CAO TĂNG DỊ TRUYỆN
(TRUYỆN KỂ CÁC VỊ CAO TĂNG TRUNG QUỐC)
Hạnh Huệ
biên soạn
---o0o---
PHẦN 1
1. LÃO TỬ (LÝ NHĨ)
Sanh năm
Ðinh Tỵ
Ðời Chu Ðịnh
Vương năm thứ ba (604 trước Công nguyên), ngày mười bốn tháng chín, Lão Tử
sanh ở nước Sở, quận Trần, huyện Khổ, làng Lại, xóm Khúc Nhơn, họ Lý tên
Nhĩ, tự là Bá Dương, húy là Ðam. Ở trong thai mẹ 81 năm, xẻ hông trái mà
sanh, mới sanh đầu đã bạc trắng nên hiệu là Lão Tử; sanh ở dưới cây Lý nên
có họ Lý. Mặt vàng, mi đẹp, tai dài, mắt to, mũi có hai cột, tai có ba
cửa, trong hội Thích Ca, Lão Tử là Bồ tát Ca Diếp. Kinh nói “Ca Diếp ứng
sanh Chấn Ðán, hiệu là Lão Tử, đặt giáo không ngoài để trị quốc,
mượn thuật thần tiên để trị thân”. Từ Phật diệt độ đến Lão Tử sanh là 346
năm. (1)
Lão Tử vào
Lưu Sa (2)
Chu Giản
Vương năm thứ tư (582 trước Công nguyên, Lý Nhĩ ra làm quan Thủ Tạng Sứ,
mười ba năm đổi làm Trụ Hạ Sử, suốt năm mươi bốn năm không đổi chức. Người
đời gọi là Sử Ấn. Kính Vương nguyên niên (519 trước Công nguyên, Ngài 86
tuổi, vì vương thất quá nhiều (lăng trì), ông bỏ Chu, đi về Tây vào Hàm
Cốc Quan. Quan Sinh Y Hỷ thấy mây tía từ Tây đến, biết có đạo nhân sẽ đi
qua, bèn rước vào làm lễ. Ngài làm Ðạo Ðức Kinh năm ngàn lời đưa cho Y Hỷ
rồi vào Lưu Sa năm Nhâm Ngọ. Ðến nước Kế Tân thấy tháp chùa tự thương mình
không đến kịp bèn đối trước tượng nói kệ:
Ta sinh sao quá muộn
Phật ra đời sớm quá
Chẳng thấy Thích Ca Văn
Trong lòng thường áo não.
(Ngã
sinh hà dĩ vãn,
Phật xuất nhất hà tảo,
Bất kiến Thích Ca Văn,
Tâm trung thường áo não).
Không biết sau thế nào.
(1) Theo sử
Trung Quốc – Chu Thư dị ký, Phật đản sanh ngày mồng tám tháng tư
năm Giáp Dần, đời Tây Chu Chiêu Vương năm thứ 24 (1028 trước Công nguyên)
(2) Lưu Sa:
Vùng sa mạc Taklamakan, phía Tây Trung Quốc. Trên đường sang Ấn Ðộ ngài
Huyền Trang từng đi ngang đây.
2. KHỔNG TỬ
Khổng Phòng
Thúc ở nước Lỗ, ấp Tưu, làng Bình, con Phòng Thúc là Bá Hạ, con Bá Hạ là
Thúc Lương Hột. Ông này trước cưới con gái họ Châu sanh con là Mạnh Bì,
bất tài. Sau cưới con gái họ Nhan là Chưng, cầu khẩn ở núi Ni Khâu mà sanh
Khổng Tử bèn đặt tên là Khâu, tự là Trọng Ni. Tối hôm sanh (năm Canh Tuất)
có hai con rồng lượn quanh nhà, Ngũ Lão giáng giáng xuống trước sân, phòng
của Nhan Thị nghe tiếng nhạc trời. Khổng Tử thân cao chín thước sáu tấc;
lưng rộng mười vi, tay dài quá đầu gối, xương trán gồ lên như hình chữ
nhật, hà mục, hải khẩu, mặt rồng, trán vuông, hàm én, râu rồng, nhìn như
cọp, lông mi có mười hai vằn, mắt có sáu mươi bốn lý. Ngày 4 tháng 11 năm
thứ hai mươi mốt đời Chu Linh Vương (551 trước Công nguyên) tức năm thứ
hai mươi hai đời Lỗ Nhượng Công vậy. Trên hội Thích Ca, Khổng Tử là Nho
Ðồng Bồ tát, Nhan Hồi là Nguyệt Quang Bồ tát. Kinh nói: “Trong cõi Diêm
Phù, có nước Chấn Ðán, ta sai ba Thánh ở đó giáo hóa, nhân dân từ ái, lễ
nghĩa đầy đủ”. Phật diệt độ đến Khổng Tử sanh là 400 năm.
Thái Tể nhà
Thương hỏi Khổng Tử rằng:
- Phu Tử là
bậc Thánh chăng?
- Khâu học
rộng nhớ nhiều, chẳng phải Thánh nhân.
- Tam vương
là Thánh chăng?
- Tam vương
khéo dùng trí dũng, Thánh thì chẳng phải chỗ Khâu biết.
- Ngũ Ðế là
Thánh chăng?
- Ngũ Ðế khéo
dùng nhân tín, còn Thánh thì Khâu chẳng biết.
- Tam Hoàng
là Thánh chăng?
- Tam Hoàng
khéo dùng thời chính (thời cơ, chính trị) còn Thánh thì Khâu chẳng biết.
Thái Tể cả
kinh hỏi:
- Như thế thì
ai là Thánh nhân?
Phu Tử động
dung hồi lâu đáp:
- Khâu nghe
phương Tây có bậc đại Thánh, không trị mà chẳng loạn, không nói mà tự tín,
không giáo hóa mà tự hành, mênh mông người chẳng thể đặt tên.
3. PHẬT GIÁO VÀO TRUNG HOA
Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ tư (61 TL), Hán Minh Ðế đêm mộng thấy người vàng, thân
cao hơn một trượng, cổ đeo vòng mặt trời, ngực đề chữ vạn, bay đến sân
điện, ánh sáng chói lọi. Sáng lại, vua hỏi quần thần, Thái sử Phó Nghị tâu
rằng:
Thần theo
Chu Thư dị ký, ngày mồng tám tháng tư năm Canh Dần, năm thứ hai mươi
bốn đời Chiêu Vương (Tây Chu). Sáng sớm chợt có gió lạ nổi lên, cung điện
nhà cửa thảy đều chấn động, có ánh sáng năm màu vào sâu mọi chỗ, biến khắp
bốn phương, màu xanh hồng. Vua hỏi Thái sử Tô Diêu đây là điềm gì? Thái sử
đáp: “Tây phương có Ðại thánh nhân sanh”. Vua nói: “Ðối với đây (Trung
Hoa) thế nào?” “Lúc này không có ông ta. Sau một ngàn năm, lời dạy mới
đến”. Vua sai khắc lên đá để nhớ, ở trước đền thờ Nam Giao. Tính năm thì
đến nay là năm Tân Dậu được một ngàn không trăm mười năm. Bê hạ nằm mộng
có lẽ ứng với đấy.
Vua thầm tính
rồi sai các ông Trung Lang, Tương Thái Âm, Bác sĩ Vương Ðạo, Tần Cảnh ...
18 người đến Tây Vức, thăm dò đạo này.
Hán Minh Ðế
niên hiệu Vĩnh Bình năm Ðinh Mão (67 TL), Phật giáo bắt đầu vào Trung Hoa.
4. SA MÔN NHIẾP MA ÐẰNG,
TRÚC PHÁP
LAN đến LẠC DƯƠNG
Các ông Thái
Âm ... đến nước Nguyệt Chi, một lãnh thổ gần Thiên Trúc, gặp hai Phạm tăng
là Ma Ðằng và Pháp Lan muốn dâng kinh tượng đến nước Trung Hoa, bèn cùng
trở về phương Ðông. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười (67 TL) đến Lạc
Dương. Ma Ðằng vào triều hiến kinh tượng. Vua rất vui truyền đến ở Hồng Lô
Tự, Pháp Lan đi đến sau.
Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (Kỷ Tỵ) (*) vua xuống chiếu ở ngoài cửa Tây Ung
lập riêng một chùa, mời hai ngài đến ở. Vì Bạch Mã chở kinh đến nên đặt
tên chùa là Bạch Mã. Vua đến chùa hỏi Ma Ðằng:
- Sau khi
Phật ra đời vì sao không giáo hóa đến đây?
Ma Ðằng đáp:
- Nước Ca tỳ
la vệ ở Ấn Ðộ, ba đời chư Phật trong tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức
nhật nguyệt đều ở đây xuất hiện. Thiên thần rồng quỷ có nguyện lực đều
sanh ở đó nhận sự giáo hóa, ngộ đạo. Chỗ khác Phật tuy không đến, nhưng
ánh sáng chiếu khắp mọi nơi. Một ngàn năm trăm năm đều có thánh nhân
truyền lời dạy của Phật đến để giáo hóa.
Vua rất vui.
Hai ngài hỏi tiếp:
- Phía Ðông
chùa có quán gì?
Vua đáp:
- Xưa có đống
đất tự nhiên nổi lên, dẹp đi lại nổi, đêm có ánh sáng lạ, dân gọi là mộ
Thánh. Do đó thờ, nghi là thần Lạc Dương.
Ma Ðằng nói:
- Theo Kim
Tạng ở Thiên Trúc ghi. Vua A Dục chôn Xá lợi Phật khắp thiên hạ tới 84,000
chỗ. Nay ở Trung Hoa có mười chín chỗ, đây là một.
Vua thất kinh
liền đến lễ bái. Chợt có một vầng ánh sáng tròn hiện trên mộ, ba thân hiện
trong ánh sáng. Thị vệ hô “Vạn tuế!”. Vua mừng nói:
- Nếu không
gặp hai đại sĩ, đâu biết được Di hựu của Thượng Thánh.
Rồi xuống
chiếu xây tháp lên trên theo cách thức của hai ngài. Tháp hoàn thành có
chín tầng, cao hai trăm thước. Năm sau ánh sáng lại hiện, có cánh tay sắc
vàng lộ trên đỉnh tháp ca thước như trong lưu ly thấy hương trời. Vua lại
đến chiêm bái. Ánh sáng theo bước chân xoay vòng, từ ngọ đến giờ thân (3
giờ chiều) mới diệt.
Vua đối với
Phật pháp rất kính tín. Niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ mười bốn (71 TL), đạo
sĩ Ngũ Nhạc là Trữ Thiện Tín, Phí Thúc Tài ... đố kỵ, bài xích nói:
- Phật pháp
hư ngụy.
Ma Ðằng, Pháp
Lan tâu vua:
- Pháp xuất
thế của Phật, nước lửa chẳng thể hoại. Xin vua cho cùng đạo sĩ thí nghiệm.
Vua sắc Thiện
Tín ... đem hết kỳ kinh, bí quyết sẵn có cùng sa môn đem kinh Phạn vào
ngày rằmg tháng Giêng, lập đàn đốt để nghiệm. Các kinh của đạo sĩ đều bị
đốt sạch, chỉ có kinh tượng Phật vẫn còn nguyên. Bọn Thiện Tín xấu hổ
chết. Bao nhiêu đạo sĩ đều đê đầu khâm phục. Ngài Pháp Lan ở trong đại
chúng xướng kệ:
Chồn chẳng phải sư tử
Ðèn chẳng phải sáng trời trăng
Ao không có sức chứa của sông biển
Gò chẳng tươi tốt như núi rừng
Mưa pháp rưới thế giới
Giống lành được nứt mầm
Hiển thông pháp hy hữu
Nơi nơi giáo hóa quần sanh.
(Hổ phi sư tử loại
Ðăng phi nhật nguyệt minh
Trì phi giang hải nạp
Khưu vô sơn nham vinh
Pháp vân thùy thế giới
Thiện chủng đắc khai manh
Hiển thông hi hữu pháp
Xứ xứ hóa quần sanh).
Vua càng thêm
kinh dị. Hai tăng học chữ Tàu, sau dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương, Thập Ðịa
Ðoạn Kết, Phật Bổn Sanh, Pháp hải Tạng, Phật Bổn Hạnh ... năm kinh.
Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ mười sáu (73 TL) Nhiếp Ma Ðằng nhập diệt. Trúc Pháp Lan
tự dịch năm bộ kinh mười ba quyển.
(*) Có lẽ là
Vĩnh Bình thứ 12 năm Kỉ Tỵ hoặc Vĩnh Bình 14 năm Tân Mùi.
5. AN THẾ CAO
Sa môn An
Thanh tự Thế Cao người nước An Tức (*), đến kinh đô dịch kinh. Trong
khoảng 23 từ Mậu Tý (148) (**) đến Canh Tuất (170) (***) Ngài dịch được 90
bộ, 115 quyển.
Năm Tân Dậu,
Ngài đến Lô Sơn, ở đây có thần miếu rất linh, dân chúng đến dâng lễ cầu
phước đông đến hơn ba mươi thuyền. Thần giáng cơ bảo:
- Dưới thuyền
có Sa môn, nên mời lại.
Dân chúng mời
Ngài đến, Thần lại giáng cơ nói:
- Tôi xin
thưa cùng ông xuất gia học đạo. Tôi ưa bố thí mà sân nhiều, nay làm thần
miếu, thọ mạng có thể hết sớm, không biết lúc nào, lại sợ đọa vào địa
ngục. Nay tôi có ngàn khúc lụa và một số bảo vật, ông hãy vì tôi làm Phật
sự, tạo tháp để cho tôi được sanh chỗ lành.
Ngài bảo thần
miếu hiện hình. Thần hiện thành con rắn lớn, khóc lóc như mưa. Ngài bèn
thâu lụa, bảo vật rồi từ biệt đi. Ðến Dự Chương, Ngài dựng chùa Ðại An,
xây dựng tháp ở Giang Hòa. Chẳng bao lâu thần miếu chết, về báo đã được
sanh cõi lành. Sau người ở Sơn Tây, thấy xác rắn trong đầm, đầu đuôi đài
đến mấy dặm.
Ðến nay,
huyện Tầm Ðương vẫn còn thôn Ðại Xà.
(*) Nước An
Tức (Parthic) – phía Ðông Bắc Ba Tư ngày xưa.
(**) Thời
Ðông Hán – Hoàn Ðế niên hiệu Kiến Hòa.
(***) Thời
Ðông Hán – Linh Ðế niên hiệu Kiến Ninh.
6. MÂU BÁC
Nhà Hán niên
hiệu Sơ Bình (190 – 194), có Mâu Tử tránh đời ẩn cư, nghiên cứu Phật đạo,
làm 37 thiên Lý Hoặc, rất được sùng mộ. Luật sư Lương Tăng Hữu thu thập và
lưu truyền.
7. TÀO THỰC
Trần An Vương
Tào Thực, tự là Tử Kiến, con giữa của Tào Tháo, mười tuổi đã thuộc thơ văn
trên mười ngàn chữ. Hàm Ðan Thuần trông thấy kinh hãi cho là người nhà
trời. Ông mỗi lần đọc kinh Phật đều hết lòng tán thánh cho là tông chí
đạo, rồi chế cách tụng thành bảy thanh, thăng giáng khúc chiết. Người đời
tụng theo đó. Khi ông dạo Ngư Sơn, nghe có tiếng lạ lùng, giọng điệu ai
oán, ông phỏng theo đó để tán tụng kinh Phật. Ông có viết Biện Ðạo Luận có
ý chê Hoàng Lão (Lão giáo).
8. KHƯƠNG TĂNG HỘI
Tam Tạng
Khương Tăng Hội hành hóa đến nước Ngô. Sư là con của Ðại Thừa Tướng nước
Khương Cư, tên Tăng Hội, đi tu. Ðến Kiến Chương, cất am tranh, lập bàn thờ
tượng Phật, hành đạo. Người nước Ngô lấy làm lạ. Ngô Tôn Quyền biết được,
liền nói:
- Hay là như
mộng của Hán Minh Ðế, Phật đạo đã truyền đến chăng?
Bèn sai người
vời Sư đến hỏi. Tăng Hội trình bày việc Như Lai tịch diệt và nói:
- Như Lai
nhập diệt đã ngàn năm rồi nhưng linh cốt xá lợi vô cùng linh ứng. Xưa vua
A Dục thờ tám mươi bốn ngàn tháp. Ngay đây cũng có di hóa (xá lợi để lại).
Ngô Tôn Quyền
nói:
- Nếu Thầy
cầu được xá lợi, ta sẽ tạo tháp phụng thờ. Còn cầu không linh nghiệm, Thầy
sẽ bị nghiêm phạt.
Tăng Hội xin
kỳ hạn bảy ngày. Trở về bảo quyến thuộc:
- Phật pháp
hưng thịnh hay bị phế bỏ đều do lần này. Mọi người nên chí tâm cầu khẩn.
Qua bảy ngày,
chẳng thấy hiệu nghiệm. Tăng Hội lại xin triển hạn bảy ngày nữa, cũng
chẳng thấy gì. Ngô Tôn Quyền nói:
- Mau đem ông
thầy này bỏ vào vạc nấu!
Tăng Hội thầm
nghĩ: “Ðức Phật từ bình thường, lẽ nào phụ lòng ta”. Rồi năn nỉ cho thêm
bảy ngày. Ðến canh năm, nghe co tiếng leng keng, Sư liền trổi dậy nhìn vào
bình, thấy hiện ngũ sắc, bèn kêu to:
- Quả đúng
như nguyện của ta!
Hôm sau Sư
đem vào triều. Ngô Tôn Quyền cùng công khanh xúm vào xem, khen:
- Thật là
điềm hiếm có!
Tăng Hội nói:
- Oai thần
của xá lợi, tất cả thế gian không gì làm hoại được.
Tôn Quyền sai
lực sĩ lấy chùy đập, ánh sáng vẫn rực rỡ. Vua bèn lập chùa, dựng tháp, đặt
tên làng là Phật Ðà, chùa là Kiến Sơ. Ðây là ngôi chùa, tháp đầu tiên của
Giang Nam.
Tôn Quyền hỏi
Thái phó Hám Trạch:
- Phật giáo
vào Trung Quốc năm nào của thời Hán Minh Ðế? Do đâu lại không đến phương
Ðông?
Hám Trạch
nói:
- Niên hiệu
Vĩnh Bình năm thứ mười một Phật pháp mới đến, cách đây một trăm bảy mươi
năm. Ðến năm thứ mười bốn, đạo sĩ Ngũ Nhạc là nhóm Trừ Thiện Tín đấu phép
với tăng Ấn Ðộ. Thiện Tín thua, hổ thẹn mà chết. Người Trung Quốc không
được xuất gia, nên không có người truyền bá. Hơn nữa, vì loạn ly nhiều
năm. Bây giờ Phật giáo mới đến nước ta.
Tôn Quyền
nói:
- Ðã có Khổng
Tử viết kinh sách dạy dỗ đời sau; rồi Lão, Trang tu thân tự vui; phóng
lãng chốn núi rừng, tâm hồn đạm bạc. Vậy còn thờ Phật làm chi nữa?
Hám Trạch
thưa:
- Hai đạo
Khổng Lão là pháp trời chế ra để dùng, nên không dám ngược ý trời. Phật
giáo thì chư thiên vâng làm, không dám trái ý Phật. Xem đó thì rõ hơn,
kém.
Ngô Tôn Hạo
sau nối ngôi cha, hạ lệnh dẹp đền chùa, miếu mạo. Quần thần can:
- Tiên đế cảm
điềm lành mà lập chùa, Chúa công chẳng nên phá hủy!
Tôn Hạo bèn
cho gọi Sư lại hỏi:
- Phật nói có
báo ứng thiện ác, Thầy có thể giảng cho ta nghe chăng?
Sư nói:
- Minh chủ
lấy hiếu từ trị thiên hạ, thì đế hiệu Xích Ô được rõ ràng, người dân sống
lâu. Dùng nhân đức nuôi vạn vật thì suối ngọt tuôn trào, lúa tốt nảy mầm.
Lành có cảm ứng, ác cũng vậy. Nếu làm ác ở chỗ kín đáo, quỷ sẽ giết, làm
ác ở chỗ công khai, người sẽ giết. Kinh Dịch nói “Tích thiện dư khánh”
chứa điều lành thì niềm vui có dư, còn dù văn thơ hay, cầu phước cũng
chẳng đến. Tuy đó là cách ngôn của nhà Nho, mà thực làm sáng tỏ lời Phật
dạy.
Tôn Hạo nói:
- Thế thì Chu
Khổng đã nói rồi, đâu cần Phật giáo?
Sư nói:
- Chu Khổng
chẳng muốn nói sâu, nên chỉ dạy sơ lược. Phật giáo chẳng dừng ở lời cạn
cợt, nên chỉ rõ ràng tường tận cái cốt yếu. Tất cả đều tốt. Thánh nhân chỉ
sợ làm thiện không được nhiều. Bệ hạ sao lại không ưa?
Tôn Hạo không
đáp được, bèn bỏ lệnh hủy chùa.
9. TĂNG KỲ VỰC
Sư ở Thiên
Trúc, lúc mới đến Giao Châu và Quảng Châu, người ta thấy có nhiều điều
linh dị. Sư đến Lạc Dương, thấy các tỳ kheo ăn mặc hoa lệ bèn nói:
- Thật trái
giới luật! Chẳng phải ý Phật!
Sư xem các
cung thất ở đế đô, liền nói:
- Ðại khái
giống cung trời Ðao Lợi. Nhưng người khác với trời, làm dân chúng khổ cực,
sửa sang như thế, không phí hay sao?
Niên hiệu
Thái An năm đầu (303). Sư biết Lạc Dưong sắp có loạn, liền từ giã về Thiên
Trúc. Có vị tăng xin được hỉ dạy. Sư cho nhóm chúng, lên toà nói:
Giữ miệng, nhiếp thân ý.
Cẩn thận chớ phạm ác,
Tu hành tất cả thiện,
Như vậy được độ thế.
Nói xong Sư
làm thinh. Mấy trăm người đều thỉnh Sư về nhà mình thọ trai. Sư nhận lời
hết. Hôm sau, năm trăm nhà đều có Sư đến thọ thực.
10. PHẬT ÐỒ TRỪNG
Sư người
Thiên Trúc, họ Bạch. Ðời Tấn, niên hiệu Vĩnh Gia năm thứ tư (310), Sư đến
Lạc Dương, tự nói mình hơn trăm tuổi, hớp không khí mà sống, rành về chú
thuật. Bên hông Sư có một lỗ hổng, lấy bông nhét lại. Ban đêm lấy bông ra,
có ánh sáng từ lỗ chiếu ra. Mỗi khi gặp suối, Sư móc bao tử, ruột ra rửa,
xong lại nhét vào bụng. Sư định cất chùa ở lạc Dương để hoằng hóa Ðại pháp
nhưng giặc Lưu Diệu làm loạn nên không thành.
Thời Thạch
Lặc Truân Cát Pha tàn sát dân chúng rất nhiều, bộ hạ ông ta là đại tướng
Quách Hắc Lược lại rất mộ Phật pháp. Sư liền truyền ngũ giới cho ông. Sau
Quách Hắc lược đi chinh phạt, Sư thường báo trước sự thắng bại, Thạch Lặc
nghi bèn hỏi ông ta, Hắc Lược nói:
- Có một sa
môn trí thuật phi thường bảo rằng tướng quân sẽ chiếm được khu Hạ. Thần đã
nhận Ngài làm thầy. Chỗ thần tâu rõ trước sau đều là lời của Ngài.
Thạch Lặc vui
mừng nói:
- Trời ban
cho ta!
Bèn gọi Sư
đến hỏi:
- Phật đạo có
linh nghiệm gì?
Sư biết Thạch
Lặc không đạt được lý thâm sâu, chỉ có thể dùng đạo thuật để biểu diễn,
liền rút một bát nước, đốt hương chú nguyện, giây lát có hoa sen xanh hiện
ra. Thạch Lặc nhân đó tin phục, Sư cũng nhân đó can:
- Vua lấy đức
trị nước thì tứ linh sẽ hiện điềm lành.
Thạch Lặc rất
vui. Sau đó vì phẩn nộ, Thạch Lặc định hại các đạo sĩ và làm khổ Sư. Sư
bèn tránh mặt. Thạch Lặc sai người kiếm chẳng ra, thất kinh nói:
- Ta có ý
hướng về Thánh nhân, Thánh nhân lại bỏ ta mà đi!
Ðêm đó, Thạch
Lặc không ngủ được, thao thức nghĩ đến Sư, muốn được gặp. Sư biết ông ta
đã hối lỗi, sáng hôm sau bèn đến, Thạch Lặc nói:
- Hôm qua
ngài đi đâu?
Sư đáp:
- Chúa công
có lòng giận nên tôi phải tạm tránh. Nay Ngài đổi ý, tôi mới dám đến.
Thạch Lặc
cười to.
Sau Thạch Lặc
chết, em là Hổ nối ngôi, hết lòng phụng sự Phật Ðồ Trừng, Sư bảo Hổ:
- Ðế vương
thờ Phật cần “Cung - Kiệm - Từ - Nhẫn” khen ngợi đạo pháp, không
làm điều bạo ngược, không hại người vô tội. Dân có làm ác thì giáo hóa họ.
Ai không sửa đổi mình mới nên dùng hình phạt, nhưng nên thương xót chớ lạm
dụng hình phạt nhất là những tội tử hình.
Niên hiệu
Vĩnh Hòa thứ tư (348), tháng mười hai, Sư bảo đệ tử:
- Họ Thạch
sắp diệt! Nước chưa loạn ta đã tịch rồi!
Bèn sai người
đến từ giã Thạch Hổ, Thạch Hổ hoảng kinh nói:
- Ðại Hòa
thượng vội bỏ nước ta! Sắp có nạn chăng?
Liền đến chùa
thăm Sư. Sư nói:
Ra sống, vào
chết, đó là đạo thường. Phân định dài ngắn, không do thêm, bớt. Có điều
đáng hận là quốc gia để tâm vào Phật pháp, lập chùa độ tăng, mong được
phước đức, mà cai trị lại bạo ngược, hình phạt hỗn lạm, thật trái lời Phật
dạy, trọn không được phước đức. Nếu phô bày nhân chính thì lộc có thể kéo
dài.
Thạch Hổ khóc
lóc nghẹn ngào, biết Ngài sẽ tịch, liền đục đá làm mộ phần. Ðến ngày tám,
Ngài ngồi yên thị tịch thọ một trăm bảy mươi tuổi.
Sư vào đạo
một trăm lẻ chín năm mà rượu chẳng thấm môi, ăn không quá ngọ, việc phạm
giới chẳng làm, lập tám trăm chín mươi ba chùa, độ hơn bảy ngàn tăng. Sư ở
chỗ nào, mọi người không dám hướng về đó khạc nhổ, phóng uế, họ thường dặn
nhau:
- Chớ khởi
ác, Ðại Hòa thượng biết đó!
Ðại giáo vào
phương Ðông, đến thời Sư rất thịnh hành. Về sau, có vị tăng từ Ủng Châu
đến, thấy Sư đi vào cửa Tây. Bèn kể lại cho Thạch Hổ, Thạch Hổ cho mở mộ
ra xem, chỉ thấy còn khối đá.
11. TRÚC PHẬT ÐIỀU
Sư là đệ tử
của ngài Phật Ðồ Trừng, sau trụ chùa Thường Sơn nhiều năm. Sư có thần
thông, thường phân thân đi nơi khác, hoặc vào núi suốt năm, đem theo mấy
đấu cơm khô, lúc trở về vẫn còn dư cơm.
Có vị tăng
theo Sư dạo núi, gặp tuyết xuống nhiều. Sư vào hang cọp ngủ, cọp cũng đến
nằm chung. Sau tự báo ngày thị tịch, mọi người xa gần kéo nhau đến. Sư
nói:
- Thân người
vô thường, nếu có tâm rộng rãi trong sạch, thì hình hài mạng số tuy khác,
nhưng vẫn đồng khế hợp nhau.
Nói xong,
ngồi ngay ngắn mà tịch.
Ðệ tử đi núi,
lại thấy Sư ngồi trên núi. Mọi người đảnh lễ hỏi:
- Hòa thượng
vẫn còn sống sao?
Sư đáp:
- Ta vốn
thường còn.
Nói xong, Sư
biến mất. Chúng mở quan tài, chỉ thấy y và giày.
12. PHÁP SƯ CHI ÐỘN
Sư tự là Ðạo
Lâm, xuất gia khi đã đứng tuổi. Niên hiệu Hưng Ninh năm thứ hai (364), Sư
đến kinh đô giảng đạo, thực hành kinh Bát Nhã. Sư kết bạn phương ngoại với
Tạ An Vương, Nghĩa Chi, An Hạo, Vương Thân Chi ...
Niên hiệu
Thái Hòa năm thứ hai (367), Sư ở ẩn tại Diệm Sơn. Có người đem ngựa đến
cho, Sư nhận nuôi, nói:
- Ta thích
ngựa thần.
Có người cho
bạc, Sư thả đi, bảo:
Chim trời
chẳng lẻ giữ để vui tai mắt mình.
13. THÍCH ÐẠO AN
Sư quê ở
Thường Sơn, họ Vệ, theo Nho giáo. Năm mười một tuổi xuất gia với Phật Ðồ
Trừng, Sư đọc sách một ngày cả vạn lời, biện tài vô địch. Sư thông minh
như thế nhưng dung mạo quá xấu. Người đời gọi là “Tất đạo nhân, kinh tứ
lân” (Ðạo nhân đen thui, làm kinh hãi bốn bên).
Khi Phật Ðồ
Trừng thị tịch, Sư thống lãnh đồ chúng ở núi Lục Hồn. Niên hiệu Ninh Khang
nguyên niên (373), Sư đến Nhượng Dương lập chùa Ðàn Khê, có cao sĩ Tập Tạc
Xỉ đến tự xưng: “Tứ Hải Tập Tạc Xỉ”, Sư ứng tiếng đáp: “Di thiên
Thích Ðạo An”.
Niên hiệu
Thái Nguyên năm thứ tư (379), vua Tần Phù Kiên công phạt Nhượng Dương,
rước được Ngài rất mừng, bảo tả hữu rằng:
- Ta dùng
mười vạn binh lấy Nhượng Dương, vừa được một người rưỡi.
Tả hữu hỏi:
- Là ai?
Ðáp:
- An Công là
một, Tạp Tạc Xỉ là nửa người.
Sư ở Trường
An hoằng dương chánh pháp. Niên hiệu Thái Nguyên thứ mười bốn (389), vào
ngày 27 thánh giêng, Sư thấy có một dị tăng ra vào ở lỗ hổng cửa sổ. Sư
hỏi quê quán, dị tăng lấy tay chỉ hướng Tây Bắc, tức thì mây vẹt ra, thấy
lầu các như huyễn hiện lên, Tăng bảo:
- Ðó là cõi
trời Ðâu Suất.
Ngày tám
tháng hai, Sư ngồi kiết già thị tịch.
Sư mỗi lần sớ
kinh nghĩa đều cầu Thánh nhân chứng minh. Một lần cảm được tôn giả Trường
Mi giáng. Sư đưa bản sớ giải của mình cho Tôn giả xem. Tôn giả rất thán
phục, khen là hợp hết tâm Phật, rồi hứa sẽ ngầm giúp Sư truyền bá rộng
rãi. Sư biết Tôn giả này chính là ngài Tân Ðầu Lô, bèn thiết trai cúng
dường. Sư có mười đệ tử thông đạt sự nghiệp sớ giải này.
Một đệ tử Sư
là Pháp Ngộ truyền pháp ở Trường Sa, đồ chúng mấy trăm người. Một hôm có
người lén uống rượu, Pháp Ngộ làm ngơ không cử tội. Sư biết được, bèn gởi
roi đến. Pháp Ngộ ôm roi khóc nói:
- Trông coi
chúng không công minh, khiến Thầy ở xa phải lo.
Rồi phủ phục
nhận phạt.
Trên cánh tay
Sư có một lõi thịt, nổi lên như cái ấn, có thể nhấn lên nhấn xuống mà
không ra khỏi bắp tay. Người đời gọi Sư là Bồ tát Ấn Thủ.
Sư có đệ tử
là ngài Huệ Viễn, Tổ Sư tông Tịnh Ðộ, lập Liên Xã để niệm Phật cầu vãng
sanh.
14. THÍCH HUỆ NGUNG
Sư vào núi
thiền định, quỉ núi hiện đủ hình tướng đều bị Sư điểm hóa mà ẩn đi. Một
hôm, trời tuyết lớn, có một cô gái hình dung yểu điệu, y phục đẹp đẽ, đến
nói với Sư:
- Thượng nhân
có đức lớn nên trời sai tôi đến hầu hạ Ngài.
Rồi dùng đủ
lời cám dỗ. Sư an nhiên chẳng động, bảo cô gái rằng:
- Lòng ta như
tro nguội, đừng đem túi da đó thử thách làm chi!
Cô gái bèn
cưỡi mây mà đi, quay lại khen rằng:
Nước biển cạn được,
Tu di nghiêng được,
Bậc thượng nhân kia,
Kiên trinh vượt bực.
15. CƯU MA LA THẬP
Sư người
Trung Thiên Trúc, cha tên Cưu Ma La Viêm, làm Tướng quốc mà bỏ vinh hoa đi
chu du. Vua nước Quy Tư đem em gái gả cho ông, sanh ra Cư Ma La Thập. Sư
còn bé mà tinh thần linh mẫn, bảy tuổi đi theo mẹ đến chùa . Thấy bát sắt,
thử nhấc để lên cổ, rồi sực nhớ: “Bát này rất nặng, sao ta nhấc nổi?”. Sư
nhấc lại, bát không nhúc nhích, liền ngộ được vạn pháp duy tâm. Sự học
rộng nhớ giỏi của Sư không ai bì kịp.
Năm Sư hai
mươi tuổi, mẹ Sư từ giã vua, đến Thiên Trúc, bảo Sư rằng:
- Giáo lý
Phương đẳng thâm sâu, chẳng thể suy lường. Chỉ có con mới truyền được đến
phương Ðông. Nhưng việc này đối với con có chỗ bất lợi, chả biết phải làm
sao đây!
Sư đáp:
- Chỉ cần cho
đại pháp được lưu truyền, con tuy chịu khổ sở cũng không có gì hối hận.
Mẹ Sư đến
Thiên Trúc, tu đắc quả A na hàm.
Phù Kiên
chiếm nước Tần, công phạt Nhượng Dương, rước được Ðạo An. Ðạo An khuyên
Phù Kiên đến Tây Vực rước Sư. Gặp ngay lúc Thái sử tâu:
- Ðức tinh
hiện ở rừng, thuộc địa phận Tây Vực, sẽ có bậc đại trí đến Trung Quốc.
Phù Kiên nói:
- Trẫm nghe
nước Quy Tư có ngài La Thập, chẳng phải là đây sao?
Bèn sai tướng
Lữ Quang, bảo:
- Trẫm chẳng
phải tham đất mà dụng binh. Nhưng nghe ngài La Thập hiểu sâu về pháp
tướng, làm tông phú cho kẻ hậu học. Ngươi nếu khắc phục được Quy Tư, nên
đón Ngài về.
Lữ Quang đem
quân phá Quy Tư, đưa La Thập về. Giữa đường, nghe tin Phù Kiên bị Diêu
Trường hại, bèn dừng lại không về nữa. Vì thế Sư không đến được kinh đô
nhà Tần. Sau Diêu Trường cũng nghe danh Sư, muốn thỉnh nhưng Lữ Quang
không chịu. Diệu Trường chết, con là Diệu Hưng lại thỉnh nữa, cũng không
được, liền đem quân đánh Lữ Quang. Lữ Quang thua phải hàng. Tần mới rước
được Sư.
Tháng mười
hai, Sư đến Trường An. Tần chủ sai đưa Sư vào vườn Tiêu Dao ở Tây nội dịch
kinh. Sư xem lại kinh sách cũ thấy nhiều chỗ sai lầm, không phù hợp với
bản tiếng Phạn, bèn tập hợp sa môn Tăng Triệu, Tăng Duệ ... để dịch lại.
Sư ở đất Tần,
thường giảng kinh ở chùa Thảo Ðường. Tần chủ Diêu Hưng, triều thần và sa
môn khoảng mấy ngàn người, nghiêm túc lắng nghe. Một hôm Diêu Hưng bảo với
Sư:
- Ðại sư
thông minh, biện tài vô song. Sao lại để hạt giống Pháp không nối tiếp
được!
Rồi đem mười
cung nữ ép nhận. Sư từ đó không ở trong tăng phòng, cất nhà riêng ở. Chư
tăng có người muốn bắt chước. Sư bèn lấy một bát đựng đầy kim, bảo mọi
người:
- Nếu ai bắt
chước ta ăn được bát này thì cho phép cất nhà riêng để ở.
Sư nói xong,
lấy bảy cây kim đưa vào miệng nhai nuốt. Chư tăng nể phục bèn thôi.
Phật Ðà Da Xá
(Giác Minh) đến Cô Tàng, nghe La Thập nhận cung nữ nhà Tần, liền than:
- La Thập như
bông vải, có thể khiến gặp gai góc sao?
Sư nghe tin
Da Xá vì mình mà lặn lội từ xa đến, nên khuyên Tần chủ tiếp đón. Sứ giả
đến nơi, Da Xá nói:
- Chiếu chỉ
của vua từ xa đến, lẽ ra nên đem ngựa tiếp đón long trọng như lễ La Thập,
mới là đàn việt chiêu đãi kẻ sĩ. Bần đạo nên đến phía bắc Bắc Sơn thôi!
Sứ trở về.
Diêu Hưng lại đi giục đi thỉnh nữa, Da Xá liền đến. Tần chủ nghinh tiếp,
lập tịnh xá riêng, cúng dường như bậc vương giả. Da Xá không nhận gì cả.
Ðến giờ ăn, chỉ ăn ngày một bửa thôi.
Cưu Ma La
Thập ưa thích Ðại thừa, muốn được diễn giảng, Sư thường than:
- Ta nếu cầm
viết, làm luận Ðại thừa thì Ca Chiên Tử cũng không bì kịp. Nay người hiểu
sâu quá ít ỏi, biết luận gì bây giờ?!
Sư vì Diêu
Hưng mà tạo hai quyển Thành Thật Luận.
Ðời Hậu Tần,
niên hiệu Hoằng Thủy thứ mười lăm (41), tháng tư Ngài có bệnh, bèn đọc ba
biến thần chú, sai đệ tử ngoại quốc (Thiên Trúc) tụng để tự cứu chữa nhưng
chưa đúng sức. Sư biết bệnh mình nguy kịch, bèn nhóm chúng bảo:
- Chúng ta
nhân nơi Phật pháp mà được gặp nhau, nhưng vẫn chưa được trọn tấm lòng.
Tôi sợ người sau có thể trách mình còn mờ tối, dở tệ lầm lẫn dẫy đầy mà
truyền bá những bản kinh dã dịch. Mong rằng sự truyền bá sau này được trôi
chảy. Nay tôi thành tâm xin phát nguyện trước chúng: “Nếu chỗ truyền chẳng
lầm, nghĩa khế hợp với tâm Phật, thì cho tôi sau khi thiêu thân, lưỡi vẫn
còn nguyên vẹn”.
Nói xong, Sư
thị tịch. Khi trà tì, củi tàn, thân cháy hết mà lưỡi Ngài vẫn tươi hồng
như màu sen. Sư thọ bảy mươi hai tuổi.
Ban đầu, Sư
thường cùng mẹ đến yết kiến tôn giả Bắc Sơn ở nước Ðại Nguyệt Thị. Bắc Sơn
bảo mẹ Sư:
- Hãy khéo
gìn giữ Sa di này. Năm ba mươi lăm tuổi, tỳ ni sẽ không thiếu sót, độ
người như ngài Ưu Ba Cúc Ða.
Ngài Bôi Ðộ ở
Bành Thành, nghe tin ngài La Thập tịch, than rằng:
- Ta cùng
người này tạm biệt đã hơn ba trăm năm, mờ mịt chẳng biết đâu gặp lại, nay
thì lại chậm đến đời sau vậy.
Ðệ tử Sư hơn
ngàn người. Bốn vị: Ðạo Sinh, Tăng Triệu, Ðạo Dung, Tăng Duệ là Tứ thánh
dưới cửa Ngài.
Kinh luận Sư
dịch hơn 390 quyển.
16. HỔ KHÊ TAM TIẾU
Huệ Viễn trụ
ở chùa Ðông Lâm, dưới chùa có dòng Hổ Khê. Mỗi khi tiễn khách, đến đây thì
dừng lại. Niên hiệu Nghĩa Hy thứ ba (407), đạo sĩ Lục Tu Tĩnh cùng thi sĩ
Ðào Tiềm vào núi gặp Sư. Sư đưa tiễn, cầm tay trò chuyện, bất giác qua Hổ
Khê. Cọp bèn rống lên. Ba người quay lại nhìn nhau cười to. Ðời lưu truyền
làm Tam Tiếu Ðồ.
17. TÔN GỈA BÔI ÐỘ
Ban đầu Sư
thị hiện ở Ký Châu, diện mạo rất khô cằn, lạnh lùng, thường cưỡi cây trên
sông Bôi Ðộ, thần hóa khôn lường. Sư không tu tế hạnh, có lúc đập băng mà
tắm, lúc lại mang guốc lên núi, hoặc đi chân không vào chợ, vác một cái bị
mà thôi, chẳng có gì khác.
Một hôm Sư
đến Quảng Lăng, gặp nhà họ Lý trong làng đang cúng trai tăng, Sư đặt bị
giữa sân rồi vào thẳng trai đường mà ngồi, mọi người đều nhìn mà Sư vẫn tự
nhiên.
Khi ấy, có
mấy người thấy chiếc bị để chắn giữa đường, bèn dời qua một bên, nào ngờ
dùng hết sức mà không nhúc nhích. Ăn xong, Sư vác bị lên, cười nói:
- Tứ thiên
vương!
Có đứa bé họ
Lý lén nhìn thấy trong bị có bốn đứa bé cao mấy tấc, mi mắt như tranh vẽ.
Họ Lý thấy lạ, bèn thỉnh Sư lại cúng dường rất lâu. Một hôm, Sư đòi áo cà
sa, họ Lý chưa lo kịp, Sư nói:
- Tôi ra
ngoài kia một chút!
Ðợi đến chiều
cũng chưa thấy Sư trở lại, lại nghe trong không có mùi hương lạ, mọi người
theo tìm thì gặp Ngài ở dưới chân Bắc Sơn, trải cà sa rách trên đất, an
nhiên thị tịch, trên đầu và dưới chân có hoa sen mọc, cả người tỏa hương
thơm, qua đêm bỗng héo. Người ta chôn Ngài đã mấy hôm, sau lại có người từ
phương Bắc đến nói rằng thấy Ngài vác bị đi về hướng Bành Thành. Họ Lý mở
quan tài, chỉ thấy có đôi giày.
Ngài đến Bành
Thành, có ông Hoàng Hân tin sâu Phật Pháp, thấy Ngài bèn chào hỏi rồi
thỉnh về nhà. Nhà ông lại quá nghèo chỉ ăn gạo tẻ mà thôi, nhưng Ngài ăn
vào lại ngọt như mạch nha. Sau Ngài đi về phương Ðông đến Ngô Quận, thấy
người chài đang lưới cá, Ngài theo xin, người chài nổi giận không cho.
Ngài lượm hai cục đá nhỏ ném xuống nước, phút chốc có hai con trâu húc vào
lưới làm rách nát rồi trâu biến mất.
Chu Linh Kỳ,
dân ở Ngô Quận, từ Cao Ly trở về, bị gió thổi đến một hòn đảo, thấy một
ngôi bảo tự. Tăng trong chùa đang dọn cơm, ông liền đến vái chào, xin giúp
trở về làng. Vị tăng ấy hỏi:
- Ông biết
đạo nhân Bôi Ðộ chăng?
- Biết!
Vị tăng chỉ
một cái đãy treo trên vách, có tích trượng và bình bát, nói:
- Ðây là của
Bôi Ðộ. Nay tôi gởi ông đưa bình bát này cho ông ta.
Và viết thơ.
Xong đưa gậy trúc xanh bảo đặt trước thuyền. Linh Kỳ theo lời, ba ngày
liền đến Thạch Ðầu. Bôi Ðộ bỗng đi đến, nhận thơ xem rồi cười to, lấy tay
tung bình bát lên không, rồi đón lấy nói:
- Ta chẳng
thấy bình bát này cách đây đã bốn ngàn năm.
Ðời Tống,
niên hiệu Nguyên Gia thứ ba, tháng 9 Sư thị tịch. Sau khi diệt độ, người
ta vẫn gặp Ngài luôn. Ngài có làm bài ca “Một Bình Bát” như sau:
Sợ kinh khiếp!
Ðều là liên miên tạo xoa sát (mạt thát).
Như đói ăn muối càng thêm khát,
Uổng cả một đời đầu cạo miết
Cứu cánh chẳng thể biết gốc ngọn
Ném tử thi đi, chỗ nào thoát?
Khuyên anh nổ lực cầu giải thoát
Việc nhàn rốt cuộc phải nắm bắt
Lửa rớt trên thân cần phải phủi
Chớ đợi gần chết kêu Bồ tát.
Trượng phu nói năng hải khoáng đạt
Chớ học phàm phu ưa vuốt ve
Theo thời, kết quả học bỏ hết
Cũng học nhu hòa, ăn gạo dở
Cũng cạo đầu, cũng đắp y
Học phàm phu tạo sanh hoạt
Nói thẳng với anh, anh chưa đạt
Lại làm trường ca, ca một bát.
Một bát ca, một trong nhiều,
nhiều trong một.
Chớ cười người quê ca một bát
Từng đem một bát độ ta bà.
Trời xanh lồng lộng trăng vừa lên
Lúc này ảnh – không gồm vạn tượng
Bao chốn phù sinh tự thị phi
Một nguồn thanh tịnh không lai vãng.
Lại chớ đem tâm tạo bọt nước
Trăm lông máu chảy ai dạy thế.
Chẳng bằng ngồi lặng đất Chân như
Trên đảnh mặc cho chim làm ổ.
Mấy đời con Kim Luân Thánh Vương
Chỉ là Chân như Linh giác này
Dưới cội Bồ đề độ chúng sanh
Ðộ hết chúng sanh không sanh tử.
Chẳng sanh chẳng tử, chân Trượng phu
Không hình không tướng, đại Tỳ Lô
Trần lao diệt hết, Chân như đấy.
Một viên tròn sáng, châu vô giá.
Mắt không thấy, tai chẳng nghe.
Chẳng thấy, chẳng nghe, thật thấy nghe.
Từ xưa một câu, không ngôn thuyết
Hôm nay ngàn lời gượng phân tích.
Hãy lắng nghe!
Người người đều có tánh Chân như
Giống như hoàng kim ở trong quặng
Luyện đi luyện lại, thể vàng sạch.
Chân là vọng, vọng là chân.
Nếu trừ chân vọng lại không người
Chân tâm chớ dối sanh phiền não
Cơm áo tùy thời nuôi sắc thân.
Tốt cũng mặc, xấu cũng mặc
Tất cả vô tâm chớ dính mắc
Cũng không tốt, cũng không xấu
Hai mé thản nhiên, đạo bình đẳng.
Thô cũng ăn, tế cũng ăn
Chớ học phàm phu nhìn trên tướng
Cũng không thô, cũng không tế
Hương tích cõi trên không cội rễ.
Ngồi cũng đi, đi cũng ngồi
Dưới cây sanh tử, quả Bồ đề
Cũng không ngồi, cũng không đi
Không sanh đâu cần kiếm vô sanh!
Sanh cũng được, tử cũng được
Xú xứ đương lai thấy Di Lặc
Cũng không sanh, cũng không tử
Ba đời Như Lai đều như thế.
Lìa thì dính, dính thì lìa
Trong cửa huyễn hóa không nghĩa thật
Không thể lìa, không thể dính,
Chỗ nào lại cầu không bệnh thuốc?
Nói thời im, im thời nói
Nói nín ngang dọc không chỗ nơi.
Cũng không nói, cũng không nín
Chớ gọi Ðông Tây là Nam Bắc.
Sân tức hỉ, hỉ tức sân,
Ta tự hàng ma, chuyển Pháp Luân
Cũng không sân, cũng không hỉ
Nước chẳng lìa sóng, sóng tức nước.
Tiếc thời bỏ, bỏ thời tiếc
Chẳng lìa trong ngoài và ở giữa
Cũng chẳng tiếc, cũng chẳng bỏ
Tịch tịch liêu liêu không chỗ nắm.
Khổ thì vui, vui thì khổ.
Chỉ tu hành này dứt cửa nẻo
Cũng không khổ, cũng không vui
Xưa nay tự tại không dây nhợ.
Dơ tức sạch, sạch tức dơ
Hai bên rốt cuộc không sau trước
Cũng chẳng dơ, cũng chẳng sạch
Ðại thiên đồng một tánh chân như.
Thuốc là bệnh, bệnh là thuốc
Cuối cùng hai việc cần nêu hết
Cũng không thuốc, cũng không bệnh
Chính là chân như tánh giác linh.
Ma làm Phật, Phật làm ma
Trong gương tìm bóng, sóng trên nước
Cũng không ma, cũng không Phật
Ba đời xưa nay không một vật.
Phàm tức thánh, thánh tức phàm
Keo trong màu xanh, trong nước lam
Cũng không phàm, cũng không thánh
Vạn hạnh tổng trì, không một hạnh.
Giả trong chân, chân trong giả.
Tự là phàm phu khởi vọng trần
Cũng không chân, cũng không giả
Nếu không lúc gọi đâu vâng dạ!
Xưa nay không họ cũng không tên
Chỉ vậy đằng đằng chân tin bước
Có lúc quán chợ cùng hàng thịt.
Một đóa sen hồng trên lửa sanh
Cũng từng gậy trúc dạo kinh lạc
Thân dường mây nổi không vướng mắc
Huyễn hóa từ lâu tợ ở nhờ
Nhà người chỗ chạm lại thanh hư
Nếu tìm giới!
Ba độc lở loét bao giờ khỏi?
Nếu kiếm thiền!
Ta tự tung hoành tìm đá ngủ
Thật đáng thương, chẳng phải điên
Thế gian, xuất thế, thiên trung thiên
Người đời chẳng hiểu được ý này
Ðánh nhằm bên Nam, động bên Bắc.
Nếu kiếm pháp!
Trong núi Kê Túc hỏi Ca Diếp
Ðại sĩ giữ y ở trong này
Xưa nay chẳng cần cầu giữ vỏ.
Nếu tìm kinh!
Pháp tánh Chân Nguyên không thể nghe.
Nếu kiếm luật!
Cùng tử chẳng nên dạy chạy ra.
Nếu tìm tu!
Tám vạn phù đồ cầu chỗ nào?
Chỉ biết lá vàng dừng tiếng khóc.
Bất giác mây đen che mặt trời
Chớ lạ lời cuồng không thứ lớp
Sàng lưới dần vào tế trong thô
Chỉ cái tế trong thô cũng không
Tức là viên minh chân thật đế.
Chân thật đế vốn không chân
Chỉ là danh văn, tức là trần
Nếu hướng trong trần hiểu chân thật
Liền là đường đường người xuất thế.
Người xuất thế, chớ tạo tác
Ðộc hành, độc bộ, không thênh thang
Không sanh, không tử, không Niết Bàn
Xưa nay sanh tử không quan hệ.
Không thị phi, không động tĩnh
Chớ dối đem thân vào giếng không
Không thiện ác, không đến đi
Cũng không gương sáng treo đài cao
Kiến giải sơn tăng chỉ như thế
Chẳng tin tùy họ tạo kiếp tro.
18. THÍCH ÐẠO SINH
Sư họ Ngụy,
người rất dĩnh ngộ, không ưa sự ồn náo trần tục, cạo tóc xuất gia thọ
giới. Ban đầu Sư vào Lô Sơn, ở U Thê bảy năm. Sau dạo đến Quan Trung, theo
ngài La Thập thọ nghiệp. Tăng chúng khâm phục như thần.
Lúc trước, Sư
thấy phần đầu kinh Niết Bàn nói “Trừ hạng Nhất xiển đề ra, tất
cả đều có Phật tánh”. Sư bèn nói: “Xiển đề sao lại riêng không có Phật
tánh được? Kinh này đến đây chưa đủ. Rồi xướng thuyết “Xiển đề đều sẽ
thành Phật".
Các vị sư
khác đời ấy đều trách mắng Sư, cho là tà thuyết, theo luật đáng bị tẩn
xuất. Sư bèn thề:
- Nếu tôi nói
không hợp với nghĩa kinh, thì xin cho hiện thân chịu ác báo. Nếu thật khế
hợp tâm Phật, nguyện lúc xả thọ mạng, ngồi tòa sư tử.
Và Sư rũ áo
vào Hổ Khưu sống lặng lẽ. Khi tâm có chỗ hội, Sư đến chùa Thanh Viên, ngồi
dưới rặng tùng, xếp đá làm đồ chúng, giảng kinh Niết Bàn. Một hôm giảng
đến chỗ Xiển đề, bèn nói có Phật tánh. Lại nói:
- Lời của ta
có hợp với tâm Phật chăng?
Hàng đá đều
gật đầu. Mùa hạ năm đó, sấm rền Phật điện Thanh Viên, người ta chợt thấy
một con rồng bay lên múa lượn, ánh sáng trời phát ra, bóng hiện ở vách
Tây. Chùa liền được đổi tên là Long Quang. Người đời đó than:
- Rồng đã
bay, Sư chắc cũng đi!
Mấy ngày sau,
quả nhiên Sư trở về Lô Sơn, để lại một di ảnh rơi trong hang núi. Tăng
chúng đều đến chiêm lễ.
Sau Sư nghe
Ðàm Vô Sấm dịch lại phẩm sau của kinh Niết Bàn, quả nhiên có nói: “Người
Nhất xiển để tuy đoạn thiện căn, vẫn có Phật tánh”. Sư rất mừng rỡ.
Niên hiệu
Nguyên Gia năm thứ chín (432). Sư đến Kim Lăng, chưa bao lâu trở lại Lô
Sơn. Trụ tịnh xá Lô Sơn, giảng kinh Niết Bàn.
Tháng mười
một, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười một (434)*, Sư thăng tòa luận nghĩa mấy
phen, mọi người nghe đều vui vẻ. Chợt thấy phất trần rơi xuống đất, Sư
ngồi ngay ngắn, nghiêm trang tựa ghế mà tịch, thọ 80 tuổi. Sớ luận để lại
là những tác phẩm rất quý báu.
* Có
thuyết nói Sư tịch năm Nguyên Gia thứ 9 (432).
SAU
NHỊ TỔ
19. HUỆ TƯ
Tham Ðại
Sư Huệ Văn
Huệ Tư, họ Lý
người Vũ Tân, đỉnh đầu có cục thịt nổi lên, đi như trâu, nhìn như voi. Lúc
trẻ rất hiền từ, nổi tiếng ở xóm làng, thường mộng thấy Phạm Tăng khuyên
xuất gia, bèn từ cha mẹ cạo tóc, đắp y và thọ Ðại giới. Ngày chỉ ăn một
bữa, tụng Pháp Hoa ngàn biến. Niên hiệu Thừa Thánh năm thứ ba (554) đời
Lương, nghe ngài Huệ Văn ở Bắc Tề có đồ chúng đến mấy trăm, Sư liền đến đó
xin thọ pháp. Ngày đêm nhiếp tâm, hông không dính chiếu; ngồi hạ hai mươi
mốt ngày Sư được túc mạng thông. Bỗng có chướng nổi lên, tay chân yếu ớt,
không thể đi được. Ngài tự gnhĩ: “Bệnh từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm khởi,
nếu nguồn tâm không khởi, thì ngoại cảnh có hình trạng gì? Bệnh nghiệp
cùng với thân đều như bóng này”.
Ngài quán như
thế xong, thân thể nhẹ nhàng như cũ. Hết hạ, vẫn không được gì, thầm ôm
lòng hổ thẹn; dựa vào vách, lưng chưa tới vách, hoát nhiên khai ngộ Pháp
Hoa tam muội.
Trụ Ðại Tô
Dạy chúng:
- Nguồn đạo
không xa, biển tánh rất gần. Chỉ hướng mình tìm, chớ theo người khác tìm.
Tìm thì chẳng được mà được cũng chẳng phải chân thật.
Ngài nói kệ:
Ðốn ngộ nguồn tâm mở kho báu
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Ðường bộ thường đi, ngồi một mình
Hóa thân trăm ức không kể xiết
Dù cho đầy dẫy khắp hư không
Lúc xem chẳng thấy một mảy bụi
Ðáng cười vật chừ, không so sánh
Miệng nhả châu sáng chiếu rỡ ràng
Tầm thường thấy nói không nghĩ nghị
Một lời nêu tên, ngay lời nhận.
(Ðốn ngộ tâm nguyên khai bảo tạng
Ẩn hiển linh thông hiện chân tướng
Ðộc hành độc tọa thường nguy nguy
Bách ức hóa thân vô số lượng
Túng linh biến tắc mãn hư không
Khán thời bất kiến vi trần tướng
Khả tiếu vật hề vô tỷ huống
Khấu thổ minh châu quang hoảng hoảng
Tầm thường kiến thuyết bất tư nghì
Nhất ngữ tiêu danh ngôn hạ đương).
Ngài thường
đăng tòa giảng kinh Ðại Bát Nhã, bị các Luận sư ganh ghét đánh thuốc độc.
Ngài nhất tâm niệm Bát Nhã, thuốc độc liền tiêu, sai môn nhân Trí Khải
giảng thay. Trí Khải giảng đến “Một tâm đủ vạn hạnh” chợt có chỗ nghi,
thỉnh Sư giải quyết. Ngài nói:
- Như điều
ông nghi là ý thứ lớp của Ðại Phẩm, chưa phải là ý chỉ viên đốn của Pháp
Hoa. Xưa ta ở trong hạ, một niệm chống phát các pháp hiện tiền. Ta đã thân
chứng, chẳng cần phải nghi.
Trí Khải hỏi:
- Thầy chứng
Thập địa chăng?
Ðáp:
- Ta một đời
mong được nhập vào Ðồng luân (Viên Thập Trụ); vì lãnh đồ chúng sớm quá,
làm tổn mình ích cho người. Nên chỉ ở Thiết luân thôi (Viên Thập Tín).
Huệ Tư thường
cầm gậy như ý chỉ Trí Khải bảo:
- Có thể nói
là pháp giao cho pháp thần, còn pháp vương thì vô sự.
Rồi Ðại Tô bị
phòng vệ, đại chúng không an. Huệ Tư bèn bảo ngài Trí Khải rằng:
- Ta từ lâu
muốn đến Nam Nhạc mà hậu pháp chưa có chỗ ký thác. Nay ông có thể truyền
đăng, chớ làm người cuối cùng đoạn dứt hạt giống Phật. Ông có duyên với
nước Trần, nên đến đó làm lợi ích.
Trí Khải vâng
lời đi đến nước Trần, trụ chùa Ngoã Quan; khai đề kinh Pháp Hoa. Còn ngài
Huệ Tư, niên hiệu Quang Ðại năm thứ hai (568) tháng 6, đem hơn bốn mươi
Tăng về Nam Nhạc. Lên ngọn Chúc Dung, gặp Nhạc thần đang đánh cờ. Thần
nói:
- Sao Sư đến
đây?
Ngài bảo:
- Xin đàn
việt một miếng đất bằng tọa cụ.
- Ðược!
Sư phóng gậy
để định chỗ (nay là chùa Phước Nghiêm). Nhạc Thần xin thọ giới. Sư thuyết
pháp cho, nhân đó nói:
- Ta ở nhờ
núi này, chỉ hạn mười năm. Sau xong việc sẽ đi xa. Tiền thân của ta từng
đi đến chốn này.
Ði lần đến
hành Dương, gặp một chỗ suối rừng đẹp lạ.
Ngài nói:
- Ðây là chùa
cổ. Ta ngày xưa từng ở đây.
Ngài sai đào
đất, thấy nền đất vẫn còn.
Ngài lại chỉ
chân núi nói:
- Xưa ta ngồi
thiền ở đây. Giặc đến chém đầu ta.
Rồi tìm được
hài cốt đã khô đầy đủ. Từ đây tạo hóa càng thạnh. Trần chúa gọi là Ðại
thiền.
Ngài trụ ở
Nam Nhạc, có một lão túc nhắn người đến bảo:
- Sao chẳng
xuống núi giáo hóa chúng sanh, cứ ngắm nhìn Vân Hán (cảnh đẹp) làm gì?
Ngài đáp:
- Ba đời chư
Phật bị ta nuốt trọn. Còn có chúng sanh nào để giáo hóa nữa.
Niên hiệu
Thái kiến năm thứ chín (577) ngày 6 tháng 6. Ngài bảo môn nhân rằng:
- Nếu có được
mười người chẳng tiếc thân mạng, thường tu Pháp Hoa, Bát Nhã, Niệm Phật
Tam muội, Phương đẳng, Sám hối, hẹn phải kiến chứng thì tùy chỗ cần ta sẽ
cung cấp cho. Nếu không có người như thế thì đã xa cách ta rồi vậy.
Lúc đó, chúng
cho là việc khổ hạnh khó khăn nên không ai đáp lại. Ngài bèn đuổi chúng ra
rồi nhập diệt. Có một thầy nhỏ tên Linh Biện kêu khóc. Sư mở mắt nói:
- Sao được
kinh động ta? Ðồ ngu, đi ra!
Rồi Ngài niệm
Phật chắp tay mà tịch, nhan sắc như lúc sống, hương lạ đầy thất.
20. TRÍ KHẢI
(538-597)
Trí Khải tự
Ðức An, họ Trần ở Hoa Dung, cha được phong làm Khai quốc hầu, mẹ họ Từ,
lúc có thai mộng nuốt một con chuột trắng và mây hương năm màu vòng quanh
ở bụng. Ðêm đản sanh, ánh sáng khắp nhà. Mắt Ngài có hai đồng tử, da không
dính bụi. Khi nằm thường chắp tay, ngồi thì hướng mặt về Tây. Năm bảy tuổi
vào chùa nghe Tăng tụng phẩm Phổ Môn, liền niệm theo, chợt tự nhớ hết văn
bảy cuốn rành rõ như đã học. Mười lăm tuổi lễ Phật, chợt thoảng như giấc
mộng, thấy có núi lớn gần mé biển, trên đỉnh có vị Tăng vẫy tay, lại dẫn
vào một ngôi chùa nói: “Ông sẽ ở đây. Ông sẽ chết ở nơi này”.
Sau Ngài xuất
gia, thọ giới cụ túc, rồi đến núi Ðại tô yết kiến ngài Huệ Tư. Huệ Tư vừa
gặp liền bảo:
- Xưa, trên
núi Linh Thứu, ta và ông cùng nghe kinh Pháp Hoa, nay ông lại đến!
Huệ Tư dạy
làm đạo tràng Phổ Hiền thuyết Tứ An Lạc Hạnh. Trí Khải nhập quán hai mươi
mốt ngày, tụng kinh Pháp Hoa, đến phẩm Dược Vương, nói: “Ðây là chân tinh
tấn, gọi là chân pháp cúng dường Như Lai". Liền ngộ Pháp Hoa Tam muội,
thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan, túc mạng thông liền phát, đem
chỗ chứng bạch với ngài Huệ Tư. Huệ Tư nói:
- Chẳng phải
ông thì chẳng chứng được. Chẳng phải ta thì không biết được. Ðây là Pháp
Hoa Tam muội, là phương tiện ban đầu, là Triền Ðà la ni ban đầu vậy. Dù
cho bậc thầy văn tự có đến ngàn vạn cũng không thể cùng ông biện luận.
Trong những
vị thuyết pháp, Ngài là đệ nhất.
Trí Khải trụ
chùa Ngõa Quan ở Kim Lăng tám năm. Vào tháng 8 niên hiệu thái Kiến năm thứ
bảy nhà Trần (575) dẫn đồ chúng trụ núi Thiên thai. Ngọn Phật Lũng có Ðại
sư Ðịnh Quang bảo đệ tử rằng:
- Chẳng bao
lâu sẽ có bậc thiện tri thức thù thắng, dẫn đồ chúng đến đây.
Không bao
lâu, Trí Khải đến. Ðịnh Quang nói:
- Còn nhớ
ngày xưa, lúc đưa tay vẫy dắt không?
Ðến am, đêm
đó trên không có tiếng chuông. Ngài hỏi:
- Là điềm gì
vậy?
Ðáp:
- Ðây là kiền
chùy để nhóm Tăng chúng, là tướng ở được. Ngọn này là Kim địa, tôi đã ở.
Ngọn phía Bắc là Ngân địa, ông sẽ ở đó.
Ngài Trí Khải
thường một mình đến ngọn Hoa lĩnh tọa thiền. Bỗng nhiên đêm sau, gió lớn
làm trốc cây, sấm chớp rền núi, qủy ma (ly mỵ) ngàn bầy, một hình biến
trăm dạng, biến hóa chớp nhoáng không thể tính kể. Lại hiện hình cha mẹ,
thầy, Tăng, chợt dựa ôm, bình thường thương khóc lóc.
Ngài vẫn an
tâm không tịch, thầm niệm thực tướng, hai duyên mạnh yếu chẳng thể làm
động. Lúc sao mai vừa mọc, thần tăng khen:
- Chế phục kẻ
địch, thắng được kẻ oán, đáng gọi là dũng, có thể qua được sự khó khăn này
không ai bằng ông.
An ủi xong,
lại thuyết pháp cho Ngài. Ngài nói:
- Ðây gọi là
Thực đế, nên học Bát Nhã, nên tuyên Ðại bi. Từ đây về sau tự thực hành và
dạy người khác. Ta đều chịu ảnh hưởng pháp này.
Trí Khải đến
Kinh Châu, Ngọc tuyền nhập định trong cây to. Một hôm có con rắn lớn, dài
hơn mười trượng, há miệng hướng vào, âm ma la liệt, tên đá như mưa. Trải
qua một tuần ngài Trí khải vẫn không có vẻ sợ, còn thương xót nó mà nói:
- Ngươi tạo
các nghiệp sanh tử, tham đắm chút phước thừa, chẳng tự bi hối.
Nói xong các
yêu ma biến mất. Tối đó mây tan, trăng sáng, Ngài thấy có hai người uy
nghi như vua đến trước cung kính nói:
- Tôi là Quan
Vũ. Cuối đời Hán nhiễu nhương, Cửu Châu tàn phá, Tào Tháo bất nhân, Tôn
Quyền tự cố thủ. Tôi là nghĩa thần nhà thục Hán, mong khôi phục ngôi vua,
nhưng thời sự trái nhau, có chí mà không toại nguyện, chết đi còn chút
công nghiệp được làm vua núi này. Ðại đức thánh sư sao phí sức thần mà đến
đây?
Ngài đáp:
- Muốn ở đất
này kiến lập đạo tràng để báo đáp đức sinh thân.
Quan Vũ nói:
- Xin thương
xót con ngu muội, rủ lòng nhiếp thọ. Cách đây một xá (30 dặm), có núi như
thuyền úp, đất đó thâm hậu, đệ tử sẽ cùng Tử Bình, dựng chùa để cúng. Mong
thầy an thiền bảy ngày, sẽ hoàn tất.
Khi Ngài xuất
định, thấy đầm sâu ngàn thước trở thành đất bằng, mái chùa tráng lệ, đẹp
đẽ ưa nhìn. Ngài bèn dẫn chúng vào ở; rồi diễn pháp một ngày. Thần bạch
Ngài rằng:
- Ðệ tử hôm
nay được nghe pháp xuất thế gian, mong rửa lòng đổi niệm, cầu thọ giới quy
y, mãi mãi làm gốc Bồ đề.
Ngài bèn
truyền ngũ giới.
Năm Ðinh Tỵ
tháng 11 (597), Tùy Vương sai sứ rước Ngài. Khi sắp đi, Ngài bảo môn nhân:
- Ta đi lần
này không trở lại. Các ngươi nên thành tựu chùa Phật Lũng Nam.
Lại nói thêm:
- Ðó là nhà
vua sắp đặt, các ông thấy được, còn ta chẳng thấy.
Ngài đến
trước tượng đá ở chùa Thạch Thành, Diệm Ðông, dừng lại quay nhìn thị giả
bảo:
- Ta biết
mạng dứt tại đây, không tiến đi nữa, dây đàn đứt tuyệt hôm nay.
Rồi Ngài
xướng đề kinh Quán Vô Lượng Thọ xong, lại nói:
- Bốn mươi
tám nguyện trang nghiêm Tịnh độ. Ao hoa, cây báu, tuy dễ đến mà không có
người, khi lửa, xe cùng hiện mà một niệm cải hối còn được vãng sanh, huống
là người giới định huân tu, đạo lực thánh hạnh, công chẳng phế bỏ.
Lúc đó Phật
đá phóng đại quang minh trùm khắp hang núi. Môn nhân thỉnh:
- Chưa rõ Ðại
sư ở địa vị nào? Sanh thế nào?
Ðáp:
- Ta nếu
không lãnh chúng thì sáu căn được tịnh, vì bỏ mình lợi người nên chỉ lên
Ngũ phẩm. Ông hỏi là sinh thế nào à? Các thầy bạn của ta theo hầu Quan Âm
đều đến rước ta.
Nói xong Ngài
tịch.
21. PHÁP SƯ TĨNH ÁI
Ẩn núi
THÁI ẤT
Ban đầu Tĩnh
Ái nghe Chu Vũ Ðế phế giáo (547) khẳng khái than rằng:
- Ăn hạt dẻ
nhà Chu mà quên việc này, đáng gọi là trung sao?
Ngài liền đến
cung vua xin yết kiến, hết lòng bày tỏ sự báo ứng phước họa của việc hủy
bỏ giáo pháp, chỉ bày dẫn chứng rõ ràng.
Vua đổi nét
mặt bảo:
- Chiếu chỉ
đã ban hành, không thể thu lại được.
Rồi chối từ.
Ngài lui ra, khóc nói:
- Ðại giáo bị
bế tắc, ta làm sao cam đứng nhìn cho được.
Ngài bèn trở
về núi Chung Nam. Vua muốn được yên, sai vệ sĩ tìm Ngài. Ngài nghe được
bèn chạy vào núi Thái Ất, kêu khóc bảy ngày đêm không ngớt, soạn hai mươi
quyển Tam Bảo Lục. Tháng 7 niên hiệu Tuyên Chính khai nguyên (578), bảo đệ
tử rằng:
- Ta sống
chẳng bổ ích cho đời, nay muốn xả thân.
Chúng kêu
khóc. Ngài sai thị giả ra khỏi núi, rồi trích máu viết một thiên thư kệ.
Ngài ngồi trên tảng đá, mặc áo trong, tự mổ bụng bày trên đá, đem ruột gan
treo trên cây tùng, ngũ tạng đều phơi ra, còn gân thịt, tay chân, đầu mặt
miệng lóc ra gần hết, lấy dao khoét tim, đưa lên, ngồi ngay ngắn mà tịch.
Còn hài cốt không vấy chút máu, chỉ thấy sữa trắng chảy ra, đọng ở đá.
Người nghe ai cũng rơi lệ.
22. PHỤC HƯNG PHẬT GIÁO
Khai
Hoàng Nguyên Niên (581)
Chu Vũ đế phế
giáo làm vua hai mươi năm. Tùy Văn Ðế lên ngôi đổi niên hiệu là Khai
Hoàng. Xuống chiếu lập chùa Tăng ở núi Ngũ Nhạc, lại lập một ngôi già lam
ở chiến trường Tương Châu. Vua rắp tâm hoằng pháp. Mùa Ðông năm đó, có các
sa môn Trí Chu ... đem hai trăm sáu mươi bộ kinh đúng hẹn từ Tây Vức trở
về. Vua bèn giao cho Hữu Ty, mời người phiên dịch.
Vua họ Dương
tên Kiên, người Hoa Âm, lúc mới sanh hào quang đỏ chiếu trong nhà, khí tía
đầy sân. Bên cạnh nhà có chùa ni. Ni cô tên Trí Tiên, người đời gọi là
Thần Ni. Gặp lúc nóng bức, mẹ lấy quạt quạt cho lạnh muốn gần chết. Ni cô
từ ngoài đến bảo người cha rằng:
- Ðứa bé này
do Phật trời ban cho. Thân như xá lợi, chẳng thể tiêu hoại.
Bèn gọi ông
là Na La Diên, Ni cô lại nói:
- Ðứa bé này
sẽ đến chỗ khác thường. Nhà thế tục ô uế, nên đem đến chùa nuôi dưỡng.
Người cha bèn
giao đứa bé cho Ni cô. Một hôm Ni cô ra ngoài. Người mẹ đến ôm con, chợt
thấy con hóa thành rồng, vẩy sừng đầy đủ, kinh sợ té xuống đất. Ni cô trở
về thấy nói:
- Tại sao dám
chạm đến con ta, làm cho nó muộn được thiên hạ.
Ðến năm bảy
tuổi, Ni cô bảo vua rằng:
- Con sau là
bậc đại quý, sẽ từ phương Ðông đến. Lúc Phật pháp diệt, nhờ con mà hưng
thịnh lại.
Vua mười ba
tuổi mới trở về nhà. Ðến khi Chu Vũ Ðế phế giáo, Ni cô ẩn tại nhà Dương
Kiên, chưa được bao lâu thì tịch. Sau Dương Kiên quả nhiên từ Sơn Ðông vào
làm thiên tử, đại hưng Phật pháp, như lời Ni cô nói.
Lên ngôi rồi,
mỗi lần thăm quần thần đều truy niệm A Xà Lê để làm “khẩu thật” (*), lại
nói:
- Trẫm hưng
ngôi vị đều do Phật pháp, lại thích ăn mè đậu. Ðời trước như từ dòng đạo
nhân mà đến. Vì lúc nhỏ ở chùa, đến nay ưa nghe tiếng chuông trống.
(*) Khẩu
thật: Câu chào hỏi, hay câu làm chứng lời mình không dối.
23. ÐẠI SĨ TĂNG GIÀ
Ðại sĩ Tăng
Già từ nước Toái Diệp dạo Tây Lương, niên hiệu Tổng Chương năm thứ hai
(669) hiển hóa ở Lạc Dương; tay cầm cành cành dương lẫn lộn trong dòng tu.
Có người hỏi:
- Thầy họ
chi?
Ðáp:
- Tôi họ chi.
Hỏi:
- Sư người
nước nào?
Ðáp:
- Tôi người
nước nào.
Ngài thường ở
trên sông Tứ muốn lập già lam. Nhân có dân Túc Châu là Hạ Bạt phá chỗ ở.
Tăng Già nói:
- Ðây vốn là
chùa.
Cho người đào
đất quả nhiên thấy bia cũ đề: Chùa Hương tích; lại được tượng vàng. Tăng
Già nói:
- Phật Phổ
Quang Vương.
Bèn lấy đây
làm tên chùa.
Trung Tông
rước Tăng Già ở Tứ Châu vào cung. Mời ở chùa Tiến Phước độ Huệ Nghiễm, Huệ
Ngạn, Mộc Xoa ba người. Sau thị tịch. Vua ra lệnh đến núi Tiến Phước thân
dựng tháp.
Chợt mùi hôi
thúi xông lên khắp thành. Vua cầu khẩn xin đưa về Lâm Truy.
Khấn xong,
mùi hương lạ thơm ngào ngạt.
24. HUỆ MÃN
Huệ Mãn họ
Trương, ở Vĩnh Dương nối pháp Mã Tang Na. Theo hạnh đầu đà chỉ chứa hai
kim, mùa đông xin vải vá, mùa hạ bỏ ra. Tâm chẳng sợ sệt, ngủ không mộng
mị, thường đi khất thực. Ðến già lam thì chẻ củi làm giày (guốc), không ở
đến đêm thứ hai. Niên hiệu Trinh Quán năm Nhâm Dần (642) ở bên chùa Thiện
Hội ở Lạc Dương, trong ngôi mộ cổ gặp tuyết lớn. Sáng sớm vào chùa gặp Ðàm
Khoáng. Ðàm Khoáng ngạc nhiên hỏi từ đâu tới, Huệ Mãn nói:
- Pháp có đến
sao?
Ðàm Khoáng
sai người tìm lối đến, bốn bên tuyết ngập năm thước. Khi nghe có việc (bắt
Tăng ghi sổ sách) bó buộc, chư tăng bỏ trốn. Huệ Mãn vẫn ôm bát đi khắp
xóm làng chẳng ngại ngùng gì. Tùy được, tùy tan, vẫn ung dung nhàn nhã. Có
người thỉnh thọ trai. Huệ Mãn bảo:
- Thiên hạ
không còn tăng, tôi mới nhận lời mời này.
Lại thường
dạy người:
- Chư Phật
thuyết tâm, khiến cho chúng ta biết tâm hư vọng. Nay lại lập thêm tâm
tướng, thật trái ý Phật rất xa, còn lại tăng thêm luận nghị, quá trái đạo
lý.
Thường đem
bốn quyển Lăng Già cho là tâm yếu. Sau ở trong Ðào Trị không bệnh ngồi
tịch.
25. BẢO CHÍ (CHÍ CÔNG)
Ngài là người
Kim Lăng. Ban đầu vợ của họ Chu dân Ðông Dương nghe tiếng của trẻ con khóc
trong trong tổ chim ưng; bắc thang lên cây thấy được, đem về nuôi làm con.
Năm bảy tuổi Ngài nương Tăng Kiệm ở Chung Sơn xuất gia chuyên tu thiền
quán. Ðến lúc xuất thế, lấy kéo, thước, phất tử treo đầu gậy vác đi. Ði
qua làng xóm, trẻ con ùa theo Ngài; hoặc đòi uống rượu hoặc nhiều ngày
nhịn ăn, thường gặp người ăn cá thì theo đòi ăn. Người ăn chia cho mà có
tâm khinh bạc, Ngài bèn mửa trong nước, thức ăn đều trở thành cá sống.
Ngài thường qua lại núi Hoàn Sơn, Kiếm Thủy, để tóc, đi chân không, mặc áo
gấm, mặt vuông mà sáng láng như gương, tay chân đều như móng chim; thường
thường đề thơ, lúc đầu xem như không hiểu được, sau đều thấy ứng nghiệm.
Ban đầu Tề Vũ
Ðế giận Ngài mê hoặc mọi người, cho bắt nhốt vào ngục Kiến Khang. Ngày ấy,
người ta thấy Ngài du hành trong phố chợ. Kiểm soát lại, vẫn thấy Ngài
trong ngục. Chiều đó, Ngài bảo sứ rằng:
- Ngoài cửa
có hai xe thức ăn, bát vàng đầy cơm. Ông nên lấy đi.
Qủa nhiên,
Thái tử Văn Huệ, Cánh Lăng Vưong đưa đến Kiến Khang để cúng dường. Vua
nghe được, hối hận tạ lỗi rước Ngài vào cung cấm. Khhi vua nghỉ ở hậu
cung, Ngài bèn tạm ra ngoài. Ði rồi mà người ta vẫn thấy hành đạo ở Hiển
Trường. Vua kinh ngạc sai sứ đến hỏi. Sứ thưa:
- Chí Công ra
ngoài lâu rồi mà hiện đang ở trong (tỉnh) cung.
Vua càng cho
là thần kỳ. Sau Ngài mượn thần lực cho vua thấy Cao Tổ đang bị khổ chùy,
đao ở dưới đất. Từ đây vua bỏ hẳn chùy, đao.
Vương Trọng
Thái hỏi Ngài:
- Kẻ sĩ này
sẽ đến địa vị nào?
Ngài không
đáp, cởi sợi dây bên trái của đầu trượng đưa cho. Sau quả nhiên Thái làm
đến chức Thượng thư Tả thừa. Từ Lăng lúc còn bé, cha bế đến yết kiến Chí
Công. Ngài xoa đỉnh đầu:
- Ðứa bé này
là kỳ lân đá ở trên trời.
Sau quả nhiên
hiển vinh ở đời.
Năm Nhâm Ngọ
(502), Lương Vũ Ðế lên ngôi, mời Ngài vào triều. Một hôm vua nghiêm trang
hỏi rằng:
- Ðệ tử chưa
trừ được phiền não. Lấy gì để trừ?
Ðáp:
- Hai mươi.
Hỏi:
- Là thế nào?
Nói:
- Ở chữ viết,
thời tiết đến sẽ rõ.
Vua càng
chẳng hiểu, lại hỏi:
- Ðệ tử đến
lúc nào thì được tĩnh tâm tu tập?
Ngài đáp:
- An Lạc Cấm
(cung An Lạc).
Ban đầu Lương
Vũ Ðế nằm mộng thấy thần Tăng bảo rằng:
- Lục đạo, tứ
sanh chịu khổ não lớn. Sao không làm đại trai thủy lục để cứu bạt cho họ?
Vua bèn hỏi
Sa môn, chỉ có Chí Công khuyên vua tìm kinh, chắc chắn sẽ có nhân duyên.
Vua bèn lấy kinh Phật tự mở xem, rồi sáng tạo văn nghi thức. Ba năm xong.
Ban đêm cầm bản văn, tắt đuốc, bạch Phật:
- Nếu lý của
văn này hợp với Thánh phàm, nguyện lực lễ bái xong đứng lên thì đền này
cháy sáng, còn nghi thức nếu chưa rõ ràng thì đèn tối như cũ.
Nói xong phục
lạy một lạy, vừa mới ngước lên, đèn đuốc sáng rực. Niên hiệu Thiên Giám
năm thứ tư (506), ngày rằmg tháng hai ở Kim Sơn, Trấn Giang y theo nghi
thức này sắp đặt.
Chí Công lại
thường nương thần lực cho vua thấy những tướng khổ ở địa ngục. Vua hỏi:
- Làm sao cứu
họ được?
Ðáp:
- Ðịnh nghiệp
đời trước không thể diệt mau chóng được, chỉ khi họ nghe tiếng chuông, thì
sự khổ tạm dừng.
Do đây, vua
xuống chiếu cho các tự viện trong nước đánh chuông nên đánh thong thả.
Vua thường ra
lệnh cho họa công Trương Tăng Diệu, vẽ tượng Chí Công. Tăng Diêu cầm bút,
chẳng tự định được; Chí Công bèn lấy ngón tay rạch giữa trán, vạch ra mười
hai vẻ mặt Quan Âm; hoặc từ bi, hoặc oai nghi. Diêu rốt cuộc vẽ chẳng
được.
Chí Công nói:
Tỳ bà thi Phật sớm lưu tâm
Thẳng đến hôm nay chẳng được diệu.
Ngày khác
cùng vua đến bờ sông xem, có một vật ngoi lên ngược dòng. Chí Công lấy gậy
khều lên, theo gậy vào bờ. Thì ra một khúc tử chiên đàn; vua liền đưa cho
vị quan hầu cận sai khắc tượng Chí Công. Trong khoảnh khắc hoàn thành,
thần thái rất sống động.
Chí Công thị
hiện bốn mươi năm hơn. Niên hiệu Thiên Giám năm thứ mười ba (515), chợt
bảo chúng Tăng:
- Hãy dời
tượng thần Kim Cang trong chùa đặt ở bên ngoài.
Rồi nói với
người rằng:
- Bồ tát sắp
đi.
Ngài vào nội
điện cùng Lương Vũ Ðế vĩnh biệt. Vua thất kinh hỏi:
- Trẫm thọ
bao lâu?
Chí Công
không đáp, lấy tay chỉ cằm và cổ rồi ra. Trở về núi, Ngài đốt một ngọn
đuốc trao cho người làm là Ngô Khánh ở lầu sau. Ngô Khánh tâu lại vua. Vua
than:
- Ðại sư
chẳng lưu lại nữa. Ðuốc là đem việc sau soi ta chăng?
Ngày 6 tháng
12, Ngài không bệnh mà chết, khắp người thơm mềm, thọ 92 tuổi. Vua lập
tháp trên miếng đất Ðộc Long ở Chung Sơn. Vua sai Lục Thùy làm bài minh,
Vương Cật lập bia. Lúc trước, Chí Công cùng vua lên Chung Sơn, Ngài chỉ
miếng đất ở sườn núi Ðộc Long phía trước nói:
- Ðây là âm
trạch, sẽ được hậu duệ lâu dài.
Vua hỏi:
- Ai sẽ được?
Chí Công nói:
- Người đi
trước được.
Năm ấy Ngài
thị tịch, vua bèn lấy hai mươi vạn lượng vàng, sửa đất ấy dựng tháp năm
tầng, trấn bảo châu vô giá ở đấy. Ngày chôn Ngài, vua đích thân xa giá
đến. Chí Công chợt hiện trong mây. Vạn người hoan hô, tiếng vang khắp hang
núi.
Chí Công
thường dạy rằng:
- Suốt ngày
thắp hương đốt đèn chẳng biết thân mình là đạo tràng.
Lại nói:
- Kinh đô,
nghiệp đô mênh mang lại là đạo tràng Bồ đề.
Lại nói:
- Như thân ta
không, các pháp cũng không. Ngàn phẩm vạn loại thảy đều đồng.
Lại thường
hỏi một Phạm tăng:
- Nghe tôn
giả thường gọi tôi là đồ tể, có từng thấy tôi sát sanh chăng?
Ðáp:
- Thấy.
Hỏi:
- Thấy có mà
thấy, hay thấy không mà thấy (hữu kiến kiến, vô kiến kiến), hay chẳng có,
chẳng không mà thấy? Nếu thấy có mà thấy là cái thấy của phàm phu; thấy
không mà thấy là cái thấy của Thanh văn; Chẳng có, chẳng không mà thấy là
cái thấy của ngoại đạo. Chưa rõ tôn giả thấy thế nào?
Phạm tăng
nói:
- Ông có
những cái thấy này sao?
Chí Công bèn
thôi.
26. BA LA ÐỀ
Ba La Ðề
(tông Vô tướng) đáp vua Dị Kiến (kêu Bồ Ðề Ðạt Ma bằng chú, con của Nguyệt
Tịnh Ða La).
Vua hỏi:
- Thế nào là
Phật?
- Thấy tánh
là Phật.
- Thầy thấy
tánh chăng?
- Tôi thấy
Phật tánh.
- Phật tánh ở
đâu?
- Tánh ở tác
dụng.
- Là tác dụng
nào? Nay ta chẳng thấy?
- Hiện đang
tác dụng mà vua chẳng thấy.
- Ở ta có
chăng?
- Vua nếu có
tác dụng thì không có gì chẳng phải tánh. Nếu không tác dụng thì thế này
khó thấy.
- Nếu đang
lúc tác dụng thì có mấy chỗ xuất hiện?
- Nếu lúc
xuất hiện thì có tám chỗ.
- Xin hãy nói
cho tôi về tám chỗ xuất hiện?
Ba La Ðề liền
nói kệ:
Tại thai là thân
Ở đời là người
Ở mắt là thấy
Ở tai là nghe
Ở mũi ngửi mùi
Ở miệng đàm luận
Ở tay nắm bắt
Ở chân chạy nhảy.
Hiện khắp sa
giới, thu về trong một vi trần, người biết gọi là Phật tánh, người chẳng
biết gọi là linh hồn. Vua nghe khai ngộ.
27. PHÓ ÐẠI SĨ
Phó Ðại Sĩ,
tên Hấp tự là Huyền Phong hiệu là Thiện Huệ, người Nghĩa Ô. Niên hiệu Kiến
Vũ thứ tư (497) đời Tề, Ngài sanh ngày 8 tháng 5 ở làng Song Lâm, trong
nhà Phó Tuyên Từ. Năm mười sáu tuổi lấy con gái họ Lưu tên Diệu Quang,
sanh được hai con trai là Phổ Kiến, Phổ Thành. Năm 24 tuổi, theo dòng sông
bắt cá đem đến ao Kê Ðình, dìm giỏ vào nước nói:
- Ði thì thả,
ở thì bắt.
Người ta bảo
là ngu. Một hôm có Tung Ðầu Ðà người Thiên Trúc đến thăm Ngài, bảo rằng:
- Xưa tôi với
ông ở trước Phật Tỳ Bà Thi cùng phát thệ nguyện độ sanh. Nay ở cung Ðâu
Suất vẫn còn y bát. Ngày nào sẽ trở lại?
Rồi dẫn đến
suối nhìn bóng, thấy bảo cái tròn sáng. Ðại sĩ liền ngộ được nhân duyên
đời trước cười to nói:
- Lò rèn còn
nhiều sắt, thô. Cửa thầy thuốc đầy bệnh nhân, việc độ sanh gấp gáp, đâu
rãnh mà nghĩ đến cái vui thú ở thiên cung.
Rồi Ngài bỏ
đồ bắt cá, dẫn nhau về nhà, nhân đó Ngài hỏi đất để tu đạo. Tung Ðầu Ðà
chỉ rừng Song Lâm núi Tùng nói:
- Nên ở nơi
này!
Ngài bèn kết
am tự xưng là “Bồ tát Thiện Huệ tương lai sẽ giải thoát, ở dưới cây Song
Lâm”, ở đó cày cấy, trồng rau quả như người tầm thường. Khi thu hoạch lúa
má, dưa trái, Ngài lấy giỏ đựng đem bán. Ngài cùng với vợ là Diệu Quang,
ngày thì làm lụng, tối về hành đạo.
Ngài ở Sơn
Lâm bảy năm, một hôm hành đạo xong, cảm được bảy Phật theo đến. Phật thích
Ca đi trước, sau cùng là Duy Ma. Chỉ có đức Thích Ca mấy lần nhìn, bảo với
Ngài:
- Ta bổ xứ
cho ông đấy!
Lại có một
hôm thấy ba vị Phật Thích Ca, Kim Túc, Ðịnh Quang phóng hào quang chiếu
thân mình. Ngài tự bảo đắc định Thủ Lăng Nghiêm.
Vì thế đệ tử
càng đông thêm. Niên iệu Trung Ðại Thông sanh năm thứ hai (530) Ngài sai
đệ tử là Phó Vãng đến kinh đô dâng thư cho Lương Vũ Ðế rằng:
“Ðại sĩ
Thiện Huệ, người tương lai giải thoát, ở dưới rừng cây Song Lâm tâu với
Quốc vương:
Bồ tát cứu
thế có ba điều thiện bậc thượng, trung, hạ phải nên nhận giữ:
1. Ðiều
thiện bậc thượng: Lấy hư hoại làm gốc, chẳng vướng mắc làm tông, vô tướng
làm nhân, Niết Bàn làm quả.
2. Ðiều
thiện bậc trung: Lấy trị thân làm gốc, trị nước làm tông, được quả báo an
lạc trên trời, trong loài người.
3. Ðiều
thiện bậc hạ: Lấy việc bảo vệ nuôi nấng chúng sanh, thắng tàn bạo, bỏ giết
hại, khiến dân chúng đều giữ lục trai.
Nay mộ
lòng sùng pháp của Hoàng đế, muốn đến tranh luận nghị mà chưa được mãn
nguyện, nên sai đệ tử đến để cáo bạch”.
Vua rất vui,
sai Hà Xương viết chiếu đến, đón Ngài về triều. Vũ Ðế hỏi:
- Xưa nay ai
là thầy của Ngài?
Ðáp:
- Theo không
chỗ theo, đến không chỗ đến, thờ thầy cũng thế.
Lại hỏi:
- Sao không
luận nghĩa?
Ðáp:
- Lời Bồ tát
chẳng dài, chẳng ngắn, chẳng rộng, chẳng hẹp, chẳng phải hữu biên, chẳng
phải vô biên, như như chính lý, còn nói gì nữa?
Niên hiệu Ðại
Ðồng năm thứ hai (536), lại vào kinh đô. Vũ Ðế mời vào hỏi:
- Thế nào là
chân đế?
Ðáp:
- Dứt mà
chẳng diệt.
Vua nói:
- Dứt mà
chẳng diệt tức là có sắc, có sắc nên trì độn. Như thế cư sĩ chưa khỏi được
dòng tục.
Ngài đáp:
- Gặp tiền
tài không cẩu thả để được, gặp khó không cẩu thả để tránh.
Vua nói:
- Cư sĩ rất
biết lễ.
Ngài nói:
- Tất cả các
pháp không có cũng không không, những sắc tượng trong đại thiên thế giới,
tất cả đều không, trăm sông trôi chảy không ra khỏi biển. Vô lượng diệu
pháp không ra khỏi chơn như. Như lai vì sao một mình vượt hẳn chín mươi
sáu đường trong ba cõi? Xem tất cả chúng sinh như con đẻ. Thiên hạ không
phải đạo thì Ngài chẳng an, không phải lễ thì Ngài chẳng vui?
Vua làm
thinh. Ngày khác, Vũ Ðế thỉnh Ngài giảng kinh Kim Cang. Ðại sĩ vừa lên
tòa, lấy thước đập xuống bàn một cái rồi bước xuống. Vua ngạc nhiên, Ðại
sĩ hỏi:
- Bệ hạ hiểu
không?
Ðáp:
- Không hiểu.
Ðại sĩ nói:
- Ðại sĩ
giảng kinh xong rồi!
Một hôm, Ngài
đang giảng kinh thì vua đến, mọi người đều đứng dậy. Ðại sĩ ngồi yên chẳng
động. Họ bảo Ngài:
- Vua đến đây
rồi, sao không đứng dậy?
Ðại sĩ nói:
- Ðất pháp
nếu động, tất cả chẳng yên.
Ngài trở lại
Song Lâm, viết bài minh “Tâm Vương”:
|
Quán tâm không vương |
Quán tâm không vương |
|
Kỳ diệu khó lường. |
Nguyên diệu nan trắc. |
|
Không hình không tướng |
Vô hình vô tướng |
|
Có thần lực lớn |
Hữu đại thần lực |
|
Hay diệt ngàn tai |
Năng diệt thiên tai |
|
Thành tựu muôn đức |
Thành tựu vạn đức |
|
Thể tánh tuy không |
Thể tánh tuy không |
|
Hay bày phép tắc |
Năng thí pháp tắc |
|
Xem chẳng thấy hình |
Quán chi vô hình |
|
Hô thì có tiếng |
Hô chi hữu thanh |
|
Làm đại pháp tướng |
Vi đại pháp tướng |
|
Tâm giới truyền kinh |
Tâm giới truyền kinh |
|
Vị muối trong nước |
Thủy
trung cổ vị |
|
Keo xanh trong màu |
Sắc lý giao thanh |
|
Quyết định là có |
Quyết định thị hữu |
|
Chẳng thấy được hình |
Bất kiến kỳ hình |
|
Tâm vương cũng vậy |
Tâm vương diệc nhĩ |
|
Nằm ở trong thân |
Thân nội cư đình |
|
Ra vào trên mặt |
Diện môn xuất nhập |
|
Ứng vật tùy hình |
Ứng vật tùy hình |
|
Tự tại vô ngại. |
Tự tại vô ngại |
|
Việc làm đều thành. |
Sở tác giai thành. |
|
Rõ gốc, biết tâm |
Liễu bổn thức tâm |
|
Biết tâm thấy Phật |
Thức tâm kiến Phật. |
|
Tâm này là Phật. |
Thị tâm thị Phật. |
|
Phật này là tâm |
Thị Phật thị tâm. |
|
Niệm niệm Phật tâm |
Niệm
niệm Phật tâm |
|
Phật tâm niệm Phật |
Phật tâm niệm Phật |
|
Muốn được sớm thành |
Dục đắc tảo thành |
|
Răn tâm tự luật |
Giới tâm tự luật |
|
Tịnh luật, tịnh tâm |
Tịnh luật tịnh tâm |
|
Tâm tức là Phật |
Tâm tức thị Phật |
|
Trừ tâm vương này |
Trừ thử tâm vương |
|
Không có Phật khác |
.Cách vô biệt Phật. |
|
Muốn cầu thành Phật |
Dục
cầu thành Phật |
|
Chớ nhiễm vật gì |
Mạc nhiễm nhất vật |
|
Tâm tánh tuy không, |
Tâm tánh tuy không, |
|
Tham sân thể thực |
Tham sân thể thực. |
|
Vào pháp môn này |
Nhập thử pháp môn |
|
Ngồi ngay thành Phật. |
Ðoan tọa thành Phật. |
|
Ðến bờ kia rồi |
Ðáo bĩ ngạn dĩ |
|
Ðược Ba la mật |
Ðắc Ba la mật |
|
Chân sĩ mộ đạo |
Mộ đạo chân sĩ |
|
Tự xét tâm mình |
Tự quán tự tâm |
|
Biết Phật ở trong |
Tri Phật tại nội |
|
Không hướng ngoài tìm. |
Bất hướng ngoại tầm. |
|
Tức tâm tức Phật |
Tức tâm tức Phật. |
|
Tức Phật tức tâm |
Tức Phật tức tâm, |
|
Tâm sáng, biết Phật |
Tâm minh thức Phật |
|
Rõ ràng biết tâm |
Liễu liễu thức tâm. |
|
Lìa tâm không Phật |
Ly tâm phi Phật |
|
Lìa Phật không tâm |
Ly Phật phi tâm |
|
Chẳng Phật khó lường |
Phi Phật mạc trắc |
|
Không kham nhận nổi. |
Vô sở kham nhậm. |
|
Chấp không kẹt tịch |
Chấp không trệ tịch |
|
Ở đó trôi chìm |
Ư thử phiêu trầm |
|
Chư Phật Bồ tát |
Chư Phật Bồ tát |
|
Chẳng an tâm (như) vậy. |
Phi thử an tâm. |
|
Ðại sĩ sáng tâm |
Minh tâm đại sĩ |
|
Ngộ nguyên âm này |
Ngộ thử nguyên âm |
|
Thân tâm tánh diệu |
Thân tâm tánh diệu |
|
Dùng không sửa đổi |
Dụng vô canh cải |
|
Thế nên bậc trí |
Thị cố trí giả |
|
Buông tâm tự tại |
Phóng tâm tự tại |
|
Chớ bảo tâm vương |
Mạc ngôn tâm vương |
|
Không, không thể tánh |
Không vô thể tánh |
|
Hay khiến sắc thân |
Năng sử sắc thân |
|
Làm tà làm chánh |
Tác tà tác chánh |
|
Chẳng có, chẳng không |
Phi hữu phi vô, |
|
Ẩn hiện không định |
Ẩn hiện bất định |
|
Tâm tánh lìa không |
Tâm tánh ly không |
|
Thánh phàm thành Thánh |
Năng phàm năng Thánh |
|
Thế nên khuyên nhau |
Thị cố tương khuyến |
|
Khéo nên cẩn thận |
Hảo tự phòng thận. |
|
Sát na tạo tác |
Sát na tạo tác |
|
Lại bị trôi chìm |
Hoàn phục phiêu trầm |
|
Thanh tịnh trâm trí |
Thanh tịnh tâm trí |
|
Như thể vàng ròng |
Như thể hoàng kim. |
|
Kho pháp Bát Nhã |
Bát Nhã pháp tạng |
|
Ðều ở thân tâm |
Tịnh tại thân tâm |
|
Pháp báu vô vi |
Vô vi pháp bảo |
|
Không cạn không sâu. |
Phi thiển phi thâm. |
|
Như Phật Bồ tát |
Như Phật Bồ tát |
|
Rõ bổn tâm này |
Liễu
thử bổn tâm |
|
Người ngộ có duyên |
Hữu duyên ngộ giả |
|
Chẳng có ba đời |
Phi khứ lai kim. |
Lại có kệ
rằng:
Ðêm đêm ôm Phật ngủ
Sáng sáng cùng thức dậy
Ðứng ngồi vẫn theo nhau
Nói nín chung ăn ở
Mảy may không cách biệt
Giống hệt hình với bóng
Muốn biết chỗ Phật đi
Chính ngay tiếng nói này.
(Dạ dạ bão Phật miên
Triêu triêu hoàn cộng khởi
Khởi tọa trấn tương tùy
Ngữ mặc đồng cư chỉ
Ti hào bất tương ly
Như thân ảnh tương tợ
Dục thức Phật khứ xứ
Kỳ giá ngữ thanh thị).
Lại nói:
Có vật trước trời đất
Không hình vốn tịch tiêu
Hay làm chủ muôn vật
Chẳng theo bốn mùa tàn.
(Hữu vật tiên thiên địa
Vô hình bổn tịch liêu
Năng vi vạn tượng chủ
Bất trục tứ thời điêu).
Ngài ở niên
hiệu Ðại Ðồng nhà Lương năm thứ mười (544), thiết lập đại pháp hội, khắp
vì chúng sanh, sám hối diệt mọi tội khổ, chóng được giải thoát.
Ngài lại cho
mục lục kinh kinh Phật quá nhiều, người ta chẳng thể xem khắp, bèn dựng
Luân tạng, lập nguyện rằng:
- Người lên
tạng môn của ta, đời đời kiếp kiếp, không mất thân người, người phát tâm
Bồ đề có thể đẩy Luân Tạng cùng người trì tụng kinh, công đức không khác.
Ngài ở Song
Lâm làm Phật sự rộng lớn, thường có kệ:
Tay không
nắm cán mai
Ði bộ lưng
trâu ngồi
Trên cầu
người cất bước
Cầu trôi
nước chẳng trôi.
(Không thủ bả
xừ đầu
Bộ hành kỵ
thủy ngưu
Nhơn tùng
kiều thượng quá
Kiều lưu thủy
bất lưu).
Nhà Trần niên
hiệu Thái Kiến năm đầu (569), có pháp sư Huệ Hòa, chẳng bệnh mà tịch. Tung
Ðầu Ðà cũng ở chùa Linh Nham, Kha Sơn nhập diệt. Ðại sĩ thầm biết bảo Phổ
Kiền, Phổ Thành rằng:
- Tung Công
đang đợi ta ở cung trời Ðâu Suất, không thể ở lại nữa.
Khi ấy, bốn
phía, cây vừa đơm hoa đẹp đẽ chợt khô héo. Ngày 24 tháng 4, Ngài dạy chúng
rằng:
- Thân này là
nơi mọi khổ nhóm họp, rất đáng chán ghét. Phải tu tam nghiệp, tịnh tu lục
độ, nếu đọa địa ngục, thật khó ra được, thường nên sám hối.
Lại nói:
- Ta diệt
rồi, không được dời giường ngủ, bảy ngày sẽ có thượng nhân Pháp Mãnh đem
tượng và chuông đến trấn ở đây.
Ðệ tử hỏi:
- Sau khi quy
tịch, thân thể nên làm sao?
Ngài bảo:
- Ðem lên
đỉnh núi thiêu.
Hỏi:
- Nếu không
được thì sao?
Ðáp:
- Không cần
liệm vào quan tài, chỉ lấy gạch tường làm đàn tế, dời xác lên trên, bình
phong màu đỏ che chung quanh, trên dựng tháp phù đồ, lầy tượng Di Lặc trấn
vào.
Lại hỏi:
- Chư Phật
diệt độ đều thuyết công đức, gốc gác của Thầy, chúng con có thể nghe được
chăng?
Ðáp:
- Ta từ trời
Ðệ Tứ Thiền đến, để độ các ông. Kế phụ giúp đức Thích Ca, và giúp Phổ Mẫn
(Văn Thù), Huệ Tập (Quan Âm) Hà Xương (A Nan) cùng đến tán trợ, điều này
trong Thích Ca Ðại Phẩm có nói: “Có Bồ tát từ trời Ðâu Suất đến, căn
tánh mãnh lợi, chóng cùng Bát Nhã tương ưng” chính là thân ta đó.
Nói xong,
ngồi kiết già mà thị tịch, thọ 73 tuổi. Ðến bảy ngày sau có thượng nhân
Pháp Mãnh quả nhiên đem lụa dệt tượng Di Lặc và chuông chín lỗ đến trấn ở
khám. Chốc lát không thấy nữa.
Nhà Tấn niên
hiệu Thiên Phước năm thứ chín (944) *. Tiền Vương mở tháp, lấy mười sáu
miếng linh cốt toàn màu vàng tía và đạo cụ hơn mười món, đến Phủ Thành –
Long Sơn dựng chùa Long Hoa, đắp tượng đặt thờ. Truyền thuyết nói rằng
Ngài là Di Lặc hóa thân.
* Tấn Cao
Tổ niên hiệu Thiên Phước từ 936-942
Tấn Xuất
Ðế niên hiệu Thiên Phước từ 942-944
28. LƯƠNG VŨ ÐẾ
Lương Vũ Ðế,
tên Tiêu Diễn, hình dung kỳ vĩ, vầng trán chữ nhật, mặt rồng, cổ có ánh
sáng tròn, thân sáng như ánh trời chiều. Nhà ở thường có hơi mây. Thuở nhỏ
hiếu học, từ thi thơ cho đến âm dương bói toán, chiêm đoán, bốc phệ; viết
chữ thảo, chữ lệ trên tờ bồi (xích độc); cung tên, cưỡi ngựa, săn bắn thảy
đều rành rẽ. Tuy lên địa vị to lớn, tay vẫn không rời quyển sách. Về già
thờ phụng Phật đạo. Ngày chỉ ăn một bữa, nếu không có đại hội, yến tiệc,
tế tự Tông Miếu thì không cử nhạc. Khi hành quyết tử tù thì rơi nước mắt.
Chăm lo chính sự, mùa Ðông qua nửa đêm vẫn cầm bút xem xét công việc, tay
bị nứt nẻ; tánh ngay thẳng, ở trong nhà tối cũng mặc áo mão; tháng nóng
chưa hề vén áo, cởi trần, tuy thấy bầy tôi thấp hèn cũng như gặp khách
quan trọng. Niên hiệu Thái Thanh năm thứ ba (549); Hầu Cảnh vây hãm Thành
Ðài; đem năm trăm quân mặc giáp tự vệ, mang kiếm lên trên điện. Vua thần
sắc vẫn không thay đổi, bảo Hầu Cảnh đến giường của bậc Tam Công ngồi, rồi
bảo:
- Khanh ở
trong binh lính lâu ngày không mệt nhọc sao?
Cảnh sợ hãi
không đáp được, lui ra bảo tả hữu rằng:
- Ta mỗi lần
lên ngựa ra trận, tên đá bời bời, không hề hãi sợ. Nay thấy Tiêu Công
khiến người khiếp sợ. Há chẳng phải oai trời khó phạm. Ta chẳng gặp ông ta
nữa.
Sau Lương Vũ
Ðế nằm giường bệnh, ngày đêm niệm Phật luôn miệng. Dần dần chẳng thể đưa
thức ăn, lâu ngày miệng đắng đòi mật, giơ tay nói:
- Hà, hà.
Rồi băng ở
Ðiện Tịnh Cư, thọ 86 tuổi.
29. THỰC XOA NAN ÐỀ
(SIKSÀNANDA)
(GIÁC HỈ)
Dịch kinh
Ðại Hoa Nhiêm
Ban đầu Vũ
hậu (Võ Tắc Thiên) nghe nước Vu Ðiền có Ðại kinh Hoa Nghiêm bằng tiếng
Phạn, bèn sai sứ đến thỉnh, và mời một học giả rành tiếng Phạn cùng về.
Quốc vương Vu
Ðiền đưa Thực Xoa Nan Ðề đến theo lệnh của Vũ Hậu. Tháng 3 năm Ất Mùi
(695); mời vào chùa “Ðại Biến Không” phiên dịch.
30. PHÁP TẠNG
Pháp Tạng họ
Khương người nước Khương Cư. Ban đầu Ðỗ Thuận truyền bản dịch Hoa Nghiêm
Pháp Giới Quán đời Tấn cho Trí Nghiễm. Pháp Tạng hầu hạ Trí Nghiễm rất
lâu, được truyền hết yếu chỉ kinh này. Nghiễm tịch. Pháp Tạng làm cư sĩ
thuyết pháp. Vũ Hậu độ cho làm tăng. Năm Ất Mùi xuống chiếu mời Pháp Tạng
khai thị tông chỉ Hoa Nghiêm. Mới nêu đề tựa kinh, hào quang trắng từ
miệng Ngài lóe ra. Chốc lát biến thành một cái lọng dừng ở trên không.
Vũ Hậu rất
vui ban cho Ngài hiệu là Hiền Thủ. Vũ Hậu vời Pháp Tạng đến chùa Phật Thọ
Ký giảng kinh Tân Hoa Nghiêm, đại địa chấn động cả thời mới dừng. Ngay
ngày ấy, mời đến điện Trường Sanh hỏi về Ðế Võng mười lớp huyền môn.
Pháp Tạng
tuyên thuyết có đầu mối, huyền chỉ thông suốt. Vũ Hậu nghe xong kinh dị.
Pháp Tạng chỉ con sư tử vàng ở góc điện để làm thí dụ cho rõ ràng, đến chỗ
sư tử trên đầu một sợi lông có trăm ức sư tử, Vũ Hậu hoát nhiên liễu ngộ.
31. ÐẠO THỌ
Ðệ tử của
Thần Tú, sau khi đắc pháp kết am tranh trên núi Tam Phong ở Thọ Châu.
Thường có người rừng ăn mặc giản dị, nói năng lạ lùng, có lúc chợt hóa làm
Phật, hoặc cách hình Bồ tát, La Hán, Thiên Tiên ... hoặc phóng hào quang,
hoặc tạo âm vang, học đồ đều không lường được. Sau mười năm, lặng lẽ chẳng
còn chút bóng dáng.
Ðạo Thọ bảo
chúng rằng:
- Người rừng
làm đủ trò khéo léo, mê hoặc mọi người. Lão nhân chả thèm thấy, chẳng thèm
nghe. Cái khéo léo ấy có cùng, còn cái chẳng thấy chẳng nghe của ta vô
tận.
32. HUỆ AN
Huệ An họ Vệ
ở Kinh Châu, xuất gia thọ đại giới, hành hạnh đầu đà. Ðời Ðường niên hiệu
Trinh Quán (627) đến Hoàng mai, yết kiến Hoằng Nhẫn được tâm yếu. Lân Ðức
nguyên niên (664) ẩn cư ở Thạch Bích Chung Nam.
Ở Thạch Bích,
vua Cao Tông xuống chiếu rước, Ngài không đi, rồi dạo khắp các danh thắng.
Ðến Tung Nhạc, Ngài nói:
Ðây là đất
cuối cùng của ta.
Hai vị tăng
Thản Nhiên và Hoài Nhượng đến tham vấn hỏi:
- Thế nào là
ý Tổ Sư từ Tây sang?
- Sao chẳng
hỏi ý của chính mình?
- Thế nào là
ý của chính mình?
- Nên quán
mật tác dụng.
- Thế nào là
quán mật tác dụng?
- Ngài nhắm
mắt mở mắt để dạy.
Năm Ất Mùi,
có chiếu rước Ngài và Thần Tú đến kinh đô, tôn làm Quốc sư. Vũ Hậu thường
hỏi:
- Ngài bao
nhiêu tuổi?
- Chẳng nhớ
thân sanh tử xoay vần, vần xoay không đầu đuôi khởi diệt, huống thức tâm
lưu chú không có gián đoạn. Cái thấy như bọt nước khởi diệt tức là vọng
tưởng. Từ lúc ban đầu đến lúc tướng động diệt cũng chỉ như thế, có năm
tháng nào để nhớ?
Sau Ngài giã
từ cung cấm trở về Tung Nhạc, một hôm chợt bảo môn nhân rằng:
- Ta chết hãy
đem thây vào rừng, đợi lửa rừng đốt.
Ðến ngày 8
tháng 7 đóng cửa ngồi yên mà tịch, thọ 128 tuổi. Môn nhân đem thây vào
rừng. Quả nhiên có rửa lừng tự thiêu cháy, được xá lợi tám mươi viên, năm
viên rất lớn màu hồng tím, sáng chói mắt.
33. ÐẠI SƯ PHÁP THUẬN
Họ Ðỗ, đời
truyền là hóa thân Văn Thù. Sanh ở Ủng Châu. Người bệnh đến trước tòa của
Sư liền được lành. Người điếc, Sư kêu tai liền thông; người câm, Sư nói
chuyện liền nói được. Người điên khùng, Sư ngồi thiền trước họ, họ liền
bái tạ rồi đi.
Ðường Thái
Tông gọi Sư bảo:
- Trẫm nóng
nảy, khổ nhọc, nhờ thần lực của Sư làm sao trị được?
- Chỉ cần ban
lệnh đại xá, thì thánh thể tự an.
Vua theo lời,
bệnh liền khỏi. Nhân đây ban cho Ngài hiệu Ðế Tâm. Thường vời vào cung
cấm, hoằng truyền ý chỉ viên đốn của Hoa Nghiêm, tạo Pháp Giới Quán. Thiên
hạ đều tôn sùng. Thường có kệ pháp thân:
Trâu Gia Châu ăn lúa
Ngựa Ích Châu no bụng.
(Gia Châu ngư khiết hòa
Ích châu mã phúc trường).
Thiên hạ kiếm thầy thuốc
Châm cứu trên vai trái heo.
(Thiên hạ mích y nhân
Cứu trư tả bác thượng).
34. HÒA THƯỢNG VẠN HỒI
Vạn Hồi ở Văn
Hương, họ Trương, tuổi trẻ tiêu ngao, ngông cuồng, làng xóm không ai lường
được. Có anh tên Vạn Niên đi chinh phạt Liêu Tả. Mẹ Ngài mong tin anh.
Ngài nói:
- Việc này
quá dễ.
Rồi từ biệt
mẹ đi, đến chiều trở về, đem theo thư của anh. Lân lý đều kinh ngạc, nhân
đó gọi là Vạn Hồi. Ngài cùng Sa môn Long Hưng và thiếu tướng Ðại Minh kết
giao, thường qua lại nhà. Cấp Gián Minh Sùng Nghiễm ban đêm qua chùa thầy
thần binh đứng hầu hai bên Ngài. Nghiễm kinh hãi.
Một hôm Ngài
sai gia nhân quét dọn nhà cửa nói:
- Có khách
quý tới!
Hôm ấy Huyền
Trang từ Tây Vực trở về đến thăm Ngài. Ngài hỏi thăm phong cảnh Ấn Ðộ rõ
ràng như tự mình trông thấy. Huyền Trang làm lễ đi nhiễu quanh Ngài gọi là
Bồ tát.
Niên hiệu Hàm
Hanh năm thứ tư (673).
Vua Cao Tông
vời Ngài vào cung, độ làm sa môn. Khi ấy có tăng Mông Cổ Phù Phong, trước
ở trong cung, thường nói: “Hồi đến! Hồi đến!” Và Ngài đến. Tăng Mông Cổ
nói:
- Người thay
thế đến, ta sẽ đi.
Nội trong một
tuần Tăng ấy tịch.
Ðến lúc hiển
hóa, Vạn Hồi được ban hiệu là Pháp Vân. Thường có kệ:
Sáng tối cùng quên mở mắt Phật
Chẳng cột một pháp, trổ rừng sen
Chân không chẳng hoại tánh linh tri
Diệu dụng thường còn công vô tác
Trí thánh xưa nay thành Phật đạo
Tịch quang chẳng chiếu tự viên thông.
(Minh ám lưỡng vong khai Phật nhãn
Bất hệ nhất pháp xuất liên tùng
Chân không bất hoại linh tri tánh
Diệu dụng thường tồn vô tác công
Thánh trí bổn lai thành Phật dạo
Tịch quang phi chiếu tự viên thông).
35. CẦU NA BẠT MA (GUNAVARMAM)
Cầu Na Bạt Ma
(Công Ðức Khải) đến Kim Lăng. Ban đầu, bỏ nước xuất gia, quán thông tam
tạng, các vua thuộc quốc đều quy y thọ giới. Ngài dạo nước Ðề Bà, vua nước
này muốn theo Ngài xuất gia, quần thần cố thỉnh nên không thể đi được, bèn
ra lệnh trong nước rằng:
- Nếu mọi
người theo Hòa thượng quy y thọ giới thì ta sẽ theo lời thỉnh.
Vì thế thần
dân nước ấy đều cúi đầu tuân mệnh.
Ðầu niên hiệu
Nguyên Gia (424), Tống Văn Ðế nghe danh Ngài, sai sứ rước về. Ngài vui vẻ
nhận lời ghé thuyền đến Hàng Châu. Ðạo pháp do đây được hưng thịnh. Ngài
mến núi ở đây giống Linh Thứu, bèn lưu lại suốt năm. Trên vách chùa Ngài
vẽ tượng Ðịnh Quang trải tóc ..., ban đêm có hào quang chiếu sáng, Ngài
thường ngồi nhập định trải mấy ngày chẳng ra. Tăng trong chùa sai sa di
hầu hạ. Sa di này bỗng thấy sư tử trắng vờn cột mà giỡn, khắp trời đều có
hoa sen xanh. Sa di cả kinh bỏ chạy và la lớn. Tăng trong chùa đổ xô đến
chẳng thấy gì cả. Niên hiệu Nguyên Gia thứ tám (431) Ngài đến Kim lăng,
vua hỏi:
- Quả nhân
thường muốn trì trai chẳng sát sanh; đem thân tiếp vật, mà chẳng tròn sở
nguyện, xin thầy dạy cho.
Ngài đáp:
- Ðạo tại tâm
chứ không phải nơi việc. Pháp do mình chứ chẳng do người. Hơn nữa, Ðế
vương tu khác với thất phu. Thất phu nếu không khắc kỷ, tiết chế thì còn
làm gì nữa? Còn Ðế vương lấy bốn biển làm nhà, muôn dân làm con. Ban một
lời khen thì sĩ thứ đều vui, công bố một chính sách tốt thì thần dân an
hòa. Hình phạt không chết người, sưu dịch không làm nhọc sức người, thì
mưa gió đúng thời, nóng lạnh hợp tiết, lúa đậu dồi dào, cây trái tốt tươi.
Lấy điều này mà trì trai, trì trai cũng lớn, lấy đây mà chẳng sát sanh,
thì lợi cũng nhiều. Ðâu phải ở chỗ ngày ăn một bữa, bảo toàn tính mệnh cho
một con vật, mới gọi giúp đỡ rộng rãi ư?
Vua vỗ ghế
than rằng:
- Người tục
thì mê những triết lý xa xôi, Tăng thì trệ ở kinh điển thiển cận. Còn như
lời của Thầy, có thể nói gồm cả trời người vậy.
36. PHÁP SƯ HUYỀN CAO
Ngụy Thái Vũ
nghe lời sàm tấu của Thôi Hạo, bắt giam Thái tử Triều. Triều bèn kêu cầu
với Huyền Cao. Ngài làm bài sám Kim Quang Minh cho Triều. Vua mộng thấy
vua cha là Tổ Nhượng nói:
- Chớ nên vì
lời sàm báng mà nghi Thái tử.
Tỉnh dậy, vua
kể lại cho quần thần. Quần thần đều tâu là Thái tử vô tội. Vua thả Thái tử
cho phục quyền như cũ. Thôi Hạo sợ bất lợi cho mình nên tâu vua:
- Trước đây
Thái tử quả thật có âm mưu tạo phản, nhưng cấu kết với Huyền Cao, dùng
pháp thuật đến tiên đế. Bệ hạ nếu không trừ sớm, e có hại lớn.
Vua nổi giận
bắt Huyền Cao và Huệ Sùng thắt cổ.
Huyền Sướng
là đệ tử của Huyền Cao, từ xa chạy đến. Huyền Cao chợt mở mắt nói:
- Ðại pháp
ứng duyên, tùy theo duyên mà thạnh suy, thạnh suy là đối với thân xác chứ
lý thường trạm nhiên. Chỉ tiếc các ông hành như ta vậy. Chỉ có Huyền Sướng
về Nam hóa độ. Các ông chết rồi, giáo pháp sẽ hưng thạnh lại, khéo tự tu
tâm chớ để sau hối hận.
Nói xong liền
chết. Sa môn Pháp Tấn kêu gào:
- Thánh nhân
đã qua đời, tôi còn sống làm chi?
Dứt lời liền
thấy ngài Huyền Cao ở trên không bảo Pháp Tấn rằng:
- Ta chẳng
quên mọi người, chẳng lẻ bỏ mình ông sao?
Pháp Tấn nói:
- Hòa thượng
với Sùng Công sanh về đâu?
Ngài đáp:
- Ta đến cõi
ác để cứu giúp chúng sanh, còn Sùng Công nước An Dưỡng (Cực lạc ).
Nói xong biến
mất. Ngài tịch khoảng 427 - 451 thời Ngụy Vũ đế trị vì.
Lúc Huyền Cao
ở núi Mạch Tịch, nghe Ðàm Vô Sấm đến Lương, liền đến thờ làm thầy. Qua một
tuần liền ngộ. Vô Sấm tán thán cho là hơn mình. Ngụy Vũ sai sứ rước Huyền
Cao làm thầy Thái tử Triều, môn nhân đắc pháp rất đông. Ngài có một đệ tử
tên Tăng Ấn, tự nói mình đắc quả A la hán. Lúc mới nhập hạ, Ngài liền dùng
thần lực khiến Tăng Ấn trong định thấy mười phương vô tận thế giới và nghe
chẳng phải thuyết pháp, mỗi mỗi chẳng đồng. Cả một hạ đó tìm chỗ thấy này
chẳng dứt, bèn sanh lòng hổ thẹn sám hối.
37. PHÁP SƯ HUỆ ƯỚC
Huệ Ước họ
Sổ, lúc trẻ đạo đức đã vang xa, tổ tiên là Cấp sự Trung Sổ Ấu Du, mỗi lần
thấy Huệ Ước đến thì đứng lên làm lễ. Có người hỏi:
- Ðây là hạng
con cháu của ông, sao ông lại cung kính thế?
Du đáp:
- Ðây là Bồ
tát ra đời sẽ làm thầy trong thiên hạ, há chỉ có mình lão phu kính mà thôi
sao?
Lương Vũ Ðế
thỉnh Ngài ở trong cung. Ngày mồng 8 tháng 4 năm thứ mười tám (520) niên
hiệu Thiên Giám. Vua thọ giới Bồ tát với Ngài, rồi thiết lập đại hội vô
giá. Ngày ấy chợt có cam lộ rưới xuống sân. Ba chim Túc Ðiểu và hai chim
Khổng Tước nằm đậu trên thềm. Thái tử và các vương tử công khanh, đạo tục
theo Ngài thọ giới đến bốn vạn tám ngàn người. Nhân đây vua đại xá thiên
hạ.
Nguyên hiệu
Ðại Ðồng nguyên niên (546), tháng 9, Huệ Ước có chút bệnh. Vũ Ðế cho người
đến hỏi thăm. Ngài nói:
- Ðêm nay sẽ
đi.
Ðến canh năm,
hương lạ đầy nhà, môn nhân lặng đứng. Ngài dạy:
- Hễ có sanh
thì có tử, đó là việc thường. Hãy siêng năng tu niệm huệ, chớ khởi loạn
tưởng.
Nói xong,
chắp tay mà tịch. Trâu xanh Ngài thường cỡi, rơi lệ kêu rống không thôi.
Một đôi hạc trắng từ lúc dựng tháp, bay quanh kêu thương, tiếng rất thê
thảm. Sau ba ngày, bay đi.
38. PHÁP SƯ ÐÀM LOAN
Ðàm Loan, ở
Ðông Ngụy, xuất gia chí muốn được trường thọ. Sau tu Phật pháp, nghe ẩn sĩ
Ðào Hoằng Cảnh ở Giang Nam có tiên thuật. Liền đến nước Lương yết kiến
Cảnh. Cảnh vui vẻ truyền cho mười cuốn phép tiên. Ông trở về Ngụy đến Lạc
Dương, gặp Bồ Ðề Lưu Chi bèn hỏi:
- Trong Phật
pháp có phép trường sinh bất tử không?
Ðáp:
- Sao lại nói
vậy? Ðất này từng có phép trường sinh? Dù được ít lâu cũng chết, lại vẫn
luân hồi.
Rồi Bồ Ðề Lưu
Chi bèn truyền cho ông Quán kinh nói:
- Ðây là
trường sinh thuộc họ Kim Tiên của ta vậy. Y theo đây mà tu, sẽ ra khỏi
sanh tử vĩnh viễn.
Ðàm Loan bèn
đốt kinh Tiên chuyên tu Tịnh độ.
Ngụy chủ gọi
Ngài là Thần Loan. Niên hiệu Hưng Hòa năm thứ tư (542) thấy hương, hoa,
tràng phan đến rước, thản nhiên mà tịch.
39. PHÁP SƯ KHUY CƠ
Thời Ðường
Thái Tông là thời kỳ Phật giáo Trung Quốc phát huy rực rỡ, sự tích đại sư
Huyền Trang thỉnh kinh, thấu qua sự tường thuật được thần thoại hóa trong
Tây Du ký, cũng đã thành câu chuyện truyền khắp mọi nhà.
Lúc thỉnh
kinh từ Ấn Ðộ trở về, Sư có thâu được một đồ đệ rất lý thú: Pháp sư Khuy
Cơ (còn gọi là pháp sư Ba Xe).
Pháp sư Khuy
Cơ từ bé đã thông minh lanh lợi, xuất thân trong gia đình phú quý, chú là
đại tướng của vua Thái Tông, tức là Ngạc Quốc Công Cảnh Ðức. Ngài là con
của tướng quân Kim Ngô Vệ Kính Tông, mẹ nằm mộng thấy cầm mặt trăng nuốt
vào bụng rồi có thai. Chiều sanh Ngài, hào quang đầy nhà. Sáu tuổi đã viết
sách. Ban đầu, Huyền Trang qua Tây Vực được một cậu bé, dĩnh ngộ tuyệt
luân, nhân Huyền Trang bế đến Kính Tông, Tông gọi Khuy Cơ ra chào Huyền
Trang. Nhân Kính Tông sai tụng binh thư của Cơ làm, mấy ngàn lời. Huyền
Trang đếm đề mục. Ðợi đồng tử và Khuy Cơ tụng xong. Bèn nói gạt rằng:
- Ðây là sách
cổ.
Rồi bảo đồng
tử Tây Vực che lại, đọc không sót một chữ. Kính Tông nổi giận, cho là Khuy
Cơ trộm sách cổ để gạt, đòi giết. Huyền Trang xin cho Ngài xuất gia. Ngài
đưa ra ba điều kiện: Ðời sống xuất gia rất khổ cực, Ngài đòi mang theo một
xe vàng ròng; rất ham đọc sách, Ngài đòi mang một xe sách vở; Ngài lại đòi
mang theo một xe mỹ nữ để hầu hạ mình, vì thế người đời gọi Ngài là “Pháp
sư ba xe”.
Tuy bấy giờ
bị người dị nghị, nhưng cuối cùng pháp sư Khuy Cơ trở thành một Cao tăng
đương thời, Ngài rất giỏi cả Ðại thừa và Tiểu thừa. Niên hiệu Vĩnh Huy thứ
năm (654) vua Cao Tông đặc biệt xuống chiếu chỉ cho Khuy Cơ làm Ðại tăng,
vào chùa Ðại Từ Ân, tham gia dịch chánh nghĩa của kinh. Khuy Cơ bèn theo
Huyền Trang thọ tông chỉ Du Già Duy Thức. Tạo luận đến 100 bộ, người đời
gọi là Bách Bổn Luận Sư, ngoài ra còn có trước tác 25 bộ 118 quyên về các
kinh Pháp Hoa Huyền Tán ...
Có một tắc
công án rất nổi tiếng phát sanh từ Ngài. Luật sư Ðạo Tuyên ở núi Chung Nam
là Sơ Tổ của Luật Tông. Ngài trì giới tinh nghiêm, ngày ăn một bữa, cảm
động lòng trời, có chư Thiên cúng dường. Do đó, không cần ôm bát khất
thực, đến giờ cơm, thiên nhân tự nhiên cúng dường.
Một hôm, pháp
sư Khuy Cơ đi qua Chung Nam, nghe đồn luật sư ÐạoTuyên ở đây tinh tấn,
muốn lên núi bái phỏng. Luật sư Ðạo Tuyên nghe Pháp sư Khuy Cơ muốn đến,
đối với học vấn của khuy Cơ, đương nhiên Sư rất bội phục, nhưng đối với
lối sống của Ngài thì Sư sanh tâm coi thường. Do đó, Sư định chờ cơ hội
này khuyên bảo pháp sư Khuy Cơ, cho ông xem thấy Thánh cảnh chư Thiên đưa
thức ăn cúng dường vào giữa ngọ để phô bày sự cảm ứng do đức hạnh nghiêm
trì giới luật của mình. Ðâu dè giờ ngọ đã qua mà Thiên nhân chẳng đem thức
cúng dường đến. Khi pháp sư Khuy Cơ đi rồi, giờ ngọ hôm sau, thiên nhân
mới đem cúng dường. Luật sư Ðạo Tuyên bèn hỏi:
- Hôm qua sao
không cúng dường?
Thiên nhân
thưa:
- Hôm qua có
Bồ tát Ðại thừa ở đây, thần Hộ pháp vây quanh núi này nghiêm mật, tôi vào
chẳng được!
Luật sư Ðạo
Tuyên toát mồ hôi, lập tức sanh lòng sám hối.
Khuy Cơ người
to lớn, cao tám thước (Tàu), khí thế trùm vạn người. Trên gáy có ngọc
chẩm; mười ngón tay có vân xoay tròn rõ ràng như ấn. Người thấy nể phục.
Lòng từ thiện dạy người. Về già cầu sanh nội viện, nên hết lòng giữ giới.
Ban đầu Vô
Trước và Thiên Thân ở Thiên Trúc, lên trời Ðâu Suất tham hỏi tông chỉ Duy
thức với đức Từ Thị, rồi cùng nhau tạo luận. Nước ấy có Thánh hiền hoằng
dương giáo pháp này. Ðến luận sư Giới Hiền truyền cho Huyền Trang. Huyền
Trang truyền cho Khuy Cơ. Khuy Cơ tạo sớ luận giải thích rộng rãi. Gọi là
Từ Ân giáo.
Niên hiệu
Vĩnh Thuần năm đầu (682) Khuy Cơ nhập diệt, thọ 50 tuổi, là năm Võ Hậu lên
ngôi.
40. THẦN TÚ
Thần Tú họ Lý
quê ở Khai Phong. Thân cao tám thước, mày đẹp tai to. Lúc nhỏ theo Nho
giáo học rộng biết nhiều. Sau bỗng đến Hoàng Mai gặp Hoằng Nhẫn bèn thán
phục nói:
- Ðây thật là
thầy ta.
Hầu hạ Ngũ Tổ
sáu năm. Ngũ Tổ biết là pháp khí, bảo:
- Ta độ người
rất nhiều, mà kẻ ngộ giải chưa ai bằng ông.
Rồi sai phân
tòa thuyết pháp. Phía đông cách chùa bảy dặm, đất bằng phẳng, núi hùng vĩ.
Thần Tú nói:
- Ðây chính
là ngọn cô phong Lăng Già, là độ môn Lan Nhã, bóng tùng thảm cỏ, ta về già
sẽ đến đó vậy.
Thần Tú trụ ở
Ðương Dương, Võ Hậu xuống chiếu rước về kinh đô, cùng Huệ An ở trong đạo
trường để cúng dường.
Tú thường có
kệ:
Tất cả Phật pháp
Tự tâm sẵn có
Ðem tâm cầu ngoài
Bỏ cha chạy trốn.
(Nhất thiết Phật pháp)
Tự tâm bổn hữu
Tương tâm ngoại cầu
Xả phụ đào tẩu).
Thần Tú
thường tâu Vũ Hậu thỉnh Huệ Năng đến cung. Năng cố từ chối. Thần Tú lại tự
viết thơ mời nữa. Huệ Năng bảo sứ rằng:
- Ta hình
dung xấu xí. Ở đó thấy ta, sợ chẳng kính pháp ta. Hơn nữa, thầy ta bảo ta
có duyên miền Nam, không thể trái lời.
Và từ chối
không đi.
Thần Tú ở
Ðông đô, thiên hạ gọi là Pháp chủ Lưỡng kinh, Môn sư Tam Ðế. Niên hiệu
Thần Long năm thứ hai (706) ngày 2 tháng 2 Ngài nhập diệt, hiệu Ðạo Thông.
Ngài sanh cuối đời Tùy hơn 100 tuổi. Chưa hề tụ nói nên mọi người không rõ
biết là bao nhiêu.
41. THIỀN SƯ NHÂN KIỆM
Nhân Kiệm tức Hòa thượng Ðằng Ðằng, tháng tư năm Nhâm Thìn (692), Vũ Hậu
xuống chiếu rước vào cung. Ngài đến nhìn Thái Hậu im lặng giây lâu nói:
- Hội chăng?
- Không hội.
- Lão tăng giữ giới không nói.
Nói xong bỏ đi. Có làm 19 bài ca ngắn, có bài:
Tu đạo, đạo chẳng thể tu.
Hỏi pháp, pháp không thể hỏi.
Người mê chẳng rỏ sắc không.
Người ngộ vốn không nghịch thuận.
Tâm vạn bốn ngàn pháp môn.
Chí lý không rời gang tấc.
Biết giữ thành quách nhà mình.
Chớ dối tìm châu quận khác.
Chẳng cần học rộng nghe nhiều.
Chẳng cốt biện tài, thông suốt.
Chẳng biết tháng này đủ thiếu:
Chẳng quản năm này dư nhuận.
Phiền não tức là Bồ đề.
Hoa sạch sanh trong bùn phẩn.
Ngài đến hỏi ta thế nào?
Chẳng thể cùng y đàm luận.
Sáng sớm dùng cháo đỡ đói.
Ðúng ngọ ăn thêm một bận.
Hôm nay nhậm vận đằng đằng.
Ngày mai đằng đằng nhậm vận.
Trong tâm rõ ràng biết hết.
Hãy làm ngu ngơ ám độn.
42. HUỆ KHOAN ÐẠI SƯ
Huệ Khoan họ Dương, người Ích Châu. Cha là Dương Vĩ làm đạo sĩ hiệu Tam
Ðộng Tiên sinh, có chị là Tín Tướng mới sanh đã biết đạo, trọn ngày thiền
tịch. Năm sáu tuổi Huệ Khoan hàng ngày cùng chị luận bàn đạo lý, người
nghe không ai hiểu. Gia thế theo đạo Lão, một mình Khoan chẳng vui. Cha
quở mắng bắt lạy Thiên Tôn. Ngài bất đắc dĩ lễ bái, tượng đồng bỗng đổ
xuống vỡ ra. Thân tộc kinh dị, nhân đó chép ngôn cú đã luận. Trước là
thiền sư Ðàm Tướng ở chùa Long Hoài, lúc lâm chung bảo đệ tử tên Hội rằng:
- Ta bảo duyên sẽ sanh vào nhà họ Dương, ở đỉnh núi Miên Trúc, Quảng Hán.
Sau bảy năm hãy đến gặp ta.
Nói xong thị tịch. Sau Hội nằm mộng thấy Ðàm Tướng trách mình lỗi hẹn. Hội
thất kinh tỉnh dậy liền đến đỉnh núi gõ cửa. Khoan hỏi:
- Ai gõ cửa?
Hội thưa:
- Dạ, đệ tử là Hội.
Khoan cười nói:
- Làm sao biết ta mà xưng là đệ tử?
Hội thưa:
- Nghe tiếng Thầy giống tiếng ngày xưa.
Ngài bèn ra gặp. Người cha đem những lời ghi chép sự đàm luận của Ngài và
Tín Tướng ra, Ngài dạy là luận Ðại Trang Nghiêm.
Hội liền rước Ngài về chùa Long Hoài xuống tóc, khi ấy mười ba tuổi, Hội
kính sợ như thần. Chúng ở Long Hoài ba ngàn người, Hội đều đích thân tận
lực làm, Huệ Khoan một mình nhàn nhã. Mọi người bàn tán, Hội nói:
- Ðây là tiên sư của ta. Do đó đã đầy đủ đạo đức.
Từ đây thần dị ngày một hiển lộ. Người đời gọi là Hòa thượng Thánh. Niên
hiệu Vĩnh Huy năm thứ tư (653) ngày 25 tháng 6, Ngài Thị tịch.
Người đời cho là ứng thân Quan Thế Âm.
43. BÁ TRƯỢNG HOÀI HẢI
Sư nói:
- Ở đất Thánh mà tập phàm. Vì Phật vào trong chúng sanh, thị hiện đồng
loại để dẫn dắt vỗ về và cùng loài với ngạ qủy, thân thể bị lửa đốt,
thuyết cho chúng Bát Nhã Ba la mật, khiến chúng phát tâm. Nếu cứ ở mãi đất
thánh thì nương vào đâu mà nói chuyện với chúng được. Phật vào chốn khổ
cũng đồng như chúng sanh chịu khổ, chỉ khác là đi đứng tự do không giống
chúng sanh.
Sư trụ ở Bá Trượng, thấy luật Thiền Tông từ Thiếu Thất đến Tào Khê, phần
nhiều nương theo luật chùa. Thuyết pháp, trụ trì, chưa có quy củ. Ngài bèn
than:
- Nếu muốn Tổ đạo truyền bá chẳng mất, há nên theo hạnh của Tiểu thừa sao?
Vì thế Ngài sáng lập Thiền cư, hễ người đủ đạo nhãn, đức đáng tôn trọng
thì gọi là Trưởng lão. Ai làm Hóa chủ thì ở phương trượng, không lập điện
Phật, chỉ tạo Pháp đường. Học chúng bao nhiêu đều vào trong tăng đường
hết, y theo tuổi hạ an bài. Ðặt giường nối dài, khi nằm thì gối xéo, quay
bên phải theo thế kiết tường mà ngủ. Khi vào thất thỉnh ích dù người học
siêng hay lười, hoặc lớn hoặc chẳng câu nệ theo lệ thường. Tất cả đại
chúng trong viện, sáng tham thỉnh chiều nhóm họp, trưởng lão thượng đường,
thăng tọa, chủ sự theo chúng thứ tự đứng lắng nghe. Khách chủ vấn đáp,
kích dương tông yếu, ngày hai buổi cơm cháo, tùy chúng chia đều. Thi hành
pháp phổ thỉnh, đặt mười nhà vụ liêu. Mỗi nhà một người cầm đầu trông coi
nhiều người, để cho mỗi ty thuộc trong nhóm, có ai giả hiệu, trộm hình lẫn
lộn trong thanh chúng, gây sự quấy nhiễu người khác, duy na sẽ đưa lên,
kéo ra khỏi bổn vị quải tháp (khi được nhận vào chúng, gọi là cho quải
tháp), tẫn xuất đuổi ra khỏi viện. Hoặc người kia xúc phạm, như lấy gậy
đánh, thì nhóm chúng đốt y bát đạo cụ, đuổi ra theo cửa bên, coi như để sỉ
nhục.
44. ÐÀM TẠNG
Nối pháp MÃ TỔ - Ẩn cư HÀNH NHẠC
Ðàm Tạng thọ tâm ấn ở Mã Tổ, sau yết kiến Thạch Ðầu được thấu triệt. Niên
hiệu Trinh Nguyên năm thứ hai, Sư ở ẩn trên chót đảnh Hành nhạc, ít người
đến tham phỏng. Sau vì đau chân, mới dời đến ở Tây Viên; các thiền khách
đến thăm viếng ngày càng đông. Một hôm tự nấu nước tắm, tăng hỏi:
- Sao không sai Sa di?
Sư liền vỗ tay ba cái. Sư thường nuôi một con Linh Cẩu. Ðêm đêm đi kinh
hành, khi nào chó kéo áo thì mới trở về phương trượng, còn chó thì nằm bên
cửa canh. Một đêm nó sủa đổng, chồm lên dữ tợn, đến sáng thấy phía đông
nhà bếp có một con trăn lớn dài mấy trượng há miệng thở phì, hơi độc xông
ra, thị giả thỉnh Sư tránh chỗ khác. Sư nói:
- Cái chết có thể trốn được sao? Nó đem độc đến, tôi dùng lòng từ để nhận,
độc không thực tánh, kích phát thì nó mạnh, còn lòng từ vô duyên, oán thân
một đạo
Sư nói xong, trăn cúi đầu từ từ bò đi, chốc lát không thấy nữa.
Một tối có ăn trộm đến, chó cũng cắn y của Sư. Sư bảo ăn trộm:
- Nhà tranh có vật gì ưng ý cứ việc lấy đi, ta chẳng tiếc gì.
Ăn trộm cảm lời Ngài, cúi lạy giải tán.
45. BẢO TÍCH
Ban đầu tham Mã Tổ, làm nhai phường (*). Một hôm đi giữa chợ gặp một người
khách mua thịt heo, bảo hàng thịt rằng:
- Lựa miếng ngon, cắt cho một ký.
Hàng thịt buông dao vòng tay nói:
- Trưởng Sứ! Có miếng nào mà không ngon?
Bảo Tích có tỉnh. Lại một hôm Sư ra cửa gặp đám ma. Một người cầm linh
khua hát:
Mặt trời nhất định lặn về Tây
Chưa rõ linh hồn đến phương nào?
(Hồng luân quyết định trầm Tây khứ.
Vị thẩm hồn linh vãng na phương?)
Ngay lúc đó tang gia đang kêu khóc bi ai dưới màn, Bảo Tích mừng rỡ cả
thân tâm, trở về kể lại cho Mã Tổ, Tổ ấn khả. Sau trụ Bàn Sơn.
(*) Nhai phường: Có nhiệm vụ vào chợ búa để xin vật dụng cho đại chúng.
46. THIỀN SƯ
MINH TOẢN Thuyết pháp HÀNH NHẠC
Minh Toản tức Lại Tàn, chấp dịch ở Hành Nhạc, nhặt đồ thừa mà ăn. Tánh Sư
lười biếng, ăn đồ thừa nên có hiệu là Lại Tàn. Tể tướng Lý Bí đề cao đức
hạnh của Sư lên vua Ðức Tông, vua sai chiếu mời. Sứ giả đến hang đá tuyên
chiếu vua nói:
- Tôn giả hãy đứng lên tạ ơn vua.
Toản làm thinh, mũi dãi lòng thòng. Sứ giả trông thấy cười bảo Ngài chùi
mũi. Toản nói:
Ta hơi sức đâu mà vì người đời chùi mũi.
Rồi không chịu đi.
Thích Sử sắp tế thần núi, lo sửa đường lên. Nửa đêm sấm gió, một khối đá
to rơi xuống chắn ngang đường. Người sửa đường đem mười trâu đến kéo, lại
thêm mấy trăm người giup mà hòn đá không nhúc nhích. Sư cười nói:
- Chẳng phiền nhiều sức. Rồi lấy chân đạp đá, đá lăn tròn rồi rơi xuống,
tiếng như sấm nổ. Ðường được khai thông, mọi người xem Sư như thần. Ngoài
cổng chùa, cọp beo chợt họp thành bầy. Sư bảo chúng tăng:
- Tôi sẽ đuổi sạch chúng cho các ông. Ðưa roi đây!
Chúng lấy roi đưa, Sư vừa ra khỏi chùa. Một con cọp vội vàng vâng lệnh Sư
bỏ đi, hổ beo cũng theo đó mà dứt tuyệt dấu vết.
Sư thường có bài ca:
Ngơ ngơ vô sự
không cải đổi
Vô sự đâu cần
luận một đoạn
Trực tâm không
tán loạn,
Việc khác chẳng
cần đoạn.
Quá khứ đã qua đi
Vị lai vẫn chẳng
tính
Ngơ ngơ vô sự
ngồi
Ðâu từng có người
gọi.
Hướng ngoại tìm
công phu
Ðều là tên ngu
ngôc.
Lương chẳng chứa
một hột
Gặp cơm chỉ biết
kêu.
Người đa sự ở
đời,
Ðuổi theo mà
chẳng kịp.
Ta chẳng ưa lên
trời,
Cũng chẳng thích
ruộng phước.
Ðói đến ăn cơm,
Mệt đến thì ngủ.
Người ngu cười
ta,
Mà người trí
biết.
Chẳng phải si
độn,
Thể vốn như
nhiên.
Cần đi thì đi,
Cần đứng thì
đứng,
Thân khoác manh
áo rách,
Chân mặc khố mẹ
sanh.
Nhiều lời và lắm
lẽ
Chỉ làm hiểu lầm
nhau.
Nếu muốn độ chúng
sanh,
Không gì hơn tự
độ.
Chớ báng Phật
thiên chân
Chân Phật chẳng
thể thấy.
Diệu tánh và linh
đài
Ðâu cần chịu rèn
luyện.
Tâm là tâm vô sư
Mặt là mặt mẹ
sanh.
Kiếp thạch có di
động,
Trong đây không
cải biến.
Vô sự vốn vô sự
Ðâu cần đọc văn
tự,
Dẹp trừ gốc nhân
ngã,
Thầm hợp ý trong
này.
Các thứ nhọc gân
cốt,
Chẳng bằng ngủ
trong rừng
Ngơ ngơ ngẩng đầu
nhìn,
Mặt trời lên cao.
Ăn thức ăn thừa
Ðem công dụng
công,
Dần dà mờ tối.
Nắm lấy chẳng
được,
Không nắm tự
thông.
Ta có một lời,
Dứt nghĩ, quên
duyên,
Nói khéo chẳng
được,
Chỉ đem tâm
truyền.
Lại có một lời,
Chẳng qua cho
thẳng,
Nhỏ như mảy lông,
Lớn không nơi
chốn.
Vốn tự viên
thành,
Chẳng nhọc thêu
dệt.
Thế sự mang mang,
Chẳng bằng non
núi,
Tùng xanh che
trời,
Suối biếc chảy
dài,
Mây núi đang
giăng,
Trăng đêm làm
móc,
Nằm dưới dây leo.
Gối đầu tảng đá.
Chẳng chầu thiên
tử.
Há khoái vương
hầu.
Sanh tử chẳng lo,
Còn lo gì nữa?
Trăng nước không
hình.
Ta thường chỉ an,
Vạn pháp đều vậy
Vốn tự vô sanh.
Ngơ ngơ vô sự
ngồi,
Xuân đến cỏ tự
xanh.
Lửa phân bò chỉ
biết màu vàng đẹp mà thôi.
Móc bạc đâu rành
bùn tía mới
Còn chẳng có tâm
chùi mũi dãi
Há có công phu
hỏi người tục.
(Phẩn hỏa đản tri
hoàng độc mỹ
Ngân câu na thức
tử nê tân
Thượng vô tâm tự
thu hàn thế
Khởi hữu công phu
vấn tục nhân).
47. ẨN SỸ LÝ
NGUYÊN Thăm TỲ KHEO Viên Trạch
Xưa An Lộc Sơn vây hãm Ðông Thành, Lý Ðăng bị cầm giữa đến chết. Lý Nguyên
là con, phẫn chí tự thề không làm quan, không lấy vợ, không ăn thịt, bỏ
nha làm chùa Huệ Lâm. Tăng trong chùa là Viên Trạch, kết bạn với Nguyên
rồi dẫn nhau đi dạo Nga Mi. Nguyên muốn đi từ Kinh Châu qua sông Tố lên
đường núi, còn Trạch muốn đi theo đường Tà Cốc Trường An. Nguyên nói:
Tôi đã dứt việc đời, há trở lại đường kinh sư sao?
Trạch làm thinh, hồi lâu nói:
- Ði đứng cố nhiên chẳng do ý người.
Bèn đi theo đường Kinh Châu, thuyền đến Nam Phổ, thấy một người đàn bà mặc
quần gấm múc nước. Trạch chỉ và khóc nói:
- Tôi không muốn đi đường này cũng vì bà ta.
Nguyên cả kinh hỏi. Trạch nói:
- Bà này họ Vương, tôi sẽ làm con bà. Bà mang thai ba năm rồi, vì tôi
không đến nên không sanh được. Nay đã thấy thì không còn trốn thoát được.
Ông nên dùng phù chú nguyện giúp tôi sanh mau. Ba ngày sau, lúc tắm đứa
bé, mong ông đến với tôi, tôi sẽ cười để làm tin. Và sau mười ba năm, dưới
trăng Trung thu, phía ngoài chùa Thiên Trúc ở Hàng Châu sẽ cùng ông tương
kiến. Tôi đã ba đời làm Tỳ kheo tu tập Thiền, ở sông Tương phía Tây chùa
Nhạc Lộc có hòn đá to, tôi tọa thiền trên đó.
Nguyên nghe xong thương xót hối hận. Ðến chiều thì Trạch chết. Người đàn
bà sanh được ba ngày thì Nguyên đến xem, đứa bé quả nhiên cười. Sau đến kỳ
hạn, Nguyên đến chỗ hẹn ước, nghe bên bờ sông Cát Hồng có mục đồng gõ sừng
trâu mà ca rằng:
Ba năm trên đá
tinh hồn cũ
hưởng trăng, vịnh
gió chẳng cần bàn
Hổ thẹn tình
người xa đến viếng
Thân này tuy khác
tánh còn nguyên.
(Tam sinh thạch
thượng cựu tinh hồn
Thưởng nguyệt, ngâm
phong bất yếu luận
Tàm quý tình nhân
viễn tương phỏng
Thử thân tuy dị tánh
thường tồn).
Nguyên bèn gọi:
- Trạch Công mạnh không?
Ðáp rằng:
- Chân tín sĩ Lý Công! Ông duyên tục chưa hết, cẩn thận chớ gần nhau, chỉ
chuyên cần tu thì chẳng đọa. Rồi sẽ gặp nhau nữa.
Lại ca ràng:
Thân trước thân
sau sự mịt mùng
Muốn nói nhân
duyên sợ điếng lòng
Ngô Việt núi sông
tìm đã khắp
Khua chèo trở lại
đến Cù Ðường.
(Thân tiền thân hậu
sự mang mang
Dục thoại nhân duyên
khủng đoạn trường
Ngô Việt sơn xuyên
tầm dĩ biến
Khước hồi yên trạo
thướng Cù Ðường).
Rồi ẩn mất không thấy nữa. Nguyên ở chùa hơn ba mươi năm, chết lúc hơn tám
mươi.
48. THIỀN SƯ PHÁP KHÂM
Pháp Khâm họ Chu ở Côn Sơn, theo Nho nghiệp. Lúc mẹ Ngài mang thai, nằm
mộng thấy hoa sen mọc ở then cửa, bà lấy một bông cột vào thắt lưng. Tỉnh
giấc, không ưa ăn mặn và sanh ra Ngài. Ngài hình dung kỳ vỹ, thần sắc sáng
rỡ, ưa lấy Phật sự để nô đùa. Năm 22 tuổi về kinh ứng thí. Vì đi đường bộ
nên ghé nghỉ ở chùa Hạc Lâm. Huyền Sách trông thấy lấy làm kinh dị hỏi:
- Ông làm gì?
- Mong lên kinh đô làm quan.
- Tuy có tước ngũ đẳng đâu bằng làm bậc tôn quý trong tam giới.
- Học được chăng?
- Xem thần khí của ông thì ông thuộc loại sanh ra đã biết. Nếu chịu xuất
gia, sẽ ngộ tri kiến của Như Lai.
Pháp Khâm bèn xé bỏ sách vở, khắc khổ thân cận, nương theo Huyền Sách tu
tập. Sách thầm nhậm là pháp thí, bảo với môn nhân Pháp Cảnh rằng:
- Gã này sẽ hoằng dương rộng lớn pháp của ta, là bậc Thầy người.
Pháp Khâm ngày đêm gắng gỏi, tam học đều tinh thông. Một hôm thỉnh Huyền
Sách chỉ dạy pháp yếu. Huyền Sách bảo:
- Không người nào được pháp của ta.
- lấy gì để truyền.
Pháp Khâm chóng dứt các nghi trệ. Sau từ giã ra đi. Huyền Sách nói:
- Ông theo dòng mà đến, gặp “kính” thì dừng.
Pháp Khâm bèn đi về Nam, thọ đại giới ở chùa Long Tuyền Dư Hàng, rồi đến
Lâm An ở phía Ðông Bắc một ngọn núi, hỏi tiều phu rằng:
- Ðây là núi gì?
- Ðây là núi Kính Sơn.
Sư bèn trụ ở đây. Có tăng hỏi:
- Thế nào là đạo?
Pháp Khâm bảo:
- Trên núi có con cá Lý Ngư, dưới đáy nước có bụi dấy.
Mã Tổ sai người đem thư đến. Trong thư vẽ một vòng tròn. Pháp Khâm mở xem,
vẽ vào vòng tròn rồi gởi trả.
Mã Tổ lại sai Trí Tạng đến hỏi:
- Trong mười hai giờ, lấy gì làm cảnh?
- Ðợi lúc ông đi về, ta sẽ có tin.
- Về ngay bây giờ.
- Nhắn lại phải hỏi Tào Khê.
Vua Ðại Tông lưu tâm đến Không môn khiến các đạo sĩ sanh lòng đố kỵ. Tháng
9 niên hiệu Ðại Lịch năm thứ ba (768). Ðạo sĩ Sử Hoa tâu xin cùng họ Thích
đấu phép. Bèn ở Ðông Minh Quán, đặt giá dao làm thang, Sử Hoa leo lên đi
như trên đường đá. Các tăng lữ nhìn nhau không dám bước lên. Khi ấy Sa môn
Sùng Huệ ở chùa Chương Kính vâng lịnh vua, ở trên cây trong sân chùa, dựng
một cái thang, bậc toàn mũi nhọn, sắc trắng như sương, cao hơn thang ở
Ðông Minh Quán cả trăm thước. Sùng Huệ đi chân không mà lên, đến mút thang
dừng lại, leo xuống như đi trên đất bằng rồi đạp trên lửa hừng, thử dầu
sôi, ăn miếng sắt, nuốt đinh. Các đạo sĩ trông thấy toát mồ hôi ướt áo bỏ
chạy. Mọi người hoan nghinh, tiếng đồn như sấm. Vua càng thêm kính trọng
xuống chiếu ủy lạo, khen ngợi mấy lượt, ban tử y và gọi là Hộ Quốc Tam
Tạng, vời vào cung hỏi:
- Sư đệ tử ai?
- Cao tăng Pháp Khâm núi Kính Sơn là thầy của hạ thần. Thần chưa đủ giới
pháp, không dám nhận tử y.
Vua đặc biệt ra lệnh mở đàn giới. Vừa Yết ma, Sùng Huệ ẩn thân trên đàn,
không biết ở đâu. Vua càng kinh dị, bèn lễ Pháp Khâm làm thầy, sai nội thị
cầm chiếu chỉ đi thỉnh. Sư đến, vua đích thân đi đón và hỏi pháp, làm lễ
đệ tử.
Pháp Khâm một hôm ngồi trong sân trong, thấy vua đến liền đứng lên. Vua
hỏi:
- Vì sao Sư đứng lên?
Sư đáp:
- Ðàn việt đâu được ở trên bốn oai nghi mà thấy bần đạo.
Vua đẹp lòng ban hiệu là Quốc Nhất. Chẳng bao lâu Sư muốn từ biệt đi. Vua
nói:
Chúng sanh ở đây có người đáng độ, chúng sanh kia há có khác sao?
Pháp Khâm đáp:
- Thực không có pháp để độ chúng sanh.
Pháp Khâm ở kinh đô chỉ một năm. Vua Ðại Tông mỗi lần ban tơ lụa, dọn ngự
tuyển Sư đều không nhận, chỉ mặc áo vải, ăn rau, đồ dùng bằng sành như lúc
thường. Tướng Quốc Dương Oản thấy thế khen:
- Ðây là bậc cao sĩ phương ngoại, khó được danh như thế.
Thôi Triệu Công Quần thường hỏi Ngài:
- Ðệ tử xuất gia được chăng?
Ngài đáp:
- Xuất gia là việc của đại trượng phu. Há dũng tướng mà làm được.
Quần khen ngợi lời này. Rồi Ngài từ giã trở về núi cũ.
Sư từ Trường An trở về Kính Sơn. Về sau Thích Sử mời về chùa Long Hưng ở
Hàng Châu. Pháp Khâm bèn qua lại nơi đó, chẳng chọn chỗ ở nhất định. Ngày
28 tháng 12 niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tám (792) Sư thị tịch ở Long
Hưng. Trước đó ba ngày, Sư bảo chúng:
Nên chôn ta ở hố đất ngoài sân phía Nam, đừng làm quan tài sợ làm trở ngại
đất trồng rau của tăng đồ.
Sư thọ 92 tuổi, 70 tuổi hạ. Bi nguyện của Sư sâu rộng, ai thấy mặt nghe
danh đều như con được mẹ. Vì thế phía Ðông đến núi Thái Sơn giáp biển,
phía Tây đến Lũng Thục, phía Nam tiếp Giao Quảng, phía Bắc đến tận phương
Bắc (Sóc Phương). Người học đạo thảy đều kính mộ quay về. Người tham học
đều coi Sư là Công Ðức Sơn, đến cả trời rồng cùng quy kính hướng về loài
khác quy y, đất mọc cỏ Linh Chi, trên trời mưa Cam Lộ. Ðèn Thánh soi đêm,
mây gấm sáng vờn, mãnh thú ở một bên, chim chóc tụ đầy thất đến ăn trên
tay Sư. Có hai thỏ trắng quỳ lạy trong phương trượng, một gà thường theo
nghe pháp, chẳng ăn vật sống. Khi Ngài đến Trường An, nó kêu suốt ba ngày
mà chết. Một con vượn cũng thường ở trong thiền thất, chẳng đi đâu khác.
Khi Sư tịch, ba ngày sau cũng chết theo.
49.
PHONG CAN – HÀN SƠN - THẬP ÐẮC Thị hiện THIÊN THAI
Phong Can, chẳng biết người ở đâu. Niên hiệu Trinh Quán đời Ðường, Sư đến
ở chùa Quốc thanh núi thiên Thai, cắt tóc ngang mày, mặc áo vải rách, có
ai hỏi lý Phật, chỉ đáp hai chữ “tùy thời”. Thường xướng đạo, cưỡi cọp ra
vào, chúng tăng đều kinh sợ chẳng ai dám nói chuyện với Sư. Có Hàn Sơn,
Thập Ðác cũng chẳng biết dòng họ, người đời cho là đồ điên khùng, chơi
thân với Phong Can. Hàn Sơn ở núi Hàn Nham cách huyện Ðường Hưng bảy mươi
dặm về phía tây, nhân đây thành tên. Thập Ðắc thì do Phong Can khi đến
Xích Thành, nghe tiếng trẻ con khóc ở bên đường, hỏi thì nói: “Mồ côi bị
bỏ ở đây”. Do đó đặt tên Thập Ðắc, đem về giao cho khố ở sau viện. Khố
tăng (Tăng coi kho) tên là Linh Tập coi nhà ăn và hương đèn, Thập Ðắc bỗng
leo lên toà, ngồi đối diện với tượng Phật mà ăn, sau lại ở trước Thánh
tăng hô lên:
- Tiểu quả Thanh văn!
Linh Tập liền báo cho các bậc Thôn túc, rồi đổi xuống nhà bếp rửa chén
bát. Hằng ngày tăng chúng thọ trai xong, Thập Ðắc gạn lại thức ăn dư bỏ
trong ống đồng. Hàn Sơn đến liền cõng đi. Hàn Sơn dung mạo khô gầy, áo
quần tơi tả, lấy vỏ cây làm mũ, mang guốc gỗ to. Lúc đến chùa, hoặc đi dạo
dưới hiên, hoặc vào bếp chụm lửa, hoặc chơi với mục đồng, có lúc quát
tháo, ngửa mặt lên trời mà chửi, hoặc nói: “Than ôi! Than ôi! Tam giới
luân hồi!”.
Tăng lấy gậy đuổi thì vỗ tay cười to. Một hôm, hỏi Phong Can rằng:
- Gương xưa chẳng bao lâu, làm sao soi chiếu?
- Băng đài không hình bóng.
- Khỉ vượn mò thủy nguyệt (*).
- Ðây là chẳng chiếu ssoi, thỉnh Sư nói nữa.
- Vạn đức chẳng đem đến, bảo ta nói cái gì?
Hàn Sơn, Thập Ðắc đều làm lễ. Phong Can bảo Hàn Sơn:
- Ông đi dạo Ngũ Ðài với ta thì là bạn với ta; nếu không đi, không phải
bạn ta.
- Tôi không đi!
- Phong Can nói:
- Ông chẳng phải bạn ta.
Hàn Sơn hỏi Phong Can:
- Ông đi Ngũ Ðài làm gì?
- Ta đi lễ Văn Thù.
- Ông không phải bạn của ta.
Phong Can đi Ngũ Ðài một mình. Gặp một ông già, Phong Can hỏi:
- Có phải Văn Thù không?
- Há có hai Văn Thù?
Phong Can liền làm lễ. Chợt ông già biến mất. Sau Phong Can trở về Thiên
Thai thị tịch.
Hàn Sơn nhân chúng tăng nướng cà, bèn lấy xâu cà đánh vào lưng một vị
tăng, tăng quay đầy lại. Hàn Sơn đưa xâu cà hỏi:
- Là cái gì?
Tăng nói:
- Gã điên này!
Hàn Sơn hỏi tăng bên cạnh:
- Ông nói xem ông sư này tốn bao nhiêu tương muối?
Triệu Châu đến Thiên Thai, đi thấy dấu chân trâu. Hàn Sơn hỏi:
- Thượng tọa lại biết trâu chăng? Ðây là năm trăm La hán dạo núi.
- Ðã là La hán vì sao lại làm trâu.
Hàn Sơn nói:
- Trời xanh! Trời xanh!
Triệu Châu cười ha ha.
Hàn Sơn nói:
- Cười cái gì?
Triệu Châu nói:
- Trời xanh! Trời xanh!
Hàn Sơn nói:
- Chú nhỏ này lại có tư cách đại nhân.
*
Thập Ðắc quét đất, chủ chùa hỏi:
- Ngươi họ gì? Ở đâu?
Thập Ðắc buông chổi vòng tay đứng. Chủ chùa mờ mịt.
Hàn Sơn đấm ngực nói:
- Trời xanh! Trời xanh.
Thập Ðắc hỏi:
- Ông làm gì vậy?
Hàn Sơn nói:
- Há không nghe nói nhà phía Ðông có người chết, nhà phía Tây buồn lây
sao!
Rồi vừa múa, vừa cười khóc mà ra.
Thập Ðắc lại chăn trâu ở trang xá ca vịnh kêu trời rằng:
- Ta có một hạt châu, chôn ở trong ấm giới không một ai biết cả.
Chúng tăng thuyết giới. Thập Ðắc lùa trâu đến, tựa cửa vỗ tay mỉm cười
nói:
- Mờ mịt thay! Chụm đầu làm bộ, cái này thế nào?
Tăng nổi giận mắng:
- Ðồ hạ tiện khùng điên! Phá sự thuyết giới của ta!
Thập Ðắc cười nói:
Không sân tức là giới!
Tâm tịnh tức xuất gia
Tánh ta cùng ông hợp
Tất cả pháp không sai.
Rồi lùa trâu ra, hô tên tăng đời trước. Trâu liền ứng tiếng mà đi qua.
Thập Ðắc lại nói:
- Ðời trước chẳng trì giới, mặt người mà lòng thú. Ngươi nay tạo lỗi này,
lại oán hận người nào? Sức Phật tuy rất lớn mà ngươi phụ ơn Phật.
*
Thần hộ Già lam, thức ăn để dưới Tăng trù cứ bị quạ tới phá. Thập Ðắc lấy
gậy đánh nói:
- Thức ăn ngươi còn không thể giữ được, làm sao hộ Già Lam?
Thần liền báo mộng cho tăng trong chùa:
- Thập Ðắc đánh tôi.
Ðến sáng, chúng tăng kể lại mộng, đều thấy như nhau. Bèn đến xem tượng
thần, quả nhiên thấy có chỗ bị bể. Ai nấy đều kinh dị, đem trình lên Quận
huyện. Quận bảo: “Hiền sĩ dấu vết tích là Bồ tát ứng thân” và gọi là Hiền
sĩ Thập Ðắc.
*
Lúc đầu Lư Khâu Dận, sắp nhậm Ðan Khâu, bị đau đầu, thuốc men trị chẳng
lành; gặp một thiền sư tên Phong Can bảo rằng từ Thiên Thai đến yết kiến
sứ quân. Ông kể bệnh mình, Phong Can nói:
- Thân ở nơi tứ đại, bệnh từ huyễn thân. Nếu muốn trừ nó, phải lấy nước
sạch.
Rồi đòi bình nước, đọc thần chú phun lên đầu, lập tức hết đau. Dận lấy làm
lạ, bèn hỏi xin cho biết sự an nguy từ đây về sau. Phong Can nói:
- Hãy nhớ đến yết kiến Văn Thù, Phổ Hiền. hai vị Bồ tát này, thấy thì
chẳng biết, biết thì chẳng thấy. Nếu muốn thấy, chẳng được chấp tướng.
Chính là Hàn Sơn, Thập Ðắc đang lao dịch ở chùa Quốc Thanh.
Dận đến nhậm chức ba ngày rồi đến chùa Quốc Thanh hỏi:
- Chùa này có thiền sư Phong Can chăng? Hàn Sơn, Thập Ðắc là ai?
Tăng Ðạo Kiểu đáp:
Phong Can nền cũ ở sau Tàng kinh. Nay vắng vẻ không người. Còn Hàn Sơn,
Thập Ðắc đang ở nhà bếp.
Dận đi vào phòng của Phong Can, chỉ thấy dấu chân cọp. Lại hỏi:
- Ngài Phong Can hồi ở đây làm gì?
Ðạo Kiểu đáp:
- Chỉ phụ giã gạo cúng tăng, rảnh thì ngâm vịnh.
Dận xuống bếp tìm Hàn Sơn, Thập Ðắc, thấy đang thổi lửa, rồi vỗ tay cười
to. Dận đến lễ bái, hai người quát mắng liên thanh, nắm tay cười to nói:
- Phong Can lắm mồm, Phong Can lắm mồm! Phật Di Ðà chẳng biết, lễ chúng ta
làm chi?
Tăng chúng ùa đến, kinh ngạc bảo nhau:
- Vì sao tôn quan lại làm lễ hai gã bần sĩ này?
Hai người bèn nắm tay chạy ra khỏi chùa.
Dận khiến đuổi theo. Hai người lại chạy gấp vào Hàn Nham. Dận lại hỏi
tăng:
- Hai người này chịu ở lại chùa này chăng?
Rồi bèn sai người tìm thăm hỏi để đem về chùa an trí. Dận trở về quận, cắt
may hai cặp áo sạch cùng hương, thuốc ... đem đến cúng dường, nhưng hai vị
không về nữa. Sứ liền đến núi đưa lên thấy Hàn Sơn lớn tiếng hét:
- Giặc! Giặc!
Rồi vào kẽ đá núi, lại nói:
- Báo cho mấy người, nên cố gắng lên!
Kẽ đá tự khép lại, chẳng thể đuổi theo. Còn thập Ðắc thì chẳng thấy dấu
vết. Sau có tăng đi hái củi ở Nam Phong, cách phía Ðông Nam chùa hai dặm
gặp một Phạm tăng chống gậy vào núi, gánh một vòng xương nói:
- Lấy Xá lợi của Thập Ðắc.
Mới biết Thập Ðắc nhập diệt ở đây. Nhân đó gọi núi là Thập Ðắc. Dận sai
Ðạo Kiểu tìm thăm di tích. Ở trong rừng, trên lá cây được thư, từ, tụng
của Hàn Sơn và các người trong thôn làng hơn ba trăm bài. Thập Ðắc cũng có
thơ hơn mấy mươi bài đề trên vách đá miếu Thổ địa, được gom góp thành tập.
Thơ Hàn Sơn:
Nhớ lại mươi năm
trước
Thả bộ Quốc Thanh
về
Trong chùa ai
cũng nói
Hàn Sơn là kẻ si
Si không biết tầm
tư
Riêng ta còn
chẳng biết
Thì y biết nỗi
gì!
Cúi đầu đừng hỏi
nữa
Hỏi được lại làm
chi?
Có người đến chửi
tớ
Tớ biết rõ tức
thì
Tuy nhiên không
ứng đối
Thế mà được tiện
nghi.
(*) Thủy nguyệt:
Trăng trong nước.
50. THIỀN SƯ ÐẠO LÂM
Sư họ Phan quê ở Phú Dương. Mẹ nằm mộng thấy nuốt ánh sáng mặt trời mà có
thai, đến khi sanh hương lạ xông khắp nhà, nên đặt tên Sư là Hương Quang.
Lên chín tuổi Sư xuất gia, hai mươi mốt tuổi thọ giới. Sau đến Trường An
lễ pháp sư Phục Lễ học kinh Hoa Nghiêm, luận Khởi Tín. Pháp sư Phục Lễ dạy
bài tụng Chân Vọng, bắt tu Thiền na. Ðạo Lâm hỏi:
- Khởi đầu làm sao quán? Làm sao dụng tâm?
Phục Lễ làm thinh chẳng nói. Sư lạy ba lễ lui ra. Sau Pháp Khâm đến cung
vua, Ðạo Lâm đến yết kiến bèn được chánh pháp.
Sư từ khi được tâm ấn của Pháp Khâm, liền đến chùa Vĩnh Phước ở Cô Sơn, có
tháp Phật Bích Chi. Lúc đó đạo tục đang làm pháp hội. Ngài chống gậy đi
vào, pháp sư Thao Quang hỏi:
- Ðây là pháp hội, sao ông làm ồn thế?
Sư đáp:
- Không gây tiếng ồn ai biết là hội.
Sau Ngài thấy núi Tần Vọng, rặng tùng xoay vòng quanh như bảo cái bèn leo
lên ở. Vì thế được gọi là thiền sư Ðiểu Khòa (ổ chim), lại có một ổ chim
khác bên cạnh, tự nhiên quen thuộc, nên Sư còn được gọi là Hòa thượng
Thước Sào.
Có Lục cung sứ là Ngô Nguyên Khanh, người Hàng Châu, thông minh mẫn ngộ,
vua Hiến Tông rất ưa thích. Một hôm ở cung Chiêu Dương, thấy hoa cỏ tốt
tươi, đang bồi hồi thưởng ngoạn chợt nghe trên không trung có tiếng:
- Những tướng hư huyễn, nở rụng không dừng, hay hoại căn lành, nhơn giả
đâu nên hưởng chúng.
Nguyên Khanh bừng tỉnh, muốn thoát trần tục, vào năn nỉ vua, vua cho về
nhà. Nhân pháp sư Thao Quang yết kiến Ðạo Lâm, ông theo thưa:
- Ðệ tử bảy tuổi đã ăn chay, mười một tuổi thọ ngũ giới, năm nay hai mươi
hai tuổi, định xuất gia nên đã nghỉ làm quan. Mong Hòa thượng độ con làm
tăng.
Ngài Ðạo Lâm bảo:
- Ðời nay làm tăng, ít người chịu tinh khổ, tính hạnh phần nhiều hời hợt.
Nguyên Khanh thưa:
Vốn sạch đâu cần mài giũa
Sẵn sáng không theo chiếu.
(Bổn tịnh phi trác ma
Nguyên minh bất tùy chiếu).
Ðạo Lâm nói:
- Ông nếu rõ thể của tịnh trí diệu viên tự không tịch, tức là chân xuất
gia, đâu cần tướng bên ngoài. Ông nên làm Bồ tát tại gia, tu bố thí và trì
giới, như bọn ông Tôn Hứa đi.
Nguyên Khanh thưa:
- Lý tuy như vậy nhưng chẳng phải chí của con. Cúi mong Thầy từ bi nhiếp
thọ, con thể tuân theo lời Thầy dạy.
Thưa thỉnh đến ba lần mà Ðạo Lâm vẫn chẳng nhận. Thao Quang khuyên:
- Cung sứ chưa hề lấy vợ, cũng không nuôi thị nữ. Thiền sư nếu không thâu
nhận thì ai độ ông ta.
Ðạo Lâm bèn cho xuất gia, thọ giới đặt pháp hiệu là Hội Thông. Từ đó ông
ngày đêm tinh tấn tụng kinh Ðại thừa, tu tập An ban Tam muội. Rồi bỗng một
hôm ông từ giã thầy xin đi du phương. Ðạo Lâm hỏi:
- Ông định đến đâu?
Ông thưa:
- Hội Thông vì pháp mà xuất gia. Hòa thượng chẳng rủ lòng lòng chỉ dạy,
nay con đến các nơi học Phật pháp.
Ðạo lâm nói:
- Nếu là Phật pháp, thì trong đây ta cũng có chút ít.
- Thế nào là Phật pháp của Hòa thượng?
Ðao Lâm rút một sợi vải trên người, đưa lên thổi. Hội Thông bèn ngộ huyền
chỉ, đời gọi là thị giả Bố Mao (lông vải). Hội Thông sau trụ ở Chiêu Hiền,
đến đời Vũ Tông phế giáo, ông vào núi sâu ẩn, sau cùng chẳng biết thế nào.
Bạch Cư Dị, tự là Lạc Thiên, đời Ðường khoảng 772-846 làm Thái thú Hàng
Châu. Niên hiệu Trường Khánh năm thứ hai (822), nhân vào núi yết kiến Ðạo
Lâm, thấy Ngài ngồi trên ổ chim mới hỏi:
- Chỗ ở của Thiền sư nguy hiểm quá vậy?
Ðạo Lâm nói:
- Thái thú còn nguy hiểm hơn nhiều.
Bạch Cư Dị nói:
- Ðệ tử địa vị trấn giang sơn, có gì mà nguy hiểm?
Ðạo Lâm nói:
- Củi lửa giao nhau, thức tánh chẳng dừng, không nguy hiểm sao được?
Bạch Cư Dị lại hỏi:
- Thế nào là đại ý Phật pháp?
Ðạo Lâm nói:
- Các ác chớ làm, những điều thiện vâng làm.
Bạc Cư Dị nói:
- Con nít ba tuổi cũng biết nói thế.
Ðạo Lâm nói:
- Con nít ba tuổi tuy nói được mà ông lão 80 tuổi làm không được.
Bạch Cư Dị lại dùng kệ hỏi:
Riêng vào cửa
không hỏi khổ không,
Dám đem việc
thiền hỏi Thiền ông.
Ngay khi mộng là
việc phù sanh,
Hay việc phù sanh
ở trong mộng?
(Ðặc nhập không môn
vấn khổ không,
Cảm tương thiền sự
khấu Thiền ông.
Vi đương mộng thị
phù sanh sự,
Vi phục phù sanh thị
mộng trung).
Ðạo Lâm đáp:
Ðến thì không
dấu, đi không vết
Khi đi và đến, sự
giống nhau
Ðâu cần lại hỏi
việc phù sanh
Chỉ phù sanh này
là trong mộng.
(Lai thời vô tích
khứ vô tung
Khứ dữ lai thời sự
nhất đồng
Hà tu cánh vấn phù
sanh sự
Chỉ thử phù sanh thị
mộng trung).
Bạch Cư Dị bèn làm lễ mà lui.
---o0o---
Mục Lục
| Phần 1
| Phần 2
---o0o---
Vi tính: Cao Thân
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 6-2003