Nghĩ về Vu lan
Thích Phổ Huân
---o0o---
Trong hàng Thánh đệ tử của Đấng Điều
Ngự có Ngài Mục Kiền Liên, vị đệ tử thần thông bậc nhất.
Ngài có thể lên trời xuống đất đi đi lại lại dễ dàng, Ngài thi
triển thần thông mà không sợ Đấng Điều Ngự quở rầy, vì Ngài
không lạm dụng do sự đòi hỏi hiếu kỳ của mọi người cũng như
cho sự thỏa mãn chính Ngài. Tất cả những biến hóa đó đều vì
Phật pháp, đều đưa mọi người đến gần đạo giải thoát. Sự
thành tựu và khéo léo, hiện hóa thần thông của Ngài, đã
được Đấng Điều Ngự hài lòng khen ngợi là vị đệ tử có mt
không hai về mặt thần thông hơn tất cả.
Khi được mọi người công nhận và tự
thấy sự thật chính mình như vậy, Ngài không khỏi nghĩ về mt sự
kiện, mà trong đời Ngài không thể quên được. Điều này làm cho
Ngài buc phải triển hết thần thông bằng mọi cách, đó là tìm lại
mẹ Ngài. Mẹ Ngài mất đi mang theo nghiệp ác, đến nỗi phải đọa
địa ngục A Tỳ. Là người con chí hiếu, Ngài không thể không cứu
mẹ dù Ngài vẫn dư biết rằng đó là nghiệp quả, nhưng hiếu hạnh
của mt bậc Thánh, tưởng không giao đng lại còn mãnh liệt hơn!
Điều này khiến hàng phàm phụ thế tục như chúng ta phải suy nghĩ.
Chúng ta chắc rằng, Ngài đã phương tiện thầm dạy chúng ta, vì trong
cương vị là mt bậc Thánh vẫn còn nhớ đến ân nghĩa cha mẹ! Vẫn
còn thấy chưa đáp đền hết công ơn mẫu từ!
Thật vậy trong các pháp thế gian pháp
hiếu hạnh là đệ nhất, và Phật đã từng dạy cha mẹ là hai vị
Phật sống phải nên thờ kính.
Ngày nay xã hi văn minh, con người nặng lo
về kiến thức vật chất, người ta đã xem nhẹ về tinh thần tâm
linh, nghĩa là làm sao lớn lên cho mau để lãnh hi tiếp thu cho nhiều
kiến thức hầu làm cứu cánh mưu sinh. Kết quả là việc thành tựu
tiền tài vật chất mang nặng trong đầu, để rồi đối xử với nhau
qua sự hơn thua trao đổi. Từ đó tình thương đối với đấng sanh
thành cũng chỉ là đền đáp bằng vật chất mà thôi. Vấn đề thấy
rõ, ngay tại xã hi văn minh giàu có này - ở đây cha mẹ con cái
được nhiều phúc lạc an sinh xã hi cấp cho, nên quan niệm về chữ
hiếu đối với người con lớn lên tại đây gần như lạ lùng!
Việc này không nên trách cứ gì, vì theo luật duyên khởi nghiệp
báo, hoàn cảnh và tâm cảnh con người đều hòa nhau tương xứng;
nhưng dù thế nào đi nữa hai đấng sanh thành phải là cơ bản cho
sự thánh thiện ni tâm của mình. Mt người không thể gọi là tốt
khi xem nhẹ vấn đề này - và thật có tốt đi thì cuối cùng họ
cũng phải hoàn chỉnh điều tốt đó mà quay về để tu chỉnh điều cơ
bản kia. Nếu nói về vai trò người Phật tử thì chữ Hiếu là
hàng đầu, bởi cái nhìn thương tưởng đến các loài súc sanh thể
hiện qua việc không giết hại bằng cách trai lạc, cũng chỉ vì quán
sát được chúng ta đã tử tử sanh sanh trong luân hồi lục đạo. Do
đó có khi ta đã là cha mẹ của chúng và chúng cũng có khi là cha
mẹ ta; rồi nay nhìn cha mẹ hiện tại, nếu không thể biểu l được
hành đng hiếu hạnh thì việc nhìn xa kia làm sao cảm hóa được.
Ngài Mục Kiền Liên đã hiễn hóa thần
thông để chúng ta nhìn về hiện tại và quá khứ, vì hiện thế của
Ngài đã sống trọn vẹn hiếu hạnh đến cha mẹ bằng lối sống của
bậc Thánh vô sanh không phân biệt. Ngài có thể nhìn các bà mẹ
đau khổ khác như là mẹ Ngài, và chắc chắn như thế, vì lòng từ
bi của bậc A La Hán; nhưng Ngài vẫn tìm xuống địa ngục để cứu mẹ
thì vậy có phải Ngài vì chúng ta, mà hành đng nhắc nhở chăng.
Ngài gặp lại mẹ đang chịu hình phạt đói
khổ đau đớn nhất trong địa ngục; hình ảnh đó làm Ngài bật khóc,
vi tìm thức ăn dâng cho mẹ; nhưng mẹ Ngài đã không thể thọ dụng,
dù là Ngài đã dùng thần thông dâng lên cho mẹ. Cuối cùng phải
gác lệ chia tay, đành nhìn mẹ đau buồn đói khổ. Ngài vi gặp đấng
Điều Ngự cầu xin cứu giúp.
Đến đây là vấn đề mà chúng ta phải
suy tư cho việc tu niệm của mình. Việc thần thông như Ngài Mục Kiền
Liên vẫn vô phương cứu mẹ khiến ta nghĩ về vấn đề tạo nhân
chịu quả của mt con người không thể mất đi, và quả báo tuy vô
hình nhưng đeo đuổi theo ta đến muôn kiếp. Nặng thì đọa điạ ngục,
nhẹ thì sanh trở lại mà chịu khổ đau suốt đời. Rõ ràng là
những hình ảnh ở thế gian này, như là: người thì quá giàu, kẻ
thì quá nghèo, người thì quá sướng, kẻ thì quá khổ. Người đã
giàu còn lại xinh đẹp dễ xem ai nhìn cũng thích, kẻ đã nghèo lại
mang hình tướng xấu xa phải tránh né mọi người... Còn súc sanh
cầm thú đâu phải là ngẫu nhiên nhất định là súc sinh! Có những
con vật (chó, mèo) được đối xử như con người, nếu không nói
đôi khi còn hơn con người nữa, điều này ai cũng thấy tại các
xứ giàu có văn minh. Chẳng hạn ở các siêu thị có bán riêng
đồ ăn cho chúng, cả đến thuốc ăn khó tiêu, hay cảm lạnh sổ
mũi! Còn có cả bác sĩ chuyên khoa thú y. Nghe đâu ở Anh Quốc sắp
chính thức cấp thẻ thông hành (passport) cho những con vật nào cùng
chủ đi du lịch. Nhưng ngược lại có biết bao con vật sanh ra để làm
món ăn cho con người, nói gì được thương tưởng đến, hay như
chuyện không tưởng mà có thật vừa kể trên.
Ngài Mục Kiền Liên chỉ cứu được mẹ
do nhờ thần lực của mười phương tăng; điều này hẳn nhiên là
vậy vì không sẽ trái luật nhân quả. Nhờ thần lực mười phương
tăng, chúng ta rõ hiểu là nhờ vào tha lực, và quan trọng hơn nữa
là nhờ vào chính đương sự phải hồi tâm. Điều đó chắc chắn
thấy rằng Bà Thanh Đề đã hồi tâm sám hối khi thấy lại được
con mình là chuyện không bao giờ bà dám nghĩ, và con bà xuống tận
địa ngục gặp bà, đã làm bà nhận ra lỗi của bà quá lớn - biết
được con bà là Thánh Tăng khiến bà đã thanh tịnh sám hối. Do như
thế mới chiêu cảm được tha lực và hòa vào làm mt, bà mới
tức khắc được thoát địa ngục sanh về cõi trời.
Phật tử chúng ta ngày nay cứ mỗi năm
tổ chức Lễ Vu Lan không chỉ thầm nhớ về gương hiếu hạnh của vị
Đại Thánh Mục Kiền Liên mà còn có dịp suy tư đãnh lễ Đấng Thế
Tôn đã từ bi thương dạy chúng ta phương cách báo ân báo hiếu.
Và với người con nào đã và đang còn cha mẹ tại thế, hãy nên
vâng lời Phật dạy tu hạnh Hiếu đạo làm đầu. Kính dưỡng cha mẹ
bằng vật chất tiện nghi tuy là thiết yếu, nhưng về tâm linh hướng
đến chánh pháp thật quan trọng không kém. Vì thế gian vô thường,
vạn pháp vô ngã, cha mẹ thế nào rồi cũng sẽ chia tay chúng ta mà
đi, bấy giờ người con nào có thật hiếu đến đâu cũng vô
phương cứu mẹ. Đó là sự thật muôn thuở đến nay và chỉ có
Phật pháp mới có thể đưa cha mẹ ta đi trong niềm an tịnh. Hướng
dẫn cha mẹ hiểu về nhân quả, nghiệp báo, hiểu về cảnh giới an
lạc yên vui của tinh thần tâm linh đó là món ăn tinh thần mà
người con thật hiếu không thể thờ ơ được. Do thế mà người
xuất gia đã trọn lành trọn hiếu với cha mẹ, nhưng điều này đã
không khỏi bị ng nhận! Nếu người xuất gia là bất hiếu thì Thái
tử Sĩ Đạt Ta đã không thành Phật, và vô số đệ tử của Ngài
đã không thể chứng đạo. Tuy nhiên được cha mẹ đồng ý cho xuất
gia việc này là phương tiện tiến gần đạo hơn, và tất nhiên không
thể bỏ cha mẹ đi tu nếu trong hoàn cảnh, mình là người duy nhất
nuôi dưỡng cha mẹ.
Nhắc lại vấn đề tha lực của mười
phương Tăng khiến Ngài Mục Kiền Liên cứu được mẹ, lại cho
chúng ta suy nghĩ về pháp lực bất tư nghì. Ngài Mục Kiền Liên đã
là Thánh Tăng đắc quả Vô Sanh tự cứu được mình rồi, nhưng vô
phương cứu mẹ; con người chúng ta tu hành ngày nay có được mấy
người tự cứu được mình, có đâu dám nói cứu người khác!
Ngay cả phương cách nhờ tha lực mười phương tăng, nếu Đức Thế
Tôn không dạy thì Ngài Mục Kiền Liên cũng không biết được.
Đến đây chúng ta lại thấy pháp cầu tha lực thật mầu nhiệm khó
biết khó tin. Và con đường tu của chúng ta ngày nay nếu muốn hồi
hướng công đức của mình mà chẳng nhờ tha lực mười phương chư
Phật thì công đức nhỏ nhoi kia có được những gì!
Nương nhờ vào tha lực, cụ thể cũng có
nghĩa là sinh hoạt tu hành của chúng ta luôn được sự hỗ trợ
mọi thứ từ bên ngoài; từ các bạn đồng tu sách tấn cho nhau,
đến tất cả mọi người chung quanh tạo cho ta đầy đủ phương tiện
vật chất và tinh thần. Không có tha lực này ta khó thể thành
đạo. Ta có thể hiểu pháp tánh bình đẳng về Tha lực là vô phân
biệt, để hòa vào sự toàn nhất không thấy người và mình, như
vị hành giả vừa bước vào quả vị Dự Lưu (Tu Đà Hoàn). Không
tự cho mình đã đạt đến mức đ nào đó, mà ngược lại thấy
rằng những gì mình đạt được cũng chỉ là do có mặt người khác
mà thôi. Nhưng điều đó nói lên lý tánh không hai (bất nhị) của
bậc liễu đạo; với chúng ta thì rõ ràng có sự nương tựa và
hướng về, chẳng hạn nếu chúng ta không cầu Phật đạo thì muôn
kiếp sẽ không thành giải thoát. Cầu Phật đạo nghĩa là thân tâm
hướng về Phật đạo và thực hành mọi pháp môn nào tâm niệm
cũng phải hướng về quả giải thoát; mà hướng về quả giải
thoát đó là hướng đến tha lực. Chúng ta chớ nghĩ rằng đạt
đến trình đ không còn cầu gì nữa là không có tha lực trong đó.
Vì kẻ đạt đến trình đ vô cầu này cũng là mục đích hướng về
Phật quả, vậy thì cũng nhờ tha lực rồi. Vậy nên đời nay những
người đến với Phật quá trể như chúng ta, phải lấy pháp Phật
làm thuyền tha lực hành đạo, và bất cứ hành đạo bằng con
đường nào nếu thiếu sự hướng về tha lực gia trì của chư Phật
tất cả sẽ dễ biến thành ma đạo.
Tóm lại ba thời Chánh pháp, Tượng
pháp, Mạt pháp người tu theo Phật đều hướng nhờ vào tha lực
để khoảng cách thành đạo được chắc chắn an toàn hơn.
Nhận rõ được lời dạy của Phật trong
ngày Vu Lan, và việc làm đại hiếu của Ngài Mục Kiền Liên chúng ta
sẽ không cô phụ lòng từ bi của đức Thế Tôn đã ban dạy cho ta
pháp nhiệm mầu, để trọn thành người con hiếu thảo. Cũng như trên
bước đường tu của chúng ta sẽ luôn được dìu dắt vững vàng
dưới ánh sáng màu vàng giải thoát.
Kỷ niệm Lễ Vu Lan năm
2000
Thích Phổ Huân
---
o0o
---
|
Mục lục Tác giả
|
--- o0o ---
Trình
bày:
Nhị
Tường
Cập
nhật
ngày: 01-08-2002