TỪ CÂU CHUYỆN
CỦA LÀNG HIẾU THÔN

 

MỘT 

Theo cảm nhận riêng của người viết bài này, dường như trong dòng chảy văn học - Nghệ thuật Việt Nam nói chung và văn học - nghệ thuật Phật giáo nói riêng, đề tài về người mẹ và các gương sáng hiếu hạnh luôn được tôn cao và nói đến như một điển hình bất tận. Trong lãnh vực này người mẹ và những gương hiếu hạnh được thăng hoa và biến hoá thi vị, không thể và không bao giờ cạn, sẵn sàng khơi nguồn cảm hứng cho hậu thế khai thác. Nói một cách khác, đề tài này là cột mốc – là kim chỉ nam un đúc nên lối sống đạo đức xã hội ở mọi lúc, mọi thời để con người nhắm hướng tìm đến. Chẳng phải từ ngàn xưa, Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật của chúng ta đã từng dõng dạc một cách rất hùng hồn rằng “Điều thiện tột cùng không gì hơn HIẾU, điều ác sâu dày không gì bằng BẤT HIẾU” đấy sao! Tất nhiên, với người tu Phật, quả vị tìm đến là Phật thể và luôn là lý tưởng dấn thân giải thoát; vậy mà Đức Bổn Sư của chúng ta lại nhắc nhở rằng “Sanh thời không có Phật, thờ cha mẹ tức thờ Phật”. Quả thật, Đạo phật là Đạo Hiếu không sai. 

 

HAI 

Riêng Văn học - Nghệ thuật Phật giáo, từ trước đến nay chưa khai thác triệt để đề tài bao la nhưng quan trọng trong đời sống xã hội này, ngoài việc dựa vào kinh sách rập khuôn và sáng tác cảm hứng. Bằng chứng là hiện nay là những sáng tác về thể loại đề tài này để lại cho đời những tuyệt tác mang tính bất hủ không nhiều. Đó là chưa nói đến việc tận dụng và khai thác ở mảng khoa học lịch sử. Văn học nghệ thuật Phật giáo ngày nay như chửng lại, như con nước rong dật dờ, và có phần ỷ lại, dựa vào mạng lưới tin học, xem đó là “kho tàng” để khai thác…bất tận, thiếu tính sáng tạo. Không khó khăn lắm để nhận ra điều này ở phần lớn báo chí Phật giáo ngày nay. 

BA

 Qua hai phần nhận định trên, người viết xin kể lại câu chuyện sau đây để chứng minh cho hai điều vừa nói, cho thấy sự thờ ơ và ỷ lại của Văn học - Nghệ thuật Phật giáo chúng ta hết sức đáng tiếc.

Như phần một đã nói, trong đời sống xã hội gương hiếu hạnh và hình ảnh người mẹ có giá trị rất lớn, kiến tạo nên lối sống đạo đức con người. Chuyện kể thuộc dạng lịch sử, một ngôi làng có thật, ở đó tính xung đột không nhiều nhưng quyết liệt đối kháng sự bất hiếu: LÀNG HIẾU THÔN - TỈNH HẢI DƯƠNG.

Chuyện kể rằng làng Tỉnh Đông, thời Vua Lý Anh Tông (1138 – 1175), có một bà mẹ sanh một đứa con trai. Chồng bà chẳng may mất sớm nhưng bà quyết ở vậy tần tảo nuôi con. Đến tuổi năm mươi, bà đau ốm liệt giường. những tháng ngày ngặt nghèo này người con trai lại bỏ mặc, không chăm sóc bà. Tuy bà vẫn cố gượng sức tự chăm sóc mình, từ việc lau mình, đổ bô đến chén cơm chén nước. Đôi khi vì kiệt sức bà ngã lăn ra bất tỉnh, khi lấy lại sức bà lại lần mò về chỏng tre nằm thở hổn hển, nên thỉnh thoảng bà vì uất ức la rầy người con trai đôi câu. Những khi như vậy anh ta cãi lại và không ngớt lời thậm tệ với người sanh ra mình, vì mình mà cả đời cơ cực. Thậm chí còn đập phá đồ đạc trong nhà vốn nghèo nàn của bà. Tính bất hiếu đến độ nhẫn tâm là anh ta làm một túp lều nhỏ dưới chân núi, làm cái chõng tre khiêng mẹ đến ở trong đấy, mặc bà van xin khóc lóc.

Dân làng biết chuyện, bẩm báo lên xã trưởng, xã trưởng cùng dân làng họp lại, buộc người con trai phải khiêng mẹ về trở lại nhà phụng dưỡng, xử phạt anh phải làm lễ tạ lỗi thần linh, xin lỗi dân làng vì đã chà đạp lên đạo lý xã hội, nêu gương xấu cho làng thôn. Nhưng tính vô nghi nhẫn tâm ấy đã khiến anh cãi lại, không chịu thực thi án phạt của dân làng. Vì đạo đức muôn đời sau, dân làng buộc phải đuổi anh đi khỏi làng. Dân làng thay phiên nhau chăm sóc và nuôi nấng bà đến mãn cuộc đời. Lúc bà chết, dân làng làm ma chay lớn với đầy đủ nghi thức của một người tròn vẹn hạnh phúc gia đình, thậm chí còn để tang và cúng giỗ bà thường niên. Trong năm mươi năm liên tục ấy dân làng bỏ ra năm sào ruộng, chia đều cho mỗi nhà luôn phiên nhau chăm bón cho thật tốt, gặt hái được bao nhiêu thóc đều đem đến cho bà chi dùng quanh năm. Bà thọ được đúng trăm tuổi.

Sau đó người con trai hối hận quay gót trở về, cầu xin dân làng tha thứ, nhưng dân làng nhất quyết đuổi đi. Từ đó anh ta bặt vô âm tín, không rõ lưu lạc nơi nào.

Mất một người nhưng làng quê giữ được thuần phong mỹ tục, giữ được đạo lý quan trọng nhất của đời người. Vì thế suốt năm mươi năm ấy làng quê không có chuyện con cái dám cãi lại cha mẹ hoặc lo là phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già.

Sau này, Vua Trần Thái Tông (1218 – 1277) trong lúc đi vãn cảnh chùa Yên Tử ngang qua đây, được nghe dân làng kể lại chuyện, nhà vua phán “Ta chưa từng được nghe câu chuyện này, nói chi đến được thấy ở đây có một phong tục đẹp đẽ đến thế, ngay cả đời NGHIÊU - THUẤN ở Trung Quốc cũng không có được nói đến. Ta nghĩ nội trong làng ắt phải có nguời hiền mới sống và giữ nổi phong tục đẹp”.

Vua cho gọi xã trưởng đến và ban cho làng cái tên “HIẾU THÔN” và tặng cho làng mười nén vàng để sửa chữa đình chùa thêm phần tốt đẹp khang trang, hầu làm nơi thể hiện nét đẹp đáng trân trọng.

 

BỐN 

Chúng ta nên nhớ Vua Lý Anh Tông là một trong tám vị vua triều nhà Lý (1010 – 1225), một triều đại mà tư tưởng Phật giáo luôn có một vị trí quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống xã hội – tương tự vua Trần Thái Tông là một trong sáu vị vua nhà Trần (1226 – 1400), một triều đại cực thịnh của Phật giáo trong đó nổi bật là thiền phái Trúc Lâm lẫy lừng. Chính Trần Thái Tông sau là Quốc sư Trúc Lâm.

 

VU LAN 2552

GIÁC ĐẠO – DƯƠNG KINH THÀNH

(Viện NCPHVN - Hội KHLS – TP. HCM, chi hội Trịnh Hoài Đức)

 

 

----o0o---


Trình bày: Tường Tâm
Cập nhật: 9-2008


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Mục Lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544