Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Vu Lan Báo Hiếu


...... ...

.



Nghĩa Mẹ Tình Cha
Nguyên Thảo

---o0o--- 

 

Lời mở đầu: Trong nhiều kinh điển, Ðức Phật và chư vị Tổ sư luôn luôn đề cao hiếu hạnh của con người và nhắc nhở chúng ta về công ơn sanh thành dưỡng dục của các bậc cha mẹ.  Một trong những đức tính của người tu theo Phật là: "biết ơn và đền ơn".  Ơn cha mẹ là một trong bốn ơn lớn phải được biết đến và đền đáp theo lời Phật dạy.

            Trong cuộc sống nổi trôi, phức tạp, nhiều hệ lụy, đầy bất trắc của con người, nhứt là ở hải ngoại phương tây văn minh vật chất này, sống trong nền văn hóa không cùng quan niệm về hiếu hạnh như nền văn hóa đông phương của chúng ta, việc biết ơn và đền ơn cha mẹ không phải ai ai cũng chu toàn một cách đơn giản và dễ dàng.  Cuộc sống hiện tại chạy theo đồng hồ, chạy theo kim tiền, cuốn hút con người trôi lăn trong sinh hoạt hằng ngày, nhiều người trong chúng ta quên mất sự hiện diện của các đấng sanh thành trên cõi đời này!

            Nhân mùa Vu Lan năm nay 2003, chúng ta hãy dành ít phút lắng lòng để cùng chia sẻ những suy tư, những trăn trở, những cảm nghĩ và nỗi niềm tâm sự muốn vẹn toàn hiếu hạnh của người con trong gia đình, cũng như với tư cách của người con Phật, với tác giả Nguyên Thảo, một nữ Phật tử cư ngụ tại tiểu bang Texas, Hoa kỳ, qua bài viết với tựa đề: "Nghĩa Mẹ Tình Cha".

             Cơ Sở Phật Học Tịnh Quang Canada
            302 - 2 Dorado CT., Toronto, ON, M3M 2E8, Canada
            Email: cutranlacdao@yahoo.com

           

          

            Texas, mùa Vu Lan năm 2003

 Huynh thương kính,

            Giữa những bận rộn mỗi ngày trong cuộc sống, đôi khi em gái Nguyên Hương chợt hỏi tiểu muội rằng, có bao giờ chị nghĩ, nên dành thời giờ để hỏi và nghe Má mình kể chuyện ngày xưa. Chuyện về thời thơ ấu nơi miền quê nghèo nàn của Ngoại, mà Má là người con gái đầu lòng đã gánh một phần đời nhiều tủi cực đớn đau, bởi những thảm cảnh không ngừng kéo tới trong gia đình Ngoại. Má tiểu muội vừa là chị lớn cũng vừa là người Mẹ thứ hai, cùng Ba tiểu muội bảo bọc cưu mang đàn em nhỏ mồ côi sớm. 

Nguyên Hương nói chị có khả năng ghi lại, sao không thực hiện điều này khi Má mình còn khỏe mạnh, và chị em mình còn cơ hội để mà nghe? Mai mốt khi không còn Mẹ nữa, mình còn có được cuộn phim này, ghi lại đủ đầy rõ nét, từng đoạn đời Ba Má giẫm chân qua. Với Ba đã chẳng còn bao giờ được nghe kể nữa, thuở ấu thời nơi quê Nội xa xôi, đã theo Ba vùi chôn trong cát bụi, khi chị em mình chưa kịp hỏi để mà nghe.

 

Huynh ơi,

Ðã từ lâu tiểu muội không còn có thói quen ghi nhật ký, từ khi hiểu được rằng khi xé đi tờ lịch cũ, thì ngày hôm qua đã thành quá khứ mù xa, không bao giờ còn lại nữa trong đời.  Chẳng lợi lạc gì khi nắm giữ, mà chỉ cần tháo gỡ cho vơi dần những gì còn tồn trữ trong kho tàng tâm thức, chứ chẳng nên trói buộc làm chi chuyện đã qua.  Cho đến ngay trong giờ phút này đây, tiểu muội biết rằng, ngay chính bản thân mình cùng với người thân yêu ruột rà, và biết bao chúng sanh hiện diện trên cõi ta bà này, đã trôi lăn không biết bao nhiêu hằng hà sa số kiếp, trong vòng luân hồi chừng như vô tận đã qua.  Ðã trãi qua bao nhiêu đời làm Cha, làm Mẹ, làm con, vẫn chưa thoát được luân hồi, sinh tử, thì sá gì một đoạn đường xưa cũ, như người lữ hành dừng chân qua quán trọ một đêm rồi mất hút, không lưu lại dấu vết chi.

Cũng giống như lời Huynh nhắc, tiểu muội luôn luôn tâm niệm, Mẹ bây giờ đang đi trên chuyến tàu cuối của cuộc đời.  Niềm hạnh phúc mong manh còn có Mẹ, như thầm nhắc nhở mỗi ngày bổn phận tiểu muội phải làm gì để giúp Mẹ sống nhẹ nhàng.  Ðể khi đó dù là trạm cuối, Mẹ sẽ dừng hẳn chuyến xe đời thật bình thản, an lành.  Em gái vẫn rưng rưng nước mắt, nói với tiểu muội rằng em thật sự nghĩ mình không chịu đựng nổi, khi nghĩ tới một ngày Má từ giã cuộc đời, chị em mình vĩnh viễn không còn Cha Mẹ nữa, trở thành kẻ mồ côi cho đến hết cuộc đời thôi. Cho nên em muốn chị ghi lại chuyện kể, cuộc đời nhiều tủi cực nhọc nhằn của Cha Mẹ yêu thương, như một di vật còn để lại, sau khi thân cát bụi trả về cát bụi.

Huynh thấy rồi phải không Huynh?  Cho dù đã đi vào đường tu tập, cho dù đã học hiểu tận tường nguồn gốc của khổ đau, nhưng em gái dường như luôn bám víu, dù đã vấn lên trên tóc vành khăn tang Cha chưa có bao lâu.  Chưa kịp sống cho phút giây trước mặt, đã hốt hoảng sợ lo một ngày mai chưa đến phải không Huynh?  Không biết từ bao giờ, trong đàn con gái 5 đứa của Ba Má, tiểu muội trở thành đứa hiểu và gần gũi Mẹ nhất. Có lẽ vì tiểu muội lập gia đình trễ, nên có được hơn ba mươi năm sống cận kề bên Ba Má.  Hạnh phúc được kéo dài tuổi thơ ra mãi, như đứa trẻ còn được ấp ủ mỗi ngày trong tình thương yêu, chăm sóc của Mẹ Cha, vậy mà sao lúc còn ở ngay bên cạnh Ba Má, tiểu muội không nhận biết đó là niềm hạnh phúc vô bờ, cứ an nhiên đón nhận, giống như là điều tự nhiên, rất tự nhiên thôi.

Hình ảnh Má tiểu muội qua chuyện kể, là cô gái quê mộc mạc, gánh nặng oằn vai trên những nẻo đường quê. Bà Ngoại quần quật từ nửa đêm về sáng, làm nhiều thứ bánh cho con gái đầu lòng là Má tiểu muội đi bán mỗi ngày. Cô thiếu nữ hiền như đất, khuôn mặt sáng trong như chưa từng dãi nắng dầm sương, là hình ảnh mà nhiều người mơ ước, được có trong đời hay trong mái gia đình. Nhưng lớn lên trong nghèo khó, an phận với cuộc sống vốn nhiều tủi cực nhọc nhằn, cho nên Má dường như chỉ chờ đủ duyên để về với Ba tiểu muội, người đàn ông lớn hơn gần mười tuổi, cô độc, lạc loài đến từ đất Bắc xa xôi. 

Bà Ngoại mất khi còn rất trẻ, trong cái nghèo đeo đẳng và hao mòn sức lực, lo chuyện đói no mỗi ngày còn chưa xong, nên không làm sao có khả năng để chạy chữa thuốc thang. Khi anh Hai tiểu muội chào đời, Má vừa mới làm Mẹ, vừa cùng Ba tiểu muội dang tay ra bảo bọc đàn em đã mồ côi. Các cậu dì lớn lên trong sự lo lắng dắt dìu của Ba tiểu muội, vừa là anh rễ, vừa thay thế người Cha, vì ông Ngoại ra đi sau đó không lâu. 

Ba Má tiểu muội rời miền quê Ngoại nghèo nàn, nơi ghi lại nhiều hình ảnh thật buồn đau. Ông Ngoại tiểu muội và người con trai yêu nước thương nòi đã bị hành quyết và quăng xác xuống dòng sông nhỏ hiền hòa nơi quê Ngoại. Ðược báo hung tin và do lòng tốt của người bà con thật nghĩa tình, không màng đến sự an nguy sinh mạng, đã lén lút lặn tìm vớt xác của ông Ngoại ngày xưa với cậu ba. Má tiểu muội chính là người con gái, gánh trên vai xác chết của Cha mình, cùng với người bà con đó, nuốt nỗi đau vào lòng, lặng lẽ đem chôn vùi thân xác của Cha, em. Nghĩ cho cùng thì cũng chỉ là người ở lại buồn. Ông Bà Ngoại và cậu đã qua một kiếp sống, mà nỗi đau hiện hữu khắp chung quanh, còn hạnh phúc và niềm an lạc tưởng chừng như không có thật.

Không thể tiếp tục ở lại miền quê nghèo nàn bên Ngoại, nơi hằn sâu những vết tích buồn đau. Ba tiểu muội dắt díu vợ con và những đứa em, tiếp tục dặm đường tha phương cầu thực. Ðôi vai của người Cha ngày càng oằn gánh nặng khi anh chị em tiểu muội lần lượt chào đời, tất cả là 11 đứa, còn lại 10. Anh hai mất sớm vì nhà nghèo quá không thuốc thang chạy chữa cho đến nơi, đến chốn. Chỉ vì muốn thoát ra khỏi cảnh nghèo nàn, đói lạnh mà Ba tiểu muội một mình phiêu lưu từ Bắc vào Nam kể từ khi chưa đến tuổi trưởng thành.

Ðâu có ngờ cuộc đời Cha, từ sau khi gặp Mẹ, đã trở thành cây đại thụ dang cành lá xum xuê ra hứng trọn những nắng mưa giông bão cuộc đời đổ xuống người thân. Làm sao biết được đã có bao nhiêu giọt mồ hôi và đôi khi có nước mắt hòa trong máu trên những dặm đường tủi cực chông gai Ba tiểu muội đi qua. Ðã thấm thía tận cùng nỗi khó nghèo lam lũ, nên Ba tiểu muội không muốn các con đi trở lại đoạn đường Cha Mẹ đã đi. Một mình lạc loài đơn độc, không gia đình thân thuộc anh em, Ba tiểu muội bao lần ngã xuống, vẫn cố ngoi lên để mong thay đổi cuộc đời các con.  Người Cha miệt mài chịu khổ nhọc một mình, chỉ lo bảo bọc và gầy dựng cho tương lai của các con, hầu thoát cảnh cơ cực lầm than như ông bà cha mẹ.

            Huynh chắc đâu có biết, chị Danh thuở ấu thơ như con mèo bệnh nằm vùi nhiều tháng nhiều năm. Tử thần luôn luôn rình rập gần kề, để cướp chị đi mất trong vòng tay của Má, trong khi Ba tiểu muội ở phương xa.  Một đôi lần nghĩ rằng đứa con gái nhỏ sắp ra đi, Má tiểu muội nhắn Ba về mau cho kịp gặp. Người Cha về vội vã và không ở lại, chỉ buồn bã nói với Má tiểu muội rằng: hãy ráng mạnh mẽ lên để chăm sóc cho con, nếu như duyên đã tận và con không còn với mình nữa, thì đành chấp nhận. Ba dù có ở lại cũng chỉ bất lực nhìn thôi, có thay đổi được gì đâu! Ba phải đi làm để lo chạy chữa thuốc thang, cảnh nghèo khó không cho phép mình buông xuôi ngồi đau đớn nhìn con đi dần vào tuyệt lộ.

Rồi chuỗi ngày tăm tối tan đi theo năm tháng, chị Danh vẫn èo uột nhưng cũng lớn khôn dần. Theo với thời gian, Ba tiểu muội tạo nên cơ nghiệp, bằng chính đôi tay và nước mắt mồ hôi. Không còn chật vật vì miếng cơm manh áo, vì chuyện đói no ấm lạnh giống ngày xưa, nhưng  khuôn mặt người Cha vẫn trang nghiêm buồn bã, nụ cười như chưa bao giờ thật có trên môi. 

Tấm bưu thiếp nhận được một lần duy nhất, kể từ khi lìa Bắc vào Nam, như vết thương không bao giờ có thể lành, trong trái tim Ba tiểu muội.  Lần đầu tiên Ba nhận được tin thư từ quê nhà xa khuất, chính là tin bà Nội đã chết trong trận đói năm Ất Dậu 1945, và ông Nội tiểu muội đang kéo lê tấm thân tàn tạ hao mòn trong sự đùm bọc của họ hàng. Dòng sông chia cắt đôi bờ từ dạo đó, như nỗi đớn đau cuồn cuộn dâng tràn trong lòng đứa con lưu lạc xa xôi.

Ba tiểu muội sống như khép kín, không giao du, không bạn bè, không nói năng, tranh cãi hay bàn luận bất cứ điều gì với mọi người. Cũng không màng ăn ngon, mặc đẹp, nhưng làm việc quanh năm không thiết đến nghỉ ngơi. Ðời sống bên ngoài ngày càng xa cách, Ba Má tiểu muội chỉ còn biết đến chùa chiền, và căn nhà thì nhỏ nhưng cửa chừng như rộng mở, đón chào từ bà con họ hàng, đến khách lỡ đường xin tá túc qua đêm. Ðược lớn lên trong căn nhà luôn mở rộng cánh cửa này, phải nói rằng bài học về "tâm từ" mà anh em tiểu muội thấm nhuần, không phải từ những câu giáo huấn suông, mà bằng chính tấm lòng của hai đấng sinh thành đã mở ra để đón nhận tất cả mọi người không phân biệt.

Trong đôi mắt các con, Ba tiểu muội cao vời uy nghiêm như dáng núi, sừng sững đứng ngăn che giông bão đời các con. Còn Má là dòng sông từ ái ngọt ngào, mang tấm lòng của biển bao la không cùng tận. Người Mẹ đời ngập tràn bất hạnh, chưa một ngày cắp sách đến trường, phải đợi cho tới khi anh trai kế tiểu muội sắp tới tuổi vào trường, Ba mời cô giáo về dạy học cho cả Mẹ và con.  Tiểu muội cũng là đứa con duy nhất, được Má dạy cho ráp vần những mẫu tự đầu đời, để rồi sau đó trở thành đứa con gái thường quấn quýt nhổ tóc bạc cho Cha và đọc sách truyện tàu khi Mẹ ngồi may vá. 

Năm 34 tuổi, Má mới sinh ra tiểu muội, nhưng hình như không có khoảng cách thời gian giữa Mẹ và con. Tiểu muội biết mình thừa hưởng rất nhiều từ nơi Mẹ, ở cái tánh thâm trầm không ưa náo nhiệt ồn ào, thích lặng yên chia sẻ, lời nói nào cũng đắn đo, sợ làm buồn lòng người ở quanh mình.  Ở nơi Má không có chuyện giận buồn từ ngày xưa tháng cũ, hay dấu vết của một thời cay đắng tối tăm, đã bị người đối xử vô cùng tệ.  Tiểu muội cũng là đứa con được Má kể cho nghe chuyện cũ về những người đang lỡ bước cùn đường được tiếp đãi ân cần dưới mái nhà.  Thời gian lưu lại không giới hạn, giống như dưỡng sức và phục hồi sức lực sau khi bị vật vã chuyện đói no vì manh áo chén cơm ở vùng quê.  Cũng có thể là nơi trú ngụ, để chạy chữa thuốc thang cho đến khi lành bệnh trở về, dù là bà con hay chẳng phải bà con, đến từ miền quê Ngoại cũ. 

Cũng không thiếu những bà Mẹ già phước mỏng, cho nên thời sung sướng giàu sang đã qua nhanh, tuổi đời chồng chất và các con quay lưng lại, như quên mất Mẹ cần nơi nương tựa lúc cuối đời. Tiểu muội nhớ có lần nghe Ba nói câu này: Nếu như Má không nắm áo chạy theo ông Bắc kỳ lưu lạc, thì ngày nay gia đình và các con mình chính là hình ảnh của những người trong cảnh đáng thương này. Những bàn chân trần chai sạn giẫm lên bùn lầy đá sỏi ruộng vườn, những bàn tay nứt khô lam lũ, và những mái đầu thi gan với nắng cùng mưa... Ðời tiếp bao đời trong nghèo khó, từ thế hệ này qua tiếp thế hệ kia.  Cho nên trong đôi mắt của Ba và Má, không còn lưu lại hình ảnh một vài người đã một thời hất hủi, đuổi xua Ba Má thuở hàn vi, mà chỉ có hình ảnh của những người Cha và Mẹ trong cảnh đời bất hạnh buồn đau. 

Ngày đó, dù chưa tới tuổi trưởng thành, tiểu muội đã có chung cảm nhận, cho nên lặng lẽ sớt chia những chuyện thương tâm của Ba Má ngày xưa. Tiểu muội thấy lòng luôn luôn ấm áp, bên cạnh từ tâm của Mẹ Cha đối với tha nhân, những người không còn cơ hội để đáp đền ơn sinh thành dưỡng dục, nuốt nước mắt vào lòng bởi Mẹ Cha họ mất đi trong nghèo khó đớn đau. Ba Má tiểu muội đã miệt mài cứu giúp những người Mẹ người Cha bất hạnh mà Ba Má có duyên gặp gỡ trong đời.

 

Huynh ơi,

Nhờ lớn lên trong căn nhà đầy ắp thình thương, tiểu muội có thể giải thích được vì sao bản tánh dễ gần gủi, cảm thông với mọi người không kể gì tuổi tác hay hoàn cảnh sống. Một ngày làm thêm cuối tuần bằng nghề tay trái, tiểu muội thường được ưu đãi khi tiếp xúc với người già, những người được xem là khó tánh, không dễ dàng thân thiện với ai. Mọi người tỏ vẻ ngạc nhiên, cho rằng tiểu muội nhiều "may mắn", nhưng tiểu muội biết rõ do đâu mình được đón nhận dễ dàng trong phút giây gặp mặt đầu tiên dù với những người không cùng tiếng nói, màu da. 

Cũng là bài học mở lòng ra với mọi người từ Cha Mẹ, tiểu muội biết xóa đi khoảng cách bằng sự quan tâm chân thành như đối với người thân. Khuôn mặt già nua với những dấu nếp thời gian chồng chất, bàn tay với làn da mỏng manh không che được những đường gân xanh tím gầy gò.  Ðôi mắt không còn tinh anh nữa và bệnh hoạn không ngừng làm phiền thân xác mỗi ngày, giấc ngủ khó khăn, tâm trạng lẻ loi vì thiếu vắng người thân ở cạnh bên...

Tiểu muội vì thấu hiểu người Mẹ già trước mặt, như hiểu người Mẹ thân yêu của chính mình, cho nên biết cách làm ấm lại những cõi lòng đang lạnh lẽo này.  Có những lần người con gái của những bà Mẹ ấy, nói với tiểu muội rằng Mẹ mình chắc là sẽ rất là vui, nếu như được tiểu muội đến nhà thăm, cùng uống với bà ly cà phê buổi sáng, vì sức khoẻ của bà đang sa sút lắm rồi.  Cảm động trước tấm lòng của con gái dành cho người Mẹ, tiểu muội dù bận rộn tới đâu vẫn  đến thăm, vì có linh cảm là cuộc viếng thăm lần cuối.

Trong đôi mắt người thân của bà Mẹ, tiểu muội là cô bạn nhỏ mà bà thương quý. Còn trong lòng tiểu muội, bà là người Mẹ già rất đỗi thiện lành, giống như người Mẹ yêu thương, không phân biệt đây là đứa con gái đến từ một xứ sở nghèo nàn, xa lắc tận đâu đâu. Rồi tiểu muội cũng thỉnh thoảng cùng em gái Nguyên Hương đi thăm bà Mẹ tại nhà an dưỡng, nơi mà người con vừa báo tin bà Mẹ đã về ở đó, là trạm dừng chân cuối đời, vì sức khoẻ và đôi mắt ngày càng mờ tối không còn cho phép lưu lại một mình trong căn nhà của chính bà.

 

Huynh ơi,

Khi tìm đến khu an dưỡng, ôm trong vòng tay người Mẹ da trắng tóc bạc phơ, đôi mắt nhìn xa xăm mà chẳng thấy gì, tiểu muội nghe lòng quặn lại nhớ thương Ba, cũng với đôi mắt đã không còn ánh sáng, trong những năm còn lại cuối đời.  Một đôi lần hối tiếc, vì không kềm giữ nổi sự bứt rứt buồn phiền, bộc lộ ra bằng lời nói, Ba đã tự trách và nói với tiểu muội rằng: khi mất đi ánh sáng, coi như Ba đã mất đi điểm nương tựa cuối đời, con có biết không, đọc kinh sách Phật, thiền hành và làm vườn, không bao giờ còn có nữa, Ba trở thành gánh nặng cho Má và các con những khi vào bệnh viện, khiến Ba nhiều khi chỉ mong sao sớm được ra đi!

Người Cha tuổi gần 90 vẫn còn bứt rứt, vợ con vì mình chịu khổ nhọc, sau khi đã đem cả cuộc đời để bảo bọc thương yêu hết mọi người.  Tiểu muội chỉ biết ngậm ngùi nói với Ba rằng: con biết Ba đang chịu nhiều nỗi đau thân xác, trong định luật của vô thường, dù thương cách mấy thì Má và các anh chị em con cũng không làm sao chia bớt được những nỗi đau ở trong thân, nhưng Ba có biết rằng chỉ ở những giây phút mà Ba không tự mình chăm sóc được bản thân, thì đàn con của Ba mới có được cơ hội hiếm hoi ở gần Ba, tự tay chăm sóc cho Ba, dù biết Ba đã sẵn sàng từ lâu lắm và chẳng còn gì lưu luyến ở nơi cõi tạm này, nhưng con thương Ba, muốn được còn có Ba bên cạnh đời con. 

Huynh thấy rồi phải không, lời thương yêu đã tỏ bày, phút cuối cùng Má và anh chị em tiểu muội đã ở ngay bên cạnh, tiển người Chồng, người Cha thân yêu ra đi bằng câu lục tự: "Nam Mô A Di Ðà Phật" không ngưng nghỉ quanh giường bệnh, nhưng sao nỗi mất mát đớn đau khó lắng sâu.

Quay ngó lại đoạn đời của Cha và Mẹ, tiểu muội thấy xót đau không phải cho riêng thảm cảnh của người thân, mà là nỗi xót xa cho cả một quê hương đất nước, qua bao nhiêu thế kỷ vẫn như còn đang trả nghiệp nặng nề.  Cái cộng nghiệp này đã khiến cho tiểu muội khi tuổi còn ngây thơ, nhưng đã biết nhìn bất cứ người Mẹ, người Cha nào, cũng thấy giống Mẹ Cha mình, bởi có cùng một xứ sở lầm than, được sinh ra và lớn lên trong khốn khó, tai ương và thảm cảnh dường như chưa bao giờ ngưng nghỉ suốt hằng bao thế kỷ đã qua, có phải vậy không Huynh?  Tiểu muội thấy nhiều lắm những cuộc đời của Cha và Mẹ, là nước mắt, là nỗi đau kéo dài tận cùng cho đến lúc lìa đời.  Chẳng phải ở bên quê nhà xa xôi đó, mà ở bên này đâu thiếu gì hình ảnh mỗi ngày làm tiểu muội chạnh lòng xa xót thật nhiều.

Ngày đó Ba Má tiểu muội thường buông ra câu nói, kèm theo tiếng thở dài áo não, khi nhìn thấy những bậc sinh thành bị bạc đãi, bị lãng quên ở nơi đây.  "Nước mắt chảy xuôi"- chỉ có mấy chữ thôi mà nghe sao buồn quá, phải không Huynh?

Chẳng cần tìm đâu xa hết, tiểu muội thấy những dòng nước mắt chảy xuôi có trên khuôn mặt, từ người thân đến người xa.  Người em gái duy nhất của Mẹ qua được bên này, dòng nước mắt đã chảy xuôi xuống đời con thấm qua đời cháu, và vượt đại dương về với lũ cháu con còn lại bên nhà.  Khi biết tiểu muội đi vào đường tu tập, đứa em họ con của Dì ở VN, tỏ ý mừng vui và nhắn nhủ tiểu muội bằng những lời cảm động: Chị ơi, Ba Má em hình như chưa có đủ duyên, nên cho đến ngày này vẫn còn lạc lõng, lang thang bên ngoài cửa Ðạo, cứ nghĩ mình sống thiện lành là đủ lắm rồi, nên không có sự chuẩn bị khi vô thường đến. Ba em thì hơi khó, vì tập khí lâu đời rất khó chuyển vời, mà sức khỏe thì không còn cho phép nữa. Xin chị khuyến khích, khuyên nhủ và tạo cơ hội cho Má em đi tới chùa cùng với Dì và các chị.  May ra Má có duyên học Phật, hoặc ít nhiều cũng chuẩn bị cho đoạn cuối đời, để sống được nhẹ nhàng, chết được bình an, là điều em mong mỏi nguyện cầu cho Cha Mẹ, nhưng không biết làm gì hơn khi quá cách xa.

Tiểu muội đã nói cho Dì nghe nỗi băn khoăn của đứa con gái lớn.  Dì cười một nụ thật buồn, nói: con thương Dì thì đừng kể cho đám bên nhà nghe Dì sống ra sao ở bên đây. Ðứa con gái ngày xưa vượt biển đã bảo lãnh cho Dì Dượng qua đây. Khi con gái bắt đầu mở tiệm, thì Dì trở thành bà Mẹ tóc bạc phơ còn nuôi con mọn! Ðứa cháu ngoại mới ra đời, vì Mẹ Cha bận rộn quay cuồng với cuộc sống, cho nên đeo cứng bà Ngoại và chỉ ngưng tiếng khóc khi bà Ngoại bồng ở trên tay hay khi ngủ mà thôi. Dì cực nhọc mỗi ngày từ sáng tới khuya, chỉ đi ngủ khi nào đứa bé có tật thức khuya đã ngủ. Người Mẹ, đôi khi dưới mắt nhìn của đứa con rễ vô tình, trở thành người giúp việc không chu toàn bổn phận, qua sự chê khen trong mỗi bữa ăn. Dì lại cực thêm chút nữa, bỏ nhiều công sức vào chuyện nấu nướng hằng ngày những món ăn giống ở nhà hàng. Nuôi con khôn lớn nên người tưởng đâu đã tròn đầy trách nhiệm. Ðâu ngờ ra đi bỏ lại đàn con và cuộc sống êm đềm ở quê nhà, Cha Mẹ có mặt ở nơi này và tiếp tục gánh lên đôi vai già yếu, bao nỗi nhọc nhằn tủi cực mà con vẫn vô tình như không biết không hay.

Tiểu muội nhiều khi xa xót quá, muốn nhắc và kêu gọi tình thương ở đứa em họ đã vô tình làm tiêu hao sinh lực của Mẹ mình mỗi ngày. Nhưng Dì bao giờ cũng như sợ sệt, can ngăn: Thôi con ơi! Nó cũng cực nhọc chuyện làm ăn quá, để Dì ráng chịu cực, lâu lâu nó cho tiền Dì gửi về lo cho mấy đứa ở VN. Con có thương thì đừng có hé môi chuyện Dì khổ cực bên này với con với cháu. Còn chùa chiền làm sao đi tới được, có ngày chủ nhật nào Dì rỗi rãnh đâu!  Thôi đành vậy con ơi, biết làm sao?

Cũng ở nơi này, tiểu muội vẫn thường nhìn thấy, hình ảnh hai mái đầu bạc phơ đi cạnh nhau dưới trời hè nắng đổ chói chang, hay trong những ngày đông lạnh lẽo co ro. Trong tay là cái bao đựng rác lớn, hai người già đang kiếm tìm, nhặt nhạnh những chiếc lon nhôm bị vất bỏ hiếm hoi dọc quanh khu phố thương mại VN.  Ðó cũng là hình ảnh của Cha và Mẹ, đôi khi lén lút con bên này đi góp nhặt tình thương, chắt chiu gửi về cho các con ở bên kia bờ đại dương.  Mình ở bên này không lo thiếu ăn, thiếu mặc, nên làm sao quên đám cháu con còn quá khổ ở bên nhà.  Con ở bên đây thì không giàu, nó cấm không cho Cha Mẹ lượm lon đi bán, nhưng chính con cũng đâu có khả năng để giúp ai.  Ðó là những lời sẻ chia tội nghiệp, mà tiểu muội nghe từ đôi vợ chồng già tình cờ gặp gỡ. 

Có nhiều lắm những buổi trưa nắng đổ, bà Mẹ già tóc bạc lưng còng, đứng nép mình dưới bóng cây ngập tràn hơi nóng ngay bãi đậu xe trước chợ, để mời chào ông đi qua bà đi lại mua giúp bó rau trồng ở vườn sau nhà.  Những tháng nắng ngày mưa, những giọt mồ hôi đẫm ướt đời nhọc nhằn lam lũ, tưởng đâu đã lui về thời quá khứ mù xa.  Làm sao con biết Mẹ vẫn còn miệt mài đem xác thân dầu dãi nắng mưa, để san sẻ nỗi cơ cực lầm than với lũ cháu, đàn con đang cách ngăn cả một đại dương.

Tiểu muội cũng nhìn thấy người Cha thường rảo bước lang thang mỗi ngày trong siêu thị, để tránh cái nóng mùa hè dài dằng dặc ở nơi đây. Các con đều lớn khôn, thành công và cả thành danh nữa, tên tuổi con lan rộng bay xa, nhưng trái tim con hình như không đủ rộng, để dung chứa người Cha đang sức cùng lực tận, còn sống đây mà như đã đi ra khỏi cuộc đời con. Cha cúi mặt bước đi trong nỗi buồn câm nín, sống những ngày cuối đời nhờ sự cưu mang của người bạn nghèo. Không muốn tạo thêm gánh nặng tiền điện cho người ân, khi giữ cho căn phòng mát mẽ giữa mùa hè, cho nên người Cha mỗi buổi trưa hè lang thang, đếm bước chân run, thầm mong cho qua hết một đời buồn!

Tiểu muội cũng có biết một người Cha nữa, đang buồn bã đếm thời gian trong nhà dưỡng lão mỗi ngày. Trước khi mất, người Mẹ đã dặn dò đứa con trai hiếu đạo hãy đem Cha về phụng dưỡng lúc cuối đời. Nhưng tình thương dành cho Cha không đủ để vượt qua những phiền lụy mỗi ngày, từ nơi người bạn đồng hành. Cha trở thành chướng ngại, vì thờ cúng đèn nhang làm ám khói hư hao nhà cửa. Cha mắt mờ không vén khéo, làm dơ bẩn căn bếp đẹp trong nhà khi tự nấu nướng cho mình. Ðứa con dâu lớn lên từ xóm lao động nghèo với ao tù nước đọng ngày nào, không chấp nhận được sự hiện diện của người Cha yếu già mộc mạc. Người Cha giống như cuồng loạn, trong những ngày đầu được con trai đem gửi nơi nhà dưỡng lão. Cha bị cách ly với mọi người cho đến khi không còn sức để vẫy vùng.  Ông nhận biết cuộc đời thôi như hết và đã biết buồn bã nhận diện ra những đứa con thỉnh thoảng đến thăm.  Bóng tối và sự câm nín như trùm phủ, người Cha bây giờ không còn nỗi ước mơ nào. Con khoẻ không? Con làm ăn có được không?  Sau các câu hỏi đó là một khoảng dài yên lặng, người Cha từ tốn bảo con hãy về đi, Ba thích được một mình trong căn phòng tối này thôi. Lần sau con có đến đừng bao giờ mua đồ ăn cho Ba nữa. Ba đã quen với những món ăn ở đây rồi, không còn biết là ngon hay dở nữa đâu!  Ðó là người Cha của chị dâu, mà thỉnh thoảng Má tiểu muội vẫn đi theo anh chị đến thăm.

 

Huynh ơi,

Bên cạnh những cảnh đời thương tâm buồn bã đó, tiểu muội đôi khi cảm thấy thật ấm lòng với những hình ảnh thật là cảm động ở trong chùa.  Khi đứa con gái chia tay cùng người chồng cũ, đã bỏ đi xa để làm lại cuộc đời. Người Mẹ già ở lại cùng con rễ, là một người đàn ông bản xứ, khác tiếng nói, khác màu da, nhưng đã phụng dưỡng bà Mẹ Việt Nam mộc mạc hiền từ cho đến cuối đời mình. Biết Mẹ thích đi chùa ngày chủ nhật, không cần nói chi nhiều, người con rễ chỉ tới nắm tay Mẹ và nói: Má đi nha! Người đàn ông đó đã nhiều năm đưa Mẹ đến chùa, và thật là buồn biết bao, khi người ra đi trước lại chính là con người con rễ hiếu đễ này!

Biết con không qua khỏi cơn bạo bệnh, bà Mẹ đem con đến chùa để làm lễ quy y Tam Bảo.  Con rễ qua đời không có bao lâu, người bạn già của Má tiểu muội cũng ra đi sau đó.  Hình ảnh người con rễ Mỹ, dìu bà Mẹ Việt Nam già yếu đến chùa, là một hình ảnh đẹp khó phai mờ, dù không bao giờ còn thấy lại ở nơi đây. 

Lâu rồi, khi hay tin Mẹ của người bạn từ giã cháu con để dọn ra sống ở khu nhà có những người cao niên quây quần sống cạnh nhau, tiểu muội thấy lòng băn khoăn lắm, cho nên đã thật mừng khi gặp lại bà cụ ở trong chùa. Mừng rỡ ôm cánh tay nhỏ xíu gầy gò của bà cụ, tiểu muội hỏi bà cụ sống ra sao, có buồn không, có trở ngại gì không, nếu như chẳng có người thân nào ở cạnh bên.  Người Mẹ cười, nụ cười thật ấm lòng người, rồi xiết tay tiểu muội nói: Bác thật sự thoải mái và vui chứ không có sao đâu! Ðời đâu còn bao lâu nữa, Bác không ưa làm vướng bận cháu con. Vẫn còn đi đứng được, còn tự chăm sóc được cho mình và bên cạnh có những người bạn còn lái xe được, lại cùng có chung ý nguyện là vui với kệ kinh và sửa soạn hành trang để ra đi, Bác không còn gì để luyến lưu nơi cõi tạm này, con cứ hỏi Má con thì biết! Cho nên xa con cháu bây giờ hay xa nó mai này, đều giống như nhau vậy thôi, con ơi!

 

Huynh kính thương,

Tiểu muội viết những giòng này cho Huynh khi mùa Vu Lan đang dần đến. Với tiểu muội và các anh chị em trong nhà bây giờ, thì mùa nào cũng là mùa Vu Lan hết. Ðiều đáng mừng là tiểu muội thấy Mẹ biết lo niệm Phật và thường không quên nhắc nhở đàn con cháu nhớ ăn ở theo những lời Phật dạy.  Có những người con hiếu đễ, nhưng không học hiểu giáo lý, cho nên vô tình chìu theo ý Mẹ Cha tạo thêm nhiều nghiệp sát sanh trong vấn đề ăn uống hằng ngày. Tiểu muội cũng cầu mong sao những người con hiếu hạnh biết hướng dẫn các đấng sinh thành quy hướng về các lời dạy của chư Phật, biết dừng nghiệp và chuyển nghiệp, sống những ngày cuối đời an lạc trong ánh sáng từ bi của chư Phật.

 

Huynh ơi! 

Huynh nghĩ lại mà xem tiểu muội nói có đúng không: Ðứa bé gái sơ sinh trước kia, đến một ngày nào sau đó, trở thành một thiếu nữ. Người thiếu nữ ngây thơ thuở đó nay cũng đã trở thành một người Mẹ. Ðứa bé sơ sinh không bao giờ muốn tách rời ra khỏi vòng tay ấm êm của Mẹ. Cũng cùng như thế đó, Cha Mẹ già ai không mong mỏi ước mơ được ấm áp, an lành trong sự quan tâm, chăm sóc của cháu con phải không Huynh?  Những mái tóc lưa thưa màu sương trắng, tựa cuộc sống mong manh của Mẹ Cha khi tuổi đời bóng xế hoàng hôn. Trong tất cả tình thương yêu đời dành cho, Mẹ là bảo vật thiêng liêng mà tiểu muội còn may mắn hiện có trong đời.

Tiểu muội luôn luôn tự biết mình có phước nhiều, vì đã được làm con của hai đấng sinh thành rất đỗi thiện lành. Ơn biển trời không mong chi báo đáp vẹn toàn, tiểu muội chỉ biết ráng làm những điều có thể làm là giúp Mẹ sống những ngày còn lại cuối đời luôn được nhẹ nhàng, an tịnh trong suối nguồn Chánh pháp tràn đầy, để mai này không hối tiếc, bởi đã lãng quên cánh hoa hồng cài trên áo trong các buổi lễ Vu Lan ngày nào.  Nơi đây, tiểu muội cũng dành vài lời thành tâm cảm niệm chư tôn đức trong các cảnh chùa chiền đã tạo duyên cho các bậc Cha Mẹ có nơi nương tựa, biết trở về với Chánh pháp để tu tâm dưỡng tánh, và tận tâm dạy dỗ hàng Phật tử tại gia biết thế nào là hiếu hạnh theo lời dạy của chư Phật.  Từ tâm và công đức của các Ngài thực là vô lượng vô biên.

Tiểu muội thường hay nói với Nguyên Hương, nếu như lúc nào cũng mở lòng ra để thương yêu, gần gũi và chia sẻ cảm thông từng nỗi niềm riêng của Mẹ, thì mai đây sẽ không có lúc lòng ngập tràn đau đớn, như đứa con đứng ở sân ga, nghe tin chuyến tàu Mẹ ra đi vĩnh viễn chẳng trở về, lòng hối tiếc ăn năn bởi mình đã không có được một lần ôm Mẹ trong tay, không có một lần được nhìn sâu trong đôi mắt Mẹ thật gần, để nhận ra cả một trời lớn rộng yêu thương mà Mẹ đã dành cho con.



Tiểu muội
Nguyên Thảo

 

 

--- o0o ---


 

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật ngày: 01-08-2003

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Vu Lan Báo Hiếu

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com