Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Tích Phật Giáo


......... .

 

 

 

 

Ngày xuân về mái Chùa xưa

 

Trần Sĩ Huệ

Ngày xuân đi lễ chùa, đi viếng cảnh chùa, đó là chuyện từ xưa. Đi chùa bao giờ cũng trong mục đích hướng thiện, cho dẫu mục đích ấy mang tính vị kỷ, như để tìm chút thanh thản, giải tỏa điều phiền muộn riêng tư, thậm chí để cầu xin lợi ích cá nhân. Bây giờ nhiều ngôi chùa khang trang lộng lẫy, cảnh trí thật đẹp đẽ, thơ mộng, khiến nhiều người càng ham thích đi chùa, ngày Tết rất tấp nập. Riêng tôi, vẫn biết việc trùng tu hoặc xây dựng lại các ngôi chùa là chính đáng, song cứ cảm thấy mái ngói mới lợp đỏ quá, tường mới sơn vàng quá, hoa chăm cỏ xén, lối phẳng cây trồng… có làm mất đi cảnh trí tĩnh lặng trang nghiêm  của ngôi chùa? Thật may  mắn, Tết năm ngoái tôi có cơ duyên về lại mái chùa tận làng quê heo hút…

Làng tôi nằm trên con đường hồi thế kỷ XIX là đường quan báo từ huyện về tỉnh. Thật sự đây chỉ là con đường xuyên sơn, nhiều nơi quanh co, đèo cao dốc ngược, hố thẳm suối sâu, nhưng đoạn qua làng tôi khá rộng rãi và bằng phẳng. Thuở ấy tại đây có một trạm dịch là trạm Phú Vân, vì vậy dốc ở gần trạm mang tên dốc Trạm và giếng làng ở gần trạm mang tên giếng Trạm. Làng tôi có ba nơi thờ kính, dân chúng coi là linh thiêng: Dinh Ông ở hướng Bắc thờ bổn xứ Thành hoàng, dinh Bà ở hướng Nam thờ Thiên Y A Na và chùa Linh Phước ở gần dốc Trạm. Từ dốc Trạm vào chùa đi trên bờ cao, một bên là ruộng sâu, một bên là mấy cây đa lớn thả những chùm rễ phụ chằng chịt. Tuổi nhỏ chúng tôi đứa nào cũng vậy, lỡ phải đi qua một mình gần như nín thở, không dám chạy, không dám đi nhanh mà bước chậm càng thêm sợ hãi…

Yên tâm nhất là ngày Tết theo cha mẹ đi chùa. Đi qua gốc đa ta có thể tung tăng cười nói, nghêu ngao câu hát. Vào chùa rồi tha hồ dạo khắp trước sau không gian yên tĩnh và ấm áp. Hòa thượng trụ trì là một vị chân tu đạo hạnh nhưng trông không khác một người nhà quê chất  phác, vóc dáng mập mạp, tay chân thô kệch, cử chỉ vụng về, giọng nói rổn rảng. Dân làng tôi tôn trọng gọi là ngài, đồng thời gọi là ngài Hòa thượng mập. Từ mập không hàm ý bất kính mà do… hồi ấy các loại thuốc do nhà thuốc Nhị Thiên Đường sản xuất như căn cơ tán, tiêu ban lộ hay dầu cù là, dầu nhị thiên… có nhãn hiệu Ông Phật Mập, dân làng thấy Hòa thượng giống như hình Ông Phật Mập mới gọi là Hòa thượng mập.

Năm Ất Dậu 1945, tôi đang học lớp Ba, chuẩn bị đến mùa Hè ra tỉnh lỵ Sông Cầu thi bằng Sơ học yếu lược, thầy giáo có dạy cho năm ba chữ Pháp và cha tôi có dạy cho năm ba chữ Hán. Tết ấy đến chùa do trời mưa lay bay nên tôi không chạy nhảy chơi đùa ngoài sân, vào ngồi nơi góc phòng nghe lóm câu chuyện giữa Hòa thượng và cha tôi. Nhìn ra mấy đóa thược dược gần hiên lấp lánh đọng những giọt nước mưa và mấy bông hường ngả nép theo cành mềm, hai vị nhắc câu thơ tức cảnh: Hữu tình thược dược hàm xuân lệ/ Vô lực tường vi ngọa vãn chi (Hữu tình, hoa thược dược ngậm giọt lệ xuân/ Không có sức, hoa tường vi nằm trên cành cỗi yếu). Hai vị cho rằng có những câu thơ trau chuốt quá, nhiều xảo mà ít thực, như: Hương đạo trác tàn anh vũ lạp/ Bích ngô thê lão phượng hoàng chi, nếu một người bình thường sẽ viết: Anh vũ trác tàn hương đạo lạp/ Phượng hoàng thê lão bích ngô chi (Chim anh vũ mổ hết những hạt lúa thơm/ Chim phượng hoàng già đậu trên cành bích ngô). Câu trước tôi hiểu được chút ít, nhưng câu này hoàn toàn tôi không hiểu. Một câu khác: Vạn thọ hoa khai Bồ tát diện/ Tôn tư diệp tán dạ xoa dầu (Hoa vạn thọ nở như khuôn mặt Bồ tát/ Tán lá xum xuê như đầu dạ xoa). Hai vị cho rằng đem dạ xoa so sánh với Bồ tát, sự đối nghịch là rõ, nhưng như vậy không được. Bỗng Hòa thượng nhìn tôi và hỏi: “Con thấy thế nào?”. Không kịp suy nghĩ, hốt nhiên tôi thưa: “Bạch thầy, thiếu thiện tâm”. Thầy cười: “Con giỏi lắm, con hãy đối thử câu này đi, không nhứt thiết phải bây giờ, Tết sang năm đọc cho thầy nghe”. Ai mà biết được, không có chuyện sang năm vì bao nhiêu biến cố xảy ra dồn dập. Mẹ tôi mất. Rồi Nhật đảo chánh. Rồi khởi nghĩa. Làng tôi, như bao nhiêu làng quê khác bị cuốn hút vào cuộc diện chung. Cuối năm gia đình tôi rời bỏ quê hương, gần như cứ đi đi mãi.

Phải đến Tết Ất Dậu 2005, 60 năm sau. Điều khiến tôi vô cùng ngạc nhiên là ngôi chùa vẫn còn, trong khi đó dinh Ông, dinh Bà đã đổ nát hết. Cây đa dốc Trạm chỉ còn trơ gốc. Bây giờ chùa không có thầy trụ trì, chỉ có một thủ tự, vốn là bạn tôi, hơn vài ba tuổi. Anh cho biết vì chùa ngày xưa vách xây bằng đá với nước mật và nhựa cây ô dước nên giữ được độ bền chắc lâu năm. Hồi chúng tôi còn nhỏ, anh ấy bắn ná cao su rất giỏi, gài bẫy đặt cạm thường xuyên bắt được gà rừng, chim cuốc, chim đất, nhen và sóc đỏ dạ nữa. Sau 1975, anh thuộc diện "học tập cải tạo", và nhờ cái tài ấy khi đi lao động nơi rừng núi anh “kết hợp” gài bẫy, ngày nào cũng có được chút thịt “cải thiện” bữa ăn. Học tập xong, về thấy cảnh chùa hoang vắng, mỗi ngày anh đến phát dọn chăm sóc một ít. Rồi mẹ mất, vợ mất, các con vừa khôn lớn, anh xuống tóc ăn chay tu tại gia, khi đất nước đến thời kỳ đổi mới, anh tình nguyện làm người thủ tự. Tiền bạc không có, anh chẳng làm gì hơn ngoài việc vá víu mấy chỗ vách hư nền lở, chống đỡ chỗ xiêu vẹo, dấu vết giờ đây hãy còn. Nhìn lên mái ngói âm dương thấy màu xi-măng tô vá loang lổ trên màu rong rêu đen thẫm. Những ngày tháng đầu chùa không có cả tượng Phật trên bàn thờ, có người hỏi anh: “Chùa sao không có Phật?”. Anh đáp: “Có chớ sao không? Chỉ tại ông không nhìn thấy, Phật ở trong trời đất và ở ngay trong tâm con người. Chắc là do ông còn thiếu Phật tâm”. Chùa như thế nên những người đi lễ rất ít, chỉ có dân làng vẫn còn nghèo khổ nhiều bề, không ai cúng dường tiền bạc, mỗi người đem đến ít đồ đạc sẵn có để sửa sang và làm vật dụng. Ngôi chùa  phảng phất không khí của cái thời các vị chân tu ăn hoa quả rừng, uống nước suối khe.

Anh bạn tôi hàng ngày tụng niệm cầu cho chúng sinh yên bình, đồng thời anh thành tâm xin lỗi linh hồn các loài chim hiền thú nhỏ anh đã sát hại để vui chơi hồi thiếu thời cũng như thân xác nó đã làm công việc “dưỡng nhơn” giúp anh bồi dưỡng cơ thể trong những ngày "học tập". Chung quanh hàng rào và sân anh trồng nhiều hoa, chọn toàn những thứ hoa ít tốn công chăm sóc mà lâu tàn, không chọn những thứ quá ẻo lả, đài các như con nhà vương giả giàu sang. Cổng chùa anh vẫn giữ như xưa, trồng mấy bụi hoa giấy hai bên, kết thành vòm cung, hoa đang nở rộ, đủ màu vàng đỏ tím chen lẫn trong lá màu xanh tươi… Sáu mươi năm mới gặp nhau, gặp ở chỗ khác chưa chắc đã nhận ra nhau, thuở ấy trên dưới mười tuổi, giờ đã trên dưới bảy mươi, chúng tôi ngồi nơi thềm chùa, nhìn kỹ khuôn mặt nhau để tìm lại đường nét thời thơ ấu. Hình như chúng tôi quên hết sáu mươi năm tang thương biến cuộc, trong mùi hương thơm ngào ngạt mơ hồ cảm thấy như đâu đây bóng dáng ngài Hòa thượng mập, đôi mắt hiền từ của ngài đang nhìn chúng tôi cùng với nụ cười thân thương độ lượng. Đã nửa buổi mai, nắng hồng rực rỡ làm cho hàng hoa vạn thọ thêm sáng ngời, tôi chợt nhớ câu đối ngày xưa thầy cho hẹn đến năm sau, tự nói thầm: Bạch thầy, con thật có lỗi, con đã quên mất trong sáu mươi năm qua, đến giờ vẫn chưa nghĩ ra!

 

---o0o---
 

Trình bày: Nhị Tường
 Cập nhật: 01-3-2006 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Truyện Ngắn

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544