong cách còn sót lại của con nai trắng dưới chân núi Nhạc vậy!

Tiến tới nữa là Phật điện chính giữa. Dưới thềm có con suối trong leo lẻo, nước chảy róc rách, nghe như tiếng đàn thanh mảnh. Phía sau là điện Tỳ-lô, rường cột nghiêng đổ, không người sửa sang. Du Trung Nhạc Ký của Phan Lỗi ghi rằng: “Chùa Hội Thiện ở thời Ðường cũng là cảnh tối thắng, những vị chủ tọa (pháp tịch) phần nhiều được ghi chép trong Truyền Ðăng. An Quốc Sư7, Phá Táo Ðọa8, những chuyện ấy rất nổi tiếng vậy. Nay thì cháu của Phù Thạch Thiền sư là Phu Ẩn chủ trì ở đó. Một ngọn đèn cứu tế tông phái treo cô quạnh ở đây! Tăng nhân phương bắc chẳng quen khấu đầu tham vấn! Chưa ra khỏi mà trước pháp đường cỏ mọc dày hơn một trượng vậy!”. Ðọc đoạn văn này tôi càng thêm không kềm chế được xúc cảm về cảnh vật xưa và nay vậy! Bên ngoài chùa có những bia chùa Tung Dương đời Ngụy, bia Giới đàn đời Ðường và bia ghi về tháp của Cảnh Hiền Thiền Sư. Chúng đều là những tác phẩm khắc đá quý báu rất nổi tiếng. Chỉ vì trời chiều, chẳng rảnh rổi xem kỹ, lòng thêm ray rức ân hận.

 

III. CHÙA TUNG DƯƠNG.

Chùa Tung Dương cách năm dặm về phía tây bắc huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam, nhân ở tại phía nam núi Tung Sơn nên gọi là Tung Dương. Ngôi chùa được sáng lập vào thời Bắc Ngụy, đến đời Tùy bị đạo gia (lão giáo) cướp đoạt, đổi tên là Tung Dương quan, đời Tống đổi là Thiên Phong Cung, đến đời Tùy bị phế hủy hết. Khoảng năm Gia Tĩnh, huyện lệnh Ðăng Phong mới lấy di chỉ Thiên Phong Cung xây dựng làm thư viện, rồi lại liền bị phế hủy. Ðến cuối đời Thanh tri sự huyện Ðăng Phong là Diệp Tỉnh Thúc mới tu sửa lại mà gọi là “Tung Dương Thư Viện”. Nối theo lại có Kinh Cảnh Dật Am tiên sinh đề xướng dẫn đường xây dựng thêm nhà cửa cho thư viện, đồng thời chuyển giao hết gia sản ruộng đất của mình, tập họp những kẻ sĩ có chí đối với việc học hành, cung cấp cho ăn ở mà mở mang dẫn dắt họ. Ở nhà thì ông đích thân làm Thầy, ra đi thì mời danh sư chủ trì việc ấy. Quy điều thì phỏng theo Lộc Ðộng9 đào tạo được nhiều văn tài giỏi. Ngôi chùa từ thời Ngụy đến, thời Thanh chẳng chỉ thường trải qua hưng phế mà lại còn bị Tam Giáo Thích, Ðạo, Nho luôn thay đổi làm chủ ngôi chùa ấy. Ðáng gọi là “trải đủ tang thương” đó vậy!

Lưng chùa tựa núi Tung, mặt nhìn ra sông Dĩnh, hình thế thiên nhiên. Biển ngạch sơn môn viết bốn chữ lớn “Tung Dương Thư Viện”. Phía tây bên trong cửa có hai gốc cây bách, đời Hán được phong là tướng quân, cây lớn bảy người ôm, cây nhỏ năm người ôm. Bên dưới họp lại, bên trên rẽ ra, cuộn khúc vương cao, chúng đều là sản vật đời Chu, Tần. Tiếc là cây bách tướng quân lớn bị gió xô gãy hết một nửa, khiến cho người nhìn không khỏi cảm thấy “tuổi già ngắn ngủi”.

Bách tướng quân nguyên có ba gốc, nhưng cây tướng quân thứ ba, vào cuối đời Minh đã bị lửa cháy rụi không còn nữa. Ðem cổ thụ vài ngàn năm so với thọ mạng con người thì chắc chắn có thể gọi là dài, nhưng nếu đem so với thọ mạng của vũ trụ thì thật chẳng bằng một cái chớp mắt vậy! Ở giữa có “quá sảnh” ba gian, biển ngạch đề rằng: “Cơ Dĩnh Văn Ðàn”. Phía sau sảnh bên trái có một đạo bia Càn Long Hoàng Ðế Ngự Thi. Bia cao một trượng năm thước, rộng bốn thước, dựng trong một ngôi đình che bia. Có câu thơ trào phúng (cảnh cú ) rằng: “Khoe khoang diệu dược cầu phương sĩ, sao giống thanh nga nuôi tuấn anh”. Ðất đai sông suối Tần Hoàng, Hán Vũ có linh thiêng, chưa biết lòng ta cảm xúc gì?

Phía sau có giảng đường ba gian, sau nữa là Tàng Thư Lâu (lầu kinh sách), đều là những kiến trúc lâu năm không tu sửa nên bị tàn phá quá lắm. Lệch về phía tây dưới hành lang của Viện có ba cây bách tướng quân khắc đá. Tranh vẽ đã đẹp mà chạm trổ cũng tinh. Bên phải, trước sơn môn có “Ðại Ðường Tung Dương Quan Thánh Ðức Cảm Ứng Tụng Bi”. Bia cao một trượng năm thước, rộng năm thước hai tấc, dày hai thước năm tấc. Ðầu bia và tòa đều rộng hơn một trượng. Ðầu khắc hình trạng “Nhị Long Hệ Thù” (hai rồng giao nhau). Tòa chạm trổ mây rồng người vật. Công nghệ rất tinh mỹ, rất nhiều giá trị nghệ thuật. Bia lập vào ngày mùng năm tháng hai năm Thiên Bảo thứ ba, Lý Lâm Phủ soạn văn, Từ Hạo viết chữ theo phép chữ Lệ mạnh mẽ đẹp đẽ. Ðây quả thực là bản khắc quí báu chẳng thể có được nhiều trong những tấm bia danh tiếng của Trung Quốc. Nhưng tiếc là bị phơi bày nơi hoang dã, mưa đục gió bào không có người để ý bảo hộ vậy.

                                               

IV.- CHÙA NGỌA LONG

Chùa Ngọa Long ở tại phía nam lầu Tứ Bài, phía đông rừng cây Bách bên trong thành Tây An. Ðiện vũ hoàn chỉnh, Phật tượng trang nghiêm, là ngôi chùa đứng đầu các tòng lâm trong thành Tây An. Xem xét bi ký trùng tu chùa Ngọa Long, năm Ðồng Trị thứ bảy, rằng: “Ngôi chùa sáng lập từ đời Hán Linh Ðế, tên cũ là Phước Ứng Thiền Viện. Vì Ngô Ðạo tử đời Ðường vẽ Thánh tượng Quan Âm nên liền đổi tên là Quan Âm Viện. Ðầu đời Tống có vị Thiền sư pháp hiệu là Ngọa Long, Vua Thái Tổ thường lâm hạnh đến chùa này, cùng ngài đàm luận Phật pháp, cơ duyên khế hợp nhau. Do những dấu hiệu trước như vậy nên lại đổi tên là Chùa Ngọc Long”. Thời Hồng Võ đời Minh trùng tu, vua Anh Tông sắc ban cho Tạng Kinh. Bên trong chùa có tám cảnh: Một là Yêu Tiền Thạch, hai là Khai Hoa Bi, Ba là Thái Cực Ðồ, bốn là Phật Cước Bi, năm là Lưu Ly Tỉnh (giếng), sáu là Ðằng Tử Phật, bảy là Hoạt Vi Ðà, tám là Ngũ Nhãn Tỉnh (giếng). Từ khi Lãng Chiếu pháp sư tiếp nhận chủ pháp tịch đến nay, mỗi ngày giảng kinh nói pháp, tông phong càng chấn hưng hơn, tăng chúng hơn năm mươi người, biết chuộng giữ gìn thanh quy, khéo chuyển bánh xe pháp.

                                                                       

V. CHÙA BẢO KHÁNH.

Chùa Bảo Khánh có một tên khác là chùa Hoa Tháp ở tại đường Thư Viện Môn bên trong thành Tây An. Nền chùa bị trường tiểu học chiếm lấy. “Quang Trung Thắng Tích Ðồ Chí” của Tất Nguyên ghi rằng: “Chùa Bảo Khánh ở tại phường An Nhơn bên trong thành, một tên gọi khác là chùa Hoa Tháp, xây dựng đầu tiên vào niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy. Tùy Văn Ðế, Ðường Trung Tông thường đến đây. Vua Văn Tông thấy tượng Cáp Lị Quan Âm10, cho xây dựng tháp ngũ sắc. Vào thời Ngũ Ðại, điện vũ bị binh lửa thiêu cháy, duy chỉ tháp là còn, niên hiệu Cảnh Thái nhà Minh tu sửa”. Sách lại nói rằng: “Xem xét cẩn thận thì tháp được trùng tu thời Võ Hậu. Nay có, vào năm Trường An (niên hiệu Võ Hậu) thứ ba, Ðào Nguyên Chi, Vương Tuyền, Cao Ðình Quí, Lý Thừa Tự, Vi Quân, Tiêu Nguyên Xuân, Lương Nghĩa Thâm, Ðào Nguyên Cảnh v.v... tạo tượng, khắc lời minh ở trên tháp, liêu (nhà tăng ở), tường thành” (tường thành thấp vây quanh chùa). Ngày nay bên trong chùa không có trụ trì, tăng chúng, chỉ có một tòa Hoa Tháp. Tháp có bảy cấp, sáu mặt, cao ước chừng ba trượng năm thước. Cấp thứ hai khắc tượng đức Như Lai nói pháp, không tinh xảo lắm. Việc tạo tượng khắc lời minh mà họ tất đã thấy, tôi tìm khắp mà chẳng thể được, hỏi người chủ sự của trường học thì ông ta bảo, thuở trước có nhiều pho tượng đá đời Ðường, nhưng sớm đã bị kẻ gian trộm bán. Ý cho tượng này như được khắc đời Ðường thì nhất định là sản phẩm tạo ra của Ðào Nguyên Chi v.v... không có gì nghi ngờ vậy.

           

VI. CHÙA KHAI NGUYÊN

Chùa Khai Nguyên ở phía đông đại lộ Chung Lâu, phía đông bên trong thành Tây An, tương truyền được sáng lập thời Khai Nguyên nhà Ðường. Biển ngạch trên đầu cửa đề bốn chữ: “Cổ Khai Nguyên Tự”. Nay chùa đã bị phế hủy nhiều, chỉ riêng còn lại Tàng Kinh Các. Vả lại đã bị phân sở cảnh sát chiếm cứ. Quanh chùa đều là hoa viện, kỹ quán, kẻ vãng du cũng đều là lũ “chương đài tẩu mã” (hạng người vô dụng). So với thời hưng thịnh Lý - Ðường thì thật không kềm chế được cảm xúc xưa nay vậy! Xem xét Ðường Hội Yến ghi rằng: “Ngày hai mươi chín tháng chín năm đầu niên hiệu Thiên Thọ, hai kinh và các châu thiên hạ đều đặt ra một ngôi Ðại Vân Tự. Ðến ngày một tháng sáu năm Khai Nguyên thứ hai mươi sáu đều đổi là Khai Nguyên Tự”. Từ đó mà quan sát thì chùa Khai Nguyên quả thật là chùa Ðại Vân đã thay đổi kiến trúc. Lại, xem xét việc bố trí chùa Ðại Vân, nhân vì Võ Hậu yêu mến ông Tăng Hoài Nghĩa11 đã tiến dâng kinh Ðại Vân ứng lời sấm nữ làm chủ nên mới lệnh cho toàn quốc các châu đều bố trí tên chùa ấy vậy.

           

VII. CHÙA VÕNG CỰC

Chùa Võng Cực ở tại bên trong cửa đông thành Tây An. Nay, chùa mái đã nghiêng đổ, chỉ còn lại sơn môn và đại điện mà thôi. Ngôi chùa do công chúa Thái Bình vì Võ Hậu mà kiến tạo. Ðến khoảng năm Khai Nguyên chùa đổi tên là Hưng Ðường Tự. Xét Ðường Hội Yếu ghi rằng: “Chùa Hưng Ðường ở tại phường Ðại Ninh. Ngày mười hai tháng ba năm đầu niên hiệu Thần Long, sắc bảo công chúa Thái Bình vì Võ Hậu lập làm chùa Võng Cực. Ngày mùng bảy tháng sáu đổi là Hưng Ðường Tự”. Xem xét phường Ðại Ninh thì hiện nay ở tại vùng đất phía đông bắc bên ngoài cửa Trường Lạc thành Tây An. Ngôi chùa hiện nay là nền xưa của chùa Võng Cực đời Ðường không có nghi vấn gì nữa. Sau đại điện có một pho tượng Phật khắc đá đời Ðường, gió bào mưa đục lâu năm, hư hại thật đáng tiếc.

 

VIII. ÐẠI TIẾN PHƯỚC TỰ

Chùa Ðại Tiến Phước ở tại vùng đất phía nam thành Tây An, cũng là một ngôi danh sát đời Ðường. Căn cứ lời của sách Ðường Hội Yếu nói rằng: “Ngôi chùa ở tại một nửa phường Khai Hóa về phía đông, tại nhà cũ vùng ven của Tùy Dượng Ðế. Trong năm Võ Ðức ban cho Thượng Thư Hữu Bộc Xạ Tiêu Vũ làm vườn. Sau con của Vũ là Duệ Thượng Tương Thành công chúa chẳng muốn sống xa cô mình, liền lấy đất sau vườn cất nhà ở. Sau khi công chúa mất, quan thị làm nhà của Anh Vương. Ngày mười hai tháng ba năm đầu niên hiệu Văn Minh, ban sắc vì Cao Tông lập làm chùa Hiến Phước. Ðến tháng mười một năm thứ sáu, vua ban cho biển ngạch là Tiến Phước Tự”. Lời chú của điều phường Khai Hóa trong sách Trường An Chí của Thứ Ðạo đời Tống ghi rằng: “Năm đầu niên hiệu Văn Minh, sau khi vua Cao Tông băng một trăm ngày thì lập làm chùa Ðại Hiến Phước, độ tăng hai trăm người thật sự đó. Năm đầu niên hiệu Thiên Thọ đổi là Tiến Phước Tự. Vua Trung Tôn lên ngôi, cho xây dựng trang trí thêm rất lớn. Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, việc phiên dịch Kinh Phật đều diễn ra ở đây12. Viện ở phía đông chùa có ao phóng sinh, chu vi hơn hai trăm bộ, tương truyền rằng, tức là ao nước lớn đời Hán (Hồng Trì Pha). Cơ sở chùa vuông, rộng hơn một trăm mẫu, chung quanh bao vây bằng tường đất. Ngày nay còn có vài lớp điện vũ mà qui chế đã chẳng phải là cảnh quan xưa. Sau điện có một tòa tháp gạch mười lăm cấp, cao hơn ba trăm thước, được kiến lập trong niên hiệu Cảnh Long do cung nhân xuất tiền ra. Ngày nay quen gọi là Tểu Nhạn Tháp. Về các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều có sửa sang. Trong chùa còn có một cái chuông lớn, đúc năm Nhâm Tý nhằm năm Minh Xương thứ tư nhà Kim. Việc này trên Trường An Chí đã chép rằng: “Có cái chuông tìm ra được ở bờ sông Võ Công. Có người đàn bà giặt đồ ngồi trên phiến đá giặt quần áo, bỗng nghe tiếng từ đá phát ra, vang xa vài dặm, rồi mọi người (sĩ nhân) phát hiện ra cái chuông lớn đó, liền mang về để trong chùa đó vậy”. Chùa ấy ngày nay chỉ còn hai người ở giữ, buộc họ ở trong một gian tiểu thất. Nghi thức thờ cúng (hương hỏa) sơ sài, kinh kệ (phạm bối) vắng lặng. Tưởng tượng thời bấy giờ công việc phiên dịch Kinh Phật hưng thịnh với vài trăm tăng sĩ thì lòng chẳng kềm chế được niềm cảm khái vậy!

 

IX. CHÙA ÐẠI HƯNG THIỆN

Chùa Ðại Hưng Thiện cách ba dặm về phía nam chùa Ðại Tiến Phước, tức là sách Hàm Ninh Chí gọi: “Ở tại năm dặm bên ngoài cửa Vĩnh Ninh” ấy vậy. Xem xét thời Ðường thì Chùa Ðại Hưng Thiện ở tại trong phường Tĩnh Thiện bên trong quách thành ngoài Trường An. Diện tích ngôi chùa ấy chiếm vừa hết đất của một phường. Ngày nay ngôi chùa ở dưới một cánh đồng nhỏ, chiều dọc nam bắc chừng nửa dặm, chiều rộng đông, tây chẳng quá một trăm bộ. Xem ra ngày xưa, diện tích một phường thì sai biệt nhau nhiều!

Tên đầu tiên của ngôi chùa ấy là Tuân Thiện Tự, cũng tên là Xá Vệ Tự. Chùa sáng lập từ đầu đời Tấn, hưng thịnh ở đời Tùy đời Ðường. Chùa phỏng theo qui chế kiến trúc điện Chuyển Luân Tạng Kinh của Tây Trúc, thời Vạn Lịch đời Minh đã từng được sắc ban Tạng Kinh. Năm Khang Hy thứ bốn mươi lăm đời Thanh, chùa được trùng tu. Năm Ung Chính thứ mười ba Tân Tạng Kinh hoàn thành, chùa lại được ban cho. Sau ấy năm Giáp thìn, niên hiệu Càn Long chùa lại được Kinh Thiểm Phủ là Tất Nguyên trùng tu. Ðến khoảng năm Ðồng Trị gặp phải cảnh loạn lạc, ngôi chùa chịu sự đốt phá của loạn binh, đã giao một nửa cho đống tro tàn. Qua sự quyên góp của cải của ngài trụ trì Ngộ Liên v.v... ngôi chùa được trùng tu nên mới phục hồi đôi chút cảnh quan thuở trước. Xem xét sách Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ của Phí Trường Phòng ghi rằng: “Thành gọi là Ðại Hưng thành, điện gọi là Ðại Hưng điện, cửa gọi là Ðại Hưng môn, huyện gọi là Ðại Hưng huyện, vườn gọi là Ðại Hưng viên, chùa gọi là Ðại Hưng Thiện13. Từ hóa của Tam Bảo từ sự đại hưng đó, phong cách nhân từ của muôn nước nhờ sự “đại hưng” ấy mà xiển dương trở lại”. Ngày nay người ta đều tỉnh lược chữ “Ðại” mà gọi giản dị là “Hưng Thiện” thì mất đi ý nghĩa của mệnh danh vậy!

Biển ngạch của chùa đề rằng “Ðại Hưng Thiện Tự”. Bên trong cửa, phía trái phía phải là lầu chuông lầu trống. Chính giữa là đại điện mới tu sửa với diềm mái cất bay lên, cột vẽ màu, vàng ngọc sáng ngời. Chính giữa điện thờ pháp tượng đức Thích Tôn, thân vàng một trượng sáu, rất là trang nghiêm. Vách sau điện có khắc bài thơ “Khang Nam Hải Du Hưng Thiện Tự”, chữ hùng mạnh đáng xem. Ngoài ra còn có “Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ” của Hòa Thượng Mãn Ðức khắc năm Thiên Thuận thứ tư đời nhà Minh cũng có giá trị lắm, giữa là điện Phật. Trước điện có bia ghi việc trùng tu chùa Ðại Hưng Thiện vào năm Khang Hy thứ mười lăm. Sau nữa là pháp đường, phương trượng và liêu xá. Trước sân hoa cỏ cây cối bố trí thanh nhã thích hợp với mọi người. Tăng lữ hơn mươi người, ăn rau mặc áo vải, tu trì nghiêm cẩn. Tông Phong Mật Giáo nhờ đó mà chẳng đồi trụy.

Chùa Ðại Hưng Thiện ở đời Ðường là đạo tràng của Mật Tông. Thời Khai Nguyên ba vị đại sư Kim Cương, Trí Bất Không, Vô Úy trước thường dừng tích trượng (ý nói đến ở) nghỉ ở đây. Xem xét sách “Trường An Cổ Sát Ðề Yếu” của Tịch Viên cư sĩ có ghi rằng: “Ngôi chùa ở tại chỗ năm dặm bên ngoài cửa Vĩnh Ninh thành Tây An, phía đông nam cách chùa Ðại Từ Ân ba dặm, ngài Xà-la-cấp-đa14 đã từng dịch Kinh trong chùa ấy, chiếu triệu thỉnh tới hai mươi vạn tăng đồ. Sự hưng thịnh của việc đề xướng chiêu nạp đứng hàng đầu ở trong nước”. Số chúng tăng lữ thời bấy giờ quả thật làm người nghe phải giật mình vậy!

 

X. CHÙA ÐẠI TỪ ÂN

Chùa Ðại Từ Ân cách chùa Ðại Hưng Thiện ba dặm về phía đông nam, cách thành Tây An mười dặm về phía nam, cùng với Thái Bình bảo liên tiếp nhau. Tuy ngày xưa không nhiều trùng lâu, phức điện gác mây, phòng rộng nhưng ngày nay trụ, mái chùa hoằng tráng, Phù-đồ nguy nga, vẫn chẳng mất đi vị trí đứng đầu các chùa của thành Tây An. Ðối diện thẳng sơn môn có Thạch kiều (cầu bằng đá), tên đầu tiên là Ngộ tiên kiều (cầu gặp tiên), sau đổi là Từ hàng kiều (cầu thuyền từ). Ðồng thời có Ðóa Tích (?), phía đông thông với dòng Khúc Giang tức là Hoàng Ðóa (?) của ngày xưa vậy. Biển ngạch của sơn môn đề rằng: “Ðại Từ Ân Tự”. Bên trong có điện Kim Cương, lầu chuông lầu trống và các điện Quan Âm, Già Lam, Tổ Sư, Di Lặc, Ðại Hùng, Dược Vương. Sau điện Di Lặc lập rừng đá bia. Ðó là đá khắc tiến sĩ đề danh của đời Minh trở lại và công việc trùng tu tự vũ. Sau điện Ðại Hùng là tháp Ðại Nhạn rất nổi tiếng. Tháp hình vuông có bảy cấp, nền cao hơn một trượng, tầng nền có bốn cửa, bậc cửa có khắc đá đời Ðường, phần nhiều bị người đề danh đục đẽo, rất là đáng tiếc!

Nguyên do của danh xưng chùa Từ Ân thì xem xét sách Ðường Hội Yếu ghi rằng: “Chùa Từ Ân xây trên phế tích của chùa Vô Lậu đời Tùy tại phường Tấn Xương. Ngày hai mươi tháng mười hai năm Trinh Quán thứ hai mươi hai, vua Cao Tông ở tại Xuân Cung vì Văn Ðức hoàng hậu lập làm chùa nên lấy Từ Ân làm tên”. Chùa Từ Ân tại thời Ðường qui mô rất lớn, không đâu có thể sánh bằng. Tam Tạng pháp sư (chỉ ngài Huyền Trang) từ Ấn Ðộ thỉnh Kinh về lại đã từng dừng tích trượng ở chùa này. Xem xét sách Trường An Chí có ghi rằng: “Một nửa phường Tấn Dương về phía đông là chùa Ðại Từ Ân. Tây viện của chùa là Phù-đồ sáu cấp, cao ba trăm thước. Toàn chùa có hơn mười viện, độ tăng ba trăm, do ngài Huyền Trang làm Thượng tọa. Sự hưng thịnh của ngôi Phạm sát không đâu bằng”. Lại sách Tự Tháp Ký của Ðoạn Thành Thức ghi rằng: “Chùa Từ Ân, ngôi chùa vốn là ngôi Già Lam cũ Tịnh Giác, nhân đó mà xây dựng lên vậy! Thường có hơn mười viện, gồm hơn một ngàn tám trăm bảy mươi gian, vua sắc chỉ cho độ ba trăm vị tăng. Ðầu tiên, ngài Tam Tạng từ Tây Vực trở về, vua xuống chiếu sai Thái Thường Khanh Giang Hạ là Vương Ðạo Tông thiết bày chín bộ nhạc nghênh đón kinh tượng vào chùa. Xe trang trí lụa là có hơn ngàn cỗ, vua ngự trên An Phước môn quan sát”. Lại sách Huyền Trang Truyện chép rằng:“Vua Cao Tông tại cung, vì Văn Ðức thái hậu tìm phước mà tạo chùa Từ Ân và Viện phiên dịch Kinh. Bên trong cung xuất ra phan phướng lớn, lệnh cho chín bộ nhạc và tràng phan, bảo cái của các chùa trong kinh thành, mọi thứ khéo đẹp đưa ngài Huyền Trang và các vị Cao Tăng đã phiên dịch Kinh tượng v.v... vào chùa Từ Ân”. Xem xét phường Tấn Xương thì phường ở đường thứ nhất phía đông hoàng thành, đông - tây đều một trăm năm mươi bộ mà chùa Từ Ân chiếm đất một nửa phường thì có thể biết sự to lớn của diện tích ngôi chùa ấy! Tháp của chùa Từ Ân ngày nay ở tại chính giữa viện, tháp của chùa thời Ðường ở tại tây viện của chánh điện thì biết chùa Từ Ân ngày nay chính là tháp viện của chùa xưa ấy, chẳng phải là nguyên chỉ (nền) của chùa Từ Ân đời Ðường. Ngôi chùa vào khoảng năm Ðồng Trị đời Thanh cũng bị binh loạn đốt cháy phá hủy thì rõ ràng ngôi chùa hiện nay chẳng phải là chùa xưa vậy!.

Tháp Ðại Nhạn là do ngài Huyền Trang pháp sư sáng lập năm Vĩnh Huy thứ ba đời Ðường. Nền móng có bốn mặt đều một trăm bốn mươi thước, cao một trăm tám mươi thước. Ngoài xây gạch, trong ruột bằng đất, mô phỏng theo qui chế Tốt-đổ-ba (tháp) của Ấn Ðộ, dùng để an trí Kinh, tượng của Tây Vực. Trung tâm của mỗi tầøng đều chôn cất Xá-lợi. Tầng trên lấy đá làm buồng, mặt nam có hai tấm bia, ghi chép “Tam Tạng Thánh Giáo Tự Ký” của hai vị Thánh (Chỉ Thái Tông và Cao Tông nhà Ðường). Viết chữ cho hai bia ấy là bút pháp của Hà Nam Công Chữ Toại Lương. Ngôi tháp đầu tiên chỉ có năm tầng, về sau trong lòng tháp cây cỏ mọc đâm ra làm cho nghiêng đổ dần. Ở trong những năm Trường An, Võ Hậu và Vương Công cho tiền xây dựng lại gia thêm mười tầng theo phương thức xây dựng tháp chùa của Ðông Hạ (Trung Quốc), đặc biệt cao hơn trước. Tháp còn lại từ sau cuộc binh lửa của An Sử (An Sơn Lộc) chỉ có bảy tầng. Trong năm Trường Hưng, Tây Kinh Lưu Thủ là An Trọng Bá tu sửa một lần nữa. Phán quan Vương Nhân Dụ vì việc này viết bài ký. Tháp Nhạn hiện nay tức là di chế của thời sửa sang ấy vậy. Về mệnh danh của Nhạn Tháp thì xét sách Chí Lâm có ghi rằng: “Chùa Từ Ân đời Ðường, có con nhạn bay đến sân, tăng chúng bắt được đem nấu ăn, một vị lão tăng nói rằng: “Ðây là vua Nhạn vậy”. Nhân đem chôn xác Nhạn rồi xây tháp lên trên, gọi là “Nhạn Tháp”. Xem xét Tam Tạng pháp sư truyện thì cũng có nói việc đó.

Việc Nhạn Tháp Ðề Danh của Chùa Từ Ân bắt đầu ở những vị Tiến sĩ đời Ðường. Xét sách Thiểm Tây Thông Chí ghi chép bài Từ Ân Nhạn Tháp Ðề Danh Tự của Phàn Sát đời Tống, nói rằng: “Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, những Tiến sĩ đăng khoa đều ban cho du lãm trên sông, đề danh dưới tháp Nhạn, từ đó đã trở thành cố sự. Tỉnh lược cho hương thí đề danh Nhạn tháp bắt đầu từ năm Ðinh Mão Chính Ðức đời Minh. Kẻ chép sách Thánh Hiền đời sau ái mộ việc ấy nên tranh mô phỏng nhau. Ðến đời Thanh phong trào ấy cũng chẳng suy giảm nên việc khắc đá đề danh trong viện thì đời Thanh hơn phân nửa trong số ấy vậy!” Việc khắc đá trong chùa Từ Ân hiện nay so ra danh tiếng quí báu hơn thì ngoại trừ hai cái Ðà-la-ni Kinh Tràng ở trước điện được tạo vào năm Hàm Thông thứ tám, còn có “Nhị Thánh Chế Thánh Giáo Tự” do Chữ Toại Lương viết chữ, khắc sâu vào vách phía nam của tháp và việc khắc đá đề danh của Lữ Ðại Phòng, Phạm Thuần Nhân v.v... đời Tống trên bậc ngang cửa phía tây tháp.

Thơ của người xưa ngâm vịnh tháp của Chùa Từ Ân rất nhiều, nay chẳng thể trích lục đầy đủ, chỉ chọn một bài “Ðăng Từ Ân Tự Phù-đồ” của Sầm Tham mà chép ra sau đây để làm phần kết thúc bài viết. Bài thơ ấy là:

Tháp thế như dũng xuất

Cô Cao tủng thiên cung

Ðăng lâm xuất thế giới

Ðặng đạo bàn hư không

Ðột ngột áp Thần Châu

Tranh vanh như quỉ công

Tứ Giác ngại bạch nhật

Thất tằng ma thương khung

Hạ khuy chỉ cao điểu

Phủ thính văn Kinh phong

Liên sơn nhược ba đào

Bôn thấu tự15 triều đông

Thanh hòe Giáp trì đạo

Cung quán hà linh lung

Thu sắc tùng tây lai

Thương nhiên mãn Quan Trung

Ngũ Lăng bắc nguyên thượng

Vạn cổ thanh mông mông

Tịnh lý liễu khả ngộ

Thắng nhân túc sở tông

Thệ tương quải quan khứ

Giác đạo tư vô cùng

Tạm dịch:

Thế tháp như vọt thẳng

Cất cao tận trời xanh

Ði lên ra thế giới

Ðường bậc lượn vào không  

Ðột ngột áp Thần Châu16

Chênh vênh như quỉ công17

Bốn góc cản vầng nhật

Bảy tầng mó trời xanh

Dòm xuống đếm chim liệng

Cúi nghe gió kinh hoàng                    

Núi liền như gợn sóng

Vội họp chầu về đông

Bên đường hòe xanh thắm

Cung quán sao lung linh

Sắc thu từ tây đến

Trời xanh đầy Quan Trung18

Ngũ Lăng19 trên đồng bắc

Vạn cổ xanh mênh mông

Tịnh lý rồi được ngộ

Thắng nhân sớm qui tông

Thề đem treo mũ áo

Giác đạo vốn vô cùng.

 

XI. NAM NGŨ ÐÀI (NÚI NGŨ ÐÀI PHƯƠNG NAM)

Núi phía nam Tây An, xưa gọi là “Chung Nam ” hoặc gọi là “Trung Nam ”, danh xưng núi ấy bất nhất. Tên Chung Nam thấy ở sách Thượng Thơ Thiên Vũ Cống “Chung Nam đôn vật đến từ Ô Thử”. Lại thấy ở Mao Thi: “Chung Nam có gì? - Có cành nhánh, có cây mai”. Tên Trung Nam thấy ở Thi Mao Thị Truyện sớ giải Tần phong thiên: “Trung Nam núi danh tiếng khắp vùng Chung Nam”. Lại thấy ở Tả Truyện: “Tư Mã Hầu nói rằng: Ðường của Tứ Nhạc (Bốn ngọn núi), nhà lớn Dương Thành thì Kinh Sơn, Trung Nam, Cữu Châu hiểm trở vậy”. Tên Nam Sơn thấy ở Hán Thư bài Thượng Lâm phú trong truyện Tư Mã Tương Như: “Núi Cữu Tông () hiểm trở, Nam Sơn chót vót; thầy xưa chú thích rằng: Nam Sơn là núi Chung Nam vậy”. Lại thấy ở Hán Thư truyện Ðông Phương Sóc: “Ôi! Nam Sơn, nơi hiểm trở của thiên hạ vậy”. Chung Nam cũng tên là Tần Lĩnh. Tây Kinh Ký nói rằng: “Ngọn núi hướng chánh nam Tràng An tên là Tần Lĩnh, phía đông khởi từ Thương Lạc20, phía tây đến tận Khiên Lang21, từ đông sang tây đến tám trăm dặm. Dòng nước từ núi ở phía bắc chảy vào sông Vị , hiệu là Bát Bách Tần Xuyên” đó vậy! Cựu ký ghi rằng: “Chỗ sâu núi Nam cao mà lớn mạnh thì gọi là Tần Lĩnh”. Nhưng mà Chung Nam, Tần Lĩnh vốn là một ngọn núi vậy! Nam Ngũ Ðài là những chi phụ (gò, núi) của Chung Nam, cách phía nam thành Tây An năm mươi dặm. Ngũ Ðài ấy là “Ðại Ðài”, là “Linh Ứng” là “Quan Âm”, là “Văn Thù”, là “Xả Thân”. Rừng khe u mỹ, núi quanh co kỳ tú, cũng là vùng đất danh thắng của miền Tần Trung vậy. Tôi có bệnh đam mê sơn thủy, hâm mộ danh tiếng vùng ấy, muốn mang guốc gỗ vãng du lâu rồi vậy!

Bảy giờ sáng ngày hai mươi lăm tháng tư năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy, một mình tôi chống gậy ra đi du lãm Nam Ngũ Ðài. Ra khỏi cửa Vĩnh Ninh thành Tây An đến Nam quan, rồi đi xe ngựa theo công lộ về phía nam. Sáng sớm, mặt trời mới mọc, màu xuân hợp với người, lá liễu xanh xanh hướng về khách như cười cợt. Ði qua chùa Ðại Hưng Thiện, trông về phía đông, tháp Ðại Nhạn bốn góc chênh vênh đứng cao sừng sững trong mây, hình trạng Tây Kinh chấm hết ở đây! Mười lăm dặm trèo lên Tháp Pha (địa danh), nhìn trở lại thấy sóng lúa mạch rập rờn theo gió y như biển xanh. Xem xét lời Trường An Chí ghi rằng: “Cánh đồng Thiếu Lăng từ tây bắc cánh đồng Long Ðầu đến phía tây Hàm Ninh - Vi Khúc vào ranh giới huyện là Tháp Pha”. Lại, Trường An Ðồ chép rằng: “Tháp Pha ở tại phía tây Vi Khúc, vì đất ấy có Phù-đồ (tháp) nên có tên đó”. Ði năm dặm nữa, xuống khỏi Tháp Pha là đến Vi Khúc, tôi liền xuống xe đi ăn uống. Vi Khúc là một hương trấn nhỏ, thời Ðường những người họ Vi đời sống ở đây, nhân đó mà có tên. Thơ Ðỗ Phủ có câu: “Vi Khúc hoa vô lại” tức là chỉ nơi đây. Xét về thời Ðường thì họ Vi, họ Ðỗ được đời xưng là vọng tộc. Chỗ họ Vi ở gọi là Vi Khúc, chỗ họ Ðỗ ở gọi là Ðỗ Khúc. Tân Thị Tam Tần Ký ghi rằng: “Họ Vi họ Ðỗ của Thành Nam cách trời năm thước” là lời cực tả sự cao quí của hai họ ấy vậy. Tôi hỏi thăm về người họ Vi đang ở đây thì người trong thôn phần nhiều là kẻ không có trí, ôi ruộng dâu biến thành biển xanh! Thật đáng ngậm ngùi vậy!

Từ đây theo công lộ dời bước đi về phía nam chừng hai mươi dặm nữa thì đến sông Duệ. Xem ra Duệ Hà cũng tên là Trầm Thủy, nguồn phát xuất từ Miết Cốc (hang ba ba) núi Nam Sơn. Dòng Tây Sơn chảy qua Thân Ðiếm (?), Hạnh Giá Pha (?) rồi rẽ làm hai: Dòng phía bắc là Tạo Thủy, dòng phía tây nam chảy vào sông Giao. Ðọc sử Phương Dư rằng: “Cuối đời Hán, Ngũ hầu họ Vương22, sửa trị lớn ao đầm đã dẫn nước sông Duệ vào thành Trường An. Bá tánh ca ngợi họ rằng: Khơi tháo cao đô, nối liền ngũ Ðỗ. Năm Chí Ðức thứ hai đời Ðường, Quách Tử Nghi đánh bại giặc ở Bạch Cừ, liền từ Tây Vị Kiều tiến đến đóng quân ở sông Duệ”, đều là ở đây cả. Hai bờ của dòng sông, ruộng lúa nước dọc ngang, cỏ thơm cây ngọt, trông xa không bờ bến. Phía đông sông ấy là Hoàng Tử Pha, cũng có công lộ (đường cái quan) thông với Thái Ất cung. Xem ra Hoàng Tử Pha là do ở vùng đất nghiêng (Pha) chôn Hoàng tử đời Tần khởi dựng nhà trên bình nguyên phía bắc nên có tên đó. Vua Văn Ðế đời Tùy đổi tên là Vĩnh An Pha.

Tôi liền từ thạch Kiều qua sông đến Pha Ðiếm, phía tây nam thôn có chùa Hương Tích là ngôi cổ sát đời Ðường, tức điều mà thơ của Vương Duy đã gọi rằng:

Bất tri Hương Tích Tự

Sổ lý nhập vân phong

Cổ mộc vô nhân kính

Thâm sơn hà xứ chung?

Tạm dịch:

Chẳng biết chùa Hương Tích

Vài dặm vào núi mây

Cổ mộc không người viếng   

Núi sâu chuông đâu đây?

(Tuệ Khai dịch)

đó vậy. Qua khỏi thôn đi về phía đông nam chừng hai dặm nữa là đến cách đồng Thần Hòa. Trường An Huyện Chí ghi rằng: “Cánh đồng Thần Hòa từ chân núi phía bắc Thái Ất sơn của Hàm Ninh, theo chiều tây bắc đến Hạnh Giá Pha vào biên giới của huyện, dòng Giao Thủy phát xuất từ phía tây nơi ấy, dòng Duệ Thủy phát xuất từ phía đông nơi ấy, là ranh giới hai dòng sông”. Trên cánh đồng đều là ruộng tốt lúa ngon, hoa lúa mạch thơm ngọt ngào, ruộng thấp, gò cao liên tiếp. Ðời ngợi khen là một vùng trù phú (phong hạo), rằng là “Lục Hải” (biển đất bằng), “Thổ Cao” (chất keo đất) quả thật chẳng hư dối vậy.

Ði mười dặm nữa thì ngay trước mặt là một phường, biển ngạch đề ba chữ vàng lớn “Hoàng Bộ Thôn”. Thôn ấy nguyên tên là Hoàng Phủ Thôn, từ sau khi phân hiệu của Trung Ương quân hiệu được thiết lập ở Nam Sơn mới đổi tên như hiện nay. Lưng thôn dựa vào cánh đồng Thần Hòa, trước mặt thôn là dòng Giao Thủy. Dân phần nhiều ở trong hang đất (Thổ huyệt), có phong cách sống rất xưa vậy. Trước thôn có một ngôi chùa cổ vì được cảnh vệ nghiêm ngặt, nên chưa kịp đến chiêm lễ mà liền đi. Trông về phía tây, bờ ruộng dọc ngang, cây phủ muôn nhà, một khúc quanh nước chảy lăn lăn, thật đáng ngắm xem! Mục đồng dăm ba đứa buộc trâu dưới bóng liễu, ngồi trên cỏ, cười đùa vui vẻ, hình như chẳng biết thế giới đang có chiến tranh binh lửa. Thật chẳng lường được nơi đây còn có một gốc Ðào Nguyên vậy! Dựa theo núi đi về phía đông nam năm dặm nữa là đến Vương Khúc trấn, trấn ở tại bờ đông dòng Giao Thủy, có tiệm phố, bưu cục, bến xe, tiệm sách... nghiểm nhiên là một thị trấn núi, hiện đại hóa vậy. Xét về dòng Giao Thủy thì có một tên là Phước Thủy, nguồn của nó phát xuất từ Trúc Cốc (hang tre) núi Nam Sơn. Hà Cốc (miệng sông) rộng bốn, năm dặm tức là sông vua nghỉ lại đêm đời Hán. Dòng sông là trên đất vườn rừng đời Hán, vua Võ Ðế đã làm ngôi biệt quán ly cung, cấm người du lịch tham quan. Do vua dừng chân nghỉ ở đây nên đặt tên là Ngự Túc. Vào quán trà uống trà, nghỉ ngơi một chút, rồi lại theo công lộ tiến về trước. Trông về phía nam, núi Chung Nam, ngọn núi lạ lùng xanh ngắt, hơi núi lạnh, trời mây xanh biếc, muôn trạng xanh tía, Nam Ngũ Ðài quanh co tầng lớp đẹp đẽ hiện ra uyển chuyển như chuông úp, đỉnh sắp bày la liệt, mây trắng lớp lớp kéo tận vùng núi non xa tít. Nhớ thơ của Vương Ma-cật23:

Bạch Vân hồi vọng hợp

Thanh ái nhập khán vô

Phân dã trung phong đoạn 

Âm tình chúng hác thù...    

Tạm dịch:

Mây trắng trông lại hợp

Trời xanh vào xem không

Chia giữa đồng núi cắt

Âm tạnh hết mọi hang

    (Tuệ Khai dịch)

Quả là cảnh thật vậy.                           

Ði tám dặm nữa thì đến Lưu Thôn, trong thôn có chùa Quảng Huệ và chùa Viên Quang. Ði tiếp hai dặm là đến Trúc Cốc Khẩu, ngồi dưới bóng cây bên sông nghỉ một chút. Hoa dại nở khắp nơi, tiếng chim kêu ríu rít chẳng dứt. Thơ Sầm Tham viết rằng:

Liêu liêu nhân cảnh ngoại

Nhàn tọa thính xuân cầm

    Tạm dịch:

Ngoài cảnh người vắng vẻ

Ngồi nhàn nghe chim xuân.

   (Tuệ Khai dịch)

Chắc là vì ta mà vịnh vậy. Leo lên sườn núi, qua khỏi cái cầu bằng đá là đến chùa Di Ðà, ngôi chùa cũng là một ngôi Cổ Sát đời Ðường, có điện vũ hơn mười gian, qui chế rất rộng. Ðứng ở đây trông về hướng tây nam, ngọn Cô Phong cắm lên trời là Tôn Ðăng đài vậy. Vào chỗ hang thông tựa vào núi nương theo suối mà đi, dòng biếc mênh mang, lòng rung động, buồn lo sạch trơn. Qua khỏi chùa Lưu Thủy Thạch, đi hai dặm nữa thì đến chùa Hưng Bảo Tuyền. Có ba gian gác ngói, băng ngang qua giữa suối, dưới là đường thông qua lại. Từ đây mà lên, núi xoay đường chuyển, tuyệt không có dân cư, đường hoang vắng vẻ chỉ thấy tiều phu mà thôi. Qua Bạch y đường, Ðại Bi đường, Cam Lộ đường đi thêm bốn dặm qua cái cầu đá là đến chùa Trúc Lâm. Ðối diện với Sơn môn là điện Phật nhỏ, bên trong có một pho tượng Kim thân Văn Thù đắp bằng đất, rất nhiều giá trị nghệ thuật. Bên ngoài có ba gốc cổ hòe đều to bằng vài người ôm, ngờ là sản vật đời Ðường. Phía trên bên phải là điện Ngũ Phật, bên phải điện có đường ba ngã tức là đường tắt của Tôn Ðăng đài. Trên Tôn Ðăng đài có một tòa điện vũ như xây dựng ở trên mũi gai táo, mũi kim khâu, tùng bách vòng quanh xinh đẹp đáng yêu. Vườn tháp trong cốc phía đông bắc đài ấy có tháp Xá-lợi của Ấn Quang đại sư, vì đường hoang vu chưa đến chiêm ngưỡng lễ bái được.

Qua Triều Thiên môn là Nhất Thiên môn, kẹp giữa hai mép núi, điện vũ chính là chỗ hõm ấy. Tiếng nước rì rào, vui tai sạch lòng. Lại đi thêm ba dặm là đến chùa Quan Âm. Vào chùa uống nước nghỉ ngơi một chút. Rồi từ đây leo lên, rừng sâu cây rậm, hang tối đá lạ, vào dần cảnh trở nên đẹp. Núi vừa lúc hoa đào nở rộ, sặc sỡ như gấm. Ngước nhìn Ngũ Ðài, tùng xanh sum suê, lầu các rạng ngời, phong cảnh như vẽ, thực chẳng hư dối vậy. Qua khỏi Cổ Loan Bách Thọ, Cổ Thắng Bảo Tuyền, đi ba dặm nữa thì đến Cổ Tây Phương Cảnh, các cửa chùa đều đóng khóa, hình như không người ở. Bên phải điện có một khối đá lớn, đường kính được bốn trượng, cao được tám trượng, bên trên xây một gian đình bằng ngói, một bên đục bậc đá có thể leo lên. Trước cửa có nhiều cây giãi, lá vừa một tấc lá non xanh có thể ăn được. Trên nữa là đường leo lên uốn khúc (quanh co), cứ mười bộ một lần chuyển, hương hoa u thảo quyện theo tay áo người. Qua am Từ Hàng, xuống Bảo Tuyền lại đi thêm ba dặm là đến Viên Quang đường. Trên ấy có một ngọn núi tròn như nắm tay, đứng một mình cao ngất, từ dưới dòm lên như không phụ thuộc vào đâu cả. Ðỉnh xây dựng điện vũ hơn mười gian, cổ thụ ngã rũ xuống, cành lá giao nhau rợp bóng, tràn đầy họa ý (ý vẽ). Bước theo cấp xoay tròn mà lên thì ngay trước mặt một cái cửa mà biển ngạch đề rằng: “Nhị Thiên Môn”, xuyên qua cửa lên nữa, qua chùa Di Phật, cung Nghinh Chân, lại đi hai dặm nữa là đến Ngũ Thánh điện, trên ấy có động Hỏa Long, sâu chỉ vài thước, hẹp chẳng quan sát được. Qua điện Lưu Ly, chùa Thạch Phật, bên đường cũng có một khối đá lớn quí lạ hùng vĩ, chẳng thể theo hình trạng đặt tên. Qua chùa Thiên Phật, Thùy Phật điện, Tam thiên môn, động Lữ Tổ24 rồi đi bốn dặm nữa là đến cung Tam Thánh. Trước cung có bình đài lan can bằng đá vừa ứng hợp với hõm núi, có thể băng vào đây để ngắm nhìn ra xa. Trông trở lại Tôn Ðăng đài thì trao riêng cho gió bên dưới vậy! Lại theo bậc leo lên, bậc đá trơn nhẵn, chuyển rẽ thêm nhiều lần, làm cho người nghẹn thở toát mồ hôi chẳng thôi. Trông về đông, ngọn Linh Ứng, cốt đá cao chót vót, trụ ngọc chống trời, tợ như chẳng thể tới gần vậy. Lại đi nửa dặm là đến Tứ Thiên Môn (còn gọi là Ta La Bình), vào chùa uống vài chén trà cùng với tăng nói chuyện bâng quơ giây lát, liền ra đi.

Rẽ ngang sau lưng đài lớn, chuyển sang hướng đông bắc mà đi, ngay trước mặt những ngọn núi liền nhau nhọn hoắc xanh biếc giống như măng tre mùa xuân. Qua ngọn núi nhỏ là Văn Thù đài, theo cấp mà lên, chỗ đường bậc hết thì nhặt đá xếp làm đường. Thường vài lần rẽ mới đến được đỉnh núi ấy, trên có điện vũ chín gian, bên dưới sơn môn bậc đá cao bỗng dứt tuyệt. Ðứng ở Sơn môn trông về phía bắc, ngọn Linh Ứng, núi lởm chởm cao hàng vạn nhẫn (đơn vị đo lường đời Chu), trơn nhẵn chẳng bám chân. Cúi nhìn hang sâu, tùng cao rậm rạp, tiếng sóng đầy tai. Cái lạ lùng của phong cảnh mà Thanh Thành, Nga Mi không có vậy. Gõ cửa xong thì cửa đã mở, thấy một vị lão tăng đón mời mười phần hợp nhau. Vị tăng tên là Ðại Thừa, người Sơn Ðông, cùng uống trà, nói chuyện một lúc, rồi đứng lên từ tạ ra đi. Xuống đài Văn Thù, đi về phía bắc vài mươi bộ, cũng có điện vũ vài gian gọi là Thanh Lương đài. Ngọn núi này cùng với Văn Thù đài nguyên là một thể, thế chẳng thể phân chia mà lại lập riêng môn hộ, tôi cảm thấy thế nào ấy! Ngôi chùa ấy cũng chỉ có một người trụ trì, đình vũ vắng lặng, bụi hồng chẳng bám đến, thanh tịnh nhàn dật, thật đáng ham muốn vậy.

Từ đây bước theo bậc mà xuống, qua ngọn Trắc Lĩnh (ngọn núi nghiêng), rồi lại leo lên là Linh Ứng phong. Gió bấc bỗng thổi, thế mạnh muốn bẻ gãy cây, bậc đi lên nghiêng nghiêng hiểm trở sợ vấp ngã. Trên đỉnh có điện vũ hơn mười gian đứng một mình như treo lơ lững, bốn bề cao chót vót. Bên dưới ấy tùng lạ um tùm quanh co sườn núi rợp miệng hang. Bài thơ Du Võ Ðang của Vương Thế Trinh có câu:

Hữu hác nan khuy địa

Vô phong bất thích thiên

     Tạm dịch:

Có hang khó dòm đất

Không núi chẳng chọc trời.

(Tuệ Khai dịch)

cũng có thể chiếu theo núi này mà miêu tả. Xô cửa mà vào, thấy có lối bốn, năm người nam nữ vừa tăng vừa tục đang vo gạo thổi cơm. Tôi lễ Phật xong, đứng hồi lâu ở trước điện, trông về nam, năm ngọn núi xếp la liệt, xanh biêng biếc tràn cửa sổ. Ðại Ðài cùng hai đài Văn Thù, Thanh Lương, cái cao, cái thấp rợp bóng nhau rõ là như Bồng Lai Tam Ðảo. Xuống đài Linh Ứng, đi về hướng bắc, thì lại lên đài Xả Thân. Ðài này so với các đài khác thì nhỏ hơn, trên có một gian điện vũ, mặt đông có vách núi cao vài mươi trượng gọi là Xả Thân Nham (núi Xả thân). Từ đây đi về phía bắc, rồi leo lên là đài Quan Âm, trên đỉnh cũng xây dựng hơn mười gian điện vũ, đài cao, thềm phức hợp, đứng hiên ngang cao chót vót. Trông về phía đông bắc là chùa Thiên Trì và tháp của Vô Hoài Thượng Nhân, rõ ràng như ở tại ghế tại chiếu (trông rõ mồn một).

Xuống khỏi đài Quan Âm, theo đường cũ rẽ trở về, đi quanh ngọn Văn thù về phía nam, thường vài lần chuyển mà leo lên Ðại Ðài, trông về nam núi non cuồn cuộn dài suốt như muôn cái hốt (vật quan cầm ở tay khi chầu vua) chầu trời, chứa tuyết dồn hơi lạnh (khí âm), sáng sủa chưa tan. Trông về bắc là bình nguyên miên man xa tít, dòng sông như dải lụa, ruộng đậu nương lúa như dệt xen nhau đẹp bội phần. Ðộc Sử Phương Dư rằng: “Bởi mạch núi Chung Nam khởi đầu ở Côn Lôn, đuôi ngậm Tung Nhạc, Chung Linh sinh tú khí, to rộng đẹp đẽ lạ lùng, làm bình phong phía nam của kinh đô, là lá chắn lớn của Ung, Lương. Trong ấy quanh đi quẩn lại những là núi thẳm hang sâu, chẳng thể tham cứu hết. Quan Trung có việc Trung Nam (Chung Nam)25, ấy là nhất định tranh về hiểm trở vậy”, đó là điều đáng tin! Ðại Ðài là đài cao nhất của Ngũ Ðài, trên đỉnh xây dựng hơn hai mươi gian điện vũ. Những viện lạc ấy rộng rãi so với những nơi khác hơn hẵn. Vào đại điện, thấy một vị lão cư sĩ vừa đốt hương lễ Phật, tôi hỏi vị tăng trụ trì ở đâu? Ðáp rằng, đã đi xuống núi rồi. Rồi lại thấy một sĩ quan quân đội trẻ tuổi tự nói rằng, họ La tự là Khoan Phác, người Trường Sa tỉnh Hồ Nam, hiện công tác ở Cục Trắc Lượng bộ Quốc Phòng, theo lệnh đến đây đo lường vùng tam giác này. Ðồng ngồi với nhau dưới mái vũ, uống trà tâm sự một lúc.

Từ Ðại Ðài bước theo bậc xoay tròn xuống phía nam, vượt qua Lĩnh Ác, lại ba lần rẽ là đến Ðại Mao Bồng. Chùa có điện Phật ba gian, nhà khách ba gian, hai ngọn núi bên trái bên phải cất cao lên làm cọc tiêu, trước mặt dẫn đến cái hang sâu tối, tùng xanh che mặt trời, phong cảnh trong sạch tuyệt vời. Vào Mao Bồng lạy Phật xong, vâng theo lời mời của Bổn Lập Thượng Nhân và Pháp sư Tuệ Minh vào ngồi ở nhà khách, rửa mặt, súc miệng xong liền tùy hỷ thọ trai, rau núi vài món, mùi vị rất ngon lành, trân tu hải vị chẳng đổi được vậy. Sau khi ăn, tôi bước ra bên ngoài điện, mặc tình thưởng lãm gió mát, thấy bên phải điện có một cái gò tròn nhỏ, trên ấy cổ mộc chen lên trời xanh, vừa to vừa nhỏ (như cái chén uống rượu) lô nhô. Mặt nam ở ven núi cheo leo có động Tương Tử. Tương truyền rằng, Hàn Tương Tử đời Ðường và hai vị Tăng Tính Thiên, Văn Lý thời Gia Tĩnh đời Minh đã từng tu đạo ở đây. Trong hố có cây nở hoa trắng, trắng ngần như tuyết, cùng với tùng xanh ánh nhau càng tăng thêm vẻ đẹp kỳ thú. Tham quan non nước Chung Nam, gọi lại có đủ vẻ hùng, kỳ, u, tú... thì biết là những cao tăng, danh sĩ đời Ðường đã theo nhau dừng nghỉ ở đây rồi đến nay có mình vậy! Ðêm cùng với pháp sư Tuệ Minh nhắp trà bàn về thiền lý càng khoái chí bình sinh. Thầy nói rằng: “Mao Bồng lớn nhỏ ở Nam Sơn không chừng đến vài trăm chỗ, đó là những chỗ có chúng tăng, đạo sĩ tu chân tập tịnh. Họ đều là những người tu trì nghiêm cẩn, trồng khoai, cấy lúa, tự nuôi sống. Vậy thì so cùng với những Ðại Tòng Lâm ở lầu cao, được cấp ruộng mầu mỡ, ăn sang ở sướng, chẳng lý đến việc sản xuất thì khác xa vậy”. Tôi nói lại với thầy rằng: “Rất tốt! Thời gian lần lữa qua hết, ngày nay tôi mới lĩnh hội qua được mùi vị đậm đà chân thật của kiếp người, đợi ngày mai đất nước thanh bình, nhất định sẽ kết mối duyên tái lai vậy.” Trao nhau một nụ cười, rồi về giường riêng ngủ. Mùng mền thanh khiết, không bị rệp, trùng quấy nhiễu, không sơn (cảnh núi) vắng lặng, hồn mộng đều thanh tịnh.

Sáng ngày hai mươi sáu thức dậy, rửa tay súc miệng xong, từ biệt pháp sư Tuệ Minh. Rồi cùng hai vị thượng nhân Bản Lập và Giới Hiền, rời khỏi Ðại Mao Bồng, theo đường phía đông xuống núi. Qua ba lần rẽ là đến Phược Long Thung, có một trụ đá cao chừng năm thước đứng ở trước Tiểu Mao Bồng. Tương truyền ngày xưa có một con hỏa long tinh, thường hóa làm người vào Trường An mua thuốc, thỉnh thoảng ưa làm hại người. Ðức Bồ-tát Quan Âm phát lòng đại bi, lập kế bắt con hỏa long cột vào cây thang đá để chế ngự nó, nhờ đó người ta chẳng bị hoạn nạn nữa. Thuyết này tuy là thần thoại nhưng ý cũng đã nói đến việc ngài An Thiền khống chế rồng của Kinh thần chú vậy.

Lại xuống thêm vài lần rẽ là đến một tiểu lĩnh, phía đông núi ấy cao lồng lộng gọi là Hiền Thánh Ðài, cũng có xây dựng điện vũ hơn mười gian, vượt qua tiểu lĩnh đi về hướng chánh bắc, hai bên đường đều là những gốc tùng đại thọ, cành nhánh tiếp nhau, bóng cây che vài mẫu, qua khỏi Thập Phương Phổ Ðồng Tháp, ngồi trên đá nghỉ ngơi một chút, đi thêm bốn dặm là đến Ðẩu Mỗ đường, trông trở lại Ngũ Ðài thì núi linh thăm thẳm mà vẫn y vậy chẳng xa cách chút nào. Lại đi ba dặm thì đến chùa Hoa Nghiêm, có một đường thác nước đổ từ trên cao xuống, tiếc là thế nước chẳng hùng tráng lắm vậy. Lại đi ba dặm là đến Thạch Miết Ðậu, do miệng cốc có khối đá lớn như con ba ba nên đã thành tên. Cốc này cũng gọi là Thái Ất cốc. Lữ Ðại Phòng nói rằng: “Nhà Tùy xây đô thành, phía nam thẳng đến cốc Thạch Miết của Nam Sơn”, tức là chỉ chỗ này vậy. Nước từ cốc chảy ra tức là dòng Duệ hà, phía bờ đông sông ấy có con đường đi ngựa, có thể thông đến núi Thúy Hoa. Núi Thúy Hoa cũng là một danh thắng của Nam Sơn, nay là đất sở tại phân hiệu của Trung Ương Quân Hiệu. Vì khu quân sự nên không được đến du lãm, chỉ có đợi một ngày khác thôi vậy. Bờ phía tây của cốc, có xây dựng một tòa lầu mới theo kiểu phương tây (chỉ Châu Âu), rừng cây che lấp, phong cảnh tuyệt đẹp. Theo con đường quanh co ở bờ phía tây cốc đi về hướng chánh bắc, ra khỏi cốc, lại đi năm dặm là đến Thái Ất Cung. Cung hiện nay bị trường Trung học Trung Chính chiếm mượn, nó cũng là ngôi cổ miếu của đời Ðường vậy. Ngay ở đây tìm quán ăn, ăn xong bỗng trời kéo mây trùm khắp, mưa phùn bay lả tả, tôi liền cùng với hai vị thượng nhân bái biệt, một mình giương ô (che dù) đi trước. Theo đường ngựa đi về phía bắc, hai bên đường có hai con kênh dẫn nước, thôn dân nhờ đó mà tưới tiêu rất tiện lợi. Trông về đông, sườn núi mênh mông nổi lên tức là cánh đồng Long Thủ, cũng gọi là Long Thủ Sơn. Ðuôi nó khởi lên từ Phàn Châu, đầu vào sông Vị, chiều nam bắc dài sáu mươi dặm. Ðời Tùy cho thành Trường An hẹp nhỏ, mới đổi làm kinh đô mới ở trên Long Thủ nguyên. Ði năm dặm nữa, xuống khỏi sườn núi là đến Phàn Xuyên. Xét ra Phàn Xuyên vốn là Phàn Hương của huyện Hán Ðỗ. Vào đầu đời Hán, Phàn Khoái được ban thực ấp ở đây, nhân đó mà thành tên. Sử xưng là năm Trinh Quán thứ mười bốn đời Ðường có cuộc đi săn lớn ở Phàn Xuyên, tức là nơi đây. Sườn núi cao phía bắc chỗ ấy tức là Ðỗ Lăng Nguyên (Cánh đồng Ðỗ Lăng), trên có hai ngôi mộ Ðỗ Lăng cùng Thiếu Lăng. Ðỗ Lăng là lăng của Hán Tuyên Ðế, Thiếu Lăng là lăng của Hứa Hậu. Hứa Lăng cách Ðỗ Lăng hơn mười dặm về phía đông nam, lăng nhỏ hơn nên gọi là Thiếu Lăng. Về phía tây Lăng có nhà cũ của Ðỗ Phủ, ông tự xưng là “Ðỗ Lăng Bố Y”. “Thiếu Lăng Dã Lão” bởi do đây vậy.

Về phía đông bắc mã lộ chừng hai dặm, trên Ðoan Ðoạn Nhai phía nam Ðỗ Nguyên có chùa Ðại Ðường Hưng Giáo, tháp Xá-lợi của pháp sư Huyền Trang ở tại đây. Xem xét về đường Tam Tạng Huyền Trang pháp sư thì ngài tục danh là Huy, họ Trần, nguyên quán huyện Trần Lưu tỉnh Hà Nam, ông Tổ đời sau mới dời về ở Hầu Thị. Sư sinh ra ở Trần Thôn, cốc Phượng Hoàng phía tây bắc chùa Thiếu Lâm, hậu duệ của Trần trọng Cung (Thật) đời Hán vậy. Năm mới mười ba tuổi liền theo anh thế độ (xuất gia) ở chùa Tịnh Ðộ tại Lạc Dương. Về sau, tránh loạn Vương Thế Sung ngài vân du khắp các danh lam cổ sát của miền Tần, Thục, Kinh, Tương. Năm Trinh Quán thứ ba đời Thái Tông, sư năm hai mươi sáu tuổi, quyết chí từ Trường An đi đến Ấn Ðộ du học. Tại Ấn Ðộ, ngài nghiên cứu tinh thông nội điển. Ngài ở đó mười sáu năm, đến năm Trinh Quán thứ mười chín mới chống tích trượng trở về Kinh sư. Triều đình xuống chiếu cho Ðại Thường Khanh Giang Hạ là Vương Ðạo Tông thiết bày chín bộ nhạc, đồøng thời ra sắc chỉ đem tràng phan, bảo cái của các chùa trong kinh thành, mọi thứ kỷ nhạc đưa ngài và các vị Cao Tăng phiên dịch Kinh tượng vào chùa Từ Ân. Ngài thị tịch tại chùa Tây Minh vào năm đầu niên hiệu Lân Ðức thời vua Cao Tông, hưởng niên sáu mươi ba tuổi. Vua xuống chiếu an táng Ngài ở bờ đông dòng sông Sản, người đưa đám táng có hơn hai trăm vạn người. Ðến năm Tổng Chương thứ hai lại dời tháp về cánh đồng phía bắc Phàn Xuyên, đồng thời xây dựng chùa để thờ phụng. Về sau tháp của hai nhà sư Viên Trắc và Khuy Cơ cũng phụ cận bên trái, bên phải tháp của ngài. Chỉ là lâu năm không được sửa sang nên tháp, chùa trở nên điêu tàn. Ðến đầu thời Dân Quốc chỉ còn là một ngôi nhà nát với ngói đất ngổn ngang, người nhìn thấy thương cảm lắm! Năm Dân Quốc thứ mười một, trụ trì là Pháp sư Diệu Khoát đã xin quyên góp, xây dựng lại điện Phật, phòng tăng. Mùa thu năm thứ ba mươi (Dân Quốc), lại được cư sĩ Chu Tử Kiều sửa sang lại ba ngôi tháp và hai lầu chuông, trống. Hiện nay miếu mạo sáng sủa, Tông Phong chấn hưng, thật là một tuyển Phật trường rất tốt đẹp của vùng Tần Trung vậy. Tôi định trước đến lễ Phật và hỏi thăm Pháp sư Diệu Khóat trụ trì ngôi chùa ấy, không ngờ cơn mưa mạnh thêm, chưa tiện đi vòng đường, nên mới trông về phía tháp lễ mười một lạy mà ra đi.

Qua cầu lớn Thủy Nê trên sông Duệ, chuyển sang hướng tây bắc mà đi, hai bên đường đều là ruộng nước, vẻ đẹp của phong vật so cùng Vi khúc, Vương khúc tương tợ. Trông trở lại Nam Sơn mây mù mênh mông thoắt ẩn thoắt hiện, lộ ra vẻ kỳ quan. Lại đi mười lăm dặm nữa thì tới trấn Ðỗ Khúc, xem xét Ðường Thư có chép: “Thành Nam là chỗ ở của những người họ Ðỗ, danh hiệu Ðỗ Cố nhiều đời làm quan (y quan)26”. Ung Lục Văn nói rằng: “Vi khúc của Phàn Xuyên về phía đông có Nam Ðỗ, Bắc Ðỗ. Ðỗ Cố là gọi Nam Ðỗ, Ðỗ Khúc là gọi Bắc Ðỗ, đều là vùng đất danh thắng”. Ðỗ Hữu, Ðỗ Mục, Ðỗ Như Hồi ở đời Ðường đều sinh ra ở đất này. Do đó có thể thấy sự hưng thịnh về nhân văn địa lý của Ðỗ Khúc ở thời Ðường vậy! Từ đây lại tiến về phía trước, trời bỗng nhiên tạnh mưa, mặt trời lộng lẫy trên không, quang đãng bao la thích hợp với người. Lại đi hai mươi dặm nữa là đến trấn Vi Khúc, nghỉ ngơi chút ít lại đi nữa, ba giờ chiều thì về đến Tây An. Trong khách thứ vô sự viết lại để làm lời cáo cho những kẻ ham thích du lãm.

Viết tại Khách Thứ Trường An ngày mười hai tháng năm năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy.

 

XII. CHÙA LINH NHAM.

Chùa Linh Nham ở trên núi Linh Nham tỉnh Tứ Xuyên cách thành huyện Quán mười hai dặm về phía tây bắc, muốn đến thăm viếng phải mất nửa ngày. Ngôi chùa được sáng lập vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên đời Ðường, cũng là một ngôi Cổ sát của Thục Trung. Tôi hâm mộ chốn danh thắng lâm tuyền ấy nên một mình gắng chống gậy đến thăm thú vậy!

Ra khỏi cửa bắc, chuyển về bên trái lần theo tường thành đi về phía tây ước chừng hơn trăm bộ rẽ sang hướng tây bắc, hai bên đường đều là ruộng nước, mịt mờ lúa trải xanh rờn, sương móc thấm ướt vớ giầy, cỏ rậm, vang tiếng suối chảy rì rào. Ði ước chừng ba dặm thì thấy một tòa nhà viện hiện lên trong cánh rừng rậm rạp nơi sâu thẳm, môn bài viết mấy chữ “Nông Lâm Thôi Quảng Sở”. bên trong viện hoa lá cây cối phù sơ, bố trí thành nhã, nghiễm nhiên như ngôi tinh xá ở phương ngoại. Quanh ngôi nhà ấy đều là cây ngọt trái ngon, rậm rạp che bóng mặt trời. Từ đây đi về phía tây, trông xa về phía Linh Nham, núi quanh co liền nối đỉnh đặc đẹp đẽ, những đám mây xa tít mờ. Chỗ ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xanh tía muôn hình trạng. Ði một dặm nữa thì gặp hai học sinh liền kết bạn đồng hành, leo lên chân núi, cỏ hoang cùng khắp, ướt át trơn trợt, chân chẳng bám trụ được. Ði ước chừng nửa dặm thì bỗng gặp con đường lớn. Bậc đá leo lên phẳng phiu rộng rãi, bất ngờ trước cảnh tượng ấy mà vui mừng lượn vòng đi lên, hai bên đường cây cối sum suê, trông xa không cùng tận, đi trong mây xanh, núi xoay đường chuyển, suối vang gió thét. Ði năm dặm nữa, rồi ngồi dưới bóng tùng nghỉ ngơi một chút. Trông về tây bắc, trước ngọn núi Linh Nham, trong đám cây rậm rạp xanh biếc lộ ra một góc điện vũ, tức là chùa Linh Nham vậy. Ðứng dậy, cổ vũ nhau mạnh mẽ leo lên, bậc đá vòng quanh lại, quanh co ở khoảng bóng mây ánh núi. Ði ba dặm nữa là vào rừng sâu, thường chừng vài lần rẽ là đến được chùa Linh Nham. Lưng chùa như treo vào núi, mặt trước cận kề hang sâu, diềm mái vút lên mà phức hợp, khí tượng cao rộng. Trước chùa có vài chục gốc cây Nam, thân đến hai người ôm, cao hơn mười trượng, sum suê xanh biếc, chẳng thấy mặt trời. Từ trong khoảng trống rừng cây cúi nhìn xuống vùng bình nguyên ẩm thấp thì thấy ruộng nước dọc ngang, hàng quán đan xen, cây phủ muôn nhà, sông Mân như dải lụa, dòng nhánh đan xen nhau. Thành Triệu Công Thanh (?), ngàn ngọn núi cao chất ngất, tranh cao giành đẹp. Khí núi quang tạnh, xa mù ngùn ngụt, quấn quanh như vẽ. Tiếc là tôi không mang theo giấy bút, chẳng thể thu nhỏ lại cảnh đan thanh (đỏ xanh) trăm dặm vào bức vẽ nhỏ, cảm giác tràn đầy mà đành phụ vậy. Bỏ bực cấp vào Sơn môn, bên trái bên phải thờ tượng Tứ Thiên Vương. Qua khỏi Sơn môn tiến về phía sau là Ðại Ðiện. Chính giữa thờ tượng đức Phật Như Lai, chẳng trang nghiêm lắm, bên trái bên phải trước điện là liêu phòng đều bị chiếm làm chỗ cho thuê. Thấy có bốn, năm người cả nam lẫn nữ ngồi vây quanh dưới hành lang đánh bài, hô “hồng trung” “bạch bản” vang dậy chẳng thôi. Cửa Phật thanh tịnh mà đã trở thành nơi vui chơi của bọn chăn bò trông lợn, thật là điếm nhục cho cổ sát danh sơn! Cố Ðình Lâm tiên sinh đời Minh từng nói rằng: “Mất nhà Minh, mất ở Mã điếu27”, nhưng kháng chiến hiện nay thất bại từng đoạn từng đoạn, được hay không, quy tội cho tướng nào ư?

Từ dưới hành lang điện ra phía trái, có chánh điện ba gian, ở giữa cũng thờ tượng Phật, bồ đoàn, phạm bối (Kinh Phật), trần thiết tinh khiết. Ði ra cửa góc bên trái, vách đá ngăn trước mặt, dưới ven núi có động Hắc Phong, đường kính cửa động ba thước, trông vào cốc dò tìm chỉ thấy u tối thăm thẳm, sâu chẳng thể dò được. Bên dưới ấy có một dòng nước trong leo lẻo, gọi là Linh Ðậu Tuyền. Nước suối trong xanh, cá lội có thể đếm được. Vách suối chạm nổi tượng Phật, hình như là sản vật đời Ðường. Tượng một nửa ngâm trong nước, một nửa lộ ra ngoài, rêu bám loang lổ, chẳng hiện rõ mi, mắt. Bên sát ven núi có nhiều chữ cũng bị bào mòn còn lờ mờ nên chưa sao chép được. Từ đây hướng về phía đông bắc, lại lên sườn núi, đường chim lượn vào hư không, trơn trợt chẳng bám chân. Ði chừng hai dặm thì thấy trong đám cây cỏ um tùm có ngôi thần điện ba gian, gọi là Thiên Phật Tháp, ngôi tháp ở trong điện, cao hơn một trượng, chung quanh đắp nhiều tượng Phật nhỏ, tầng tầng bài trí la liệt, gắng cho đủ số ngàn. Tiếc là hình vẽ màu sắc tầm thường kém cõi, chẳng đáng xem cho lắm. Xuống sườn núi sát chùa là đến khách đường, cùng với vị tăng uống trà, nói chuyện giây lát. Vị phương trượng hiệu là Xương Viên, đệ tử của ngài Thái Hư pháp sư, người rất trung thành. Ông nói rằng, chùa không có hằng sản, toàn nhờ vào số phòng cho thuê mà sinh hoạt, và bên trong chùa trước đây còn có đá khắc Kinh Bát-nhã, tiếc là bị kẻ gian đã lấy trộm mất, hiện nay chỉ còn lại mảnh bày ở trên án. Tôi quan sát thể chữ phỏng đoán là sản vật đời Ðường không gì nghi ngờ cả. Tiếc là chẳng thể dần thấy toàn bộ diện mạo của phiến đá khắc ấy, rất là ân hận! Nghe nói trên đỉnh còn có bàn cờ bằng đá, là vật của khoảng năm Thiên Hựu đời Ðường. Tôi chưa đến xem, liền từ giã ra đi, vẫn theo đường cũ xuống núi, trở về đến thành thì đã mười hai giờ rồi vậy!

 

XIII. CHÙA Ô VƯU, CHÙA LĂNG VÂN.

Ngày mùng sáu tháng chín năm Dân Quốc thứ ba mươi ba, khí trời trong lắng điều hòa, phong vật đẹp hẳn lên. Tám giờ sáng tôi đi du lãm thắng cảnh của hai ngọn núi Ô Vưu và Lăng Vân. Thuở trước người ta đi chơi Lăng Vân thì ở bờ sông bên ngoài cửa An Lan, góc đông nam của thành huyện Lạc Sơn, thuê một chiếc thuyền con bên cạnh chân thành nhô cao để vượt sông. Ði ngược dòng chừng vài trăm bộ, lại chuyển mái chèo đi xuống rất nhanh. Chớp mắt đã qua vài dặm, chẳng cần khua mái chèo. Do nước sông mới lên mênh mông, ba đào vọt cao nên tôi chẳng dám mạo hiểm, từ Mã Ðầu, đường lớn ở phía đông, buông một con thuyền dẹt như chiếc lá, thuận theo dòng mà đến vậy!

Ði về hướng đông nam chừng ba dặm là đến dưới Ðại Phật Nhai. Bờ đang đối cửa sông, đứng bên là Xích Bích. Chân núi, quái thạch xâu liền lại, sóng lớn xông lên vỗ mạnh như gió to quạt sóng, thuyền đi chòng chành làm mọi người sợ hãi. Tôi ngước nhìn Ðại Phật, đầu cất mũ, chân đi trần, ngay ngắn ngồi lặng. Cây cỏ rẽ lướt qua như xâu lại thành chuỗi pháp tượng trang nghiêm, công trình to lớn, đem so với Phật đá động Vân Cương chẳng phải là quá vậy. Tương truyền, khoảng năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đời Ðường, có ngài Hải Thông Thiền sư soi thấy nước con sông chảy xiết hung tợn, phá hoại thuyền bè, ngài mới về núi Lăng Vân, đến vách núi cạnh sông đục một tượng Phật lớn để trấn thủy quái. Ðang khi ngài Hải Thông bắt đầu thi công thì Quận sử đòi ăn của đút (hối lộ). Vị sư nói rằng: “Mắt kẻ tu hành có thể khóet, tài sản của Phật khó được!” Quận sử nổi giận nói: “Tương lai rồi thử xem!”. Vị sư liền tự móc mắt của mình đặt lên mâm bưng đến, quận sử hối ngộ, phát nguyện hết lòng trợ giúp công việc ấy. Toàn thân Phật chưa xong thì Thiền sư đã qua đời. Có những vị Liên Sư Chương, Cưu Kiêm Quỳnh mang đến hai mươi vạn tiền giúp kinh phí cho công việc ấy. Trong niên hiệu Khai Nguyên vua xuống chiếu ban cho số thuế muối, thuế sợi gai thu được tư cấp cho việc sửa sang xây dựng, kịp đến khi Vi Cao làm Tiết Ðộ sứ Kiếm Nam, từ trên tòa hoa sen đến đầu gối, thợ làm chưa xong, còn gần một trăm thước, năm Trinh Nguyên thứ năm, ông mới xuất ra năm mươi vạn tiền để tiếp tục hoàn thành. Các sách ghi chép xưng là, tượng cao ba trăm sáu mươi thước, đỉnh tròn một trăm thước, mắt rộng hai trượng, hiện nay qua sự đo lường của các nghệ thuật gia Tây Dương thì cao đúng hai trăm lẻ tám thước, họ cho thế cũng là vĩ đại vậy! Phật tượng nguyên được trang sức bằng vàng, ngọc bích, che bằng lầu tầng. Nhưng vào cuối đời Minh, binh lửa loạn lạc đã phá hủy những thứ ấy, rất là đáng tiếc vậy! Hiện nay tòa hoa sen đã bị dòng nước lớn khóet rỗng gần hết, Hơn nữa, sau ngần ấy năm, Phật tượng cũng đáng có nỗi lo bị hủy diệt. Tôi nguyện xin Hữu ty (Quan lại) để ý thêm việc bảo hộ cho cổ tích được tồn tại vậy. Bên trái bên phải khám thờ Phật lại khắc tượng đứng nhỏ, cao chừng hơn một trượng, hình như là tượng Kim Cương thị giả. Khoảng vách có bậc đá độ vài trăm cấp, nhưng do nước sông hiểm ác nên chẳng dám dừng thuyền vịn leo lên. Khua mái chèo tiến về phía trước, chừng nửa dặm tức là đã đến núi Ô Vưu. Ngọn núi biếc cao lồng lộng, đơn độc vươn lên chót vót, dòng nước xanh uốn quanh vòng giống như một đảo tiên. ven vách núi khắc bốn chữ lớn “Trung Lưu Chỉ Trụ”, vuông rộng hơn một trượng, nét chữ như bay như múa hùng mạnh. Ô Vưu nguyên tên là Ô Ngưu, đời Tống từ Hoàng Sơn Cốc đến đây mới đổi tên như hiện nay. Tức là từ câu “Ô Ngưu tại trung chữ” (Ô Ngưu ở bãi giữa) trong bài thơ pháp Gia Châu của Tô Tử đó vậy. Thuyền ghé vào chân núi, rời thuyền leo cấp mà lên, đường ven núi quanh co, đường bậc leo lên được sửa sang. Tạp thọ rập rạp, bóng rợp che mặt trời, tối tăm mát lạnh, hơi nóng tiêu tan. Phía trước có một phường, biển ngạch đề rằng: “Lũy Chỉ”, câu đối viết rằng:

“Giang Thượng Thần Cổ Lôi Công Miếu.

 Hải huyệt thông triều Ngọc Nữ phòng”

 (Trên sông thần cổ miếu lôi công.

 Hang biển triều thông phòng Ngọc Nữ),

bên ngoài là đền thờ Thổ địa. Qua cửa phường, thấy bên đường sát ven núi viết hai chữ lớn “Ly Ðôi” là Vinh huyện Triệu Hy đề. Xét ở Thục Trung Ly Ðôi thường có bảy: Một tại Quỳ Châu, một tại Thương Khê, một tại Nam Bộ, một tại Quán Huyện, một tại Nhã An, một tại Hán Nguyên huyện, một tại đất này. Tương truyền đều là do Lý băng đục khóet cả. Lại leo lên chừng hơn một trăm cấp thì ngay trước mặt là một ngôi cổ đình bên bờ núi, biển ngạch đề “Chỉ Tức Ðình”. Liên đối rằng:

“Vân ảnh ba quang thiên thượng hạ.

 Tùng đào trúc vận thủy trung ương”

(bóng mây ánh (sáng) sóng trên dưới trời.

Sóng tùng vận (phong nhã) trúc nước chính giữa),

 là do Thái Hư Pháp Sư đề. Bên trong đình có tấm bia nằm (ngọa bi) khắc “lên núi có đường, đi thông thả thì chẳng vấp ngã, cùng với ngài ở thế là đẹp” (Ðăng sơn hữu đạo, từ hành tắc bất chất, dữ quân thả trụ vi giai), liên đối rằng:

“Vũ quá lâm phi thanh thạch khí.

Thu tương sơn thúy nhập thi tâm”.

(mưa qua rừng lả tả sạch hơi đá.

 Thu đem núi biếc xanh vào lòng thơ),

đều là của Triệu Hy đề. Ngồi trong đình nghỉ ngơi một chút, cúi xuống nhìn mặt sông, sóng sáng như gương soi. Lại đi lên, thế đất càng cao phong cảnh càng thanh u, hai bên đường tre trúc rậm rạp cành nhánh vươn dài, trên dưới um tùm. Ði giữa trời biếc, mây xanh mênh mông, khe đá hoa dại nở rộ, phun hồng nhả trắng, sáng lạng sặc sỡ thích hợp với người. Ðến đây như vào cái giường mây sáng kín đáo, ý bợn trần sạch trơn. Ði quanh co hơn một trăm cấp nữa thì đến tháp Phổ Ðồng, bên trái tháp sát ven núi khắc bốn chữ “Linh Sơn Pháp Bảo”. Bên phải có cái động đá, tương truyền là ngôi mộ cổ đời Hán. Từ đây đi lên phía bên phải chừng hơn một trăm cấp là đến chùa Ô Vưu, chùa còn một tên nữa là chùa Chánh Giác, do Huệ Tịnh thượng nhân đời Ðường kiến tạo, trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh có sửa sang thêm. Ngôi chùa dàn ra trên cao ở đỉnh núi, mặt hướng về sông lớn, cột dài, mái ngói cất cao lên, cây đá che rợp, quả thực là thắng cảnh. Biển ngạch Sơn môn đề rằng: “Thanh Y Biệt Ðảo”, liên đối rằng:

“Tự môn cao khai động đình dã.

 Thương nhai bán nhập tuyết đào đôi”.

 (Cửa chùa mở cao sân động hoang.

 Núi xanh vào nửa sóng tuyết đắp),

 bên trong là điện Tứ Thiên Vương, nhan đề biển ngạch viết theo phép Khải Thư. Qua điện Thiên Vương là điện Di Ðà, bên trong có một pho tượng Phật đứng đúc bằng đồng. Thân vàng một trượng sáu, trang nghiêm không gì sánh bằng; bên ngoài che bằng một cái đình gạch, là một kiến trúc mới gần đây. Dựa ven núi tiến về trước, đá rêu phong trơn trợt, đường xưa xanh mát, biển ngạch cửa lầu đề rằng: “Thanh Không Nhất Khí”, liên đối rằng:

“Thắng địa tiếp lăng vân, tịnh lý mỗi văn du khách kịch.

 Cách giang thời tống vũ, vọng trung vô hạn độ nhân chu”.

(Thắng địa tiếp váng mây, vắng lặng thường nghe guốc du khách.

 Cách sông tiễn đưa mưa, trông vời vô hạn thuyền qua sông).

 Lại đi hơn năm mươi bộ là đến điện Phật Di Lặc. Biển ngạch đề rằng: “Chánh Giác Thiền Lâm”, nhà bên phải điện là khách đường. Vào trong nhà khách uống tràø nghỉ ngơi một chút liền từ tạ ra đi đến Ðại Ðiện tham quan. Ðại Ðiện gồm năm gian, qui chế rất là cao rộng. Bên trong điện thờ ba pho tượng Phật cổ lớn bằng gỗ Chương, do Hòa thượng trụ trì Truyền Ðộ xin được tại tỉnh Chiết (tỉnh Chiết Giang), từ vùng biển ngược dòng sông vận chuyển về. Vách điện treo tượng năm trăm vị La-hán do Trúc Thiền vẽ in lại bằng mực. Bên phải bên trái phía trước điện là thiền đường, ngũ quan đường, nhà chuông, nhà trống và Tổ đường. Trùng lâu chấp nối nhau giống như thiên tỉnh (giếng trời). Bên phải điện có ngôi tinh xá ba gian, bia khắc mấy chữ “Ðường Huệ Tịnh Thượng Nhơn Kết Mao Xứ” (Chỗ kết tranh làm am của Huệ Tịnh Thượng nhân đời Ðường). Ra khỏi điện Di Lặc thấy ngoài chỗ đất đá bằng phẳng có vài gốc cây nam cao to, thân cành đỉnh đạc vút lên, lớn đến vài người ôm, bởi là sản vật hàng ngàn năm trở lên vậy. Bên phải là Ngũ Bách La-hán đường, mấy trăm tượng đắp bày la liệt giáp vòng, thiên hình vạn trạng rất có giá trị nghệ thuật. Ở giữa có một pho tượng bằng đồng đời Ðường, tượng cao tám thước, mặt mũi dữ tợn đáng sợ. Hiện nay người ta tô đắp lại tượng ấy làm tượng Quan Âm bốn mặt, có thể gọi là làm cho cái khéo léo trở nên vụng về vậy! Bên phải La-hán đường là đài Nhĩ Nhã và đình Khoáng Di. Hiện nay chúng đều bị thư viện Phục Tính chiếm mượn. Thư viện sáng lập vào năm Dân Quốc thứ hai mươi tám, sơn trưởng là Mã Nhất Phù tiên sinh. Hàng ngày trừ ngoài việc viết chữ khắc thư pháp, ông còn chủ giảng về cái học Tính Lý. Tôi đến bái thăm ông nhưng ông đi xuống thành chưa về, thêm một lần không duyên được nghe lời giáo huấn, rất lấy làm ân hận!

Khoáng Di đình ở phía tây La-hán đường là do Tri Châu Ngụy Hàn đời Minh sáng lập. Ông nhân theo núi cao mà kết cấu hiên che nhã đạm thanh khiết. Bên trong Thái Hư Ðại Sư có đề tám chữ: “Giang Thượng Thanh Phong, Sơn Gian Minh Nguyệt”. Tựa lan can ngắm trông, sông dài đồng rộng xa tít, mây núi ẩn hiện lờ mờ, ba núi cao tranh đẹp, hai dòng sông giành chảy. Ngắm xem giang sơn khoáng đạt khiến cho con người dằng dặt những ý tưởng xa vời. Ðài Nhĩ Nhã thì ở trước Khoáng Di đình, tương truyền là Quách Phác28 chú thích Nhĩ Nhã29ở đây. Nhưng kỳ thật là chỗ chú thích Nhĩ Nhã là huyện Kiền Vi30 đời Hán, do Văn học xá nhân31làm. Học sứ Ngô Bạch Hoa đời Thanh và người gần đây ở huyện Vinh32 là Triệu Hy đều chứng minh việc lầm lẫn ấy. Cá sinh sản dưới núi đều là vảy đen, đầu đen, tương truyền là bị nhiễm phải mực viết của tiên sinh. Chỉ là xuyên tạc phụ hội thêm, thật chẳng đáng giá một nụ cười! Ðài có lầu nhỏ ba gian, vách ván, cửa sổ dán giấy, bền tốt lung linh (bóng lộn). Trụ gian nhà có một câu liên đối: “Vấn tự thùy danh cảnh thuần thướng? Tần gian thỉnh định niếp dương tây”, trước sân hoa tử đằng bò đầy giàn, chuối xanh rợp nửa cửa sổ, cảnh thật u tuyệt. Hiện nay khói lửa chiến tranh khắp nơi nơi mà có thể ở lại trong hang núi rừng này giảng học luận đạo, quả thật là điều rất may mắn cho nhân sinh vậy!

Ra khỏi sơn môn theo con đường nghiêng xuống núi, hai bên đường cây cối sum suê xanh biếc, trời sắp mưa. Xuyên rừng mà đi, đường bằng cao trơn trợt, lòng sợ mắt mờ. Ði chừng hơn ba trăm cấp thì đến đình Hóa Thành, bên trong có ngạch ngang viết: “Tự Ðắc Lư Sơn Lộ” là do Vu Hữu Nhiệm đề. Ở đây nghỉ ngơi một chút. Lại đi xuống, thường vài lần rẽ, ước chừng hơn ngàn cấp là xuống đến bờ sông. Sông tên là Ma Hào, tức là dòng nước giới hạn của hai ngọn núi Ô Vưu và Lăng Vân. Ði thuyền nhỏ qua sông, men theo bên phải con đường nhỏ mà đi. Qua khỏi cây cầu gỗ chừng vài trăm bộ thì có ngôi mộ cổ đời Hán. Ngôi mộ hiện nay bị lợi dụng làm xưởng chế tạo đường (ăn). Phía trước có vài gian nhà tranh, cỏ cây che kín, đất rất hoang vu chật hẹp.

Rời khỏi Hán mộ trở về đến chân núi Lăng Vân, trên núi Lăng Vân có chín đỉnh, thời Tống lại gọi là “Tiểu Cửu Nghi”. Chùm núi kết vòng, cây rừng rậm rạp. Trong thơ văn Tô Văn Trung Công33 có câu:

Sinh bất nguyện phong Vạn hộ hầu

Diệc bất nguyện thức Hàn Kinh Châu

Ðản nguyện thân vi Hán gia thủ

Tải tửu thời tác Lăng Vân du.

Tạm dịch:

Sinh chẳng nguyện phong Vạn hộ hầu34

Cũng không nguyện biết Hàn Kinh Châu35

Chỉ nguyện thân làm Hán gia thủ36

Mang rượu thời đi Lăng Vân chơi.

          (Tuệ Khai dịch)

Có thể thấy lòng hâm mộ điên đảo của ông ấy là vì sao như vậy! Lần theo đường núi mà lên, vách ven núi bên phải đường cũng có vài chỗ hang động, nhưng đều chẳng bì kịp sự vĩ đại của động sông Hào. Quanh co tiến về phía trước, hai bên đường tùng xanh sừng sững, cỏ dại um tùm, hoa rừng lan tỏa, nơi nơi hương thơm ngan ngát, đi ước chừng hơn hai trăm cấp thì thấy bên ven núi có khán thờ Phật Di Lặc, tượng Phật còn chưa tô vàng, một bên cũng có hang đá nhưng chẳng sâu rộng. từ đây lại đi lên vài trăm bậc, rẽ phải tức thì phía trên cấp đá có một khu cây dâu, địa thế rất hẹp âm u. Rẽ về phía trái thấy có một cái gác chơ vơ bên sườn núi, biển ngạch đề: “Tô Tử Lâu”, liên đối rằng:

“Nhất Sinh duy hữu độc thư hảo.

Ðái tửu thời tác Lăng Vân du”

(Một đời duy chỉ thích đọc sách.

Mang rượu thời đi chơi Lăng Vân).

Ðó là do Phan Văn Hoa đề, ông đã cắt lấy câu của Ðông Pha. Xuyên qua lầu mà lên thì đến tuyệt đỉnh Lăng Vân. Bên trên có Lầu Ðông Pha, tục gọi là chỗ đọc sách của Ðông Pha. Ngôi lầu là sinh từ của hoạn quan Ngụy Trung Hiền đời Minh. Họ Ngụy bại vong mới đổi tên kỷ niệm vậy. Trước sân có một cái ao vuông, rằng là “Ðông Pha tẩy mặc trì”. Ao có cây cầu đá nằm ngang, nước cạn hơi trong. Bờ ao, cây quế đỏ sắp tàn, rơi đỏ cả đất, cây chuối, cây tỳ bà lá xanh rũ bóng. Ngôi lầu nhỏ ba gian, tầng trên cấu tạo trống rỗng thông suốt. Dưới lầu thờ tượng đắp Ðông Pha, khảm bức tranh Ðông Pha rửa nghiên mực hõm sâu vào tường và khắc đá bức tranh Mai Cúc của Ðông Pha đã vẽ. Lên lầu, trông ra bốn phía, chợ quán, đồng ruộng, núi non quanh co, sông nước lững lờ, thu hết vào tầm mắt. Bên trái lầu có một mái sơn hiên vài gian, nay bị sở khí tượng thủy văn chiếm mượn, sân hoang vu vắng vẻ tựa như không người ở. Nghĩ ngợi triền miên về đức nghiệp văn học của Tô Công mà chẳng cầm được nỗi u tình hoài cổ.

Xuống đỉnh thấy vách ven núi lại có một cái động đề rằng: “Hải sư động”, tương truyền là chỗ của Hải Phục thiền sư dừng nghỉ tu hành. Mặt trước có đình tạ (đình trên bờ nước) vài gian là trà xã (quán trà), ngồi dưới hành lang uống trà nghỉ ngơi một chút. Cúi xuống ngắm dòng sông chảy, ba đào tung vọt; chiêm ngưỡng gần mặt đức Phật thật là diệu tướng trang nghiêm. Cảnh giới trên dưới chẳng đồng mà niềm hoan lạc cũng không cùng vậy. Từ đây đi qua phía sau đỉnh Ðại Phật, thấy trên đài gạch ở bên đường có một khối thiên thạch đường kính chừng một thước, tạo thành hình tròn dài, màu xanh đen, trong sáng tợ ngọc, trên khắc lời bạt. Vật ấy tuy chẳng kỳ lạ lắm, nhưng Hòa thượng thì thấy là gia trân (vật trân quí của nhà) vậy!

Chuyển về bên phải lại đi vài mươi bộ thì đến chùa Lăng Vân. Ngôi chùa là một chốn Cổ sát có danh tiếng của Tây Xuyên. Lầu tầng gác khéo lạ, qui chế cao rộng. Sơn môn đề rằng: “Lăng Vân Tự”, liên đối rằng: “Ðại Ðạo bất diệt. Phật pháp vô biên.”, phảng phất ven núi sát bên Thái Sơn. Lại có một câu liên đối rằng: “Ðại Giang đông khứ. Phật pháp tây lai” (Sông lớn đi về đông. Pháp Phật đến từ tây), của Khương Thọ Ích viết, đều hùng tráng cổ kính đáng xem. Bên trong cửa, giữa thờ tượng Phật Di Lặc. Tiến về sau, giữa là Ðại Hùng Bảo Ðiện. Bên trong điện, giữa thờ tượng Tam Tôn Phật, hai bên thờ tượng mười tám Tôn giả. Phía sau có lầu tàng kinh năm gian, là một kiến trúc theo kiểu mới, kết cấu dựa vào núi, hoa cây đơn sơ, rất là thanh nhã. Ra khỏi chùa, men theo đường bên phải xuống núi, suối rì rào, mưa bay bay, cây đá rợp bóng. Khoảng vách gần sát khe núi, khám thờ Phật rất nhiều, đều là sản phẩm khắc đá đời Ðường. Bên đường đục đá lấy ngòi nước rộng bốn, năm thước, bên ngoài ngăn vách đá, như gặp thời chiến, nếu cần thì lắp lại, rõ là kỳ quan. Qua ao phóng sinh, động Quan Âm vài lần chuyển bước là xuống đến chân núi.

Rồi lại theo đường khác, lần cấp mà đi lên, hai bên đường cây Nam rậm rạp, che ánh mặt trời, vươn lên trời xanh. Ði ước chừng vài trăm bực là đến được ngọn Linh Ðậu. Bên trên có tháp Lăng Vân cao mười ba cấp, đứng cao trơ trọi giữa trời. Hình dáng như tháp Tiểu Nhạn của Tây An, cũng là di chế (chế độ để lại) của đời Ðường. Bên dưới tháp ấy, cỏ hoang mọc tràn lan, cảnh rất thê lương, vội vàng xem qua rồi đi ngay. Xuống núi, qua đường Bề Tử (hột thầu dầu) đến bến đò Lăng Vân. Xét ra bến Lăng Vân được mở mang thêm vào khoảng những năm Càn Long đời Thanh nên mới thông được con đường quan yếu của huyện Kiều Vi, tức là con đường mà trong Thục Ðạo Dịch Trình ký của Vương Ngư Dương đã gọi: “Dùng xuồng nhỏ, từ cửa đông cắt dòng qua sông... đã lên bờ... có sâu, đá trơn, đi lên rất khổ...” đó vậy. Từ bến này đi thuyền gỗ nhỏ (chống bằng sào) qua sông là đến Mã Ðầu ở đường lớn phía đông, lên bờ trở về chỗ ngụ.

           

XIV. NÚI NGA MI.

Tờ mờ sáng ngày mười sáu, xuất phát từ Hồng Thung Bình, đi về phía trái, hai bên đường cây tạp rậm rạp, lối đi ẩm ướt trơn trợt, đi chừng ba dặm thì đến mỏm đá Ðòn gánh (Biên đảm ). Trông về đông, ánh bình minh chợt mở ra, ráng chói ngời năm sắc, ruộng đồng xanh vàng thêu dệt xen lẫn. Mặt bắc một ngọn núi cao lồng lộng, vách núi cao ngất muôn trượng, màu đá loang lổ, giống như dấu vết bàn tay, tên gọi là “Tiên Chưởng Nham”. Qua núi này, thế càng cao mà đường cũng càng hiểm. Lại đi mười dặm, qua cầu Thọ Tinh, chín mươi chín lần đão gậy, đường leo lên cuộn khúc, cây đá sum suê. Người xưa nói rằng: “Chân người trước chạm mỏ người sau” hơi gần giống đó. Phạm Thạch Hồ đời Tống đi chơi núi Nga Mi, lấy gỗ làm thang dài đóng vào vách núi mà leo lên. Có thể dùng người khỏe mạnh xóc nách hoặc kiệu mà lên núi, hay dùng ba mươi người dân miền núi kéo một sợi dây lớn đi lên trước mà kéo lên kéo xuống, bởi vì thời xưa đường núi chưa mở mang nên đi đến nơi này rất gian nan. Từ khoảng năm Vạn Lịch đời Minh, cư sĩ Giác Nham huyện Nga Mi tu sửa đường bàn đạo (xoay tròn) lên núi đến nay du khách đã bớt được nỗi khổ vịn leo vậy! Men theo sườn núi quanh co mà đi lên, quanh đi quẩn lại chừng năm dặm vừa nghẹn thở toát mồ hôi chẳng thôi, nghỉ ngơi một chút lại đi nữa, đi được năm dặm thì đến Vọng Hương đài, bởi chỗ này núi trống trải nên du khách có thể đứng đây trông về cố hương. Qua khỏi chỗ này, đường đi hơi phẳng và rộng, hai bên đường cây Lãnh Sam (cây thông) che bóng mặt trời vươn lên trời xanh, hoa dại khắp núi sặc sỡ thật đáng vui. Thân cành cây Lãnh Sam hoặc sinh rêu tảo dày cả tấc như mặc hai lớp áo lông cừu, hoặc sinh cỏ vẩy khắp thân giống như mặc áo mưa (áo tơi). Bước, bước phát sinh nhiều kỳ lạ, mắt chẳng ngớt thưởng ngoạn. Lại đi mười dặm là đến Thiên Phong Thiền Tự, cách mực nước biển đã một ngàn năm trăm năm mươi mét.

Thiên Phong Thiền Viện do xưa có đá núi Tiên nên thành tên, xưa gọi là chùa Từ Diên, cũng tên là chùa Tiên Phong, tục gọi là động Cửu Lão, thời Vạn Lịch nhà Minh được vua ban Ðại Tạng Kinh. Ðiện vũ gồm năm tấn, nóc nhà đều dùng tấm thiếc, ngói sắt lợp che. Ánh sáng mặt trời chiếu soi, ánh sáng trong suốt lóa mắt. Bên trong nhà trần thiết tinh khiết, đồ thờ phô trương rất giàu có. Sơn môn bảy gian, ngạch đề: “Tiên Phong Thiền Lâm”. Liên đối rằng:

 “Thử địa Thiên Hoàng vấn đạo.

Hảo sơn tiên động thường xuân”.

   (Ðất này Thiên hoàng hỏi đạo.

 Núi đẹp động tiên thường xuân).

Lại một câu liên đối rằng:

“Vấn cửu lão hà xứ phi lai? Nhất phiến bích vân thiên ảnh tịnh.

 Ngộ tam thừa diêu không vọng khứ, tứ sơn minh nguyệt Phật quang đa”.

(Hỏi cửu lão từ đâu bay đến? một mảnh mây xanh bóng trời lặng.

 Ngộ tam thừa trên không nhìn lại, bốn núi trăng sáng Phật quang nhiều),

 là do Song Lưu Lưu Hàm Vinh viết. Bên trong sơn môn thờ một pho tượng đắp, diện mạo dữ tợn đáng sợ. Tiến về phía sau, theo cấp mà lên là Ðại Hùng Bảo Ðiện, giữa thờ tượng đức Phật, bên trái bên phải thờ tượng mười tám vị tôn giả. Sau cùng là điện Xá-lợi. Trước điện rêu xanh đầy lối, hoa dại khắp đất như phô bày thảm thêu, diễm lệ đáng yêu. Bên trong điện thờ một cái tháp bằng đồng, cao chừng bảy thước, bên trong có một cái bình pha lê nhỏ, trong đựng nước thơm tẩm nuôi hai hạt Bồ-đề màu trắng, gọi là Xá-lợi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bên ngoài còn có Kinh Bối-diệp37, chưa rỗi lễ bái chiêm lãm. Lưng chùa treo tựa vào ven núi, núi cao bao quanh, khí tượng hùng tráng kiên cố. Trên ấy cổ thụ sầm uất, năm màu rực rỡ của ánh mặt trời, diễm lệ giống như bức họa lầu các núi tiên của người đời Tống. Trên đá bằng phẳng bên ngoài sơn môn, vượn vầy đàn, tiêu diêu tự tại, chẳng sợ tránh người, con cao thì hai, ba thước, con thấp thì hơn một thước, nhảy nhót chuyền vọt, hoạt bát đáng yêu. Tôi đem bánh khô trao cho chúng, chúng đưa tay lấy ăn. Tôi ôm bế đùa giỡn, sờ mó vuốt ve, chúng cũng thân thiết chẳng bỏ đi. Có du khách đến, mắt chúng đều rực sáng, dáng vẻ như đón mời “Cử chỉ hành động giống như người vậy”. Ông Ðạt-nhỉ-văn38 với Tiến Hóa Luận đã gọi người là do biến hóa từ loài vượn, chẳng biết loài vượn ngày nay còn có thể biến ra người không. Nghe nói chỗ dừng nghỉ của loài vượn núi Nga Mi chia làm ba khu vực: Một ở tại ao tắm voi, một tại chùa Hoa Nghiêm, một tại động Cửu Lão, sơn tăng đều gọi chúng là cư sĩ, bởi vì tính của chúng thuần lương, ưa thanh tịnh, ở hang, sống nơi hoang dã như những bậc cao nhân ẩn sĩ dưỡng chân tu đạo vậy.

Từ trước sơn môn, đi về bên phải dựa vách ven núi mà dạo động Cửu Lão. Tương truyền do Hoàng Ðế hỏi thăm Thiên Hoàng Chân nhân, thông qua một ông già, hỏi có chín người bạn, nhân đó mà thành tên. Dọc đường đi, hai bên đường là Lãnh Sam, bực đá cao trơn trợt, vài lần chuyển, hết cấp là đến động. Bên ngoài động cao phẳng thông sáng giống như cửa thành. Cổ thụ, dây leo xanh quấn quanh khắp núi. Bên trái bên phải động có hai cửa, cách nhau hơn mười bộ. Trước động ấy vách núi cao ngất muôn nhẫn, sâu chẳng thấy đáy. Vách sau động lại mở một cửa, tối đen không ánh sáng, sâu thẩm chẳng thể dò. Chim yến núi ra vào như thoi đưa. Nhờ vị lão tăng đốt đuốc dẫn theo cấp đá mà xuống, tức là vào bên trong động. Ðộng cao chừng hơn một trượng, trên vòm động thạch nhũ rũ lộn xuống, tổ yến chất chồng, chẳng thể đếm được. Tiến về phía trước bùn lầy ẩm ướt trơn trợt, phân yến dày cả tấc, tanh hôi buốc cả mũi, chẳng thể chịu nỗi, cúi gập thân mình vài lần chuyển bước, đi chừng ba dặm mới tới điểm cuối. Bên trong vuông rộng vài trượng, như một ngôi nhà lớn, trên bàn ghế ánh đuốc sáng sủa, thờ một pho tượng đắp của Triệu Công Minh. Thiện nam tín nữ đều quỳ xuống đất rút xăm bói hỏi kiết hung. Bên trái bên phải còn có vài cái động nhỏ, đường kính miệng hang rất hẹp, chưa vào xem liền vội vàng ra đi. Theo trên đường cũ, rẽ sang phải là đến Tiên Hoàng đàn, tương truyền là nơi Hoàng Ðế hỏi thăm Thiên Hoàng. Hiện nay các vị tăng của chùa đang họp công thợ xây đàn sửa nhà thờ, việc còn chưa lay chuyển. Ðứng nơi đây trăm dặm mút mắt, tầm nhìn thông suốt.

Trở lại chùa uống trà nghỉ ngơi một chút, rồi ra khỏi sơn môn đi về phía trái, xuống sườn núi, ngay trước mặt một tảng đá lớn hiện ra giữa có cửa, vách sắt núi cao ngất giống như hai cánh cửa. Bên trên khắc sáu chữ lớn “Nam Mô Phổ Hiền Bồ-tát”. Dây leo quấn quanh như đậy cái lồng màu xanh ngọc. Qua cầu Quan Âm nương theo con suối cạnh núi mà đi, ngước nhìn vách cao chót vót như xé ra, vạn trạng xanh tía. Ði năm dặm qua cầu Trường Thọ, trông ngọn Thạch Duẩn (núi măng tre đá) như bức bình phong quay lại bức bách trời xanh, muôn vàn khe nước tranh nhau chảy. Thấy những nếp lụa trắng tung bay từ núi cao tuông xuống, dừng lại thành mấy từng chồng lên nhau. Trên ấy rêu lâu nằm như tóc rối, bồng bềnh quấn quít mép núi, rũ xuống hơn mười trượng, dài dằng dặt chẳng dứt, gọi là “Phổ Hiền Tuyến”, rõ ràng là kỳ quan. Sự thanh tú của rặng núi, sự hùng tráng của thế núi ở đây tuy so với Âm Bình Kiếm Môn39 thì chẳng phải quá vậy. Leo lên dốc Trường Thọ40, cây Lãnh Sam lâu năm sinh ra mát mẻ, ánh sáng nóng mặt trời chẳng soi thấu. Ði quanh co lối mười ba lần rẽ, lại mười dặm thì đến chùa Ngộ Tiên. Ngôi chùa do Thánh Hoài Thượng nhân sáng lập năm đầu niên hiệu Ðồng Trị nhà Thanh. Tự vũ chỉ có một tòa phòng lầu ngồi cao trên đỉnh núi, cây rừng rất đẹp, giống như Bồng Lai tiên đảo. Sơn môn có liên đối rằng:

“Hà xứ tầm bồng lai? Hành tung biến ngũ nhạc qui lai, thản nhiên nhất ngộ.

 Danh sơn tiếp thiên trúc, đáo thử phủ tam Nga hình thắng, phiêu hô dục tiên”.

 (Chỗ nào tìm bồng lai? Hành tung khắp ngũ nhạc về lại, thản nhiên gặp gỡ.

Danh sơn tiếp thiên trúc, đến đây thấy Nga Mi thắng cảnh, nhẹ muốn lên tiên).

Vào chùa nghỉ ngơi một chút, rồi lại leo lên, vượt qua đỉnh núi đi bốn dặm nữa là đến chùa Liên Hoa. Chùa có hơn mười gian “Mao Bồng” (Lợp cỏ tranh cỏ bồng), rừng cây thưa thớt, cảnh rất hoang lương. Ghế bàn ở khách đường có một hoa sen bằng đá hình tròn dài đường kính một thước, cao chừng ba thước, màu gan gà, sáng óng ánh, làm thành dáng hoa sen. Vị tăng cho rằng, khoảng năm Vạn Lịch nhà Minh, khối đá đã có rồi. Ngôi chùa nhân vật này mà được đặt tên. Ăn cơm ở đây xong, đi về phía nam, xuống triền núi, đi chừng hơn một trăm bộ lại đến cấp đá leo lên dốc Toản Thiên, cũng tên là Thuần Cáp Toản Thiên (?), đường bậc nghiêng nghiêng cao chót vót, mười bộ một lần chuyển. Chưa đi được trăm cấp đã tháo mồ hôi khắp lưng. Ði năm dặm nữa là đến ao tắm voi, cách mực nước biển đã hai ngàn một trăm năm mươi mét.

Mái chùa xây dựng ở đỉnh núi, lầu tầng treo cao, đài tạ khúc chiết nghiêng tựa. Vòng quanh có một ngàn gốc Lãnh Sam cổ thụ, cành đều đâm ngang ra như lực sĩ duỗi cánh tay, như rồng xanh hiện vuốt, kỳ vĩ bạt thẳng lên, chẳng thể dựa hình trạng đặt tên. Phía trái chùa bên dưới có một cái ao vuông, gọi là “Ao tắm voi”. Tương truyền là chỗ tắm voi của Bồ-tát Phổ Hiền. Theo cấp mà lên là một chỗ đá bằng phía trước, vây bằng lan can đá, sân cao bằng phẳng. Trông bốn bề núi non tầng tầng lớp lớp, khói toả mù vây, ánh sơn lam che khuất, phong cảnh như vẽ. Lại theo cấp mà lên đến cửa chùa, có liên đối rằng:

“Bố cáp toản thiên xứ.

hương tượng tẩy trì lai”.

(Bồ câu sợ chỗ khóet trời.

Voi thơm đến ao tắm).

Bên trong cửa thờ tượng Phật Di Lặc, bên trái, bên phải là nhà khách, sau ấy là Ðại Ðiện, giữa thờ tượng Bồ-tát Phổ Hiền, thân ngồi trên voi trắng, từ bi trang nghiêm. Ðiện phía sau thờ tượng đức Quan Âm tống tử, bên trái phía trong cửa có bốn chữ lớn “Thống Nhất Ðại Dã”, do Vu Hữu Nhậm tiên sinh viết. Nghe trước có Ðịnh Tây thiền sư đạo hạnh rất cao, nay đã viên tịch. Không có duyên hội ngộ một lần rất là ân hận vậy! Ðêm đó nghỉ qua ở đây, gió núi thổi mạnh, hầu như chẳng ngủ được.

Tờ mờ sáng ngày mười bảy liền thức dậy, rời khỏi ao tắm voi, đi về phía trái qua đồi La-hán, đi men theo đường hai bên toàn là Lãnh Sam mà thân cành như sừng rồng, trên khô dưới tươi, là điều hiếm thấy ở chỗ khác. Tôi cho rằng, xem tùng thì chẳng thể chẳng du lãm Thái Hoa, Hoàng Sơn; xem bách chẳng thể chẳng du lãm sạn đạo Kiếm Môn; xem Lãnh Sam chẳng thể chẳng du lãm Nga Mi vậy. Núi xoay đường chuyển chừng sáu dặm thì đến chùa Ðại Thừa, cách mực nước biển hai ngàn ba trăm mét. Ngày xưa, ngôi chùa là Mộc Bì điện, đầu tiên ở trên Song Hỷ Ðình, tương truyền là do Tây Ðường hiền tăng sáng lập. Do núi cao gió lạnh, nhà ngói dễ bị nước đong đá làm nứt vách nên đặc biệt dùng vỏ cây che phủ lên, nên chùa có tên như thế. Ðến khoảng niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh mới đổi tên như hiện nay. Ngày nay, bên trong chùa còn có một đạo bia sắt đời Minh. Ra khỏi chùa đi về phía trái là Diêm Vương Biên (?), cũng tên là Hồ Tăng Thê (?). Ðường bực lên cao nghiêng cũng là đường hiểm trở vậy. Lại đi bốn dặm là đến chùa Bạch vân. Ðiện vũ đều che lợp bằng cỏ, thấp hèn chẳng chịu thấu. Phía trước chùa có vài ngàn gốc Lãnh Sam, che tối mặt trời, chen lên trời xanh, lan ra vài dặm chẳng dứt. Từ đây đi về phía nam, ngước nhìn đỉnh Nga Mi ba ngọn, triền núi xanh bày ngang trước mặt, kéo gần khoảng cách sao Mão sao Hán! Xuống khỏi nơi ấy là Tiếp Dẫn điện, lầu kép mái cao được ánh bình minh chiếu rọi, ngói sáng như gương. Ðứng cao ở khoảng hơi núi, cây xanh mênh mông trùng điệp như cung tiên Quảng Hàn (cung điện trên cung trăng), tráng lệ không đâu sánh. Ði về phía trước đường hơi phẳng phiu. Bên đường cây rừng sum suê, cỏ hoang um tùm. Bên dưới Lôi Ðộng Bình là hang hốc sâu tuyệt, triền núi cao ngất, xuống không đến đất, hang núi sâu thẳm, tùng xanh vắt vẻo. Ðến triền núi cúi nhìn xuống, run sợ rợn tóc gáy! Sự kỳ lạ của cảnh núi thì ở giai đoạn này là nhất. Lại đi năm dặm qua khỏi Lôi Ðộng Bình, đi lên phía phải, ba lần rẽ, rồi lại đi ba dặm nữa thì Tiếp Dẫn điện, cách mực nước biển hai ngàn năm trăm ba mươi bốn mét. Ðiện vũ cao rộng, bên trong thờ tượng Phật Tiếp Dẫn (Phật A Di Ðà), thân vàng một trượng sáu, diệu tướng trang nghiêm. Ra khỏi điện đi về phía trái, leo lên dốc Thất Lý, đường leo lên cao hiểm trở, đắp đổi vài trăm bậc. Qua ba lần đão gậy, lại đi bảy dặm là đến Thái Tử Bình, cách mực nước biển ba ngàn ba trăm tám mươi mét. Tương truyền ngôi chùa là chỗ cầu con của hoàng đế Gia Khánh đời Minh. Lầu sau thờ tượng Thái tử chế tạo bằng da. Có người nói rằng, lấy tiền ném vào đó, nếu trúng thì có thể đoán là sinh con trai. Từ đây đi lên, đường bằng phẳng dần, du khách đều như tiếp thêm sức mạnh phấn đấu đi nhanh, qua chùa Vĩnh Khánh, điện Tổ sư, gác Trầm Hương, lại đi bảy dặm thì đến chùa Thiên Môn, sau chùa có đá cao đối xứng như cửa, gọi là Thiên Môn Thạch. Xuyên qua cửa đá, qua cầu Thất Thiên, tháp Phổ Hiền, rồi cầu Thiên Tiên, con đường rẽ làm ba, bên phải đến Thiên Phật Ðỉnh, giữa đến Kim Ðỉnh, bên trái đến Ngọa Vân Am. Tôi chọn lấy con đường giữa mà đi lên, đi chừng bốn dặm thì đến Kim Ðỉnh.

Kim Ðỉnh tức là chánh điện của chùa Quan Tướng xưa, cũng gọi là chùa Minh Tâm, tương truyền được sáng lập ở thời Minh Ðế nhà Hán, nguyên tên là Phổ Quang Ðiện. Năm đầu Vạn Lịch đời Minh, Hồng Xuyên Quốc Sư chống tích trượng từ chùa Vạn Niên đến dần đỉnh núi mà trùng hưng ngôi chùa ấy. Do núi cao gió mạnh nên mái điện mới thay dùng ngói thiếc, nên gọi là Tích Ngõa Ðiện, tục gọi là Kim Ðỉnh Ðiện. Cuối đời Minh chùa bị nghiêng đổ, tuần phủ Trương Ðức Ðịa đời Thanh trùng tu. Chùa hiện nay cũng chẳng phải theo quy chế xưa vậy! Bên trong điện Quan Âm có một đạo bia bằng đồng, cao sáu thước, rộng ba thước, tòa hình hoa sen, đầu hình con ly, chính diện và phản diện đều có bài văn, một tập là chữ của Vương Hy Chi, một tập là chữ của Chữ Toại Lương. Trên ngạch viết bằng chữ Triện rằng: “Ðại Nga Sơn Hoa Tạng Tự Ðồng Bi Ký”, lập tháng chín năm Quý Mão Vạn Lịch nhà Minh. Vua lệnh cho Tiến sĩ đệ Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo Hán Gia Long Hạc cư sĩ là Vương Dục Tông soạn, Ngô Quận Ngô Sĩ Thụy tập tự. Bia cùng chữ đều hoàn hảo không khiến khuyết, rất là quí báu vậy. Tượng đức Phổ Hiền ở Ðại Ðiện là do đức Ðạt-Lai Lạt-ma Tây Tạng đúc hiến tặng vào năm Hàm Phong thứ mười một đời Thanh. Trước Tổ điện có Long Vương Tỉnh (giếng), Quan Âm Tỉnh, sau có núi Xả Thân và hai cái tháp đồng. Tháp cao sáu, bảy thước, cũng là vật đời Minh. Bảo hộ mép núi bằng lan can sắt, cúi dòm xuống hang hốc sâu tuyệt không thấy đáy, vừa hay lòng sợ mắt mờ. Năm trước tôi du lãm núi Võ Ðang, lên triền núi Xả Thân liền than là xem thỏa rồi. Hiện nay đem so cùng với nơi này với nhau thì như đồng cốt nhỏ thấy đồng cốt lớn vậy! Bên trong điện có bán ra thứ khoai nước tuyết, nói rằng là rau củ trân quí (đặc sản) của Nga Mi. Tôi mua nửa cân mang về làm quà mừng thọ cha. Ăn cơm ở đây xong, lại đi chừng năm dặm là đến Phật đỉnh, chùa có đại điện ba lớp (tam trùng). Ngôi điện ngói sắt Phổ Hiền chễm chệ ở đỉnh núi cao. Phía trước chùa có vài trăm gốc Lãnh Sam, ngang dọc thành hàng lối như xếp bày giáp sĩ. Ði mười dặm nữa là đến Vạn Phật Ðỉnh, là ngọn núi cao nhất Nga Mi, khí hậu rất rét, so với Tẩy Tượng Trì (ao tắm voi) thì đây quá lắm! Du khách đến đây, mặc đồ ấm bên lò sưởi, còn cảm thấy chẳng ấm. Ðỉnh có điện vũ hai gian, chẳng trang nghiêm lắm, phía sau có Bình Ðài, có thể đứng ngắm nhìn ra xa. Trông ra bốn phía mây trắng chất chồng, như tơ noãn như bông, mênh mang một màu, bày ngang dưới chân. Các ngọn núi, từng đóa, từng đóa nhọn cao xanh biếc vương chút sương móc, ánh mặt trời soi chiếu vào như sóng lớn lượn mênh mông, và với trời xanh không cùng tận. Lại như tuyết rơi mới tạnh, ánh sáng lay động màu bạc đổ long lanh. Trông về tây, ngọn Ngõa Sơn xoắn ốc xanh biếc mấy điểm, ngọn Tuyết Sơn rực rỡ, đứng chốt nơi thiên ngoại (ngoài cõi nước). Phật quang đã xuất hiện, bảy màu rực rỡ, vòng kép sắc đôi, giống như cầu vòng. Người xem không ai chẳng vỗ tay vui sướng, khen là cảnh lạ. Người xưa nói rằng: “Chẳng phải tạo ra sự hiểm trở lắm cho thiên hạ thì chẳng thể tạo hết được cái cảnh quan lớn cho thiên hạ”. Quả thật chẳng phải là lời nói hư dối vậy. Chưa bao lâu thì gió núi thổi đến, hơi mây đập vào mặt, cảnh đẹp biến đi thành một mảnh mơ hồ, mới xuống đỉnh, qua am Minh Nguyệt xem một lược, liền trở lại đỉnh Thiên Phật. Ðêm đó vòm trời lắng trong như ngọc bích, sao sáng đầy trời. Sau khi ăn cơm chiều, nhờ vị tri khách tăng tên là Quả Hải dẫn đường đến đỉnh phía sau, đỉnh đèn Quan Thánh, cúi nhìn khoảng ngàn núi muôn khe, bỗng thấy hiện ra trăm ngàn ánh hồng quang, trên dưới di động, lúc ẩn lúc hiện, giống như muôn cái chén đèn sáng, rõ là một kỳ quan. Xét ra Phật quang và Thần đăng đều là cảnh chẳng dễ thấy. Tôi nay có duyên được một lần nhìn thấy thật là may mắn vậy! Tiếc là gió núi quá mạnh, chẳng thể ở lại lâu, liền xuống đỉnh trở về chùa đi ngủ, nhà khách trần thiết tinh khiết, lò sưởi chăn ấm, ở nóng ấm có thể ngủ ngon vậy!

Sáu giờ sáng ngày mười tám, từ Thiên Phật Ðỉnh xuống núi. Ðến Kim Ðỉnh, trông về đông, cánh đồng ẩm thấp dằng dặc, núi quanh khói tỏa chất chồng. Dòng Mân Giang, Ðại Ðộ Hà, Thanh Y Giang quanh co uyển chuyển nơi vùng xanh bát ngát giống như rồng đi, rắn chạy. Hai thành Lạc Sơn và Nga Mi, cây phủ muôn nhà, như xem những bàn tay. Rồi ánh bình minh sáng lên ở phía đông, ráng ngũ sắc muôn đường, núi non chi chít, hang hóc muôn vàn, ánh triêu dương (nắng sớm) rọi vào, năm sắc tỏa ra, rực rỡ như gấm dệt. Tai nghe tiếng sóng tùng, mắt đưa ráng mai trôi mà chẳng biết chẳng hay đã đến chùa Liên Hoa vậy! Theo bên trái đường lớn mà đi, trông phía trước thấy một ngọn núi, đứng vững vàng trơ trọi như cây nạo đơn độc trời tạo thành thì đó là Hoa Nghiêm đỉnh. Lại đi năm dặm xuyên qua rừng leo lên đỉnh là đến chùa Hoa Nghiêm. Ngôi chùa nguyên tên là Cửu Long Viện, niên đại khai sáng đã chẳng thể tra khảo. Vào năm Ung Chính thứ bảy đời Thanh đã qua sự Trùng Kiến của Ngọa Vân am tăng Thái Hư thiền sư, bắt đầu đổi tên như hiện nay. Vài tòa lầu ván, lùi tựa vào núi cao, bên trái bên phải mặt trước đều dẫn đến hang sâu tuyệt lối. Vách ven núi thẳng xuống ngàn trượng, lùm cây um tùm, u uất kỳ tú; chẳng thể gọi hình trạng. Liên đối ở sơn môn rằng:

“Sơn tuấn thủy trường lưu, Kỷ thốc tình vân ủng phạm sát.

 Ðịa u trần bất đáo, nhất luân hạo nguyệt ánh sơn môn”.

(Núi cao sông chảy dài, mấy phen mây tạnh nâng phạm sát?

Ðất tối bụi chẳng đến, một vầng trăng sáng soi sơn môn).

Ðại điện thờ tượng mười tám vị Tôn giả, diện mạo kỳ cổ cùng với chúng chẳng đồng. Sau chùa có suối Cửu Long, vị ngọt thơm như rượu nếp. dưới triền núi trước có động Quế Hoa, tương truyền thuở trước có nhiều cây quế, tiếc là cây đã hết, hoa đã tuyệt, đã lâu chẳng còn tỏa hương vậy! Vài bộ về bên trái chùa có một gốc cổ thụ, thân cành như sừng rồng, già cỗi lâu năm, da màu xám trắng như tô đất thó (bùn), gọi là Lão Tăng thọ, cũng là kỳ quan vậy. Dưới đỉnh đường lối gập ghềnh, cây cối sum suê la liệt, cành lá giao tiếp, như đi trong hành lang mây xanh biếc. Dưới táng rừng cỏ, tre sinh sôi rậm rạp. Măng tre mới mọc nhọn hoắt, sơn tăng tranh thủ nhổ lấy đem về luột phơi để dành sau dùng tiện lợi rộng rãi. Măng tre Nga Mi được ưa chuộng trên các phố chợ tức là thứ sản vật này vậy. Lại đi bốn dặm là đến điện đầu tiên. Biển ngạch Ðại điện đề: “Thiên Hạ Tú”, là do Trương Côn Lâm đề. Chữ đẹp nhuần nhã đáng xem. Bên trong điện thờ La-hán đều là tượng đứng rất là độc đáo. Trong sân có hai gốc cây mộc lan (Hậu phác ), lá lớn như bàn tay, xanh biếc khả ái. Xét ra mộc lan là gỗ chủ yếu làm lan can vì là sản vật Tây Xuyên, loại thổ sản, tiếc là núi này chẳng phong phú lắm vậy. Từ đây lại đi xuống, qua Trưởng Lão bình, chỗ Tức Tâm (dứt lòng), mười hai dặm là đến chùa Quán Tâm. Ngôi chùa xây ở trên dốc Quán Tâm. Xét ra dốc Quán Tâm cũng tên là Ðiểm Tâm dốc, nghĩa là cấp đá cao vút lên, người đi lên thì đầu gối có thể điểm trúng tim vậy. Giữa đường thấy có khách hành hương trai, gái vài người cưỡi phục trên lưng, vai của tráng phu đang còng lưng mà đi lên, gọi là “Thỏa Bối tử”. Tuy rằng, họ ra sức được trả giá nhưng rốt cùng xem ra chẳng nhân đạo lắm! Tốt nhất là hiện tượng này chẳng nên có ở một quốc gia hiện đại. Lại đi bốn dặm là đến chùa Vạn Niên. Ngôi chùa được sáng lập từ đời Tấn, là di chỉ thờ phụng Phật của họ Bồ. Ngài Tuệ Thông thiền sư đời Ðường đã thanh tu ở đây. Ðời Tống gọi là Bạch Thủy Phổ Hiền Tự. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch đời Minh mới đổi tên như hiện nay. Mái chùa gồm bảy tấn (gian), tức là Ðại Nga Lâu, Tỳ-lô Ðiện, Thất Phật Ðiện, Thiên Vương Ðiện, Kim Cương Ðiện, Ðại Phật Ðiện, Chuyên Ðiện (điện gạch) đó vậy. Trước lầu Ðại Nga có phường “Nam Giới Danh Tông”, bên trái có phường “Kỳ Thọ Lâm”, đều là lầu tầng, diềm mái cất bay lên, qui chế chúng cao rộng. Ðiện gạch cao lớn hùng vĩ, dưới vuông trên tròn, làm theo hình chùy xoắn ốc, dùng toàn gạch xây, chẳng thi công rường, trụ. Mặt trước mặt sau có cửa, cao ba trượng, lớn như vọng gác của thành, giống như nhiều tháp của Khai Phong. Bên trong thờ tượng đồng Phổ Hiền cưỡi voi. Bảo hộ chung quanh bằng lan can gỗ sơn đỏ. Con voi cao dài đều một trượng năm, sáu thước, rộng sáu, bảy thước, ngà dài bốn, năm thước, chân voi đạp trên hoa sen ba thước. Phật Phổ Hiền cao sáu trượng, tượng đẹp trang nghiêm, hộ vệ phía sau bằng con rồng chạm nổi, thợ khắc rất tinh xảo. Vách bên trong điện gạch, ba tầng trên thờ ba ngàn tượng Phật nhỏ bằng đồng. Tầng dưới thờ năm trăm tượng La-hán. Ngôi điện và tượng Phổ Hiền đều là di chế đời Tống. Bên trong chùa cất giữ một cái răng Phật. Tăng chúng đem ra bày ở khách đường. Răng dài một thước hai tấc, rộng tám thước, dày ba tấc, trọng lượïng mười ba cân tám lạng, trong sáng óng ánh, giống như ngà voi. Căn cứ vào sự nghiên cứu của các nhà Cổ sinh vật học thì đó là hóa thạch của cái giá răng động vật thời thượng cổ, răng Phật tuyệt đối không lớn như vậy. Giữa sân có hai gốc cây mộc lan đang lúc ra hoa. Tăng nói rằng hoa nó có thể ướp sấy trà, trị bệnh. Trên lầu sơn môn có đắp “Từ Cung Thái Hậu Chấn phác Lục Gia Tượng” đời Minh Thần Tông. Mũ vàng khoác ráng mây tuấn tú xinh đẹp giống như Mạc Cô tiên nữ. Bên trong Tỳ-lô điện thờ Phật Tam Tôn bằng đồng được đúc khoảng niên hiệu Gia Tĩnh đời Minh. Trên lầu bên trái sơn môn treo một quả chuông lớn, cũng là do Hòa thượng Biệt Truyền quyên góp đúc ra. Hiện nay ngoại trừ ngôi điện gạch còn chỉnh tề, những cái còn lại đều đã rêu phong bụi bám, đã đến ngày nghiêng đổ. Tăng chúng cho là tục vật, chưa đủ lớn để chấn hưng Tông Phong, thật là đáng tiếc! Trước chùa có mô phỏng khắc ba chữ lớn “Ðệ Nhất Sơn” do Mễ Tương Dương viết. Bên phải chùa có chỗ gẩy đàn của Long Quảng Tuấn thượng nhân đời Ðường. Lý Bạch đã từng thăm hỏi ngài và nghe đàn ở đây. Thơ của Lý Bạch viết rằng:

Thục Tăng bão lục ỷ    

Tây hạ Nga Mi phong  

Vị ngã nhất huy thủ

Như thính vạn hác tùng

Khách tâm tẩy lưu thủy

Dư hưởng nhập sương chung   

Bất giác bích sơn mộ    

Thu vân ám kỷ trùng    

Dịch thơ:

Ôm cầm Lục ỷ41, Thục tăng42,

Phía tây lần xuống qua rừng Nga Mi,

Vì ta, tăng gảy bài nghe,

Ào ào như tiếng muôn khe cây tùng.

Nước trôi rửa sạch cõi lòng,

Tiếng chuông nghe vẳng ở trong sương mờ,

Núi xanh chiều tối không ngờ,

Trời thu mây ám bao la mấy tầng43.

Tức là vịnh người ấy vậy. Ra khỏi Vạn Niên Tự, đi một dặm qua chùa Hải Hội, chùa Dược Vương, lại đi một dặm nữa thì đến chùa Cực Lạc. Ngôi chùa kiến trúc dựa vào triền núi, qui chế rất nhỏ. Bên trái chùa ấy có cửa thành Thủy Quách Sơn, lầu cửa cao lồng lộng, đứng làm cọc tiêu chỗ khuyết của rặng núi, xem rất hùng tráng. Xuyên qua cửa liền theo cấp mà xuống, hai bên là triền núi cao chót vót, cây rừng sầm uất, ngăn che ánh sáng mặt trời. Lại đi một dặm là qua chùa Kim Long, rồi hai dặm nữa thì đến động Bạch Long. Ðộng ở bên phải của chùa, giống như Thạch Môn, có suối từ bên trong nghiêng chảy ra. Ðời Ðường nơi đây là am của ni cô tu hành. Thời Minh Biệt Truyền Ðại sư mới xây dựng thành ngôi chùa hiện nay, tên là Bạch Long. Ði qua đường bậc đá đã tu chỉnh này, tre trúc rập rạp hai bên đường, mép bên trái triền núi đó đứng cao chót vót, cây đá sum suê tráng lệ. Lại đi năm dặm nữa là đến Võ Hiển Cương, qua hai cây cầu Thanh Phong và Minh Nguyệt là vào Long Môn Giáp. Hai mặt toàn là núi xanh trời biếc, thế chồng lên như muốn hợp lại. Ðỉnh triền núi vuông mà bằng giống như Kiếm Môn, phần cao nhất là cái “lợi của hàm răng”, từ đây cúi nhìn xuống ngàn thước thấy dây leo quấn quít, rêu phong kín mít, cây ngăn cỏ buộc, ánh sáng mặt trời xuyên qua một đường. Bờ núi tuông trào ngọn suối như một tấm vải treo thòng xuống có dừng lại vài tầng, theo chân bàn thạch, mây tan, hoa bay. Hai dòng sông đen, trắng từ Thanh Âm Các cùng chảy xuống, theo núi quanh co, vỗ bờ xuyên mây, ngoằn nghèo vài mươi dặm rồi chảy vào mỏm đá, tung tóe vọt mạnh lên, tiếng ầm ầm như sấm dậy. Phạm Thạch Hồ gọi rằng: “Kỳ quan về Giáp tuyền trong thiên hạ thì Long Môn của Nga Mi là số một”, thực chẳng lừa dối vậy. Qua Lương Phong Cương, thấy giữa suối có một khối đá lớn, hình dài như chiếc thuyền, tên là Thuyền Phổ Hiền. Men theo suối chuyển về bên trái đi chừng vài mươi bộ thì có chiếc cầu dây sắt bắc ngang trên suối. Chế độ của cầu là dùng bốn đường dây sắt buộc chặt vào những cây thung (trụ) bằng sắt ở hai bên bờ, mặt cầu lót bằng ván gỗ, rộng chừng năm, sáu thước, bên trái bên phải cầu vây lại bằng lan can sắt. Tôi thử giẫm lên cầu ấy thì liền chấn động rung rinh. Cúi nhìn xuống cầu thì đá lớn ngổn ngang, hoa sóng vọt lên, chẳng cầm được sợ hãi, liền vội vã chạy về lại. Xét ra các tỉnh phía tây nam Trung Quốc thì cầu dây giăng rất nhiều. Ðại để là vì ở hai bên bờ sông, suối đều cao ngất mà thế nước tung vọt mạnh mẽ, chẳng thể bắt rường cầu, lại chẳng thể dùng thuyền chèo nên bất đắc dĩ mà làm ra loại cầu này vậy.

Ði men theo suối, chuyển về bên phải, đi chừng một dặm thì đến động Long Môn. Hai bên vách đá cao chót vót, giữa dòng nước trong suốt, lùm bụi cỏ cây um tùm, rũ ngược xuống bờ núi. Bên dưới nơi ấy là vài gian thủy các, kết cấu bên dòng nước, vách ván, cửa sổ dán giấy, trần thiết tinh khiết. Tựa lan can cúi nhìn xuống, có vài đường thác nước bay từ động ven núi phun trào ra, trút ngược xuống giữa đầm, dậy tiếng ầm ầm như sấm, gọi là chín rồng phun nước (Cửu Long Thổ Thủy). Bình sinh tôi đã thấy suối nổi danh thác hùng vĩ không nhớ là vài mươi cái, nhưng chưa có cái nào kỳ lạ như cái này vậy. Bởi núi Nga Mi cao nước chứa rộng, phần nhiều từ bụng núi, lổ đá chảy dần ra mà xuống. Ðến triền núi này, độ dốc bằng dần làm cho nước đều phá triền núi mà phun ra nên có hiện tượng kỳ lạ này. Nước trong đầm xanh thẳm, bằng phẳng sáng như gương soi, có một cái động lớn, một nửa ngâm trong nước, tiếc là không có thuyền chèo, chẳng thể du lãm thỏa thích, rất lấy làm ân hận. Trong chùa có tăng, ni vài người, lấy nghề chế biến trà làm nghiệp sinh sống. Họ vì tôi nấu trà mời uống, uống luôn bảy chén ngon chẳng kém trà Long Tỉnh của Tây Hồ vậy. Tối ấy tôi nghỉ đêm lại nơi đây, dưới lầu tiếng sóng inh tai, suốt đêm chẳng thể thành giấc.

Mờ sáng ngày mười chín, thức dậy, rời khỏi động Long Môn, đi dựa triền núi bên dòng suối vách đá trái, phải đứng bên hang rợp mát lạnh, suối chảy quanh co, theo núi uyển chuyển. Tôi cho rằng, cái hùng vĩ của Nga Mi ở tại non Thạch Dũng, cái đẹp của Nga Mi ở tại Hoa Nghiêm đỉnh, cái u nhã của Nga Mi ở tại Thanh Âm các, cái kỳ lạ của Nga Mi ở tại Long Môn động, hùng, kỳ, u, mỹ gom lại mà có chứ đâu chỉ “Thiên Hạ Tú” (thiên hạ vẽ tô) mà thôi vậy! Ði mười hai dặm là đến chùa Bảo Ninh, chùa ở tại phía bắc chùa Báo Quốc, điện vũ cũng rất hùng tráng vĩ đại, lưng dựa vào núi, mặt nhìn ra suối, tùng xanh đứng vây vòng, thật là thắng cảnh. Từ đây mà đi về phía đông, vào công lộ (đường cái quan). Ði tám dặm nữa là trở lại huyện Nga Mi, đến bến xe hơi, đăng ký đi xe, hai giờ chiều đổi lấy vé lên xe đi. Trông lại Nga Mi, mây núi xa thăm thẳm, bịn rịn chẳng nỡ rời đi. Qua Tô Kê đến Phù Văn Giang, trên sông có cây cầu lớn Thủy Nê, một công trình hùng vĩ kiên cố. Qua cầu đi chừng tám cây số thì đến bến Từ Hạo, xe lên phà qua sông Thanh Y, trải qua Từ Gia Biển, lại đi ba cây số nữa là đến bến xe Lạc Sơn. Màu trời chiều mênh mang, đồng quê buồn bã, trông xa bóng núi chập chùng, đèn lửa chỗ sáng chỗ tắt, chẳng cầm được cảm giác thê lương, xuống xe hơi, thay xe kéo, đi dọc bờ tây sông Man Giang, men theo đê Lưu Công vào cửa Gia Lạc, trở lại tiệm ăn Gia Ðịnh thì muôn nhà đã lên đèn rồi vậy. 

           

XV. CHÙA HƯƠNG NGHIÊM.

Chùa Hương Nghiêm ở tại chân núi phía nam ngọn Xuân Phong Lĩnh, trong dãy Tứ phong Sơn thuộc phía nam huyện Chiết Xuyên, tỉnh Hà Nam, là đạo tràng của Tuệ Trung quốc sư đời Ðường. Ðầu tiên tên là Trường Thọ Tự, quy chế rất đơn giản. Khi Túc Tông nối ngôi nghe tiếng tăm của sư và hâm mộ ngài nên vào năm Thượng Nguyên thứ hai, ra lệnh cho Trung Sư là Tôn Triều Tiến ban chiếu rước sư về kinh, an vị ở điện Sùng Ðức. Giảng kinh nói pháp, lễ nghi ưu đãi rất trọng hậu. Sư ở kinh đô vài mươi năm, thị tịch vào năm Ðại Lịch thứ mười, được ban Thụy hiệu là Ðại Chứng Thiền Sư. Vua ưu ái ban chiếu đem về an táng ở Tử Ðảng Cốc. Vua ra lệnh mười vị Vương và voi trắng đưa tiễn linh cửu và sắc ban cho xây dựng Phù-đồ (tháp), kiến lập tự vũ rộng rãi. Ngôi Hương Nghiêm Cổ sát đến lúc đó mới có phần khả quan. Tương truyền, ngày đem sư trở về đào huyệt chôn cất, có mùi hương lạ tỏa khắp. Việc đến tai vua Ðại Tông, ngài mới ban tên là Hương Nghiêm. Ngôi chùa trải qua các đời Ngũ Ðại, Tống, Nguyên, Minh, qua biết bao hưng phế. Ngôi chùa hiện nay là do Ðãn Sơn thiền sư xây dựng lại khoảng niên hiệu Càn Long nhà Thanh.

Lúc chín giờ sáng ngày hai mươi tháng tư năm Dân Quốc thứ ba mươi, tôi cùng với Tuệ Túc pháp sư từ chùa dưới xuất phát đi lên chùa Hương Nghiêm Thượng chiêm ngưỡng lễ bái.

Cưỡi ngựa theo hướng chánh tây mà đi. Hai bên đường núi đất giăng tường dài theo, những con suối nhỏ đua nhau róc rách, cỏ thơm cây ngọt, sườn núi bao la, xa xa những hang động. Phía tây bắc có một ngọn núi dài toàn là đá nham thạch, đá trắng óng ánh như tuyết trắng ngần. Ði mười hai dặm là đến miếu Nương Nương, nghỉ một chút rồi lại đi về phía trước. Chuyển hướng tây bắc leo lên Mạn Lĩnh, cát sỏi trải đường trơn trợt chẳng bám chân. Lại đi năm dặm, vượt qua sườn núi bằng đất thó (pha ác ), trông xa xa những ngọn núi vây vòng cao chót vót giống như hoa sen. Trong ý nghĩ cho là đạo tràng của Quốc Sư nhất định ở tại đó vậy! Chẳng cầm được vẻ vui mừng. Lại vượt qua vài ngọn núi xuống đến con suối, hai bên bờ đều là ruộng tốt mầu mỡ, dẫn nước tưới tiêu rất tiện lợi. Qua khỏi suối tức là bực đá leo lên đến Tam Lý Nhãn. Bên đường có một gốc cổ bách sống vững vàng trên mặt đá, chẳng cần đất đai, rõ ràng là một kỳ quan. Xuống đây là cây rừng um tùm che kín chẳng thấy ánh mặt trời. Ði trong bóng râm xanh thẳm, núi xoay đường chuyển, hoa thơm chim hót cứ ngỡ là Võ Lăng44 mới đến, Ðào Nguyên45 vào nhầm, đi về phía trước, đường càng khúc khuỷu mà núi càng hiểm trở, rừng càng kín mà cảnh càng tối. Lại đi một dặm nữa thì gặp cây cầu đá bắc ngang qua dòng suối sâu gọi là “Hội Tiên Kiều”. Qua cầu theo cấp mà đi lên, hai bên đường tre trúc thâm u hàng vạn cây, dạng nghiêm nghị như võ lâm thao dượt. Ði chừng vài trăm cấp, trông phía trước, mở ra ngỡ ngàng sáng rõ ngôi cổ sát cao lồng lộng. Ðó là chùa Hương Nghiêm Thượng. Ngôi chùa ở trong Vạn Sơn, dãy núi đẹp đẽ, cây rừng sum suê. Vẻ đẹp của địa thế, sự thắng diệu của phong cảnh, ngôi chùa ấy quả thật là đứng đầu các chùa miếu của vùng trung châu.

Qua Thạch phường tiến vào Sơn môn, từ cửa nách bên trái mà vào, trước tiên đến pháp đường. Ðược tri khách tăng là Chiếu Phước tiếp kiến, nói chuyện suông một lúc, rồi đi ăn cơm trưa. Ăn xong, nhờ thầy Chiếu Phước làm hướng đạo tham quan những nơi thuộc chùa ấy như điện vũ, Phật tượng, bi ký, hoa cây v.v... Hậu viện có lầu Tàng Kinh bảy gian, cửa sổ hoa chạm trổ, rường cột vẽ vời đẹp đẽ, vách vàng chói lọi, tráng lệ chói mắt. Trên lầu thờ đức Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn, cái hòm thần cất giữ nửa bộ Tạng Kinh bản đời Minh. Dưới lầu, giữa thờ một pho tượng Tỳ-lô thân vàng. Bên trái là nhà phương trượng, bên phải là liêu xá của thị tăng (tăng thị giả). Chếch về bên trái lầu Tàng Kinh có Văn Thù đường năm gian, giữa thờ Kim thân pháp tượng Bồ-tát Văn Thù. Chếch về bên phải có Phổ Hiền đường năm gian, giữa thờ Pháp tượng Bồ-tát Phổ Hiền. Phía trước lầu và đường đều có Nguyệt đài, vây chung quanh bằng lan can gạch. Trước đài, bên phải hoàng quế, hoàng dương mỗi cây một gốc đều là vật đời Thanh trở lên. Bên trái có một gốc quan quế (một giống mẫu quế), thân vài người ôm, cành nhánh lâu đời như sừng rồng, chẳng thể đặt danh trạng. Trung Viện (Viện giữa) có Pháp đường năm gian, tạm dùng làm khách đường. Trước pháp đường là Kích Trúc đình, tương truyền là chỗ của Trí Nhàm thiền sư “Kích Trúc ngộ đạo”. Bên trong viện có hai gốc cổ bách, đều cao hơn mười trượng, cao thẳng xanh đẹp khả quan. Phía đông phía tây là phòng kho, nhà khách, ngũ quán đường. Phía trước là Ðại Hùng Bảo Ðiện, nền điện cao chín thước, ngôi điện cao tám trượng, rộng năm gian, dọc ba gian, diềm mái kép, mái ngói cất bay lên, rường cột rui xà đều được veõ vời rất đẹp. Quy chế chùa ấy cao rộng, uy nghiêm như cung đình vua. Giữa điện thờ tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Kim thân một trượng sáu, trang nghiêm không gì sánh. Bên trái bên phải là tượng đứng của hai vị thị giả A-nan và Ca-diếp. Bên trên che xuống bằng tràng phan, bảo cái. Phía trước trần thiết Phạn Bối46 (Kinh chữ Phạn), chuông, trống. Hai bên thờ tượng mười tám vị La-hán, sau bình phong thờ tượng Nam Hải Ðại Sĩ. Trên vách vẽ, việc thuở xưa đức Phật Thích Ca tu đạo, đều rất tinh xảo, có nhiều giá trị nghệ thuật. Hai nhà chái ở sân điện là thiền đường, vận thủy đường và liêu phòng. Phía trước điện có bình đài, vây chung quanh bằng lan can hoa, trước đài, lập rừng bia đá. Phía trái có một đạo bia “Trùng kiến Thập Phương Trường Thọ Ðại Hương Nghiêm Tự”. Bia cao tám thước, rộng bốn thước lập vào năm Tuyên Ðức thứ hai đời Minh. Tư Thiện đại phu Lễ Bộ thượng thư, Tỳ Lăng Hồ Huỳnh soạn văn; Tư Thiện đại phu, Hình Bộ thượng thư, Tứ Xuyên Kim Thuần viết chữ; Phụng Nghị đại phu, Công Bộ Lang Trung, Cúc Ðàm Lý ân soạn đề ngạch, thư pháp rất đẹp, đá bia cũng hoàn hảo, thật đáng qúy vậy. Ở dưới diềm mái hành lang của liêu phòng phía đông có hai bia vuông nằm khảm sâu vào vách là do Lý Hữu Thạch viết chữ, phỏng theo thể chữ bài tựa “Thánh Giáo” của Vương Hy Chi, cũng rất đẹp đáng xem. Góc đông nam có một tòa lầu chuông mà hiện nay là phòng kho. Trong sân hoa, cây rất nhiều, có vài gốc lão mai kỳ lạ cổ kính đáng yêu. Phía trước có năm gian điện Vi Ðà xây dựng mới, giữa thờ tượng Vi Ðà, sau lưng thờ tượng Già Lam Bồ-tát. Trước điện, bên trái có một gốc Bạch quả thọ (cây ngân hạnh) lớn vài người ôm, cũng là vật vài trăm năm. Phía đông điện Vi Ðà có điện Thập Vương ba gian, giữa thờ tượng đắp Vua Ðường Tuyên Tông với tua mũ miệng, áo cổn hoa rất xứng trang nghiêm. Xem xét thấy bia hoàng đế Tuyên Tông trùng tu có ghi rằng:

“Tuyên Tông là thời Quan Vương, Võ Tông ghen ghét, Câu Lưu ở vườn sau, sắp đem giết. Trung quan Cừu Sĩ Lương liệu tính Võ Tông sẽ tuyệt đường nối dõi về sau, con cháu họ Lý mà bỏ quan vương thì không thể làm chủ trung hưng đời sau. Ông liền trá xưng là Quan Vương ngã ngựa chết, nhân đó thoát thân chạy trốn. Ðến Hương Nghiêm gặp Trí Nhàn thiền sư xuống tóc xuất gia làm sa di. Chưa bao lâu mà Võ Vương băng (chết), nối dõi đời sau không có người, do đó Thái hậu ra lệnh cho đại thần trong ngoài đến Hương Nghiêm nghinh đón Quan Vương về, lên ngôi Hoàng Ðế, đó là Tuyên Tông. Do nhân duyên này nên chùa Hương Nghiêm thờ Tuyên Tông làm hộ pháp”. Xem xét việc Ðường Tuyên Tông xuống tóc xuất gia thì chưa thấy chính sử ghi chép, chỉ trong Cương Giám Dị Tri Lục nói rằng:

“Ban đầu Hiến Tông nạp thiếp Lý Kỷ là Trịnh Thị sinh ra Quan Vương Di, lúc nhỏ trong cung đều cho là chẳng sáng trí. Từ Thái Hòa trở về sau càng tự giấu giếm. Và khi bề trên bệnh nặng, các hoạn quan bí mật ở trong cung cấm định kế sách xuống chiếu. Do hoàng tử Trùng còn nhỏ nên lập Di làm Hoàng Thái Thúc, đổi tên là Thầm. Lệnh cho quyền đảm đương quân quốc chính sự. Thái Thúc thấy bá quan dung nhan đầy vẻ xót thương nên khi quyết đoán nhiều việc đều phải vin vào lý, mọi người mới biết là có đức ngầm vậy. Bề trên băng, do Lý Ðức Dụ nhiếp chức Chủng Tể (tể tướng). Tuyên Tông tức vị (lên ngôi)”.

Căn cứ vào đây thì biết việc ghi chép của bi ký về lý thì hoặc là có đó. Chỉ có điều trung quan Cừu Sĩ Lương tính tình gian hiểm thì việc dấu Tuyên Tông ở Hương Nghiêm chưa chắc là vì kế sách nối dõi đời sau của họ Lý vậy. Sau điện Thập Vương là Tổ đường, công đức từ (đền), Truyền Ðăng các. Tổng kê chùa gác, đường, điện, liêu phòng... có hơn một trăm gian. Quả thật là một ngôi cổ sát hiếm có của vùng trung châu.

Chiều về, vâng theo tri khách tăng thết đãi nhau có đủ rau dưa và rượu. Sau khi ăn lại ngồi dưới mái hành lang của lầu Tàng Kinh, chong đèn uống trà tâm sự cho qua thời gian. Chiếu Phước thượng nhân lúc nhỏ chính mắt nhìn thấy thảm trạng giết người của bọn thổ phỉ, nhân đó mà có sở ngộ nên mới phát nguyện xuống tóc xuất gia, năm nay đã hai mươi tám tuổi, dung mạo mộc mạc, thần sắc nhàn nhã, tính nhân từ lời nói thật thà, bởi là người có thiện căn đầy đủ thâm hậu vậy.

Thói quen xưa của người Trung Quốc là mỗi dấu vết xưa của vùng danh thắng đều lấy “bát cảnh”47 mệnh danh. Chùa Hương Nghiêm tự cũng chẳng thể ra ngoài cái lệ ấy. Xin trích lục tám cảnh của chùa ấy như sau:

Tùng đôi không gốc (gốc ẩn), rèm nước phủ động, suối ánh như ngọc, Bảo tháp Vô phùng48, Ðài tròn tuyệt đỉnh, thác đổ tợ lụa, hang trời rộng lớn, sông Ðan49 lượn lờ.

 Sáng ngày hai mươi mốt, sương mù vàng đầy bốn phía, lạnh rét quá lắm. Nguyên định ra dạo tám thắng cảnh, nhưng vì trời mù mịt tối sầm nên mới đình chỉ. Quá trưa thì trời bừng sáng, tôi sai đứa trẻ mời tri khách tăng ra, nói với ông rằng:

- Ngay bây giờ, tôi định đi lễ tháp Vô phùng của Tuệ Trung quốc sư và du lãm Song Thạch động, Thủy Liêm động, chẳng biết thầy có cùng đi không?

Vị tăng nói rằng:

- Như ngài đi thì tôi xin làm hướng đạo!

Ðến đây, liền cùng nhau chống gậy mà đi. Ra khỏi cửa góc phía đông, hai bên đường trúc cao mịt trời, tre gió san sát, muôn duyên trong bóng râm, trông chẳng thấy mặt trời. Ði về phía đông bắc chừng vài mươi bộ, thấy mặt trước có một chỗ Viện lạc, tăng nói rằng:

- Ðây tức là Viện tháp của Quốc Sư vậy!

Vào cửa viện là một ngôi điện. Tháp đôi là ở bên trong điện. Tháp cao chẳng đầy một trượng, qui chế rất nhỏ. Khám thờ của tháp thờ một pho tượng đắp kim thân Quốc Sư, thần thái thâm trầm, linh hoạt như sống. Tôi hỏi vị tăng rằng:

- Tháp này là không phải vua Ðại Tông ra lệnh xây dựng chứ?

Tăng đáp rằng:

- Nguyên dấu vết đã bị phế lâu rồi! Chẳng phải phục hồi theo quy chếâ cũ vậy!

Tôi nghe nói, cảm khái than thở hồi lâu. Ra cửa viện mà đi về phía đông, thấy bên trái của tháp viện còn có tháp cốt của các vị thiền sư Ðãng Sơn, Chúc Du, Tường Chi, Chuyên Ngu, mỗi vị một tòa. Trong số ấy thì tháp của Chuyên Công là to nhất, chế tạo bằng đá, bảy tầng, cao chừng ba trượng, trúc nhỏ xanh biếc chụp lên trên như cái lồng, xem ra rất là tráng lệ. Xem xét Hương Nghiêm Cổ Tự, từ Quốc sư trở về sau, từng trải qua hưng phế mà Tông Phong Lâm Tế nương cậy chẳng dứt đều là công đức của các sư vậy.

Rẽ đường trở về, từ góc bên trái chùa đi lên phía bắc vài mươi bộ, chuyển qua đông bắc mà đi, đường đá khúc khuỷu, cây rừng sâu thẳm, bên đường hoa lan thơm phức, hương thơm vương theo tay áo. Ngước trông ngọn Hỗ Sơn, ngọn núi cao chót vót đứng sừng sững lưng trời. Ði chừng một dặm, lên triền đất là tháp của Lễ Minh Bảo Sơn thiền sư. Ðứng đây trông về đông, núi Long Sơn uốn mình như con rắn, thế núi như cái tường đất dài. Bách xanh biếc sum suê la liệt, rõ là kỳ quan. Trông về nam, núi non chồng chất, cỏ cây rậm rạp, xanh biếc một màu, gợi nhiều họa ý. Từ đây lại đi về phía đông bắc, vượt qua núi mà xuống, trông về bắc, dãy núi cao chót vót, rừng hang thâm u. Chuyển về phía trái leo lên chân núi, đường đá bóng láng, bước từng bước ngắn cẩn thận. Ði chừng hơn một trăm bộ, thấy hai khối đá đứng đối nhau như cái cửa thì tức là thạch động đôi. Ðá cao hai trượng, rộng như thế, hai động đều ở mép bên phải, diện tích chúng chẳng quá một trượng vuông, đều là do nhân công đục tạo ra, ngấn búa còn rành rành có thể chứng minh. Bên trong thờ vài mươi pho tượng Phật, bên dưới ấy có đài có thể ngồi, nằm được. Trên khối đá bên trái có khắc một cái khám thờ, góc trên khảm sâu một hình bia vuông: Tống Vô Hoài Thượng Nhân vãng Ngũ Ðài của Hình Bộ chủ sự Lý Âm làm, thời Vạn Lịch nhà Minh. Ngồi ở cửa động nghỉ một chút, lại xuống sang phía đông bắc mà đi, thấy ở kẽ đá trái cây xanh chín rộ, hồng trắng xen nhau sặc sỡ thật vui mắt. Ði chừng ba dặm thì đến dốc Thái Tử, bên trên có hai ngôi nhà tranh, tương truyền là chỗ ẩn náu của Ðường Tuyên Tông. Chuyển sang phía bắc mà đi, hai bên đường cây bách xanh um tùm, sinh ra mát lạnh. Hương Nghiêm chẳng những chỉ có lan, huệ là đặc sản, mà nhiều cây bách cũng là vật hiếm thấy ở nơi khác.

Xuống khỏi pha (triền núi dốc), bỗng nghe có tiếng ầm ầm như sấm lớn, vị tăng nói rằng:

- Thác Bộc Ðột đến rồi vậy!

Lại đi vài mươi bộ, quả nhiên thấy một dòng nước rộng từ động đá vọt ra rầm rầm ào ào như cọp đói kêu, như tiếng ngựa chạy, thế nước tuông trào ấy chẳng thể đặt tên. Vóc nước lên uống thì vị rất ngọt mát lạnh. Quay mặt nhìn về phía tây, vách núi cao hàng trăm thước có một thớt lụa trắng treo giữa không trung. Vị tăng nói rằng:

- Ðây mới là một trong tám cảnh, Bộc Bố phi tuyền (thác trắng đổ tợ lụa) vậy!

Ðến gần nhìn thì thấy bên trái bên phải mép núi cao ngất, cây lâu năm, dây leo xanh đan xem nhau sống trên ấy. Quấn quít yêu kiều giống như rồng rắn, Bộc Bố từ núi cao tuông xuống, cao đến bốn trượng. Tiếc là trời hạn nên thế nước chẳng vượng lắm vậy.

Thủy Liêm Ðộng ở tại bên trái bên phải miếu bên dưới triền núi, không lội qua suối thì chẳng thể thấy. Vị tăng nói:

- Trời chẳng còn sớm để ngày mai du lãm tiếp!

Tôi nghe theo ông ấy mới chống gậy tìm đường mới mà trở về. Ði men theo suối, tiếng nước rì rào như đàn sắt của Tương Linh, như đàn cầm của Bá Nha, hoa cỏ thơm lừng, quyện nhau thật thú vị, khiến cho con người quên hết mệt mỏi, sạch trơn buồn rầu. Trở về đến chùa thì màu chiều đã hết vậy!

Buổi sáng ngày hai mươi hai, tôi vì tăng trong chùa làm một bức tượng Phạt-na Tôn Giả để lưu lại làm kỷ niệm. Buổi chiều, cùng với vị tăng tri khách tham quan suối Trân Châu và thắng cảnh cây bách đôi không gốc (vô căn nhị bách ). Ra khỏi sơn môn, xuyên qua rừng trúc, lội qua suối mà đi về phía tây, trông xa có ngôi đình đứng bên bờ suối. Vị tăng chỉ nói rằng:

- Ðây tức là suối Trần Châu vậy.

Ði về phía trước năm mươi bước, rồi theo cấp vào đình, thấy ở giữa có một cái ao vuông rộng một trượng, màu nước xanh đen, sâu chẳng thấy đáy. Cúi xuống lặng im quan sát, quả nhiên có bọt nước, từ dưới xông lên mặt nước, trong suốt như hạt ngọc, lúc ẩn lúc hiện, liên miên chẳng dứt. Cái tên suối Trân Châu quả đáng tin chẳng hư dối vậy! Chỉ là mặt ao đã nhỏ mà ngọc cũng không nhiều. So ra chẳng bì kịp thắng cảnh Bách Tuyền Trân Châu (trăm suối ngọc) tại huyện Huy (tỉnh Hà Nam). Vả lại do có đình che, chẳng có ánh mặt trời nên màu sắc giảm đi nhiều.

Rời suối Trân Châu đi về phía đông chừng nửa dặm, thấy bên phải đường đi, trong đám cỏ rập có một tảng đá, từ kẽ đá mọc ra hai cây bách như có người cắm lên đá. Ðốt trên của cây bị cưa đi, chỉ thừa lại đốt dưới chừng một thước nhờ rễ ngầm mà đứng vững, rõ là một kỳ quan. Vị tăng nói rằng:

- Ðây tức cái gọi là Vô Căn Nhị Bách vậy.

Kỳ thật chúng đều chẳng phải vô căn, mà rễ ở dưới tảng đá, người không thấy vậy.

Buổi chiều ngày hai mươi ba, một mình tự chống gậy đi bộ đến Hổ sơn câu nhất du (khe suối Hổ sơn du lãm đệ nhất). Ra khỏi cửa chùa đi xuống con suối, từ suối Trân Châu chuyển sang hướng bắc mà đi, lối núi lổm nhổm, bụi cây cỏ dại nghẽn đường, tiếng suối chảy rì rào, âm vận như tiếng đàn. Vạch cỏ tranh đi về phía trước, thế núi nghiêng nghiêng như đi vào ngõ sâu, bóng râm lớp lớp phủ kín, mát lạnh thấu xương. Hai bên đường, rừng kín mít, đá ngổn ngang, hoa huệ sinh sôi tràn lan, đâu đâu cũng nhìn thấy, gặp lúc mới ra hoa, hương thơm tinh khiết ngấm vào tỳ vị. Tôi ngâm được câu rằng:

Tảo tri thử đa quân tử thảo

Thùy hoàn khứ phỏng Trân Châu Tuyền?

Tạm dịch:

Sớm biết đây nhiều cỏ quân tử

Ai lại đi thăm suối Trân Châu.

(Tuệ Khai dịch)

Thật ra cũng là lên tiếng bất bình vậy. Ngồi lặng lẽ ở trong đám hoa huệ nghỉ ngơi, tiện tay bẻ vài cành hoa, lấy cỏ bó lại, rồi qua suối đi lên triền núi, theo đường bên phải chùa mà trở về.

Chiều tối, thăm hỏi Trí Viễn thiền sư. Nhà sư rất thông Phật lý, đàm luận thoả thích rất vui mừng. Ngài nguyên quán huyện Nam Triệu, tuổi hơn năm mươi (tuổi tri mạng), đạo mạo thanh tú, tính tình điềm đạm. Ðầu tiên chưa từng đọc sách, toàn nhờ vào sự chăm học ưa hỏi, công phu tự tu không biết mệt mỏi, cuối cùng có thể rộng xem Kinh điển, vỡ vạc thông hiểu. Tuy rằng trí tuệ vốn sâu sắc nhưng vẫn là do tinh thần ham thích học hỏi mà thành tựu vậy.

Ngày hai mươi bốn, trời tạnh trong sáng, sau khi ăn sáng, Trí Viễn thiền sư xin dẫn đường tôi đi thăm Thủy Liêm động, tôi hân hoan mang giày cỏ, chống gậy tre theo ngài. Vượt qua dốc Long Sơn, từ phía nam miếu Long Vương lội qua suối. Vạch cỏ tranh, níu dây leo mà di lên, vách đá cao chót vót, đường hoang khó thông, gai góc nghẽn lối, cởi áo vắt vai. Ði chừng hơn trăm bộ là đến đỉnh triền núi, cúi xuống nhìn suối sâu, quái thạch chập chùng, thiên hình vạn trạng, như cọp như sói như vượn như dê... không gì chẳng giống cả. Ðộng Thủy Liêm ở đối diện bên dưới triền núi, là do nước rỉ ra từ núi cấu tạo thành. Ðá làm hình đám mây, vạch trần ra thì lung linh (óng ánh) nhưng đều bị rêu phong. Ðộng như một cái khám thờ lớn, có thể chứa được vài người. Nước từ phía trước động tuông xuống giữa suối, tiếc là nước nhỏ chẳng tạo thành rèm. Xem ra hình trạng chẳng bì kịp động Bách Thủy Liêm Tuyền vậy. Tôi ra khỏi động, vội vã phác họa động Thủy Liêm, rồi cùng một đồng tử theo mặt bắc xuống triền núi. Ý ngỡ là con đường này so với con đường mặt nam rất nguy hiểm sẽ tốt hơn, nào ngờ vách đá tuyệt lối, núi cao chót vót. Không xong, Trí sư tự mình đi xuống trước, vì tôi đỡ chân, tôi mới hồi hộp dời bước xuống, vừa đến giữa dòng suối, chẳng còn kềm chế nỗi, toàn thân vã mồ hôi. Dẵm lên đá lớn lội qua suối, thấy mặt bắc còn có một cái động so với động Thủy Liêm thì lạ lùng hơn nhiều. Vả lại tầng đá hình đám mây cũng nhiều hơn, nếu chẳng phải tay búa quỷ, thợ thần thì chẳng thể tạo hóa ra chỗ này. Tôi ngồi trên đá, lặng nghe thác đổ ì ào, rầm rầm, long cong, leng keng vừa giống như mưa rào chợt đến ban ngày lại vừa giống như tiếng đàn lúc nửa đêm, tâm thần sảng khoái vui vẻ. Vẫn ngồi y vậy hồi lâu chẳng đi, nhưng xem ra màu trời đã sắp đúng ngọ, tôi liền cùng Trí sư nâng đỡ nên mới hóa hiểm thành tốt đẹp. Lên đến triền núi nghỉ một chút liền chống gậy trở lại chùa. Cuộc du lãm Hương Nghiêm xin dừng ở đây vậy!

Tôi ở chùa trên tính ra được bảy ngày, thịnh tình bè bạn rất đáng cảm động. Lúc sắp ra đi ứng khẩu làm một bài thơ: 

Can qua mãn địa ta thời gian

Thế thượng nhân mang ngã độc nhàn

Trúc trượng mang hài vân hạc lữ

Tùy duyên đáo xứ tả giang san

Tạm dịch:

Can qua đầy đất thán gian nan

Nhân thế rộn ràng ta độc nhàn

Giày cỏ gậy tre mây hạc bạn

Theo duyên chỗ đến tả giang san.

(Tuệ Khai dịch) 

Phan Rang ngày 14 tháng 7 năm 2002.

Tuệ Khai cư sĩ


 

1 Ngài Bạt-đà : Con gọi là Phật-đà thiền sư. Năm sinh và năm mất không rõ. 

2 Cây ngân hạnh : E. ginkgo, cây hoa trắng, quả sinh nhiều, nhân ăn được; còn gọi là cây bạch quả.

3 Cổ bách : Thứ cây thuộc loại thông, lá xanh suốt năm.

4 Diện thạch bích : Nơi Ðạt-ma Sư Tổ tọa thiền nhập định, 9 năm quay mặt vào vách.

5 Nụy khấu : Cướp biển Nhật (từ thế kỷ 14 - thế kỷ 16).

6 Tăng-già Phật-đà: Tác giả viết nhầm. Là ngài Phật-đà (Bạt-đà) thiền sư (xem cht. 1, tr. 396).

 

7 An Quốc Sư: Còn gọi là Huệ An Quốc Sư (582-709), ngài họ Vệ ở Kinh Châu, Hồ Bắc. Ðời Ðường niên hiệu Trinh Quán (627), ngài đến Hoàng Mai yết kiến Hoằng Nhẫn được tâm yếu... Sau đến núi Tung Nhạc, ngài nói:“Ðây là đất cuối cùng của ta”... Năm Ất Mùi, có chiếu rước ngài và Thần Tú đến kinh đô, tôn làm Quốc sư. Vũ Hậu thường hỏi: “Ngài bao nhiêu tuổi”. Ngài đáp: “Chẳng nhớ thân sanh tử xoay vần... Từ lúc ban đầu đến lúc tướng động diệt cũng chỉ như thế, có năm tháng nào để nhớ?”. Sau ngài giả từ hoàng cung trở về Tung Nhạc Thiếu Lâm tự. Ngài thị tịch ngày mùng 8 tháng 3 năm thứ ba niên hiệu Cảnh Long, thọ 128 tuổi... khi hỏa thiêu thân ngài thì lửa rừng tự nhiên cháy, được xá-lợi tám mươi viên... (Tống Cao tăng truyện 18, T50n2061, tr. 823b12. Cảnh đức truyền đăng lục 4, T51n2076, tr. 232c14).

8 Phá Táo Ðọa : Là Hòa thượng Phá Táo Ðọa ở núi Tung Nhạc, đời Ðường, không rõ danh tánh. Nhân trong núi có ngôi miếu rất linh nhưng chỉ thờ một bếp lò (thần táo); một hôm sư đi ngang qua, tò mò sư bước vào miếu thấy sinh vật bị giết hại dâng cúng quá nhiều. Sư cầm gậy gõ lên táo ba cái nói: “Chà! Táo này chỉ do bùn đất hòa hợp, vậy Thánh từ đâu đến? Linh từ đâu lại? Gây tổn thương sinh vật như thế!”. Ngay lúc ấy, thần Táo liền (sanh Thiên) thoát sự đọa lạc (phá Táo đọa).... Do nhân duyên này mọi người gọi ngài là Hòa thượng Phá Táo Ðọa. (Tống Cao tăng truyện 19, T50n2061, tr. 828b. Cảnh đức truyền đăng lục 4, T51n2076, tr. 232c22).

9 Lộc Ðộng: là thư viện Bạch Lộc Ðộng , vị trí nằm dưới chân ngọn Ngũ Lão, Lô Sơn, phía bắc huyện Tinh Tử tỉnh Giang Tây. Vì đời Ðường, Lý Bột ẩn cư nơi đây học tập và có nuôi nai Trắng (bạch lộc) làm thú vui, nhân đó đặt tên. Thời Nam Ðường kiến lập nơi đây là Lô sơn quốc học. Ðến đời Tống, Thanh, Minh đều lập thư viện.

10 Cáp Lị Quan Âm : Một trong 33 hình tượng Quan Âm thị hiện ngồi trong vỏ sò (Cáp lị). Nguyên do vua Văn Tông đời Ðường thích ăn sò, có con cậy nhưng không mở miệng, vua thắp hương khấn vái, bổng chốc biến thành hình vị Ðại sĩ (Quan Âm thị hiện để giáo hóa)....

11 Tăng Hoài Nghĩa: Có thể Tác giả đã viết nhầm. Niên hiệu Vĩnh Xương nguyên niên (689), Pháp Lãng thuộc phái Ma-ni giáo  (E. Manicheism) dâng hiến kinh Ðại Vân cho Võ Hậu, cùng lúc Võ Hậu đổi quốc hiệu là “Chu” và phân bố kinh này các nơi, hạ lệnh kiến tạo Ðại Vân tự.

12 Giữa năm Cảnh Long và Cảnh Vân (707-710), ngài Nghĩa Tịnh ở chùa này dịch: Dục tượng công đức kinh, Xưng tán Như Lai công đức thần chú kinh... Giữa năm Khai nguyên (713), ngài Kim Cang Trí cũng ở đây dịch: Kim cang đảnh kinh, Mạn-thù-thất-lợi Bồ-tát ngũ tự tâm đà-la-ni phẩm...

13 Thiện : Gọi đủ là Thân cận thiện xứ (nơi gần gũi điều thiện), cũng là tên khác của “chùa” (tự ).

14 Xà-la-cấp-đa: Tác giả đã viết nhầm tên người này. Thật ra là hai vị: Ngài Xà-na-quật-đa (Skt. Jnõānagupta, 523-600) và ngài Ðạt-ma-cấp-đa (Skt. Dharmagupta, ?-619), cả hai đã đến Ðại Hưng Thiện tự truyền thọ Mật tông, dịch kinh.

15 Tác giả viết nhầm chữ “tựa”. Ðính chính: Bôn thấu như triều đông 

16 Thần Châu : Trâu Diễn, tư tưởng gia thời Chiến quốc, ông lập ra thuyết “Ðại cửu châu” thì Trung Quốc thuộc trong 9 châu, gọi là “Xich huyện thần châu ”. Nhân đó hậu thế gọi Trung Quốc là Thần Châu.

17 Quỉ công : Một tài năng kỹ nghệ phi thường, một thợ giỏi tài ba xuất chúng.

18 Quan Trung : Nay là tỉnh Thiểm Tây.

19 Ngũ lăng : Năm lăng mộ vua nhà Hán, là Trường lăng (Cao đế), An lăng (Huệ đế), Dương lăng (Cảnh đế), Mậu lăng (Vũ đế), Bình lăng (Chiêu đế) đều ở Trường An (nay Tây An, tỉnh Thiểm Tây).

20 Thương Lạc : Là huyện Thương và huyện Lạc (nay sáp nhập vào huyện Thương tỉnh Thiểm Tây).

21 Khiên Lang  : Tác giả viết nhầm chữ. Là Khiên Lũng  , huyện Khiên ở Lũng Châu. Nay là huyện Lũng tỉnh Thiểm Tây. 

22 Cuối đời Hán, Ngũ hầu họ vương : Trước thời Hán Thành Ðế (thời Tây Hán), trong một ngày có năm người họ Vương đều được phong Hầu: Vương Ðàm (Bình A Hầu), Vương Thương (Thành Ðô Hầu), Vương Lập (Hồng Dương Hầu), Vương Căn (Khúc Dương Hầu), Vương Phong Thời (Cao Bình Hầu). Tác giả đã nhầm thời gian lịch sử, vì đến đời Hán Thành Ðế chưa phải cuối thời Tây Hán.

23 Vương Ma-cật: Là Vương Duy tự  Ma-cật (701-761), người Thái Nguyên tỉnh Sơn Tây. Thi gia đời Ðường, thơ của ông lại nhuốm tư tưởng Phật giáo nên còn gọi Thi Phật.

24 Lữ Tổ: Là Lữ Nham tự Ðộng Tân (Lữ Ðộng Tân ), người ở Vĩnh Lạc đời Ðường. Ông tu tiên đắc đạo, nổi tiếng nhất trong bát tiên.

 

25 Quan trung có núi Trung Nam nổi tiếng (xem cht. 17, tr. 424).

26 Y quan : áo mão ý nói làm quan. (cht. Dịch giả)

27 Mã điếu : Một loại cờ bạc xuất xứ từ thời Minh Hi Tông, niên hiệu Thiên Khải (1621).

28 Quách phác (276-324), văn học gia trứ danh đời Tấn.

29 Nhĩ Nhã : Tác phẩm huấn hỗ học (giải thích chữ), do các học giả đầu đời Hán biên tập, ghi chép từ các sách vở cũ có hiệu đính tăng bổ thêm.

30 Huyện Kiền Vi : Nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên.

31 Văn học xá nhân : tên một chức quan đời Hán.

32 Huyện Vinh : Nằm phía đông huyện Kiền Vi, thuộc tỉnh Tứ Xuyên.

33 Tô Văn Trung công : Tiên sinh Tô Văn Trung. Văn Trung là tên thụy Thi gia Tô Thức (Tô Ðông Pha), đời Tống.

34 Vạn hộ hầu : Tước cao nhất đời Hán được thu thuế một vạn hộ nông dân.

35 Hàn Kinh Châu : Còn gọi là Hàn Triêu Tông, người đời Ðường, con Tư Phục, làm Thứ sử Kinh Châu.... (là người nổi tiếng).

36 Hán gia thủ : Làm Thái thú ở Hán Gia (nay là tỉnh Tứ Xuyên). Ý này có nghi vấn, vì Tô Ðông Pha chỉ làm Thái thú ở Hàng Châu (từ tháng bảy năm 1089 đến tháng hai năm 1091) và Ðịnh Châu (từ tháng mười năm 1093 đến tháng tư năm 1094). Ðồng thời, theo Trung văn bách khoa đại từ điển (Trung Quốc văn hóa nghiên cứu sở ấn hành) q. 36, tr. 413b (Hàn Triêu Tông, n.271): Dẫn bài thơ này của Lý Bạch.

37 Kinh Bối-diệp : Kinh viết trên lá Bối (Skt. pattra).

38 Ðạt-nhĩ-văn : Darwin (Charles Robert Darwin, 1809-1882), nhà Tự nhiên học Anh. Cũng là nhà địa chất, sinh học, tâm lý, là một trong những nhà lí luận chính về tiến hóa luận.

39 Âm Bình Kiếm Môn : Kiếm Môn là danh sơn ở phía bắc huyện Kiếm Các tỉnh Tứ Xuyên. Âm Bình là địa danh xưa, nay là con đường từ huyện Văn tỉnh Cam túc, đến núi Tả Ðảm huyện Bình Vũ tỉnh Tứ Xuyên. Vì đỉnh núi Kiếm Môn khởi từ Kiếm Các chạy về phía Ðông nam, ngang qua núi Tả Ðảm và dừng tại phía bắc huyện Hiệp Xuyên. Cho nên Tác giả gọi chung là Âm Bình Kiếm Môn.  

40 Dốc Trường Thọ : Nay là huyện Phong Ðô tỉnh Tứ Xuyên.

41 Lục ỷ : Là lụa xanh, đây là tên đàn cầm của Thái Ung, một học giả cuối đời Ðông Hán.

42 Thục tăng : Thục tăng ở núi Nga Mi.

43 Ðường thi, Trần Trọng Kim tuyển dịch.

44 Võ Lăng : Mạch núi tại lĩnh Cảnh Miêu tỉnh Quí Châu.

45 Ðào Nguyên : Là danh sơn phía tây bắc huyện Ðào Nguyên tỉnh Hồ Nam.

46 Phạn Bối: Xem cht. 35, tr. 462.

47 Bát cảnh : Tám cảnh đẹp bên sông Tiêu Tương tại tỉnh Hồ Nam.

48 Vô phùng bảo tháp : Phàm việc xây tháp là dùng gỗ hay đá xếp chồng lên nhau mà thành, do đó tháp đều có nẹp, có gốc, có tầng, cấp... Nhưng nếu chỉ dùng một khối đá để dựng thì tháp không có nẹp, gốc, tầng, cấp. Người đời gọi kiểu tháp này là tháp trứng (noãn tháp), vì hình tháp giống trứng chim. Danh từ Vô phùng tháp là do Trung Quốc Sư đặt ra (Truyền đăng lục, chương Nam Dương Trung Quốc Sư).

49 Sông Ðan : Do bắt nguồn từ trong mạch núi Miêu Lĩnh, phía đông huyện Ðan Giang tỉnh Quí Châu, nên có tên này.

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au