Mục Kiền Liên và Xá Lợi Phất là
đôi bạn tâm giao, thời niên thiếu cùng học đạo Bà La Môn, vì
không tìm được chân lý ở đạo này nên cả hai ông đồng quy y
Phật giáo. Chỉ 7 ngày sau quy y Phật, Mục Kiền Liên đắc quả A La
Hán, được Thế Tôn khen là thần thông đệ nhất trong hàng mười
đại đệ tử lớn của Phật.
Đức Thế Tôn thường xuyên răn đệ tử không nên
thi thố thần thông với ngoại đạo, nhưng đối với Mục Kiền Liên,
Thế Tôn không ngăn cấm vì Ngài biết tôn giả khéo léo phối hợp
thần thông với trí huệ để hàng yêu, phục ngoại đạo giáo hóa
chúng sinh.
Một buổi sáng, thành Xá Vệ tưng bừng náo nhiệt,
rực rỡ cờ hoa. Dân chúng nhộn nhịp tổ chức lễ tuyên dương 96
giáo phái xuất gia, với sự chủ tọa của vua Ba Tư Nặc, sự hiện
diện của Thái tử và quần thần văn võ. Muốn vào thành dự lễ,
phải qua sông A Kỳ; mà sông A Kỳ hôm nay nước bỗng dân cao, sóng
tràn lớp lớp, gió thổi ào ào, không thuyền bè nào qua sông
được. Phái đoàn ngoại đạo dừng bước bên bờ sông, lo sợ
không đến dự lễ kịp; vừa lúc ấy Phật và các đệ tử đến
nơi. Thấy mặt nước mênh mông, hàng hàng đệ tử ngoại đạo ủ
rũ bên bờ sông, Mục Kiền Liên vận thần thông chỉ ngón tay về
phía trước, tức thì hiện ra một chiếc cầu thất bảo bắt ngang
sông. Vừa thấy chiếc cầu báu bỗng nhiên xuất hiện, bọn ngoại
đạo mừng rỡ reo to : "Trời giúp chúng ta rồi". Nhưng từ
trên không có tiếng pháp âm vọng xuống :"Đó là cầu báu
nghênh đón Phật". Mặc dù tiếng vang thông báo như sấm động
bên tai, bọn ngoại đạo vẫn tranh nhau lên cầu, bỗng một tiếng nổ
vang, chiếc cầu gãy làm hai, bọn ngoại đạo rơi xuống nước, vùng
vẫy, kêu cứu. Khi đức Phật đến bờ sông thì chiếc cầu hiện
lại như cũ, Phật và đoàn đệ tử chậm rãi bước lên cầu, thấy
dưới sông bọn ngoại đạo đang loi ngoi trong dòng xoáy, trên những
đợt sóng. Thế Tôn động lòng từ bi vận thần thông cứu hết
mọi ngườ? lên cầu, cho đi theo sau Phật qua sông. Khi tất cả lên
bờ, chiếc cầu bỗng nhiên biến mất.
Phái đoàn Phật giáo đến hội trường trước,
được nhà vua và quần thần đón rước long trọng, cung nghinh vào
hàng thượng khách. Bọn ngoại đạo theo sau, ướt mem, phờ phạc,
chẳng khác nào một đám tàn binh. Đại hội trọng thể cử hành,
Phật giáo được tuyên dương như vầng thái dương rực rỡ chiếu
sáng khắp trần gian, đưa nhân loại đến bờ giải thoát. Bọn ngoại
đạo cảm thấy hỗ thẹn vì sự thua kém của mình, một số đông
giác ngộ tìm về chánh đạo, xin quy y với Đấng vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác Thích Ca Mâu Ni.
Một hôm, đức Phật bảo Mục Kiền Liên :" Tại
biên giới Ấn Độ, có một nước lớn mà toàn thể dân chúng
đều theo ngoại đạo Phạm Chí, một số người đã đắc ngũ thông.
Ông hãy đến đó, dùng thần lực cảm hóa họ, giúp họ cải tà
quy chánh".
Mục Kiền Liên vâng lệnh, cỡi gió bay về biên giới
phía Bắc. Đến nơi, Ngài thấy bọn ngoại đạo đang bao quanh một ngọn
núi lớn, dường như chúng đang dùng thần thông di chuyển hòn núi.
Mục Kiền Liên nhẹ nhàng đáp xuống đỉnh núi, biến thân mình cao
lớn tận hư không, đôi chân trụ bộ trên ngọn núi. Chúng ngoại
đạo tận dụng hết thần thông mà hòn núi không thể lay động, họ
kinh hoảng nhìn lên, thấy một sa môn cao lớn như người khổng lồ,
thân sừng sững trên không, chân đạp ngọn núi. Thì ra vị Sa môn
ấy dùng thần thông chống thần thông, làm cho hòn núi không di
chuyển được. Bọn ngoại đạo vừa ngạc nhiên vừa kính phục, lễ
phép hỏi :
- Tôn giả là ai? Sao lại có thần lực vĩ đại như
vậy?
Mục Kiền Liên vui vẽ đáp:
- Ta là Mục Kiền Liên, đệ tử của Đức Thích Ca
Mâu Ni Phật.
Bọn ngoại đạo sợ hãi khẩn cầu:
- Hòn núi này ngăn trở giao thông, nhà vua ra lệnh cho
chúng tôi phải phá tan nó đi vì lợi ích của bá tánh. Xin tôn giả
giúp chúng tôi hoàn thành xứ mệnh.
Mục Kiền Liên cười nói:
- Việc ất dễ thôi, ta vui lòng giúp các ông. Các
ông hãy xem đây...
Dứt lời, Tôn giả nhấn mạnh gót chân hòn núi
hùng vĩ biến thành bình địa.
Mục Kiền Liên biến hóa trở lại người bình
thường, từ không trung hạ xuống như một vị thiên thần.
Các Phạm Chí vô cùng kính phục:
Tôn giả thật thần thông quảng đại, Phật pháp hẳn
huyền nhiê?, cao siêu. Xin Tôn giả cho chúng tôi quy y Phật.
Mục Kiền Liên hân hoan hướng dẫn bọn ngoại đạo
về tịnh xá Trúc Lâm quy y Phật. Đức Thế Tôn khen ngợi Mục Kiền
Liên biết khéo léo dùng thần thông để hàng phục ngoại đạo. Tôn
giả đã làm tròn trách nhiệm một cách vẻ vang. Một buổi sáng
xuân quang đãng, Tôn giả đi khất thực về, ngang qua một vườn hoa,
tiết Xuân phân trăm hoa đua nở, muôn hồng nghìn tía khoe sắc đua
hương. Từ trong vườn, một mỹ nhân bước ra, mình mai yểu điệu,
dung nhan diễm lệ, khóe mắt lóng lánh gợi tình, môi hồng xinh tươi
như đóa hoa vừa chớm nở. Giữa vườn hoa, nàng rực rỡ hơn cả
muôn hoa. Bên cành biếc, nàng uyển chuyển thướt tha như cành liễu
rũ. Nàng đến trước Mục Kiền Liên, cất giọng oanh vàng thỏ thẻ :
- Xin mời Tôn giả bước vào vườn hoa, tiện nữ xin
dâng lễ vật cúng dường.
Thoạt nhìn qua, Mục Kiền Liên biết ngay đây là một
kiều nữ do ngoại đạo sai đến để quyến rủ người tu hành. Nhưng
nhan sắc kiều mị làm sao cám dỗ được bậc chân tu ! Mục Kiền Liên
nghiêm giọng nói:
- Này cô nương ! Tôi đã nhận rõ chân tướng và
ý đồ của cô rồi.
Phải chăng ngoại đạo phái cô phái cô đến để
làm sa ngã kẻ tu hành ? Phải chăng vì tiền bạc mà cô cam tâm làm
điều ô nhục ?
Kiều nữ vẫn thiết tha, khêu gọi:
- Tôn giả ơi ! Tuổi xuân giá đáng ngàn vàng, sao
nỡ sống vô tình cho uổng phí ngày xanh. Xưa nay anh hùng không qua
khỏi ải mỹ nhân, thần thông khó qua khỏi ải nhan sắc. Không lẽ
Tôn giả là gỗ đá vô tri, không động tâm trước thuyền tình
sóng sắc ?
Mục Kiền Liên nhìn nàng thương hại:
- Cô nương hãy mau tỉnh ngộ, cuộc đời là vô
thường, nhan sắc cũng chỉ là hư vọng. Bậc chân tu chọn thuyền Bát
nhã thoát khỏi trầm luân chớ không chìm đắm trong bể ái thuyền
tình. Mong cô hãy hướng thiện, cải tà quy chánh, để khỏi phải
chịu quả báo ghê rợn sau này.
Kiều nữ lộ vẻ buồn rầu:
- Tôn giả ơi ! Tiện nữ vì quá truân chuyên khổ não
nên lạc lối lầm đường, dẫy đầy tội lỗi liệu có thể ăn năng
hướng thiện được chăng ?
- Đời cô nương truân chuyên, khổ sở như thế nào ?
Nước mắt tuôn trào, kiều nữ ngậm ngùi bày tỏ :
- Thưa Tôn giả, tôi tên là Liên Hoa Sắc, quê ở
Đứ? Xoa Thi La. Năm 16 tuổi, tôi xuất giá vu quy. Chẳng bao lâu biến
cố xảy ra, cha tôi chết, mẹ tôi tư thông với chồng tôi. Thật là
trái luân thường đạo lý, tôi đau khổ vô cùng. Tôi bỏ nhà ra
đi, để lại một đứa con gái. Thời gian trôi qua, để khỏa lấp u
buồn, tôi tái giá. Không ngờ chồng sau này có tánh phóng đãng,
lấy vàng mua vợ bé. Chừng tôi biết được, truy ra mới biết nàng
tiểu thiếp ấy là con gái tôi. Oan nghiệt thay số phận hồng nhan đa
truân, nỗi khổ đau cứ dập dồn chồng chất. Tôi sinh ra hận đời,
muốn trả thù đời. Từ đấy tôi sống buông thả vào con đường
tội lỗi, làm gái buông hương để làm tan nát bao gia đình đầm ấm.
Tôn giả ôi ! Càng ngày tôi càng bị lúng xâu vào bùn, không ngoi
mình lên được nữa. Tôi lại sa vào vòng tà đạo, muốn hãm hại
cả bậc chân tu. Giờ đây tôi chỉ còn muốn chết để dứt nợ
trần gian không còn thiết gì với cõi đời này nữa.
Nói xong, nàng khóc thảm thiết. Mục Kiền Liên từ
hòa an ủi:
- Cô nương đừng quá bi thương, phẫn chí. Bây giờ
có chết đi, cô cũng không dứt được nợ trần đâu, vì luân
hồi kiếp sau cô phải tiếp tục bị quả báo. Tốt hơn hết là cô
nên thành tâm sám hối, quy y Phật pháp, hành tu thập thiện, mới
mong an bình trong kiếp này và giải bớt nghiệp chướng ở kiếp sau.
Đôi mắt Liên Hoa Sắc bỗng sáng lên niềm tin tưởng,
nàng phủ phục sát đất, cầu xin cứu độ. Thế là nhờ vận dụng
thần thông và trí huệ, Mục Kiền Liên đã chứng minh "thần
thông thắng sắc đẹp" và đưa được một kẻ chán đời, tuyệt
vọng ra khỏi bể khổ trầm luân.
Một năm nọ, vào tháng bảy, Mục Kiền Liên đi khất
thực bên bờ sông Hằng, chợt thấy một đàn ngạ quỷ xuống sông
uống nước. Có quỷ bụng to như cái lu, tay chân như cây sậy, cổ
họng nhỏ như cây kim, thấy thực phẩm ngon mà không ăn được. Có
quỷ đầu to như cái đấu, lưỡi dài khắp châu thân, máu trong
huyết quản cứ vận ngược từ dưới lên trên làm đau đớn
vô ngần.
Tôn giả lấy làm xót thương, biết là do nhân quả
báo ứng từ kiếp trước. Chặng nhớ đến mẹ già từ trần từ
lâu, Tôn giả liền dùng thiên nhãn thông nhìn xuống âm phủ, Ngài
thấy mẹ mình đang bị đọa trong ngạ quỷ, khổ sở, đau đớn vô
cùng. Động lòng hiếu thảo, Ngài vận thần thông xuống thẳng địa
ngục, mang bát đựng đầy cơm dâng mẹ. Bà mẹ nâng bát đưa lên
miệng, cơm trong bát bỗng hóa thành lửa đỏ. Ngài buồn rầu muốn
cứu mẹ, nhưng chưa biết làm cách nào.
Ngài trở về bạch với Phật mọi sự việc, xin Thế
Tôn từ bi chỉ dạy. Đức Phật nghiêm trang giải rõ :
- Mục Kiền Liên ! Mẹ ông kiếp trước phỉ báng Tam
Bảo, không tin luân hồi quả báo, kiếp này lúc sinh tiền làm nhiều
điều tà ác, ích kỷ hại người, do đó bị đọa làm ngạ quỷ. Ông
dù thần thông đệ nhất cũng không thắng được nghiệp báo.
Mục Kiền Liên khẩn khoảng cầu xin :
- Xin Thế Tôn chỉ dạy diệu pháp nào có thể cứu mẹ
con thoát khỏi đường ngạ quỷ.
Đức Phật dạy :
- Mục Kiền Liên, ông hãy nghe cho kỹ hiếu đạo của
ông tuy sâu, thần thông của ông tuy cao, nhưng thần lực cá nhân
không giải trừ được ác nghiệp. Vậy ông phải nhờ oai lực của
tập thể cao tăng mới giúp mẹ ông thoát khỏi khổ nạn. Đến ngày
Rằm tháng Bảy là ngày giải hạ Tự tứ, ông phải thành tâm cúng
dường chư cao Tăng, thánh chúng, nhờ sức thần tập thể mà giải
thoát cho tội nhân. Nên nhớ cứ đến ngày này, ai có lòng thành
thiết lập trai tăng cúng dường thánh chúng, nhất định cha mẹ đã
chết sẽ được giãi thoát khỏi 3 đường khổ (địa ngục, ngạ quỷ,
súc sanh), cha mẹ còn sống sẽ được an khang trường thọ phước
lạc. Chẳng những cầu siêu cho cha mẹ, mà còn có thể cầu siêu cho
tổ tiên bảy đời và lục thân quyến thuộc. Diệu pháp này gọi
là Vu Lan Bồn.
Nghe lời Phật dạy, Mục Kiền Liên hoan hỷ tuân hành,
giải thoát được mẹ khỏi khổ ngạ quỷ. Thấy sự ứng nghiệm
nhiệm mầu, Ngài khuyến khích người thế gian nên noi theo gương Ngài
để đền đáp ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Diệu pháp ấy
được truyền bá đến nay thành lễ Vu Lan, cử hành trọng thể hàng
năm ở các chùa vào ngày Rằm tháng Bảy âm lịch. Có điều lễ Vu
Lan ngày nay không hội đủ các bậc cao Tăng đắc quả A La Hán, các
vị Bích Chi Phật ở chốn thâm sơn, đồng nhất tâm thọ thực nên
giảm đi phần ứng nghiệm diệu kỳ như thời Phật còn tại thế.
Mục Kiền Liên suốt đời nhiệt tâm tuyên dương Phật
pháp, dùng thần thông trí huệ trấn áp ngoại đạo, tiếp dẫn chúng
sanh. Bọn ngoại đạo rất căm thù Tôn giả, đợi cơ hội để ám
hại.
Một hôm trên đường hoằng dương chánh pháp, Mục
Kiền Liên đi ngang qua núi Ý Tư Xá Lê. Bọn lõa hình ngoại đạo
thám thính biết rõ lộ trình, tụ tập nhau trên núi âm mưu phục
kích. Khi Tôn giả vừa tới nơi mai phục, chúng từ trên núi xô
đá xuống, đá rơi ầm ầm như sấm rền, thác đổ, che lấp cả lối
đi. Nhục thân tứ đại của Tôn giả bị đá đập nát ngứu, máu
tuôn đầm đìa. Thật là rùng rợn ! Thật là thảm thương ! Vậy mà
bọn ngoại đạo lấy làm đắc ý, toại nguyện vì trả được mối
thâm thù. Chúng không làm gì được Phật thì chúng sát hại đệ
tử thượng thủ của Phật để làm cho Phật giáo mất quy danh.
Tin Tôn giả Mục Kiền Liên bị ám hại truyền đến tai
Đức Thế Tôn và vua A Xà Thế. Nhà vua nổi giận hạ lệnh bắt hết
cả ngàn hung thủ lõa thể ném vào hầm lửa, thần thức chúng bị sa
vào địa ngục.
Mặc dù bọn hung thủ bị trừng phạt thích đáng theo
luật người và luật quả báo, các Tỳ kheo đại chúng vẫn không
ngăn được nỗi bi ai, tập hợp đến trước Phật, lệ thảm tuôn
trào :
- Bạch Thế Tôn ! Tôn giả Mục Kiền Liên là đệ tử
thượng thủ của Phật, là bậc A La Hán thần thông đệ nhất, suốt
đời tận tâm phục vụ chân lý, chánh đạo, tại sao Ngài không
dùng thần thông kháng ngoại đạo, để đến nỗi chết thảm thương
như vậy ?
Đức Phật là bậc đại trí giác, biết trước mọi
việc xảy ra nên Ngài không quá xúc động như đệ tử. Ngài ôn
hòa khuyên nhủ :
- Các ông không nên quá bi ai. Ta đã từng nói :
"Thần thông không thắng được nghiệp báo". Trước đây
Đại Mục Kiền Liên không thể dùng thần thông để cứu mẹ thì nay
Tôn giả cũng không thể dùng thần thông để cứu mình khỏi nghiệp
lực.
Một Tỳ Kheo quá thương cảm, cất tiếng nghẹn ngào :
- Bạch Đức Thế Tôn ! Thế Tôn đã biết rõ nhân
quả kiếp trước, kiếp này, sao Ngài không báo cho Mục Kiền Liên
rõ để ông ấy dự phòng thảm nạn ?
Phật nghiêm trang nói :
- Này Tỳ kheo ! Ta không cần báo trước, Mục Kiền
Liên cũng đã biết trước rồi. Tôn giả có thể dùng thần thông
để bảo vệ mình nhưng đó không phải là biện pháp cứu cánh, vì
nghiệp lực vẫn cứ đeo mang. Tôn giả biết trước mà vẫn an nhiên
tiến đến cái chết vì Ngài muốn trả một lần cho dứt nghiệp hầu
an nhàn hoàn thành Phật đạo ở kiếp sau. Cái cao quý nhất, tốt
đẹp nhất là Mục Kiền Liên đã hy sinh tuẫn tử vì đạo pháp, nêu
gương sáng cho mọi người, mọi thời. Các ông hãy noi gương ấy
của Tôn giả.
Lời giáo huấn sâu xa của Đức Phật làm cho các
đệ tử đều bình tâm tỉnh ngộ. Một Mục Kiền Liên hy sinh, bao nhiêu
Mục Kiền Liên khác cũng sẽ nối tiếp hy sinh để chân lý được
soi sáng, Phật pháp được trường tồn, nhân loại được giải
thoát. Tinh thần tuẫn giáo của Mục Kiền Liên sẽ sáng ngời bất
diệt ! Hình tượng thánh thiện của Mục Kiền Liên sẽ rực rỡ
ngàn đời.