Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Truyện Tích Phật Giáo


...... ... .

 

TRUYỆN THƠ TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

( Tập 2 )

KẾ HOẠCH HOÀNG TỬ

Người kể truyện:

Tâm Minh Ngô Tằng Giao 

 

* DIỆU PHƯƠNG XUẤT BẢN 2005 *

 

MỤC LỤC

 

Lời nói đầu

1) Bạn rất thân.

2) Bò Đại Hỷ.

3) Bò đen của bà.

4) Anh em bò và chú heo con.

5) Cõi trời 33 (Ch.1: Cộng tác).

6) Cõi trời 33 (Ch.2: Từ bi).

7) Cõi trời 33 (Ch.3: Phước báu).

8) Công múa.

9) Vua chim cút và chàng thợ săn.

10) Con cá may mắn.

11) Chim cút nhỏ không biết bay.

12) Chim khôn, chim dại.

13) Cây bàng mọc lên.

14) Cò và cua.

15) Kho tàng giấu chôn.

16) Phật Độc Giác.

17) Lời nguyền rủa (Ch.1: Ghen tức).

18) Lời nguyền rủa (Ch.2: Tham lam).

19) Lời nguyền rủa (Ch.3: Lạc thú).

20) Bồ câu và quạ.

21) Cha của rắn tre.

22) Hai trẻ dại khờ.

23) Tưới vườn.

24) Rượu mặn.

25) Thầy bùa chú và bọn bắt cóc.

26) Chú rể mất vợ vì chòm sao.

27) Hoàng tử có kế hoạch.

28) Vua Giới Đức.

29) Bọn nghiện rượu.

30) Cây độc chết người.

31) Hoàng tử Năm Vũ Khí và quỷ Lông Dính. 

Nhân diện tiền thân đức Phật

 

LỜI NÓI ĐẦU 

     TRUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT được ghi chép trong Kinh Bổn Sanh (Jàtaka). Đây là tập thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh. “Tiền thân” là những đời sống trước, những kiếp quá khứ. Mỗi truyện thường gồm: phần truyện hiện tại, phần truyện quá khứ, phần kết hợp và một bài kệ.

     Phần “TRUYỆN HIỆN TẠI” kể một câu truyện được xem là đang xảy ra trong thời Đức Phật còn tại thế. Nhân dịp này Đức Phật nhắc lại một câu truyện trong quá khứ có liên quan.

     Phần “TRUYỆN QUÁ KHỨ” kể một câu truyện từ thời xa xưa có liên hệ đến những nhân vật trong câu truyện hiện tại. Trong truyện quá khứ luôn luôn có sự hiện diện của một vị Bồ Tát, vị này là tiền thân của Đức Phật.

     Phong cách đạo đức của các vị Bồ Tát thật toàn hảo từ sự suy tư cho đến lời ăn tiếng nói và việc làm. Ngài là nhân vật chính cao cả, phi thường với nếp sống chân thiện, hướng thượng. Ngài thường giáo hóa người chung quanh bằng tấm gương đạo đức của chính mình. Ngài có đầy đủ các đức tính như trì giới thanh tịnh, bố thí rộng rãi, Thiền định tinh tấn liên tục và hành trì hạnh nhẫn nhục cao độ đến mức xả thân. Các vị Bồ Tát này khi thì làm thú vật, khi thì làm người, đôi khi làm chư thiên, có lúc làm thần cây v.v…

     Phần “KẾT HỢP” là phần liên kết truyện hiện tại với truyện quá khứ. Chỉ rõ sự liên hệ giữa những nhân vật chính trong hai câu truyện, để rồi “nhận diện tiền thân” tức là nói rõ ra rằng “người này”, “sinh vật này” trong truyện quá khứ “là ai” trong truyện hiện tại.

     Mỗi truyện tiền thân có một bài “KỆ”. Kệ đó thường dựa vào câu truyện để đưa ra lời phê bình.

     Tập TRUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT được coi là do các đệ tử của Đức Phật trước tác và mượn tiếng là Phật dạy để phổ biến những lời giáo huấn của Đức Phật. Người ta suy ra rằng các vị này sống trong thời Đức Phật hoặc chỉ sau đó khoảng vài chục năm. Đầu tiên truyện được truyền khẩu, về sau người ta sưu tập lại và ghi chép thành kinh sách.

     Các truyện tiền thân thật sự là những tài liệu có giá trị cả về mặt văn học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học và giáo dục Phật giáo... Truyện có mục đích tạo niềm tin vào đạo pháp trong mọi tầng lớp xã hội. Truyện mở ra một kỷ nguyên mới trong cung cách truyền bá đạo Phật.

     Các truyện tiền thân này, nhất là các truyện về súc vật, nhiều khi vượt qua biên giới tôn giáo và trở thành cổ tích dân gian, nửa thần thoại, nửa thực tế, không lệ thuộc một tôn giáo nào hay xứ sở nào cả. Đây là gia tài chung của nền văn hóa dân gian. Chính vì vậy mà các truyện tiền thân này rất được phổ biến, không những trong giới Phật tử mà còn lan ra khắp cả mọi địa phương và mọi dân tộc nữa. Truyện tồn tại với giá trị độc đáo trong nền văn chương thánh thiện của thế giới. Mặc dù đã hơn hai ngàn năm trăm năm qua kể từ khi những truyện này được kể, ngày nay truyện vẫn chứa đựng sự hấp dẫn và còn có khả năng lôi cuốn làm say mê tâm hồn các độc giả trẻ em cũng như người lớn.

*

     Các truyện tiền thân Đức Phật đã được nhiều người kể lại, thường là bằng văn xuôi, đôi khi bằng tranh ảnh. Trong cuốn sách này, và có lẽ đây là lần đầu tiên, truyện được kể lại bằng một ngôn ngữ bình dị dưới hình thức thơ, những vần thơ “lục bát” có tính cách thuần túy dân tộc, để người đọc và người nghe dễ hiểu và dễ nhớ.

     Tác giả khi kể lại truyện tiền thân bằng thơ đã dựa vào tài liệu tiếng Anh tương đối ngắn gọn và đơn giản là: “BUDDHIST TALES FOR YOUNG AND OLD” của Ven. Kurunegoda Piyatissa Maha Thera và Todd Anderson. Tài liệu gồm 2 cuốn với tổng cộng 100 truyện.

     Phần tranh phụ họa trong cuốn thứ nhất (1995) là do Sally Bienemann, Millie Byrum và Mark Gilson. Phần tranh phụ họa trong cuốn thứ nhì (1996) là do John Patterson. Vì truyện kể nhắm cho các độc giả phương Tây nên các tranh vẽ hầu như thiếu sắc thái Á Đông.

     Tài liệu trên đây không đề cập tới phần “Truyện Hiện Tại” mà chỉ đơn giản đề cập đến phần “Truyện Quá Khứ” của các truyện tiền thân mà thôi.

     Cuối sách là phần “Nhận Diện Tiền Thân Đức Phật” giới thiệu cho mọi người được biết người nào, sinh vật nào, thần nào là vị Bồ Tát (tức tiền thân Đức Phật) trong câu truyện quá khứ đã kể ở trên.

     Tác giả khi kể truyện lại bằng thơ cũng đã tham khảo thêm các truyện về tiền thân Đức Phật của Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản tiếng Pali và do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.

     Bộ “TRUYỆN THƠ TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT” của cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao gồm nhiều tập. Tập số 2 này gồm 31 truyện thơ và có nhan đề là:     “KẾ HOẠCH HOÀNG TỬ”

     Ước mong rằng người đọc cũng như người nghe truyện sẽ ghi nhớ mãi trong tâm cái nếp sống đạo đức chân chính cùng những lời khuyên dạy quý báu của vị Bồ Tát trong truyện để cùng nhau cố gắng noi theo hầu đạt được cái Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống hàng ngày.

 

DIỆU PHƯƠNG          


 

* 1 *

BẠN RẤT THÂN

 

Trước khi câu chuyện xảy ra

Ở bên châu Á người ta nói rằng

Voi và chó chẳng kết thân

Chẳng bao giờ có thể gần gũi nhau,

Voi không ưa chó từ lâu

Chó thời hãi sợ voi, đâu muốn gần

Voi to xác, voi lớn thân

Chó thường hoảng hốt sủa ầm ĩ lên

Mỗi khi voi đến kề bên

Khiến voi bực bội nổi điên nổi khùng

Voi liền rượt chó tưng bừng

Không còn kiên nhẫn mà dừng bước chân.

Chó nằm yên, chó lặng thầm

Thời voi kia vẫn nổi sân như thường

Tấn công chó chẳng chịu nhường

Cả hai do đó mãi vương hận thù.

*

Bây giờ kể chuyện cung vua

Có chàng voi quý đã từ lâu nay

Được nuôi ăn đầy đủ thay

Được người kỹ lưỡng hàng ngày chăm nom.

Chó hoang kia lại gầy còm

Trơ xương, ốm đói, héo hon thân người

Quẩn quanh ở cạnh chuồng voi

Lang thang kiếp sống, nổi trôi cuộc đời

Một ngày chó chợt đánh hơi

Thấy mùi thực phẩm tuyệt vời thoảng ra

Lần theo chó thấy voi ta

Trong chuồng ăn uống thật là ngon sao

Chó bèn lén lút lẻn vào

Ăn đồ rơi vãi. Voi nào có hay

Miệng voi ăn rớt quanh đây

Chó theo đuôi hưởng hàng ngày no nê

Ở lì luôn chẳng muốn đi

Chuồng voi quanh quẩn còn gì sướng hơn.

Chú voi mạnh mẽ, to con

Bữa ăn thưởng thức thơm ngon thoả tình

Đâu thèm để mắt cạnh mình

Chó hoang loắt choắt chạy quanh kiếm mồi.

Ăn thừa như thế mãi rồi

Chó hoang đói khát một thời trơ xương

Giờ đây mập mạp dễ thương

Tấm thân mạnh mẽ, bộ lông mượt mà

Chàng voi tốt tính nhà ta

Bắt đầu để mắt nhìn qua chó rồi.

*

Kiếm ăn luẩn quẩn bên voi

Lâu ngày quen thuộc chó thời dạn ra

Chạy quanh voi, chẳng lánh xa

Và không còn sủa như là thói quen.

Thấy rằng chó chẳng làm phiền

Lại luôn thân thiện kề bên hàng ngày

Dần dần voi cũng đổi thay

Kết thân với chó từ nay thắm tình

Khi ăn đâu chịu một mình

Nếu không có bạn ở quanh vui đùa.

Khi nô rỡn chó rất ưa

Nắm vòi voi nặng đong đưa mọi chiều

Quay tròn, uốn éo đủ điều

Dần dần từ đó thương yêu ngập tràn

Thành bạn quý, thành bạn vàng

Nào đâu còn muốn đôi đường cách chia.

*

Một hôm có khách vùng kia

Từ phương xa bỗng ghé về đây chơi

Nghe đồn voi quý, tới coi

Thấy con chó lạ trong nơi chuồng này

Chó giờ tốt mã, đẹp thay

Lăng xăng chạy nhảy, loay hoay nghịch đùa

Khách nhìn thấy, khách thích ưa

Biếu tiền lính gác rồi đưa chó về

Một làng xa lắc vùng quê

Không còn ai biết mà đi kiếm tìm.

Voi từ ngày đó muộn phiền

Bởi vì vắng bạn thân bên cạnh mình

Không ăn uống, cứ lặng thinh

Chẳng buồn tắm táp, thân hình héo hon

Thế là lính gác báo luôn

Trình vua được rõ đâu còn chờ chi,

Phần liên quan đến chó kia

Lính không trình báo chút gì cùng vua.

Vua lo lắng, vua ưu tư

Mời quan thân cận từ xưa lắm tài

Giỏi về súc vật lâu đời

Sai quan tìm hiểu tận nơi tỏ tường.

Quan tuân lệnh đi đến chuồng

Thấy voi đờ đẫn u buồn nằm đây

Quan suy ra: “Chú voi này

Đã từng hoạt động, lại hay vui đùa

Giờ sao sầu muộn lừ đừ,

 Voi thời tâm tính gần như giống người

Chắc là mất bạn thân thôi!”

Quan bèn quay hỏi những người lính canh

Họ bèn khai rõ ngọn ngành:

“Thưa voi và chó có tình tương thân

Giờ đây đáng tiếc vô ngần

Chó kia đi mất chẳng gần gũi voi

Người ta mang chó đi rồi

Nào đâu có biết tăm hơi mà tìm!”

Lắng nghe, suy nghĩ, lặng im

Quan về trình lại vua hiền đầu đuôi

Thêm rằng: “Giữa chó và voi

Tình thân quyến luyến khác đời lâu nay

Nên khi chó chẳng còn đây

Voi thời buồn bã hao gầy khôn nguôi!”

Vua lên tiếng: “Ở trên đời

Tình thân bạn hữu tuyệt vời quý sao,

Làm voi vui, liệu cách nào

Ta tìm chú chó kia mau mang về!”

Quan thưa rằng chẳng khó chi

Xin ra thông báo gửi đi khắp vùng

Rằng chuồng voi của hoàng cung

Trước đây có chó ở cùng bên voi

Giờ đây chó đó mất rồi

Ai nuôi chó phải tức thời thả ra

Nếu không phạt nặng chẳng tha

Lệnh vua ban bố, mọi nhà phải theo.

*

Quả nhiên một sớm một chiều

Chó kia được thả! Đúng điều chờ mong!

Chó ta hoan hỉ vô cùng

Phóng về tìm bạn nơi chuồng voi xưa

Có voi quý của nhà vua.

Phần voi cũng vậy, rất ư vui mừng

Đón chào bạn chó tưng bừng

Dùng vòi đưa bạn lên lưng, lên đầu

Chó ngồi đây rỡn hồi lâu

Vẫy đuôi biểu lộ biết bao hài lòng.

Cả hai chung sống thong dong

Thật là sung sướng mãi không xa lìa.

Vua khen ngợi vị quan kia:

“Hình như đọc được nghĩ suy muôn loài

Hiểu voi thời quả thật tài!”

Vua liền ban thưởng cho người có công.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

BEST FRIENDS

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 2 *

BÒ ĐẠI HỶ

 

Ngày xưa có một con bê

Được ông quý tộc mua về nâng niu

Nhà ông giàu có, tiền nhiều

Thấy bê khoẻ, đẹp ông yêu vô cùng

Đặt tên Đại Hỷ, vui mừng

Nuôi bê bằng thức ăn thường rất ngon

Luôn ve vuốt, mãi chăm nom

Khiến bê cảm động nhớ ơn chủ mình.

Khi khôn lớn, lúc trưởng thành

Xác thân mạnh mẽ, dáng hình tốt tươi

Bê thành bò đẹp tuyệt vời

 Một hôm bò nghĩ: “Cuộc đời sướng thay

Chủ nuôi kỹ lưỡng lâu nay

Trước đây hưởng lộc, lúc này đền ơn

Mình thời sức khoẻ tuyệt luân

Không bò nào khác mạnh hơn so tài

Trả ơn bằng cách nay mai

Mình thi kéo nặng không ai hơn mình

Bạc tiền, công trạng đạt thành

Trả ơn cho chủ trọn tình cùng nhau”

Chú bò tìm chủ nói mau:

“Có nhà buôn nọ sang giàu gần đây

Thường khoe khoang bấy lâu nay

Có bò khoẻ mạnh và hay nhất làng,

Tìm ông ta đánh cá rằng

Sức tôi kéo nổi xe hàng cả trăm

Bò ông ta không khoẻ bằng!”

Chủ nhân đồng ý vội vàng đi ngay

Tới nhà buôn ở làng này

Giàu sang nổi tiếng lại hay khoe mình

Chủ nhân thách đố đua tranh

Nhà buôn nghe chuyện quả tình ngạc nhiên:

“Trăm xe chở nặng bên trên

Bò nào kéo nổi, khó tin vô cùng

Tôi đồng lòng cá với ông

Tiền vàng đủ một ngàn đồng trao tay

Nếu bò ông thắng chuyến này,

Nếu thua ông trả lại đây một ngàn!”

Đôi bên ấn định thời gian

Nhà buôn khôn khéo buộc ràng trăm xe

Chất thêm sỏi đá nặng nề.

Còn phần Đại Hỷ chủ thì cho ăn

Ngon lành, no đủ, sẵn sàng

Tắm xong đeo cổ một tràng hoa tươi

Trang hoàng thêm đẹp thân người

Nửa thời hùng mạnh, nửa thời kiêu sa

Chủ nhân dắt chú bò ra

Buộc vào xe dẫn đầu chờ kéo đi

Chủ lên xe ngồi uy nghi

Tỏ ra quý tộc ông thì làm oai

Vung roi, hò hét đinh tai:

“Kéo đi! Đừng có đứng hoài! Đồ ngu!”

Bò nghe bực bội tâm tư

Nghĩ rằng: “Ta sống từ xưa tới giờ

Chưa hề làm chuyện xấu xa

Vậy mà chủ lại nói ta nặng lời

Thật là thô tục quá trời

Hôm nay đánh cá ý thời của ta!”

Bực mình bò đứng lì ra

Không còn chịu kéo xe và lặng yên

Khiến nhà buôn sướng vô biên

Đòi tiền thắng cuộc trao liền tại đây.

*

Chủ nhân quý tộc đắng cay

Trao tiền xong vội vã quay về nhà

Vừa thua thiệt, lại xót xa

Mất thêm uy tín thật là thảm thê.

Thảnh thơi gặm cỏ đường về

Chú bò Đại Hỷ không hề nghĩ suy,

Lát sau thấy chủ nằm kia

Nửa thời giận dữ, nửa thì buồn xo

Chú bò bèn hỏi lý do

Chủ nhân cho biết tại bò mà thôi:

“Vì mi ta thiệt hại rồi                                   

Tiền vàng ta đã mất toi cả ngàn!”

Bò lên tiếng: “Chớ phàn nàn

Tại sao ông nói tôi đần ngu đây?

Roi còn vung mãi đầu này

Làm như tôi bướng bỉnh hay dại khờ!

Tôi không phá phách bao giờ,

Tôi không phóng uế đồ dơ trong nhà,

Không hề làm chuyện xấu xa

Xin ông cho biết đúng là vậy không?”

Chủ nhân đáp: “Đúng vô cùng!”

Chú bò vặn hỏi: “Sao ông vừa rồi

Gọi tôi là kẻ ngu thôi

Dù ngay trước mặt bao người lạ kia

Lỗi ông rõ rệt còn chi,

Suồt đời tôi có làm gì sai đâu!

Dù sao tình nghĩa đã lâu

Công ông nuôi dưỡng nỡ nào tôi quên

 Ngày mai quay trở lại liền

Cùng nhà buôn đánh cá thêm một lần

Lần này đánh cá hai ngàn.

Nhớ dùng lời lẽ dịu dàng với tôi

Những lời tử tế mà thôi

Tỏ ra tôn trọng kẻo người cười chê!”

*

Chủ nhân hiểu rõ mọi bề

Trở lui đánh cá có nề hà chi.

Nhà buôn đồng ý tức thì

Nghĩ thầm: “Lại kiếm tiền kia dễ dàng

Những hai ngàn đồng tiền vàng!”

Ông vui trong bụng rộn ràng hoan ca.

Thế rồi mọi việc diễn ra

Khởi đầu tương tự như là trước đây

Một điều khác biệt lần này

Roi mây thô bạo bị thay thế liền

Chủ nhân cầm một cành sen

Thân yêu để nhẹ lên trên đầu bò

Vuốt thân thương, nói êm ru

Coi bò Đại Hỷ cũng như con mình:

“Bò yêu quý hãy nhiệt tình

Kéo xe cho khoẻ xứng danh đại tài!”

Xem kìa! Cảnh thật lạ đời!

Trăm xe chở nặng tức thời tiến lên

Chú bò Đại Hỷ phía trên

Phô trương sức mạnh vô biên, dẫn đầu

Kéo xe chuyển bánh phía sau

Trăm xe buộc dính tiến mau dễ dàng

Tới khi xe chót nhẹ nhàng

Lăn lên tới chỗ xe hàng đầu tiên

Nhà buôn há miệng ngạc nhiên

Nhìn bò kéo nặng, chẳng tin mắt mình

Thế là thua cuộc cam đành

Tiền vàng trao lại nay thành gấp đôi.

Chung quanh chứng kiến bao người

Tỏ lòng thán phục, thốt lời ngợi ca

Tặng cho Đại Hỷ thêm quà

Chủ nhân quý tộc quả là mừng vui

Nhưng phần thắng cuộc vừa rồi

Bạc tiền thưởng đó so thời kém xa

Kém bài học quý vừa qua:

“Người đời nên biết tỏ ra khiêm nhường

Biết tôn trọng, biết yêu thương

Suối nguồn hạnh phúc ngát hương thơm lành!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE BULL CALLED DELIGHTFUL

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 3 *

BÒ ĐEN CỦA BÀ

 

Thành Ba La Nại ngày xưa

Có bà già nọ nhân từ kể chi

Bà nuôi một chú bê kia

Thân hình xinh xắn, lông thì đẹp sao

Đen tuyền, không chấm trắng nào

Bà nuôi bê với biết bao là tình

Như nuôi con cái của mình

Thức ăn ngon nhất bà dành cho bê

Thương yêu, âu yếm, vỗ về

Nên bê cảm động mãi kề cận bên

Người làng do đó dần quen

Gọi bê là chú “Bò Đen Của Bà”.

Nhiều năm nhiều tháng trôi qua

Bê nay lớn xác thành ra chú bò

Dáng hùng mạnh, thân lớn to

Tuy nhiên thuần tính vẫn như thuở nào

Trẻ yêu bò biết là bao

Đua nhau nô rỡn lao xao phố phường

Giật tai, nắm cổ, bám sừng

Đôi khi trẻ nhảy lên lưng bò ngồi

Sờ phần đầu, kéo khúc đuôi

Thúc bò đòi chở đi chơi lòng vòng

Chú Bò Đen thích trẻ con

Không hề bực bội, lại còn hoan nghênh.

*

Một ngày bò tự nhủ mình:

“Bà nuôi ta quả tận tình bấy lâu

Khác gì con ruột bà đâu

Bà là hiền mẫu đậm sâu tình người

Bà nghèo túng đã lâu rồi

Nhưng bà chẳng muốn mở lời nhờ ta

Còn nhiều việc khác trong nhà

Ta không phải gánh, quả bà tốt thay

Ôi ơn nghĩa bấy lâu nay

Ta mong sao giúp bà ngay lúc này

Bớt lo âu, bớt đọa đày

Vượt cơn nghèo túng, qua ngày thương đau!”

Bò Đen tính toán trong đầu

Kiếm ra tiền bạc để mau giúp bà.

Một hôm tin tức loan ra

Có đoàn xe lạ phương xa tới làng

Năm trăm xe chở đầy hàng

Tới sông ngừng lại, khó sang khúc này

Bò không kéo nổi qua đây

Trưởng đoàn tính toán loay hoay một hồi

Mang trăm bò cột nối đuôi

Để cùng kéo một xe thôi! Ai ngờ

Khúc sông hiểm trở vô bờ

Trăm bò cũng chẳng kéo qua được nào,

Trưởng đoàn kinh nghiệm dồi dào

Rành về súc vật đã bao lâu rồi

Gặp gian nan nào chịu thôi

Đi tìm bò khác trong nơi làng này

Loanh quanh ông chợt gặp ngay

Bò Đen đang đứng nơi đây, thật mừng!

Thân mạnh mẽ, dáng hào hùng

Kéo xe hàng chắc qua sông dễ dàng

Ông bèn dò hỏi dân làng:

“Ai là chủ chú bò đang rỡn đùa?

Tôi trông bò rất đáng ưa

Muốn thuê bò để nhờ đưa xe hàng

Qua sông chỗ khó sang ngang

Tiền công tôi sẽ sẵn sàng trả ngay!”

Dân làng: “Ông thật là may

Chủ bò thời chẳng có đây! Cứ dùng!”

Trưởng đoàn xe rất vui mừng

Mũi bò xỏ sợi dây thừng ngang qua

Ông lôi miết, bò lì ra

Dù ông có kéo thật là mạnh tay.

Bò Đen nghĩ: “Cái ông này

Tiền không nói rõ tại đây, bây giờ

Thời ta cứ đứng trơ trơ”

Rành về súc vật đã từ bao lâu

Trưởng đoàn hiểu chuyện rất mau

Vuốt ve bò nói đôi câu chân thành:

“Bò thân mến, hãy nhiệt tình

Năm trăm xe kéo qua nhanh sông này

Tiền công ta sẽ trả ngay

Tiền vàng ta đã để đây sẵn sàng

Hai đồng một chiếc xe hàng

Hai đồng vàng nhé! Dễ dàng! Bõ công!”

Bò nghe tỏ vẻ hài lòng

Không còn do dự, theo ông trưởng đoàn.

*

Bò Đen mạnh mẽ hiên ngang

Buộc ngay vào chiếc xe hàng đầu tiên

Bò ra sức kéo xe liền

Chiếc xe chuyển bánh qua bên kia bờ

Mọi người thán phục. Chẳng ngờ!

Trăm bò trước đó cũng chưa sánh cùng

Bò Đen quả thật hào hùng

Kéo xe lần lượt sang sông cả đoàn

Sau khi mọi việc chu toàn

Trưởng đoàn lấy túi đựng vàng trả công

Mỗi xe phải trả hai đồng

Ông đưa có một và không giữ lời

Túi vàng đựng năm trăm thôi

Ông ta treo túi vào nơi cổ bò.

Bò Đen nào chịu yên cho

Chú vòng ra trước đoàn bò kéo xe

Chặn ngang lối chẳng cho đi

Trưởng đoàn bị kẹt, rất chi bực mình

Ông bèn ra lệnh đi quanh

Nhưng đoàn bò chẳng thi hành lệnh ông

Thấy Bò Đen dáng anh hùng

Đoàn bò chẳng dám đi vòng, đi quanh

Trưởng đoàn suy nghĩ thật nhanh:

“Chú bò này quả thông minh vô cùng

Biết mình còn thiếu tiền công

Thiếu năm trăm nữa nên không bằng lòng”

Ông bèn trả đủ ngàn đồng

Đựng trong túi mới cho xong nợ nần,

Bò Đen thoả mãn vô ngần

Cổ đeo túi bạc, quay chân trở về

Quay lui vượt khúc sông kia

Tìm về với “mẹ” còn gì vui hơn,

Bà già tuy rất bần hàn

Nhưng là hiền mẫu chứa chan lòng từ.

Dọc đường lũ trẻ nghịch đùa

Muốn giành lấy túi nên bu theo liền

Dễ gì lấy được túi tiền

Bò Đen tránh né giữ nguyên làm quà

Đem về đến tận cửa nhà

Bà già trông thấy rất là ngạc nhiên,

Trẻ con cả lũ huyên thuyên

Tranh nhau kể chuyện Bò Đen cho bà

Bà bèn đem túi vào nhà

Tiền vàng trong túi đếm ra cả ngàn.

*

Nhìn bò thấy mệt vô vàn

Thương “con” bà vội thở than não nề:

“Con ơi khổ cực làm chi

Sao mà con lại phải đi kiếm tiền

Ở đây bên mẹ cho yên

Có gì ăn nấy chẳng phiền hà đâu

Chúng mình no đói có nhau

Mẹ luôn chăm sóc trước sau lo gì!”

Nói xong bà tắm bò kia

Thật là sạch sẽ, rất chi tận tình

Rồi bà đấm bóp chung quanh

Để bò đỡ nhức, thân mình bớt đau,

Cho bò ăn thật ngon sao

Lại thêm nước uống ngọt ngào thơm tho

Bà nâng niu chăm sóc bò

Cả hai sung sướng êm ru cuộc đời

Đến mãn kiếp, đến tàn hơi.

Tâm từ đã biến cải nơi nghèo nàn

Chuồng nhỏ bé, lều tồi tàn

Thành lâu đài lớn chứa chan bao tình.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

GRANDMA’S BLACKIE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 4 *

ANH EM BÒ VÀ CHÚ HEO CON

 

Ngày xưa ở tại nông thôn

Có gia đình nọ sống luôn thuận hòa

Nuôi hai bò trong trại nhà

Lông màu hung đỏ, mượt mà, dịu êm

Hai bò đỏ là anh em

Nhọc nhằn lao động thường xuyên cận kề.

Nhà nuôi thêm một heo kia

Số chàng heo sữa còn gì sướng hơn

Chủ nhà lo thật chu toàn

Bao nhiêu thức uống, đồ ăn tốt lành

Khi rau cháo, lúc cơm canh

Toàn là hạng nhất để dành heo con

Đôi khi thêm cả đường ngon

Heo ăn, heo ngủ chẳng còn làm chi

Không di động, cứ nằm lì

Suốt ngày im lặng, ít khi ồn ào.

*

Bò em nhìn thấy buồn sao

Than: “Mình thời khổ! Heo nào cực thân!

Mình thời làm việc nhọc nhằn

Kéo xe chở nặng chạy lăn trên đường

Kéo cày bừa khắp ruộng đồng

Nắng hè nóng nực, gió đông lạnh lùng

Uống ăn kham khổ vô cùng

Toàn rơm với cỏ xoay vòng, thảm thay!

Mình mang lợi lộc hàng ngày

Giúp thêm tài sản vào tay chủ mình

Heo kia chẳng giúp gia đình

Vậy mà được hưởng tốt lành quanh năm!”

Bò em ghen tức cằn nhằn

Hỏi anh với giọng băn khoăn ngỡ ngàng.

Bò anh kinh nghiệm, khôn ngoan

Thấy em thắc mắc, nhẹ nhàng nhủ khuyên:

“Em ơi chớ có muộn phiền

Ghen tuông người khác chỉ thêm hiểm nghèo

Đừng ghen tị với con heo

Chủ mà đãi ngộ là điều nguy nan

Đồ ngon ngọt của chủ nhân

Chính là ‘thực phẩm tử thần’, ham chi!

Nhà này, em nhớ lại đi

Cô con gái chủ nay thì lớn khôn

Giờ cô chuẩn bị kết hôn

Tiệc mừng đãi khách kéo luôn mấy ngày

Món ăn chính là heo này

Nên heo đặc biệt từ ngay bây giờ

Được nuôi béo mập đợi chờ

Người ta làm thịt xẻ ra lạnh lùng

Vài ngày nữa có tiệc tùng

Họ hàng ở khắp các vùng chung quanh

Kéo về dự lễ linh đình

Bấy giờ heo sẽ trở thành món ăn

Người lôi đầu, kẻ kéo chân

Đem heo giết thịt! Tấm thân tan tành!”

*

Đúng như lời của bò anh

Ít hôm khách tới gia đình rất đông

Chủ nhà gả gái đầu lòng

Cho nên đám cưới vô cùng dềnh dang

Heo kia bị giết thảm thương

Làm thành nhiều món thông thường ngon sơi

Bò anh lúc đó thốt lời

Nói về kinh nghiệm cuộc đời đẩy đưa:

“Em ơi em nhận ra chưa

Chuyện heo lâm nạn như vừa xảy ra?”

Bò em: “Dạ thấy rõ mà

Giờ em hiểu chuyện xót xa này rồi!”

Bò anh nói tiếp ngậm ngùi:

“Đây là hậu quả của thời vàng son

Được chiều đãi, được ăn ngon

Được nuôi tử tế là còn khổ đau!

Phần mình quý hoá gì đâu

Rơm khô, cỏ úa từ lâu chán chường

Món ăn thật quá tầm thường

Nhưng so ra vẫn trăm đường tốt hơn

Hơn cơm dẻo, hơn gạo thơm

Hơn đồ ngon ngọt heo luôn được dùng

Điều này dễ hiểu vô cùng

Mình ăn những thứ tuy không ngon lành

Nhưng không gây hại cho mình

Mà rồi tuổi thọ tăng nhanh, kéo dài.

Đừng nên khi sống trên đời

Vội vàng ghen tức với người hơn ta

Nên tìm hiểu cho rõ ra

Giá nào phải trả để mà hưởng vui!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

BIG RED, LITTLE RED AND NO-SQUEAL

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 5 *

CÕI TRỜI 33

 

Chương 1: CỘNG TÁC

 

Hồi xưa ở một thôn làng

Gia đình quý tộc có chàng thanh niên

Thiện Nhân, tên gọi lành hiền

Mẹ cha yêu quý, láng giềng mến thương

Gia đình cưới vợ cho chàng

Một cô tốt nết đảm đang hàng đầu

Vợ chồng hạnh phúc bên nhau

Sinh ra trai gái trước sau vài người.

Thôn làng ở chốn xa xôi

Tính chung chỉ có ba mươi gia đình

Dân làng chan chứa cảm tình

Với chàng trai trẻ hiền lành, tinh khôn

Vì chàng tìm cách luôn luôn

Mở mang phát triển làng thôn giúp đời

Mang về lợi ích khắp nơi

Thêm vui cuộc sống, thêm tươi cõi lòng

Bà con quý trọng vô cùng,

Chàng nhân dịp đó đã không ngại ngần

Khuyên người thanh lọc thân tâm

Tuân theo “ngũ giới” chuyên cần quanh năm,

Nói sao, đúng vậy chàng làm

Nêu cao gương sáng dân làng soi chung.

Nhớ lần có việc cộng đồng

Mọi người hội họp phân công chốn này

Nền nhà rác rưởi vương đầy

Chàng bèn dọn chỗ nơi đây để ngồi

Sau khi quét dọn sạch rồi

Vô tình có kẻ đến nơi chiếm liền

Chàng nhường nhịn, chàng lặng yên

Tìm qua chỗ khác dọn thêm ngại gì,

Nhưng rồi lại bị chiếm đi

Chàng bèn dọn tiếp không hề kêu ca

Chuyện giành giật cứ diễn ra

Đến khi đủ chỗ người ta ngồi rồi

Thời chàng mới được thảnh thơi

Ngồi vào chỗ cuối hết người muốn tranh

Nêu gương nhẫn nhục tốt lành

Dạy dân làng cách trở thành hiền lương

Kết đoàn, nhường nhịn, yêu thương

Biết phương chung sức, biết đường góp công

Khiến làng thôn, khiến ruộng đồng

Trở nên tốt đẹp theo dòng thời gian

Hết gian trá, hết tham lam

Việc làm phạm pháp hoàn toàn biến đi.

Mọi người hoan hỉ kể chi

Tiếc thay ông trưởng thôn kia bất bình.

Không ưng ý, chẳng đồng tình

Vì bao quyền lợi của mình tiêu tan,

Khi làng mà hết tội nhân

Hết luôn tiền phạt, hết luôn uy quyền

Ông bực bội, ông than phiền:

“Còn ai nể mặt mình trên cõi đời?”

*

Bất lương vốn sẵn tính người

Ông thôn trưởng vội vào nơi cung đình

Gặp nhà vua và tâu trình

Rằng bao trộm cướp lộng hành làng thôn

Xin vua giúp đỡ nhân dân,

Vua bèn ra lệnh: “Bắt luôn bọn này

Rồi mang tội phạm đến đây

Để ta trừng trị thẳng tay, răn đời!”

Thế là trúng kế ông rồi

Trưởng thôn vội trở lại nơi làng mình

Mỗi gia đình một “tù binh”

Ông ta trói lại dẫn trình nhà vua

“Đây là tội phạm!” ông thưa

Vua nghe tâu vậy ngần ngừ gì đâu

Chẳng cần xét xử thêm lâu

Truyền mang tội phạm ra mau pháp trường

Cho voi dẫm chết làm gương

Coi như trừng trị những phường gian manh!

Ba mươi người bị hành hình

Nằm trong sân trước cung đình! Thảm thay!

Chờ voi mang tới nơi đây

Chờ voi dẫm nát, đọa đày tấm thân.

Nghĩ rằng cái chết tới gần

Họ bèn than thở vô ngần thương đau.

Thiện Nhân nằm ở hàng đầu

Khuyên rằng: “Ta hãy mau mau hành trì

Khởi lòng tha thứ từ bi

Tha người vu cáo chỉ vì gian tham,

Tha cho voi dữ hung tàn,

Tha vua mê muội vô vàn bất công!”

Khi voi được dẫn vào cung

Voi không chịu dẫm lên lưng đám người

Vươn vòi kêu rống một hồi

Rồi voi rời bỏ khỏi nơi cung đình

Chẳng tuân theo lệnh hành hình

Dường không muốn giết người lành, người ngay.

Các voi lần lượt vào thay

Cũng đều tránh né xéo giày nạn nhân

Thật là kỳ lạ vô ngần!

Người ta phỏng đoán rằng dân làng này

Mang bùa thiêng, có thuốc hay

Làm voi sợ chạy không quay đầu về,

Nhưng khi khám chẳng thấy chi

Mọi người kinh ngạc hiếu kỳ hỏi thêm

Thiện Nhân bèn trả lời liền:

“Linh thiêng bùa chú ta quên được nào!”

Vua bèn cho gọi chàng vào

Muốn nghe bùa chú! Xiết bao lạ lùng!

Thiện Nhân tới trước ngai rồng

Quỳ thưa: “Bùa chú này không giống người

 Bùa phát ra tự tâm thôi

Đó là ‘ngũ giới’ tuyệt vời linh thiêng!”

Vua truyền: “Hãy kể rõ thêm!”

Thiện Nhân: “Năm giới ta nên thực hành:

‘Không nên sát hại sinh linh,

Vật không sở hữu của mình chớ ham,

Tránh tà hạnh, tránh gian dâm,

Đừng nên dối trá, hãy luôn thật thà,

Chớ nên say rượu mê mờ’

Năm điều cấm đó ai mà tuân theo

Tạo ra sức mạnh cao siêu

Coi như bùa chú với nhiều quyền năng!”

Thấy chàng tử tế, giỏi giang

Vua bèn gạn hỏi rõ ràng đầu đuôi

Sau khi biết sự thật rồi

Vua liền ra lệnh tức thời tịch thu

Ruộng vườn cũ, tài sản xưa

Mà thôn trưởng chất chứa từ lâu năm

Phân chia cho đám tội nhân

Tha về làng cũ làm ăn hiền hòa.

Dân làng vui vẻ mọi nhà

Cùng nhau hợp tác thật là thân thương

Chung lưng phát triển khóm phường

Không còn thôn trưởng bất lương thuở nào.

*

Một ngày họ bắt tay vào

Cùng nhau xây dựng, ai nào quản công

Một công trình lớn vô cùng

Quán hàng ngay ngã tư đường thênh thang.

Lòng tin dân chúng vững vàng

Thiện Nhân dạy cách hợp đoàn từ lâu

Nhưng mà họ chẳng nghĩ sâu

Cho rằng phái nữ xứng đâu dự phần

Chỉ riêng nam giới mới cần

Mới là thích hợp vô ngần mà thôi.

Điều này gây bất mãn rồi

Thiện Nhân lúc đó tại nơi nhà chàng

Nữ nhân có bốn cô nàng

Riêng người thứ nhất vô vàn thông minh

Tên là Thiện Pháp đẹp xinh

Muốn tham gia với công trình nói trên

Mong rằng nam nữ bình quyền

Nàng tìm trưởng toán làm quen biếu quà

Công trình xây cất vẽ ra

Là do trưởng toán, ai mà khác ông

Nhận quà hậu hĩnh vừa xong

Ông lo giúp đỡ nàng không nề hà

Ông bèn bí mật làm ra

Xà ngang để đỡ mái nhà đang xây

Rồi đưa nàng giấu đi ngay

Đợi xà khô cứng sau này không cong

An toàn, rắn chắc vô cùng

Tương lai có kẻ cần dùng đến thôi.

Bao nhiêu kiến trúc khắp nơi

Xà ngang chắc mạnh mọi người cầu mong,

Quán hàng xây dựng trong vùng

Đàn ông, trai tráng đều cùng tham gia

Đến giai đoạn chót diễn ra

Cần xà ngang đỡ nóc nhà nữa thôi

Thợ bèn lấy gỗ chưa phơi

Định làm xà đỡ cho nơi nóc này

Nhưng ông trưởng toán can ngay

Nói rằng: “Gỗ mới dùng đây khó lòng

Sẽ bị oằn, sẽ bị cong

Tương lai bị gãy vô cùng hiểm nguy,

Bây giờ các bạn phải đi

Kiếm tìm xà cũ mang về chốn đây

Gỗ khô, rắn chắc lâu ngày

Mới mong đỡ mái nhà này êm xuôi!”

Sau khi đi khắp mọi nơi

Tới nàng Thiện Pháp mọi người tìm ra

Nhà nàng có một xà nhà

Vừa khô, vừa cũ, đo ra vừa tầm

Thật là tốt đẹp vô ngần

Họ bèn lên tiếng ân cần hỏi mua

Nàng không bán, dịu dàng thưa:

“Làng cần xin biếu, xin đưa làng dùng

Chỉ xin tiếp sức đàn ông

Cùng nhau xây dựng cho xong công trình!”

Thợ thuyền khó xử thật tình

Thông thường công việc chỉ dành đàn ông

Họ suy tính, họ ngại ngùng

Về tìm trưởng toán chờ mong ý người.

Ông bèn nói: “Cũng được thôi

Tại sao phụ nữ ta thời bỏ qua

Đàn bà tương tự như ta

Khéo tay, hay việc thật là thuận duyên

Hãy mời tham dự ngay liền

Việc làng hoàn tất càng thêm dễ dàng!”

Thợ thuyền quay lại nhà nàng

Trước tiên xin chiếc xà ngang mang về

Rồi mời Thiện Pháp cùng đi

Tiếp tay đóng góp còn chi ngại ngùng

Cùng nhau xây dựng việc chung

Công trình hoàn tất vô cùng vẻ vang.

Nữ nhân còn lại ba nàng

Cùng xin tham dự ngang hàng đàn ông,

Một nàng vườn rộng mênh mông

Trái cây, hoa lá đầy trong khu vườn

Ở ngay kế cận quán hàng

Nàng bèn ngỏ ý biếu làng. Tốt thay!

Một nàng ao phủ sen đầy

Cũng lên tiếng biếu tiếp tay mọi người,

Chỉ riêng nàng thứ tư thôi

Thiện Sinh, trẻ nhất, suốt đời thảnh thơi

Được nuông chiều đã lâu rồi

Thiện Sinh không chịu giúp nơi xóm làng.

*

Một đêm đầy ánh trăng vàng

Thiện Nhân triệu tập dân làng nơi đây

Quán bên đường vừa dựng xây

Chàng lên tiếng giảng điều hay, điều lành:

“Hãy chăm nom cha mẹ mình,

Trọng người lớn tuổi, lão thành, già nua,

Nói lời chân thật, hiền từ

Tránh lời thô ác phao vu hại người,

Tham lam, keo kiệt ngưng thôi,

Dẹp cơn phẫn nộ, thảnh thơi tâm hồn!”

Lời chàng vang vọng làng thôn

Giúp bà con trở về nguồn hiền lương.

Thiện Nhân tới lúc mệnh chung

Sinh làm Đế Thích thiên cung sáng lòa

Cõi trời thứ ba mươi ba

Vua trời ngôi báu thật là vẻ vang,

Và rồi các bạn của chàng

Cũng sinh lên đó thênh thang cõi trời.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE HEAVEN OF 33, Ch.1: Cooperation

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 6 *

CÕI TRỜI 33..

 

Chương 2: TỪ BI

 

Nơi đây phong cảnh tuyệt vời

Có ông Đế Thích muôn người ngợi ca

Cõi trời thứ ba mươi ba,

Có thêm thần A Tu La lâu rồi

Thần này mặt mũi khó coi

Cho nên Đế Thích nhìn thời chẳng ưng,

Một ngày ông mở tiệc mừng

Mời thần xấu xí dự cùng với ông

Chuốc cho họ uống rượu nồng

Say sưa đến nỗi quay cuồng mê đi

Ông lùa họ xuống vực kia

Dưới chân ngọn núi Tu Di xa vời

Nơi đây là một tầng trời

Rộng bằng cõi thứ ba mươi ba này

Nhưng mà dưới thấp lắm thay

A Tu La có sẵn đây lâu đài.

Ông Đế Thích là vua trời

Kiếp xưa hiểu đạo, dạy đời điều hay

Những điều tốt đẹp giờ đây

Sao ông lại bỗng quên ngay mất rồi?

Ông Đế Thích là vua trời

Từ trong tiền kiếp, từ đời xa xưa

Là Thiện Nhân có tâm từ

Từng theo giáo pháp, từng ưa đạo mầu

Giúp người làm tốt đã lâu

Phút này sao chợt quay đầu bến mê

Tạo ra nghiệp xấu gớm ghê:

“A Tu La bị đẩy về vực sâu!”

*

A Tu La tỉnh rượu mau

Các thần xấu xí bắt đầu nổi sân

Bị lừa, họ tức vô ngần

Cùng nhau nổi dậy leo dần lên cao

Núi Tu Di gió rì rào

Đưa thần bất mãn thét gào tiến lên

Tấn công Đế Thích liên miên

Vua trời thua trận ưu phiền biết bao

Rút lui khỏi chốn trời cao

Dùng xe vĩ đại phóng vào biển khơi

Lượn trên sóng gió tơi bời

Qua vùng đồi núi, lướt nơi cánh rừng

Ngọn cây xoải rộng chập chùng

Chim muông làm tổ nhiều từng đã lâu,

Xe vua trời phóng qua mau

Sức như vũ bão trên đầu cây cao

Ngọn cây gãy đổ ào ào

Tổ chim rơi rụng, chim nào thoát đây?

Chim già khiếp sợ tung bay

Chim non bị chết đọa đày xác thân

Kêu rên thảm thiết vô ngần

Vua trời nghe được hỏi thần đánh xe:

“Tiếng đâu vang vọng não nề?”

Thần này thuật lại những gì xảy ra

Vua trời nghe chợt xót xa:

“Chim non giãy chết thật là bi thương!

Sinh linh kiếp sống vô thường

Mạng mình cũng vậy vấn vương làm gì!”

Tâm ông nở đoá từ bi

Lệnh cho thần đánh xe kia trở về:

“Hãy quay xe lại mau đi

Gây chi chết chóc, thảm thê, đọa đày

Hãy quay về cõi trời ngay

A Tu La hại mạng này chẳng sao

Thân ta không đáng tiếc nào

Chủ quyền thiên giới ham đâu tranh giành

Hãy quay xe! Chớ sát sinh!

Chim non chết chóc tội tình! Chao ơi!”

Chiến xa quay ngược trở lui

Ầm ầm về lại cõi trời băm ba

Nơi đây các A Tu La

Đột nhiên thấy vậy thế là hoảng kinh

Tưởng vua trời có viện binh

Chen nhau bỏ chạy mong mình thoát thân

Không quay đầu lại một lần

Xuống tầng trời thấp trốn luôn dưới này

Trong lâu đài sẵn dựng xây

A Tu La vốn họp bầy xưa nay.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE HEAVEN OF 33, Ch.2: Compassion

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 7 *

CÕI TRỜI 33.

 

Chương 3: PHƯỚC BÁU

 

Vua trời Đế Thích mừng thay

Bất ngờ thắng trận, giờ này trở lui

Về lâu đài cũ lòng vui

Lâu đài sẵn tại tầng trời băm ba.

Cạnh bên là một dinh cơ

Một khu vườn đẹp, một hồ ao xanh

Đây là quả báu tốt lành

Của ba người nữ tái sinh kiếp này

Họ gieo nghiệp thiện trước đây

Vừa nhiều nhiệt huyết, lại đầy từ tâm

Họ là ba vị nữ nhân

Cùng Thiện Nhân sống quây quần kiếp xưa

Xà nhà, vườn tược, ao hồ

Đã thành tâm cúng dường cho xóm làng

Gieo nhân tốt, giờ vẻ vang

Cõi trời cao đó các nàng tái sanh

Chỉ riêng có nàng Thiện Sinh

Nữ nhân trẻ, thiếu lòng thành kiếp xưa

Gieo nhân thiện nàng chẳng ưa

Nay thành chim hạc nương nhờ rừng hoang.

*

Vua trời Đế Thích rảnh rang

Một hôm chợt nhớ tới nàng Thiện Sinh

Đi tìm nàng chốn rừng xanh

Đưa nàng lên tận thiên đình dạo chơi

Cho nàng thấy tại cõi trời

Vườn, ao, dinh thự tuyệt vời dễ thương

Quả lành của kẻ cúng dường

Kiếp xưa nghiệp thiện vẫn thường gieo nhân

Giờ đây sung sướng vô ngần

Trăm đường hạnh phúc, muôn phần sướng vui.

Ông khuyên nàng hạc đôi lời:

“Kiếp xưa nàng chẳng sống đời tu tâm

Nay làm chim hạc sơn lâm

Rừng sâu, núi thẳm muôn phần bi thương

Ta khuyên nàng hãy tìm đường

Tuân theo giới luật, tìm nương đạo vàng!”

Ông truyền “ngũ giới” cho nàng,

Riêng phần nàng hạc mở mang cõi lòng

Quyết tâm giữ giới cho tròn

Rồi nàng từ biệt về trong khu rừng.

*

Vua trời Đế Thích tuy mừng

Một ngày ông muốn thử lòng Thiện Sinh

Xem nàng hạc có sửa mình

Cho nên ông hiện thành hình mồi ngon

Biến thành một chú cá con

Cá nằm phơi bụng ở luôn trước nàng,

Thế là nàng hạc vội vàng

Mỏ dài quắp cá sẵn sàng ăn thôi

Tưởng rằng cá đã chết rồi

Nào ngờ cá lại quẫy đuôi rùng mình

Cá còn sống! Đừng sát sinh!

Năm điều giới cấm nhớ rành chẳng quên

Hạc bèn thả cá ra liền

Xuống dòng suối mát rừng bên an lành.

Cá kia hiện lại nguyên hình

Thành ông Đế Thích nhiệt tình ngợi ca:

“Đáng khen nàng hạc của ta

Giờ đây giữ giới thật là lành thay!”

Trong lòng hoan hỉ tràn đầy

Ông từ biệt trở về ngay cõi trời.

Sau này nàng hạc qua đời

Giữ gìn “ngũ giới” nàng thời tái sinh

Được làm người, lại đẹp xinh

Làm cô con gái gia đình nông thôn

Chuyên làm đồ gốm bán buôn

Nơi miền bắc Ấn hưởng muôn phước lành.

Một ngày tại chốn thiên đình

Chợt đâu nhớ đến Thiện Sinh thuở nào

Vua trời tìm hiểu vui sao

Thấy nàng đã tái sinh vào nhà kia

Làm đồ gốm chẳng khá gì

Ông bèn kiếm cách vội đi giúp liền

Biến thành ông lão lành hiền

Chở xe dưa chuột từ miền khác sang

Đây là dưa quý bằng vàng

Ông già đậu ở giữa làng la lên:

“Dưa bằng vàng quý vô biên

Bà con hãy đến lấy liền ngại chi!”

Người ta đến lấy dưa kia

Thời ông lại nói: “Dưa thì biếu không

Cho người nào biết tu thân

Biết theo ngũ giới thành tâm hàng ngày!”

Mọi người giới cấm chẳng hay

Lời vàng, nghiệp thiện lâu nay biết gì

Tưởng ông lẩn thẩn kể chi

Cho nên lối xóm bỏ đi! Chê cười!

Họ cho là chuyện lạ đời.

Thiện Sinh trái lại nàng thời nghĩ ngay

Rằng xe dưa chuột vàng này

Là quà mang đến nơi đây cho nàng,

Tìm ông già tại xe hàng

Nàng xin dưa chuột bằng vàng quý thay.

Ông già nghiêm nghị hỏi ngay:

“Thế cô ngũ giới có hay giữ gìn?”

Nàng bèn lễ phép thưa liền:

“Suốt đời ngũ giới con quên được nào!”

Ông già hoan hỉ biết bao:

“Riêng cô xứng đáng được trao dưa vàng”

Để xe lại trước nhà nàng

Ông già từ biệt. Cả làng ngạc nhiên.

Lành thay cô gái tâm hiền

Đem vàng san sẻ, chẳng quên người nghèo

Bao nhiêu thiện nghiệp mãi gieo

Năm điều giới cấm giữ theo trọn đời.

*

Sau này kết quả tuyệt vời

Mạng chung lên lại cõi trời thăng hoa

Tái sinh thành gái mặn mà

Làm con của chúa thần A Tu La

Thần này mặt mũi phô ra

Thường là xấu xí, ai ngờ riêng con

Đẹp như một bóng trăng tròn

Xinh tươi nhan sắc lại còn đáng yêu

Khi khôn lớn được cha chiều

Cho cô tự chọn chồng theo ý mình.

Một ngày đại hội linh đình

A Tu La các thần quanh cõi trời

Được mời tụ họp một nơi

Kén chồng cô chọn một người trong đây,

Khi hay rõ được chuyện này

Vua trời Đế Thích hiện ngay dự phần

Cũng thành ra một vị thần

A Tu La đó xa gần ai hay.

Cô nàng trang sức đẹp thay

Hương lành đưa gót tới đây kén chồng

Nhìn vua trời, nhận ra ông

Nhạc tình rộn rã, tiếng lòng chơi vơi

Chọn ngay Đế Thích vua trời

Cùng nàng gá nghĩa, hai người đẹp duyên.

Đưa nàng về chốn chư thiên

Vua trời âu yếm luôn bên cạnh nàng

Trao nàng địa vị nữ vương

Sống chung hạnh phúc, tình thương dạt dào.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE HEAVEN OF 33, Ch.3: Merit

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 8 *

CÔNG MÚA

 

Ngày xưa loài vật bốn chân

Bầu chàng sư tử dữ dằn làm vua,

Ngoài trùng dương khắp bến bờ

Cá thần được chọn coi như đứng đầu,

Riêng loài chim lại đua nhau

Thường ưa sắc đẹp từ lâu lắm rồi

Ham phô hình dáng bên ngoài

Ngôi vua bèn chọn ngỗng trời Kim Nga.

Kim Nga nhan sắc mặn mà

Có con gái cũng thật là đẹp xinh

Khi cô còn tuổi xuân xanh

Vua yêu, vua quý nên dành đặc ân

Được quyền ước nguyện một lần

Ước chi vua hứa sẽ làm theo ngay,

Cô bèn ước chồng sau này

Do cô tự chọn một ngày tương lai.

*

Tháng năm lần lượt trôi hoài

Cô nàng nay đã tới thời lớn khôn

Để cho công chúa kén chồng

Vua Kim Nga triệu tập trong một ngày

Muôn loài chim ở quanh đây

Kéo về núi Tuyết vui vầy thật đông

Trên cao nguyên rộng mênh mông

Bao chim tụ họp chờ mong duyên lành

Ước sao được lọt mắt xanh

Của nàng công chúa nổi danh khắp trời.

Vua Kim Nga bèn ngỏ lời

Để con tự chọn bạn đời nơi đây

Ngỗng trời công chúa vui thay

Nhìn quanh khắp lượt lòng đầy hân hoan,

Chợt nàng để ý tới chàng

Chim công cổ đẹp rỡ ràng ánh châu

Lông đuôi sặc sỡ nhiều mầu

Dung nhan phô sắc ai đâu sánh cùng

Nàng lên tiếng chọn bạn lòng:

“Chàng con ưng lựa làm chồng là công!”

Vua Kim Nga rất tán đồng

Các loài chim khác đều cùng vây quanh

Chúc mừng chú rể linh đình:

“Giữa bao nhiêu kẻ hùng anh buổi này

Bạn thời được chọn, vui thay!

Chúng tôi mừng bạn gặp may trong đời!”

Chim công nghe sướng mê tơi

Vươn đầu tự mãn, thốt lời kiêu căng:

“Các anh đâu có hay rằng

Khắp bầu trời rộng ai bằng được ta!”

Nói xong công xoè đuôi ra

Như hình cái quạt, thật là mê ly

Khoe lông mầu sắc lạ kỳ

Quay vòng nhảy múa còn chi đẹp bằng

Lòng tự phụ, vẻ huênh hoang

Công vươn cao cổ khoe khoang thân mình

Và do đó đã vô tình

Hở ra chỗ kín, hớ hênh thân người

Phô ra lồ lộ giữa trời

Thật là xấu hổ, tức cười biết bao.

Vây quanh chim chóc lao xao

Cười vì công múa điệu sao tục tằn.

*

Vua Kim Nga chợt nghĩ thầm:

“Con mình lầm chọn chàng đần thế kia

Không còn biết xấu hổ chi

Thiếu phần khiêm tốn, thiếu bề đoan trang

Xứng đâu làm rể cung vàng

Xứng đâu duyên sánh với nàng con ta!”

Vua lên tiếng, giọng vang xa:

“Chim công ngưng múa để mà nghe đây,

Bộ lông ngươi rực rỡ thay

Đuôi xoè cánh quạt múa may tuyệt vời

Cổ như ngọc bích sáng ngời

Vẻ thời duyên dáng, giọng thời du dương

Bề ngoài đẹp đẽ phô trương

Bề trong chất chứa trăm đường nhớp nhơ

Không thanh lịch, chẳng nết na

Rất chi ngu xuẩn, thật là cuồng điên

So ra chẳng xứng kề bên

Con ta tế nhị, lành hiền, thơ ngây!”

Mộng vàng trôi cuối chân mây

Chim công gục mỏ xa bay ngậm ngùi.

Về sau công chúa ngỗng trời

Được vua cha gả trong nơi cung vàng

Một chàng chim có họ hàng

Xứng đôi, vừa lứa vẻ vang duyên lành.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE DANCING PEACOCK

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 9 *

VUA CHIM CÚT

VÀ CHÀNG THỢ SĂN

 

Một bầy chim cút thuở xưa

Đứng đầu có một vị vua trị vì

Vua chim cút rất có uy

Muôn chim kính trọng, nể vì, mến thương.

Thợ săn kia ở ven rừng

Là người tài giỏi tiếng lừng khắp nơi

Giả chim kêu thật tuyệt vời

Cái tài bắt chước ít người sánh ngang,

Giả chim cút chàng kêu vang

Như chim kêu cứu khi vương bẫy người

Nhiều chim bị dụ tới nơi

Chàng giăng bẫy chụp, chim thời kẹt ngay

Thế là lâm nạn cả bầy

Bị chàng nhốt giỏ đọa đày xác thân

Chàng đem ra chợ ở gần

Bán chim, kiếm sống, bao lần thành công.

Một ngày vừa rạng vầng hồng

Vua chim thám hiểm bay trong khu rừng

Vua nhìn quanh quất xem chừng

Chăm lo sinh mạng cho từng chú chim

Khôn ngoan vua nhận ra liền

Thợ săn giả tiếng chim quen gọi bầy

Dụ chim cút lọt bẫy này

Vua lo tìm kế hoạch hay cứu bầy.

Vua bèn cho triệu tập ngay

Bao nhiêu chim cút quanh đây tụ về

Trong vương quốc, khắp sơn khê

Mời thêm chim cút vùng quê xa vời

Muôn chim tụ họp một nơi

Để nghe cách thức chống người thợ săn.

Vua chim cút đứng đầu đàn

Chào mừng đồng loại nghiêm trang thốt lời:

“Chúng ta chim cút cùng loài

Lâu nay lâm nạn bi ai khốn cùng

Nên góp sức, phải chung lưng

Phá tan mưu kế gian hùng thợ săn!”

Chim đầu đàn đề nghị rằng:

“Hãy theo kế hoạch kết đoàn của tôi

Chẳng may bị chụp lưới rồi

Mỗi chim một lỗ ta chui đầu vào

Cùng nhau vươn cổ lên cao

Rồi cùng cất cánh bay vào vườn bên

Lưới giăng bị nhấc bổng lên

Ta cùng đội lưới quăng liền bụi gai

Bay xuống dưới, trốn ra ngoài

Thế là ta thoát khỏi tai họa này,

Thợ săn gỡ lưới loay hoay

Chúng ta thong thả tung bay cuối trời!”

Khi vua chim cút dứt lời

Thấy là phương cách tuyệt vời khôn ngoan

Muôn chim đồng ý cả đoàn

Tin rằng sẽ được an toàn dài lâu.

*

Thợ săn vào sáng hôm sau

Vẫn quen giả tiếng chim đâu khác gì

Tưởng rằng cũng giống mọi khi

Dụ chim vào bẫy khó bề thoát thân

Nào ngờ chuyện lạ vô ngần

Chim cùng vươn cổ bất thần tung bay

Đội theo cả lưới giăng này

Bụi gai gần đó quăng ngay lên rồi

Thế là mưu kế đi đời

Chẳng chim nào kẹt lưới người gian manh

Thợ săn bận rộn quẩn quanh

Sáng chiều gỡ lưới, bực mình biết bao

Ngày trôi mất ! Sức tiêu hao!

Khó giăng thêm mẻ lưới nào bẫy chim.

Rồi liên tiếp mấy hôm liền

Bầy chim thắng lợi liên miên cách này

Thợ săn cứ mải loay hoay

Bận lo gỡ lưới cả ngày toi công

Trở về nhà với tay không

Vợ chàng giận giữ la chồng một phen:

“Không có chim! Chẳng có tiền!

Mất công cả buổi chẳng nên chuyện gì

Hay là mê kẻ nào kia

Thay lòng đổi dạ bỏ bê vợ nhà?”

Vợ cằn nhằn, vợ hét la.

Phân trần chàng vội kể ra sự tình:

“Ta nào thiếu sự trung thành

Hôm nay xui quá nên đành về không

Bầy chim đoàn kết vô cùng

Chui đầu mắt lưới đồng lòng nâng lên

Thả vào gai nhọn kế bên

Thế là ta thất bại liền buổi nay!”

Thợ săn chợt nảy ý hay

Vuốt ve: “Thôi cũng còn may đấy bà

Nhờ bà ta chợt nghĩ ra

Bà hay gây gổ cùng ta nhiều rồi,

Bọn chim kia cũng thế thôi

Một ngày nào đó chúng thời gây nhau

Chẳng còn hòa hợp nữa đâu

Bấy giờ ta sẽ tóm mau cả bầy

Chim chui bẫy! Tiền vào tay!

Bà thời nở nụ cười ngay đấy mà

Bà nên kiên nhẫn nghe ta

Vợ chồng hạnh phúc, cửa nhà êm vui!”

*

Quả nhiên thật đúng như lời

Một ngày chuyện xảy ra rồi chẳng lâu

Bầy chim chen chúc cùng nhau

Nàng chim vô ý đạp đầu chàng kia

Dù nàng xin lỗi tức thì

Chàng kia vẫn giận không hề bỏ qua

Chàng bèn lên tiếng thét la

Thế là cãi cọ xảy ra mất rồi

Chàng to tiếng, nàng nặng lời

Vua chim can gián cũng đời nào xong

Nghĩ thầm: “Nguy hiểm vô cùng

Chim không hoà thuận, việc không tốt lành

Cùng bầy mà cứ đua tranh

Đến khi nâng lưới cũng ganh nhau hoài

Thế là sẽ gặp nguy tai

An toàn đâu nữa! Tàn đời còn chi!”

Vua chim ra lệnh bay đi

Bầy chim đa số tức thì theo ngay,

Những chim khác còn tại đây

Mải mê cãi lộn càng ngày càng hăng

Thình lình có lưới bủa giăng

Thợ săn trở lại vừa quăng lưới này

Hai chim vẫn cãi hăng say:

“Ta không nâng lưới! Ta đây chẳng cần!

Kệ mi ta chẳng dự phần!”

Bầy chim còn lại nổi sân tức thì:

“Chúng ta nào có ngu chi

Ra công nâng lưới cho mi chê cười!”

Cả bầy tranh chấp tơi bời

Bùng ra như đám cháy nơi rừng già.

Thợ săn lợi dụng thời cơ

Tóm đầy một mẻ chẳng tha mạng nào

Giỏ kia bèn nhốt kỹ vào

Đem về đưa vợ nấu xào món ăn

Vợ liền vui vẻ vô ngần

Mời thêm lối xóm xa gần tham gia

Tiếng cười vang khắp cửa nhà.

Thương bầy chim cút thật là dại ngu!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE QUAIL KING AND THE HUNTER

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 10 *

CON CÁ MAY MẮN

 

Nhà vua nọ thời xa xưa

Có quan cố vấn rất ư nhiều tài

Ông quan thông thái hơn người

Tiếng loài vật nói ông thời hiểu ngay

Chuyện trò với chúng hàng ngày

Bằng ngôn ngữ của loài này, loài kia.

Một hôm rảnh rỗi ông đi

Cùng đoàn hầu cận theo kề một bên,

Dọc bờ sông nước dâng lên

Mấy người đánh cá neo thuyền vung tay

Tung ra lưới khắp sông này

Hòng mong bắt cá vào đây kiếm tiền.

Nhìn xuống sông ông thấy liền

Một nàng cá đẹp như tiên dẫn đầu

Thân hình lóng lánh tươi mầu

Cầu vồng phô sắc cũng đâu sánh bằng

Theo sau đuôi là một chàng

Thân to, cũng đẹp rỡ ràng kém chi

Chàng ta mải miết bơi đi

Hầu như không để ý gì chung quanh

Chỉ nhìn theo dáng xinh xinh

Dõi theo nàng, mắt si tình dại ngây

Khi gần tới lưới giăng đây

Tinh khôn nàng cá đã hay biết rồi

Nàng bèn lanh lẹ lách người

Bơi quanh lưới cá tức thời tránh ngay

Chỉ riêng chàng cá, buồn thay,

Đang mê tâm khảm, đang say cõi lòng

Cho nên mù quáng vô cùng

Lưới kia chui thẳng vào trong, tàn đời!

Thế là chàng bị bắt thôi

Vui mừng ngư phủ được mồi kéo lên

Ném chàng cá lớn qua bên

Vót cây cho nhọn chờ xiên cá này

Lửa nhóm lên, khói quyện bay

Cá mà nướng lửa xưa nay tuyệt trần!

*

Bờ sông chàng cá phơi thân

Vẫy vùng rên xiết vô ngần thương đau

Cá than thở một hồi lâu

Quan nghe hiểu cá, gật đầu cảm thông

Ông quay lại đám tùy tùng

Vội vàng thuật lại nỗi lòng cá kia.

Ông thầm nghĩ: “Cá u mê

Không hề sợ chết, không hề sợ xiên

Chỉ lo nàng cá buồn phiền

Nghĩ chàng phản bội có thêm cuộc tình”

Cá luôn miệng nói một mình:

“Đời tôi ao ước ở quanh bên nàng

Thân tôi đây tôi chẳng màng

Vì nàng tôi sẽ sẵn sàng xả thân

Lo cho nàng là tối cần

Nàng đâu? Tôi muốn luôn gần nàng thôi!”

Ông quan buông tiếng thở dài

Khi nghe cá thốt những lời bi thương

Quan thầm nhủ: “Cá điên cuồng

Thân giờ bi đát vì vương dục tình

Nhưng tâm thời vẫn quẩn quanh

Cái vòng luyến ái thoát nhanh được nào

Rồi đây chết sẽ ra sao

Con đường địa ngục đọa vào tránh đâu

Thôi ta nên giúp cá mau

Kiếp sau khỏi phải đớn đau đọa đày!”

Ông quan rất tốt bụng này

Ghé người đánh cá tại đây ngỏ lời:

“Bác chài trên bến sông ơi

Thần dân chung thủy lâu đời của vua!

Từ lâu lắm, từ xa xưa

Ta chưa hề được bác đưa tặng quà

Hôm nay hãy biếu cho ta

Một con cá để gọi là xã giao!”

Trưởng đoàn đánh cá thưa mau:

“Xin vâng! Nào chúng tôi đâu tiếc gì

Xin ngài cứ lấy cá đi

Cá nào ngài thích tôi thì kính dâng!”

Ông quan: “Vậy tốt vô ngần

Cá kia to xác nằm gần sông xanh

Trông ra có vẻ ngon lành!”

Trưởng đoàn: “Ngài muốn xin dành ngài ngay!”

Ông quan cầm cá lên tay

Cá còn rên rỉ giọng đầy bi thương.

Quan bèn nói với cá rằng:

“Ngươi sao dục lạc vấn vương cả đời

Nếu ta không thấy được ngươi

Hôm nay ngươi sẽ tàn đời còn chi

Con đường mù quáng ham mê

Mãi đưa ngươi tới não nề khổ đau

Cá ngu ơi, thoát ra mau

Từ nay chớ có chui đầu bẫy xưa

Đừng nên tham đắm say sưa

Cội nguồn tình ái luôn thừa sầu bi!”

Lời vàng thức tỉnh lương tri

Bến bờ giác ngộ tràn trề hương thơm

Cá nhìn quan nói cám ơn

Ơn lời chỉ giáo khôn ngoan vô cùng.

Quan bèn thả cá xuôi dòng

Quay lên cùng đám tùy tùng ra đi.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE FORTUNATE FISH

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 11 *

CHIM CÚT NHỎ

KHÔNG BIẾT BAY

 

Ngày xưa có chú chim non

Đôi chân, đôi cánh hãy còn nhỏ xinh

Nằm trên tổ giữa rừng xanh

Chim cun cút nhỏ chỉ quanh nơi này

Không biết đi, chẳng biết bay

Mẹ cha vất vả suốt ngày kiếm ăn

Lo cho cút khá nhọc nhằn

Thương con cha mẹ xả thân kiếm mồi.

*

Địa phương này từ lâu rồi

Mỗi năm nạn cháy rừng thời xảy ra,

Năm nay lửa cũng chẳng tha

Một hôm khói bốc nhạt nhòa rừng cây

Lửa hồng bộc phát đâu đây

Chim muông rời tổ vội bay rộn ràng

Gió lên, khói bốc, lửa lan

Tổ chim cút nhỏ lửa càng gần thêm

Mẹ cha nán lại cùng chim

Biết rằng con nhỏ khó yên được nào.

Lửa rừng càng lúc càng cao

Cây cành gãy đổ ào ào chung quanh

Mẹ cha chim cút hoảng kinh

Biết rằng khó cứu con mình thoát nguy

Nên đành cất cánh bay đi

Để con lại tổ! Chia ly não lòng!

Giữa vùng khói lửa mịt mùng

Chim muông thoát hiểm vô cùng khó khăn.

*

Chim non kẹt lại nghĩ thầm:

“Dễ gì có thể thoát thân chốn này

Mẹ cha ta từ lâu nay

Yêu ta, săn sóc hàng ngày cho ta

Chu toàn, tươm tất, thiết tha

Đến khi lửa cháy lan ra bốn bề

Mẹ cha liều mạng ngại chi

Vẫn còn nán lại đến khi cuối cùng

Cứu ta biết chẳng thành công

Mới đành bay thoát khỏi vòng nguy tai

Tâm từ cha mẹ rạng ngời

Ta xin ghi khắc bao đời khó quên

Cầu cho cha mẹ bình yên!”

Thế rồi chim cút nghĩ thêm phận mình:

“Giờ ta bất lực thật tình

Chân không đi được, lết quanh tổ này

Cánh không bay thoát khỏi đây

Nhưng đầu óc vẫn tràn đầy suy tư!”

Với tâm sáng, với lòng từ

Hạnh Chân Thật nọ bỗng như nở bừng

Tạo ra sức mạnh vô cùng

Chim non thành kính tập trung muôn lời

Niệm thêm công đức tuyệt vời

Của bao chư Phật từ thời xưa kia,

Thật là uy lực diệu kỳ

Tự nhiên ngọn lửa vô tri chợt ngừng

Không còn tàn phá khu rừng

Tắt như nhúng đuốc xuống vùng hồ ao,

Muôn chim còn lại mừng sao

Cùng chim cút nhỏ thoát bao hiểm nghèo.

Triệu năm sau đó tiếp theo

Khu rừng này vẫn hưởng nhiều bình an.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE BABY QUAIL

WHO COULD NOT FLY AWAY

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 12 *

CHIM KHÔN, CHIM DẠI

 

Ngày xưa có một cái cây

Vươn lên to lớn ở ngay giữa rừng

Bao nhiêu chim chóc trong vùng

Rủ nhau kéo đến sống chung hợp đoàn

Một chim tột bực khôn ngoan

Được bầu ra đứng đầu đàn nơi đây.

Chim đầu đàn chợt một ngày

Bay quanh trông thấy trên cây của mình

Hai cành gió thổi dập dình

Vỏ khô cọ xát tạo thành bụi dơ

Bụi rơi xuống dưới lá khô

Và rồi chút khói bất ngờ bốc lên

Chim suy nghĩ đoán ra liền:

“Thế nào lửa cũng cháy trên cây này

Khu rừng sẽ bị cháy lây

Gây ra thảm họa, cả bầy khó yên!”

Chim đầu đàn bèn nhắn tin

Cho mời tất cả các chim họp bàn

Mở lời: “Hỡi các bạn thân

Cây ta đang sống nguy nan hiểm nghèo

Tương lai lửa sẽ cháy thiêu

Tràn lan lửa sẽ hủy tiêu khu rừng

Ở đây nguy hiểm vô cùng

Ta nên xa lánh khỏi vùng này ngay

Kẻo mà bỏ xác tại đây!”

Lời khuyên hợp lý lại đầy tình thương.

Nhiều chim khôn vội tìm đường

Rời vùng nguy hiểm, tìm phương an lành

Bay qua rừng khác cho nhanh.

Nhiều chim tự nhận khôn lanh hơn người

Không chịu nghe, chẳng muốn rời

Nghĩ mình can đảm, mở lời cười chê:

“Đầu đàn mà lại nhát ghê

Khói vương chút ít có nề hà chi

Cớ sao ta phải ra đi

Nơi đây tổ ấm còn gì hơn đâu!”

*

Buồn thay chỉ được ít lâu

Những lời tiên đoán xảy mau ra rồi

Một ngày vào buổi xấu trời

Cành cây cọ xát lửa thời phát ra

Thành tia nho nhỏ văng xa

Rơi ngay xuống lá khô và cháy lên

Lửa lan ra khắp bốn bên

Ngày càng mãnh liệt càng thêm hãi hùng

Cái cây to lớn nhất rừng

Giờ đây lửa bắt lên từng lá cao

Các chim còn đó xôn xao

Khu rừng biển lửa ào ào khắp nơi

Tổ chim ngập khói tơi bời

Khiến chim nghẹt thở, mắt thời mù luôn

Nhiều chim không thể thoát thân

Lửa rừng thiêu cháy vô ngần thương đau.

Kẻ không có trí trước sau

Không nghe lời phải thoát đâu tử thần.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

WISE BIRDS AND FOOLISH BIRDS

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 13 *

CÂY BÀNG MỌC LÊN

 

Ngày xưa có một cây bàng

Thân to vươn giữa thênh thang núi rừng

Bên sườn núi tuyết chập chùng

Nơi ba con vật ở cùng với nhau

Sống chung thân thiết từ lâu

Một là chim trĩ đậu đầu ngọn cây,

Hai là khỉ thích đu dây,

Ba là voi nọ da dầy, to thân

Cả ba con vật quây quần

Thông minh tài trí cũng gần tương đương

Dù quen biết, dù yêu thương

Vẫn luôn tranh cãi chẳng nhường nhịn chi

Hiếm khi đồng ý chuyện gì

Luôn cho mình phải rồi chê ý người.

Thời gian hoài phí dần trôi

Sợ rằng tình bạn tới thời rã tan

Ba con vật cùng họp bàn

May thay đồng ý dễ dàng buổi nay:

“Kẻ nào có ý kiến hay

Đó là kẻ sống dạn dày bản thân

Tuổi nhiều kinh nghiệm vô ngần

Tất nhiên nhận xét có phần cao xa!”

Ngờ đâu rắc rối xảy ra

Ngày sinh, tuổi tác, cả ba quên rồi

Không còn nhớ vì lâu đời

So ra chẳng biết ai thời cao niên.

*

Một hôm nắng đẹp khắp miền

Nhìn cây bàng lớn êm đềm gió bay

Nảy ra sáng kiến tuyệt hay

Thế là chim trĩ hỏi ngay bạn vàng:

“Này voi cố nhớ rõ ràng

Lần đầu bạn thấy cây bàng ra sao

Cây to lớn như thế nào?”

Mơ màng voi đáp: “Ở vào thời xưa

Khi tôi nhỏ thường chơi đùa

Cây bàng chỉ thấp ngang vừa bụng tôi!”

Chim quay qua khỉ thốt lời:

“Vậy còn bạn khỉ thì thời đó đâu?”

Tay vuốt mặt, tay gãi đầu

Khỉ nhăn nhó nói: “Từ lâu lắm rồi

Khi tôi nhỏ tới đây ngồi

Chỉ cần vươn cổ đụng chồi ngọn cây

Cây bàng còn thấp lắm thay

Tôi ăn chồi đó hàng ngày khó chi!”

Voi và khỉ hỏi: “Vậy thì

Bạn chim trĩ có nhớ gì hay chăng?”

Đáp lời chim trĩ nói rằng:

“Khi tôi còn nhỏ phải băng núi đồi

Qua nơi xa lắc kiếm mồi

Cây bàng rừng lạ lâu đời sum sê

Trái nhiều chín mọng ngon ghê

Tôi ăn trái đó rồi về lại đây

Hôm sau đứng tại chỗ này

Tôi đi tiêu chảy ra ngay hột bàng

Hột bàng mọc với thời gian

Thành cây to lớn vươn ngang giữa rừng!”

*

Voi và khỉ vội chúc mừng:

“Tuổi đời bạn đã thuộc từng lớp trên

Bạn chim là vị cao niên

Chúng tôi kính trọng và nên nghe lời

Bạn khôn ngoan, bạn thạo đời

Chắc rằng kinh nghiệm hơn người khác thôi

Bạn nên hướng dẫn chúng tôi

Tránh đường sai sót, tránh nơi lỗi lầm

Vì hòa khí, vì tình thân

Bạn nên đứng đắn và luôn chân thành!”

Chim hoan hỉ: “Thật tốt lành!

Cám ơn hai bạn đã dành cho tôi

Những lời kính trọng tuyệt vời

Tôi xin hứa sẽ suốt đời chẳng quên

Sống theo sự tín nhiệm trên

Việc mong hoàn tất, tình thêm chan hòa!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE BIRTH OF A BANYAN TREE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 14 *

CÒ VÀ CUA

 

Một trong nhiều  kiếp trước đây

Có ông thần ở trên cây cao vời

Cây to, mọc đã lâu đời

Giữa hai đầm nước ngay nơi ven rừng

Một đầm nhỏ, nước lưng chừng

Chàng cua và lũ cá chung họp bầy,

Đầm kia rộng rãi đẹp thay

Lá sen phủ kín, nước đầy, xanh tươi.

Một năm hạn hán khắp nơi

Nước trong đầm nhỏ bốc hơi cạn dần

Nhưng bên đầm lớn ở gần

Nước nhờ sen phủ mười phần còn nguyên.

Cò kia đi dạo phía trên

Thấy bầy cá nhỏ cò liền dừng chân

Trong lòng tính toán phân vân

Nghĩ mưu lừa cá, bắt dần lên ăn.

Cò bèn tỏ vẻ quan tâm

Nói cùng bầy cá: “Nước đầm mau vơi

Các em rồi chết khô thôi

Khổ thân! Tội nghiệp! Mau rời khỏi đây!”

Cá nghe hoảng hốt cả bầy

Xin cò tìm cách ra tay cứu mình.

Cò bèn lên giọng nghĩa tình:

“Đầm sen là chỗ an bình trú chân

Di cư qua đấy cũng gần

Mỏ dài anh giúp quắp dần từng em!”

Cua nghe vội vã la lên:

“Coi chừng kẻo mắc bẫy tên cò này

Thật là chuyện lạ xưa nay

Giống cò nào có thương bầy chúng ta

Đói lòng nó đến thôi mà!”

Cò bèn trổ giọng ba hoa nhân từ:

“Các em muốn rõ thực hư

Cử ngay đại diện anh đưa đi liền

Qua chơi cho biết đầm sen

Bơi xong thỏa thích anh đem trở về

Anh đây tử tế khỏi chê

Giúp người hoạn nạn có nề hà chi,

Các em chớ có hồ nghi

Hãy mau thoát chốn hiểm nguy kịp thời!”

Cá nghe, bàn tán chọn người

Cá già được cử đi chơi thăm dò.

Cá già về, ca tụng cò:

“Anh chàng thật tốt! Chớ lo ngại gì!

Đầm sen rộng rãi đẹp ghê

Bồng lai, tiên cảnh khó bề sánh ngang!”

Thế là bầy cá vội vàng

Tranh nhau xin được dời sang đầm này.

Cuộc di cư dễ dàng thay

Anh cò bụng đói giúp ngay cho mà

Quắp từng em cá đưa qua

Gốc cây cổ thụ nhả ra rỉa mồi

Chỉ còn vứt lại xương thôi

Tàn đời lũ cá tin lời gian manh!

*

Đến khi hết cá bơi quanh

Trong đầm còn lại một mình chàng cua

Khôn ngoan, thủ đoạn có thừa

Cua vừa thắc mắc, lại vừa nghĩ suy:

“Mình rời đầm cạn ra đi

Phải lo đối phó, phòng khi mắc lừa”.

Cò ta vồn vã hỏi cua:

“Bạn cua có muốn ta đưa giúp nào?”

Cua nghi ngại: “Đưa làm sao?”

Cò ta dụ dỗ: “Quắp vào mỏ thôi

Cũng như đưa cá vừa rồi!”

Cua bèn than vãn: “Vỏ tôi cứng còng

Lại trơn tuồn tuột thấy không

Mỏ dài anh quắp khó lòng lắm thay

Sợ rơi xuống đất tan thây

Chi bằng tôi bám nhẹ ngay cổ này

Cổ anh rất khỏe xưa nay

Mọi người vẫn phục là tay anh hùng!”

Thịt cua mùi chợt thơm lừng

Thêm lời nịnh hót tưng bừng sướng tai

Cò vươn ngay chiếc cổ dài

Cua bèn bám cổ. Cả hai đi liền.

Khi gần tới cạnh đầm sen

Ăn quen lối cũ cò bèn dừng chân.

Cua nghi, hỏi giọng băn khoăn:

“Sao anh ngừng lại? Phải chăng mệt rồi?”

Loay hoay tìm cách trả lời

Cò đang nghĩ quẩn, cua thời nhìn quanh

Thấy ngay xương cá rành rành

Gốc cây cổ thụ chất thành đống to.

Cua nhanh nhẹn bóp cổ cò

Hai càng chắc nịch xiết cho rụng rời,

Cua la: “Mày chết cò ơi!

Lừa tao sao nổi! Tao đời nào thua!”

Cò đau đớn khẽ van cua:

“Đầm sen gần tới! Tôi đưa đi liền!”

Cua ra lệnh: “Đi mau lên!

Giở trò bịp bợm chết liền nghe em!”

Cò đưa cua tới đầm sen

Cổ dài vươn xuống ngang trên mặt đầm

Để cua xuống nước cho gần

Để cò mau thoát khỏi phần đớn đau

Nào ngờ cua có tha đâu

Hai càng xiết mạnh cứa sâu cổ dài

Cổ cò đứt đoạn làm hai

Tàn đời xảo trá! Hết loài gian manh!

*

Thần cây rõ chuyện ngọn ngành

Răn đời: “Thâm độc có thành công đâu

Rước vào kết quả thảm sầu

Ác giả, ác báo từ lâu vậy mà!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE CRANE AND THE CRAB

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson

và Truyện Cổ Phật Giáo của  Nguyễn Thế Vinh)

 

* 15 *

KHO TÀNG GIẤU CHÔN

 

Ngày xưa có một ông già

Ở Ba La Nại, cửa nhà giàu sang

Ông già có một bạn vàng

Rất là tài giỏi, khôn ngoan hơn người.

Vợ ông già còn trẻ thôi

Đảm đang, duyên dáng, xinh tươi, mượt mà

Nên ông thầm nhủ lo xa:

“Đây là may mắn hay là nguy tai?”

Vợ chồng có một con trai

Ông yêu, ông quý nào ai sánh bằng.

Một ngày ông chợt nghĩ rằng:

“Vợ càng trẻ đẹp lại càng khó tin

Khi ta chết nàng chóng quên

Lấy thêm chồng khác ngay liền chẳng sai

Cả hai phung phí tiêu xài

Hết luôn tất cả gia tài của ta

Do bao công sức kiếm ra,

Con ta còn có gì mà hưởng đây,

Giờ ta phải kiếm cách ngay

Giữ gia tài lại sau này cho con

Cách hay nhất để bảo tồn

Là đem của cải giấu chôn trong rừng”

Ông bèn gọi kẻ tùy tùng

Trung thành giúp việc đã từng bao năm

Vào rừng sâu, chốn xa xăm

Mang theo của cải âm thầm giấu chôn

Nan Đà tên của gia nhân

Nghe ông tín cẩn ân cần nhắn nhe:

“Này Nan Đà hãy lắng nghe

Cố mà giữ kín những gì hôm nay

Khi ta từ giã đời này

Con ta rồi sẽ tới ngày lớn khôn

Bạn nên kề cận nó luôn

Rồi đưa nó tới chỗ chôn kho tàng

Nhưng khuyên nó hãy khôn ngoan

Biết đường xử dụng bạc vàng báu châu!”

*

Quả nhiên sau đó ít lâu

Ông già tuổi hạc về chầu tổ tiên

Con trai giờ đã thành niên

Học hành đỗ đạt lại thêm hiền lành

Thay cha làm chủ gia đình,

Một hôm bất chợt mẹ anh nói rằng:

“Con ơi! Con có hay chăng

Đa nghi hạng nhất ai bằng cha con

Cho nên ông đã giấu chôn

Bao nhiêu tài sản vào luôn rừng già,

Mẹ nghi lão bộc Nan Đà

Từ lâu hắn vẫn tỏ ra trung thành

Cha con tín cẩn hết mình,

Hỏi đi! Chắc hắn biết rành chỗ chôn

Tất nhiên hắn sẽ giúp con

Đem kho tàng trở về luôn nhà mình,

Rồi con còn lập gia đình

Chăm lo gia sản cha dành lại đây!”

Chàng nghe mẹ gợi ý hay

Hỏi ra quả thật đúng ngay y lời.

*

Nan Đà một buổi đẹp trời

Đưa chàng trẻ tuổi vào chơi khu rừng

Tới nơi kia hắn chợt ngừng

Rồi leo lên đứng trên từng đất cao

Thấy mình quan trọng biết bao

Kho tàng mình biết, chủ nào có hay!

Lòng kiêu mạn chợt dâng đầy

Hắn bèn mắng nhiếc chủ ngay tức thì:

“Đứa con hư, hãy đi đi

Tấm thân nô lệ có gì quý đâu

Gia tài không đáng hưởng nào!”

Bao lời thô ác, hỗn hào tuôn ra

Chàng trai nuốt giận làm lơ

Trở về nhịn nhục đợi chờ chuyến sau.

Vài ba ngày đã trôi mau

Cả hai trở lại rừng sâu chuyến này

Rồi y vậy, chẳng đổi thay

Nan Đà lại giống như ngày trước thôi

Thật là kỳ quặc quá trời

Chàng trai suy nghĩ, tìm người hỏi thăm.

Nhớ cha trước có bạn thân

Từ lâu thông thái khôn ngoan tiếng đồn

Chàng bèn tìm tới thăm ông

Đầu đuôi thuật chuyện cầu mong giúp mình,

Ông già thân với gia đình

Nghe xong bèn nói: “Quả tình lạ thay!

Kỳ sau đi với hắn ngay

Vào khu rừng cũ lần này xem sao

Khi mà nó nói hỗn hào

Nó dừng chân lại chỗ nào chớ quên

Nhớ xong, đuổi nó đi liền

Dạy cho nó biết chớ nên làm tàng,

Chỗ nào nó đứng là vàng

Hãy đào của cải mà mang trở về,

Nan Đà mặc cảm mọi bề

Vốn mang bản chất tự ti yếu hèn

Nên khi nó có chút quyền

Nó bèn lạm dụng hầu quên phận mình!”

*

Lời khuyên hợp lý hợp tình

Chàng trai liền đó thi hành y theo

Quả nhiên mọi việc xuôi chiều

Gia tài chôn giấu bao nhiêu bạc vàng

Chàng con lấy lại dễ dàng

Tuân theo đúng ý cha chàng trước đây

Khôn ngoan cai quản khéo tay

Đồng thời bố thí để gây nhân lành

Tạo ra công đức cho mình

Mang thêm lợi lạc cho quanh xóm làng.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

BURIED TREASURE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 16 *

PHẬT ĐỘC GIÁC

 

Ba La Nại thuở xa xưa

Có ông của cải rất ư là giàu

Cha ông lại chẳng sống lâu

Chết đi để lại thêm bao nhiêu tiền

Thế là triệu phú giàu thêm

Gia tài sản nghiệp khắp miền nổi danh.

Một ngày ông nghĩ khôn lanh:

“Của này sao lại chỉ dành riêng ta

Giàu sang nên mở rộng ra

Cho người chung hưởng mới là điều hay!”

Nghĩ xong ông thực hiện ngay

Cửa thành bốn phía dân hay ra vào

Ông xây lên đẹp biết bao

Bốn căn nhà để đón chào người dân

Đồ ăn, thức uống ai cần

Biếu không, xin cứ dừng chân, ông mời.

Tấm lòng bố thí tuyệt vời

Thật là rộng lượng, mọi người ngợi ca.

*

Cách Ba La Nại không xa

Có Phật Độc Giác rừng già tĩnh tu

Ngài đang thiền định êm ru

Lòng nhân rạng rỡ, tâm từ chứa chan

Ngài thương xót kẻ nhân gian

Nổi trôi trần thế vô vàn khổ đau

Ngài mong họ giác ngộ mau

Tiếc thay họ lại quay đầu làm ngơ

Thiết đâu Chân Lý thăng hoa

Nên ngài yên lặng, lánh xa bụi trần

Rừng thiền một bóng tu thân

Tới bờ giác ngộ bước chân rộn ràng.

Một hôm thiền định rừng hoang

Bảy ngày liên tục chẳng màng uống ăn

Xả thiền ngài thấy nhọc nhằn

Trong người đói khát, e rằng hiểm nguy

Nên ngài đâu quản ngại gì

Tìm đường khất thực vội đi vào làng

Tới nhà triệu phú giàu sang

Chờ người hoan hỷ cúng dường thầy tu.

Chủ nhà sửa soạn ăn trưa

Chợt trông thấy Phật đến từ phía xa

Vội vàng ra lệnh người nhà

Thức ăn thành kính mang ra cúng dường

Mình thời đứng dậy nghiêm trang

Chờ chào đón Phật rộn ràng lòng vui.

*

Nào ngờ hiện diện cạnh nơi

Ác Ma thần chết mọi người nghe danh,

Đời thường sợ hãi hoảng kinh

Lo rằng chính bản thân mình mạng vong

Nên luôn hồi hộp cõi lòng

Ác Ma vì thế vô cùng quyền uy,

Nhưng riêng với vị Phật kia

Ác Ma thấy chẳng có chi quyền hành

Ngài luôn sống rất tịnh thanh

Sợ đâu cái chết vây quanh đón chờ.

Ác Ma tức giận vô bờ

Cho nên gặp dịp bất ngờ hôm nay

Muốn ngài đói khát đọa đày

Để rồi bị hủy diệt ngay bữa này

Ác Ma vội vã ra tay

Tạo thành hố thẳm giăng đầy lửa than

Cản đường của đám gia nhân

Khó mà mang được thức ăn cúng dường

Người nhà triệu phú kinh hoàng

Đành quay lại chủ vội vàng trình ngay

Chủ sai người khác đi thay

Mọi người gặp lửa đều quay trở về

Thảy đều sợ chết thảm thê,

Chủ nhân thầm nghĩ: “Sá gì Ác Ma

Làm sao ngăn cản được ta

Nhiệt tình bố thí, thiết tha cúng dường

Đây là bước tiến trên đường

Về nơi giác ngộ, về phương an lành!”

Với lòng tin, với tâm thành

Chủ nhân triệu phú tự mình ra đi

Đích thân bưng thức ăn kia

Cúng dường cho Phật còn gì quý hơn,

Bị ngăn chặn bởi hố than

Nhìn vào thấy lửa hung tàn bốc ra

Nhìn lên thấy mặt Ác Ma

Chập chờn thần chết thật là hãi kinh

Ông bèn lên tiếng hỏi nhanh:

“Chắc là mi đã tạo thành hố than

Mi là ai tới cản ngăn?”

Ác Ma đáp lại: “Ta thần chết đây

Chính ta tạo hố lửa này

Ngăn nhà ngươi khỏi tiếp tay cúng dường

Phật kia sẽ chết tang thương

Và ngươi khỏi tiến trên đường tu thân

Vẫn còn trong chốn bụi trần

Vẫn trong quyền lực vô ngần của ta!”

Chủ nhân: “Này hỡi Ác Ma

Mi nào quyền lực đủ mà cản ngăn

Quyết tâm ta cúng thức ăn

Để xem mi có cầm chân được nào!”

Hướng về Phật ông thưa mau:

“Đầu này dù có lộn vào hầm than

Không sờn chí! Vẫn kiên gan!

Tới dâng ngài chút thức ăn cúng dường!”

Nói xong triệu phú ung dung

Sợ chi chết dưới lửa hừng hầm than

Bản thân mình quên hoàn toàn

Hố sâu ông vẫn nhẹ nhàng bước lên,

Chợt ông cảm thấy bình yên

Một bông sen nở cánh hiền dưới chân

Tòa sen mát mẻ muôn phần

Nhụy sen phủ khắp toàn thân phấn vàng

Nhiệm mầu! Kỳ diệu! An toàn!

Chủ nhân dâng vội thức ăn cúng dường

Vào bình bát Phật thân thương

Kiên trì tiến bước trên đường tu thân.

Ác Ma thất bại hoàn toàn

Biến đi mất dạng, hố than chẳng còn,

Phật Độc Giác hồi hướng luôn

Bao nhiêu công đức cho ông chủ nhà

Giơ tay chú nguyện thiết tha

Chủ nhà đảnh lễ rất là thành tâm.

Phật quay về chốn sơn lâm

Trong vùng Hy Mã Lạp Sơn chập chùng.

*

Đứng nguyên trên đoá sen hồng

Chủ nhân triệu phú trong lòng vui tươi

Tòa sen thuyết pháp vang lời

Chung quanh đại chúng mọi người lắng nghe

Lời khuyên bố thí, từ bi

Lời khuyên giữ giới trọn bề chân tu.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE SILENT BUDDHA

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 17 *

LỜI NGUYỀN RỦA

 

Chương 1: GHEN TỨC

 

Hồi xưa có một nhà sư

Ở trong tịnh xá tĩnh tu một mình

Sư này sung sướng thật tình

Vì ông điền chủ tâm thành cưu mang

Ông lắm bạc, ông nhiều vàng

Chủ nhân sốt sắng, sư làng thảnh thơi

Khỏi lo nghĩ chuyện ngoài đời

Thức ăn, vật dụng được người hiến dâng

Sư may mắn ít ai bằng

Tịnh thanh đầu óc, nhẹ nhàng tâm tư

Chỉ chuyên lo có việc tu

Nhưng mà có vẻ như sư coi thường

Phận may sư chẳng vấn vương

Chẳng hề nhận biết mình đương hơn người.

*

 Một hôm vào buổi đẹp trời

Có thầy trưởng lão qua nơi làng này

Thầy đang đi đó đi đây

Mong tìm giác ngộ một ngày tương lai

Vẻ nhân ái, dáng khoan thai

Gặp thầy điền chủ thốt lời ngợi ca

Ông mời khách lạ vào nhà

Thức ăn, vật dụng đem ra cúng dường

Nghe thầy giảng những lời vàng

Thỉnh thầy ở lại trong làng này luôn

Thầy nghe hoan hỉ dừng chân

Theo về tịnh xá an thân tu hành,

Gặp sư làng kể sự tình

Đôi bên vui vẻ như anh em nhà

Sư làng mời khách phương xa

Vào phòng cư ngụ tỏ ra chu toàn.

Buổi chiều điền chủ đích thân

Mang dầu, hoa với thức ăn thăm thầy

Tới nơi tịnh xá dâng ngay

Xin nghe giảng pháp với đầy thành tâm

Tỏ lòng quý trọng vô ngần

Trước khi từ biệt ân cần mời sư

Mời hai sư tới ăn trưa

Hôm sau hẹn gặp, rất ư nhiệt tình.

*

Sư làng bản tính quang minh

Thường luôn giữ giới cho mình rất nghiêm

Đột nhiên ghen tức khởi lên

Nảy sinh ý nghĩ thấp hèn đêm nay

Sợ mình địa vị lung lay

Sợ làng trọng vọng vị thầy kia hơn

Cho nên lòng dạ bồn chồn

Loay hoay tìm cách đuổi luôn thầy này,

Thầy phương xa nào có hay

Vẫn luôn trò chuyện tràn đầy tình thân

Nhưng sư làng chẳng quan tâm

Tỏ ra lạnh nhạt, lặng câm không lời.

Khách xa nhận biết ngay thôi

Nghĩ thầm: “Huynh đệ là người đáng thương

Ta nào còn chút vấn vương

Nào còn dính mắc vào đường trần gian

Dù đi hay ở chẳng màng

Từ lâu buông xả nhẹ nhàng tấm thân,

Sư làng đây tội vô vàn

Đột nhiên che lấp bởi màn vô minh

Sau này khổ não thân mình

Gánh vào hậu quả thật tình thảm thương!”

Thầy lui gót vào thiền đường

Ngồi thiền suốt cả đêm trường canh thâu.

*

Vào giờ khất thực hôm sau

Sư làng theo lệ từ lâu thông thường

Đến phòng mời khách đi cùng

Đưa tay gõ cửa, rung chuông phía ngoài

Nhưng sư dùng móng tay thôi

Cố tình gõ nhẹ để người chẳng nghe

Ý gian thật đáng trách chê

Quả nhiên khách lạ có hề nghe đâu.

Sư làng vội bỏ đi mau

Tới nhà điền chủ trước sau một mình

Ăn trưa xong mới trần tình:

“Thầy kia say ngủ, tôi đành phải đi

Dù cho đánh thức ích gì

Chắc thầy ăn uống thoả thê quá rồi

Chỉ lo ngủ với ăn thôi

Đánh chuông, gõ cửa thầy thời chẳng nghe!”

Trong khi đó vị thầy kia

Sau khi thức giấc, đắp y, rời làng

Rời ngôi tịnh xá khang trang

Bỏ đi khất thực lang thang phương trời

Ung dung, tự tại, thảnh thơi

Tiếc chi đãi ngộ của người giàu sang.

Về phần điền chủ cúng dường

Sau khi tiếp đãi sư làng ăn trưa

Mượn luôn bình bát của sư

Rửa đi sạch sẽ, rất ư tâm thành

Đựng đồ ăn mới ngon lành

Nhờ sư chuyển lại để dành khách xa

Biếu thầy còn ở lại nhà

Cùng lời điền chủ thiết tha cúng dường.

*

Sư làng về, đi trên đường

Khởi lòng ghen tức tầm thường xấu xa

Nghĩ rằng: “Có đuổi ông ta

Thầy này chắc chẳng chịu ra khỏi làng

Vì nơi đây sống dễ dàng

Đồ ăn thức uống sẵn sàng thơm ngon,

Ta nên lén liệng đi luôn

Thời thầy chắc sẽ chẳng còn ở lâu.

Nhưng đồ ăn vứt đi đâu

Nếu cho người lạ trước sau lộ liền,

Nếu mà ném xuống ao bên

Thời bơ và sữa nổi lên tức thì,

Nếu quăng vào bụi cây kia

Thời đàn quạ sẽ xúm về thật đông

Chợt sư thấy trên cánh đồng

Ruộng âm ỉ cháy than hồng, khói lan

Nông dân đốt ruộng làm phân

Sư bèn đổ vội thức ăn nơi này

Thức ăn liền cháy mau thay

Chẳng còn vết tích! Ai hay biết gì!”

Sư về tới tịnh xá kia

Thời thầy trưởng lão đã đi xa vời

Nghĩ suy sư đoán ra thôi:

“Chắc thầy trưởng lão là người khôn ngoan

Biết ta ghen tức vì tham

Cho nên thầy cũng chẳng ham chốn này

Chẳng ham lưu lại nơi đây

Và thầy quyết định đi ngay khỏi làng”

Vô minh phút chốc tiêu tan

Sư làng bừng tỉnh khẽ than đôi lời:

“Chỉ vì danh lợi chút thôi

Mà ta đối xử với người xấu xa!”

*

Thời gian lặng lẽ trôi qua

Ông điền chủ vẫn thiết tha cúng dường

Hộ trì tiếp tục sư làng

Nhưng sư xáo trộn hoang mang tâm thần

Bị giày vò rất khổ tâm

Trăm bề hối hận, muôn phần ưu tư

Sống giờ vất vưởng sớm trưa

Chập chờn trên đất giống như ma rồi

Chẳng bao đâu sư lìa đời

Tái sinh địa ngục là nơi đọa đày

Nổi trôi đau khổ đắng cay

Và rồi lần lượt chốn này trải qua:

“Năm trăm lần rất xót xa

Tái sinh làm quỷ dạ xoa hãi hùng

Luôn luôn đói khát vô cùng

Nào đâu no bụng được trong một ngày;

Rồi sinh làm chó khổ thay

Năm trăm lần nữa loay hoay đói lòng

Chó hoang đói khát chạy rong

Thân gầy, ghẻ lở long đong đường đời;

Cuối cùng sinh được làm người

Làm con bất hạnh một nơi nghèo nàn

Gia đình hành khất lầm than

Thức ăn thiếu thốn, áo quần tả tơi

Mẹ cha xua đuổi ra ngoài

Cho rằng đứa trẻ gây tai họa này”.

*

Đáng thương thay! Tội nghiệp thay!

Nhà sư sung sướng tràn đầy thảnh thơi

Từ bao tiền kiếp xa vời

Chỉ vì ghen tức với người miếng ăn

Thành bất chính, thành tham lam

Phải qua khổ cực hơn ngàn kiếp sau.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE CURSE OF MITTAVINDA, Ch. 1: Jealousy.

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 18 *

LỜI NGUYỀN RỦA.

 

Chương 2: THAM LAM

 

Chàng kia cuộc sống khổ đau

Thường xuyên đói khát từ lâu lắm rồi

Trải qua bao kiếp luân hồi

Một ngày chàng biết tới thời an thân,

Lang thang khắp nẻo dương trần

Tới Ba La Nại dừng chân cuối cùng.

Nơi đây danh tiếng vang lừng

Có thầy dạy học khắp vùng mến thương

Ông thầy mở một học đường

Năm trăm người tới đó đương học nghề

Dân nơi đây tốt mọi bề

Thường làm việc thiện có nề hà đâu

Cho nên hỗ trợ trước sau

Giúp người đến học nhu cầu uống ăn,

Tiền thầy dạy họ trả luôn

Thật là tốt đẹp! Vô ngần đáng khen!

Anh chàng tới đúng dịp hên

Được tham gia đám thanh niên học hành

Được nghe thầy dạy điều lành

Được ăn, được uống, phận mình được yên.

Tiếc thay nếp sống chẳng bền

Chàng lười biếng học, sớm quên lời thầy

Cứng đầu, hung hãn hàng ngày

Tranh giành đánh lộn ở ngay trong trường

Đây là tính xấu còn vương

Từ năm trăm kiếp trước thường đua tranh

Từng làm chó đói chạy quanh

Hung hăng cắn lộn để giành miếng ăn.

Nhà trường lâm cảnh khó khăn

Học sinh chán nản bỏ dần đi luôn

Tiền thầy dạy học chẳng còn

Thầy trò nản trí, bà con buồn lòng

Thế là đến bước đường cùng

Anh chàng bị đuổi khỏi vùng nói trên.

*

Đường đời gây họa triền miên

Bước chân bất hạnh lạc miền xa xôi

Nơi làng biên địa ít người

Chàng đi làm mướn sống đời lầm than

Lập gia đình với một nàng

Cũng trong cảnh khổ nghèo nàn như nhau

Vợ chồng sinh được trước sau

Hai con thơ dại, dấn sâu đọa đày.

Dân làng hay biết trước đây

Chàng từng theo học với thầy tiếng tăm

Nên khi gặp chuyện khó khăn

Họ thường tìm tới hỏi han mọi điều

Lời chàng khuyên họ làm theo

Nhưng rồi làng bỗng bị nhiều tai ương:

“Bảy lần vua xử phạt làng,

Bảy lần nhà cháy tan hoang bất ngờ,

Bảy lần khô cạn ao hồ”

Xưa nay làng có bao giờ vậy đâu

Họ cho tai họa trước sau

Khơi nguồn từ lúc chàng vào làng thôn

Thế là họ quyết định luôn

Đuổi chàng cùng với vợ con khỏi làng

Họ xua tay nguyền rủa rằng:

“Mi gây tai họa! Tìm đường cút mau!”

*

Rời làng dấn bước u sầu

Một hôm tới chốn rừng sâu ngút ngàn

Nơi đây quỷ dữ ẩn tàng

Quỷ trong bóng tối kinh hoàng hiện ra

Vợ con chàng bị quỷ ma

Bắt đi ăn thịt chẳng tha mạng nào,

Riêng chàng may mắn biết bao

Thoát tay ma quỷ thét gào bủa vây.

Trên đường trốn khỏi nơi đây

Chàng đi tới hải cảng này xa xôi

Nghèo nàn, đói khát, đơn côi

Tấm thân bất hạnh, cuộc đời thương đau

May thay có một nhà giàu

Sống trong thành phố từ lâu giúp ngưòi

Ông nghe được chuyện chàng rồi

Nhận chàng làm đứa con nuôi tức thì

Vợ chồng không có con chi

Hiền lành rất mực, từ bi vô vàn

Cho nên họ đối với chàng

Y như con đẻ ngập tràn tình thương.

Họ sùng đạo, luôn cúng dường

Bao nhiêu việc thiện vẫn thường tiếp tay

Đứa con nuôi đáng trách thay

Chẳng tin đạo giáo nên hay ngông cuồng

Điều gian xảo, chuyện bất lương

Chàng đâu ngần ngại, cứ thường làm thôi.

Một thời gian cha qua đời

Muốn chàng hiểu đạo mẹ thời khuyên can

Dạy cho chàng những lời vàng:

“Kiếp này làm tốt, thanh nhàn kiếp sau

Tu nhân tích đức cho mau!”

Con nuôi ngỗ nghịch thèm đâu nghe lời.

Nay mai lễ lớn tới rồi

Mẹ khuyên con hãy tới nơi chùa chiền

Nghe lời đẹp, mở tâm hiền

Chàng chê: “Đi lễ chùa thêm ích gì?”

Mẹ tha thiết: “Con cứ đi

Bạc tiền mẹ có tiếc gì cho cam

Tiền vàng đây đủ một ngàn

Đi chùa về mẹ cho làm của riêng!”

Chàng con nổi máu tham lên

Đến chùa nhưng lại chẳng thèm nghe kinh

Chui vào một góc ẩn mình

Ngủ luôn đến lúc bình minh mới về

Lấy tiền thưởng cười hả hê

Chuyện chùa mẹ hỏi có hề biết đâu.

Mẹ càng thất vọng, buồn rầu

Sợ con hậu quả khổ đau ngập tràn.

Nghìn đồng chưa thỏa máu tham

Chàng con xoay sở để làm ăn thêm

Bất ngờ gặp vận, giàu lên

Tiền vào như nước thật hên cho chàng.

Một hôm thưa với mẹ rằng:

“Một trăm hai chục ngàn vàng trong tay

Nhưng con chưa thỏa mãn ngay

Muốn buôn thêm để tiền này sinh sôi

Chuyến tàu tới sắp đi rồi

Con mong vượt biển ra nơi nước ngoài!”

Mẹ ngăn: “Tính vậy là sai

Lênh đênh mặt biển nguy tai thật tình

Bán buôn xứ lạ bấp bênh

Con nên ở lại nhà mình thì hơn

Mẹ cho con tám chục ngàn

Tiền vàng mẹ có sẵn sàng. Đừng đi!”

Từ tham lam đến cuồng si

Mẹ dang tay cản chàng thì hất ra

Đẩy luôn mẹ xuống sàn nhà

Trong cơn đau đớn mẹ la lên rằng:

“Cút đi! Hỡi đứa hoang đàng

Chuyên đem khổ tới, chuyên mang họa về!”

Chàng con nào có thèm nghe

Không quay nhìn lại, không hề hồi tâm

Lao ra bến cảng, dấn thân

Lên tàu buôn cứ căng buồm ra khơi.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE CURSE OF MITTAVINDA, Ch. 2: Greed

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 19 *

LỜI NGUYỀN RỦA..

 

Chương 3: LẠC THÚ

 

Lênh đênh suốt bảy ngày trời

Con tàu lướt sóng đưa người đi buôn

Đột nhiên gió chẳng thổi buồm

Tàu không chạy được ngừng luôn biển này

Tàu ngưng tại chỗ bảy ngày

Mọi người sợ chết loay hoay muộn sầu

Cho rằng có kẻ trên tàu

Đang gây tai họa thương đau cho đoàn

Họ liền đề nghị rút thăm

Xem ai là kẻ gieo mầm tai ương,

Rút thăm ra đúng tên chàng

Bảy lần đều trúng. Họ càng thêm tin

Họ quăng chàng xuống biển liền

Xuống bè tre nhỏ thả trên sóng vàng

Họ cùng lớn tiếng la rằng:

“Cút đi hỡi kẻ chuyên mang họa về!”

Tức thì gió nổi bốn bề

Cánh buồm căng gió, tàu đi nhẹ nhàng.

*

Trên bè còn lại mình chàng

Bồng bềnh gió cuốn, kinh hoàng sóng đưa

Nhưng từ bao kiếp xa xưa

Chàng từng là một nhà tu lành hiền

Đã gieo nhân tốt đủ duyên

Chút nhân giờ đã tạo nên quả lành

Nên bè trôi nổi loanh quanh

Dạt vào hòn đảo tươi xanh cuối trời

Bốn tiên nữ ra đón mời

Rước chàng vào ở lâu đài pha lê

Cùng nhau chung sống đê mê

Bảy ngày hạnh phúc tràn trề sớm khuya

Rồi tiên nữ phải ra đi

Họ thành lốt quỷ còn chi khổ bằng,

“Ở yên đây!” họ khuyên chàng

Đợi chờ tới lúc các nàng trở lui.

Thấy rằng dang dở cuộc vui

Chàng đâu có chịu nghe lời ở yên

Lên bè qua tiếp đảo bên

Nơi đây chàng lại gặp tiên nữ rồi

Tám nàng xinh đẹp tuyệt vời

Trong lâu đài nọ sáng soi bạc vàng

Hưởng vui cùng với các nàng

Bảy ngày lạc thú rộn ràng trôi qua

Các nàng lại phải đi xa

Trở thành lốt quỷ thật là đau thương,

“Ở yên đây!” họ khuyên chàng

Đợi chờ tới lúc các nàng trở lui.

Đang quen hưởng những thú vui

Chàng đi tiếp tục qua nơi cận kề

Ghé vào hòn đảo lạ kia

Là nơi có một thành trì dạ xoa

Nàng mang hình dạng xót xa

Làm con dê cái nhởn nha trong thành

Chàng đâu hay biết ngọn ngành

Bụng thời đang đói nên đành bắt dê

Nắm chân dê để kéo về

Tính đường làm thịt no nê chuyến này,

Dạ xoa uy lực mạnh thay

Đá chàng văng tuốt như bay ngang trời

Qua bờ bến, vượt trùng khơi

Rớt luôn xuống một bụi gai ven đồi

Dưới hào sâu nước cạn rồi

Dê nhà vua được chăn nuôi trong này

Dân Ba La Nại đến đây

Trộm dê, giết thịt lâu nay đã nhiều

Lính canh rình rập, rõi theo

Hầu mong chấm dứt những điều bất lương.

*

Sau khi lăn xuống dưới mương

Chàng trai bò dậy tìm đường đi lên

Nhìn bầy dê đứng kề bên

Chàng bèn suy nghĩ: “Nơi miền đảo kia

Ta từng nắm bắt chân dê

Cho nên bị đá văng về bên đây,

Nếu giờ ta nắm chân này

Chắc dê lại đá văng ngay chứ gì

Văng về lại đảo bên kia

Có bao tiên nữ mê ly đón chào

Trong lâu đài đẹp biết bao!”

Nghĩ xong chàng vội nắm vào chân dê

Dê kêu vang động bốn bề

Lính chăn dê tới. Thảm thê thân chàng

Bị người đánh trói tang thương:

“Giải quân trộm cướp lên đường về cung!”

Tội nhân theo đám tùy tùng

Đang đi bất chợt tạm ngừng ngang đây

Nhường đường cho một vị thầy

Bốn phương danh tiếng thành này từ lâu

Năm trăm đệ tử nối nhau

Theo thầy cùng rảo bước mau trên đường

Thấy người bị trói, xót thương

Thầy nhìn vào nhận ra chàng ngay thôi:

“Đây là đệ tử của tôi!”

Thầy bèn lên tiếng xin người thả ra

Lính chăn dê nể thầy già

Tuân lời nên thả chàng ta tức thì.

Ông thầy bèn hỏi trò kia

Ngọn ngành câu chuyện từ khi khởi đầu.

Bao nhiêu tiền kiếp từ lâu

Bỗng nhiên ào ạt trước sau hiện về

Chàng bèn kể rõ thầy nghe:

“Thoạt tiên chàng đã từng đi tu rồi

Vì tham nên bị nổi trôi

Đầu thai làm chó tứ thời đói ăn,

Rồi làm người rất nghèo nàn

Vợ con gặp nạn vô vàn thương đau

Bị ăn bởi quỷ rừng sâu,

Rồi làm con của nhà giàu vùng kia

Vẫn tham lam, vẫn ngu si

Cho nên cãi mẹ quyết đi nước ngoài

Tàu buôn gặp lắm nguy tai

Bị người quăng xuống bè trôi sóng nhồi,

Rồi cùng tiên trong lâu đài

Hưởng bao lạc thú ít ai sánh cùng,

Nắm chân dê lúc đói lòng

Bị dê đá mạnh vào trong chốn này,

Giờ đây may gặp lại thầy!”

Thầy nghe xong chuyện dạy ngay lời vàng:

“Chỉ vì con mãi coi thường

Lời khuyên của những người thương mến mình

Cho nên hạnh phúc tan tành

Và bao bất hạnh đến nhanh chẳng ngờ.

Nhân nào quả nấy đợi chờ

Thú vui nào có bao giờ bền lâu

Bao nhiêu ham muốn trước sau

Một thời rồi cũng tàn mau sớm chiều

Vì con để nó cuốn theo

Cho nên thân xác tiêu điều lâu nay,

Nhớ rằng giữ nước trong tay

Làm sao mà hết khát ngay được nào!”

Lời thầy dạy lành biết bao

Anh chàng đảnh lễ cúi đầu xin thưa

Theo thầy học đạo như xưa

Vị thầy hoan hỷ nhân từ nhận ngay

Chàng từ kiếp đó đổi thay!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE CURSE OF MITTAVINDA, Ch. 3: Pleasure

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 20 *

BỒ CÂU VÀ QUẠ

 

Tại Ba La Nại thuở xưa

Người dân thành phố nhân từ lắm thay

Giúp loài chim chóc quanh đây

Họ làm nhiều tổ treo đầy khắp nơi

Cho chim chỗ ở thảnh thơi

Đồng thời chim hót cho người vui thêm.

Có ông đầu bếp trong miền

Làm cho triệu phú giàu tiền lâu nay

Cạnh nhà bếp, trên cành cây

Ông treo một tổ chim ngay lối vào

Bên trong có chú bồ câu

Hiền lành, dễ mến, ở lâu lắm rồi

Chim không ăn thịt như người

Cho nên bếp núc chim thời tránh xa

Tránh mùi sào nấu bay ra

Tránh mùi súc vật thịt thà trong đây.

Thông thường buổi sáng mỗi ngày

Bồ câu rời tổ sớm bay giữa trời

Suốt ngày lượn cánh tìm mồi

Hột cây hạt cỏ vãi rơi trong vùng

Không hề đụng đến côn trùng

Đêm về tổ ngủ cõi lòng bình an,

Bồ câu ưng ý vô vàn

Cuộc đời thoải mái nhẹ nhàng trôi đi.

*

Gần bồ câu có quạ kia

Ham ăn đủ thứ chẳng chê món nào

Xấu người, xấu nết biết bao

Nhiều phen liều mạng kể sao cho vừa,

Một hôm làn gió thoảng đưa

Mùi đồ ăn quạ thường ưa lâu rồi

Thịt trong nhà bếp bốc hơi

Vô cùng quyến rũ, tuyệt vời thơm ngon

Quạ ta mê mẩn tâm hồn

Tính đường ăn trộm chẳng buồn đắn đo

Bay quanh nhà bếp thăm dò

Thấy bao thịt cá thơm tho phơi bày.

Thông thường chiều tối mỗi ngày

Bồ câu no đủ là bay trở về

Vào trong tổ rộng rãi kia

Nghỉ ngơi yên tĩnh giấc khuya an lành,

Quạ nhìn thấy vậy nghĩ nhanh:

“Bữa ăn ngon sắp đạt thành rồi đây

Nhờ chàng chim dại khờ này

Ta vào trong bếp dễ thay còn gì!”

Bồ câu sáng cất cánh đi

Quạ bay theo sát. Chim thì ngạc nhiên

Nên chim lên tiếng hỏi liền:

“Tại sao bạn lại theo bên tôi hoài?”

Quạ bèn nịnh: “Tôi thích ngài

Nêu gương tốt đẹp ít ai sánh cùng

Khiến tôi ngưỡng mộ trong lòng

Muốn theo học hỏi để mong trưởng thành!”

Bồ câu đáp, giọng chân tình:

“Cả hai cách sống chúng mình khác nhau

Bạn theo tôi ích gì đâu

Đồ ăn cũng khác từ lâu nay rồi!”

Quạ khôn lanh vội trả lời:

“Bay đi mỗi sáng mình thời tách ra

Kiếm ăn riêng, thật dễ mà

Chiều bay về tổ chúng ta đi cùng

Giúp nhau nếu được ở chung

Gần ngài tôi học điều từng ước ao!”

Bồ câu: “Vậy tốt biết bao

Chia tay ta hãy đi nào bạn ơi!”

Mỗi chim tung cánh một nơi

Bồ câu ăn hạt cỏ thời lòng vui,

Quạ kia suốt cả ngày trời

Ăn côn trùng ở quanh nơi phân bò

Dễ dàng thay, chẳng phải lo!

Nhưng mà quạ lại muốn mò kiếm ăn

Bếp kia ngon gấp triệu lần

Bao nhiêu cá thịt sẵn luôn phơi bày

Nên ăn xong quạ vội bay

Kiếm bồ câu nói: “Cả ngày trôi qua

Ngài lo ăn uống quá mà

Thật không ích lợi! Thôi ta đi về!”

Bồ câu nào có chịu nghe

Kiếm từng hạt cỏ nhâm nhi vui đời

Mãi khi tới lúc tối trời

Bồ câu mới chịu về nơi tổ mình

Quạ bay nôn nóng theo nhanh

Xin cùng chung tổ, thắm tình từ đây.

*

Cả hai kề cận ít ngày

Sáng đi, chiều lại cùng bay trở về

Một hôm nhà bếp vui ghê

Chủ mua thịt cá ê hề treo quanh

Quạ trông hấp dẫn ngon lành

Nên thèm, muốn trộm thoả tình gian tham

Giả vờ đau ốm kêu than

Cả đêm rên rỉ muôn vàn đớn đau

Sáng ra nói với bồ câu:

“Tôi đau bụng quá, bay đâu được nào!”

Bồ câu: “Bạn nói lạ sao

Quạ thường chỉ đói. Bụng đau bao giờ!

Hành vi bạn rất đáng ngờ

Chắc ham thịt cá nên chờ trộm chăng?

Coi chừng nguy hiểm chi bằng

Dậy đi kiếm sống đàng hoàng với tôi!”

Quạ đâu có chịu nghe lời

Cố tình nán lại trong nơi tổ này

Bồ câu đành cất cánh bay

Sau khi dặn quạ ở đây chờ mình.

*

Quạ nằm trên tổ nấp rình

Thức ăn trong bếp ngon lành bốc hơi

Nắp vung hé mở ra rồi

Hôm nay ông bếp nấu nồi thịt tươi,

Bên trong nóng nực quá trời

Ông bèn hóng mát, ra nơi hiên nhà

Quạ ta lợi dụng thời cơ

Lẻn vào trong bếp, lân la bên nồi

Chọn ngay miếng cá làm mồi

Thò đầu vào mổ để lôi ra ngoài

Ai ngờ vung lại bị rơi

Tiếng vang dội tới tai người ngoài hiên

Ông đầu bếp chạy vào liền

Thấy ngay quạ ngậm cá bên cạnh nồi

Ông bèn nổi giận sục sôi

Cửa chung quanh bếp tức thời đóng ngay

Đuổi theo bắt quạ trong đây

Vặt lông trơ trụi đọa đày thảm thương

Ớt cay, gừng nóng, tiêu nồng

Ông đem giã nhỏ trộn chung bôi vào

Da non quạ thảm làm sao

Xưng lên, dát bỏng, đớn đau vô vàn

Ông cười vứt quạ bạo tàn

Vào ngay trong tổ ở gần hàng hiên.

Quạ nằm đau đớn kêu rên

Đến chiều xuất hiện dáng hiền bồ câu

Bồ câu sửng sốt than mau:

“Sáng nay tôi nói bạn đâu nghe lời

Gian tham hại cả cuộc đời

Giúp chi được bạn, tôi thời bó tay,

Ông đầu bếp cũng ác thay,

Toàn là người xấu quanh đây không à

Thôi thôi tôi phải rời xa

Chẳng còn ham tổ gần nhà bếp đâu!”

Bồ câu buồn bã cúi đầu

Bay tìm chỗ ở dài lâu an bình.

Quạ thời đau đớn thân mình

Một ngày sau chết, tội tình biết bao!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE PIGEON AND THE CROW

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 21 *

CHA CỦA RẮN TRE

 

Ngày xưa có một ông thầy

Ngồi thiền tinh tấn bao ngày rất chăm

Nhiệt tình, quyết chí tu thân

Dần dần đã có tiếng tăm khắp miền

Những ai muốn học lời hiền

Muốn thầy thông thái chẳng quên tìm ngài,

Thấy ngài thật giỏi, thật tài

Năm trăm đệ tử tức thời xin theo.

Một người khác biệt rất nhiều

Vì bao súc vật chàng yêu vô cùng

Chàng ta quả thật lạ lùng

Muốn nuôi súc vật ở chung trong nhà

Như gia súc, chẳng nề hà

Thật là đặc biệt khác xa mọi người.

Một hôm nhân lúc dạo chơi

Chàng nhìn thấy rắn nhỏ nơi góc vườn

Rắn tuy độc nhưng dễ thương

Kiếm ăn nên rắn tìm đường bò quanh

Chàng bèn chợt có cảm tình

Bắt về nuôi rắn cho mình thêm vui

Chàng thường thả rắn khắp nơi

Lồng tre chỉ nhốt rắn chơi trong này

Mỗi khi chàng phải xa đây

Mọi người vội đặt tên ngay tức thì

“Rắn tre” quý hoá kể chi

Chàng là “cha của rắn tre” trong lồng.

Thầy nghe, thắc mắc cõi lòng

Gọi chàng lại hỏi để mong tỏ tường

Chàng thưa rằng đúng mọi đường:

“Con nuôi rắn đó và thương thật tình

Thương như con của chính mình!”

Thầy bèn khuyên nhủ: “Thả nhanh rắn này

Thật là nguy hiểm lắm thay

Sống cùng rắn độc có ngày chết toi!”

Nhưng chàng nào chịu nghe lời

Nghĩ mình hiểu biết hơn người nên thưa;

“Rắn này con rất thích ưa

Con chiều rắn cũng tựa như con mình

Rắn nào cắn lại cho đành

Giữa con và rắn đã thành thân quen!”

Thầy bèn cảnh cáo chàng liền:

“Có ngày mất mạng chớ nên coi thường!”

Thầy luôn dạy, chàng chẳng màng

Chẳng thèm để ý lời vàng nhủ khuyên,

Tưởng rằng mọi chuyện bình yên

Một hôm chàng phải đi lên núi rừng

Kiếm cây trái về để dùng

Năm trăm đệ tử đi cùng với nhau,

Muốn cho cẩn thận trước sau

Chàng bèn nhốt rắn vào mau trong lồng,

Tưởng đi một buổi là xong

Nào ngờ lại kéo dài trong mấy ngày

Khi chàng quay lại về đây

Mới hay bỏ đói rắn này mấy hôm,

Mở lồng để rắn ra luôn

Hầu tìm đồ uống thức ăn lót lòng

Tay chàng mới để vào trong

 Rắn vì đói khát nổi khùng cắn ngay

Quên đi tình nghĩa lâu nay

Không cần biết nọc độc gây họa gì

Cắn xong rắn lặng bò đi

Bỏ vào rừng thẳm nhớ chi chủ mình.

Anh chàng yêu rắn nhiệt tình

Giờ đây nọc độc thấm nhanh vào người

Phút sau từ giã cõi đời.

Tiếc thay chàng chẳng nghe lời thầy khuyên

Không nghe theo những lời hiền

Chuốc vào hậu quả vô biên thảm sầu!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

BAMBOO’S FATHER

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 22 *

HAI TRẺ DẠI KHỜ

 

Đã lâu từ thuở xa xưa

Có ông thợ mộc già nua, hói đầu

Bao nhiêu tóc rụng từ lâu

Đầu ông nhẵn bóng phô mầu chói chang,

Gặp ông nói chuyện giữa làng

Mọi người đều phải vội vàng đưa tay

Che luôn cặp mắt lại ngay

Nếu là ngày nắng gắt gay sáng loà.

Một hôm nắng rọi hiên nhà

Cái đầu hói của ông già bóng lên

Một con muỗi đói gần bên

Thấy đầu hấp dẫn muỗi liền đậu đây

Thò vòi ra chích mừng thay

Tưởng rằng được bữa ăn này ngon sao.

Ông già thợ mộc đang bào

Còn đang bận rộn lẽ nào ngừng tay

Cho nên ông cứ loay hoay

Lắc đầu xua đuổi muỗi bay cho rồi

Muỗi thời đang đói mềm người

Cho nên cứ bám có đời nào tha,

Ông già lớn tiếng kêu la

Gọi con trong bếp chạy ra giúp mình

Đầu cha chói sáng thật tình

Con thời đầu óc lại thành tối đen

Dại khờ, u ám, lành hiền

Nhưng thường chăm chỉ và quen vâng lời

Nghe kêu, con chạy tới nơi

La lên ầm ĩ: “Bố ơi lo gì

Để yên con giết muỗi kia

Chỉ cần một đập muỗi thì chết ngay!”

Nói xong con vội với tay

Lấy rìu sắc nhọn lòng đầy tự tin

Nhắm vào con muỗi chém liền

Muỗi kia xác chẻ hai bên, tàn đời

Xui thay rìu cũng chẻ đôi

Chiếc đầu ông bố tách rời làm hai.

*

Một đoàn người đi phía ngoài

Có ông cố vấn đại tài của vua

Bất ngờ thấy đứa con ngu

Vô tình giết bố rất ư hãi hùng

Ông quay qua đám tùy tùng

Nói rằng: “Cũng chẳng lạ lùng lắm đâu

Bao người khờ dại từ lâu

Coi như không có trong đầu trí khôn

Ta vừa nhớ chuyện hồi hôm

Xảy ra tương tự đáng buồn lắm thay!

Trong ngôi làng chẳng xa đây

Có bà mẹ nọ trong tay cầm chày

Giã vào gạo ở cối xay

Chăm làm công việc hàng ngày mãi thôi

Khiến đầu nóng chảy mồ hôi

Và rồi có một đám ruồi bu quanh

Vo ve vang tiếng ruồi xanh

Làm bà khó chịu xua nhanh đuổi ruồi

Nhưng ruồi nào có chịu rời

Bà lên tiếng gọi nhờ người kế bên

Cô con gái giúp mẹ liền

Cô tuy khờ khạo nhưng hiền lành thay

Thường vâng lời mẹ xưa nay

Cô bèn vội đứng lên ngay cối mình

Dơ chày lên rất nhiệt tình

Nhắm trên đầu mẹ đập nhanh một chày

Đám ruồi đang đậu nơi đây

Tất nhiên là chết lăn quay tức thì

Nhưng than ôi bà mẹ kia

Đầu thời cũng bể, dễ gì sống thêm!”

Vị quan cố vấn trang nghiêm

Dạy đoàn đệ tử: “Chớ nên quên rằng

Chọn người thân cận chung đường

Nếu mà khờ dại, tầm thường, ngu si

Thời ta chỉ chuốc hiểm nguy

Lắm phen mất mạng! Nhiều khi tàn đời!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

TWO STUPID CHILDREN

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 23 *

TƯỚI VƯỜN

 

Ba La Nại thật tưng bừng

Nhân ngày năm mới vui chung mọi nhà

Trong thành phố khắp gần xa

Đón mừng lễ lớn suốt ba ngày tròn

Mọi người chờ đợi bồn chồn,

Anh chàng coi sóc khu vườn hoàng cung

Năm nay cũng lại ước mong

Tham gia lễ hội ở trong đám này.

Có nhiều khỉ họp thành bầy

Cùng nhau sinh sống trên cây trong vườn 

Khỉ không suy tính thiệt hơn

Nghe lời khỉ chúa, luôn luôn tuân hành.

Chàng làm vườn nghĩ khôn lanh

Muốn cho bầy khỉ thay mình tưới cây

Khi mình rời khỏi nơi đây

Để đi dự hội ba ngày nơi xa

Nên nhờ khỉ chúa thiết tha:

 “Bạn ơi hãy giúp giùm ta tưới vườn

Bây giờ ta phải lên đường

Đi tham dự lễ ở phương xa rồi,

Lễ năm mới, ba ngày thôi

Chúng ta tình bạn lâu đời quý nhau

Này hạt dẻ, này trái dâu

Vườn cây chi chít có đâu thiếu gì

Xin mời các bạn dùng đi

Tự nhiên, thoải mái, có chi ngại ngần

Chỉ nhờ các bạn đỡ đần

Tưới cây non khắp xa gần mà thôi!”

Nghe xong khỉ chúa thốt lời:

“Bạn ơi xin cứ tin nơi bọn mình

Cả bầy tôi sẽ nhiệt tình

Tưới cây giúp bạn ở quanh trong vườn

Hãy cười lên! Cứ đi luôn!

An lòng dự lễ vài hôm là rồi!”

Chàng làm vườn mừng quá trời

Chỉ cho bầy khỉ rõ nơi căn lều

Chứa bao dụng cụ thật nhiều

Cùng bình tưới nước sẵn treo nơi này,

Chàng an tâm vội đi ngay

Cả bầy khỉ đứng vẫy tay tiễn người

Đồng thanh hoan hỉ thốt lời:

“Chúc mừng năm mới vui tươi, an lành!”

*

Hôm sau bầy khỉ lanh chanh

Lấy bình múc nước tranh giành tưới cây

Chợt nghe khỉ chúa phán ngay:

“Anh em trong khắp cả bầy chúng ta

Đừng nên phí phạm nước ra

Nước nên tiết kiệm chớ mà vung tay

Trước khi tưới nước vào cây

Nhổ cây xem rễ ngắn hay là dài

Ngắn thời tưới ít nước thôi

Dài thời nhiều nước, nhớ lời nghe không

Thế là khôn khéo vô cùng

Chàng làm vườn sẽ hài lòng vì ta!”

Chẳng cần nghĩ ngợi sâu xa

Cả bầy nghe lệnh hò la vâng lời

Nhổ cây đo rễ ngắn dài

Xong rồi trồng lại xuống nơi lỗ vườn

Rủ nhau tưới nước lên luôn

Ít nhiều tùy lỗ. Nghĩ khôn vô vàn.

*

Có ngài hiền trí đi ngang

Thấy bầy khỉ mải lăng xăng ngu đần

Hỏi thăm hay rõ cội nguồn

Thở dài ngao ngán: “Đáng buồn biết bao

Khỉ bày trò, cứ lao xao

Tưởng mình có trí ai nào ngờ đâu

Gây ra tai họa dài lâu

Cây non nay bỗng trước sau tan tành

Khu vườn đẹp đẽ nổi danh

Giờ đây phút chốc trở thành tang thương!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

WATERING THE GARDEN

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 24 *

RƯỢU MẶN

 

Một ông chủ quán rượu kia

Có chàng giúp việc rất chi nhiệt tình

Ông thường để hắn thay mình

Đứng ra rót rượu loanh quanh bên quầy

Anh chàng sốt sắng lắm thay

Có nhiều sáng kiến! Ra tay giúp người!

Một hôm nóng nực ngoài trời

Chủ nhân chợt muốn đi bơi ven làng

Ra sông tắm mát thênh thang

Nên ông giao quán cho chàng trông coi.

*

Anh chàng tiếp khách, tươi cười

Nhìn người uống rượu chàng thời suy tư:

“Tại sao khách lại cứ ưa

Nhâm nhi chút muối khi vừa uống xong?”

Chàng không muốn hỏi lòng vòng

Sợ người chê dốt, chê không sành đời,

Chàng đâu rõ uống rượu rồi

Rượu làm đắng lưỡi, đắng môi vô cùng

Khách hàng phải lấy muối dùng

Cho tan dư vị ở trong miệng mình.

Anh chàng tự nghĩ khôn lanh

Tưởng rằng thêm muối rượu thành ra ngon

Nên làm như vậy là khôn

Giúp cho công việc bán buôn thêm lời

Chẳng bao lâu sẽ phát tài

Chủ nhân quán rượu tất hài lòng đây

Thế là chàng vội loay hoay

Đem bao nhiêu rượu pha ngay muối vào

Nhưng chàng kinh ngạc biết bao

Thấy người uống rượu ai nào khen đâu

Khách hàng tới uống trước sau

Uống xong lập tức nhổ mau ra rồi

Hò la mắng mỏ nặng lời

Bỏ đi quán khác tức thời còn chi.

*

Tắm xong chủ quán trở về

Ngạc nhiên thấy quán chẳng hề có ai

Khách hàng không thấy một người

Rượu thời lại mặn có đời nào ngon

Thế là hỏng chuyện bán buôn

Vì chàng giúp việc tưởng khôn, rành đời.

Vài ngày lặng lẽ dần trôi

Ông đi kể chuyện cho người bạn xưa

Bạn là cố vấn của vua

Bạn bèn lên tiếng khi vừa nghe xong:

“Kẻ khờ dại muốn lập công

Muốn làm điều tốt nhưng không lợi gì

Chỉ gây hại! Chẳng ích chi!

Chớ nên cho kẻ ngu si gần mình!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

SALTY LIQUOR

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 25 *

THẦY BÙA CHÚ

VÀ BỌN BẮT CÓC

 

Thuở xưa trong một ngôi làng

Có thầy tu nọ giỏi giang hơn người

Tài về bùa chú tuyệt vời

Đây là bí mật từ đời xa xăm,

Nhưng bùa chú lạ vô ngần

Mỗi năm hiệu nghiệm một lần mà thôi

Khi mà tinh tú trên trời

Xoay vần, tụ lại một nơi quây quần

Là khi bùa chú mới cần

Bấy giờ thầy đọc câu thần lớn lên

Ngẩng nhìn tinh tú tầng trên

Vỗ tay vài cái, khấn nguyền đôi câu

Thế là trời đổ mưa mau

Mưa toàn châu báu! Nhiệm mầu kể chi!

Ông thầy có đệ tử kia

Cũng tài cũng giỏi ai bì được đâu

Cũng thông minh vốn từ lâu

Khó khăn giải quyết trước sau tài tình

Trung thành, kính trọng thầy mình

Thầy trò như thể gia đình thân thương.

*

Một ngày thầy phải lên đường

Tham gia tế lễ, khách phương xa mời

Đường trường nguy hiểm nhiều nơi

Thầy trò quyết định hai người cùng đi.

Dọc đường có bọn cướp kia

Gồm năm trăm đứa hành nghề lâu nay

Chuyên môn bắt cóc tại đây

Rồi đòi tiền chuộc trao tay thật nhiều,

Thầy trò xui biết bao nhiêu

Đi ngang bị cướp rượt theo bắt liền

Và đòi phải chuộc bằng tiền

Không thời mất mạng! Chớ nên cãi lời!

Năm trăm đồng tiền vàng thôi

Giữ ông thầy lại, thả người trò ra.

Lệnh cho trò trở về nhà:

“Lo vàng đem chuộc kẻo ta giết thầy!”

Trước khi từ biệt nơi đây

Chào thầy, trò lén thưa ngay đôi lời:

“Hôm nay là đúng ngày rồi

Bao nhiêu bùa chú tức thời hiển linh

Trên trời tụ hội hành tinh

Xin thầy chớ trổ tài mình mà nguy

Mưa châu báu không ích gì

Lòng tham bọn cướp chẳng khi nào dừng

Chỉ thêm nguy hiểm vô chừng

Khiến thầy lẫn cướp đều cùng mạng vong

Xin thầy tin tưởng lời con

Đừng dùng bùa chú mà mong an toàn

Con đi về lấy tiền vàng

Rồi quay lại chuộc, thầy an tâm chờ!”

Xong trò vội vã tạ từ

Thầy nghe trò nói, suy tư lặng thầm.

*

Màn đêm buông phủ xuống dần

Thầy bùa bị trói ngoài sân, giữa trời

Vừa đói bụng, lại lạnh người

Cướp trong hang động vui chơi đợi chờ,

Khi vầng trăng ló rạng ra

Bao nhiêu tinh tú gần xa tụ về

Thầy bùa thân xác não nề

Ngẩng nhìn, thầm nghĩ: “Tội gì khổ đau

Ta làm châu báu ra mau

Coi như tiền chuộc, trước sau dễ dàng

Cướp dù chết ta chẳng màng

 Mạng ta đáng quý hơn phường cướp đây

Ngoài ra chỉ nội đêm nay

Cả năm mới được một ngày linh thiêng

Dùng bùa chú trổ tài riêng

Mạng mình gìn giữ, gông xiềng thoát ra!”

Lời trò dặn ông bỏ qua

Kêu la gọi cướp hãy tha cho mình:

“Ta đây quyền phép rất linh

Làm ra châu báu quả tình dễ thay

Hãy mau cởi hết trói này

Để ta sửa soạn ra tay nhiệm mầu!”

Nghe xong bọn cướp bàn nhau

Thả thầy thời chúng có đâu ngại ngần

Tuy nhiên chúng núp ở gần

Canh chừng theo rõi khi cần nhào ra.

Thầy bùa trang điểm tràng hoa

Thay quần áo mới thật là uy nghi

Ngước nhìn tinh tú trên kia

Cúi đầu đọc chú thầm thì vài câu

Vỗ hai tay vào với nhau

Thình lình mưa xuống báu châu ào ào,

Cướp kinh ngạc biết là bao

Nhào ra lượm sạch giấu vào trong thân

Rồi cùng hối hả rời chân

Mang thầy bùa nọ theo gần một bên

Tìm đường vội vã đi liền

Khư khư giữ của, cuồng điên vui mừng.

*

Đi lâu bọn cướp tạm ngừng

Năm trăm cướp lạ trong rừng nhào ra

Tay đe dọa, miệng hét la

Dữ dằn đòi bạc khó mà thoát thân.

Cướp đầu cả bọn phân trần:

“Muốn nhiều châu báu đâu cần bọn ta

Thầy bùa này sẽ làm ra!”

Chúng bèn kể chuyện vừa qua nhiệm mầu.

Cướp đầu được thả đi mau

Thầy bùa bị bọn cướp sau giữ rồi

Bắt làm mưa báu ngay thôi

Tất nhiên giờ tốt đã trôi, đâu còn

Thầy bùa giảng giải ngọn nguồn

Cướp nào nghe lọt, chẳng buồn tin theo

Thế là cả bọn cùng kêu:

“Thầy bùa xảo trá, đặt điều dối gian!”

Chúng nổi giận, chúng sôi gan

Giết ông tức khắc, bạo tàn chẳng nương

Giết xong chúng vội tìm đường

Đuổi theo bọn trước tới rừng kế bên

Rồi ra tay giết sạch liền

Năm trăm cướp trước xuôi miền âm ty.

Bọn cướp sau còn lại kia

Giành nhau chia của tức thì cãi nhau

Chia hai phe để đối đầu

Giết nhau tới tấp còn đâu nghĩa tình

Chết dần mòn! Thật hãi kinh!

Cuối cùng còn lại quẩn quanh hai người

*

Hai tên mỏi mệt rã rời

Lại thêm đói khát, tạm thời nghỉ tay

Cùng thâu lượm châu báu này

Đồng lòng chôn giấu vào ngay giữa rừng.

Một tên đứng gác canh chừng

Một tên mót gạo tìm đường nấu ăn.

Tên canh gác nảy lòng tham:

“Nếu tên kia chết của gian về mình

Cả kho tàng, sướng thật tình

Ăn xong ta phải thình lình giết ngay!”

Tên làm cơm nghĩ loay hoay:

“Nếu ta trộn thuốc độc này vào cơm

Giết tên kia cho chết luôn

Bạc vàng ta hưởng không còn chia đôi!”

Nấu xong, ăn nửa phần rồi

Nửa phần mang lại đưa người bạn ăn

Trộn thêm thuốc độc vô ngần

Nhưng vừa lê bước tới gần người kia

Bị người giết chết thảm thê

Hồn về chín suối hết bề gian manh.

Cướp giờ còn lại một mình

Đói lòng ăn uống thoả tình sướng vui

Nào ngờ thuốc độc ngấm thôi

Cũng lăn chết nốt, hết đời còn chi.

*

Vài ngày sau học trò kia

Gom xong tiền chuộc vội đi cứu thầy

Quay về bọn bắt cóc ngay

Thấy thầy bị giết tại đây. Than trời!

Biết thầy không chịu nghe lời

Chàng bèn hoả táng thầy nơi mé rừng.

Lần tìm chàng thấy hãi hùng

Năm trăm xác chết lạnh lùng nằm trơ.

Đi thêm nữa, thật bất ngờ

Bao nhiêu xác chết bụi bờ nằm quanh

Trước sau đếm đủ ngọn ngành

Thêm năm trăm nữa, máu tanh ngập tràn,

Cộng chung vừa đúng một ngàn

Một ngàn sinh mạng bạo tàn phơi thây

Chàng than: “Thật đáng buồn thay

Thầy mình kiến thức tràn đầy thiếu chi

Nhưng sao không đủ lương tri

Vẫn mang bùa chú thực thi chuyến này

Khiến gây hậu quả liền ngay

Trần gian địa ngục là đây khác gì!”

Chàng thâu góp của, ra đi

Mang về làng xóm phân chia mọi người

Phát tâm bố thí khắp nơi

Nêu gương công đức cho đời noi theo.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE MAGIC PRIEST

AND THE KIDNAPPER GANG

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 26 *

CHÚ RỂ MẤT VỢ

VÌ CHÒM SAO

 

Ở Ba La Nại thời xưa

Có gia đình nọ rất ư là giàu

Con trai họ đã từ lâu

Muốn tìm gái đẹp làm dâu nhà mình.

Làng bên có gái thật xinh

Dung nhan diễm lệ, tính tình nết na

Thật là khó kiếm được ra

Một cô gái tốt hơn nhà này đâu

Đằng trai thành thị muốn dâu

Nên xin cưới hỏi, bắc cầu xe duyên

Thôn quê đằng gái chịu liền

Định ngày hôn lễ hai bên thuận tình,

Thôn quê chờ đón thị thành

Ngày giờ quy định linh đình rước dâu.

Nhưng nào ai có ngờ đâu

Có ông đạo sĩ nhà giàu quen thân

Chiêm tinh ông giỏi vô ngần

Thấy rằng hai họ bất cần đến ông

Không xin quẻ, chẳng trả công

Định ngày hôn lễ mà không hỏi mình

Coi thường sao với chiêm tinh

Nên ông tức giận quyết tình ăn thua.

Nhà trai sửa soạn đón đưa

Đúng ngày hôn lễ, lúc vừa hừng đông

Ông ăn mặc đẹp vô cùng

Đến nhà chú rể họp trong gia đình

Sau khi chào hỏi thân tình

Ông bèn lên tiếng: “Chiêm tinh rất cần,

Hôm nay vũ trụ xoay vần

Sao và tinh tú quây quần bên nhau

Sẽ gây đại họa trước sau

Chu kỳ không tốt, rước dâu xấu ngày

Có thầy chẳng chịu hỏi thầy

Khiến cho công chuyện giờ đây lỡ làng!”

 Nhà trai nghe nói bàng hoàng

Bàn nhau hoãn chuyến về làng rước dâu

Gái ngoan còn thiết gì đâu

Lời thầy uy tín từ lâu lắm rồi.

*

Phía đằng nhà gái xa xôi

Rộn ràng chuẩn bị chào mời nhà trai

Đón chàng rể quý tương lai

Nhưng rồi chẳng thấy một ai về làng

Cuối cùng họ mới hay rằng

Nhà trai hoãn lại, chẳng màng báo tin!

Thật là khiếm nhã vô biên

Định ngày, hứa hẹn, sao quên mau rồi

Họ hàng nhà gái thốt lời:

“Cần chi chờ đợi những người vô luân

Bỏ lễ cưới, hủy hôn nhân

Gả con cho kẻ ở gần đây thôi

Tìm trai làng kết lứa đôi

Lắm chàng chăm chỉ, nhiều nơi đàng hoàng!”

Thế là vui vẻ cả làng

Bà con môi giới họ hàng thân quen

Chọn người cho kết hôn liền

Tiến hành lễ cưới tơ duyên thắm tình.

*

Ngày hôm sau ở thị thành

Bỗng ông đạo sĩ chiêm tinh phán rằng:

“Các hành tinh với mặt trăng

Giờ đây xa cách, sao băng thuận chiều

Một ngày tốt biết bao nhiêu

Nếu làm đám cưới sẽ nhiều duyên may!”

Gia đình thành thị nghe ngay

Tạ thầy tiền bạc, công thầy chẳng quên

Kéo nhau qua lại làng bên

Để xin được rước dâu hiền hôm nay,

Nhưng mà thất vọng lắm thay

Mẹ cha cô gái gắt gay chối từ:

“Chúng tôi chẳng đợi chẳng chờ

Hứa hôn chuyện cũ kể như hủy rồi

Các người tệ bạc sai lời

Quả tình vô lễ! Xin mời lui chân!”

Nhà trai giàu có phân trần:

“Chiêm tinh đạo sĩ chỗ thân gia đình

Nhìn trăng sao, ngắm hành tinh

Hôm qua đề nghị hãy đình chuyến đi

Vì là ngày xấu kể chi,

Sao trời nay cũng đã di chuyển rồi

Cưới xin mới tốt đẹp thôi

Chúng tôi quay lại y lời rước dâu!”

Mẹ cha cô gái: “Còn đâu

Con tôi đã bước qua cầu hôn nhân

Lấy trai làng chỗ tình thân,

Các người danh dự có cần giữ chi

Nên con tôi bị khinh khi

Các người tin tưởng những gì viển vông

Có liêm sỉ cũng như không!”

Đôi bên tranh cãi nổ bùng gắt gay.

*

Có ngài hiền triết ngang đây

Đi qua nghe chuyện, vào ngay giảng hòa

Phía nhà trai vẫn hét la

Khiến ngài phải dạy: “Thật là cuồng điên

Sao trời ở tuốt tầng trên

Có chi ảnh hưởng tới duyên dưới trần

Niềm tin khờ dại vô ngần

Vô minh vực thẳm dừng chân là vừa!”

Hương thơm chân lý tiễn đưa

Phái đoàn thành thị tạ từ ra đi.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE GROOM

WHO LOST HIS BRIDE TO THE STARS

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 27 *

HOÀNG TỬ CÓ KẾ HOẠCH

 

Nơi miền bắc Ấn Độ xưa

Thành Ba La Nại có vua trị vì

Con vua thông thái kể chi

Thông minh, học giỏi từ khi thiếu thời

Thật là tuổi trẻ hiếm người,

Vua cha dự tính truyền ngôi sau này.

*

Bao nhiêu dân chúng tại đây

Vào thời gian đó thường hay tin rằng

Thần linh cây cối đầu làng

Cực kỳ huyền bí, vô vàn linh thiêng

Mỗi người một số phận riêng

Do thần sắp đặt ta nên đợi chờ,

Họ mê tín, họ tôn thờ

Hay đâu sướng khổ là do tại mình,

Mọi người van vái thần linh

Khẩn cầu, xin xỏ đã thành thói quen,

Xin con khôn, cầu vợ hiền

Muốn tăng danh vọng, ước thêm sang giàu

Lầm bầm hứa hẹn trước sau

Nếu thần giúp đỡ sẽ mau tạ thần

Sẽ dâng lễ cúng thành tâm

Hương thơm, hoa quả một mâm thật đầy

Thịt thà cũng sẽ dâng ngay

Dê xào, cừu nướng, heo quay, gà hầm

Nghĩ suy mê tín sai lầm

Sát sinh bao chuyện bất nhân lâu ngày.

Chàng hoàng tử biết việc này

Tâm từ xúc động, thương thay muôn loài

Nghĩ thầm: “Ta phải ngăn thôi

Ngăn dân mê tín, ngăn người ngu si

Ra tay tàn ác kể chi

Không rành tôn giáo, biết gì đúng sai

Giáo điều khuyên chớ giết ai

Bảo toàn sinh mạng muôn loài chúng sinh

Thời tâm người mới an bình

Đó là tôn giáo dân mình nên theo!

Nhưng dân mê tín quá nhiều

Dễ gì dạy họ sớm chiều được ngay

Ta nương theo thói quen này

Để dần uốn họ một ngày tỉnh ra

Vua cha rồi sẽ băng hà

Tất nhiên truyền lại cho ta ngai vàng

Ngay bây giờ phải tính đường

Thảo ra kế hoạch giúp vương quốc mình!”

*

Thế là chàng vạch chương trình

Thoạt tiên dò hỏi dân tình đó đây

Biết ngoài thành có một cây

Thân cao cổ kính, lá dầy âm u

Người dân tế lễ từ xưa

Tin rằng thần thánh ngụ cư lâu đời.

Chàng hoàng tử trẻ tới nơi

Chắp tay khấn vái, thốt lời cầu xin

Tham gia cùng họ một bên

Làm như chàng cũng thường quen vậy rồi

Dùng hương hoa tế lễ thôi

Không dùng sinh vật cúng nơi cây này,

Dần dà như vậy ít ngày

Tiếng đồn lan rộng thật hay vô cùng

Người dân trong khắp mọi vùng

Tin rằng hoàng tử cũng không khác mình

Cũng tin tưởng ở thần linh,

Bước đầu kế hoạch quả tình thành công.

Thời gian sau ở hoàng cung

Vua cha già yếu mệnh chung một ngày

Ngai vàng hoàng tử lên thay

Trị vì vương quốc từ đây vững bền

Toàn dân trong ấm ngoài êm

Dân phò vua mới, lại thêm cảm tình

Nghĩ rằng vua cũng như mình

Cũng luôn cầu khẩn thần linh uy quyền.

*

Sau khi chiếm được lòng tin

Nhà vua trẻ tiến hành thêm chương trình,

Một hôm ở giữa cung đình

Nhà vua lên tiếng tâm tình cùng dân

Cùng các quan với toàn quân

Nhà vua hỏi: “Các quần thần ai hay

Sao ta hưởng ngôi báu này?

Sao ta biết chắc có ngày làm vua?”

Chẳng ai biết để mà thưa.

Nhà vua bèn nhắc chuyện xưa của mình:

“Ta từng cầu khẩn thần linh

Và dâng đồ cúng tâm thành siêng năng

Ở cây cổ thụ đầu làng!”

Mọi người vội vã thưa rằng nhớ ra.

Nhà vua nói tiếp: “Chính ta

Nhiệt tình khấn nguyện, thiết tha thỉnh cầu

Khấn thần linh, thỉnh phép mầu

Giúp ta đạt được trước sau một điều

Trở thành vua! Chỉ bấy nhiêu!

Ta xin hứa lễ tạ nhiều hương hoa

Và còn đặc biệt thêm ra

Cúng dường lễ vật khác xa mọi người,

Giờ thần giúp toại nguyện rồi

Tạ ơn đặc biệt ta thời chẳng quên!”

Mọi người hoan hỉ ngay liền:

“Đúng theo lời hứa thưa nên cúng dường

Vậy nên sửa soạn sẵn sàng

Một bầy súc vật để dâng tế thần!”

Vua tuyên bố: “Tốt vô ngần

Ta vui vì được nhân dân đồng tình

Ta từng hứa với thần linh

Rằng ta đặc biệt tâm thành dâng lên

Thịt da, máu huyết, trái tim

Của người dân khắp các miền gần xa

Nếu mà ‘ngũ giới’ lơ là

Không hề tôn trọng! Tỏ ra coi thường!”

*

Mọi người nhiệt liệt tán dương

Vì lòng mê tín điên cuồng từ lâu

Sợ rằng không lễ tạ mau

Thần linh nổi giận còn đâu an toàn

Thần trừng phạt nặng vô vàn

Vua và dân chúng liên quan chuyến này.

Vua cười thầm: “Kể cũng hay!

Chính lòng mê tín giờ đây giúp mình

Trong ‘năm giới’ cấm sát sinh

Người dân đâu nhớ, quả tình thơ ngây

Từ lâu mê muội lắm thay!”

Vua nhân cơ hội ban ngay lệnh rằng:

“Hãy thông báo khắp xóm làng

Rằng thần linh giúp ngai vàng cho ta

Nên ta không thể lơ là

Phải đem lời khấn hứa ra thi hành

Từ nông thôn đến thị thành

Từ nay ‘ngũ giới’ chấp hành cho nghiêm

Sát sinh bị cấm chớ quên

Một ngàn người phạm đầu tiên lệnh này

Thời hình phạt áp dụng ngay

Bị đem cúng tế thần cây tức thì!”

*

Thật là tốt đẹp kể chi

Toàn dân tôn trọng lệnh kia ngay rồi!

Một thời gian ngắn mà thôi

Dân Ba La Nại tức thời nổi danh

Giữ gìn ‘ngũ giới’ tâm thành

Chẳng còn mê tín sát sinh tế thần,

Nhà vua vui sướng vô ngần

Hoàn thành kế hoạch muôn phần vẻ vang.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE PRINCE WHO HAD A PLAN

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 28 *

VUA GIỚI ĐỨC

 

Nhà vua Giới Đức thời xưa

Tiếng tăm phúc đức nhân từ vang xa

Vua cho xây sáu căn nhà

Làm nơi phát thực phẩm ra giúp đời

Đồ ăn, thức uống tứ thời

Giúp dân nghèo khó, giúp người khổ đau,

Vua theo “ngũ giới” từ lâu

Lại thêm nhẫn nhục ai đâu sánh cùng

Từ bi tràn ngập cõi lòng

Không hề trừng trị người trong nước mình

Dù cho phạm tội tày đình

Chỉ lo dạy dỗ bằng tình thương thôi.

Trong cung vua có một người

Thừa cơ phạm tội tức thời tại đây

Loạn luân lén lút bao ngày

Ở ngay trong cấm cung này của vua

Tiếng đồn mau chóng xa đưa

Nhà vua hay biết rất ư ngỡ ngàng

Gọi quan phạm tội phán rằng:

“Hãy mau đi khuất khỏi vương quốc này

Ta không trừng phạt tại đây

Nhưng bao tội lỗi ngưng ngay chớ làm!”

Tên quan phạm tội tà dâm

Mang tài sản với người thân đi liền

Ghé qua bên nước láng giềng

Tại đây y trổ tài riêng của mình

Nên mau chiếm đoạt cảm tình

Quốc vương nước đó bèn dành chức cao

Cho làm cố vấn tại trào

Ở trong cung điện ra vào quyền uy,

Kẻ gian xu nịnh tức thì

Trổ tài tâng bốc còn gì khéo hơn.

Ko Sa La là quốc vương

Nghe lời gian xảo nhưng thường ít tin.

*

Một hôm y gợi ý thêm

Rằng vua Giới Đức ở miền kế bên

Nước này trù phú vô biên

Nhưng vua nhu nhược lành hiền từ lâu

Mang quân xâm chiếm cho mau

Thành công chắc chắn có đâu khó gì

Ko Sa La còn hồ nghi

Y bèn dâng kế  rất chi hợp tình:

“Thoạt tiên đưa ít quân binh

Tràn qua cướp bóc ở quanh biên thùy

Để vua Giới Đức bắt về

Nhưng quân binh sẽ chẳng hề gì đâu

Than nghèo khó, than khổ đau

Là vua cho của và mau tha về!”

Ko Sa La chẳng tin gì

Nhưng khi thử nghiệm rồi thì thấy ngay

Lời quan cố vấn đúng thay

Quốc vương mừng rỡ định ngày xâm lăng.

*

Quân vua Giới Đức can trường

Chống quân xâm lược dễ dàng thành công

Nhưng vua lại chẳng tán đồng

Nói rằng ngôi báu thời ông chẳng màng:

“Chiến tranh đất nước tan hoang

Dân quân chết chóc. Ngai vàng tiếc chi!

Đừng tham chiến, tránh gian nguy

Nếu ai xâm lấn ta thì nhường luôn!”

Vì không tranh chấp thiệt hơn

Nên khi quân địch dập dồn tiến qua

Vua Giới Đức chẳng nề hà

Nhường ngay cho Ko Sa La nước mình

Tránh gây thiệt mạng sinh linh

Muốn dân, quân hưởng an bình mãi thôi.

Ko Sa La thắng lợi rồi

Bắt vua Giới Đức ngay nơi ngai vàng

Bắt luôn tất cả các quan

Lệnh đem họ tới nghĩa trang ngoại thành

Đem chôn sống ngập thân mình

Đất lèn cho chặt! Quả tình thương đau!

Chỉ nhô lên mỗi cái đầu

Dành cho chó sói đêm thâu mò về

Sẵn đồ ăn uống thoả thuê

Vua quan chôn đứng khó bề toàn thây.

Vua Giới Đức lúc này đây

Không than vãn, chẳng mảy may hận thù

Nhà vua toả ngát tâm từ

Các quan quanh đó cũng như vua mình

Không chống đối, cứ lặng thinh

Xưa nay tuân lệnh đã thành thói quen.

*

Đêm trong nghĩa địa tối đen

Một bầy chó sói rừng bên mò về

Thịt người mùi quyến rũ ghê

Các quan thấy vậy nhất tề la lên

Chó nghe hoảng hốt chạy liền

Nhưng rồi quay lại gần bên, sợ gì!

Thấy không ai nhúc nhích chi

Thế là vua chó liền đi lại mồi

Mon men tiến lại gần người

Gần vua Giới Đức chó thời nhe nanh,

Vua vươn cao cổ của mình

Chó chưa kịp cắn, vua nhanh hơn rồi

Cắn vào cầm chó ngay thôi

Cắn cho thật chặt, chó thời tru lên

Tiếng tru như xé màn đêm

Chó chung quanh đó chạy liền hoảng kinh

Còn đây vua chó một mình

Chồm lên gào thét, xoay quanh vẫy vùng,

Cặp răng vua mạnh vô cùng

Cắn càng thêm chặt quyết lòng chẳng buông

Đất đai cát bụi bay tung

Quanh vua đất cát cuối cùng lỏng ra

Vua bèn há miệng buông tha

Chó cong đuôi chạy trốn xa nơi này

Vua vùng đứng dậy được ngay

Đi lần giải thoát quanh đây tức thì

Các quan thoát cảnh khổ kia

Xác thân chôn sống muôn bề xót xa.

*

Ở bên cạnh bãi tha ma

Có hai con quỷ dạ xoa lâu đời

Chia nhau ranh giới đôi nơi

Đêm nay chợt có xác người nằm ngang

Hai con tranh cãi rất hăng

Muốn giành xác chết để ăn một mình,

Nghe vua Giới Đức nổi danh

Là người ngay thẳng hiền lành đã lâu

Quỷ bèn thoả thuận cùng nhau

Nhờ vua phân xử cho mau xác này,

Nhà vua hoan hỉ nhận ngay

Trước tiên nhờ quỷ ra tay giúp mình

Quỷ đầy pháp thuật tài tình

Giúp vua tẩy uế sạch nhanh thân người,

Vua nhờ quỷ đến lâu đài

Lấy ra mũ mãng cân đai áo quần,

Lấy thêm kiếm báu sáng ngần

Để vua ăn mặc tăng phần uy nghi.

Quỷ kia tài giỏi kể chi

Thi hành mọi việc tức thì dễ thôi

Dù cho ở chốn lâu đài

Ko Sa La ngủ trong nơi cung vàng.

Nhà vua Giới Đức nghiêm trang

Dùng thanh kiếm báu lẹ làng cắt đôi

Phân chia xác chết làm hai

Dạ xoa hai quỷ đều hài lòng thay

Sau khi ăn hết xác này

Hỏi vua muốn chúng ra tay giúp gì.

Vua bèn đáp: “Chẳng nhiều chi

Đưa ta mau chóng trở về chốn xưa

Nơi phòng ngủ trong cung vua,

Các quan cũng vậy, hãy đưa trở về

Nơi nhà họ ở trước kia!”

Dạ xoa thực hiện có gì khó đâu!

Ko Sa La đang chìm sâu

Vào trong giấc điệp đượm mầu vinh quang

Ngay phòng ngủ trong cung vàng

Giật mình tỉnh giấc mơ màng nhìn lên

Thấy vua Giới Đức kề bên

Đang cầm kiếm sắc đứng trên đầu mình

Dáng uy nghi, vẻ tinh anh

Hoàng bào trang phục quả tình oai nghiêm,

Ko Sa La tỉnh giấc liền

Đã vừa sửng sốt, lại thêm hãi hùng

Khi nghe rõ chuyện lạ lùng

Trong lòng bừng ngộ, vô cùng ăn năn

Bèn quỳ đảnh lễ thành tâm

Xin vua Giới Đức lòng nhân tràn đầy

Giúp mình trở lại đường ngay

Thưa rằng: “Loài quỷ thường hay dữ dằn

Tanh hôi ăn uống quanh năm

Lại thêm ngu ngốc, có bằng ai đâu

Vậy mà vẫn nhận ra mau

Bao nhiêu giới hạnh trước sau của ngài,

Tôi may mắn được làm người

Văn minh, hiểu biết mà rồi vô minh

Vừa qua mù quáng tâm mình

Tham lam gây chuyện quả tình lầm sai

Tôi xin hứa hẹn với ngài

Từ đây tu sửa tức thời bản thân

Không còn xâm lấn xa gần

Muôn đời tôn trọng tình lân bang này!”

Ko Sa La triệu tập ngay

Quan quân, binh lính vào ngày hôm sau

Lệnh truyền tất cả rút mau,

Công khai ca tụng đôi câu chân tình

Xin vua Giới Đức anh minh

Nhân từ tha thứ lỗi mình vừa qua

Rồi quốc vương Ko Sa La

Công khai trừng trị thật là thẳng tay

Tên quan xúi bẩy lâu nay

Lòng luôn phản trắc, tính hay gian tà.

Tâm vua Giới Đức thăng hoa

Nghĩ thầm: “Tinh tấn quả là ích thay

Vì mình nhẫn nhục chuyến này

Nên ta và các quan đây an toàn

Phục hồi danh tiếng vẻ vang

Tránh gây tang tóc cho vương quốc mình!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

KING GOODNESS THE GREAT

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 29 *

BỌN NGHIỆN RƯỢU

 

Có ông triệu phú thời xưa

Ở Ba La Nại đã từ lâu nay

Đồng thời cũng tại chốn này

Bọn người nghiện rượu tối ngày lang thang

Ngoài đường phố, trong quán hàng

Loay hoay tính toán miên man trong đầu:

“Làm sao có rượu giải sầu

Không tiền, không rượu sống đâu được nào!”

Một hôm tiền hết buồn sao

Chúng bèn bàn tán lao xao tìm đường

Giật tiền, cướp bạc, lấy vàng

Của ông triệu phú vẫn thường đi qua.

Chúng nào hay biết ông ta

Chính là bồ tát bây giờ tái sinh

Chúng âm mưu chuyện gian manh

Chế ra món rượu để dành mời ông

Ngầm pha thuốc ngủ vào trong

Khi ông mê ngủ và không biết gì

Chúng ra tay lột tức thì

Bạc tiền, trang sức có chi khó nào

Lột thêm mọi thứ dễ sao

Áo quần sang trọng bảnh bao trên người.

Chúng âm mưu dựng tạm thời

Quán hàng nhỏ bé cạnh nơi lề đường

Vùng qua lại khách thập phương

Đi xa mỏi mệt hay thường dừng chân,

Chúng dành ra chút rượu ngon

Pha thêm thuốc ngủ vào luôn trong này

Đóng chai trông đặc biệt thay

Chờ mồi béo bở qua đây sẽ mời.

*

Sáng nay cơ hội tới rồi

Khi ông triệu phú qua nơi quán hàng

Một tên vội vã đón đường

Mời chào ông khách hãy dừng bước chân:

“Thưa ngài rượu quý vô ngần

Ly đầu miễn phí, chủ nhân kính mời!”

Mang chai rượu tới tận nơi

Một tên rót rượu ra rồi dâng lên.

Ông từ chối định nói liền:

“Ta không hề uống thứ trên bao giờ!”

Tuy nhiên ông chợt nghi ngờ

Bọn người nghiện rượu sao mà lạ thay

Hôm nay tử tế thế này

Rượu ngon mà lại nhường ngay cho người?

Ông bèn đoán cũng dễ thôi

Đây là mánh lới lừa đời chi đây

Nên ông quyết định ra tay

Dạy cho bọn xấu xa này một phen

Ông lên tiếng: “Xin cảm phiền

Ta đi yết kiến vua trên ngai vàng

Thật là thất lễ vô vàn

Nếu mùi men rượu nồng nàn bốc ra

Các người thật tốt với ta

Ta vào cung điện xong là về ngay

Trên đường về ghé lại đây

Rượu ngon ta sẽ uống say ngại gì!”

Nghe xong bọn nghiện rượu kia

Tỏ ra thất vọng não nề. Biết sao?

Nên nhẫn nhục! Chớ nôn nao!

Đành chờ, đành đợi, cách nào khác đâu?

Một ngày trôi quả là lâu

Bọn người nghiện rượu buồn rầu kể chi.

Cuối ngày triệu phú mới về

Đi ngang quán nhỏ tức thì ghé thăm

Bọn gian manh vội thưa rằng:

“Mừng ngài quá bộ đến hàng chúng tôi

Rượu ngon đây xin kính mời

Để mừng chuyến viếng thăm nơi cung đình

Đây rượu nghĩa, đây rượu tình

Ly đầu miễn phí, xin dành ngài thôi!”

Nghiêm trang triệu phú trả lời:

“Ta nhìn chai rượu và rồi nhìn ly

Hệt như buổi sáng khác chi

Rượu mà ngon thật còn gì phần ta

Các ngươi uống hết không tha

Hoặc là nhấm nháp khó mà còn nguyên,

Ta không khùng, ta chẳng điên

Các ngươi chắc đã pha thêm thứ gì

Làm cho người uống mê đi

Rồi ngươi cướp bóc không hề nương tay!”

Nói xong ông bỏ đi ngay

Bọn gian nghiện rượu còn đây sững sờ

Thật là thất bại bất ngờ

Không dè triệu phú quá ư tinh tường

Chúng bèn bàn tán tìm đường

Mai này cướp khách thập phương bạc tiền

Chuyến này thật quả vô duyên

Mất toi chai rượu chẳng nên việc gì!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A GANG OF DRUNKARDS

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 30 *

CÂY ĐỘC CHẾT NGƯỜI

 

Ngày xưa có một toán buôn

Trưởng đoàn lanh lợi tinh khôn hơn người

Ông đi buôn bán khắp nơi

Vùng này, phương nọ xa xôi quản gì

Đoàn xe do bò kéo đi

Cả năm trăm chiếc thường thì nối đuôi.

Một hôm vào lúc sáng trời

Đoàn xe vừa tới trước nơi rừng già

Mọi người sẽ phải vượt qua

Khu rừng trông vẻ thật là lạ thay

Trưởng đoàn bèn báo động ngay:

“Trước khi mình vượt rừng này chớ quên

Bao nhiêu nguy hiểm kề bên

Hoa, cây, trái lạ chớ nên đụng vào

Nhiều khi độc hại biết bao

Tổ ong cũng độc, ai nào ngờ đâu

Hỏi tôi trước rồi ăn sau

Đề phòng để tránh khổ đau chết người!”

Cả đoàn nghe nói dứt lời

Đồng thanh lên tiếng: “Chúng tôi rõ rồi!”

*

Có ngôi làng đã lâu đời

Ở ngay trong khoảng giữa nơi rừng già

Ven làng mọc một cây ra

Thân cây, cành lá, trái hoa bình thường

Giống cây xoài ở địa phương

Sắc mầu, mùi vị trăm đường giống nhau

Nhưng nào có thể ngờ đâu

Cây này rất độc từ lâu giết người

Tưởng xoài ăn chết ngay thôi

Người phương xa tới có đời nào hay.

Vài xe đầu tới nơi đây

Mọi người đói bụng nhìn cây thèm thuồng

Tưởng xoài ngon hái ăn luôn

Không thèm cân nhắc, chẳng buồn nghĩ suy

Nhiều người cẩn thận kể chi

Bao lời cảnh cáo dễ bề quên sao

Họ khôn ngoan nhắc nhở nhau

Chờ ông lãnh đạo! Chớ mau khinh thường!

Khi đoàn trưởng tới giữa rừng

Những người cẩn thận vui mừng hỏi ông:

“Thưa cây này ăn được không

Nhiều người ăn nó vì trông giống xoài

Chúng tôi chờ đợi ông thôi!”

Trưởng đoàn xem xét kỹ rồi nói ngay:

“Cây này trông giống xoài đây

Nhưng mà độc hại dễ gây chết người

Ăn vào chỉ sớm tàn đời

Dù sờ cũng độc, ta thời tránh xa!”

Những người đã chót ăn qua

Nghe xong kinh hoảng rên la cuống cuồng

Trưởng đoàn tìm lá cây rừng

Đưa cho họ bảo hãy dùng để nhai

Nhai xong nuốt vội xuống thôi

Tống ra chất độc trong người khi nôn

Mới mong cái chết thoát luôn

Thoát điều nguy hiểm, qua cơn ngặt nghèo,

Vài người tội biết bao nhiêu

Chì vì háu đói ăn nhiều làm sao

Thế là chất độc ngấm vào

Nay thời mất mạng, cứu nào kịp đâu.

*

Nơi làng này đã từ lâu

Các cây độc hại giết bao nhiêu người

Đoàn xe xa lạ tới nơi

Ngừng đây tưởng trái xoài thời hái ăn

Đêm về chất độc ngấm dần

Trong khi say ngủ chết luôn chốn này

Người dân làng ở quanh đây

Chỉ chờ có vậy, sáng ngày hôm sau

Tới nơi dọn dẹp cho mau

Kéo chân xác chết vào sâu trong rừng

Rồi chôn kín đáo khắp vùng

Trở ra chiếm đoạt ngại ngùng gì đâu

Lấy bao hàng hóa trước sau

Lấy xe bò nữa. Làm giàu thật nhanh.

Lần này dân chúng ở quanh

Sáng ra vội tới để tranh của rồi

Tưởng như những chuyến khác thôi

Chắc cây đã giết đoàn người đi buôn

Tới nơi họ sững sờ luôn

Thấy đoàn buôn nọ vẫn còn sống nhăn

Lân la họ tới hỏi thăm:

“Tại sao các bạn không ăn trái này?”

Mọi người bèn trả lời ngay:

“Trưởng đoàn báo động tới đây đề phòng,

Và rồi khi tới chính ông

Nhìn quanh xem xét biết không phải xoài!”

Thấy người lãnh đạo thật tài

Dân làng tìm gặp ướm lời dò la

Hỏi sao ông nhận được ra

Đây là cây độc, không là xoài ngon.

Trưởng đoàn lên tiếng giảng luôn:

“Nhìn cây ta phải tinh khôn thấy rằng

Cây này gần sát cạnh làng

Thân cây lại thấp, dễ dàng leo lên

Vậy mà trái vẫn còn nguyên

Dân làng không hái. Tất nhiên lạ kỳ

Chắc là độc hại chứ gì

Mặc dù trông chẳng khác chi trái xoài!”

Mọi người nghe thấy phục tài

Trưởng đoàn thông thái ít ai sánh cùng

Chỉ cần suy luận bình thường

Tránh gây chết chóc đau thương bạo tàn.

Thế là mọi chuyện an toàn

Rời khu rừng rậm cả đoàn ra đi.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE WHATNOT TREE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 31 *

HOÀNG TỬ NĂM VŨ KHÍ

VÀ QUỶ LÔNG DÍNH

 

Ở Ba La Nại thuở xưa

Vua và hoàng hậu rất ư vui mừng

Vừa sinh hoàng tử đầu lòng

Đã bao ngày tháng cầu mong chuyện này.

Thế rồi sau một ít ngày

Vua mời thầy tướng đến ngay cung vàng

Năm trăm vị đều giỏi giang

Cùng nhau xem tướng cho hoàng tử con

Xem tương lai khi lớn khôn

Có thường tốt đẹp, có luôn an bình.

Nhà vua đặt tên con mình

Dựa lời thầy tướng tài danh chuyến này,

Vua không quên tặng quà ngay

Lắm tiền, nhiều bạc các thầy đều vui.

Các thầy đều phán đẹp lời

Rất là khôn khéo, êm tai vô cùng,

Nhưng rồi tất cả tập trung

Đoán rằng hoàng tử danh lừng tương lai

Sau này đặc biệt có tài

Dùng năm vũ khí ít ai sánh bằng,

Nối ngôi vua, ngự ngai vàng

Chăm lo dân chúng, mở mang nước nhà.

Vua nghe, suy nghĩ, đặt ra

“Ông Hoàng Năm Vũ Khí” là tên con.

Khi chàng mười sáu tuổi tròn

Vua cha quyết định gửi luôn theo thầy

Vào trường học ở xa đây

Vị thầy tiếng nổi, tài hay hàng đầu

Vua khuyên nhủ: “Hãy đi mau

Tới thầy xin học trước sau mọi điều

Nghe lời ta hỡi con yêu

Học bao nghề tốt, học nhiều chuyện hay

Để rồi giúp nước sau này

Tiền đây con hãy biếu thầy tạ ơn!”

Vua đưa hoàng tử tiền luôn

Tiền vàng đủ một ngàn đồng mang theo.

Giã từ cung điện dấu yêu

Chàng hoàng tử trẻ lòng nhiều tự tin

Lên đường tìm đến thầy hiền

Quyết tâm học hỏi cho nên thân mình.

Một vài năm thoáng trôi nhanh

Giờ đây chàng đã nổi danh nhất rồi

Giỏi giang, xuất sắc, tuyệt vời

Đứng đầu mọi thứ học nơi trường thầy,

Thầy mừng ban thưởng cho ngay

Đủ năm vũ khí trong ngày học xong

Biết vua, hoàng hậu chờ mong

Khuyên chàng trở lại hoàng cung tức thì.

*

Tuân lời hoàng tử bèn đi

Đường về ngang cánh rừng kia hiểm nghèo

Khách qua đây chết rất nhiều

Có con quỷ dữ rượt theo hại người

Dạ xoa ẩn náu lâu đời

Dân làng cảnh cáo thốt lời khuyên can:

“Này anh bạn trẻ to gan

Băng rừng nguy hiểm vô vàn chớ nên

Dạ xoa sẽ giết anh liền

Quỷ tên Lông Dính thường quen hại mình!”

Trẻ trung, anh dũng, nhiệt tình

Tự tin tài nghệ tập tành bấy lâu

Nên chàng nào có sợ đâu

Đi vào rừng thẳm đối đầu quỷ ngay.

Quỷ cao như một thân cây

Đầu to tựa mái nhà, đầy lông đen

Mắt to như đĩa, quắc lên

Răng nanh nhọn hoắt hai bên mép vàng

Bụng to chấm trắng giăng hàng

Tay chân xanh lét nom càng hãi kinh,

Lông dày mọc khắp thân mình

Quỷ lên tiếng hỏi: “Hỡi thanh niên này

Đi đâu dám bước qua đây

Rừng ta ngự trị bao ngày tháng qua

Thịt thơm, nạp mạng cho ta!”

Nghe xong hoàng tử tỏ ra coi thường

Học nghề xong vừa ra trường

Thêm năm vũ khí còn mang bên mình

Chàng lên tiếng: “Quỷ hôi tanh

Ta nhân qua chốn rừng xanh chuyến này

Loại mi ra khỏi đây ngay

Giúp cho dân chúng từ nay khỏi phiền!”

*

Dùng hai vũ khí đầu tiên

Giương cung chàng lắp mũi tên độc vào

Bắn tên ra, quỷ chẳng sao

Bắn năm chục mũi quỷ nào hề chi

Tên đều dính bộ lông kia

Quỷ xoay mình lắc, tên thì rơi ra.

Chàng dùng vũ khí thứ ba

Gươm dài một mũi phóng qua kẻ thù

Gươm liền dính đám lông xù.

Chàng dùng vũ khí thứ tư nhọn đầu

Phóng lao vào quỷ, ngờ đâu

Lao liền bị dính ngay vào lông quăn.

Chàng dùng vũ khí thứ năm

Quả chùy sắt nặng đem quăng đập người

Trúng ai chắc sẽ chết tươi

Nào ngờ chùy cũng dính nơi lông dày.

Quỷ tên Lông Dính đúng thay!

Cả năm vũ khí lông này dính luôn.

Quỷ gầm thét tiếng kinh hồn,

Nhưng chàng bình tĩnh, ôn tồn nói ra:

“Cả năm vũ khí của ta

Đều đem xử dụng vậy mà ích đâu,

Ta còn vũ khí hàng đầu

Đó là sức mạnh từ lâu tiềm tàng

Ẩn trong tuổi trẻ vạn năng

Ta đem nghiền nát mi bằng thân trai!”

Hai tay chàng vội vươn dài

Đấm vào người quỷ. Tay thời dính luôn.

Hai chân chàng đá dập dồn

Hai chân cũng dính vào lông bên ngoài.

Chàng dùng đầu với hai vai

Húc vào người quỷ. Nào ai có ngờ

Đầu chàng bị dính cứng đơ

Vào lông của quỷ dày như cỏ vườn

Thân dù kẹt, trí chẳng sờn.

Quỷ nhìn chàng nghĩ: “Ai hơn kẻ này

Lạ lùng thay, hiếm hoi thay

Nhiều người đã chết trong tay của mình

Riêng chàng can đảm thật tình

Không hề sợ hãi hoảng kinh chút nào”.

“Ngươi không sợ chết hay sao?”

Quỷ lên tiếng hỏi xiết bao ngỡ ngàng

Chưa hề dám đụng đến chàng,

Thản nhiên chàng đáp: “Phải chăng con người

Sinh ra chỉ sống một thời

Và rồi lại sẽ qua đời còn chi

Có sinh có tử lạ gì

Nên ta thấy cái chết kia bình thường!”

Chàng thầm nghĩ: “Chưa cùng đường

Dù năm vũ khí đều không ích gì

Sức trai cũng chẳng lợi chi

Bây giờ ta phải quay về nội tâm

Nhờ vào vũ khí tinh thần

Mới mong hữu hiệu trăm phần mà thôi”

Chàng nhìn quỷ, miệng thốt lời:

“Ta còn tàng chứa trong nơi bụng này

Một môn vũ khí lạ thay

Rất là bí mật lại hay vô cùng

Đó là vũ khí kim cương

Mi mà nuốt phải sẽ vương muộn sầu

Nó không tiêu hóa được đâu

Ruột mi sẽ đứt ra mau tức thì,

Nếu mi nuốt sống ta đi

Thời mi cũng chết, thoát chi tử thần

Cả hai đều chết một lần

Tại sao ta lại phải cần sợ mi?”

Theo như truyền thuyết xưa kia

Chàng hoàng tử muốn nói về trí khôn

Đó là trí tuệ tuyệt luân

Coi như vũ khí trong thân con người.

Quỷ kia nghe chẳng sót lời

Khen thầm: “Can đảm tuyệt vời kể chi

Chàng này không sợ hãi gì

Chắc chàng nói thật! Thôi thì thả ra!”

Quỷ kia sợ chết, buông tha

Nói cùng hoàng tử: “Bạn là vĩ nhân

Ta tôn trọng bạn vô ngần

Bạn về soi sáng cõi trần khắp nơi!”

Chàng hoàng tử khẽ mỉm cười

Được thêm bài học tuyệt vời hôm nay:

“Bao nhiêu vũ khí đời này

Không bằng vũ khí ở ngay trong mình

Đó là trí tuệ tinh anh”

Tạ ơn, hoàng tử chân thành thốt ra:

“Này Lông Dính, bạn của ta

Bạn trong tiền kiếp xấu xa vô cùng

Nên sinh thành quỷ dữ hung

Nếu mà bạn chẳng chịu dừng lại ngay

Giết người mãi tại rừng này

Chao ơi bạn sẽ đọa đày khổ đau

Cả kiếp này, lẫn kiếp sau

Tái sinh hỏa ngục vạc dầu bỏng sôi

Hay thành súc vật nữa thôi

Hoặc thành ma đói nổi trôi dưới trời,

Nếu mà may mắn thành người

Sống lâu chẳng được, cuộc đời trầm luân!

Hãy rời mây phủ tối tăm

Ra vùng ánh sáng trăng rằm thênh thang.

Tuân ngũ giới! Theo đạo vàng!

Giúp cho bá tánh, vẻ vang bội phần,

Trở thành ra một vị thần

Tốt lành, nhân hậu xa gần mến thương!”

Khi hoàng tử rời khu rừng

Báo cho dân chúng tin mừng! Vui thay!

Dân làng quanh đó từ đây

Hiến thần thực phẩm. Rừng đầy bình an.

Chàng bèn từ biệt dân làng

Về Ba La Nại, cung vàng chờ mong.

Vua cha tới lúc mệnh chung

Truyền cho hoàng tử của ông ngai vàng.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

PRINCE FIVE-WEAPONS

AND STICKY-HAIR

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

__________________________

 

NHẬN DIỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

 

1) TRUYỆN BẠN RẤT  THÂN

Ông quan giỏi về súc vật là tiền thân Đức Phật.

2) TRUYỆN BÒ ĐẠI HỶ

Bò Đại Hỷ là tiền thân Đức Phật.

Chủ nhân quý tộc là Ananda.

3) TRUYỆN BÒ ĐEN CỦA BÀ

Bò Đen là tiền thân Đức Phật.

Bà già là Liên Hoa Sắc.

4) TRUYỆN ANH EM BÒ VÀ CHÚ HEO CON 

Bò anh là tiền thân Đức Phật. Bò em là Ananda.

5) TRUYỆN CÕI TRỜI 33 (Chương 1: Cộng Tác)

6) TRUYỆN CÕI TRỜI 33 (Chương 2: Từ Bi)

7) TRUYỆN CÕI TRỜI 33 (Chương 3: Phước Báu)

Vua trời Đế Thích là tiền thân Đức Phật.

Thần đánh xe là Ananda.

8) TRUYỆN CÔNG MÚA

Vua ngỗng trời là tiền thân Đức Phật.

9) TRUYỆN VUA CHIM CÚT VÀ

CHÀNG THỢ SĂN

Vua chim cút có trí là tiền thân Đức Phật.     

10) TRUYỆN CON CÁ MAY MẮN

Ông quan cố vấn của nhà vua là tiền thân Đức Phật.

11) TRUYỆN CHIM CÚT NHỎ

KHÔNG BIẾT BAY

Chim cút nhỏ không biết bay là tiền thân Đức Phật.

12) TRUYỆN CHIM KHÔN, CHIM DẠI

Chim khôn, có trí là tiền thân Đức Phật.

13) TRUYỆN CÂY BÀNG MỌC LÊN

Chim trĩ là tiền thân Đức Phật.

Voi là Mục Kiền Liên. Khỉ là Xá Lợi Phất.

14) TRUYỆN CÒ VÀ CUA

Vị thần trên cây là tiền thân Đức Phật.

15) TRUYỆN KHO TÀNG GIẤU CHÔN

Bạn già có trí của cha chàng thanh niên là tiền thân Đức Phật. Nan Đà là đệ tử của Xá Lợi Phất.

16) TRUYỆN PHẬT ĐỘC GIÁC

Người triệu phú ở Ba La Nại là tiền thân Đức Phật.

17) TRUYỆN LỜI NGUYỀN RỦA

(Chương 1: Ghen Tức)

18) TRUYỆN LỜI NGUYỀN RỦA

(Chương 2: Tham Lam)

19) TRUYỆN LỜI NGUYỀN RỦA

(Chương 3: Lạc Thú)

Ông thầy dạy học danh tiếng là tiền thân Đức Phật.

20) TRUYỆN BỒ CÂU VÀ QUẠ

Chim bồ câu là tiền thân Đức Phật.

21) TRUYỆN CHA CỦA RẮN TRE

Ông thầy có năm trăm đệ tử là tiền thân Đức Phật.

22) TRUYỆN HAI TRẺ DẠI KHỜ

Ông cố vấn đại tài của vua là tiền thân Đức Phật.

23) TRUYỆN TƯỚI VƯỜN

Ngài hiền trí đi ngang vườn là tiền thân Đức Phật.

24) TRUYỆN RƯỢU MẶN

Người bạn của chủ tiệm rượu là tiền thân Đức Phật.

25) TRUYỆN THẦY BÙA CHÚ VÀ

BỌN BẮT CÓC

Người đệ tử của thầy bùa chú là tiền thân Đức Phật.

26) TRUYỆN CHÚ RỂ MẤT VỢ VÌ CHÒM SAO

Ngài hiền triết đi qua giảng hòa đôi bên là tiền thân Đức Phật.

27) TRUYỆN KẾ HOẠCH HOÀNG TỬ

Hoàng tử có kế hoạch về sau trở thành vua ở Ba La Nại là tiền thân Đức Phật,

28) TRUYỆN VUA GIỚI ĐỨC

Vua Giới Đức là tiền thân Đức Phật.

Tên quan phạm tội rồi phản bội là Đề Bà Đạt Đa.

29) TRUYỆN BỌN NGHIỆN RƯỢU

Ông triệu phú ở Ba La Nại là tiền thân Đức Phật.

30) TRUYỆN CÂY ĐỘC CHẾT NGƯỜI

Trưởng đoàn buôn thông thái là tiền thân Đức Phật.

31) TRUYỆN HOÀNG TỬ NĂM VŨ KHÍ VÀ QUỶ LÔNG DÍNH

Hoàng tử Năm Vũ Khí là tiền thân Đức Phật.

    

***

GHI CH Ú:

     Các hình vẽ phụ họa đã được bỏ đi trong nội dung các truyện phổ biến trên website.

 

***

* Sách ấn tống để biếu, không bán.

* Tác giả không giữ bản quyền.

* Hoan nghênh tái bản

hoặc phổ biến dưới bất kỳ hình thức nào khác.

 

***

LIÊN LẠC:  giaongo@msn.com

 

  

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-8-2005 

 

Webmaster: quangduc@tpg.com.au

Trở về Trang Truyện Tích PG

Đầu trang

 

Biên tập nội dung:  Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:  
quangduc@tpg.com.au