Hiếu Kinh Của Phật Giáo
HT. Tuyên
Hóa
---
o0o
---
Tông chỉ của bộ Kinh Địa Tạng nằm
trong tám chữ: "Hiếu đạo, Độ sanh, Bạt khổ, Báo ân". Tám
chữ này muốn nói lên điều gì? Chính là nói lên đạo lý hiếu
thảo với cha mẹ. Con người biết hiếu thảo với cha mẹ thì sẽ làm
trời đất rạng rở. Việc khiến trời đất cảm động, cũng chính
là lòng hiếu thảo cha mẹ, nên nói: "Thiên địa trọng hiếu,
hiếu đương tiên". Chữ Hiếu này rất quan trọng. Chỉ cần một
chữ "Hiếu" thì cả nhà được bình an. "Hiếu thuận hoàn
sanh hiếu thuận tử". (Cha mẹ biết hiếu thảo thì sẽ sinh con hiếu
thảo) Nếu như quý vị hiếu thảo với cha mẹ mình, thì sau này con cái
sẽ hiếu thảo với quý vị; còn nếu như quý vị không hiếu thảo ,
thì con cái của quý vị sẽ không hiếu thảo với quý vị. Cho nên vì
sao phải học làm người? Làm người có ý nghĩa gì? Đừng nói
rằng tôi sinh ra làm người, một cách quá mơ hồ là xong. Không
phải vậy đâu! Gốc rễ của cách làm người là ta phải biết bổn
phận hiếu thảo với cha mẹ. Bởi vì cha mẹ chính là trời đất, cha
mẹ là sư trưởng, cha mẹ cũng là chư Phật. Nếu như quý vị không
có cha mẹ thì quý vị sẽ không có được thân thể này, mà không
có thân thể này thì quý vị sẽ không bao giờ thành Phật. Cho nên
quý vị muốn thành Phật thì trước tiên phải hiếu thảo với cha
mẹ.
Do vậy điều thứ nhất chính là Hiếu Đạo.
Tông chỉ thứ hai của bộ Kinh này là "Độ
sinh". Sao gọi là độ sinh? Từ bờ bên này sang bờ bên kia gọi
là "độ"; từ sinh tử đến Niết Bàn cũng gọi là
"độ"; từ phiền não tới thành Bồ đề cũng gọi là
"độ". Nói độ sinh chính là độ chúng sinh. Độ chúng sinh
không phải nói độ một người, hai người, cũng không phải
độ ba người, năm người mà gọi là độ chúng sinh. Độ chúng sinh
là độ tất cả mười hai loài chúng sinh, giáo hóa, khiến họ đều
phát tâm Bồ đề, sớm thành Phật quả. Đây mới gọi là độ
chúng sinh.
Thứ ba là "Bạt khổ", vì đây là bộ Kinh dạy
ta bạt trừ những khổ não của chúng sinh.
Thứ tư là "Báo ân", nghĩa là phải báo ân
cha mẹ. Tám chữ Hiếu đạo, Bạt khổ, Độ sinh, Báo ân này là
Tông chỉ của Kinh Địa Tạng. Nếu như giảng rõ ràng thì rất là
nhiều, cho nên tôi chỉ giảng kỹ những điều quan trọng, sau đó thì
các vị sẽ hiểu rõ.
Nói đến đạo hiếu này, có người vừa nghe nói thì
liền nghĩ. "Tôi phải về nhà hiếu thảo với cha me". Nhưng về
đến nhà, gặp cha mẹ thì liền quên đi việc hiếu thảo. Tại sao
quên? Chính là vì mình không biết đúng đắn thế nào là lòng hiếu
thảo. Để bày tỏ lòng hiếu thảo đúng đắn bạn cần phải học
Phật pháp.
Quý vị ở đây học Phật pháp tức là hiếu thảo
với cha mẹ. Không cần nói tôi về nhà mới là hiếu thảo cha mẹ,
để khi về đến nhà lại quên hiếu thảo cha mẹ. Quý vị ở đây
học Phật pháp, làm một người tốt trên thế giới, điều này
đối với thế giới thì có lợi. Có lợi cho thế giới, thì chính
là hiếu thảo với cha mẹ.
Hiếu có bốn loại: Có tiểu hiếu, đại hiếu, viễn
hiếu, cận hiếu. Cái gì gọi là tiểu hiếu? "Tiểu hiếu" là
hiếu với gia đình, chính là có hiếu thuận với cha mẹ của mình ở
nhà, chứ chưa hiếu thuận với tất cả mọi người, chưa có thể
làm một người hiếu quảng đại. "Hiếu quảng đại" là gì?
Hiếu quảng đại chính là "Đại hiếu", hiếu với khắp thiên
hạ, xem tất cả cha mẹ trên đời là cha mẹ của mình. Đây gọi là
hiếu thảo với tất cả mọi người. Nhưng đại hiếu này còn chưa
nói đến việc hiếu thảo chân chánh. "Hiếu thảo chân chánh"
là sao? Chân hiếu" là chỉ khi nào quý vị thành Phật mới gọi
là Chân hiếu. Lòng hiếu này vượt ngoài bốn loại hiếu kia; nó
là một loại hiếu chân chánh. Cho nên dù phụ thân không cho phép
đức Thích Ca xuất gia, nhốt Ngài ở trong cung, nhưng Ngài vẫn lén đi
xuất gia tu hành. Ngài tu khổ hạnh sáu năm trên núi Tuyết, rồi sau
đó Ngài ngộ đạo thành Phật dưới cội cây Bồ đề, đây là
sự hiếu thảo chân chánh. Cho nên sau khi Ngài thành Phật, Ngài lên
cung trời thuyết pháp cho mẹ. Quý vị xem đây có phải là "Chân
Hiếu" không?
Thế nào gọi là "Cận hiếu"? Cận hiếu là con
người theo thời đại ngày nay mà hiếu thảo với cha mẹ, đi học
cũng là phương pháp hiếu thảo với cha mẹ, đây gọi là cận hiếu.
"Viễn hiếu" là hiếu thảo muôn đời; cận hiếu là hiếu
thảo đời này. Cận hiếu cũng có thể nói là tiểu hiếu, nhưng
cũng có ít nhiều không giống. Viễn hiếu là hiếu thảo muôn đời,
như Trung Quốc có 24 người con hiếu, 24 người con hiếu này là hiếu
thảo muôn đời, vì họ đã để lại tiếng thơm cho muôn đời.
Nói đến "Nhị thập tứ hiếu" này thì Trung
Quốc có một người gọi là Đổng Vĩnh. Đổng Vĩnh còn gọi là
Đổng Ảm. Đổng Vĩnh rất hiếu thảo với cha mẹ. Hàng xóm của anh ta
có một người họ Vương, gọi là Vương Kỳ. Đổng Vĩnh là người
nghèo, không có tiền, Vương Kỳ là người giàu có. Nhưng mẹ của
Đổng Vĩnh, vì nhờ có người con hiếu thảo nên được khỏe mạnh
mập mạp. Mặc dù đã lớn tuổi, nhưng từ sáng đến tối bà luôn
cảm thấy vui vẻ. Còn bà mẹ của Vương Kỳ mặc dù tiền bạc sung
túc, ăn thì có thịt heo, thịt gà, cá, vịt, toàn thứ ngon vật lạ,
nhưng lại ốm yếu bệnh hoạn. Bà ta không có một chút vui vẻ, luôn
đau buồn. Có một hôm Đổng Vĩnh không có ở nhà, Vương Kỳ cũng
không có ở nhà, bà ốm mới hỏi bà mập: "Nhà bà nghèo như
thế, cũng không có gì ngon để ăn. Vậy tại sao bà mập như vậy?
Bà lớn tuổi như thế, mà mập như vậy là lý do gì? ".Mẹ của
Đổng Vĩnh mới nói với mẹ của Vương Kỳ rằng: "Bởi vì con
của tôi rất là hiếu thảo, nó không dám làm một việc gì xấu
cả, lại rất thật thà đúng đắn, cần cù làm việc. Tôi không có
điều chi đau buồn về nó, lại rất hài lòng. Tâm hồn
thoải
mái, thân thể khỏe mạnh, tôi thích như vậy, nên tôi mập
được". Sau đó mẹ của Đổng Vĩnh tức là bà mập hỏi lại
bà ốm: "Bà có tiền như thế, ăn toàn là thứ ngon vật lạ,
tại sao lại ốm như vậy? Bà ốm như cây sậy, có phải là bệnh gì
không?". Bà ốm này liền trả lời: "Tôi hả! Tuy có tiền,
tuy có đồ ăn ngon, nhưng đứa con của tôi, tánh nó không thật
thà, không đúng đắn, thường làm những hành vi phi pháp; hôm hay
phạm pháp, ngày mai cũng phạm pháp. Ba hôm nay bị sai nha bắt tra hỏi,
mai lại có lệnh gọi của phủ đường gửi đến. Tôi từ sáng
đến tối, chỉ lo lắng cho đứa con này, ăn dù ngon cách mấy cũng
cảm thấy không vui, từ sáng đến tối lúc nào cũng ưu sầu, lo
buồn. Cho nên tôi càng ngày càng ốm đi, mập không nổi, đều là
vì buồn bực chuyện này"... "Hiếu", tuy có viễn hiếu,
cận hiếu, đại hiếu, tiểu hiếu, nhưng nói đến sự hiếu thảo chân
chánh, thì chân hiếu chính là tu hành để sau này thành Phật. Các
vị hôm nay học Phật pháp, không trở về nhà, chính là sự hiếu
thảo chân chính, đúng là biết học Phật. Có thể hành trì phật
pháp thì mới là sự hiếu thảo đúng đắn nhất.
Nguồn gốc Vu Lan
Hỏi: Lễ Vu Lan xuất xứ
từ kinh nào?
Đáp: Lễ Vu Lan xuất xứ từ kinh
Phật thuyết Vu Lan Bồn. Theo kinh này Phật có dạy ngài Mục Kiền Liên
rằng: "Là đệ tử của Phật tu hành đạo hiếu thảo, các con
phải thường nhớ nghĩ cúng dường cha mẹ mình. Hàng năm nhằm ngày
rằm tháng bảy các con phải sinh lòng hiếu thảo đối với cha mẹ
đời này cũng như cha mẹ trong bảy đời quá khứ mà cử hành
pháp hội Vu-Lan, cúng dường chư Phật và chư Tăng để báo đáp ân
đức mà cha mẹ đã nuôi dưỡng mình". Ngài Mục Kiền Liên
vâng theo lời Phật, thiết trai cúng dường mười phương tăng chúng,
hồi hướng công đức về cho mẹ mình ở dưới địa ngục, khiến
bà được thoát thân ngạ quỷ, vãng sinh tịnh độ.
Hỏi: Ý nghĩa của chữ Vu Lan Bồn là gì?
Đáp: Vu Lan Bồn là dịch âm từ
chữ Phạn Ullambana. Ý dịch là cứu đảo huyền. Theo ngài Tông Mật,
Vu Lan nghĩa là đảo huyền, ám chỉ cực hình bị treo (huyền) ngược
(đảo) của chúng sinh trong địa ngục. Bồn tức là cái chậu, cái
thau, tượng trưng cho vật cứu hộ những chúng sinh ấy. Do đó cách
dịch thông thường của lễ Vu Lan là lễ "Cứu đảo huyền, giải
thống khổ" (Vu Lan Bồn Kinh Sớ, quyển hạ).
Hỏi: Làm sao cứu độ chúng sinh, cửu huyền
thất tổ, trong hạ giới?
Đáp: Kinh kể lại rằng ngài Mục
Kiền Liên dùng sức mạnh thần thông của cá nhân mình để thử
cứu mẹ mình ở địa ngục mà thất bại. Do đó, muốn cứu độ
chúng sinh trong cõi địa ngục, ngạ quỷ, mình cần phải nhờ tới
đạo lực của tập thể chư Tăng, những vị chân thật tu hành. Xưa
kia, vào rằm tháng tư, đức Phật và chư Tăng kiết hạ, (nghĩa là an
trụ một chỗ để tu hành, không ra ngoài khất thực để tránh phải
dẫm lên côn trùng sâu bọ sinh sản đầy đẫy vào mùa mưa). Rằm
tháng bảy, là ngày cuối cùng của mùa hạ, Phật và chư Tăng tề
tựu để tụng giới, thuyết pháp. Bấy giờ chư Tăng sẽ dùng đạo
lực thanh tịnh của mình để hồi hướng về chúng sinh đang chiụ
thống khổ trong cõi dưới.
Hỏi: Trong lễ Vu Lan phải cúng dường ra sao ?
Đáp: Theo như Phật dạy, những ai
muốn báo hiếu cho cha mẹ bảy đời thì phải đem thượng vị ẩm
thực an trí nơi một cái chậu (hay đồ đựng) để cúng dường chư
Tăng trong mười phương. Sở dĩ dùng chậu hay đồ đựng có dung tích
lớn là muốn ám chỉ rằng tất cả đồ cúng dường là dành cho
tập thể Tăng đoàn chớ không dành riêng cho vị Tăng đặc biệt
nào. Tất cả đồ vật cúng dường ấy sẽ được phân phối đồng
đều cho tất cả Tăng Ni.
Hỏi: Lễ Vu Lan mỗi quốc gia, mỗi địa phương
đều tổ chức khác nhau, như vậy tổ chức thế nào thì tương đối
phù hợp với tinh thần chánh pháp Phật dạy?
Đáp: Vua Võ Đế vào năm Đại
Đồng thứ tư (538 AD) đã từng tới chùa Đồng Thái để làm lễ
trai tăng, cúng dường. Sau rồi mỗi năm, trở thành thông lệ, các
vua hoàng đế đều rất coi trọng lễ Vu Lan. Đời Đường, vua Đại
Tông còn tổ chức cực kỳ long trọng, bằng cách cho thỉnh Tăng Ni ,
thiết bồn cúng dường ở trong hoàng cung. Về sau truyền thống phổ
cập khắp nhân gian, nhiều màu mè sắc thái thế tục (như đốt vàng
bạc, tiền giấy, cúng kiếng..), cũng như những phong tục nhân gian
(đàn ca múa hát) được thêm vào, hoàn toàn không phải chân lý
Phật dạy. Sau này vào đời nhà Thanh, có nhiều Tăng chủ trương
làm lễ cung phụng Vu Lan Bồn, cúng dường Tam bảo vào ban ngày, còn
ban tối thì cúng cô hồn, siêu độ quỷ đói.
Đối với người tại gia, tinh thần căn bản nhất mà
lễ Vu Lan nhằm biểu hiện, nằm ở trong ba phương diện:
1. Trên phương diện căn bản làm
người, thì lễ Vu Lan là cơ hội làm ta phản tỉnh: khiến mình biết
hiếu thảo với cha mẹ còn sống và biết bổn phận phải giải cứu
cha mẹ bảy đời xưa kia cũng như giải cứu tất cả ngạ quỷ, địa
ngục chúng sinh.
2. Trên phương diện tu phước tu huệ,
thì lễ Vu Lan là cơ hội để ta tu tâm chân thành: mình phải biết cung
kính cúng dường chư Tăng, phụng sự Tam Bảo.
3. Trên phương diện giải thoát, thì lễ
Vu Lan là cơ hội để ta tu tâm đại bi: mình phải thấy sự thống khổ
của mọi chúng sinh như là của chính mình.
Bởi vì nội dung siêu độ vong linh là một công việc
rất trang trọng, nghiêm túc. Do đó mọi sắc thái tiêu khiển, hướng
ngoại đều không đem đến lợi ích chân thật và chắc hẳn sẽ
không đem lại công đức, nếu không muốn nói là sẽ gieo trồng
nhân khổ cho mai sau.
---
o0o
---
|
Mục lục Tác giả
|
---
o0o
---
Vi
tính: Hải Hạnh
Trình
bày:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày: 01-08-2002