Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
DANH LAM KÝ
Nguyên tác:
Bán Tăng
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
I. CHÙA THIẾU LÂM.
Ngụy Thư chép
rằng: “Ngài Bạt-đà
từ Tây trúc sang, có đạo nghiệp, rất được sự kính trọng của Hiếu Văn Ðế
(467-499). Nhà vua xuống chiếu lập chùa Thiếu Lâm ở phía Bắc núi
Thiếu Thất cho ngài ở”.
Huyện chí của
huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam chép rằng: “Chùa Thiếu Lâm do Hiếu Văn
Ðế đời Hậu Ngụy xây dựng. Ngôi chùa ở tại chân núi phía nam ngọn Ngũ Nhũ
về phía bắc núi Thiếu Thất, có am Sơ Tổ, thời Lương Võ Ðế, tổ Ðạt-ma ở đây
“diện bích” chín năm, lại có Chiếu ảnh thạch (đá chiếu ảnh)”.
“Du Trung
Nhạc Ký” của Phan Lỗi ghi rằng: “Chùa Thiếu Lâm ở phía nam ngọn núi Ngũ
Nhũ, dưới chân núi phía bắc Thiếu Thất, không gian rộng thâm u, hình thành
cảnh thiên nhiên thắng diệu. Nơi ngài Bạt-đà tạo tháp, ngài Tuệ Quang
phiên dịch kinh đã làm nên thần dị. Từ khi Tổ Ðạt-ma đến từ phía nam, ẩn
cư ở chùa ấy, cuối cùng có được ngài Thần Quang để truyền “Tâm ấn”. Thiền
Tông Ðông Ðộ bắt đầu hưng vượng từ đây. Nhưng đời sau chư Tổ đều hành hóa
địa phương khác, chẳng ở Thiếu Lâm. Ðăng Lục đã chép, những bậc tôn túc
đời Ðường, Tốâng, người làm chủ tịch Thiếu Lâm rất ít. Ðến thời Thế Tổ nhà
Nguyên, ngài Tuyết Ðình Dụ Công phụng chiếu đến làm trụ trì, xưng là khai
sơn đời thứ nhất. Những hậu nhân của ngài truyền đời ở theo, nhưng pháp
đạo không quang hiển lắm”.
Sáng sớm ngày
mười lăm tháng năm năm Dân Quốc thứ hai mươi chín, chân đi hài cỏ, tay cầm
gậy trúc, tôi cùng thị giả xuất phát từ huyện Ðăng Phong đến chùa Thiếu
Lâm chiêm ngưỡng lễ bái di tích sơ tổ Ðạt-ma. Ra cửa tây mà đi về hướng
bắc, vào công lộ chuyển sang hướng tây bắc mà đi, ăn trưa ở phố Thập Lý.
Gặp tháng trời lạnh lẽo, vả lại thu ý (cảnh mùa thu) thêm não nùng. Nghỉ
ngơi một chút, lại tiến về phía trước. Trông về bắc, những ngọn của dãy
Thái Thất (Trung nhạc) giăng ngang theo chiều đông - tây như con rồng xanh
nằm sóng soải trên đất, thân dài, xương sống cao, đoan nghiêm đáng sợ.
Trông về hướng tây, những ngọn núi mặt nam của núi Thiếu Thất như ngôi
tháp, như cây gươm, như mụt măng, như cây kích... nạo vót mài dũa vọt cao
lên chẳng thể nêu danh trạng. Ði qua khoảng hai núi Thái Thất và Thiếu
Thất, nhìn trái, trông phải, có cảm giác như “trên con đường phía bắc núi
ứng tiếp chẳng thôi”.
Mười tám dặm
thì đến nhà nghỉ ở bên ngoài, đất đai men theo đường không mầu mỡ, chẳng
thích hợp cấy lúa. Núi đồi trơ trụi, mây mù lạnh lẽo, khung cảnh thật
hoang lương. Vào nhà nghỉ bằng tranh nghỉ ngơi giây lát rồi chuyển sang
hướng tây mà đi. Ði ước chừng hai dặm thì gặp ngã ba đường. Ðường lớn
hướng tây bắc là đi về Lạc Dương, đường nhỏ hướng chánh nam là đến Thiếu
Lâm. Ðành phải bỏ đường lớn mà đi vào đường nhỏ vậy.
Ði về phiá
trước, đường núi quanh co chướng ngại trùng điệp, khe cao suối thấp cuồn
cuộn chảy ầm ĩ, inh tai muốn điếc. Từ xa trông thấy cửa ải Hoàn Viên, giữa
mở một đường khúc chiết quanh co, hình thể hiểm trở. Hậu Hán Thư chép
rằng: “Năm Kiến Võ thứ chín đời Quang Võ (Ðông Hán năm 25 TL), tháng sáu
mùa hạ Hạnh Hầu Thị lên Hoàn Viên”. Ðó tức là đất ấy.
Còn năm dặm
nữa đến chùa Thiếu Lâm. Ngôi chùa ở tại chân núi phía nam núi Ngũ Nhũ, núi
Thiếu Thất nằm ngang phía trước, một dòng suối trong bao quanh, quả thật
là hình ảnh thắng địa. Tiếc là rừng cổ bách xanh tươi ngày xưa đã bị chặt
phá hầu hết nên sao tránh khỏi cảm giác hoang vu!
Qua khỏi cửa
Trung Thiên Phước Ðịa, trên ngạch đá có khắc bốn chữ “Bạt-đà Khai Sáng”.
Bên ngoài sơn môn có một đôi sư tử đá điêu khắc rất tinh xảo. Nhan đề trên
cửa là “Thiếu Lâm Tự”. Ðó là ngự bút của hoàng đế Khang Hy, chữ viết đoan
nghiêm đáng xem. Tiến vào Sơn môn làm lễ Phật Di Lặc, pháp tượng tô vẽ rất
tinh xảo, đáng gọi là một cấu tạo đẹp, sau lưng thờ pháp tượng Vi Ðà mà
nét đẹp chẳng bì kịp. Tiến về phía sau, hai bên lối đi giữa có hai góc
ngân hạnh,
vài gốc cổ bách
mà tàng cây khép tán, bóng che nửa mẫu, bởi cây đã có số tuổi vài trăm
năm. Ðiện chùa ấy có bảy tấn (nhà chia ra từng phần), qui chế cao rộng, ít
đâu sánh bằng. Chỉ có điện Tứ Thiên Vương, Ðại Hùng Bảo Ðiện, Tàng Kinh
Các, liêu tăng đông và tây cùng Diện Bích Thạch,
số còn lại thì vào năm Dân Quốc thứ mười sáu gặp cảnh binh lửa loạn lạc
đều phó mặc cho một ngọn đuốc, đá gạch ngổn ngang trước mắt khiến cho
người thương tiếc bùi ngùi! Du khách đến Tung Sơn phần nhiều là do Thiếu
Lâm là đất danh thắng, nhưng nay xem ra khác xưa xa nên chỉ với tấm lòng
thăm viếng chân thành mà thôi.
Trước điện
Ðại Hùng là một rừng bia, tính gộp lại có hơn một trăm cái. Như: “Thích Ca
Như Lai Song Tích Linh Tướng Ðồ”, “Tứ La-hán Họa Tượng”, “Ðạt-ma Ðộ Giang
Họa Tượng”; Mễ Nguyên Chương viết “Ðệ Nhất Sơn”, “Nghi Sơn Họa Trúc” “Càn
Long Ngự Thư Bi”. “Sơ Tổ Ðạt-ma Thật Tích Ký”. “Ðường Thái Tông Cáo Võ Hậu
Thi Bi”, “Bùi Hoắc Bi” v.v... không luận là ở phương diện Phật giáo hoặc
phương diện nghệ thuật chúng đều có giá trị tương đương. Bia của Ðường
Thái Tông cao chín thước, rộng bằng nửa chiều cao, đề ngạch rằng: “Thái
Tông Văn Hoàng Ðế Ngự Thư”, cuối bia ghi là: “Khai Nguyên Thập Lục Niên
Thất Nguyệt Thập Ngũ Nhật Kiến” (Kiến tạo ngày rằm tháng bảy năm Khai
Nguyên thứ mười sáu). Thư pháp viết theo thể chữ Lệ phóng túng tự nhiên
đẹp đẽ. Những gì trong các bia ở đây rất là quý báu.
Sau cùng, có
điện Tỳ-lô gồm năm gian. Vách điện vẽ năm trăm Ứng Chơn và pháp tượng Tổ
Bồ-đề-đạt-ma, tương truyền do Ngô Ðạo Tử đời Ðường vẽ. Trên bức vẽõ, mây
nước xa thăm thẳm, thần thái sinh động, thực là một tác phẩm kết cấu đẹp.
Tăng chúng chùa ấy còn luyện tập việc võ, giỏi kỹ năng quyền kích. Lịch sử
cho là Ðường Thái Tông phá giặc Vương Thế Sung đã được nhiều lực lượng
tăng binh chùa Thiếu Lâm trợ giúp. Lại, vào đời Minh, một dãi duyên hải
đông nam bị Nụy khấu
làm loạn, tổng chế Hồ Tôn Hiến cũng đã mượn sử dụng tăng binh Thiếu Lâm.
Ngày xưa đã cùng với quyền thuật Võ Ðang tranh đoạt danh tiếng trong nước,
xưng là “Thiếu Lâm Phái”. Những tác giả tiểu thuyết võ hiệp cũng thỉnh
thoảng múa diệu bút làm phát sinh ra tinh hoa của phái ấy, cực lực làm
thấm đượm lan truyền phái võ ấy. Ngày nay trên đất Phật điện còn bảo tồn
dấu chân đạp khi diễn tập quyền kích nên sự thâm hậu thuần thục của công
phu ấy có thể thấy ở đây vậy. Những kẻ bài bác Phật đôi lúc cho rằng, tư
tưởng Phật giáo bi quan, tiêu cực, yếm thế... Thử nghĩ, ở hai đời Ðường,
Minh tăng chúng Thiếu Lâm cầm mác vung quyền mà hộ vệ xã tắc mà gọi là
“tiêu cực” “yếm thế” ư?
Trên vách mái
vũ phía đông có vẽ “Quyền kích đồ tượng”, những tư thế sở hữu đều có đủ
hết, nhưng đó mới là “lam bản ” (bản gốc) của quyền kích sơ học vậy.
Từng đọc
“Danh Họa Ký” của Trương Ngạn Viễn đời Ðường chép rằng: “Ngài Tăng-già
Phật-đà
ở chùa Thiếu Lâm, đến nay họa thần còn trên cửa phòng tức là dấu tích
Tăng-già Phật-đà”. Ngày nay tìm khắp các cửa phòng đều mù tịt chẳng tìm
được, hỏi các vị tăng trong chùa, cuối cùng cũng không ai biết. Danh họa
chìm mất làm cho kẻ này than thở ân hận hồi lâu! Lại sách của Mai Tung nói
rằng: “Sau Tàng Kinh các chùa Thiếu Lâm có một gốc hòe cổ, tương truyền
được trồng vào thời Tần và được phong hàm Ngũ phẩm. Thơ của Văn Ngạn Bác
đời Tống có câu: “Ngũ phẩm phong hòe kim thượng tại ”.
(Cây hòe ngũ phẩm nay còn đó). Du ký của Ðô Mục ghi rằng: Cây hòe Tần cao
mười trượng, chu vi hai mươi thước”. Tiếc thay! Cây hòe Tần ngũ phẩm cũng
đã thành danh từ trong lịch sử thôi vậy.
Ngôi chùa ấy
có thiết lập một sở học hiệu Quốc Dân, học sinh lối hai, ba mươi người,
tăng đồ theo học được một phần tư trong số ấy, còn lại đại đa số là con em
nông gia vùng phụ cận. Ngày học tập khóa nghiệp, ban đêm luyện tập quyền
kích, còn bảo tồn được Tông phong thượng võ của Thiếu Lâm. Giáo sư của
trường ấy có hai vị: Một vị họ Ngụy, người huyện Yển Sư. Một vị họ Ðịch,
người huyện Lâm Nhữ, đều là những người đôn hậu trung thành, có lễ nghĩa
hoàn hảo.
Ðến pháp
đường, thừa lệnh tri khách tăng Vĩnh Quý chuẩn bị trà, dọn cơm, khoản đãi
rất ân cần. Vị tăng hơn hai mươi tuổi, tính tình khóat đạt ngay thẳng,
trước có năm ở Hạ Môn, khá tinh thông Thiền lý và am tường việc học tân
thời, là một thanh niên mới vậy.
Sau khi ăn
trưa, nhờ tăng Vĩnh Qúy và ông Ðịch làm người dẫn đường đi xem Sơ Tổ am.
Sơ Tổ tức là tổ Bồ-đề-đạt-ma, người đảo Tích Lan, nam Ấn Ðộ, vào thời
Lương Võ Ðế bắt đầu vào Trung Quốc. Ðầu tiên ngài đến Quảng Ðông, tiếp
theo đến Kim Lăng (nay là Nam Kinh). Ngài vì Lương Võ Ðế đàm luận Thánh Ðế
Ðệ Nhất Nghĩa, nhà vua chẳng ngộ, biết cơ duyên không khế hợp, ngài mới đi
lên bắc đến Ngụy, dừng bóng (ý nói ở lại) trong hang đá núi Ngũ Nhũ của
chùa Thiếu Lâm, diện bích chín năm. Sau khi chứng đạo, ngài làm Tổ của
Phật giáo Thiền Tông Trung Quốc. Cho nên gọi là “Sơ Tổ”. Tăng đồ đời sau
ngưỡng mộ đạo của ngài mới xây dựng am để kỷ niệm.
Am cách chùa
hai dặm về phía tây bắc, qua khỏi đài Cam Lộ trèo lên gò cao mà đi về phía
tây, xuống khe rồi lên trở lại là đến nơi. Am dựa vào chân núi mà xây
dựng, cây rừng che kín, phong cảnh thanh tịnh tuyệt vời. Tiếc cho điện vũ
đã nghiêng đổ, tường lở ngói hư, mắt chẳng nỡ nhìn vậy. Trước sân có một
gốc bách chính tây Lục Tổ trồng, tương truyền là người đem từ Quảng Ðông
đến. Thân cây bách chừng ba người ôm, cành lá như xưa, xanh biếc đáng yêu.
Ðộng diện bích của Tổ Ðạt-ma ở trên Ngũ Nhũ phong, cách am còn xa. Am Nhị
Tổ ở chân núi phía bắc Thiếu Thất đều theo lối núi mòn mà lên nên dừng lại
mà không đến. Vả lại trời mưa lâm râm. giá lạnh quá sức nên vội vàng đi
quan sát một lượt vườn tháp, rồi theo đường cũ trở về chùa. Nhìn trở lại,
hơi mây bốc lên, màu núi mênh mông, các ngọn núi phía tây nam như ở trong
sương mù, nghiễm nhiên trở thành bức tranh thủy mặc vậy.
Trời chiều
mưa tạnh. Ðêm ở trong sân xem Sa-di và các học sinh biểu diễn quyền kích,
múa đao đánh gậy (bổng), đều phấn chấn tinh thần. Bất đồ hôm nay tôi còn
được ở đây đích thân xem tông phong võ thuật hơn ngàn năm của Thiếu Lâm,
cũng gọi là may mắn lắm vậy!.
Xem xong, trở
về ngồi ở pháp đường cùng với hai ông Ðịch và Ngụy chuyện vãng một lúc,
rồi cởi áo đi ngủ. Nhớ bài ký của Phan Lỗi “Nghỉ đêm chùa Thiếu Lâm”, viết
rằng: “Núi sâu nhà rộng, nắng nhiều mà trọn ngày mát mẻ. Cổ bách hơn hai
trăm cây, thân vươn cao tròn ngay thẳng, dáng chẳng chút ủy mị. Sân vắng
sáng ngần, trăng vẽ bóng cổ bách dọc ngang như rau hạnh, rong tảo. Cây
Bồ-đề chẳng gặp lúc ra hoa thì vươn cao (lăng tiêu ) bám rễ nhiều bên
cây bách, thắm hồng khả ái”. Tình này cảnh đây như thơ như họa, tiếc rằng
ta không có duyên một lần nhìn thấy cảnh tượng danh thắng mà chỉ có tinh
thần lĩnh hội thôi.
II. CHÙA HỘI THIỆN.
Vừa du Ngoạn
chùa Thiếu Lâm xong lại tiện đường xe, tôi đến chiêm ngưỡng lễ bái chùa
Hội Thiện. Chùa cách chùa Thiếu Lâm mười lăm dặm về phía đông, ở bên dưới
ngọn Tích Thúy phía tây nam núi Tung Sơn, nguyên là ly cung (cung điện
ngoại thành) của Hiếu Văn Ðế nhà Ngụy. Nhà Ngụy mất, chùa đổi tên là Trừng
Giác Thiền Sư Tinh Xá. Thời Khai Hoàng nhà Tùy chùa mới được ban tên như
ngày nay.
Từ miếu Quan
Ðế phía nam nhà nghỉ ngoại thành theo con đường nhỏ rẽ về phía Ðông mà đi.
Vượt qua hai con đường bằng phẳng và quanh co (không thẳng) dưới chân núi
Tung Sơn, thấy bên đường có một tòa tháp của Ðại Ðức Tịnh Tạng Thiền sư.
Tháp bảy tầâng cao chừng hai trượng, tiếc là đã bị tàn phá chẳng chịu nỗi.
Ðến đây thì còn chừng ba dặm nữa là đến chùa Hội Thiện. Vòng quanh ngôi
chùa trồng hơn một ngàn gốc bách cổ thụ, xanh tươi bát ngát, ngăn ánh mặt
trời, chen lên với trời xanh. Bên ngoài sơn môn, có cây ngân hạnh lâu đời,
tư thái rất lớn.
Vào cửa góc
bên trái, tiến về phía trước thì ngay trước mặt là Ðại Hùng Bảo Ðiện, phía
trái trước điện có nhà bia đặt tấm bia “Càn Long Ngự Bi”. Bia cao hơn một
trượng, trên khắc bài thơ ngự chế, thể chữ đẹp đẽ khả ái. Bên phải điện có
một cái chuông đồng đúc vào niên hiệu Thành Hóa đời Minh và một tòa tháp
Ba-la-mật-đa Tâm Kinh. Ngôi tháp xây bằng đá, hình lục lăng (sáu cạnh),
chữ khắc mạnh mẽ khéo léo đẹp đẽ. Ngôi điện và hai mái vũ đều bị chiếm
mượn làm trường trung học Thiểm Châu, đại điện là nhà ngủ, hai mái vũ là
phòng học, thấy giáo và học sinh có đến vài trăm người, hằng ngày giảng
dạy, học hành bàn luận, đàn hát không ngơi nghỉ, vả có phong cách còn sót
lại của con nai trắng dưới chân núi Nhạc vậy!
Tiến tới nữa
là Phật điện chính giữa. Dưới thềm có con suối trong leo lẻo, nước chảy
róc rách, nghe như tiếng đàn thanh mảnh. Phía sau là điện Tỳ-lô, rường cột
nghiêng đổ, không người sửa sang. Du Trung Nhạc Ký của Phan Lỗi ghi rằng:
“Chùa Hội Thiện ở thời Ðường cũng là cảnh tối thắng, những vị chủ tọa
(pháp tịch) phần nhiều được ghi chép trong Truyền Ðăng. An Quốc Sư,
Phá Táo Ðọa,
những chuyện ấy rất nổi tiếng vậy. Nay thì cháu của Phù Thạch Thiền sư là
Phu Ẩn chủ trì ở đó. Một ngọn đèn cứu tế tông phái treo cô quạnh ở đây!
Tăng nhân phương bắc chẳng quen khấu đầu tham vấn! Chưa ra khỏi mà trước
pháp đường cỏ mọc dày hơn một trượng vậy!”. Ðọc đoạn văn này tôi
càng thêm không kềm chế được xúc cảm về cảnh vật xưa và nay vậy!
Bên ngoài chùa có những bia chùa Tung Dương đời Ngụy, bia Giới đàn đời
Ðường và bia ghi về tháp của Cảnh Hiền Thiền Sư. Chúng đều là những tác
phẩm khắc đá quý báu rất nổi tiếng. Chỉ vì trời chiều, chẳng rảnh
rổi xem kỹ, lòng thêm ray rức ân hận.
III. CHÙA TUNG DƯƠNG.
Chùa Tung
Dương cách năm dặm về phía tây bắc huyện Ðăng Phong tỉnh Hà Nam, nhân ở
tại phía nam núi Tung Sơn nên gọi là Tung Dương. Ngôi chùa được sáng lập
vào thời Bắc Ngụy, đến đời Tùy bị đạo gia (lão giáo) cướp đoạt, đổi tên là
Tung Dương quan, đời Tống đổi là Thiên Phong Cung, đến đời Tùy bị phế
hủy hết. Khoảng năm Gia Tĩnh, huyện lệnh Ðăng Phong mới lấy di chỉ
Thiên Phong Cung xây dựng làm thư viện, rồi lại liền bị phế hủy. Ðến cuối
đời Thanh tri sự huyện Ðăng Phong là Diệp Tỉnh Thúc mới tu sửa lại
mà gọi là “Tung Dương Thư Viện”. Nối theo lại có Kinh Cảnh Dật Am tiên
sinh đề xướng dẫn đường xây dựng thêm nhà cửa cho thư viện, đồng thời
chuyển giao hết gia sản ruộng đất của mình, tập họp những kẻ sĩ có chí đối
với việc học hành, cung cấp cho ăn ở mà mở mang dẫn dắt họ. Ở nhà thì ông
đích thân làm Thầy, ra đi thì mời danh sư chủ trì việc ấy. Quy điều thì
phỏng theo Lộc Ðộng
đào tạo được nhiều văn tài giỏi. Ngôi chùa từ thời Ngụy đến, thời Thanh
chẳng chỉ thường trải qua hưng phế mà lại còn bị Tam Giáo Thích, Ðạo, Nho
luôn thay đổi làm chủ ngôi chùa ấy. Ðáng gọi là “trải đủ tang thương” đó
vậy!
Lưng chùa tựa
núi Tung, mặt nhìn ra sông Dĩnh, hình thế thiên nhiên. Biển ngạch sơn môn
viết bốn chữ lớn “Tung Dương Thư Viện”. Phía tây bên trong cửa có hai gốc
cây bách, đời Hán được phong là tướng quân, cây lớn bảy người ôm, cây nhỏ
năm người ôm. Bên dưới họp lại, bên trên rẽ ra, cuộn khúc vương cao, chúng
đều là sản vật đời Chu, Tần. Tiếc là cây bách tướng quân lớn bị gió xô gãy
hết một nửa, khiến cho người nhìn không khỏi cảm thấy “tuổi già ngắn
ngủi”.
Bách tướng
quân nguyên có ba gốc, nhưng cây tướng quân thứ ba, vào cuối đời Minh đã
bị lửa cháy rụi không còn nữa. Ðem cổ thụ vài ngàn năm so với thọ mạng con
người thì chắc chắn có thể gọi là dài, nhưng nếu đem so với thọ mạng của
vũ trụ thì thật chẳng bằng một cái chớp mắt vậy! Ở giữa có “quá sảnh” ba
gian, biển ngạch đề rằng: “Cơ Dĩnh Văn Ðàn”. Phía sau sảnh bên trái có một
đạo bia Càn Long Hoàng Ðế Ngự Thi. Bia cao một trượng năm thước, rộng bốn
thước, dựng trong một ngôi đình che bia. Có câu thơ trào phúng (cảnh cú
) rằng: “Khoe khoang diệu dược cầu phương sĩ, sao giống thanh nga
nuôi tuấn anh”. Ðất đai sông suối Tần Hoàng, Hán Vũ có linh thiêng, chưa
biết lòng ta cảm xúc gì?
Phía
sau có giảng đường ba gian, sau nữa là Tàng Thư Lâu (lầu kinh sách), đều
là những kiến trúc lâu năm không tu sửa nên bị tàn phá quá lắm. Lệch về
phía tây dưới hành lang của Viện có ba cây bách tướng quân khắc đá. Tranh
vẽ đã đẹp mà chạm trổ cũng tinh. Bên phải, trước sơn môn có “Ðại Ðường
Tung Dương Quan Thánh Ðức Cảm Ứng Tụng Bi”. Bia cao một trượng năm thước,
rộng năm thước hai tấc, dày hai thước năm tấc. Ðầu bia và tòa đều rộng hơn
một trượng. Ðầu khắc hình trạng “Nhị Long Hệ Thù” (hai rồng giao nhau).
Tòa chạm trổ mây rồng người vật. Công nghệ rất tinh mỹ, rất nhiều giá trị
nghệ thuật. Bia lập vào ngày mùng năm tháng hai năm Thiên Bảo thứ ba, Lý
Lâm Phủ soạn văn, Từ Hạo viết chữ theo phép chữ Lệ mạnh mẽ đẹp đẽ. Ðây quả
thực là bản khắc quí báu chẳng thể có được nhiều trong những tấm bia danh
tiếng của Trung Quốc. Nhưng tiếc là bị phơi bày nơi hoang dã, mưa đục gió
bào không có người để ý bảo hộ vậy.
IV.- CHÙA NGỌA LONG
Chùa Ngọa
Long ở tại phía nam lầu Tứ Bài, phía đông rừng cây Bách bên trong thành
Tây An. Ðiện vũ hoàn chỉnh, Phật tượng trang nghiêm, là ngôi chùa đứng đầu
các tòng lâm trong thành Tây An. Xem xét bi ký trùng tu chùa Ngọa Long,
năm Ðồng Trị thứ bảy, rằng: “Ngôi chùa sáng lập từ đời Hán Linh Ðế, tên cũ
là Phước Ứng Thiền Viện. Vì Ngô Ðạo tử đời Ðường vẽ Thánh tượng Quan Âm
nên liền đổi tên là Quan Âm Viện. Ðầu đời Tống có vị Thiền sư pháp hiệu là
Ngọa Long, Vua Thái Tổ thường lâm hạnh đến chùa này, cùng ngài đàm luận
Phật pháp, cơ duyên khế hợp nhau. Do những dấu hiệu trước như vậy nên lại
đổi tên là Chùa Ngọc Long”. Thời Hồng Võ đời Minh trùng tu, vua Anh Tông
sắc ban cho Tạng Kinh. Bên trong chùa có tám cảnh: Một là Yêu Tiền Thạch,
hai là Khai Hoa Bi, Ba là Thái Cực Ðồ, bốn là Phật Cước Bi, năm là Lưu Ly
Tỉnh (giếng), sáu là Ðằng Tử Phật, bảy là Hoạt Vi Ðà, tám là Ngũ
Nhãn Tỉnh (giếng). Từ khi Lãng Chiếu pháp sư tiếp nhận chủ pháp tịch đến
nay, mỗi ngày giảng kinh nói pháp, tông phong càng chấn hưng hơn, tăng
chúng hơn năm mươi người, biết chuộng giữ gìn thanh quy, khéo chuyển bánh
xe pháp.
V. CHÙA BẢO KHÁNH.
Chùa Bảo
Khánh có một tên khác là chùa Hoa Tháp ở tại đường Thư Viện Môn bên trong
thành Tây An. Nền chùa bị trường tiểu học chiếm lấy. “Quang Trung Thắng
Tích Ðồ Chí” của Tất Nguyên ghi rằng: “Chùa Bảo Khánh ở tại phường An Nhơn
bên trong thành, một tên gọi khác là chùa Hoa Tháp, xây dựng đầu tiên vào
niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy. Tùy Văn Ðế, Ðường Trung Tông thường đến đây.
Vua Văn Tông thấy tượng Cáp Lị Quan Âm,
cho xây dựng tháp ngũ sắc. Vào thời Ngũ Ðại, điện vũ bị binh lửa thiêu
cháy, duy chỉ tháp là còn, niên hiệu Cảnh Thái nhà Minh tu sửa”. Sách lại
nói rằng: “Xem xét cẩn thận thì tháp được trùng tu thời Võ Hậu. Nay có,
vào năm Trường An (niên hiệu Võ Hậu) thứ ba, Ðào Nguyên Chi, Vương Tuyền,
Cao Ðình Quí, Lý Thừa Tự, Vi Quân, Tiêu Nguyên Xuân, Lương Nghĩa Thâm, Ðào
Nguyên Cảnh v.v... tạo tượng, khắc lời minh ở trên tháp, liêu (nhà tăng
ở), tường thành” (tường thành thấp vây quanh chùa). Ngày nay bên trong
chùa không có trụ trì, tăng chúng, chỉ có một tòa Hoa Tháp. Tháp có bảy
cấp, sáu mặt, cao ước chừng ba trượng năm thước. Cấp thứ hai khắc tượng
đức Như Lai nói pháp, không tinh xảo lắm. Việc tạo tượng khắc lời minh mà
họ tất đã thấy, tôi tìm khắp mà chẳng thể được, hỏi người chủ sự của
trường học thì ông ta bảo, thuở trước có nhiều pho tượng đá đời Ðường,
nhưng sớm đã bị kẻ gian trộm bán. Ý cho tượng này như được khắc đời
Ðường thì nhất định là sản phẩm tạo ra của Ðào Nguyên Chi v.v... không có
gì nghi ngờ vậy.
VI. CHÙA KHAI NGUYÊN
Chùa Khai
Nguyên ở phía đông đại lộ Chung Lâu, phía đông bên trong thành Tây An,
tương truyền được sáng lập thời Khai Nguyên nhà Ðường. Biển ngạch trên đầu
cửa đề bốn chữ: “Cổ Khai Nguyên Tự”. Nay chùa đã bị phế hủy nhiều, chỉ
riêng còn lại Tàng Kinh Các. Vả lại đã bị phân sở cảnh sát chiếm cứ. Quanh
chùa đều là hoa viện, kỹ quán, kẻ vãng du cũng đều là lũ “chương đài tẩu
mã” (hạng người vô dụng). So với thời hưng thịnh Lý - Ðường thì thật không
kềm chế được cảm xúc xưa nay vậy! Xem xét Ðường Hội Yến ghi rằng: “Ngày
hai mươi chín tháng chín năm đầu niên hiệu Thiên Thọ, hai kinh và các châu
thiên hạ đều đặt ra một ngôi Ðại Vân Tự. Ðến ngày một tháng sáu năm Khai
Nguyên thứ hai mươi sáu đều đổi là Khai Nguyên Tự”. Từ đó mà quan sát thì
chùa Khai Nguyên quả thật là chùa Ðại Vân đã thay đổi kiến trúc. Lại, xem
xét việc bố trí chùa Ðại Vân, nhân vì Võ Hậu yêu mến ông Tăng Hoài Nghĩa
đã tiến dâng kinh Ðại Vân ứng lời sấm nữ làm chủ nên mới lệnh cho toàn
quốc các châu đều bố trí tên chùa ấy vậy.
VII. CHÙA VÕNG CỰC
Chùa Võng Cực
ở tại bên trong cửa đông thành Tây An. Nay, chùa mái đã nghiêng đổ, chỉ
còn lại sơn môn và đại điện mà thôi. Ngôi chùa do công chúa Thái Bình vì
Võ Hậu mà kiến tạo. Ðến khoảng năm Khai Nguyên chùa đổi tên là Hưng Ðường
Tự. Xét Ðường Hội Yếu ghi rằng: “Chùa Hưng Ðường ở tại phường Ðại Ninh.
Ngày mười hai tháng ba năm đầu niên hiệu Thần Long, sắc bảo công chúa Thái
Bình vì Võ Hậu lập làm chùa Võng Cực. Ngày mùng bảy tháng sáu đổi
là Hưng Ðường Tự”. Xem xét phường Ðại Ninh thì hiện nay ở tại vùng đất
phía đông bắc bên ngoài cửa Trường Lạc thành Tây An. Ngôi chùa hiện nay là
nền xưa của chùa Võng Cực đời Ðường không có nghi vấn gì nữa. Sau đại điện
có một pho tượng Phật khắc đá đời Ðường, gió bào mưa đục lâu năm, hư hại
thật đáng tiếc.
VIII. ÐẠI TIẾN PHƯỚC TỰ
Chùa Ðại Tiến
Phước ở tại vùng đất phía nam thành Tây An, cũng là một ngôi danh sát đời
Ðường. Căn cứ lời của sách Ðường Hội Yếu nói rằng: “Ngôi chùa ở tại một
nửa phường Khai Hóa về phía đông, tại nhà cũ vùng ven của Tùy Dượng Ðế.
Trong năm Võ Ðức ban cho Thượng Thư Hữu Bộc Xạ Tiêu Vũ làm vườn. Sau con
của Vũ là Duệ Thượng Tương Thành công chúa chẳng muốn sống xa cô mình,
liền lấy đất sau vườn cất nhà ở. Sau khi công chúa mất, quan thị làm nhà
của Anh Vương. Ngày mười hai tháng ba năm đầu niên hiệu Văn Minh, ban sắc
vì Cao Tông lập làm chùa Hiến Phước. Ðến tháng mười một năm thứ sáu, vua
ban cho biển ngạch là Tiến Phước Tự”. Lời chú của điều phường Khai Hóa
trong sách Trường An Chí của Thứ Ðạo đời Tống ghi rằng: “Năm đầu niên hiệu
Văn Minh, sau khi vua Cao Tông băng một trăm ngày thì lập làm chùa Ðại
Hiến Phước, độ tăng hai trăm người thật sự đó. Năm đầu niên hiệu Thiên Thọ
đổi là Tiến Phước Tự. Vua Trung Tôn lên ngôi, cho xây dựng trang trí
thêm rất lớn. Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, việc phiên dịch Kinh Phật
đều diễn ra ở đây.
Viện ở phía đông chùa có ao phóng sinh, chu vi hơn hai trăm bộ, tương
truyền rằng, tức là ao nước lớn đời Hán (Hồng Trì Pha). Cơ sở chùa
vuông, rộng hơn một trăm mẫu, chung quanh bao vây bằng tường đất. Ngày nay
còn có vài lớp điện vũ mà qui chế đã chẳng phải là cảnh quan xưa. Sau điện
có một tòa tháp gạch mười lăm cấp, cao hơn ba trăm thước, được kiến lập
trong niên hiệu Cảnh Long do cung nhân xuất tiền ra. Ngày nay quen gọi là
Tểu Nhạn Tháp. Về các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh đều có sửa sang. Trong
chùa còn có một cái chuông lớn, đúc năm Nhâm Tý nhằm năm Minh Xương thứ tư
nhà Kim. Việc này trên Trường An Chí đã chép rằng: “Có cái chuông tìm ra
được ở bờ sông Võ Công. Có người đàn bà giặt đồ ngồi trên phiến đá giặt
quần áo, bỗng nghe tiếng từ đá phát ra, vang xa vài dặm, rồi mọi người (sĩ
nhân) phát hiện ra cái chuông lớn đó, liền mang về để trong chùa đó vậy”.
Chùa ấy ngày nay chỉ còn hai người ở giữ, buộc họ ở trong một gian tiểu
thất. Nghi thức thờ cúng (hương hỏa) sơ sài, kinh kệ (phạm bối) vắng lặng.
Tưởng tượng thời bấy giờ công việc phiên dịch Kinh Phật hưng thịnh với vài
trăm tăng sĩ thì lòng chẳng kềm chế được niềm cảm khái vậy!
IX. CHÙA ÐẠI HƯNG THIỆN
Chùa Ðại Hưng
Thiện cách ba dặm về phía nam chùa Ðại Tiến Phước, tức là sách Hàm Ninh
Chí gọi: “Ở tại năm dặm bên ngoài cửa Vĩnh Ninh” ấy vậy. Xem xét thời
Ðường thì Chùa Ðại Hưng Thiện ở tại trong phường Tĩnh Thiện bên trong
quách thành ngoài Trường An. Diện tích ngôi chùa ấy chiếm vừa hết đất của
một phường. Ngày nay ngôi chùa ở dưới một cánh đồng nhỏ, chiều dọc nam bắc
chừng nửa dặm, chiều rộng đông, tây chẳng quá một trăm bộ. Xem ra ngày
xưa, diện tích một phường thì sai biệt nhau nhiều!
Tên đầu tiên
của ngôi chùa ấy là Tuân Thiện Tự, cũng tên là Xá Vệ Tự. Chùa sáng lập từ
đầu đời Tấn, hưng thịnh ở đời Tùy đời Ðường. Chùa phỏng theo qui chế kiến
trúc điện Chuyển Luân Tạng Kinh của Tây Trúc, thời Vạn Lịch đời
Minh đã từng được sắc ban Tạng Kinh. Năm Khang Hy thứ bốn mươi lăm đời
Thanh, chùa được trùng tu. Năm Ung Chính thứ mười ba Tân Tạng Kinh
hoàn thành, chùa lại được ban cho. Sau ấy năm Giáp thìn, niên hiệu Càn
Long chùa lại được Kinh Thiểm Phủ là Tất Nguyên trùng tu. Ðến khoảng năm
Ðồng Trị gặp phải cảnh loạn lạc, ngôi chùa chịu sự đốt phá của loạn binh,
đã giao một nửa cho đống tro tàn. Qua sự quyên góp của cải của ngài trụ
trì Ngộ Liên v.v... ngôi chùa được trùng tu nên mới phục hồi đôi chút cảnh
quan thuở trước. Xem xét sách Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ của Phí Trường Phòng ghi
rằng: “Thành gọi là Ðại Hưng thành, điện gọi là Ðại Hưng điện, cửa gọi là
Ðại Hưng môn, huyện gọi là Ðại Hưng huyện, vườn gọi là Ðại Hưng viên, chùa
gọi là Ðại Hưng Thiện.
Từ hóa của Tam Bảo từ sự đại hưng đó, phong cách nhân từ của muôn nước nhờ
sự “đại hưng” ấy mà xiển dương trở lại”. Ngày nay người ta đều tỉnh lược
chữ “Ðại” mà gọi giản dị là “Hưng Thiện” thì mất đi ý nghĩa của mệnh danh
vậy!
Biển ngạch
của chùa đề rằng “Ðại Hưng Thiện Tự”. Bên trong cửa, phía trái phía phải
là lầu chuông lầu trống. Chính giữa là đại điện mới tu sửa với diềm mái
cất bay lên, cột vẽ màu, vàng ngọc sáng ngời. Chính giữa điện thờ pháp
tượng đức Thích Tôn, thân vàng một trượng sáu, rất là trang nghiêm. Vách
sau điện có khắc bài thơ “Khang Nam Hải Du Hưng Thiện Tự”, chữ hùng mạnh
đáng xem. Ngoài ra còn có “Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ” của Hòa Thượng Mãn Ðức
khắc năm Thiên Thuận thứ tư đời nhà Minh cũng có giá trị lắm, giữa là điện
Phật. Trước điện có bia ghi việc trùng tu chùa Ðại Hưng Thiện vào năm
Khang Hy thứ mười lăm. Sau nữa là pháp đường, phương trượng và liêu xá.
Trước sân hoa cỏ cây cối bố trí thanh nhã thích hợp với mọi người. Tăng lữ
hơn mươi người, ăn rau mặc áo vải, tu trì nghiêm cẩn. Tông Phong Mật Giáo
nhờ đó mà chẳng đồi trụy.
Chùa Ðại Hưng
Thiện ở đời Ðường là đạo tràng của Mật Tông. Thời Khai Nguyên ba vị đại sư
Kim Cương, Trí Bất Không, Vô Úy trước thường dừng tích trượng (ý nói đến
ở) nghỉ ở đây. Xem xét sách “Trường An Cổ Sát Ðề Yếu” của Tịch Viên cư sĩ
có ghi rằng: “Ngôi chùa ở tại chỗ năm dặm bên ngoài cửa Vĩnh Ninh thành
Tây An, phía đông nam cách chùa Ðại Từ Ân ba dặm, ngài Xà-la-cấp-đa
đã từng dịch Kinh trong chùa ấy, chiếu triệu thỉnh tới hai mươi vạn tăng
đồ. Sự hưng thịnh của việc đề xướng chiêu nạp đứng hàng đầu ở trong nước”.
Số chúng tăng lữ thời bấy giờ quả thật làm người nghe phải giật mình vậy!
X. CHÙA ÐẠI TỪ ÂN
Chùa Ðại Từ
Ân cách chùa Ðại Hưng Thiện ba dặm về phía đông nam, cách thành Tây An
mười dặm về phía nam, cùng với Thái Bình bảo liên tiếp nhau. Tuy ngày xưa
không nhiều trùng lâu, phức điện gác mây, phòng rộng nhưng ngày nay trụ,
mái chùa hoằng tráng, Phù-đồ nguy nga, vẫn chẳng mất đi vị trí đứng đầu
các chùa của thành Tây An. Ðối diện thẳng sơn môn có Thạch kiều (cầu bằng
đá), tên đầu tiên là Ngộ tiên kiều (cầu gặp tiên), sau đổi là Từ hàng kiều
(cầu thuyền từ). Ðồng thời có Ðóa Tích (?), phía đông thông với dòng Khúc
Giang tức là Hoàng Ðóa (?) của ngày xưa vậy. Biển ngạch của sơn môn đề
rằng: “Ðại Từ Ân Tự”. Bên trong có điện Kim Cương, lầu chuông lầu trống và
các điện Quan Âm, Già Lam, Tổ Sư, Di Lặc, Ðại Hùng, Dược Vương. Sau
điện Di Lặc lập rừng đá bia. Ðó là đá khắc tiến sĩ đề danh của đời Minh
trở lại và công việc trùng tu tự vũ. Sau điện Ðại Hùng là tháp Ðại Nhạn
rất nổi tiếng. Tháp hình vuông có bảy cấp, nền cao hơn một trượng, tầng
nền có bốn cửa, bậc cửa có khắc đá đời Ðường, phần nhiều bị người đề danh
đục đẽo, rất là đáng tiếc!
Nguyên do của
danh xưng chùa Từ Ân thì xem xét sách Ðường Hội Yếu ghi rằng: “Chùa Từ
Ân xây trên phế tích của chùa Vô Lậu đời Tùy tại phường Tấn Xương.
Ngày hai mươi tháng mười hai năm Trinh Quán thứ hai mươi hai, vua Cao Tông
ở tại Xuân Cung vì Văn Ðức hoàng hậu lập làm chùa nên lấy Từ Ân làm tên”.
Chùa Từ Ân tại thời Ðường qui mô rất lớn, không đâu có thể sánh bằng. Tam
Tạng pháp sư (chỉ ngài Huyền Trang) từ Ấn Ðộ thỉnh Kinh về lại đã từng
dừng tích trượng ở chùa này. Xem xét sách Trường An Chí có ghi rằng: “Một
nửa phường Tấn Dương về phía đông là chùa Ðại Từ Ân. Tây viện của chùa là
Phù-đồ sáu cấp, cao ba trăm thước. Toàn chùa có hơn mười viện, độ tăng ba
trăm, do ngài Huyền Trang làm Thượng tọa. Sự hưng thịnh của ngôi Phạm sát
không đâu bằng”. Lại sách Tự Tháp Ký của Ðoạn Thành Thức ghi rằng: “Chùa
Từ Ân, ngôi chùa vốn là ngôi Già Lam cũ Tịnh Giác, nhân đó mà xây
dựng lên vậy! Thường có hơn mười viện, gồm hơn một ngàn tám trăm bảy mươi
gian, vua sắc chỉ cho độ ba trăm vị tăng. Ðầu tiên, ngài Tam Tạng
từ Tây Vực trở về, vua xuống chiếu sai Thái Thường Khanh Giang Hạ là Vương
Ðạo Tông thiết bày chín bộ nhạc nghênh đón kinh tượng vào chùa. Xe trang
trí lụa là có hơn ngàn cỗ, vua ngự trên An Phước môn quan sát”. Lại sách
Huyền Trang Truyện chép rằng:“Vua Cao Tông tại cung, vì Văn Ðức thái hậu
tìm phước mà tạo chùa Từ Ân và Viện phiên dịch Kinh. Bên trong cung xuất
ra phan phướng lớn, lệnh cho chín bộ nhạc và tràng phan, bảo cái của các
chùa trong kinh thành, mọi thứ khéo đẹp đưa ngài Huyền Trang và các vị Cao
Tăng đã phiên dịch Kinh tượng v.v... vào chùa Từ Ân”. Xem xét phường Tấn
Xương thì phường ở đường thứ nhất phía
đông hoàng thành, đông - tây đều một trăm năm mươi bộ mà chùa Từ Ân
chiếm đất một nửa phường thì có thể biết sự to lớn của diện tích ngôi chùa
ấy! Tháp của chùa Từ Ân ngày nay ở tại chính giữa viện, tháp của chùa thời
Ðường ở tại tây viện của chánh điện thì biết chùa Từ Ân ngày nay chính là
tháp viện của chùa xưa ấy, chẳng phải là nguyên chỉ (nền) của chùa Từ Ân
đời Ðường. Ngôi chùa vào khoảng năm Ðồng Trị đời Thanh cũng bị binh loạn
đốt cháy phá hủy thì rõ ràng ngôi chùa hiện nay chẳng phải là chùa xưa
vậy!.
Tháp Ðại Nhạn
là do ngài Huyền Trang pháp sư sáng lập năm Vĩnh Huy thứ ba đời Ðường. Nền
móng có bốn mặt đều một trăm bốn mươi thước, cao một trăm tám mươi thước.
Ngoài xây gạch, trong ruột bằng đất, mô phỏng theo qui chế Tốt-đổ-ba
(tháp) của Ấn Ðộ, dùng để an trí Kinh, tượng của Tây Vực. Trung tâm của
mỗi tầøng đều chôn cất Xá-lợi. Tầng trên lấy đá làm buồng, mặt nam có hai
tấm bia, ghi chép “Tam Tạng Thánh Giáo Tự Ký” của hai vị Thánh (Chỉ Thái
Tông và Cao Tông nhà Ðường). Viết chữ cho hai bia ấy là bút pháp của Hà
Nam Công Chữ Toại Lương. Ngôi tháp đầu tiên chỉ có năm tầng, về sau trong
lòng tháp cây cỏ mọc đâm ra làm cho nghiêng đổ dần. Ở trong những năm
Trường An, Võ Hậu và Vương Công cho tiền xây dựng lại gia thêm mười tầng
theo phương thức xây dựng tháp chùa của Ðông Hạ (Trung Quốc), đặc biệt cao
hơn trước. Tháp còn lại từ sau cuộc binh lửa của An Sử (An Sơn Lộc) chỉ có
bảy tầng. Trong năm Trường Hưng, Tây Kinh Lưu Thủ là An Trọng Bá tu sửa
một lần nữa. Phán quan Vương Nhân Dụ vì việc này viết bài ký. Tháp Nhạn
hiện nay tức là di chế của thời sửa sang ấy vậy. Về mệnh danh của Nhạn
Tháp thì xét sách Chí Lâm có ghi rằng: “Chùa Từ Ân đời Ðường, có con nhạn
bay đến sân, tăng chúng bắt được đem nấu ăn, một vị lão tăng nói rằng:
“Ðây là vua Nhạn vậy”. Nhân đem chôn xác Nhạn rồi xây tháp lên trên, gọi
là “Nhạn Tháp”. Xem xét Tam Tạng pháp sư truyện thì cũng có nói việc đó.
Việc Nhạn
Tháp Ðề Danh của Chùa Từ Ân bắt đầu ở những vị Tiến sĩ đời Ðường. Xét sách
Thiểm Tây Thông Chí ghi chép bài Từ Ân Nhạn Tháp Ðề Danh Tự của Phàn Sát
đời Tống, nói rằng: “Từ niên hiệu Thần Long trở về sau, những Tiến sĩ đăng
khoa đều ban cho du lãm trên sông, đề danh dưới tháp Nhạn, từ đó đã trở
thành cố sự. Tỉnh lược cho hương thí đề danh Nhạn tháp bắt đầu từ năm Ðinh
Mão Chính Ðức đời Minh. Kẻ chép sách Thánh Hiền đời sau ái mộ việc ấy nên
tranh mô phỏng nhau. Ðến đời Thanh phong trào ấy cũng chẳng suy giảm nên
việc khắc đá đề danh trong viện thì đời Thanh hơn phân nửa trong số ấy
vậy!” Việc khắc đá trong chùa Từ Ân hiện nay so ra danh tiếng quí báu hơn
thì ngoại trừ hai cái Ðà-la-ni Kinh Tràng ở trước điện được tạo vào năm
Hàm Thông thứ tám, còn có “Nhị Thánh Chế Thánh Giáo Tự” do Chữ Toại Lương
viết chữ, khắc sâu vào vách phía nam của tháp và việc khắc đá đề danh của
Lữ Ðại Phòng, Phạm Thuần Nhân v.v... đời Tống trên bậc ngang cửa phía tây
tháp.
Thơ của người
xưa ngâm vịnh tháp của Chùa Từ Ân rất nhiều, nay chẳng thể trích lục đầy
đủ, chỉ chọn một bài “Ðăng Từ Ân Tự Phù-đồ” của Sầm Tham mà chép ra sau
đây để làm phần kết thúc bài viết. Bài thơ ấy là:
Tháp thế như dũng xuất
Cô Cao tủng thiên cung
Ðăng lâm xuất thế giới
Ðặng đạo bàn hư không
Ðột ngột áp Thần Châu
Tranh vanh như quỉ công
Tứ Giác ngại bạch nhật
Thất tằng ma thương khung
Hạ khuy chỉ cao điểu
Phủ thính văn Kinh phong
Liên sơn nhược ba đào
Bôn thấu tự
triều đông
Thanh hòe Giáp trì đạo
Cung quán hà linh lung
Thu sắc tùng tây lai
Thương nhiên mãn Quan Trung
Ngũ Lăng bắc nguyên thượng
Vạn cổ thanh mông mông
Tịnh lý liễu khả ngộ
Thắng nhân túc sở tông
Thệ tương quải quan khứ
Giác đạo tư vô cùng
Tạm dịch:
Thế tháp như vọt thẳng
Cất cao tận trời xanh
Ði lên ra thế giới
Ðường bậc lượn vào không
Ðột ngột áp Thần Châu
Chênh vênh như quỉ công
Bốn góc cản vầng nhật
Bảy tầng mó trời xanh
Dòm xuống đếm chim liệng
Cúi nghe gió kinh hoàng
Núi liền như gợn sóng
Vội họp chầu về đông
Bên đường hòe xanh thắm
Cung quán sao lung linh
Sắc thu từ tây đến
Trời xanh đầy Quan Trung
Ngũ Lăng
trên đồng bắc
Vạn cổ xanh mênh mông
Tịnh lý rồi được ngộ
Thắng nhân sớm qui tông
Thề đem treo mũ áo
Giác đạo vốn vô cùng.
XI. NAM NGŨ ÐÀI (NÚI NGŨ ÐÀI PHƯƠNG NAM)
Núi phía nam
Tây An, xưa gọi là “Chung Nam ” hoặc gọi là “Trung Nam ”,
danh xưng núi ấy bất nhất. Tên Chung Nam thấy ở sách Thượng Thơ Thiên Vũ
Cống “Chung Nam đôn vật đến từ Ô Thử”. Lại thấy ở Mao Thi: “Chung Nam có
gì? - Có cành nhánh, có cây mai”. Tên Trung Nam thấy ở Thi Mao Thị Truyện
sớ giải Tần phong thiên: “Trung Nam núi danh tiếng khắp vùng Chung Nam”.
Lại thấy ở Tả Truyện: “Tư Mã Hầu nói rằng: Ðường của Tứ Nhạc (Bốn ngọn
núi), nhà lớn Dương Thành thì Kinh Sơn, Trung Nam, Cữu Châu hiểm trở vậy”.
Tên Nam Sơn thấy ở Hán Thư bài Thượng Lâm phú trong truyện Tư Mã Tương
Như: “Núi Cữu Tông () hiểm trở, Nam Sơn chót vót; thầy xưa chú
thích rằng: Nam Sơn là núi Chung Nam vậy”. Lại thấy ở Hán Thư truyện Ðông
Phương Sóc: “Ôi! Nam Sơn, nơi hiểm trở của thiên hạ vậy”. Chung Nam cũng
tên là Tần Lĩnh. Tây Kinh Ký nói rằng: “Ngọn núi hướng chánh nam Tràng An
tên là Tần Lĩnh, phía đông khởi từ Thương Lạc,
phía tây đến tận Khiên Lang,
từ đông sang tây đến tám trăm dặm. Dòng nước từ núi ở phía bắc chảy vào
sông Vị , hiệu là Bát Bách Tần Xuyên” đó vậy! Cựu ký ghi rằng: “Chỗ sâu
núi Nam cao mà lớn mạnh thì gọi là Tần Lĩnh”. Nhưng mà Chung Nam, Tần Lĩnh
vốn là một ngọn núi vậy! Nam Ngũ Ðài là những chi phụ (gò, núi) của Chung
Nam, cách phía nam thành Tây An năm mươi dặm. Ngũ Ðài ấy là “Ðại Ðài”, là
“Linh Ứng” là “Quan Âm”, là “Văn Thù”, là “Xả Thân”. Rừng khe u mỹ, núi
quanh co kỳ tú, cũng là vùng đất danh thắng của miền Tần Trung vậy. Tôi có
bệnh đam mê sơn thủy, hâm mộ danh tiếng vùng ấy, muốn mang guốc gỗ vãng du
lâu rồi vậy!
Bảy giờ sáng
ngày hai mươi lăm tháng tư năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy, một mình tôi
chống gậy ra đi du lãm Nam Ngũ Ðài. Ra khỏi cửa Vĩnh Ninh thành Tây An đến
Nam quan, rồi đi xe ngựa theo công lộ về phía nam. Sáng sớm, mặt trời mới
mọc, màu xuân hợp với người, lá liễu xanh xanh hướng về khách như cười
cợt. Ði qua chùa Ðại Hưng Thiện, trông về phía đông, tháp Ðại Nhạn bốn góc
chênh vênh đứng cao sừng sững trong mây, hình trạng Tây Kinh chấm hết ở
đây! Mười lăm dặm trèo lên Tháp Pha (địa danh), nhìn trở lại thấy sóng lúa
mạch rập rờn theo gió y như biển xanh. Xem xét lời Trường An Chí ghi rằng:
“Cánh đồng Thiếu Lăng từ tây bắc cánh đồng Long Ðầu đến phía tây Hàm Ninh
- Vi Khúc vào ranh giới huyện là Tháp Pha”. Lại, Trường An Ðồ chép rằng:
“Tháp Pha ở tại phía tây Vi Khúc, vì đất ấy có Phù-đồ (tháp) nên có tên
đó”. Ði năm dặm nữa, xuống khỏi Tháp Pha là đến Vi Khúc, tôi liền xuống xe
đi ăn uống. Vi Khúc là một hương trấn nhỏ, thời Ðường những người họ Vi
đời sống ở đây, nhân đó mà có tên. Thơ Ðỗ Phủ có câu: “Vi Khúc hoa vô lại”
tức là chỉ nơi đây. Xét về thời Ðường thì họ Vi, họ Ðỗ được đời xưng là
vọng tộc. Chỗ họ Vi ở gọi là Vi Khúc, chỗ họ Ðỗ ở gọi là Ðỗ Khúc. Tân Thị
Tam Tần Ký ghi rằng: “Họ Vi họ Ðỗ của Thành Nam cách trời năm thước” là
lời cực tả sự cao quí của hai họ ấy vậy. Tôi hỏi thăm về người họ Vi đang
ở đây thì người trong thôn phần nhiều là kẻ không có trí, ôi ruộng dâu
biến thành biển xanh! Thật đáng ngậm ngùi vậy!
Từ đây theo
công lộ dời bước đi về phía nam chừng hai mươi dặm nữa thì đến sông Duệ.
Xem ra Duệ Hà cũng tên là Trầm Thủy, nguồn phát xuất từ Miết Cốc (hang ba
ba) núi Nam Sơn. Dòng Tây Sơn chảy qua Thân Ðiếm (?), Hạnh Giá Pha (?) rồi
rẽ làm hai: Dòng phía bắc là Tạo Thủy, dòng phía tây nam chảy vào sông
Giao. Ðọc sử Phương Dư rằng: “Cuối đời Hán, Ngũ hầu họ Vương,
sửa trị lớn ao đầm đã dẫn nước sông Duệ vào thành Trường An. Bá tánh ca
ngợi họ rằng: Khơi tháo cao đô, nối liền ngũ Ðỗ. Năm Chí Ðức thứ hai đời
Ðường, Quách Tử Nghi đánh bại giặc ở Bạch Cừ, liền từ Tây Vị Kiều tiến đến
đóng quân ở sông Duệ”, đều là ở đây cả. Hai bờ của dòng sông, ruộng lúa
nước dọc ngang, cỏ thơm cây ngọt, trông xa không bờ bến. Phía đông sông ấy
là Hoàng Tử Pha, cũng có công lộ (đường cái quan) thông với Thái Ất cung.
Xem ra Hoàng Tử Pha là do ở vùng đất nghiêng (Pha) chôn Hoàng tử đời Tần
khởi dựng nhà trên bình nguyên phía bắc nên có tên đó. Vua Văn Ðế đời Tùy
đổi tên là Vĩnh An Pha.
Tôi liền từ
thạch Kiều qua sông đến Pha Ðiếm, phía tây nam thôn có chùa Hương Tích là
ngôi cổ sát đời Ðường, tức điều mà thơ của Vương Duy đã gọi rằng:
Bất tri Hương Tích Tự
Sổ lý nhập vân phong
Cổ mộc vô nhân kính
Thâm sơn hà xứ chung?
Tạm dịch:
Chẳng biết chùa Hương Tích
Vài dặm vào núi mây
Cổ mộc không người viếng
Núi sâu chuông đâu đây?
(Tuệ Khai dịch)
đó vậy. Qua
khỏi thôn đi về phía đông nam chừng hai dặm nữa là đến cách đồng Thần Hòa.
Trường An Huyện Chí ghi rằng: “Cánh đồng Thần Hòa từ chân núi phía bắc
Thái Ất sơn của Hàm Ninh, theo chiều tây bắc đến Hạnh Giá Pha vào biên
giới của huyện, dòng Giao Thủy phát xuất từ phía tây nơi ấy, dòng Duệ Thủy
phát xuất từ phía đông nơi ấy, là ranh giới hai dòng sông”. Trên cánh đồng
đều là ruộng tốt lúa ngon, hoa lúa mạch thơm ngọt ngào, ruộng thấp, gò cao
liên tiếp. Ðời ngợi khen là một vùng trù phú (phong hạo), rằng là “Lục
Hải” (biển đất bằng), “Thổ Cao” (chất keo đất) quả thật chẳng hư dối vậy.
Ði
mười dặm nữa thì ngay trước mặt là một phường, biển ngạch đề ba chữ vàng
lớn “Hoàng Bộ Thôn”. Thôn ấy nguyên tên là Hoàng Phủ Thôn, từ sau khi phân
hiệu của Trung Ương quân hiệu được thiết lập ở Nam Sơn mới đổi tên như
hiện nay. Lưng thôn dựa vào cánh đồng Thần Hòa, trước mặt thôn là dòng
Giao Thủy. Dân phần nhiều ở trong hang đất (Thổ huyệt), có phong cách sống
rất xưa vậy. Trước thôn có một ngôi chùa cổ vì được cảnh vệ nghiêm ngặt,
nên chưa kịp đến chiêm lễ mà liền đi. Trông về phía tây, bờ ruộng dọc
ngang, cây phủ muôn nhà, một khúc quanh nước chảy lăn lăn, thật đáng ngắm
xem! Mục đồng dăm ba đứa buộc trâu dưới bóng liễu, ngồi trên cỏ, cười đùa
vui vẻ, hình như chẳng biết thế giới đang có chiến tranh binh lửa. Thật
chẳng lường được nơi đây còn có một gốc Ðào Nguyên vậy! Dựa theo núi đi về
phía đông nam năm dặm nữa là đến Vương Khúc trấn, trấn ở tại bờ đông dòng
Giao Thủy, có tiệm phố, bưu cục, bến xe, tiệm sách... nghiểm nhiên là một
thị trấn núi, hiện đại hóa vậy. Xét về dòng Giao Thủy thì có một tên là
Phước Thủy, nguồn của nó phát xuất từ Trúc Cốc (hang tre) núi Nam Sơn. Hà
Cốc (miệng sông) rộng bốn, năm dặm tức là sông vua nghỉ lại đêm đời Hán.
Dòng sông là trên đất vườn rừng đời Hán, vua Võ Ðế đã làm ngôi biệt quán
ly cung, cấm người du lịch tham quan. Do vua dừng chân nghỉ ở đây nên đặt
tên là Ngự Túc. Vào quán trà uống trà, nghỉ ngơi một chút, rồi lại theo
công lộ tiến về trước. Trông về phía nam, núi Chung Nam, ngọn núi lạ lùng
xanh ngắt, hơi núi lạnh, trời mây xanh biếc, muôn trạng xanh tía, Nam Ngũ
Ðài quanh co tầng lớp đẹp đẽ hiện ra uyển chuyển như chuông úp, đỉnh sắp
bày la liệt, mây trắng lớp lớp kéo tận vùng núi non xa tít. Nhớ thơ của
Vương Ma-cật:
Bạch Vân hồi vọng hợp
Thanh ái nhập khán vô
Phân dã trung phong đoạn
Âm tình chúng hác thù...
Tạm dịch:
Mây trắng trông lại hợp
Trời xanh vào xem không
Chia giữa đồng núi cắt
Âm tạnh hết mọi hang
(Tuệ Khai dịch)
Quả là cảnh
thật vậy.
Ði tám dặm
nữa thì đến Lưu Thôn, trong thôn có chùa Quảng Huệ và chùa Viên Quang. Ði
tiếp hai dặm là đến Trúc Cốc Khẩu, ngồi dưới bóng cây bên sông nghỉ một
chút. Hoa dại nở khắp nơi, tiếng chim kêu ríu rít chẳng dứt. Thơ Sầm Tham
viết rằng:
Liêu liêu nhân cảnh ngoại
Nhàn tọa thính xuân cầm
Tạm dịch:
Ngoài cảnh người vắng vẻ
Ngồi nhàn nghe chim xuân.
(Tuệ Khai dịch)
Chắc là vì ta
mà vịnh vậy. Leo lên sườn núi, qua khỏi cái cầu bằng đá là đến chùa Di Ðà,
ngôi chùa cũng là một ngôi Cổ Sát đời Ðường, có điện vũ hơn mười gian, qui
chế rất rộng. Ðứng ở đây trông về hướng tây nam, ngọn Cô Phong cắm lên
trời là Tôn Ðăng đài vậy. Vào chỗ hang thông tựa vào núi nương theo suối
mà đi, dòng biếc mênh mang, lòng rung động, buồn lo sạch trơn. Qua khỏi
chùa Lưu Thủy Thạch, đi hai dặm nữa thì đến chùa Hưng Bảo Tuyền. Có ba
gian gác ngói, băng ngang qua giữa suối, dưới là đường thông qua lại. Từ
đây mà lên, núi xoay đường chuyển, tuyệt không có dân cư, đường hoang vắng
vẻ chỉ thấy tiều phu mà thôi. Qua Bạch y đường, Ðại Bi đường, Cam Lộ đường
đi thêm bốn dặm qua cái cầu đá là đến chùa Trúc Lâm. Ðối diện với Sơn môn
là điện Phật nhỏ, bên trong có một pho tượng Kim thân Văn Thù đắp bằng
đất, rất nhiều giá trị nghệ thuật. Bên ngoài có ba gốc cổ hòe đều to bằng
vài người ôm, ngờ là sản vật đời Ðường. Phía trên bên phải là điện Ngũ
Phật, bên phải điện có đường ba ngã tức là đường tắt của Tôn Ðăng đài.
Trên Tôn Ðăng đài có một tòa điện vũ như xây dựng ở trên mũi gai táo, mũi
kim khâu, tùng bách vòng quanh xinh đẹp đáng yêu. Vườn tháp trong cốc phía
đông bắc đài ấy có tháp Xá-lợi của Ấn Quang đại sư, vì đường hoang vu chưa
đến chiêm ngưỡng lễ bái được.
Qua Triều
Thiên môn là Nhất Thiên môn, kẹp giữa hai mép núi, điện vũ chính là chỗ
hõm ấy. Tiếng nước rì rào, vui tai sạch lòng. Lại đi thêm ba dặm là đến
chùa Quan Âm. Vào chùa uống nước nghỉ ngơi một chút. Rồi từ đây leo lên,
rừng sâu cây rậm, hang tối đá lạ, vào dần cảnh trở nên đẹp. Núi vừa lúc
hoa đào nở rộ, sặc sỡ như gấm. Ngước nhìn Ngũ Ðài, tùng xanh sum suê, lầu
các rạng ngời, phong cảnh như vẽ, thực chẳng hư dối vậy. Qua khỏi Cổ Loan
Bách Thọ, Cổ Thắng Bảo Tuyền, đi ba dặm nữa thì đến Cổ Tây Phương Cảnh,
các cửa chùa đều đóng khóa, hình như không người ở. Bên phải điện có một
khối đá lớn, đường kính được bốn trượng, cao được tám trượng, bên trên xây
một gian đình bằng ngói, một bên đục bậc đá có thể leo lên. Trước cửa có
nhiều cây giãi, lá vừa một tấc lá non xanh có thể ăn được. Trên nữa là
đường leo lên uốn khúc (quanh co), cứ mười bộ một lần chuyển, hương hoa u
thảo quyện theo tay áo người. Qua am Từ Hàng, xuống Bảo Tuyền lại đi thêm
ba dặm là đến Viên Quang đường. Trên ấy có một ngọn núi tròn như nắm tay,
đứng một mình cao ngất, từ dưới dòm lên như không phụ thuộc vào đâu cả.
Ðỉnh xây dựng điện vũ hơn mười gian, cổ thụ ngã rũ xuống, cành lá giao
nhau rợp bóng, tràn đầy họa ý (ý vẽ). Bước theo cấp xoay tròn mà lên thì
ngay trước mặt một cái cửa mà biển ngạch đề rằng: “Nhị Thiên Môn”, xuyên
qua cửa lên nữa, qua chùa Di Phật, cung Nghinh Chân, lại đi hai dặm nữa là
đến Ngũ Thánh điện, trên ấy có động Hỏa Long, sâu chỉ vài thước, hẹp chẳng
quan sát được. Qua điện Lưu Ly, chùa Thạch Phật, bên đường cũng có một
khối đá lớn quí lạ hùng vĩ, chẳng thể theo hình trạng đặt tên. Qua chùa
Thiên Phật, Thùy Phật điện, Tam thiên môn, động Lữ Tổ
rồi đi bốn dặm nữa là đến cung Tam Thánh. Trước cung có bình đài lan can
bằng đá vừa ứng hợp với hõm núi, có thể băng vào đây để ngắm nhìn ra xa.
Trông trở lại Tôn Ðăng đài thì trao riêng cho gió bên dưới vậy! Lại theo
bậc leo lên, bậc đá trơn nhẵn, chuyển rẽ thêm nhiều lần, làm cho người
nghẹn thở toát mồ hôi chẳng thôi. Trông về đông, ngọn Linh Ứng, cốt đá cao
chót vót, trụ ngọc chống trời, tợ như chẳng thể tới gần vậy. Lại đi nửa
dặm là đến Tứ Thiên Môn (còn gọi là Ta La Bình), vào chùa uống vài chén
trà cùng với tăng nói chuyện bâng quơ giây lát, liền ra đi.
Rẽ ngang sau
lưng đài lớn, chuyển sang hướng đông bắc mà đi, ngay trước mặt những ngọn
núi liền nhau nhọn hoắc xanh biếc giống như măng tre mùa xuân. Qua ngọn
núi nhỏ là Văn Thù đài, theo cấp mà lên, chỗ đường bậc hết thì nhặt đá xếp
làm đường. Thường vài lần rẽ mới đến được đỉnh núi ấy, trên có điện vũ
chín gian, bên dưới sơn môn bậc đá cao bỗng dứt tuyệt. Ðứng ở Sơn môn
trông về phía bắc, ngọn Linh Ứng, núi lởm chởm cao hàng vạn nhẫn (đơn vị
đo lường đời Chu), trơn nhẵn chẳng bám chân. Cúi nhìn hang sâu, tùng cao
rậm rạp, tiếng sóng đầy tai. Cái lạ lùng của phong cảnh mà Thanh Thành,
Nga Mi không có vậy. Gõ cửa xong thì cửa đã mở, thấy một vị lão tăng đón
mời mười phần hợp nhau. Vị tăng tên là Ðại Thừa, người Sơn Ðông, cùng uống
trà, nói chuyện một lúc, rồi đứng lên từ tạ ra đi. Xuống đài Văn Thù, đi
về phía bắc vài mươi bộ, cũng có điện vũ vài gian gọi là Thanh Lương đài.
Ngọn núi này cùng với Văn Thù đài nguyên là một thể, thế chẳng thể phân
chia mà lại lập riêng môn hộ, tôi cảm thấy thế nào ấy! Ngôi chùa ấy cũng
chỉ có một người trụ trì, đình vũ vắng lặng, bụi hồng chẳng bám đến, thanh
tịnh nhàn dật, thật đáng ham muốn vậy.
Từ đây bước
theo bậc mà xuống, qua ngọn Trắc Lĩnh (ngọn núi nghiêng), rồi lại leo lên
là Linh Ứng phong. Gió bấc bỗng thổi, thế mạnh muốn bẻ gãy cây, bậc đi lên
nghiêng nghiêng hiểm trở sợ vấp ngã. Trên đỉnh có điện vũ hơn mười gian
đứng một mình như treo lơ lững, bốn bề cao chót vót. Bên dưới ấy tùng lạ
um tùm quanh co sườn núi rợp miệng hang. Bài thơ Du Võ Ðang của Vương Thế
Trinh có câu:
Hữu hác nan khuy địa
Vô phong bất thích thiên
Tạm
dịch:
Có hang khó dòm đất
Không núi chẳng chọc trời.
(Tuệ Khai dịch)
cũng có thể
chiếu theo núi này mà miêu tả. Xô cửa mà vào, thấy có lối bốn, năm người
nam nữ vừa tăng vừa tục đang vo gạo thổi cơm. Tôi lễ Phật xong, đứng hồi
lâu ở trước điện, trông về nam, năm ngọn núi xếp la liệt, xanh biêng biếc
tràn cửa sổ. Ðại Ðài cùng hai đài Văn Thù, Thanh Lương, cái cao, cái thấp
rợp bóng nhau rõ là như Bồng Lai Tam Ðảo. Xuống đài Linh Ứng, đi về hướng
bắc, thì lại lên đài Xả Thân. Ðài này so với các đài khác thì nhỏ hơn,
trên có một gian điện vũ, mặt đông có vách núi cao vài mươi trượng gọi là
Xả Thân Nham (núi Xả thân). Từ đây đi về phía bắc, rồi leo lên là đài Quan
Âm, trên đỉnh cũng xây dựng hơn mười gian điện vũ, đài cao, thềm phức hợp,
đứng hiên ngang cao chót vót. Trông về phía đông bắc là chùa Thiên Trì và
tháp của Vô Hoài Thượng Nhân, rõ ràng như ở tại ghế tại chiếu (trông rõ
mồn một).
Xuống khỏi
đài Quan Âm, theo đường cũ rẽ trở về, đi quanh ngọn Văn thù về phía nam,
thường vài lần chuyển mà leo lên Ðại Ðài, trông về nam núi non cuồn cuộn
dài suốt như muôn cái hốt (vật quan cầm ở tay khi chầu vua) chầu trời,
chứa tuyết dồn hơi lạnh (khí âm), sáng sủa chưa tan. Trông về bắc là bình
nguyên miên man xa tít, dòng sông như dải lụa, ruộng đậu nương lúa như dệt
xen nhau đẹp bội phần. Ðộc Sử Phương Dư rằng: “Bởi mạch núi Chung Nam khởi
đầu ở Côn Lôn, đuôi ngậm Tung Nhạc, Chung Linh sinh tú khí, to rộng đẹp đẽ
lạ lùng, làm bình phong phía nam của kinh đô, là lá chắn lớn của Ung,
Lương. Trong ấy quanh đi quẩn lại những là núi thẳm hang sâu, chẳng thể
tham cứu hết. Quan Trung có việc Trung Nam (Chung Nam),
ấy là nhất định tranh về hiểm trở vậy”, đó là điều đáng tin! Ðại Ðài là
đài cao nhất của Ngũ Ðài, trên đỉnh xây dựng hơn hai mươi gian điện vũ.
Những viện lạc ấy rộng rãi so với những nơi khác hơn hẵn. Vào đại điện,
thấy một vị lão cư sĩ vừa đốt hương lễ Phật, tôi hỏi vị tăng trụ trì ở
đâu? Ðáp rằng, đã đi xuống núi rồi. Rồi lại thấy một sĩ quan quân đội trẻ
tuổi tự nói rằng, họ La tự là Khoan Phác, người Trường Sa tỉnh Hồ Nam,
hiện công tác ở Cục Trắc Lượng bộ Quốc Phòng, theo lệnh đến đây đo lường
vùng tam giác này. Ðồng ngồi với nhau dưới mái vũ, uống trà tâm sự một
lúc.
Từ Ðại Ðài
bước theo bậc xoay tròn xuống phía nam, vượt qua Lĩnh Ác, lại ba lần rẽ là
đến Ðại Mao Bồng. Chùa có điện Phật ba gian, nhà khách ba gian, hai ngọn
núi bên trái bên phải cất cao lên làm cọc tiêu, trước mặt dẫn đến cái hang
sâu tối, tùng xanh che mặt trời, phong cảnh trong sạch tuyệt vời. Vào Mao
Bồng lạy Phật xong, vâng theo lời mời của Bổn Lập Thượng Nhân và Pháp sư
Tuệ Minh vào ngồi ở nhà khách, rửa mặt, súc miệng xong liền tùy hỷ thọ
trai, rau núi vài món, mùi vị rất ngon lành, trân tu hải vị chẳng đổi được
vậy. Sau khi ăn, tôi bước ra bên ngoài điện, mặc tình thưởng lãm gió mát,
thấy bên phải điện có một cái gò tròn nhỏ, trên ấy cổ mộc chen lên trời
xanh, vừa to vừa nhỏ (như cái chén uống rượu) lô nhô. Mặt nam ở ven núi
cheo leo có động Tương Tử. Tương truyền rằng, Hàn Tương Tử đời Ðường và
hai vị Tăng Tính Thiên, Văn Lý thời Gia Tĩnh đời Minh đã từng tu đạo ở
đây. Trong hố có cây nở hoa trắng, trắng ngần như tuyết, cùng với
tùng xanh ánh nhau càng tăng thêm vẻ đẹp kỳ thú. Tham quan non nước Chung
Nam, gọi lại có đủ vẻ hùng, kỳ, u, tú... thì biết là những cao tăng, danh
sĩ đời Ðường đã theo nhau dừng nghỉ ở đây rồi đến nay có mình vậy! Ðêm
cùng với pháp sư Tuệ Minh nhắp trà bàn về thiền lý càng khoái chí bình
sinh. Thầy nói rằng: “Mao Bồng lớn nhỏ ở Nam Sơn không chừng đến vài trăm
chỗ, đó là những chỗ có chúng tăng, đạo sĩ tu chân tập tịnh. Họ đều là
những người tu trì nghiêm cẩn, trồng khoai, cấy lúa, tự nuôi sống. Vậy thì
so cùng với những Ðại Tòng Lâm ở lầu cao, được cấp ruộng mầu mỡ, ăn sang ở
sướng, chẳng lý đến việc sản xuất thì khác xa vậy”. Tôi nói lại với thầy
rằng: “Rất tốt! Thời gian lần lữa qua hết, ngày nay tôi mới lĩnh hội qua
được mùi vị đậm đà chân thật của kiếp người, đợi ngày mai đất nước thanh
bình, nhất định sẽ kết mối duyên tái lai vậy.” Trao nhau một nụ cười, rồi
về giường riêng ngủ. Mùng mền thanh khiết, không bị rệp, trùng quấy nhiễu,
không sơn (cảnh núi) vắng lặng, hồn mộng đều thanh tịnh.
Sáng ngày hai
mươi sáu thức dậy, rửa tay súc miệng xong, từ biệt pháp sư Tuệ Minh. Rồi
cùng hai vị thượng nhân Bản Lập và Giới Hiền, rời khỏi Ðại Mao Bồng, theo
đường phía đông xuống núi. Qua ba lần rẽ là đến Phược Long Thung, có một
trụ đá cao chừng năm thước đứng ở trước Tiểu Mao Bồng. Tương truyền ngày
xưa có một con hỏa long tinh, thường hóa làm người vào Trường An mua
thuốc, thỉnh thoảng ưa làm hại người. Ðức Bồ-tát Quan Âm phát lòng đại bi,
lập kế bắt con hỏa long cột vào cây thang đá để chế ngự nó, nhờ đó người
ta chẳng bị hoạn nạn nữa. Thuyết này tuy là thần thoại nhưng ý cũng đã nói
đến việc ngài An Thiền khống chế rồng của Kinh thần chú vậy.
Lại xuống
thêm vài lần rẽ là đến một tiểu lĩnh, phía đông núi ấy cao lồng lộng gọi
là Hiền Thánh Ðài, cũng có xây dựng điện vũ hơn mười gian, vượt qua tiểu
lĩnh đi về hướng chánh bắc, hai bên đường đều là những gốc tùng đại thọ,
cành nhánh tiếp nhau, bóng cây che vài mẫu, qua khỏi Thập Phương Phổ Ðồng
Tháp, ngồi trên đá nghỉ ngơi một chút, đi thêm bốn dặm là đến Ðẩu Mỗ
đường, trông trở lại Ngũ Ðài thì núi linh thăm thẳm mà vẫn y vậy chẳng xa
cách chút nào. Lại đi ba dặm thì đến chùa Hoa Nghiêm, có một đường thác
nước đổ từ trên cao xuống, tiếc là thế nước chẳng hùng tráng lắm vậy. Lại
đi ba dặm là đến Thạch Miết Ðậu, do miệng cốc có khối đá lớn như con ba ba
nên đã thành tên. Cốc này cũng gọi là Thái Ất cốc. Lữ Ðại Phòng nói rằng:
“Nhà Tùy xây đô thành, phía nam thẳng đến cốc Thạch Miết của Nam Sơn”, tức
là chỉ chỗ này vậy. Nước từ cốc chảy ra tức là dòng Duệ hà, phía bờ đông
sông ấy có con đường đi ngựa, có thể thông đến núi Thúy Hoa. Núi Thúy Hoa
cũng là một danh thắng của Nam Sơn, nay là đất sở tại phân hiệu của Trung
Ương Quân Hiệu. Vì khu quân sự nên không được đến du lãm, chỉ có đợi một
ngày khác thôi vậy. Bờ phía tây của cốc, có xây dựng một tòa lầu mới theo
kiểu phương tây (chỉ Châu Âu), rừng cây che lấp, phong cảnh tuyệt đẹp.
Theo con đường quanh co ở bờ phía tây cốc đi về hướng chánh bắc, ra khỏi
cốc, lại đi năm dặm là đến Thái Ất Cung. Cung hiện nay bị trường Trung học
Trung Chính chiếm mượn, nó cũng là ngôi cổ miếu của đời Ðường vậy. Ngay ở
đây tìm quán ăn, ăn xong bỗng trời kéo mây trùm khắp, mưa phùn bay lả tả,
tôi liền cùng với hai vị thượng nhân bái biệt, một mình giương ô (che dù)
đi trước. Theo đường ngựa đi về phía bắc, hai bên đường có hai con kênh
dẫn nước, thôn dân nhờ đó mà tưới tiêu rất tiện lợi. Trông về đông, sườn
núi mênh mông nổi lên tức là cánh đồng Long Thủ, cũng gọi là Long Thủ Sơn.
Ðuôi nó khởi lên từ Phàn Châu, đầu vào sông Vị, chiều nam bắc dài sáu mươi
dặm. Ðời Tùy cho thành Trường An hẹp nhỏ, mới đổi làm kinh đô mới ở trên
Long Thủ nguyên. Ði năm dặm nữa, xuống khỏi sườn núi là đến Phàn Xuyên.
Xét ra Phàn Xuyên vốn là Phàn Hương của huyện Hán Ðỗ. Vào đầu đời Hán,
Phàn Khoái được ban thực ấp ở đây, nhân đó mà thành tên. Sử xưng là năm
Trinh Quán thứ mười bốn đời Ðường có cuộc đi săn lớn ở Phàn Xuyên, tức là
nơi đây. Sườn núi cao phía bắc chỗ ấy tức là Ðỗ Lăng Nguyên (Cánh đồng Ðỗ
Lăng), trên có hai ngôi mộ Ðỗ Lăng cùng Thiếu Lăng. Ðỗ Lăng là lăng của
Hán Tuyên Ðế, Thiếu Lăng là lăng của Hứa Hậu. Hứa Lăng cách Ðỗ Lăng hơn
mười dặm về phía đông nam, lăng nhỏ hơn nên gọi là Thiếu Lăng. Về phía tây
Lăng có nhà cũ của Ðỗ Phủ, ông tự xưng là “Ðỗ Lăng Bố Y”. “Thiếu Lăng Dã
Lão” bởi do đây vậy.
Về phía đông
bắc mã lộ chừng hai dặm, trên Ðoan Ðoạn Nhai phía nam Ðỗ Nguyên có chùa
Ðại Ðường Hưng Giáo, tháp Xá-lợi của pháp sư Huyền Trang ở tại đây. Xem
xét về đường Tam Tạng Huyền Trang pháp sư thì ngài tục danh là Huy, họ
Trần, nguyên quán huyện Trần Lưu tỉnh Hà Nam, ông Tổ đời sau mới dời về ở
Hầu Thị. Sư sinh ra ở Trần Thôn, cốc Phượng Hoàng phía tây bắc chùa Thiếu
Lâm, hậu duệ của Trần trọng Cung (Thật) đời Hán vậy. Năm mới mười ba tuổi
liền theo anh thế độ (xuất gia) ở chùa Tịnh Ðộ tại Lạc Dương. Về sau,
tránh loạn Vương Thế Sung ngài vân du khắp các danh lam cổ sát của miền
Tần, Thục, Kinh, Tương. Năm Trinh Quán thứ ba đời Thái Tông, sư năm hai
mươi sáu tuổi, quyết chí từ Trường An đi đến Ấn Ðộ du học. Tại Ấn Ðộ, ngài
nghiên cứu tinh thông nội điển. Ngài ở đó mười sáu năm, đến năm Trinh Quán
thứ mười chín mới chống tích trượng trở về Kinh sư. Triều đình xuống chiếu
cho Ðại Thường Khanh Giang Hạ là Vương Ðạo Tông thiết bày chín bộ nhạc,
đồøng thời ra sắc chỉ đem tràng phan, bảo cái của các chùa trong kinh
thành, mọi thứ kỷ nhạc đưa ngài và các vị Cao Tăng phiên dịch Kinh tượng
vào chùa Từ Ân. Ngài thị tịch tại chùa Tây Minh vào năm đầu niên hiệu Lân
Ðức thời vua Cao Tông, hưởng niên sáu mươi ba tuổi. Vua xuống chiếu an
táng Ngài ở bờ đông dòng sông Sản, người đưa đám táng có hơn hai trăm vạn
người. Ðến năm Tổng Chương thứ hai lại dời tháp về cánh đồng phía bắc Phàn
Xuyên, đồng thời xây dựng chùa để thờ phụng. Về sau tháp của hai nhà sư
Viên Trắc và Khuy Cơ cũng phụ cận bên trái, bên phải tháp của ngài. Chỉ là
lâu năm không được sửa sang nên tháp, chùa trở nên điêu tàn. Ðến đầu thời
Dân Quốc chỉ còn là một ngôi nhà nát với ngói đất ngổn ngang, người nhìn
thấy thương cảm lắm! Năm Dân Quốc thứ mười một, trụ trì là Pháp sư Diệu
Khoát đã xin quyên góp, xây dựng lại điện Phật, phòng tăng. Mùa thu năm
thứ ba mươi (Dân Quốc), lại được cư sĩ Chu Tử Kiều sửa sang lại ba ngôi
tháp và hai lầu chuông, trống. Hiện nay miếu mạo sáng sủa, Tông Phong chấn
hưng, thật là một tuyển Phật trường rất tốt đẹp của vùng Tần Trung vậy.
Tôi định trước đến lễ Phật và hỏi thăm Pháp sư Diệu Khóat trụ trì ngôi
chùa ấy, không ngờ cơn mưa mạnh thêm, chưa tiện đi vòng đường, nên mới
trông về phía tháp lễ mười một lạy mà ra đi.
Qua cầu lớn
Thủy Nê trên sông Duệ, chuyển sang hướng tây bắc mà đi, hai bên đường đều
là ruộng nước, vẻ đẹp của phong vật so cùng Vi khúc, Vương khúc tương tợ.
Trông trở lại Nam Sơn mây mù mênh mông thoắt ẩn thoắt hiện, lộ ra vẻ kỳ
quan. Lại đi mười lăm dặm nữa thì tới trấn Ðỗ Khúc, xem xét Ðường Thư có
chép: “Thành Nam là chỗ ở của những người họ Ðỗ, danh hiệu Ðỗ Cố nhiều đời
làm quan (y quan)26”. Ung Lục
Văn nói rằng: “Vi khúc của Phàn Xuyên về phía đông có Nam Ðỗ, Bắc Ðỗ. Ðỗ
Cố là gọi Nam Ðỗ, Ðỗ Khúc là gọi Bắc Ðỗ, đều là vùng đất danh thắng”. Ðỗ
Hữu, Ðỗ Mục, Ðỗ Như Hồi ở đời Ðường đều sinh ra ở đất này. Do đó có thể
thấy sự hưng thịnh về nhân văn địa lý của Ðỗ Khúc ở thời Ðường vậy! Từ đây
lại tiến về phía trước, trời bỗng nhiên tạnh mưa, mặt trời lộng lẫy trên
không, quang đãng bao la thích hợp với người. Lại đi hai mươi dặm nữa là
đến trấn Vi Khúc, nghỉ ngơi chút ít lại đi nữa, ba giờ chiều thì về đến
Tây An. Trong khách thứ vô sự viết lại để làm lời cáo cho những kẻ ham
thích du lãm.
Viết tại
Khách Thứ Trường An ngày mười hai tháng năm năm Dân Quốc thứ ba mươi bảy.
XII. CHÙA LINH NHAM.
Chùa Linh
Nham ở trên núi Linh Nham tỉnh Tứ Xuyên cách thành huyện Quán mười hai dặm
về phía tây bắc, muốn đến thăm viếng phải mất nửa ngày. Ngôi chùa được
sáng lập vào khoảng niên hiệu Khai Nguyên đời Ðường, cũng là một ngôi Cổ
sát của Thục Trung. Tôi hâm mộ chốn danh thắng lâm tuyền ấy nên một
mình gắng chống gậy đến thăm thú vậy!
Ra khỏi cửa
bắc, chuyển về bên trái lần theo tường thành đi về phía tây ước
chừng hơn trăm bộ rẽ sang hướng tây bắc, hai bên đường đều là ruộng nước,
mịt mờ lúa trải xanh rờn, sương móc thấm ướt vớ giầy, cỏ rậm, vang tiếng
suối chảy rì rào. Ði ước chừng ba dặm thì thấy một tòa nhà viện hiện lên
trong cánh rừng rậm rạp nơi sâu thẳm, môn bài viết mấy chữ “Nông Lâm Thôi
Quảng Sở”. bên trong viện hoa lá cây cối phù sơ, bố trí thành nhã, nghiễm
nhiên như ngôi tinh xá ở phương ngoại. Quanh ngôi nhà ấy đều là cây ngọt
trái ngon, rậm rạp che bóng mặt trời. Từ đây đi về phía tây, trông xa về
phía Linh Nham, núi quanh co liền nối đỉnh đặc đẹp đẽ, những đám mây xa
tít mờ. Chỗ ánh sáng mặt trời chiếu xuống, xanh tía muôn hình trạng. Ði
một dặm nữa thì gặp hai học sinh liền kết bạn đồng hành, leo lên chân núi,
cỏ hoang cùng khắp, ướt át trơn trợt, chân chẳng bám trụ được. Ði ước
chừng nửa dặm thì bỗng gặp con đường lớn. Bậc đá leo lên phẳng phiu rộng
rãi, bất ngờ trước cảnh tượng ấy mà vui mừng lượn vòng đi lên, hai bên
đường cây cối sum suê, trông xa không cùng tận, đi trong mây xanh, núi
xoay đường chuyển, suối vang gió thét. Ði năm dặm nữa, rồi ngồi dưới bóng
tùng nghỉ ngơi một chút. Trông về tây bắc, trước ngọn núi Linh Nham, trong
đám cây rậm rạp xanh biếc lộ ra một góc điện vũ, tức là chùa Linh Nham
vậy. Ðứng dậy, cổ vũ nhau mạnh mẽ leo lên, bậc đá vòng quanh lại, quanh co
ở khoảng bóng mây ánh núi. Ði ba dặm nữa là vào rừng sâu, thường chừng vài
lần rẽ là đến được chùa Linh Nham. Lưng chùa như treo vào núi, mặt trước
cận kề hang sâu, diềm mái vút lên mà phức hợp, khí tượng cao rộng. Trước
chùa có vài chục gốc cây Nam, thân đến hai người ôm, cao hơn mười trượng,
sum suê xanh biếc, chẳng thấy mặt trời. Từ trong khoảng trống rừng cây cúi
nhìn xuống vùng bình nguyên ẩm thấp thì thấy ruộng nước dọc ngang, hàng
quán đan xen, cây phủ muôn nhà, sông Mân như dải lụa, dòng nhánh đan xen
nhau. Thành Triệu Công Thanh (?), ngàn ngọn núi cao chất ngất, tranh cao
giành đẹp. Khí núi quang tạnh, xa mù ngùn ngụt, quấn quanh như vẽ. Tiếc là
tôi không mang theo giấy bút, chẳng thể thu nhỏ lại cảnh đan thanh (đỏ
xanh) trăm dặm vào bức vẽ nhỏ, cảm giác tràn đầy mà đành phụ vậy. Bỏ bực
cấp vào Sơn môn, bên trái bên phải thờ tượng Tứ Thiên Vương. Qua khỏi Sơn
môn tiến về phía sau là Ðại Ðiện. Chính giữa thờ tượng đức Phật Như Lai,
chẳng trang nghiêm lắm, bên trái bên phải trước điện là liêu phòng đều bị
chiếm làm chỗ cho thuê. Thấy có bốn, năm người cả nam lẫn nữ ngồi vây
quanh dưới hành lang đánh bài, hô “hồng trung” “bạch bản” vang dậy chẳng
thôi. Cửa Phật thanh tịnh mà đã trở thành nơi vui chơi của bọn chăn bò
trông lợn, thật là điếm nhục cho cổ sát danh sơn! Cố Ðình Lâm tiên
sinh đời Minh từng nói rằng: “Mất nhà Minh, mất ở Mã điếu”,
nhưng kháng chiến hiện nay thất bại từng đoạn từng đoạn, được hay không,
quy tội cho tướng nào ư?
Từ dưới hành
lang điện ra phía trái, có chánh điện ba gian, ở giữa cũng thờ tượng Phật,
bồ đoàn, phạm bối (Kinh Phật), trần thiết tinh khiết. Ði ra cửa góc bên
trái, vách đá ngăn trước mặt, dưới ven núi có động Hắc Phong, đường kính
cửa động ba thước, trông vào cốc dò tìm chỉ thấy u tối thăm thẳm, sâu
chẳng thể dò được. Bên dưới ấy có một dòng nước trong leo lẻo, gọi là Linh
Ðậu Tuyền. Nước suối trong xanh, cá lội có thể đếm được. Vách suối chạm
nổi tượng Phật, hình như là sản vật đời Ðường. Tượng một nửa ngâm trong
nước, một nửa lộ ra ngoài, rêu bám loang lổ, chẳng hiện rõ mi, mắt. Bên
sát ven núi có nhiều chữ cũng bị bào mòn còn lờ mờ nên chưa sao chép được.
Từ đây hướng về phía đông bắc, lại lên sườn núi, đường chim lượn vào hư
không, trơn trợt chẳng bám chân. Ði chừng hai dặm thì thấy trong đám cây
cỏ um tùm có ngôi thần điện ba gian, gọi là Thiên Phật Tháp, ngôi
tháp ở trong điện, cao hơn một trượng, chung quanh đắp nhiều tượng Phật
nhỏ, tầng tầng bài trí la liệt, gắng cho đủ số ngàn. Tiếc là hình vẽ màu
sắc tầm thường kém cõi, chẳng đáng xem cho lắm. Xuống sườn núi sát chùa là
đến khách đường, cùng với vị tăng uống trà, nói chuyện giây lát. Vị phương
trượng hiệu là Xương Viên, đệ tử của ngài Thái Hư pháp sư, người rất trung
thành. Ông nói rằng, chùa không có hằng sản, toàn nhờ vào số phòng cho
thuê mà sinh hoạt, và bên trong chùa trước đây còn có đá khắc Kinh
Bát-nhã, tiếc là bị kẻ gian đã lấy trộm mất, hiện nay chỉ còn lại mảnh bày
ở trên án. Tôi quan sát thể chữ phỏng đoán là sản vật đời Ðường không gì
nghi ngờ cả. Tiếc là chẳng thể dần thấy toàn bộ diện mạo của phiến đá khắc
ấy, rất là ân hận! Nghe nói trên đỉnh còn có bàn cờ bằng đá, là vật của
khoảng năm Thiên Hựu đời Ðường. Tôi chưa đến xem, liền từ giã ra đi, vẫn
theo đường cũ xuống núi, trở về đến thành thì đã mười hai giờ rồi vậy!
XIII. CHÙA Ô VƯU, CHÙA LĂNG VÂN.
Ngày mùng sáu
tháng chín năm Dân Quốc thứ ba mươi ba, khí trời trong lắng điều hòa,
phong vật đẹp hẳn lên. Tám giờ sáng tôi đi du lãm thắng cảnh của hai ngọn
núi Ô Vưu và Lăng Vân. Thuở trước người ta đi chơi Lăng Vân thì ở bờ sông
bên ngoài cửa An Lan, góc đông nam của thành huyện Lạc Sơn, thuê một chiếc
thuyền con bên cạnh chân thành nhô cao để vượt sông. Ði ngược dòng chừng
vài trăm bộ, lại chuyển mái chèo đi xuống rất nhanh. Chớp mắt đã qua vài
dặm, chẳng cần khua mái chèo. Do nước sông mới lên mênh mông, ba đào vọt
cao nên tôi chẳng dám mạo hiểm, từ Mã Ðầu, đường lớn ở phía đông, buông
một con thuyền dẹt như chiếc lá, thuận theo dòng mà đến vậy!
Ði về hướng
đông nam chừng ba dặm là đến dưới Ðại Phật Nhai. Bờ đang đối cửa
sông, đứng bên là Xích Bích. Chân núi, quái thạch xâu liền lại, sóng lớn
xông lên vỗ mạnh như gió to quạt sóng, thuyền đi chòng chành làm mọi người
sợ hãi. Tôi ngước nhìn Ðại Phật, đầu cất mũ, chân đi trần, ngay ngắn ngồi
lặng. Cây cỏ rẽ lướt qua như xâu lại thành chuỗi pháp tượng trang nghiêm,
công trình to lớn, đem so với Phật đá động Vân Cương chẳng phải là quá
vậy. Tương truyền, khoảng năm đầu niên hiệu Khai Nguyên đời Ðường, có ngài
Hải Thông Thiền sư soi thấy nước con sông chảy xiết hung tợn, phá hoại
thuyền bè, ngài mới về núi Lăng Vân, đến vách núi cạnh sông đục một tượng
Phật lớn để trấn thủy quái. Ðang khi ngài Hải Thông bắt đầu thi công thì
Quận sử đòi ăn của đút (hối lộ). Vị sư nói rằng: “Mắt kẻ tu hành có thể
khóet, tài sản của Phật khó được!” Quận sử nổi giận nói: “Tương lai rồi
thử xem!”. Vị sư liền tự móc mắt của mình đặt lên mâm bưng đến, quận sử
hối ngộ, phát nguyện hết lòng trợ giúp công việc ấy. Toàn thân Phật chưa
xong thì Thiền sư đã qua đời. Có những vị Liên Sư Chương, Cưu Kiêm Quỳnh
mang đến hai mươi vạn tiền giúp kinh phí cho công việc ấy. Trong niên hiệu
Khai Nguyên vua xuống chiếu ban cho số thuế muối, thuế sợi gai thu được tư
cấp cho việc sửa sang xây dựng, kịp đến khi Vi Cao làm Tiết Ðộ sứ Kiếm
Nam, từ trên tòa hoa sen đến đầu gối, thợ làm chưa xong, còn gần một trăm
thước, năm Trinh Nguyên thứ năm, ông mới xuất ra năm mươi vạn tiền
để tiếp tục hoàn thành. Các sách ghi chép xưng là, tượng cao ba trăm sáu
mươi thước, đỉnh tròn một trăm thước, mắt rộng hai trượng, hiện nay qua sự
đo lường của các nghệ thuật gia Tây Dương thì cao đúng hai trăm lẻ tám
thước, họ cho thế cũng là vĩ đại vậy! Phật tượng nguyên được trang sức
bằng vàng, ngọc bích, che bằng lầu tầng. Nhưng vào cuối đời Minh, binh lửa
loạn lạc đã phá hủy những thứ ấy, rất là đáng tiếc vậy! Hiện nay tòa hoa
sen đã bị dòng nước lớn khóet rỗng gần hết, Hơn nữa, sau ngần ấy năm, Phật
tượng cũng đáng có nỗi lo bị hủy diệt. Tôi nguyện xin Hữu ty (Quan lại) để
ý thêm việc bảo hộ cho cổ tích được tồn tại vậy. Bên trái bên phải khám
thờ Phật lại khắc tượng đứng nhỏ, cao chừng hơn một trượng, hình như là
tượng Kim Cương thị giả. Khoảng vách có bậc đá độ vài trăm cấp, nhưng do
nước sông hiểm ác nên chẳng dám dừng thuyền vịn leo lên. Khua mái chèo
tiến về phía trước, chừng nửa dặm tức là đã đến núi Ô Vưu. Ngọn núi biếc
cao lồng lộng, đơn độc vươn lên chót vót, dòng nước xanh uốn quanh vòng
giống như một đảo tiên. ven vách núi khắc bốn chữ lớn “Trung Lưu Chỉ Trụ”,
vuông rộng hơn một trượng, nét chữ như bay như múa hùng mạnh. Ô Vưu nguyên
tên là Ô Ngưu, đời Tống từ Hoàng Sơn Cốc đến đây mới đổi tên như hiện nay.
Tức là từ câu “Ô Ngưu tại trung chữ” (Ô Ngưu ở bãi giữa) trong bài thơ
pháp Gia Châu của Tô Tử đó vậy. Thuyền ghé vào chân núi, rời thuyền leo
cấp mà lên, đường ven núi quanh co, đường bậc leo lên được sửa sang. Tạp
thọ rập rạp, bóng rợp che mặt trời, tối tăm mát lạnh, hơi nóng tiêu tan.
Phía trước có một phường, biển ngạch đề rằng: “Lũy Chỉ”, câu đối viết
rằng:
“Giang Thượng Thần Cổ Lôi Công Miếu.
Hải huyệt thông triều Ngọc Nữ phòng”
(Trên sông thần cổ miếu lôi công.
Hang biển triều thông phòng Ngọc Nữ),
bên ngoài là
đền thờ Thổ địa. Qua cửa phường, thấy bên đường sát ven núi viết hai chữ
lớn “Ly Ðôi” là Vinh huyện Triệu Hy đề. Xét ở Thục Trung Ly Ðôi thường có
bảy: Một tại Quỳ Châu, một tại Thương Khê, một tại Nam Bộ, một tại Quán
Huyện, một tại Nhã An, một tại Hán Nguyên huyện, một tại đất này. Tương
truyền đều là do Lý băng đục khóet cả. Lại leo lên chừng hơn một trăm cấp
thì ngay trước mặt là một ngôi cổ đình bên bờ núi, biển ngạch đề “Chỉ Tức
Ðình”. Liên đối rằng:
“Vân ảnh ba quang thiên thượng hạ.
Tùng đào trúc vận thủy trung ương”
(bóng mây ánh (sáng) sóng trên dưới trời.
Sóng tùng vận (phong nhã) trúc nước chính giữa),
là do
Thái Hư Pháp Sư đề. Bên trong đình có tấm bia nằm (ngọa bi) khắc “lên núi
có đường, đi thông thả thì chẳng vấp ngã, cùng với ngài ở thế là đẹp”
(Ðăng sơn hữu đạo, từ hành tắc bất chất, dữ quân thả trụ vi giai), liên
đối rằng:
“Vũ quá lâm phi thanh thạch khí.
Thu tương sơn thúy nhập thi tâm”.
(mưa qua rừng lả tả sạch hơi đá.
Thu đem núi biếc xanh vào lòng thơ),
đều là của
Triệu Hy đề. Ngồi trong đình nghỉ ngơi một chút, cúi xuống nhìn mặt sông,
sóng sáng như gương soi. Lại đi lên, thế đất càng cao phong cảnh càng
thanh u, hai bên đường tre trúc rậm rạp cành nhánh vươn dài, trên dưới um
tùm. Ði giữa trời biếc, mây xanh mênh mông, khe đá hoa dại nở rộ, phun
hồng nhả trắng, sáng lạng sặc sỡ thích hợp với người. Ðến đây như vào cái
giường mây sáng kín đáo, ý bợn trần sạch trơn. Ði quanh co hơn một trăm
cấp nữa thì đến tháp Phổ Ðồng, bên trái tháp sát ven núi khắc bốn chữ
“Linh Sơn Pháp Bảo”. Bên phải có cái động đá, tương truyền là ngôi mộ cổ
đời Hán. Từ đây đi lên phía bên phải chừng hơn một trăm cấp là đến chùa Ô
Vưu, chùa còn một tên nữa là chùa Chánh Giác, do Huệ Tịnh thượng nhân đời
Ðường kiến tạo, trải qua các đời Tống, Nguyên, Minh có sửa sang thêm. Ngôi
chùa dàn ra trên cao ở đỉnh núi, mặt hướng về sông lớn, cột dài, mái ngói
cất cao lên, cây đá che rợp, quả thực là thắng cảnh. Biển ngạch Sơn môn đề
rằng: “Thanh Y Biệt Ðảo”, liên đối rằng:
“Tự môn cao khai động đình dã.
Thương nhai bán nhập tuyết đào đôi”.
(Cửa chùa mở cao sân động hoang.
Núi xanh vào nửa sóng tuyết đắp),
bên
trong là điện Tứ Thiên Vương, nhan đề biển ngạch viết theo phép Khải Thư.
Qua điện Thiên Vương là điện Di Ðà, bên trong có một pho tượng Phật đứng
đúc bằng đồng. Thân vàng một trượng sáu, trang nghiêm không gì sánh bằng;
bên ngoài che bằng một cái đình gạch, là một kiến trúc mới gần đây. Dựa
ven núi tiến về trước, đá rêu phong trơn trợt, đường xưa xanh mát, biển
ngạch cửa lầu đề rằng: “Thanh Không Nhất Khí”, liên đối rằng:
“Thắng địa tiếp lăng vân, tịnh lý mỗi văn du khách kịch.
Cách giang thời tống vũ, vọng trung vô hạn độ nhân chu”.
(Thắng địa tiếp váng mây, vắng lặng thường nghe guốc du khách.
Cách sông tiễn đưa mưa, trông vời vô hạn thuyền qua sông).
Lại đi hơn
năm mươi bộ là đến điện Phật Di Lặc. Biển ngạch đề rằng: “Chánh Giác Thiền
Lâm”, nhà bên phải điện là khách đường. Vào trong nhà khách uống tràø nghỉ
ngơi một chút liền từ tạ ra đi đến Ðại Ðiện tham quan. Ðại Ðiện gồm năm
gian, qui chế rất là cao rộng. Bên trong điện thờ ba pho tượng Phật cổ lớn
bằng gỗ Chương, do Hòa thượng trụ trì Truyền Ðộ xin được tại tỉnh Chiết
(tỉnh Chiết Giang), từ vùng biển ngược dòng sông vận chuyển về. Vách
điện treo tượng năm trăm vị La-hán do Trúc Thiền vẽ in lại bằng mực. Bên
phải bên trái phía trước điện là thiền đường, ngũ quan đường, nhà chuông,
nhà trống và Tổ đường. Trùng lâu chấp nối nhau giống như thiên tỉnh (giếng
trời). Bên phải điện có ngôi tinh xá ba gian, bia khắc mấy chữ “Ðường Huệ
Tịnh Thượng Nhơn Kết Mao Xứ” (Chỗ kết tranh làm am của Huệ Tịnh Thượng
nhân đời Ðường). Ra khỏi điện Di Lặc thấy ngoài chỗ đất đá bằng phẳng có
vài gốc cây nam cao to, thân cành đỉnh đạc vút lên, lớn đến vài người ôm,
bởi là sản vật hàng ngàn năm trở lên vậy. Bên phải là Ngũ Bách La-hán
đường, mấy trăm tượng đắp bày la liệt giáp vòng, thiên hình vạn trạng rất
có giá trị nghệ thuật. Ở giữa có một pho tượng bằng đồng đời Ðường, tượng
cao tám thước, mặt mũi dữ tợn đáng sợ. Hiện nay người ta tô đắp lại tượng
ấy làm tượng Quan Âm bốn mặt, có thể gọi là làm cho cái khéo léo trở nên
vụng về vậy! Bên phải La-hán đường là đài Nhĩ Nhã và đình Khoáng Di. Hiện
nay chúng đều bị thư viện Phục Tính chiếm mượn. Thư viện sáng lập
vào năm Dân Quốc thứ hai mươi tám, sơn trưởng là Mã Nhất Phù tiên sinh.
Hàng ngày trừ ngoài việc viết chữ khắc thư pháp, ông còn chủ giảng về cái
học Tính Lý. Tôi đến bái thăm ông nhưng ông đi xuống thành chưa về, thêm
một lần không duyên được nghe lời giáo huấn, rất lấy làm ân hận!
Khoáng Di
đình ở phía tây La-hán đường là do Tri Châu Ngụy Hàn đời Minh sáng lập.
Ông nhân theo núi cao mà kết cấu hiên che nhã đạm thanh khiết. Bên
trong Thái Hư Ðại Sư có đề tám chữ: “Giang Thượng Thanh Phong, Sơn Gian
Minh Nguyệt”. Tựa lan can ngắm trông, sông dài đồng rộng xa tít, mây núi
ẩn hiện lờ mờ, ba núi cao tranh đẹp, hai dòng sông giành chảy. Ngắm xem
giang sơn khoáng đạt khiến cho con người dằng dặt những ý tưởng xa vời.
Ðài Nhĩ Nhã thì ở trước Khoáng Di đình, tương truyền là Quách Phác
chú thích Nhĩ Nhãở
đây. Nhưng kỳ thật là chỗ chú thích Nhĩ Nhã là huyện Kiền Vi
đời Hán, do Văn học xá nhânlàm.
Học sứ Ngô Bạch Hoa đời Thanh và người gần đây ở huyện Vinh
là Triệu Hy đều chứng minh việc lầm lẫn ấy. Cá sinh sản dưới núi đều là
vảy đen, đầu đen, tương truyền là bị nhiễm phải mực viết của tiên sinh.
Chỉ là xuyên tạc phụ hội thêm, thật chẳng đáng giá một nụ cười! Ðài có lầu
nhỏ ba gian, vách ván, cửa sổ dán giấy, bền tốt lung linh (bóng lộn). Trụ
gian nhà có một câu liên đối: “Vấn tự thùy danh cảnh thuần thướng? Tần
gian thỉnh định niếp dương tây”, trước sân hoa tử đằng bò đầy giàn, chuối
xanh rợp nửa cửa sổ, cảnh thật u tuyệt. Hiện nay khói lửa chiến
tranh khắp nơi nơi mà có thể ở lại trong hang núi rừng này giảng học luận
đạo, quả thật là điều rất may mắn cho nhân sinh vậy!
Ra khỏi sơn
môn theo con đường nghiêng xuống núi, hai bên đường cây cối sum suê xanh
biếc, trời sắp mưa. Xuyên rừng mà đi, đường bằng cao trơn trợt, lòng sợ
mắt mờ. Ði chừng hơn ba trăm cấp thì đến đình Hóa Thành, bên trong có
ngạch ngang viết: “Tự Ðắc Lư Sơn Lộ” là do Vu Hữu Nhiệm đề. Ở đây nghỉ
ngơi một chút. Lại đi xuống, thường vài lần rẽ, ước chừng hơn ngàn cấp là
xuống đến bờ sông. Sông tên là Ma Hào, tức là dòng nước giới hạn của hai
ngọn núi Ô Vưu và Lăng Vân. Ði thuyền nhỏ qua sông, men theo bên phải con
đường nhỏ mà đi. Qua khỏi cây cầu gỗ chừng vài trăm bộ thì có ngôi mộ cổ
đời Hán. Ngôi mộ hiện nay bị lợi dụng làm xưởng chế tạo đường (ăn). Phía
trước có vài gian nhà tranh, cỏ cây che kín, đất rất hoang vu chật hẹp.
Rời khỏi Hán
mộ trở về đến chân núi Lăng Vân, trên núi Lăng Vân có chín đỉnh, thời Tống
lại gọi là “Tiểu Cửu Nghi”. Chùm núi kết vòng, cây rừng rậm rạp. Trong thơ
văn Tô Văn Trung Công
có câu:
Sinh bất nguyện phong Vạn hộ hầu
Diệc bất nguyện thức Hàn Kinh Châu
Ðản nguyện thân vi Hán gia thủ
Tải tửu thời tác Lăng Vân du.
Tạm dịch:
Sinh chẳng nguyện phong Vạn hộ hầu34
Cũng không nguyện biết Hàn Kinh Châu35
Chỉ nguyện thân làm Hán gia thủ36
Mang rượu thời đi Lăng Vân chơi.
(Tuệ Khai dịch)
Có thể thấy
lòng hâm mộ điên đảo của ông ấy là vì sao như vậy! Lần theo đường núi mà
lên, vách ven núi bên phải đường cũng có vài chỗ hang động, nhưng đều
chẳng bì kịp sự vĩ đại của động sông Hào. Quanh co tiến về phía trước, hai
bên đường tùng xanh sừng sững, cỏ dại um tùm, hoa rừng lan tỏa, nơi nơi
hương thơm ngan ngát, đi ước chừng hơn hai trăm cấp thì thấy bên ven núi
có khán thờ Phật Di Lặc, tượng Phật còn chưa tô vàng, một bên cũng
có hang đá nhưng chẳng sâu rộng. từ đây lại đi lên vài trăm bậc, rẽ phải
tức thì phía trên cấp đá có một khu cây dâu, địa thế rất hẹp âm u. Rẽ về
phía trái thấy có một cái gác chơ vơ bên sườn núi, biển ngạch đề: “Tô Tử
Lâu”, liên đối rằng:
“Nhất Sinh duy hữu độc thư hảo.
Ðái tửu thời tác Lăng Vân du”
(Một đời duy chỉ thích đọc sách.
Mang rượu thời đi chơi Lăng Vân).
Ðó là do Phan
Văn Hoa đề, ông đã cắt lấy câu của Ðông Pha. Xuyên qua lầu mà lên thì đến
tuyệt đỉnh Lăng Vân. Bên trên có Lầu Ðông Pha, tục gọi là chỗ đọc sách của
Ðông Pha. Ngôi lầu là sinh từ của hoạn quan Ngụy Trung Hiền đời Minh. Họ
Ngụy bại vong mới đổi tên kỷ niệm vậy. Trước sân có một cái ao vuông, rằng
là “Ðông Pha tẩy mặc trì”. Ao có cây cầu đá nằm ngang, nước cạn hơi trong.
Bờ ao, cây quế đỏ sắp tàn, rơi đỏ cả đất, cây chuối, cây tỳ bà lá xanh rũ
bóng. Ngôi lầu nhỏ ba gian, tầng trên cấu tạo trống rỗng thông suốt. Dưới
lầu thờ tượng đắp Ðông Pha, khảm bức tranh Ðông Pha rửa nghiên mực hõm sâu
vào tường và khắc đá bức tranh Mai Cúc của Ðông Pha đã vẽ. Lên lầu, trông
ra bốn phía, chợ quán, đồng ruộng, núi non quanh co, sông nước lững lờ,
thu hết vào tầm mắt. Bên trái lầu có một mái sơn hiên vài gian, nay bị sở
khí tượng thủy văn chiếm mượn, sân hoang vu vắng vẻ tựa như không người ở.
Nghĩ ngợi triền miên về đức nghiệp văn học của Tô Công mà chẳng cầm được
nỗi u tình hoài cổ.
Xuống đỉnh
thấy vách ven núi lại có một cái động đề rằng: “Hải sư động”, tương truyền
là chỗ của Hải Phục thiền sư dừng nghỉ tu hành. Mặt trước có đình tạ (đình
trên bờ nước) vài gian là trà xã (quán trà), ngồi dưới hành lang uống trà
nghỉ ngơi một chút. Cúi xuống ngắm dòng sông chảy, ba đào tung vọt; chiêm
ngưỡng gần mặt đức Phật thật là diệu tướng trang nghiêm. Cảnh giới trên
dưới chẳng đồng mà niềm hoan lạc cũng không cùng vậy. Từ đây đi qua phía
sau đỉnh Ðại Phật, thấy trên đài gạch ở bên đường có một khối thiên thạch
đường kính chừng một thước, tạo thành hình tròn dài, màu xanh đen, trong
sáng tợ ngọc, trên khắc lời bạt. Vật ấy tuy chẳng kỳ lạ lắm, nhưng Hòa
thượng thì thấy là gia trân (vật trân quí của nhà) vậy!
Chuyển về bên
phải lại đi vài mươi bộ thì đến chùa Lăng Vân. Ngôi chùa là một chốn Cổ
sát có danh tiếng của Tây Xuyên. Lầu tầng gác khéo lạ, qui chế cao rộng.
Sơn môn đề rằng: “Lăng Vân Tự”, liên đối rằng: “Ðại Ðạo bất diệt. Phật
pháp vô biên.”, phảng phất ven núi sát bên Thái Sơn. Lại có một câu liên
đối rằng: “Ðại Giang đông khứ. Phật pháp tây lai” (Sông lớn đi về đông.
Pháp Phật đến từ tây), của Khương Thọ Ích viết, đều hùng tráng cổ kính
đáng xem. Bên trong cửa, giữa thờ tượng Phật Di Lặc. Tiến về sau, giữa là
Ðại Hùng Bảo Ðiện. Bên trong điện, giữa thờ tượng Tam Tôn Phật, hai bên
thờ tượng mười tám Tôn giả. Phía sau có lầu tàng kinh năm gian, là một
kiến trúc theo kiểu mới, kết cấu dựa vào núi, hoa cây đơn sơ, rất là thanh
nhã. Ra khỏi chùa, men theo đường bên phải xuống núi, suối rì rào, mưa bay
bay, cây đá rợp bóng. Khoảng vách gần sát khe núi, khám thờ Phật rất
nhiều, đều là sản phẩm khắc đá đời Ðường. Bên đường đục đá lấy ngòi nước
rộng bốn, năm thước, bên ngoài ngăn vách đá, như gặp thời chiến, nếu cần
thì lắp lại, rõ là kỳ quan. Qua ao phóng sinh, động Quan Âm vài lần chuyển
bước là xuống đến chân núi.
Rồi lại theo
đường khác, lần cấp mà đi lên, hai bên đường cây Nam rậm rạp, che ánh mặt
trời, vươn lên trời xanh. Ði ước chừng vài trăm bực là đến được ngọn Linh
Ðậu. Bên trên có tháp Lăng Vân cao mười ba cấp, đứng cao trơ trọi giữa
trời. Hình dáng như tháp Tiểu Nhạn của Tây An, cũng là di chế (chế độ để
lại) của đời Ðường. Bên dưới tháp ấy, cỏ hoang mọc tràn lan, cảnh rất thê
lương, vội vàng xem qua rồi đi ngay. Xuống núi, qua đường Bề Tử (hột thầu
dầu) đến bến đò Lăng Vân. Xét ra bến Lăng Vân được mở mang thêm vào khoảng
những năm Càn Long đời Thanh nên mới thông được con đường quan yếu của
huyện Kiều Vi, tức là con đường mà trong Thục Ðạo Dịch Trình ký của Vương
Ngư Dương đã gọi: “Dùng xuồng nhỏ, từ cửa đông cắt dòng qua sông... đã lên
bờ... có sâu, đá trơn, đi lên rất khổ...” đó vậy. Từ bến này đi thuyền gỗ
nhỏ (chống bằng sào) qua sông là đến Mã Ðầu ở đường lớn phía đông, lên bờ
trở về chỗ ngụ.
XIV. NÚI NGA MI.
Tờ mờ sáng
ngày mười sáu, xuất phát từ Hồng Thung Bình, đi về phía trái, hai bên
đường cây tạp rậm rạp, lối đi ẩm ướt trơn trợt, đi chừng ba dặm thì đến
mỏm đá Ðòn gánh (Biên đảm ). Trông về đông, ánh bình minh chợt mở
ra, ráng chói ngời năm sắc, ruộng đồng xanh vàng thêu dệt xen lẫn. Mặt bắc
một ngọn núi cao lồng lộng, vách núi cao ngất muôn trượng, màu đá loang
lổ, giống như dấu vết bàn tay, tên gọi là “Tiên Chưởng Nham”. Qua núi này,
thế càng cao mà đường cũng càng hiểm. Lại đi mười dặm, qua cầu Thọ Tinh,
chín mươi chín lần đão gậy, đường leo lên cuộn khúc, cây đá sum suê. Người
xưa nói rằng: “Chân người trước chạm mỏ người sau” hơi gần giống đó. Phạm
Thạch Hồ đời Tống đi chơi núi Nga Mi, lấy gỗ làm thang dài đóng vào vách
núi mà leo lên. Có thể dùng người khỏe mạnh xóc nách hoặc kiệu mà lên núi,
hay dùng ba mươi người dân miền núi kéo một sợi dây lớn đi lên trước mà
kéo lên kéo xuống, bởi vì thời xưa đường núi chưa mở mang nên đi đến nơi
này rất gian nan. Từ khoảng năm Vạn Lịch đời Minh, cư sĩ Giác Nham huyện
Nga Mi tu sửa đường bàn đạo (xoay tròn) lên núi đến nay du khách đã bớt
được nỗi khổ vịn leo vậy! Men theo sườn núi quanh co mà đi lên, quanh đi
quẩn lại chừng năm dặm vừa nghẹn thở toát mồ hôi chẳng thôi, nghỉ ngơi một
chút lại đi nữa, đi được năm dặm thì đến Vọng Hương đài, bởi chỗ này núi
trống trải nên du khách có thể đứng đây trông về cố hương. Qua khỏi chỗ
này, đường đi hơi phẳng và rộng, hai bên đường cây Lãnh Sam (cây thông)
che bóng mặt trời vươn lên trời xanh, hoa dại khắp núi sặc sỡ thật đáng
vui. Thân cành cây Lãnh Sam hoặc sinh rêu tảo dày cả tấc như mặc hai lớp
áo lông cừu, hoặc sinh cỏ vẩy khắp thân giống như mặc áo mưa (áo tơi).
Bước, bước phát sinh nhiều kỳ lạ, mắt chẳng ngớt thưởng ngoạn. Lại đi mười
dặm là đến Thiên Phong Thiền Tự, cách mực nước biển đã một ngàn năm trăm
năm mươi mét.
Thiên Phong
Thiền Viện do xưa có đá núi Tiên nên thành tên, xưa gọi là chùa Từ Diên,
cũng tên là chùa Tiên Phong, tục gọi là động Cửu Lão, thời Vạn Lịch nhà
Minh được vua ban Ðại Tạng Kinh. Ðiện vũ gồm năm tấn, nóc nhà đều dùng tấm
thiếc, ngói sắt lợp che. Ánh sáng mặt trời chiếu soi, ánh sáng trong suốt
lóa mắt. Bên trong nhà trần thiết tinh khiết, đồ thờ phô trương rất giàu
có. Sơn môn bảy gian, ngạch đề: “Tiên Phong Thiền Lâm”. Liên đối rằng:
“Thử địa Thiên Hoàng vấn đạo.
Hảo sơn tiên động thường xuân”.
(Ðất này Thiên hoàng hỏi đạo.
Núi đẹp động tiên thường xuân).
Lại một câu
liên đối rằng:
“Vấn cửu lão hà xứ phi lai? Nhất phiến bích vân thiên ảnh tịnh.
Ngộ tam thừa diêu không vọng khứ, tứ sơn minh nguyệt Phật quang đa”.
(Hỏi cửu lão từ đâu bay đến? một mảnh mây xanh bóng trời lặng.
Ngộ tam thừa trên không nhìn lại, bốn núi trăng sáng Phật quang
nhiều),
là do
Song Lưu Lưu Hàm Vinh viết. Bên trong sơn môn thờ một pho tượng đắp, diện
mạo dữ tợn đáng sợ. Tiến về phía sau, theo cấp mà lên là Ðại Hùng Bảo
Ðiện, giữa thờ tượng đức Phật, bên trái bên phải thờ tượng mười tám vị tôn
giả. Sau cùng là điện Xá-lợi. Trước điện rêu xanh đầy lối, hoa dại khắp
đất như phô bày thảm thêu, diễm lệ đáng yêu. Bên trong điện thờ một cái
tháp bằng đồng, cao chừng bảy thước, bên trong có một cái bình pha lê nhỏ,
trong đựng nước thơm tẩm nuôi hai hạt Bồ-đề màu trắng, gọi là Xá-lợi của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bên ngoài còn có Kinh Bối-diệp,
chưa rỗi lễ bái chiêm lãm. Lưng chùa treo tựa vào ven núi, núi cao bao
quanh, khí tượng hùng tráng kiên cố. Trên ấy cổ thụ sầm uất, năm màu rực
rỡ của ánh mặt trời, diễm lệ giống như bức họa lầu các núi tiên của người
đời Tống. Trên đá bằng phẳng bên ngoài sơn môn, vượn vầy đàn, tiêu diêu tự
tại, chẳng sợ tránh người, con cao thì hai, ba thước, con thấp thì hơn một
thước, nhảy nhót chuyền vọt, hoạt bát đáng yêu. Tôi đem bánh khô trao cho
chúng, chúng đưa tay lấy ăn. Tôi ôm bế đùa giỡn, sờ mó vuốt ve, chúng cũng
thân thiết chẳng bỏ đi. Có du khách đến, mắt chúng đều rực sáng, dáng vẻ
như đón mời “Cử chỉ hành động giống như người vậy”. Ông Ðạt-nhỉ-văn
với Tiến Hóa Luận đã gọi người là do biến hóa từ loài vượn, chẳng biết
loài vượn ngày nay còn có thể biến ra người không. Nghe nói chỗ dừng nghỉ
của loài vượn núi Nga Mi chia làm ba khu vực: Một ở tại ao tắm voi, một
tại chùa Hoa Nghiêm, một tại động Cửu Lão, sơn tăng đều gọi chúng là cư
sĩ, bởi vì tính của chúng thuần lương, ưa thanh tịnh, ở hang, sống nơi
hoang dã như những bậc cao nhân ẩn sĩ dưỡng chân tu đạo vậy.
Từ trước sơn
môn, đi về bên phải dựa vách ven núi mà dạo động Cửu Lão. Tương truyền do
Hoàng Ðế hỏi thăm Thiên Hoàng Chân nhân, thông qua một ông già, hỏi có
chín người bạn, nhân đó mà thành tên. Dọc đường đi, hai bên đường là Lãnh
Sam, bực đá cao trơn trợt, vài lần chuyển, hết cấp là đến động. Bên ngoài
động cao phẳng thông sáng giống như cửa thành. Cổ thụ, dây leo xanh quấn
quanh khắp núi. Bên trái bên phải động có hai cửa, cách nhau hơn mười bộ.
Trước động ấy vách núi cao ngất muôn nhẫn, sâu chẳng thấy đáy. Vách sau
động lại mở một cửa, tối đen không ánh sáng, sâu thẩm chẳng thể dò. Chim
yến núi ra vào như thoi đưa. Nhờ vị lão tăng đốt đuốc dẫn theo cấp đá mà
xuống, tức là vào bên trong động. Ðộng cao chừng hơn một trượng, trên vòm
động thạch nhũ rũ lộn xuống, tổ yến chất chồng, chẳng thể đếm được. Tiến
về phía trước bùn lầy ẩm ướt trơn trợt, phân yến dày cả tấc, tanh hôi buốc
cả mũi, chẳng thể chịu nỗi, cúi gập thân mình vài lần chuyển bước, đi
chừng ba dặm mới tới điểm cuối. Bên trong vuông rộng vài trượng, như một
ngôi nhà lớn, trên bàn ghế ánh đuốc sáng sủa, thờ một pho tượng đắp của
Triệu Công Minh. Thiện nam tín nữ đều quỳ xuống đất rút xăm bói hỏi kiết
hung. Bên trái bên phải còn có vài cái động nhỏ, đường kính miệng hang rất
hẹp, chưa vào xem liền vội vàng ra đi. Theo trên đường cũ, rẽ sang phải là
đến Tiên Hoàng đàn, tương truyền là nơi Hoàng Ðế hỏi thăm Thiên Hoàng.
Hiện nay các vị tăng của chùa đang họp công thợ xây đàn sửa nhà thờ, việc
còn chưa lay chuyển. Ðứng nơi đây trăm dặm mút mắt, tầm nhìn thông suốt.
Trở lại chùa
uống trà nghỉ ngơi một chút, rồi ra khỏi sơn môn đi về phía trái, xuống
sườn núi, ngay trước mặt một tảng đá lớn hiện ra giữa có cửa, vách sắt núi
cao ngất giống như hai cánh cửa. Bên trên khắc sáu chữ lớn “Nam Mô Phổ
Hiền Bồ-tát”. Dây leo quấn quanh như đậy cái lồng màu xanh ngọc. Qua cầu
Quan Âm nương theo con suối cạnh núi mà đi, ngước nhìn vách cao chót vót
như xé ra, vạn trạng xanh tía. Ði năm dặm qua cầu Trường Thọ, trông ngọn
Thạch Duẩn (núi măng tre đá) như bức bình phong quay lại bức bách trời
xanh, muôn vàn khe nước tranh nhau chảy. Thấy những nếp lụa trắng tung bay
từ núi cao tuông xuống, dừng lại thành mấy từng chồng lên nhau. Trên ấy
rêu lâu nằm như tóc rối, bồng bềnh quấn quít mép núi, rũ xuống hơn mười
trượng, dài dằng dặt chẳng dứt, gọi là “Phổ Hiền Tuyến”, rõ ràng là kỳ
quan. Sự thanh tú của rặng núi, sự hùng tráng của thế núi ở đây tuy so với
Âm Bình Kiếm Môn
thì chẳng phải quá vậy. Leo lên dốc Trường Thọ,
cây Lãnh Sam lâu năm sinh ra mát mẻ, ánh sáng nóng mặt trời chẳng soi
thấu. Ði quanh co lối mười ba lần rẽ, lại mười dặm thì đến chùa Ngộ Tiên.
Ngôi chùa do Thánh Hoài Thượng nhân sáng lập năm đầu niên hiệu Ðồng Trị
nhà Thanh. Tự vũ chỉ có một tòa phòng lầu ngồi cao trên đỉnh núi, cây rừng
rất đẹp, giống như Bồng Lai tiên đảo. Sơn môn có liên đối rằng:
“Hà xứ tầm bồng lai? Hành tung biến ngũ nhạc qui lai, thản nhiên nhất
ngộ.
Danh sơn tiếp thiên trúc, đáo thử phủ tam Nga hình thắng, phiêu hô dục
tiên”.
(Chỗ nào tìm bồng lai? Hành tung khắp ngũ nhạc về lại, thản nhiên gặp
gỡ.
Danh sơn tiếp thiên trúc, đến đây thấy Nga Mi thắng cảnh, nhẹ muốn lên
tiên).
Vào chùa nghỉ
ngơi một chút, rồi lại leo lên, vượt qua đỉnh núi đi bốn dặm nữa là đến
chùa Liên Hoa. Chùa có hơn mười gian “Mao Bồng” (Lợp cỏ tranh cỏ bồng),
rừng cây thưa thớt, cảnh rất hoang lương. Ghế bàn ở khách đường có một hoa
sen bằng đá hình tròn dài đường kính một thước, cao chừng ba thước, màu
gan gà, sáng óng ánh, làm thành dáng hoa sen. Vị tăng cho rằng, khoảng năm
Vạn Lịch nhà Minh, khối đá đã có rồi. Ngôi chùa nhân vật này mà được đặt
tên. Ăn cơm ở đây xong, đi về phía nam, xuống triền núi, đi chừng hơn một
trăm bộ lại đến cấp đá leo lên dốc Toản Thiên, cũng tên là Thuần Cáp Toản
Thiên (?), đường bậc nghiêng nghiêng cao chót vót, mười bộ một lần chuyển.
Chưa đi được trăm cấp đã tháo mồ hôi khắp lưng. Ði năm dặm nữa là đến ao
tắm voi, cách mực nước biển đã hai ngàn một trăm năm mươi mét.
Mái chùa xây
dựng ở đỉnh núi, lầu tầng treo cao, đài tạ khúc chiết nghiêng tựa. Vòng
quanh có một ngàn gốc Lãnh Sam cổ thụ, cành đều đâm ngang ra như lực sĩ
duỗi cánh tay, như rồng xanh hiện vuốt, kỳ vĩ bạt thẳng lên, chẳng thể dựa
hình trạng đặt tên. Phía trái chùa bên dưới có một cái ao vuông, gọi là
“Ao tắm voi”. Tương truyền là chỗ tắm voi của Bồ-tát Phổ Hiền. Theo cấp mà
lên là một chỗ đá bằng phía trước, vây bằng lan can đá, sân cao bằng
phẳng. Trông bốn bề núi non tầng tầng lớp lớp, khói toả mù vây, ánh sơn
lam che khuất, phong cảnh như vẽ. Lại theo cấp mà lên đến cửa chùa, có
liên đối rằng:
“Bố cáp toản thiên xứ.
hương tượng tẩy trì lai”.
(Bồ câu sợ chỗ khóet trời.
Voi thơm đến ao tắm).
Bên trong cửa
thờ tượng Phật Di Lặc, bên trái, bên phải là nhà khách, sau ấy là Ðại
Ðiện, giữa thờ tượng Bồ-tát Phổ Hiền, thân ngồi trên voi trắng, từ bi
trang nghiêm. Ðiện phía sau thờ tượng đức Quan Âm tống tử, bên trái phía
trong cửa có bốn chữ lớn “Thống Nhất Ðại Dã”, do Vu Hữu Nhậm tiên sinh
viết. Nghe trước có Ðịnh Tây thiền sư đạo hạnh rất cao, nay đã viên tịch.
Không có duyên hội ngộ một lần rất là ân hận vậy! Ðêm đó nghỉ qua ở đây,
gió núi thổi mạnh, hầu như chẳng ngủ được.
Tờ mờ sáng
ngày mười bảy liền thức dậy, rời khỏi ao tắm voi, đi về phía trái qua đồi
La-hán, đi men theo đường hai bên toàn là Lãnh Sam mà thân cành như sừng
rồng, trên khô dưới tươi, là điều hiếm thấy ở chỗ khác. Tôi cho rằng, xem
tùng thì chẳng thể chẳng du lãm Thái Hoa, Hoàng Sơn; xem bách chẳng thể
chẳng du lãm sạn đạo Kiếm Môn; xem Lãnh Sam chẳng thể chẳng du lãm Nga Mi
vậy. Núi xoay đường chuyển chừng sáu dặm thì đến chùa Ðại Thừa, cách mực
nước biển hai ngàn ba trăm mét. Ngày xưa, ngôi chùa là Mộc Bì điện, đầu
tiên ở trên Song Hỷ Ðình, tương truyền là do Tây Ðường hiền tăng sáng lập.
Do núi cao gió lạnh, nhà ngói dễ bị nước đong đá làm nứt vách nên đặc biệt
dùng vỏ cây che phủ lên, nên chùa có tên như thế. Ðến khoảng niên hiệu Vạn
Lịch nhà Minh mới đổi tên như hiện nay. Ngày nay, bên trong chùa còn có
một đạo bia sắt đời Minh. Ra khỏi chùa đi về phía trái là Diêm Vương Biên
(?), cũng tên là Hồ Tăng Thê (?). Ðường bực lên cao nghiêng cũng là đường
hiểm trở vậy. Lại đi bốn dặm là đến chùa Bạch vân. Ðiện vũ đều che lợp
bằng cỏ, thấp hèn chẳng chịu thấu. Phía trước chùa có vài ngàn gốc Lãnh
Sam, che tối mặt trời, chen lên trời xanh, lan ra vài dặm chẳng dứt. Từ
đây đi về phía nam, ngước nhìn đỉnh Nga Mi ba ngọn, triền núi xanh bày
ngang trước mặt, kéo gần khoảng cách sao Mão sao Hán! Xuống khỏi nơi ấy là
Tiếp Dẫn điện, lầu kép mái cao được ánh bình minh chiếu rọi, ngói sáng như
gương. Ðứng cao ở khoảng hơi núi, cây xanh mênh mông trùng điệp như cung
tiên Quảng Hàn (cung điện trên cung trăng), tráng lệ không đâu sánh. Ði về
phía trước đường hơi phẳng phiu. Bên đường cây rừng sum suê, cỏ hoang um
tùm. Bên dưới Lôi Ðộng Bình là hang hốc sâu tuyệt, triền núi cao ngất,
xuống không đến đất, hang núi sâu thẳm, tùng xanh vắt vẻo. Ðến triền núi
cúi nhìn xuống, run sợ rợn tóc gáy! Sự kỳ lạ của cảnh núi thì ở giai đoạn
này là nhất. Lại đi năm dặm qua khỏi Lôi Ðộng Bình, đi lên phía phải, ba
lần rẽ, rồi lại đi ba dặm nữa thì Tiếp Dẫn điện, cách mực nước biển hai
ngàn năm trăm ba mươi bốn mét. Ðiện vũ cao rộng, bên trong thờ tượng Phật
Tiếp Dẫn (Phật A Di Ðà), thân vàng một
trượng sáu, diệu tướng trang nghiêm. Ra khỏi điện đi về phía trái, leo lên
dốc Thất Lý, đường leo lên cao hiểm trở, đắp đổi vài trăm bậc. Qua
ba lần đão gậy, lại đi bảy dặm là đến Thái Tử Bình, cách mực nước biển ba
ngàn ba trăm tám mươi mét. Tương truyền ngôi chùa là chỗ cầu con của hoàng
đế Gia Khánh đời Minh. Lầu sau thờ tượng Thái tử chế tạo bằng da. Có người
nói rằng, lấy tiền ném vào đó, nếu trúng thì có thể đoán là sinh con trai.
Từ đây đi lên, đường bằng phẳng dần, du khách đều như tiếp thêm sức mạnh
phấn đấu đi nhanh, qua chùa Vĩnh Khánh, điện Tổ sư, gác Trầm Hương, lại đi
bảy dặm thì đến chùa Thiên Môn, sau chùa có đá cao đối xứng như cửa, gọi
là Thiên Môn Thạch. Xuyên qua cửa đá, qua cầu Thất Thiên, tháp Phổ Hiền,
rồi cầu Thiên Tiên, con đường rẽ làm ba, bên phải đến Thiên Phật Ðỉnh,
giữa đến Kim Ðỉnh, bên trái đến Ngọa Vân Am. Tôi chọn lấy con đường giữa
mà đi lên, đi chừng bốn dặm thì đến Kim Ðỉnh.
Kim Ðỉnh tức
là chánh điện của chùa Quan Tướng xưa, cũng gọi là chùa Minh Tâm, tương
truyền được sáng lập ở thời Minh Ðế nhà Hán, nguyên tên là Phổ Quang Ðiện.
Năm đầu Vạn Lịch đời Minh, Hồng Xuyên Quốc Sư chống tích trượng từ chùa
Vạn Niên đến dần đỉnh núi mà trùng hưng ngôi chùa ấy. Do núi cao gió mạnh
nên mái điện mới thay dùng ngói thiếc, nên gọi là Tích Ngõa Ðiện, tục gọi
là Kim Ðỉnh Ðiện. Cuối đời Minh chùa bị nghiêng đổ, tuần phủ Trương Ðức
Ðịa đời Thanh trùng tu. Chùa hiện nay cũng chẳng phải theo quy chế xưa
vậy! Bên trong điện Quan Âm có một đạo bia bằng đồng, cao sáu thước, rộng
ba thước, tòa hình hoa sen, đầu hình con ly, chính diện và phản diện đều
có bài văn, một tập là chữ của Vương Hy
Chi, một tập là chữ của Chữ Toại Lương. Trên ngạch viết bằng chữ
Triện rằng: “Ðại Nga Sơn Hoa Tạng Tự Ðồng Bi Ký”, lập tháng chín năm Quý
Mão Vạn Lịch nhà Minh. Vua lệnh cho Tiến sĩ đệ Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo Hán
Gia Long Hạc cư sĩ là Vương Dục Tông soạn, Ngô Quận Ngô Sĩ Thụy tập tự.
Bia cùng chữ đều hoàn hảo không khiến khuyết, rất là quí báu vậy. Tượng
đức Phổ Hiền ở Ðại Ðiện là do đức Ðạt-Lai Lạt-ma Tây Tạng đúc hiến tặng
vào năm Hàm Phong thứ mười một đời Thanh. Trước Tổ điện có Long Vương Tỉnh
(giếng), Quan Âm Tỉnh, sau có núi Xả Thân và hai cái tháp đồng. Tháp cao
sáu, bảy thước, cũng là vật đời Minh. Bảo hộ mép núi bằng lan can sắt, cúi
dòm xuống hang hốc sâu tuyệt không thấy đáy, vừa hay lòng sợ mắt mờ. Năm
trước tôi du lãm núi Võ Ðang, lên triền núi Xả Thân liền than là xem thỏa
rồi. Hiện nay đem so cùng với nơi này với nhau thì như đồng cốt nhỏ thấy
đồng cốt lớn vậy! Bên trong điện có bán ra thứ khoai nước tuyết, nói rằng
là rau củ trân quí (đặc sản) của Nga Mi. Tôi mua nửa cân mang về làm quà
mừng thọ cha. Ăn cơm ở đây xong, lại đi chừng năm dặm là đến Phật đỉnh,
chùa có đại điện ba lớp (tam trùng). Ngôi điện ngói sắt Phổ Hiền chễm chệ
ở đỉnh núi cao. Phía trước chùa có vài trăm gốc Lãnh Sam, ngang dọc thành
hàng lối như xếp bày giáp sĩ. Ði mười dặm nữa là đến Vạn Phật Ðỉnh, là
ngọn núi cao nhất Nga Mi, khí hậu rất rét, so với Tẩy Tượng Trì (ao tắm
voi) thì đây quá lắm! Du khách đến đây, mặc đồ ấm bên lò sưởi, còn cảm
thấy chẳng ấm. Ðỉnh có điện vũ hai gian, chẳng trang nghiêm lắm, phía sau
có Bình Ðài, có thể đứng ngắm nhìn ra xa. Trông ra bốn phía mây trắng chất
chồng, như tơ noãn như bông, mênh mang một màu, bày ngang dưới chân. Các
ngọn núi, từng đóa, từng đóa nhọn cao xanh biếc vương chút sương móc, ánh
mặt trời soi chiếu vào như sóng lớn lượn mênh mông, và với trời xanh không
cùng tận. Lại như tuyết rơi mới tạnh, ánh sáng lay động màu bạc đổ long
lanh. Trông về tây, ngọn Ngõa Sơn xoắn ốc xanh biếc mấy điểm, ngọn Tuyết
Sơn rực rỡ, đứng chốt nơi thiên ngoại (ngoài cõi nước). Phật quang đã xuất
hiện, bảy màu rực rỡ, vòng kép sắc đôi, giống như cầu vòng. Người xem
không ai chẳng vỗ tay vui sướng, khen là cảnh lạ. Người xưa nói rằng:
“Chẳng phải tạo ra sự hiểm trở lắm cho thiên hạ thì chẳng thể tạo hết được
cái cảnh quan lớn cho thiên hạ”. Quả thật chẳng phải là lời nói hư dối
vậy. Chưa bao lâu thì gió núi thổi đến, hơi mây đập vào mặt, cảnh đẹp biến
đi thành một mảnh mơ hồ, mới xuống đỉnh, qua am Minh Nguyệt xem một lược,
liền trở lại đỉnh Thiên Phật. Ðêm đó vòm trời lắng trong như ngọc bích,
sao sáng đầy trời. Sau khi ăn cơm chiều, nhờ vị tri khách tăng tên là Quả
Hải dẫn đường đến đỉnh phía sau, đỉnh đèn Quan Thánh, cúi nhìn khoảng ngàn
núi muôn khe, bỗng thấy hiện ra trăm ngàn ánh hồng quang, trên dưới di
động, lúc ẩn lúc hiện, giống như muôn cái chén đèn sáng, rõ là một kỳ
quan. Xét ra Phật quang và Thần đăng đều là cảnh chẳng dễ thấy. Tôi nay có
duyên được một lần nhìn thấy thật là may mắn vậy! Tiếc là gió núi quá
mạnh, chẳng thể ở lại lâu, liền xuống đỉnh trở về chùa đi ngủ, nhà khách
trần thiết tinh khiết, lò sưởi chăn ấm, ở nóng ấm có thể ngủ ngon vậy!
Sáu giờ sáng
ngày mười tám, từ Thiên Phật Ðỉnh xuống núi. Ðến Kim Ðỉnh, trông về đông,
cánh đồng ẩm thấp dằng dặc, núi quanh khói tỏa chất chồng. Dòng Mân Giang,
Ðại Ðộ Hà, Thanh Y Giang quanh co uyển chuyển nơi vùng xanh bát ngát giống
như rồng đi, rắn chạy. Hai thành Lạc Sơn và Nga Mi, cây phủ muôn nhà, như
xem những bàn tay. Rồi ánh bình minh sáng lên ở phía đông, ráng ngũ sắc
muôn đường, núi non chi chít, hang hóc muôn vàn, ánh triêu dương (nắng
sớm) rọi vào, năm sắc tỏa ra, rực rỡ như gấm dệt. Tai nghe tiếng
sóng tùng, mắt đưa ráng mai trôi mà chẳng biết chẳng hay đã đến chùa Liên
Hoa vậy! Theo bên trái đường lớn mà đi, trông phía trước thấy một ngọn
núi, đứng vững vàng trơ trọi như cây nạo đơn độc trời tạo thành thì đó là
Hoa Nghiêm đỉnh. Lại đi năm dặm xuyên qua rừng leo lên đỉnh là đến chùa
Hoa Nghiêm. Ngôi chùa nguyên tên là Cửu Long Viện, niên đại khai sáng đã
chẳng thể tra khảo. Vào năm Ung Chính thứ bảy đời Thanh đã qua sự Trùng
Kiến của Ngọa Vân am tăng Thái Hư thiền sư, bắt đầu đổi tên như hiện nay.
Vài tòa lầu ván, lùi tựa vào núi cao, bên trái bên phải mặt trước đều dẫn
đến hang sâu tuyệt lối. Vách ven núi thẳng xuống ngàn trượng, lùm cây um
tùm, u uất kỳ tú; chẳng thể gọi hình trạng. Liên đối ở sơn môn rằng:
“Sơn tuấn thủy trường lưu, Kỷ thốc tình vân ủng phạm sát.
Ðịa u trần bất đáo, nhất luân hạo nguyệt ánh sơn môn”.
(Núi cao sông chảy dài, mấy phen mây tạnh nâng phạm sát?
Ðất tối bụi chẳng đến, một vầng trăng sáng soi sơn môn).
Ðại điện thờ
tượng mười tám vị Tôn giả, diện mạo kỳ cổ cùng với chúng chẳng đồng. Sau
chùa có suối Cửu Long, vị ngọt thơm như rượu nếp. dưới triền núi trước có
động Quế Hoa, tương truyền thuở trước có nhiều cây quế, tiếc là cây đã
hết, hoa đã tuyệt, đã lâu chẳng còn tỏa hương vậy! Vài bộ về bên trái chùa
có một gốc cổ thụ, thân cành như sừng rồng, già cỗi lâu năm, da màu xám
trắng như tô đất thó (bùn), gọi là Lão Tăng thọ, cũng là kỳ quan vậy. Dưới
đỉnh đường lối gập ghềnh, cây cối sum suê la liệt, cành lá giao tiếp, như
đi trong hành lang mây xanh biếc. Dưới táng rừng cỏ, tre sinh sôi rậm rạp.
Măng tre mới mọc nhọn hoắt, sơn tăng tranh thủ nhổ lấy đem về luột phơi để
dành sau dùng tiện lợi rộng rãi. Măng tre Nga Mi được ưa chuộng trên các
phố chợ tức là thứ sản vật này vậy. Lại đi bốn dặm là đến điện đầu tiên.
Biển ngạch Ðại điện đề: “Thiên Hạ Tú”, là do Trương Côn Lâm đề. Chữ đẹp
nhuần nhã đáng xem. Bên trong điện thờ La-hán đều là tượng đứng rất là độc
đáo. Trong sân có hai gốc cây mộc lan (Hậu phác ), lá lớn như bàn
tay, xanh biếc khả ái. Xét ra mộc lan là gỗ chủ yếu làm lan can vì là sản
vật Tây Xuyên, loại thổ sản, tiếc là núi này chẳng phong phú lắm vậy. Từ
đây lại đi xuống, qua Trưởng Lão bình, chỗ Tức Tâm (dứt lòng), mười hai
dặm là đến chùa Quán Tâm. Ngôi chùa xây ở trên dốc Quán Tâm. Xét ra dốc
Quán Tâm cũng tên là Ðiểm Tâm dốc, nghĩa là cấp đá cao vút lên, người đi
lên thì đầu gối có thể điểm trúng tim vậy. Giữa đường thấy có khách hành
hương trai, gái vài người cưỡi phục trên lưng, vai của tráng phu đang còng
lưng mà đi lên, gọi là “Thỏa Bối tử”. Tuy rằng, họ ra sức được trả giá
nhưng rốt cùng xem ra chẳng nhân đạo lắm! Tốt nhất là hiện tượng này chẳng
nên có ở một quốc gia hiện đại. Lại đi bốn dặm là đến chùa Vạn Niên. Ngôi
chùa được sáng lập từ đời Tấn, là di chỉ thờ phụng Phật của họ Bồ. Ngài
Tuệ Thông thiền sư đời Ðường đã thanh tu ở đây. Ðời Tống gọi là Bạch Thủy
Phổ Hiền Tự. Khoảng niên hiệu Vạn Lịch đời Minh mới đổi tên như hiện nay.
Mái chùa gồm bảy tấn (gian), tức là Ðại Nga Lâu, Tỳ-lô Ðiện, Thất Phật
Ðiện, Thiên Vương Ðiện, Kim Cương Ðiện, Ðại Phật Ðiện, Chuyên Ðiện (điện
gạch) đó vậy. Trước lầu Ðại Nga có phường “Nam Giới Danh Tông”, bên trái
có phường “Kỳ Thọ Lâm”, đều là lầu tầng, diềm mái cất bay lên, qui chế
chúng cao rộng. Ðiện gạch cao lớn hùng vĩ, dưới vuông trên tròn, làm theo
hình chùy xoắn ốc, dùng toàn gạch xây, chẳng thi công rường, trụ. Mặt
trước mặt sau có cửa, cao ba trượng, lớn như vọng gác của thành, giống như
nhiều tháp của Khai Phong. Bên trong thờ tượng đồng Phổ Hiền cưỡi voi. Bảo
hộ chung quanh bằng lan can gỗ sơn đỏ. Con voi cao dài đều một trượng năm,
sáu thước, rộng sáu, bảy thước, ngà dài bốn, năm thước, chân voi đạp trên
hoa sen ba thước. Phật Phổ Hiền cao sáu trượng, tượng đẹp trang nghiêm, hộ
vệ phía sau bằng con rồng chạm nổi, thợ khắc rất tinh xảo. Vách bên trong
điện gạch, ba tầng trên thờ ba ngàn tượng Phật nhỏ bằng đồng. Tầng dưới
thờ năm trăm tượng La-hán. Ngôi điện và tượng Phổ Hiền đều là di chế đời
Tống. Bên trong chùa cất giữ một cái răng Phật. Tăng chúng đem ra bày ở
khách đường. Răng dài một thước hai tấc, rộng tám thước, dày ba tấc, trọng
lượïng mười ba cân tám lạng, trong sáng óng ánh, giống như ngà voi. Căn cứ
vào sự nghiên cứu của các nhà Cổ sinh vật học thì đó là hóa thạch của cái
giá răng động vật thời thượng cổ, răng Phật tuyệt đối không lớn như vậy.
Giữa sân có hai gốc cây mộc lan đang lúc ra hoa. Tăng nói rằng hoa nó có
thể ướp sấy trà, trị bệnh. Trên lầu sơn môn có đắp “Từ Cung Thái Hậu Chấn
phác Lục Gia Tượng” đời Minh Thần Tông. Mũ vàng khoác ráng mây tuấn tú
xinh đẹp giống như Mạc Cô tiên nữ. Bên trong Tỳ-lô điện thờ Phật Tam Tôn bằng đồng được đúc khoảng niên hiệu Gia
Tĩnh đời Minh. Trên lầu bên trái sơn môn treo một quả chuông lớn, cũng là
do Hòa thượng Biệt Truyền quyên góp đúc ra. Hiện nay ngoại trừ ngôi điện
gạch còn chỉnh tề, những cái còn lại đều đã rêu phong bụi bám, đã đến ngày
nghiêng đổ. Tăng chúng cho là tục vật, chưa đủ lớn để chấn hưng Tông
Phong, thật là đáng tiếc! Trước chùa có mô phỏng khắc ba chữ lớn “Ðệ Nhất
Sơn” do Mễ Tương Dương viết. Bên phải chùa có chỗ gẩy đàn của Long Quảng
Tuấn thượng nhân đời Ðường. Lý Bạch đã từng thăm hỏi ngài và nghe đàn ở
đây. Thơ của Lý Bạch viết rằng:
Thục Tăng bão lục ỷ
Tây hạ Nga Mi phong
Vị ngã nhất huy thủ
Như thính vạn hác tùng
Khách tâm tẩy lưu thủy
Dư hưởng nhập sương chung
Bất giác bích sơn mộ
Thu vân ám kỷ trùng
Dịch thơ:
Ôm cầm Lục ỷ41, Thục tăng42,
Phía tây lần xuống qua rừng Nga Mi,
Vì ta, tăng gảy bài nghe,
Ào ào như tiếng muôn khe cây tùng.
Nước trôi rửa sạch cõi lòng,
Tiếng chuông nghe vẳng ở trong sương mờ,
Núi xanh chiều tối không ngờ,
Trời thu mây ám bao la mấy tầng43.
Tức là vịnh
người ấy vậy. Ra khỏi Vạn Niên Tự, đi một dặm qua chùa Hải Hội, chùa Dược
Vương, lại đi một dặm nữa thì đến chùa Cực Lạc. Ngôi chùa kiến trúc dựa
vào triền núi, qui chế rất nhỏ. Bên trái chùa ấy có cửa thành Thủy Quách
Sơn, lầu cửa cao lồng lộng, đứng làm cọc tiêu chỗ khuyết của rặng núi, xem
rất hùng tráng. Xuyên qua cửa liền theo cấp mà xuống, hai bên là triền núi
cao chót vót, cây rừng sầm uất, ngăn che ánh sáng mặt trời. Lại đi một dặm
là qua chùa Kim Long, rồi hai dặm nữa thì đến động Bạch Long. Ðộng ở bên
phải của chùa, giống như Thạch Môn, có suối từ bên trong nghiêng chảy ra.
Ðời Ðường nơi đây là am của ni cô tu hành. Thời Minh Biệt Truyền Ðại sư
mới xây dựng thành ngôi chùa hiện nay, tên là Bạch Long. Ði qua đường bậc
đá đã tu chỉnh này, tre trúc rập rạp hai bên đường, mép bên trái triền núi
đó đứng cao chót vót, cây đá sum suê tráng lệ. Lại đi năm dặm nữa là đến
Võ Hiển Cương, qua hai cây cầu Thanh Phong và Minh Nguyệt là vào Long Môn
Giáp. Hai mặt toàn là núi xanh trời biếc, thế chồng lên như muốn hợp lại.
Ðỉnh triền núi vuông mà bằng giống như Kiếm Môn, phần cao nhất là cái “lợi
của hàm răng”, từ đây cúi nhìn xuống ngàn thước thấy dây leo quấn quít,
rêu phong kín mít, cây ngăn cỏ buộc, ánh sáng mặt trời xuyên qua một
đường. Bờ núi tuông trào ngọn suối như một tấm vải treo thòng xuống có
dừng lại vài tầng, theo chân bàn thạch, mây tan, hoa bay. Hai dòng sông
đen, trắng từ Thanh Âm Các cùng chảy xuống, theo núi quanh co, vỗ bờ xuyên
mây, ngoằn nghèo vài mươi dặm rồi chảy vào mỏm đá, tung tóe vọt mạnh lên,
tiếng ầm ầm như sấm dậy. Phạm Thạch Hồ gọi rằng: “Kỳ quan về Giáp tuyền
trong thiên hạ thì Long Môn của Nga Mi là số một”, thực chẳng lừa dối vậy.
Qua Lương Phong Cương, thấy giữa suối có một khối đá lớn, hình dài như
chiếc thuyền, tên là Thuyền Phổ Hiền. Men theo suối chuyển về bên trái đi
chừng vài mươi bộ thì có chiếc cầu dây sắt bắc ngang trên suối. Chế độ của
cầu là dùng bốn đường dây sắt buộc chặt vào những cây thung (trụ) bằng sắt
ở hai bên bờ, mặt cầu lót bằng ván gỗ, rộng chừng năm, sáu thước, bên trái
bên phải cầu vây lại bằng lan can sắt. Tôi thử giẫm lên cầu ấy thì liền
chấn động rung rinh. Cúi nhìn xuống cầu thì đá lớn ngổn ngang, hoa sóng
vọt lên, chẳng cầm được sợ hãi, liền vội vã chạy về lại. Xét ra các tỉnh
phía tây nam Trung Quốc thì cầu dây giăng rất nhiều. Ðại để là vì ở hai
bên bờ sông, suối đều cao ngất mà thế nước tung vọt mạnh mẽ, chẳng thể bắt
rường cầu, lại chẳng thể dùng thuyền chèo nên bất đắc dĩ mà làm ra loại
cầu này vậy.
Ði men theo suối, chuyển về bên phải,
đi chừng một dặm thì đến động Long Môn. Hai bên vách đá cao chót
vót, giữa dòng nước trong suốt, lùm bụi cỏ cây um tùm, rũ ngược xuống bờ
núi. Bên dưới nơi ấy là vài gian thủy các, kết cấu bên dòng nước, vách
ván, cửa sổ dán giấy, trần thiết tinh khiết. Tựa lan can cúi nhìn xuống,
có vài đường thác nước bay từ động ven núi phun trào ra, trút ngược xuống
giữa đầm, dậy tiếng ầm ầm như sấm, gọi là chín rồng phun nước (Cửu Long
Thổ Thủy). Bình sinh tôi đã thấy suối nổi danh thác hùng vĩ không nhớ là
vài mươi cái, nhưng chưa có cái nào kỳ lạ như cái này vậy. Bởi núi Nga Mi
cao nước chứa rộng, phần nhiều từ bụng núi, lổ đá chảy dần ra mà xuống.
Ðến triền núi này, độ dốc bằng dần làm cho nước đều phá triền núi mà phun
ra nên có hiện tượng kỳ lạ này. Nước trong đầm xanh thẳm, bằng phẳng sáng
như gương soi, có một cái động lớn, một nửa ngâm trong nước, tiếc là không
có thuyền chèo, chẳng thể du lãm thỏa thích, rất lấy làm ân hận. Trong
chùa có tăng, ni vài người, lấy nghề chế biến trà làm nghiệp sinh sống. Họ
vì tôi nấu trà mời uống, uống luôn bảy chén ngon chẳng kém trà Long Tỉnh
của Tây Hồ vậy. Tối ấy tôi nghỉ đêm lại nơi đây, dưới lầu tiếng sóng inh
tai, suốt đêm chẳng thể thành giấc.
Mờ sáng ngày
mười chín, thức dậy, rời khỏi động Long Môn, đi dựa triền núi bên dòng
suối vách đá trái, phải đứng bên hang rợp mát lạnh, suối chảy quanh co,
theo núi uyển chuyển. Tôi cho rằng, cái hùng vĩ của Nga Mi ở tại non Thạch
Dũng, cái đẹp của Nga Mi ở tại Hoa Nghiêm đỉnh, cái u nhã của Nga Mi ở tại
Thanh Âm các, cái kỳ lạ của Nga Mi ở tại Long Môn động, hùng, kỳ, u, mỹ
gom lại mà có chứ đâu chỉ “Thiên Hạ Tú” (thiên hạ vẽ tô) mà thôi vậy! Ði
mười hai dặm là đến chùa Bảo Ninh, chùa ở tại phía bắc chùa Báo Quốc, điện
vũ cũng rất hùng tráng vĩ đại, lưng dựa vào núi, mặt nhìn ra suối, tùng
xanh đứng vây vòng, thật là thắng cảnh. Từ đây mà đi về phía đông, vào
công lộ (đường cái quan). Ði tám dặm nữa là trở lại huyện Nga Mi, đến bến
xe hơi, đăng ký đi xe, hai giờ chiều đổi lấy vé lên xe đi. Trông lại Nga
Mi, mây núi xa thăm thẳm, bịn rịn chẳng nỡ rời đi. Qua Tô Kê đến Phù Văn
Giang, trên sông có cây cầu lớn Thủy Nê, một công trình hùng vĩ kiên cố.
Qua cầu đi chừng tám cây số thì đến bến Từ Hạo, xe lên phà qua sông Thanh
Y, trải qua Từ Gia Biển, lại đi ba cây số nữa là đến bến xe Lạc Sơn. Màu
trời chiều mênh mang, đồng quê buồn bã, trông xa bóng núi chập chùng, đèn
lửa chỗ sáng chỗ tắt, chẳng cầm được cảm giác thê lương, xuống xe hơi,
thay xe kéo, đi dọc bờ tây sông Man Giang, men theo đê Lưu Công vào cửa
Gia Lạc, trở lại tiệm ăn Gia Ðịnh thì muôn nhà đã lên đèn rồi vậy.
XV. CHÙA HƯƠNG NGHIÊM.
Chùa Hương
Nghiêm ở tại chân núi phía nam ngọn Xuân Phong Lĩnh, trong dãy Tứ phong
Sơn thuộc phía nam huyện Chiết Xuyên, tỉnh Hà Nam, là đạo tràng của Tuệ
Trung quốc sư đời Ðường. Ðầu tiên tên là Trường Thọ Tự, quy chế rất đơn
giản. Khi Túc Tông nối ngôi nghe tiếng tăm của sư và hâm mộ ngài nên vào
năm Thượng Nguyên thứ hai, ra lệnh cho Trung Sư là Tôn Triều Tiến ban
chiếu rước sư về kinh, an vị ở điện Sùng Ðức. Giảng kinh nói pháp, lễ nghi
ưu đãi rất trọng hậu. Sư ở kinh đô vài mươi năm, thị tịch vào năm Ðại Lịch
thứ mười, được ban Thụy hiệu là Ðại Chứng Thiền Sư. Vua ưu ái ban chiếu
đem về an táng ở Tử Ðảng Cốc. Vua ra lệnh mười vị Vương và voi trắng đưa
tiễn linh cửu và sắc ban cho xây dựng Phù-đồ (tháp), kiến lập tự vũ rộng
rãi. Ngôi Hương Nghiêm Cổ sát đến lúc đó mới có phần khả quan. Tương
truyền, ngày đem sư trở về đào huyệt chôn cất, có mùi hương lạ tỏa khắp.
Việc đến tai vua Ðại Tông, ngài mới ban tên là Hương Nghiêm. Ngôi chùa
trải qua các đời Ngũ Ðại, Tống, Nguyên, Minh, qua biết bao hưng phế. Ngôi
chùa hiện nay là do Ðãn Sơn thiền sư xây dựng lại khoảng niên hiệu Càn
Long nhà Thanh.
Lúc chín giờ
sáng ngày hai mươi tháng tư năm Dân Quốc thứ ba mươi, tôi cùng với Tuệ Túc
pháp sư từ chùa dưới xuất phát đi lên chùa Hương Nghiêm Thượng chiêm
ngưỡng lễ bái.
Cưỡi ngựa
theo hướng chánh tây mà đi. Hai bên đường núi đất giăng tường dài theo,
những con suối nhỏ đua nhau róc rách, cỏ thơm cây ngọt, sườn núi
bao la, xa xa những hang động. Phía tây bắc có một ngọn núi dài toàn là đá
nham thạch, đá trắng óng ánh như tuyết trắng ngần. Ði mười hai dặm là đến
miếu Nương Nương, nghỉ một chút rồi lại đi về phía trước. Chuyển hướng tây
bắc leo lên Mạn Lĩnh, cát sỏi trải đường trơn trợt chẳng bám chân. Lại đi
năm dặm, vượt qua sườn núi bằng đất thó (pha ác ), trông xa xa
những ngọn núi vây vòng cao chót vót giống như hoa sen. Trong ý nghĩ cho
là đạo tràng của Quốc Sư nhất định ở tại đó vậy! Chẳng cầm được vẻ vui
mừng. Lại vượt qua vài ngọn núi xuống đến con suối, hai bên bờ đều là
ruộng tốt mầu mỡ, dẫn nước tưới tiêu rất tiện lợi. Qua khỏi suối tức là
bực đá leo lên đến Tam Lý Nhãn. Bên đường có một gốc cổ bách sống vững
vàng trên mặt đá, chẳng cần đất đai, rõ ràng là một kỳ quan. Xuống đây là
cây rừng um tùm che kín chẳng thấy ánh mặt trời. Ði trong bóng râm xanh
thẳm, núi xoay đường chuyển, hoa thơm chim hót cứ ngỡ là Võ Lăng
mới đến, Ðào Nguyên
vào nhầm, đi về phía trước, đường càng khúc khuỷu mà núi càng hiểm trở,
rừng càng kín mà cảnh càng tối. Lại đi một dặm nữa thì gặp cây cầu đá bắc
ngang qua dòng suối sâu gọi là “Hội Tiên Kiều”. Qua cầu theo cấp mà đi
lên, hai bên đường tre trúc thâm u hàng vạn cây, dạng nghiêm nghị như võ
lâm thao dượt. Ði chừng vài trăm cấp, trông phía trước, mở ra ngỡ ngàng
sáng rõ ngôi cổ sát cao lồng lộng. Ðó là chùa Hương Nghiêm Thượng. Ngôi
chùa ở trong Vạn Sơn, dãy núi đẹp đẽ, cây rừng sum suê. Vẻ đẹp của địa
thế, sự thắng diệu của phong cảnh, ngôi chùa ấy quả thật là đứng đầu các
chùa miếu của vùng trung châu.
Qua Thạch
phường tiến vào Sơn môn, từ cửa nách bên trái mà vào, trước tiên đến pháp
đường. Ðược tri khách tăng là Chiếu Phước tiếp kiến, nói chuyện
suông một lúc, rồi đi ăn cơm trưa. Ăn xong, nhờ thầy Chiếu Phước làm hướng
đạo tham quan những nơi thuộc chùa ấy như điện vũ, Phật tượng, bi ký, hoa
cây v.v... Hậu viện có lầu Tàng Kinh bảy gian, cửa sổ hoa chạm trổ,
rường cột vẽ vời đẹp đẽ, vách vàng chói lọi, tráng lệ chói mắt. Trên lầu
thờ đức Phật Thiên Thủ Thiên Nhãn, cái hòm thần cất giữ nửa bộ Tạng Kinh
bản đời Minh. Dưới lầu, giữa thờ một pho tượng Tỳ-lô thân vàng. Bên trái
là nhà phương trượng, bên phải là liêu xá của thị tăng (tăng thị giả).
Chếch về bên trái lầu Tàng Kinh có Văn Thù đường năm gian, giữa thờ Kim
thân pháp tượng Bồ-tát Văn Thù. Chếch về bên phải có Phổ Hiền đường
năm gian, giữa thờ Pháp tượng Bồ-tát Phổ Hiền. Phía trước lầu và đường đều
có Nguyệt đài, vây chung quanh bằng lan can gạch. Trước đài, bên phải
hoàng quế, hoàng dương mỗi cây một gốc đều là vật đời Thanh trở lên.
Bên trái có một gốc quan quế (một giống mẫu quế), thân vài người
ôm, cành nhánh lâu đời như sừng rồng, chẳng thể đặt danh trạng. Trung Viện
(Viện giữa) có Pháp đường năm gian, tạm dùng làm khách đường. Trước pháp
đường là Kích Trúc đình, tương truyền là chỗ của Trí Nhàm thiền sư
“Kích Trúc ngộ đạo”. Bên trong viện có hai gốc cổ bách, đều cao hơn mười
trượng, cao thẳng xanh đẹp khả quan. Phía đông phía tây là phòng kho, nhà
khách, ngũ quán đường. Phía trước là Ðại Hùng Bảo Ðiện, nền điện cao chín
thước, ngôi điện cao tám trượng, rộng năm gian, dọc ba gian, diềm mái kép,
mái ngói cất bay lên, rường cột rui xà đều được veõ vời rất đẹp.
Quy chế chùa ấy cao rộng, uy nghiêm như cung đình vua. Giữa điện thờ tượng
đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Kim thân một trượng sáu, trang nghiêm không gì
sánh. Bên trái bên phải là tượng đứng của hai vị thị giả A-nan và Ca-diếp.
Bên trên che xuống bằng tràng phan, bảo cái. Phía trước trần thiết Phạn
Bối
(Kinh chữ Phạn), chuông, trống. Hai bên thờ tượng mười tám vị La-hán, sau
bình phong thờ tượng Nam Hải Ðại Sĩ. Trên vách vẽ, việc thuở xưa đức Phật
Thích Ca tu đạo, đều rất tinh xảo, có nhiều giá trị nghệ thuật. Hai nhà
chái ở sân điện là thiền đường, vận thủy đường và liêu phòng. Phía trước
điện có bình đài, vây chung quanh bằng lan can hoa, trước đài, lập rừng
bia đá. Phía trái có một đạo bia “Trùng kiến Thập Phương Trường Thọ
Ðại Hương Nghiêm Tự”. Bia cao tám thước, rộng bốn thước lập vào năm Tuyên
Ðức thứ hai đời Minh. Tư Thiện đại phu Lễ Bộ thượng thư, Tỳ Lăng Hồ Huỳnh
soạn văn; Tư Thiện đại phu, Hình Bộ thượng thư, Tứ Xuyên Kim Thuần viết
chữ; Phụng Nghị đại phu, Công Bộ Lang Trung, Cúc Ðàm Lý ân soạn đề ngạch,
thư pháp rất đẹp, đá bia cũng hoàn hảo, thật đáng qúy vậy. Ở dưới diềm mái
hành lang của liêu phòng phía đông có hai bia vuông nằm khảm sâu vào vách
là do Lý Hữu Thạch viết chữ, phỏng theo thể chữ bài tựa “Thánh Giáo” của
Vương Hy Chi, cũng rất đẹp đáng xem. Góc đông nam có một tòa lầu chuông mà
hiện nay là phòng kho. Trong sân hoa, cây rất nhiều, có vài gốc lão mai kỳ
lạ cổ kính đáng yêu. Phía trước có năm gian điện Vi Ðà xây dựng mới, giữa
thờ tượng Vi Ðà, sau lưng thờ tượng Già Lam Bồ-tát. Trước điện, bên trái
có một gốc Bạch quả thọ (cây ngân hạnh) lớn vài người ôm, cũng là vật vài
trăm năm. Phía đông điện Vi Ðà có điện Thập Vương ba gian, giữa thờ tượng
đắp Vua Ðường Tuyên Tông với tua mũ miệng, áo cổn hoa rất xứng trang
nghiêm. Xem xét thấy bia hoàng đế Tuyên Tông trùng tu có ghi rằng:
“Tuyên Tông
là thời Quan Vương, Võ Tông ghen ghét, Câu Lưu ở vườn sau, sắp đem giết.
Trung quan Cừu Sĩ Lương liệu tính Võ Tông sẽ tuyệt đường nối dõi về sau,
con cháu họ Lý mà bỏ quan vương thì không thể làm chủ trung hưng đời sau.
Ông liền trá xưng là Quan Vương ngã ngựa chết, nhân đó thoát thân chạy
trốn. Ðến Hương Nghiêm gặp Trí Nhàn thiền sư xuống tóc xuất gia làm sa di.
Chưa bao lâu mà Võ Vương băng (chết), nối dõi đời sau không có người, do
đó Thái hậu ra lệnh cho đại thần trong ngoài đến Hương Nghiêm nghinh đón
Quan Vương về, lên ngôi Hoàng Ðế, đó là Tuyên Tông. Do nhân duyên này nên
chùa Hương Nghiêm thờ Tuyên Tông làm hộ pháp”. Xem xét việc Ðường Tuyên
Tông xuống tóc xuất gia thì chưa thấy chính sử ghi chép, chỉ trong Cương
Giám Dị Tri Lục nói rằng:
“Ban đầu Hiến
Tông nạp thiếp Lý Kỷ là Trịnh Thị sinh ra Quan Vương Di, lúc nhỏ trong
cung đều cho là chẳng sáng trí. Từ Thái Hòa trở về sau càng tự giấu giếm.
Và khi bề trên bệnh nặng, các hoạn quan bí mật ở trong cung cấm định kế
sách xuống chiếu. Do hoàng tử Trùng còn nhỏ nên lập Di làm Hoàng Thái
Thúc, đổi tên là Thầm. Lệnh cho quyền đảm đương quân quốc chính sự. Thái
Thúc thấy bá quan dung nhan đầy vẻ xót thương nên khi quyết đoán nhiều
việc đều phải vin vào lý, mọi người mới biết là có đức ngầm vậy. Bề trên
băng, do Lý Ðức Dụ nhiếp chức Chủng Tể (tể tướng). Tuyên Tông tức vị (lên
ngôi)”.
Căn cứ vào
đây thì biết việc ghi chép của bi ký về lý thì hoặc là có đó. Chỉ có điều
trung quan Cừu Sĩ Lương tính tình gian hiểm thì việc dấu Tuyên Tông ở
Hương Nghiêm chưa chắc là vì kế sách nối dõi đời sau của họ Lý vậy. Sau
điện Thập Vương là Tổ đường, công đức từ (đền), Truyền Ðăng các. Tổng kê
chùa gác, đường, điện, liêu phòng... có hơn một trăm gian. Quả thật là một
ngôi cổ sát hiếm có của vùng trung châu.
Chiều về,
vâng theo tri khách tăng thết đãi nhau có đủ rau dưa và rượu. Sau khi ăn
lại ngồi dưới mái hành lang của lầu Tàng Kinh, chong đèn uống trà tâm sự
cho qua thời gian. Chiếu Phước thượng nhân lúc nhỏ chính mắt nhìn thấy
thảm trạng giết người của bọn thổ phỉ, nhân đó mà có sở ngộ nên mới phát
nguyện xuống tóc xuất gia, năm nay đã hai mươi tám tuổi, dung mạo mộc
mạc, thần sắc nhàn nhã, tính nhân từ lời nói thật thà, bởi là người có
thiện căn đầy đủ thâm hậu vậy.
Thói quen xưa
của người Trung Quốc là mỗi dấu vết xưa của vùng danh thắng đều lấy “bát
cảnh”
mệnh danh. Chùa Hương Nghiêm tự cũng chẳng thể ra ngoài cái lệ ấy. Xin
trích lục tám cảnh của chùa ấy như sau:
Tùng đôi
không gốc (gốc ẩn), rèm nước phủ động, suối ánh như ngọc, Bảo tháp Vô
phùng,
Ðài tròn tuyệt đỉnh, thác đổ tợ lụa, hang trời rộng lớn, sông Ðan
lượn lờ.
Sáng ngày
hai mươi mốt, sương mù vàng đầy bốn phía, lạnh rét quá lắm. Nguyên định ra
dạo tám thắng cảnh, nhưng vì trời mù mịt tối sầm nên mới đình chỉ. Quá
trưa thì trời bừng sáng, tôi sai đứa trẻ mời tri khách tăng ra, nói với
ông rằng:
- Ngay bây
giờ, tôi định đi lễ tháp Vô phùng của Tuệ Trung quốc sư và du lãm Song
Thạch động, Thủy Liêm động, chẳng biết thầy có cùng đi không?
Vị tăng nói
rằng:
- Như ngài đi
thì tôi xin làm hướng đạo!
Ðến đây, liền
cùng nhau chống gậy mà đi. Ra khỏi cửa góc phía đông, hai bên đường trúc
cao mịt trời, tre gió san sát, muôn duyên trong bóng râm, trông chẳng thấy
mặt trời. Ði về phía đông bắc chừng vài mươi bộ, thấy mặt trước có một chỗ
Viện lạc, tăng nói rằng:
- Ðây tức là
Viện tháp của Quốc Sư vậy!
Vào cửa viện
là một ngôi điện. Tháp đôi là ở bên trong điện. Tháp cao chẳng đầy một
trượng, qui chế rất nhỏ. Khám thờ của tháp thờ một pho tượng đắp kim thân
Quốc Sư, thần thái thâm trầm, linh hoạt như sống. Tôi hỏi vị tăng rằng:
- Tháp này là
không phải vua Ðại Tông ra lệnh xây dựng chứ?
Tăng đáp
rằng:
- Nguyên dấu
vết đã bị phế lâu rồi! Chẳng phải phục hồi theo quy chếâ cũ vậy!
Tôi nghe nói,
cảm khái than thở hồi lâu. Ra cửa viện mà đi về phía đông, thấy bên trái
của tháp viện còn có tháp cốt của các vị thiền sư Ðãng Sơn, Chúc Du, Tường
Chi, Chuyên Ngu, mỗi vị một tòa. Trong số ấy thì tháp của Chuyên Công là
to nhất, chế tạo bằng đá, bảy tầng, cao chừng ba trượng, trúc nhỏ xanh
biếc chụp lên trên như cái lồng, xem ra rất là tráng lệ. Xem xét Hương
Nghiêm Cổ Tự, từ Quốc sư trở về sau, từng trải qua hưng phế mà Tông Phong
Lâm Tế nương cậy chẳng dứt đều là công đức của các sư vậy.
Rẽ đường trở
về, từ góc bên trái chùa đi lên phía bắc vài mươi bộ, chuyển qua đông bắc
mà đi, đường đá khúc khuỷu, cây rừng sâu thẳm, bên đường hoa lan thơm
phức, hương thơm vương theo tay áo. Ngước trông ngọn Hỗ Sơn, ngọn núi cao
chót vót đứng sừng sững lưng trời. Ði chừng một dặm, lên triền đất là tháp
của Lễ Minh Bảo Sơn thiền sư. Ðứng đây trông về đông, núi Long Sơn uốn
mình như con rắn, thế núi như cái tường đất dài. Bách xanh biếc sum suê la
liệt, rõ là kỳ quan. Trông về nam, núi non chồng chất, cỏ cây rậm rạp,
xanh biếc một màu, gợi nhiều họa ý. Từ đây lại đi về phía đông bắc, vượt
qua núi mà xuống, trông về bắc, dãy núi cao chót vót, rừng hang thâm u.
Chuyển về phía trái leo lên chân núi, đường đá bóng láng, bước từng bước
ngắn cẩn thận. Ði chừng hơn một trăm bộ, thấy hai khối đá đứng đối nhau
như cái cửa thì tức là thạch động đôi. Ðá cao hai trượng, rộng như thế,
hai động đều ở mép bên phải, diện tích chúng chẳng quá một trượng vuông,
đều là do nhân công đục tạo ra, ngấn búa còn rành rành có thể chứng minh.
Bên trong thờ vài mươi pho tượng Phật, bên dưới ấy có đài có thể ngồi, nằm
được. Trên khối đá bên trái có khắc một cái khám thờ, góc trên khảm sâu
một hình bia vuông: Tống Vô Hoài Thượng Nhân vãng Ngũ Ðài của Hình Bộ chủ
sự Lý Âm làm, thời Vạn Lịch nhà Minh. Ngồi ở cửa động nghỉ một chút, lại
xuống sang phía đông bắc mà đi, thấy ở kẽ đá trái cây xanh chín rộ, hồng
trắng xen nhau sặc sỡ thật vui mắt. Ði chừng ba dặm thì đến dốc Thái Tử,
bên trên có hai ngôi nhà tranh, tương truyền là chỗ ẩn náu của Ðường Tuyên
Tông. Chuyển sang phía bắc mà đi, hai bên đường cây bách xanh um tùm, sinh
ra mát lạnh. Hương Nghiêm chẳng những chỉ có lan, huệ là đặc sản, mà nhiều
cây bách cũng là vật hiếm thấy ở nơi khác.
Xuống khỏi
pha (triền núi dốc), bỗng nghe có tiếng ầm ầm như sấm lớn, vị tăng nói
rằng:
- Thác Bộc
Ðột đến rồi vậy!
Lại đi vài
mươi bộ, quả nhiên thấy một dòng nước rộng từ động đá vọt ra rầm rầm ào ào
như cọp đói kêu, như tiếng ngựa chạy, thế nước tuông trào ấy chẳng thể đặt
tên. Vóc nước lên uống thì vị rất ngọt mát lạnh. Quay mặt nhìn về phía
tây, vách núi cao hàng trăm thước có một thớt lụa trắng treo giữa không
trung. Vị tăng nói rằng:
- Ðây mới là
một trong tám cảnh, Bộc Bố phi tuyền (thác trắng đổ tợ lụa) vậy!
Ðến gần nhìn
thì thấy bên trái bên phải mép núi cao ngất, cây lâu năm, dây leo xanh đan
xem nhau sống trên ấy. Quấn quít yêu kiều giống như rồng rắn, Bộc Bố từ
núi cao tuông xuống, cao đến bốn trượng. Tiếc là trời hạn nên thế nước
chẳng vượng lắm vậy.
Thủy Liêm
Ðộng ở tại bên trái bên phải miếu bên dưới triền núi, không lội qua suối
thì chẳng thể thấy. Vị tăng nói:
- Trời chẳng
còn sớm để ngày mai du lãm tiếp!
Tôi nghe theo
ông ấy mới chống gậy tìm đường mới mà trở về. Ði men theo suối, tiếng nước
rì rào như đàn sắt của Tương Linh, như đàn cầm của Bá Nha, hoa cỏ thơm
lừng, quyện nhau thật thú vị, khiến cho con người quên hết mệt mỏi, sạch
trơn buồn rầu. Trở về đến chùa thì màu chiều đã hết vậy!
Buổi sáng
ngày hai mươi hai, tôi vì tăng trong chùa làm một bức tượng Phạt-na Tôn
Giả để lưu lại làm kỷ niệm. Buổi chiều, cùng với vị tăng tri khách tham
quan suối Trân Châu và thắng cảnh cây
bách đôi không gốc (vô căn nhị bách ). Ra khỏi sơn
môn, xuyên qua rừng trúc, lội qua suối mà đi về phía tây, trông xa có ngôi
đình đứng bên bờ suối. Vị tăng chỉ nói rằng:
- Ðây tức là
suối Trần Châu vậy.
Ði về phía
trước năm mươi bước, rồi theo cấp vào đình, thấy ở giữa có một cái ao
vuông rộng một trượng, màu nước xanh đen, sâu chẳng thấy đáy. Cúi xuống
lặng im quan sát, quả nhiên có bọt nước, từ dưới xông lên mặt nước, trong
suốt như hạt ngọc, lúc ẩn lúc hiện, liên miên chẳng dứt. Cái tên suối Trân
Châu quả đáng tin chẳng hư dối vậy! Chỉ là mặt ao đã nhỏ mà ngọc cũng
không nhiều. So ra chẳng bì kịp thắng cảnh Bách Tuyền Trân Châu (trăm suối
ngọc) tại huyện Huy (tỉnh Hà Nam). Vả lại do có đình che, chẳng có ánh mặt
trời nên màu sắc giảm đi nhiều.
Rời suối Trân
Châu đi về phía đông chừng nửa dặm, thấy bên phải đường đi, trong đám cỏ
rập có một tảng đá, từ kẽ đá mọc ra hai cây bách như có người cắm lên đá.
Ðốt trên của cây bị cưa đi, chỉ thừa lại đốt dưới chừng một thước nhờ rễ
ngầm mà đứng vững, rõ là một kỳ quan. Vị tăng nói rằng:
- Ðây tức cái
gọi là Vô Căn Nhị Bách vậy.
Kỳ thật chúng
đều chẳng phải vô căn, mà rễ ở dưới tảng đá, người không thấy vậy.
Buổi chiều
ngày hai mươi ba, một mình tự chống gậy đi bộ đến Hổ sơn câu nhất du (khe
suối Hổ sơn du lãm đệ nhất). Ra khỏi cửa chùa đi xuống con suối, từ suối
Trân Châu chuyển sang hướng bắc mà đi, lối núi lổm nhổm, bụi cây cỏ dại
nghẽn đường, tiếng suối chảy rì rào, âm vận như tiếng đàn. Vạch cỏ tranh
đi về phía trước, thế núi nghiêng nghiêng như đi vào ngõ sâu, bóng râm lớp
lớp phủ kín, mát lạnh thấu xương. Hai bên đường, rừng kín mít, đá ngổn
ngang, hoa huệ sinh sôi tràn lan, đâu đâu cũng nhìn thấy, gặp lúc mới ra
hoa, hương thơm tinh khiết ngấm vào tỳ vị. Tôi ngâm được câu rằng:
Tảo tri thử đa quân tử thảo
Thùy hoàn khứ phỏng Trân Châu Tuyền?
Tạm dịch:
Sớm biết đây nhiều cỏ quân tử
Ai lại đi thăm suối Trân Châu.
(Tuệ Khai dịch)
Thật ra cũng
là lên tiếng bất bình vậy. Ngồi lặng lẽ ở trong đám hoa huệ nghỉ ngơi,
tiện tay bẻ vài cành hoa, lấy cỏ bó lại, rồi qua suối đi lên triền núi,
theo đường bên phải chùa mà trở về.
Chiều tối,
thăm hỏi Trí Viễn thiền sư. Nhà sư rất thông Phật lý, đàm luận thoả thích
rất vui mừng. Ngài nguyên quán huyện Nam Triệu, tuổi hơn năm mươi (tuổi
tri mạng), đạo mạo thanh tú, tính tình điềm đạm. Ðầu tiên chưa từng đọc
sách, toàn nhờ vào sự chăm học ưa hỏi, công phu tự tu không biết mệt mỏi,
cuối cùng có thể rộng xem Kinh điển, vỡ vạc thông hiểu. Tuy rằng trí tuệ
vốn sâu sắc nhưng vẫn là do tinh thần ham thích học hỏi mà thành tựu vậy.
Ngày hai mươi
bốn, trời tạnh trong sáng, sau khi ăn sáng, Trí Viễn thiền sư xin dẫn
đường tôi đi thăm Thủy Liêm động, tôi hân hoan mang giày cỏ, chống gậy tre
theo ngài. Vượt qua dốc Long Sơn, từ phía nam miếu Long Vương lội qua
suối. Vạch cỏ tranh, níu dây leo mà di lên, vách đá cao chót vót, đường
hoang khó thông, gai góc nghẽn lối, cởi áo vắt vai. Ði chừng hơn trăm bộ
là đến đỉnh triền núi, cúi xuống nhìn suối sâu, quái thạch chập chùng,
thiên hình vạn trạng, như cọp như sói như vượn như dê... không gì chẳng
giống cả. Ðộng Thủy Liêm ở đối diện bên dưới triền núi, là do nước rỉ ra
từ núi cấu tạo thành. Ðá làm hình đám mây, vạch trần ra thì lung linh (óng
ánh) nhưng đều bị rêu phong. Ðộng như một cái khám thờ lớn, có thể chứa
được vài người. Nước từ phía trước động tuông xuống giữa suối, tiếc là
nước nhỏ chẳng tạo thành rèm. Xem ra hình trạng chẳng bì kịp động Bách
Thủy Liêm Tuyền vậy. Tôi ra khỏi động, vội vã phác họa động Thủy Liêm, rồi
cùng một đồng tử theo mặt bắc xuống triền núi. Ý ngỡ là con đường này so
với con đường mặt nam rất nguy hiểm sẽ tốt hơn, nào ngờ vách đá tuyệt lối,
núi cao chót vót. Không xong, Trí sư tự mình đi xuống trước, vì tôi đỡ
chân, tôi mới hồi hộp dời bước xuống, vừa đến giữa dòng suối, chẳng còn
kềm chế nỗi, toàn thân vã mồ hôi. Dẵm lên đá lớn lội qua suối, thấy mặt
bắc còn có một cái động so với động Thủy Liêm thì lạ lùng hơn nhiều. Vả
lại tầng đá hình đám mây cũng nhiều hơn, nếu chẳng phải tay búa quỷ, thợ
thần thì chẳng thể tạo hóa ra chỗ này. Tôi ngồi trên đá, lặng nghe thác đổ
ì ào, rầm rầm, long cong, leng keng vừa giống như mưa rào chợt đến ban
ngày lại vừa giống như tiếng đàn lúc nửa đêm, tâm thần sảng khoái vui vẻ.
Vẫn ngồi y vậy hồi lâu chẳng đi, nhưng xem ra màu trời đã sắp đúng ngọ,
tôi liền cùng Trí sư nâng đỡ nên mới hóa hiểm thành tốt đẹp. Lên đến triền
núi nghỉ một chút liền chống gậy trở lại chùa. Cuộc du lãm Hương Nghiêm
xin dừng ở đây vậy!
Tôi ở chùa
trên tính ra được bảy ngày, thịnh tình bè bạn rất đáng cảm động. Lúc sắp
ra đi ứng khẩu làm một bài thơ:
Can qua mãn địa ta thời gian
Thế thượng nhân mang ngã độc nhàn
Trúc trượng mang hài vân hạc lữ
Tùy duyên đáo xứ tả giang san
Tạm dịch:
Can qua đầy đất thán gian nan
Nhân thế rộn ràng ta độc nhàn
Giày cỏ gậy tre mây hạc bạn
Theo duyên chỗ đến tả giang san.
(Tuệ Khai dịch)
Phan Rang ngày 14 tháng 7 năm 2002.
Tuệ Khai
cư sĩ