Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Học Cơ Bản


 

 

 

 

Bốn mùa hoa giác

 

Tỳ Kheo Ni Huệ Hải  biên soạn 

 

II, MÙA HẠ TỪ 15-04 ĐẾN 15-07 

1. CHƯƠNG TRÌNH AN CƯ

 

-   Lễ Tổ - Lễ Phật – Khai luật kệ - Giáo giới an cư.

(đại chúng quỳ nghe giáo sắc của đại Tăng)

-   Thông kiểm số chúng

-   Cụ Tổ Quảng Bá huấn từ.

-   Thỉnh Chủ Pháp Sự.

-   Các thượng toà đối thú bạch an cư.

-   Toàn chúng bạch an cư.

-   Cung an chức sự mùa hạ.

-   Ban chức sự phát nguyện.

-   Bát Nhã- Hồi hướng-Tam quy. 

 

Mẫu thông kiểm số chúng

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch đại đức Ni Tăng! Năm nay Ất Hợi 3 tháng tiền an cư, trước hết con xin cung thỉnh đức Trung thiên Giáo chủ Thích Ca Văn Phật đứng ngôi thượng thủ. Kế đến các cựu và khách Tỳ-kheo-ni gồm 15 vị, thức xoa ma na 3 vị, Sadini 16 vị, hình đồng 2 vị. Cuối cùng con xin cung thỉnh ngài Vi Đà Hộ Pháp an cư hội thượng nhận 1 ngôi vị.

Vậy tổng cộng mùa hạ năm nay tại trụ xứ Liên Hoa có 38 vị tiền an cư. Kính xin quý tôn đức liễu tri cho ( 1lạy).

 

Cảnh sách khuyên niệm Phật  

Tất cả khổ cực thế gian nằm trong 4 chữ sanh tử luân hồi. Thân người rất khó được mà lại vô cùng dễ mất. Tam đồ dễ vào mà rất khó ra. Thời gian trong địa ngục phải lấy số kiếp mà tính đếm. Vạn khổ nung đốt không biết nơi đâu cầu cứu. Đền tội xong lên dương thế làm bàng sanh để trả nợ xưa. Từ bụng heo chui ra, tự nhận mình là heo. Đem tánh vô lượng quang vào bào thai xú uế, nương gá bụng ngựa dạ trâu, thương tâm biết nhường nào! Bảy đời Phật đi qua vẫn còn làm thân kiến. Tám vạn kiếp sau chưa thoát nghiệp bồ câu. Bỏ đãy da này mang đãy da khác. Trải ngàn vạn năm mới được tướng người. Bao lần chịu thân cánh ấm, đâu còn trí sáng? Xúc thọ căn trần, sanh già bệnh chết làm sao tự chủ? 

Cho nên bây giờ, phải thống niệm hiểm nguy sanh tử như cứu lửa cháy dầu. Vì mười phương chúng sanh nhất tâm niệm Phật. Bởi vì họ với ta đồng thể. Bởi vì đã từng làm bà con quyến thuộc nhiều đời. Bởi vì đã cùng nhau chịu khổ từ vô thuỷ kiếp. Nên nay niệm Phật cầu cho ta và người đồng giải thoát, đồng thành Phật đạo. Phát đại tâm là như vậy, trên cảm thông chư Phật, dưới kế hợp tánh linh. Tội nghiệp từ luỹ kiếp sẽ giải trừ. Bao nhiêu thiện căn sớm thành thục. Lấy vui Cực lạc đối chiếu với thống khổ Ta Bà thì lòng muốn rời xa càng vội vàng như mong thoát hang cọp, như đói mong ăn, khát mong uống, như tránh oan gia đang cầm dao rượt, như chết đuối gấp cầu cứu vớt. 

Mê chân khởi vọng hay ngược vọng quy chân, đâu có pháp nào ngoài một niệm này. Theo tịnh duyên niệm liền vào Pháp giới thánh. Theo nhiễm duyên niệm mở ra Pháp giới phàm. Mười phương chánh báo y báo đều từ một niệm này mà ra. Trì một danh hiệu Phật là gieo một hạt giống vào 9 phẩm hoa sen. Niệm một câu Phật là một bước trên đường giải thoát. Tâm tâm liên tục niệm niệm chuyên cần. Càng lâu càng thấm thía. Sao cho thành một khối nhất tâm bất loạn. Một khi liên hoa khai nở thì tam thân tứ trí, ngũ nhỡn lục thông, bao nhiêu thắng duyên rực rỡ.

 Niệm Phật cốt yếu để minh tâm mà tịnh tâm cũng không chi bằng niệm Phật. Như nước đục được minh châu nhất định sẽ trong. Biết rõ lý này phải vội vàng Niệm Phật. 

Nếu có thể nhất tâm niệm phật thì coi như việc tham học đã xong, việc cần làm là thành biện vậy. 

Triệt Ngộ Đại Sư

 

2.  LỄ TƯỞNG NIỆM

HOÀ-THƯỢNG TRÍ THỦ

ĐỆ NGŨ LUẬT SƯ(1984) 

Đại chúng sửa soạn an cư. Mọi năm ngày này, Liên Hoa cử 2 vị sang Già Lam đảnh lễ thỉnh Ôn làm đệ ngũ luật sư. Năm nay Ôn đã về cõi Phật. Chúng con không thể ngăn được nỗi niềm xúc động đảnh lễ di ảnh, cùng nhau nhắc lại công đức của Ôn đối với Liên Hoa, 

Hạ năm nay bà chắc rằng mãi mãi, chúng con không tìm đâu được một vị đệ ngũ Luật sư khoan dung đức độ và tận tình dạy dỗ chúng con như Ôn. Ôn đã vui vẻ giải quyết những khó khăn rắc rối trong ni chúng. Ôn lúc nào cũng có sẵn những bài pháp ngắn, hợp cơ phải thời, để vừa sách tấn, vừa dăn dạy con em lỗi lầm. Mỗi dịp khánh tuế là chúng con lại được Ôn kể cho một câu chuyện thật hay để về làm quà cho đại chúng. Ôn vắng bóng là một mất mát lớn cho Liên Hoa. Thật đúng như phương ngôn Việt Nam:” Con không cha như nhà không nóc”. Hoàn cảnh thời mạt Pháp đã cam go, thêm vào đó bao nhiêu đần ngu dại của chúng con. Ôn đã lặng lẽ che trở, gạt đi những mũi tên trì trích và từ mẫn nâng đỡ Liên Hoa trước những tầm mắt nghiêm khắc của  trong và ngoài giáo Phật giáo. 

Cha lành toả đức từ che mát. Mỗi khi chúng con sang thỉnh ý kiến Ôn, dù việc nhỏ như cá nhân phạm lỗi, xin Ôn chỉ dạy cách trị phạt, Ôn vẫn từ hoà hoan hỉ cặn kẽ tận tình. Tưởng như Ôn thong thả rảnh rang lắm. Có lần thầy thị giả phát gắt vì chúng con đã liên tiếp làm rộn Ôn. Là người lãnh trách nhiệm lớn trong giáo hội toàn quốc, là thượng thủ trong hoạt động Tăng già, là Thầy đốc giáo của các trường Tăng Ni Ôn đã thành lập, là thầy Bổn sư của ngàn vạn Phật tử tại gia , làm sao Ôn có thời giờ ngồi không? Thế mà bất luận trường hợp nào, chúng con cũng chỉ thấy trong Ôn một đấng nghiêm từ hoan hỷ nâng giấc đàn con dại. 

Nếu không được Ôn khuyến khích, hẳn Liên Hoa có bao giờ dám tổ chức hàng năm khoá y công đức. Chính nhờ những chỉ dạy tỷ mỷ kĩ càng của Ôn mà Liên Hoa mỗi năm mạnh dạn tu học thêm năm tháng Cahyna, không lo trái pháp. 

Chúng con được quý Thầy cho biết sáng nào Ôn cũng dạy từ 2 giờ để làm lễ sám. Ôn còn dành thời gian để viết sách cho hậu lai chúng con. Cuốn YẾT MA YÊU CHỈ là tác phẩm cuối cùng của ngài vừa hoàn tất trước khi nhắm mắt. 

Toàn quốc đã nói nhiều về công đức Ôn đối với Phật Giáo Việt Nam. Giờ đây Ôn đối trước di ảnh, nhân buổi lễ truy niệm bậc đại ân nhân, Liên Hoa Ni chúng nhớ lại năm 1980, Thầy chúng con ở Phú An về thành phố Hồ Chí Minh, được Ôn cho một bài Pháp. Tết đến, thay vì lễ phẩm thế gian, Thầy bắt Diệu Văn học thuộc lòng bài ấy. Cùng với sư Cô Giám Viện sang làm lễ khánh tuế Ôn, chúng con đọc Ôn nghe lại, để dâng lên, xin Ôn chứng minh, lòng chân thành ghi nhớ Pháp bảo của mấy con. Ôn vô cùng hoan hỷ và dạy thêm rằng: 

Thời Phật còn tại thế, ở phương đông thành Xá Vệ, có một bà già ghét Phật, ghét cay ghét đắng. Mọi người thỉnh Phật độ cho bà. Phật thân hành tới nơi. Bà quay mặt đi. Phật hiện thân đứng bốn phía. Bà lấy 2 tay bịt mắt. Nhưng lại thấy mỗi đầu ngón tay một ông Phật. Bà tức mình oà lên khóc. Phật trở về tinh xá, sai La Hầu La đến thăm bà. Bà đon đả tiếp và vui vẻ quy y. Mọi người ngạc nhiên. La Hầu La có tài gì hơn Phật? 

Phật dạy: Kiếp xa xưa, một bà già lên chùa xin xâm bói quẻ. Thầy trụ trì đuổi. Bà giận lắm, bỏ đi. Thầy tri sự chạy theo an ủi. Thầy trụ trì nay là Phật. Thầy tri sự nay là La Hầu La.

Cho nên Bồ-tát muốn độ tất cả chúng sinh, phải cẩn thận, chớ để chúng sanh có những ác cảm truyền kiếp như thế. 

Nhà ai cũng có Quán Thế Âm. Cố gắng sẽ được.

 

 

3. CỤ TỔ QUẢNG BÁ HUẤN TỪ

KHAI THI ĐẦU HẠ 

 

Trên đường tu, hiểu đạo chưa là khó, hành đạo mới thật là khó. Chỗ biết của tôi dù có thể đã xa trăm dặm mà việc làm thật chưa đi được năm bước. Kinh Đại Tập dạy:” Đời mạt Pháp ức ức người tu, ít ai ngộ đạo, chỉ nương môn niệm Phật mà thoát luân hồi”. 

Vì cầu tu theo chiều sâu, Tăng Ni dùng hương thơm ánh sáng Pháp-thân mình. Huệ Viễn đại sư 30 năm không rời núi. Ấn Quang pháp sư, lúc vãng sanh xá lợi đủ năm màu. Còn bản thân tôi chỉ vì cơ duyên đòi hỏi, bất đắc dĩ phải phô sự kém dở, nhận bổn phận pháp chủ Việt Nam. Như người yếu chân tự đi không nổi, ngồi ở ngã tư đường, nhưng vẫn cố gắng chỉ lối về cho những ai còn lạc bước. Nhưng mong nhân đây tự tiêu tội chướng mà được đới nghiệp vãng sanh. Cổ đức từng bảo:” Ăn cơm, mặc áo vạn sự đều là Thiền. Đi đứng nằm ngồi đều là Đạo”. Tịnh-độ tông chúng ta cũng thế, cử tay cất bước, việc nào chẳng phải là hạnh hoa sen.? Muốn giữ sự thanh nghiêm trong tịnh viện, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, Ni chúng đều cần phải tuân hành đúng  giới luật, nội quy. 

 

1. OAI NGHI NHƯ LỜI PHẬT DẠY: 

a) Thân ngay thẳng, bước nhẹ nhàng: Không nhảy nhót hấp tấp, trừ khi thật cần. Đứng đoan trang, chớ chống nạnh, co chân, nghiêng dựa. Nằm cát tường, ngồi vững như chuông úp. 

b)Hạn chế việc đi ra ngoài: Tuyệt không có những rong chơi vô ích. Đi thưa về trình là bổn phận quyết định. Bắt buộc ra khỏi cổng chùa, cố gắng chớ đi một mình, như thế mới hợp Ni luật. 

c)Lời nói nghiêm tịnh: Đùa cợt phù phiếm, ồn ào bất nhã, thị phi vô ích, làm chết Pháp-thân. Sách thế gian có câu: “ Lời nói là bạc, im lặng là vàng”. Kinh dạy: “ Im lặng như Hiền Thánh”.

 

2. THANH LỌC TRI KIẾN: 

Chớ gặp sách nào cũng xem, báo chí nào cũng đọc, chuyện thế gian nào cũng nghe, vấn đề không liên hệ đến mình cũng đem ra bàn bạc. Tổ Quy Sơn dạy:” Đi trong sương móc tuy không thấy áo ướt mà thật ra có thấm nhuần”. Sáu căn giao thiệp với sáu trần, hàng ngày huân tập kiến-hoặc, tư-hoặc sâu đầy. Nếu nghiêm hộ sáu căn thì lìa trần thoát cấu, thành Pháp nhãn tịnh.

 

3.   THIỂU DỤC TRI TÚC: 

a) Ăn mặc biết đủ: Vì thân vô ngã chẳng nên quá cưng chiều. 

b) Ngủ nghỉ biết đủ: Hằng nhớ vô thường. Tấc bóng quang âm không thể đem vàng mua được, chớ nên phí uổng bỏ qua. 

c) Chỗ ở nơi đơn giản: Người tu liêu phòng cần để trống, mắt tai do đây được thanh nhàn. Nếu còn so sánh đua đòi, lòng ham muốn sẽ không cùng tận. 

d) Tiết kiệm phước đức: Dù của Tam-bảo hay của mình dù giọt nước hay lá rau, không buông lung xài phí. Giặt giũ, quét tước , những việc chi tự làm được thì làm, không phiền sức lực người khác. Việc công thì cố gắng tận tình, chẳng trốn lánh trộm an. 

Những hạnh hoa sen như trên là tinh yếu của các bậc cổ đức. Nay góp vào nội quy trong tịnh viện. Trông mong những hạnh vi tế này sẽ đưa Ni chúng đến chỗ giới đức vẹn toàn cao đẹp.

 

4. CUNG AN CHỨC SỰ 

Giáo dục học vấn là trách nhiệm trên thầy bổn sư. Nhưng trợ giúp ngài rất cần nhiều bậc Thầy trợ tá. 

Trước hết là Sư Cô Giám Viện, quản lí tổng quát trong tùng lâm tất cả sự việc tinh thần vật chất, lớn nhỏ trong ngoài. 

Kế đến là Sư Cô Giám Luật, khuôn vàng thước ngọc. Kỷ cương thiền đạo vững bền không thể rời Tỳ Ni Tạng. 

Sư Cô Kiểm Khán là đấng nghiêm từ nêu cao kỷ luật, đốc thúc ban chức sự tinh tấn, ép buộc cả đại chúng vào nội quy, khiến khắp già lam, trên dưới trong ngoài toả hương thánh đức.

Quý Sư Cô Giáo Thọ dạy chúng con chữ nghĩa kinh điển, truyền trao giáo Pháp Thánh Hiền. Từ quý ngài chúng con được uống cam lồ pháp vị của chư Phật liệt Tổ. 

Quý vị Tri Chúng như mẹ hiền theo dõi chúng con trong bốn oai nghi, uốn nắn dạy dăn từng tiếng nói bước đi, trông nom săn sóc giờ ăn giấc ngủ. Được vào khuân đúc, chúng con trong ngoài rạng rỡ phạm hạnh. 

Lại ơn quý Sư cô chánh, phó Tri Sự, dạy chúng con thổi cơm quét dọn. Chính trong những giờ chấp tác, bao quê hèn được gột bỏ. Trăm phước trang nghiêm, phụng sự Tam-bảo, thành công đắc quả, đâu không phải là do tri sự đã tận tình mài rũa chẳng tiếc lời. 

Cơ thể khang ninh, tâm trí mới khai phát, chúng con làm sao quên ơn quý Sư cô Khán Bệnh, suốt ngày lao tâm theo dõi bệnh nhân, đưa đi bác sĩ, đưa vào bệnh viện, cạo gió cắt lể, thăm nom săn sóc, thuốc sớm cháo chiều, nâng giấc an ủi. 

Ngoài ra Nghi Lễ giữ gìn phép tắc, nghiêm chỉnh các khoá công phu. Nhang Đăng đại lao toàn chúng hương hoa dâng Phật, nhang đèn cúng Tổ. Các vị Chi Trưởng quyền huynh thế phụ, răn nhắc bảo ban. Tri Khách, Tri Viên nhiều ít đưa tay góp sức. Do đây ngôi Tam-bảo đứng vững trong thế gian, làm nơi nương tựa cho trăm họ. 

Có thực mới vực được đạo, Ni chúng bình an, ơn chánh phó Tri Khố phơi đậu nhặt thóc. Chị em Trực Nhật sớm khuya, cho đến Rửa Chén, Hành Đường, đều là công lao hộ pháp.

Chúng con hôm nay sung sướng được cùng nhau kết hạ an cư, nương từ bi quang Phật Tổ, một lòng biết ơn đền ơn, chí thành đản lễ toàn ban chức sự. 

Nam mô A Di Đà Phật

 

 

5. BAN CHỨC SỰ PHÁT NGUYỆN

 

Kính bạch trên Thầy! Kính thưa quý sư cô và toàn thể đại chúng! 

Xiết bao hân hạnh! Xiết bao vui mừng! Chúng con hôm nay được góp bàn tay nhỏ bé vào guồng máy sinh hoạt của đại chúng. Khả năng kém cỏi, không xứng đáng trách nhiệm đại chúng giao phó, chúng con nguyện sẽ cố gắng đem hết tinh thần, tận tâm tận lực lo tròn nhiệm vụ, Trên Thầy đã lo lắng xếp đặt nếp sống lục hoà cho chúng con an vui tu học. Chị em chúng con sẽ sách tấn bên nhau, trau dồi giới thân tuệ mạng. Tuổi trẻ bồng bột, chúng con không sao tránh khỏi lỗi lầm sơ sót. Ngưỡng mong trên Thầy, quý Sư cô cùng toàn thể đại chúng từ bi tha thứ và hoan hỷ chỉ dạy, giúp chúng con hoàn thành bổn phận tốt đẹp. 

Nguyện cầu Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển, hải chúng an hoà, cùng nhau tiến bước trên con đường tự giác, giác tha cho đến ngày giác hành viên mãn.

Nam mô Công Đức Lâm Bồ-tát ma- ha-tát.

 

 

KẾT HẠ KHAI THỊ CHÚNG 

Phần I 

Rằm tháng tư hôm nay là ngày kết hạ. 2500 năm về trước, trên hội Linh Sơn cũng có ngày kết hạ. từ đó tùng lâm các nơi chẳng trái lệ cũ, 90 ngày cấm túc an cư. 

Ngay từ đầu tiên phát tâm xuất gia, người chân thật học đạo đã cương quyết liễu thoát sanh tử việc lớn. Như vậy” chân” đã cấm” hạ” đã kết. Tron đời năm tháng, cùng việc này tương ưng. Mùa hạ năm nay cũng thế, 90 ngày an cư trọn vẹn cùng việc này tương ưng. Được vậy mới có thời tiết gọi là Phật hoan hỷ, Tăng tự tứ. Bằng chỉ nhập hạ đủ ba tháng để lấy lệ thì chẳng những không hiểu ý Phật Tổ mà cũng là tự cô phụ, thật là đáng thương.

Trên đây là lời của Trung Phong Minh Bổn thiền sư. 

Hôm nay chùa Liên Hoa, 38 người ai cũng rõ việc này, chẳng chịu tự cô phụ. Mượn cơ hội an cư để phấn khởi phiến tâm mạnh mẽ. Một ngày phải thấy công trình một ngày, một giờ phải thấy tiến tới một giờ. Người trên kẻ dưới cảnh sách lẫn nhau, mài rũa cho nhau. 90 ngày siêu phàm nhập thánh, việc này phải minh bạch. Chùa Liên Hoa là trường tuyển Phật. Tâm” không” mới thi đậu. Tâm không là thế nào? Ngã không và Pháp không. Ngã không là thân đất nước gió lửa không thật, tâm bóng ảnh sáu trần không thật. Biết cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp huyễn hoá, tức là pháp không. 

Người tâm như hư không, hằng khoan dung tha thứ. trong siêng công khắc kỷ, ngoài rộng đức không tranh, mỗi mỗi đúng pháp lục hoà. Niệm niệm chẳng lui sụt, nhắm thẳng vào ba học giới định tuệ. Nếu không thì tấc vải hạt gạo chắc chắn phải bồi thường. 

Người xưa ba y một bát, ngoài ra coi là vật thừa, không phải của mình. Thanh bần tu luyện, thầm lặng dẹp bỏ vọng tình. Thề ở dưới mọi người, khiêm tốn hạ mình, không dám xem thường người thiếu khả năng. Tinh cần tỉnh giác chánh niệm, nghịch thuận chẳng biến. Chúng ta nếu thật học được như thế ắt hy vọng sau này vượt lên cao, đến chỗ xa.

Nguyện cầu toàn chúng tinh tấn tu hành, viên mãn Bồ-đề.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Phần II 

Rằm tháng tư đã về đây! 

Mỗi năm chúng ta chuẩn bị mùa hạ, cần ôn lại những gì dở đã qua để tránh, xét những gì cần bổ túc cho mùa hạ sắp tới. Ni chúng phải nghiền ngẫm mục đích sinh hoạt của mình, dù là an cư hay tự tứ, thọ giới hay học kinh, mỗi cử động đều nhắm vào việc mà quý Hoà-thượng gọi là đại sự. 

Thiền sư Thanh Từ bắt mạch Tăng Ni, thấy bệnh thông thường nhất là “tự mãn”, Năm đầu ai nấy hăm hở quyết chí giải thoát, nhưng dần dần đạo trở thành cái gì xa lắc xa lơ. Kinh A Hàm nói:” Xuất gia như cô dâu mới về nhà chồng, đối với cha mẹ chồng khép nép cung kính. Đôi ba năm quen rồi, khinh lờn, chẳng cần lễ phép”. Chúng mới cạo đầu cũng thế, ban sơ trên kính các thượng toà, dưới nể vì huynh đệ, tỏ ra dễ dạy ngoan ngoãn, nhu hoà, nhẫn nhịn. Nhưng ít lâu sau thì” gần chùa gọi Bụt bằng anh, thấy Bụt hiền lành cõng bụt đi chơi”. Thuộc hai thời công phu, rãnh rẽ mấy khoá lễ, học xong vài bộ kinh, thế là tự mãn, tự cho là đủ. Không bao giờ nghĩ đến hai chữ “tu chứng”. 

Nghiệp thức mơ màng, vọng tình chưa hết, làm sao ra khỏi luân hồi? Điểm chính nhắc nhở chị em hôm nay, là phải thực hành những gì đã học. Chí nguyện thiết tha thi công hành sẽ liễu đạt đại sự. Có sáng được việc lớn, chúng ta mới đáp ứng bản ngoài độ sanh của Phật Tổ, mới sứng đáng trí nguyện xuất gia, mới không phụ công hộ pháp của mười phương tín thí. 

Nếu không sáng được việc này, đạo Phật trở thành vô giá trị. Cho nên mùa hạ năm nay, chúng ta làm sao cho cái mê từ lịch kiếp phải mòn, phải mỏng. 

Người xưa đau khổ xót xa rơi nước mắt mỗi khi mặt trời sắp lặn, tiếc tấc bóng quan âm hơn vàng ngọc. Chúng ta hôm nay cũng lập nguyện cho mạnh , lập chí cho vững để vươn lên. 

Ngài Phần Dương dạy:” Bốn đại như bọt nước, thân như lá trên sông. Bốn tánh diệu linh quang khoáng kiếp còn mãi mãi”. 

Triều đình mời ngài về kinh đô, ngài từ chối. Sứ giả thưa:”Con đi không được việc, về ắt bị trị tội”. Ngài đành trả lời :” Vậy thì ngươi cứ về trước ta sẽ đi sau”. Rồi ngài nhóm chúng hỏi.” Ta phải đi , trong chúng có ai đi theo ta được không?” Thị giả xin đi,. Ngài hỏi:” Ngươi đi một ngày được mấy dặm?” Thưa:” Hoà-thượng tới đâu con tới đó”. Ngài liền kết già:” Ta đi đây”,nói rồi liền tịch. Thị giả đứng hầu khoanh tay tịch theo. Sống chết tự tại như vậy gọi là đại sự của người tu. 

Thân bốn đại mỏng manh vô thường, hư vọng như bọt nước. Chiếc lá trên sông theo sóng đong đưa, tuỳ làn nước chảy về Đông hay về Tây, làm sao có quyền tự chủ? Chỉ nhắm mắt cho nghiệp lực xoay vần. Chúng ta vào bào thai, ra làm con người, con trâu, con chó, hoàn toàn mịt mù mê muội, được sao biết vậy, nói gì đến kén chọn đường đi. Còn tâm linh vô lượng quang chúng ta muôn kiếp vẫn thanh tịnh không hư không hoại. Nên sống với căn bản sanh tử hay cầu sống với căn bản Bồ-đề? Ba tháng xuân Lăng Nghiêm chúng ta đã học và hiểu. 

Nay chỉ còn một thắc mắc:” Ngài Phần Dương đã đại tự tại đến như thế, sao còn sợ vinh hoa, đến nỗi phải thị tịch, để lánh vua quan triều đình?” 

Thưa:” Đốn ngộ thì đồng với Phật, nhưng tập khí nhiều đời thâm sâu đâu dễ đốn trừ”. Đây là tiếng chuông cảnh tỉnh những ai muốn lao xuống sông vớt người chết đuối, trước hết hãy tập bơi thật thạo. 

Mong ước rằng thêm mùa hạ này nữa, chúng ta chuyên tu học giới luật, xây đắp thật chắc thật bền nền móng giải thoát.

 

6. THỈNH PHÁP HỌC LUẬT

 

Kính bạch trên Thầy! kính thưa quý Sư cô! 

-   Ức ức triệu triệu sinh linh quẩn quanh trong biển trầm luân thống khổ.

-   Ức ức triệu triệu sinh linh mịt mù trong đêm tối vô minh!

-   Chỉ vì không gặp đèn pháp, chỉ vì không gặp thuyền từ. 

Đèn thánh đức, thuyền Bát Nhã, nước dương chi! Hạnh ngộ hôm nay, Tam-bảo đã đầy đủ xếp đặt duyên lành cho bầy trẻ mấy con vào cửa đạo. 

Chúng con được nghe:” Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, giới luật còn là Phật pháp còn”. Ngày khai hạ, toàn thể chúng đê đầu đảnh lễ cung thỉnh Sư Cô giáo thọ thay vi mười phương thánh Phàm Tăng, đại lao trên Thầy, dạy chúng con bộ Sadi Luật Giải, để chúng con được thấm nhuần oai nghi phép tắc thiền môn. Đây là thềm thang giới Tỳ-kheo-ni, cội gốc giới Bồ-tát, là nền tảng Thánh Hiền. 

Chúng con nguyện cố găng thúc liễm tâm thân, dồn hết tinh thần vào việc học, làm sao trong đời sống trong đời không đến nỗi trái lời Phật dạy. 

Sau cùng chúng con thành tâm nguyện hồng ân Tam-bảo gia hộ Sư Cô Giáo thọ pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, ân đức không cùng suốt kiếp vị lai. 

Hạnh phúc thay chánh Pháp xương mình! 

Hạnh phúc thay Tăng già hoà hợp! 

Hạnh phúc thay mùa hạ năm nay, chúng con được làm lễ thỉnh pháp, ngưỡng mong trên Thầy, Sư Cô Giáo thọ thương xót chứng minh.

 

ĐÁP TỪ 

Mùa xuân Lăng Nghiêm thấm thoát đã trôi qua, chị em ai nấy phấn khởi đón mừng ngày Chư Tăng kết hạ. 

Chúng ta tuy xuất gia nhưng hàng ngày bận rộn lo toan đủ thứ, ít có thì giờ kiểm soát lại mình. Đức Phật xót thương, dạy các đệ tử, trong một năm phải quyết định dành 3 tháng hạ tấn tu đạo nghiệp. 

Theo thường lệ, chùa chúng ta mùa an cư miên mật học luật. Bởi vì có giới luật chùa mới an, có giới luật ngôi Tăng bảo nơi thế gian mới vững.. Cổ đức nói:” Nước không luật nước loạn, nhà không luật nhà tan”. Chính thế nước có luật  của nước, nhà có luật của nhà, cho đến trường hợp nào đều có luật của trường hợp ấy. Luật pháp thế gian giúp con người sống an một đời. Giới luật xuất thế giải thoát luân hồi sanh tử. Đạo thánh hiền khó huân ướp, nghiệp chướng vô minh nặng nề. Không giới luật kiềm thúc, ba nghiệp buông lung tạo tội, thân tuy ở chùa mà sự đoạ lạc rõ ràng, vì vậy muốn học rất thiết yếu này, xuất gia chúng ta không thể lơ là. Thân thể nhờ ăn cơm, uống nước hít thở...mà sống. Tuệ mạng nhờ nghiêm trì giới luật mới bảo tồn. 

Kinh Lăng Nghiêm dạy:” Không nghiêm trì giới luật, dù thiền định trí tuệ hiện tiền cũng quyết lạc ma đạo”. Cho nên hôm nay toàn chúng vâng lời Phật dạy, lấy luật nghi làm đầu. Trông mong 3 tháng ai nấy tận lực học tu, xây nền giới luật vững chắc, đem sự an vui cho mình và người.

 

 

7. QUY SƠN CẢNH SÁCH 

Quy Sơn là hòn núi hình con rùa. Tổ vâng lời bổn sư đến ở đó một mình. Núi cao chót vót chạy dài cả vạn dặm, toàn rừng sâu hang thẳm, không một dấu chân người, chỉ có cọp, beo, gấu, khỉ. Tổ lượm trái rừng ăn đỡ bữa, vốc nước suối uống qua ngày, luân 7 năm không một người thăm hỏi. Nhân một tiều phu đi vào rừng lạc lối gặp ngài, tin cho bà con xóm làng. Chẳng bao lâu ngôi chùa được xây cất.Và từ đây đạo truyền khắp thiên hạ. 

Tổ dạy rằng: Phàm đã tạo nghiệp phải chịu báo thân, thì ai miễn được khổ luỵ hình hài. Vay máu mủ của cha mẹ, mượn đất nước  gió lửa làm vóc thể. Vô thường già bệnh, sớm còn tối mất, giây phút qua đời khác. Vậy mà cứ ăn ngủ, đùa cười không cầu giải thoát. 

Cha mẹ không hiếu dưỡng, xã hội đã xa lìa. Vâng lời thầy cạo tóc, trong đinh linh 3 học Giới-Định-Tuệ, ngoài tập tu kính nhẫn, rộng đức lục hoà. Thế mà vừa thọ giới đã lên mặt ta là sư, ăn dùng của thường trụ, chẳng quán 5 pháp. Cứ cho rằng bổn phận tại gia phải cung phụng ta tiêu xài. Chụm đầu nói chuyện thế gian, đâu có nhớ mấy phút vui này là cái nhân tai ương vạn kiếp. Rông rỡ theo trần chưa từng phản tỉnh. Ngày đêm đi qua, thoạt đã bạc đầu, một đời vô ích. Người cầu phước nên cúng dường không chán. Còn ta thọ dụng, xét chỗ tu hành, không đáng hổ thẹn sao? 

Đức Phật khuyên răn: Này các Tỳ-kheo, nghiêm thân tu đạo, cần bớt ba việc ăn, ngủ, áo quần. Phép tắc oai nghi phải tịnh như băng tuyết. 

Giáo lý không để dạ, huyền đạo làm sao khế ngộ? Bụng trống lòng cao, mở miệng chỉ những lời kiêu ngạo. Nói thì lớn tiếng, ăn mải khua bát, đứng ngồi thô tháo. Bạn hiền khuyên nhắc, lòng sân la lớn:” Đại ngộ không chấp việc nhỏ”. Một mai nhắm mắt, nghiệp báo hiện ra. Cua bị trụng nước sôi, khi ấy càng ngoe rụng hết. Ngưỡng khuyên đại chúng mau mau tỉnh ngộ, đừng để thất tình lục dục cuốn trôi. Phí uổng một đời , chỉ vì biếng nhác. 

Người xuất gia nhập hạnh đại thừa, nối thịnh dòng Phật, phá dẹp ma quân, đền trả bốn ân, cứu giúp ba cõi. Nếu không như thế thì là ma quỷ trà trộn trong Tăng chúng. Huống chi hôm nay đường đường Tăng tướng, dung mạo oai nghiêm ai thấy cũng vui mừng kính nể, đều là nhờ kiếp trước đã vun trồng căn lành. 

Vậy mà nay đã xả tục ở chùa, thói tục vẫn đa mang. Đã đủ phước duyên thoát trần mà duyên trần chẳng chịu dứt. Tu hành không phẩm chất, chỉ mong thọ giới cao, ngồi trên làm thượng toà. Xuất gia như thế khác nào lánh chỗ chết chìm lại đâm đầu vào lửa? Mê si ngược ngạo tự cho là khôn giỏi, đi thụt lùi mà cứ tưởng mình lên cao. Chưa từng một niệm cải quấy sửa mình, chỉ đưa mắt tai ra nghe ngó lỗi lầm người khác. Cạo đầu cho láng, y áo chỉnh tề, không tu phước Tuệ, mai đây hết báo làm người, những cực hình ghê ghớm của địa ngục, ai người chịu thay? Nhân lành không vun trồng làm sao kết quả tốt? 

Mong làm rường cột trong Phật Pháp, gương mẫu cho hậu lai, mà cứ dần dà để ngày ngày đi qua không tiến bước. Kinh dạy:” Thầy tà bạn ác sợ như hổ lang. Thầy hay bạn hiền quí như cha mẹ. Thấp mình như đất, ngậm miệng như ngu, dẹp sạch thói ta người, bặt dứt tâm ương ngạnh. Nếu cứ lân la gần gũi người ác, tập thấy ác, làm ác, mắc báo ngay hiện đời, chết rồi trầm luân”. 

Cái tâm thương xót nhắc nhở của Tổ Quy Sơn như thế, dù sắt đá cũng phải đổ mồ hôi, huống chi chúng ta có tánh Phật, lẽ nào chẳng ghi lòng tạc dạ, sửa tâm nuôi đức. Trong thắp đèn Bát Nhã, ngoài nghiêm tịnh sáu căn, an định tinh thần mà tự nuôi lớn tâm Phật. Tinh xét nghĩa lý kinh luật, truyền pháp độ sanh, đền ơn Tam-bảo. 

Gánh vác chánh giáo có 2 việc: 

1. Tự thân giới phẩm oai nghi xứng đáng bậc pháp khí. 

2. Xả thân làm việc Phật pháp mong lợi cho muôn loài. Thánh trước Hiền sau, các ngài đều có phần trong Phật quả. Các ngài đã trượng phu, chúng ta cũng cố gắng trượng phu. 

Trông mong đại chúng phát chí quyết liệt, mở rộng lòng dạ theo gót Tổ sư.

 

8. NGÀY 19-06 LỄ ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

 

vTụng kinh Phổ Môn

vSự tích Chúa Ba chùa Hương.

Chân như đạo Phật rất mầu

Trong tâm chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân

Hiếu là độ được song thân

Nhân là vớt hết trầm luân muôn loài.

Thần thông ngàn mắt ngàn tay

Cũng trong một điểm linh đài mà ra.

 

Nay miền bắc nước Nam ta

Phổ Môn có Đức Phật Bà Quan Âm.

Thường chăm kính niệm tại Tâm

Muôn phần linh ứng chẳng sai bao giờ.  

Thuở xa sưa, vua Diệu Trang Vương ở nước Hưng Lâm, không có con trai, lòng thành cầu tự được ba con gái, đặt tên Diệu Thanh, Diệu Âm và Diệu Thiện. Theo thường tình gái lớn gả chồng, vua gả công chúa nhất cho trạng nguyên họ Triệu, công chúa hai cho Quan võ họ Hà. Công chúa ba một mực xin đi tu. Vua cho ở chùa Bạch Tước nhưng gia lệnh các sư phải bắt công chúa làm việc nặng nhọc thật nhiều, hành hạ sao cho nản trí mà trở về cung. Không ngờ công chúa ba mững rỡ được dịp xả thân vì đạo hầu sớm chứng quả. 

Vua tức giận sai đốt chùa giết sư. Chúa cắt tay, lấy máu vẩy lên không trung. Lòng thành cảm động thấu trời, máu biến thành mưa, dập tắt ngọn lửa. Vua càng tức giận, thét quân điệu chúa ra pháp trường sử chém. Ngọc Hoàng Thượng Đế sai thiên thần hoá thành mãnh hổ tha chúa đem vào rừng sâu. 

Công Chúa thiêm thiếp thấy mình theo sứ giả Diêm Vương xuống âm ty, thăm 18 cửa ngục, búa đồng truỳ sắt khảo tra. Chúa ba thương xót trì chú niệm kinh khấn cầu mười phương Phật, 9 phương trời. Bỗng nhiên hào quang loé sáng, gông cùng rơi rụng tan tành, ngục nhân quỷ sứ giải thoát. Vua Diêm Vương mững rỡ đem bảo cái lọng vàng đưa tiễn chúa ba trở về dương thế. 

Chúa ba tỉnh giấc, thấy mình ở trong rừng rú, thanh vắng một bề. Đang khi lo lắng bơ vơ, chợt có một nam tử rẽ lá bước tới, khuyên cô cùng về chung sống. Vì ở đây lúc đêm khuya thì cọp beo rất đáng sợ. Chúa ba nói rằng:” Tôi đã xuất gia, đã quyết một lòng sắt đá không phai”. 

Ai ngờ Phật Tổ Như Lai thử lòng con trẻ. Biết người kiên tâm, Phật thuyết pháp chỉ đường tu, dạy về miền biển phương nam Chùa Hương Tích. Lại đưa cho quả đào tiên, ăn vào hết đói hết bệnh, chứng vô sanh. Ngay lúc ấy thần núi Hương Tích hiện thân hổ tới dẫn đường đưa đi. Bắt đầu từ đấy nguyện ước tu hành thoả mãn. 

Vua cha do hiếu sát mắc trọng bệnh. Phò mã họ Triệu dâng thuốc độc cho vua, nói là thuốc tiên. Phò mã họ Hà đem binh về đòi vua nhường ngôi. Chúa ba hiện thân một Hoà-thượng, mỗi mỗi giúp vua thoát nạn. Trang vương cùng hoàng hậu và chùa Nhất, chúa Hai đồng xuất gia, cùng thành đạo quả.  

Đào trên mây, hạnh trên đời

Cổ cao ba ngấn, miệng cười trăm hoa.

Vẻ thanh trong ngọc trắng ngà

Trăng tròn nét mặt, núi xa dáng mày.

Sắc tuy rằng sánh hạnh đào

Nhưng mà đoan chính trông vào nghiêm trang.

Trẻ thơ mà đã khác thường

Ai ai cũng kính tiên nương dưới trần. 

-   Trí tuệ công chúa siêu việt, thấu rõ quy luật vô thường sắc không, nên không vướng vòng danh lợi.

-   Mục đích tu hành của chúa rõ ràng:

aĐối với bản thân thì: 

May ra siêu thoát tử sanh

Yên tâm cõi Phật vui hình cõi tiên. 

-   Không phải chỉ ở chùa đắp cà sa đã là tu mà cần minh tâm kiến tánh và thể hiện trong cách sống hàng ngày. 

Không trang điểm chẳng chơi bời

Ăn chay niệm phật nói lời từ bi 

Hoặc: 

Bạn cùng gió mát trăng trong

Tự tại một lòng chẳng luỵ trần ai. 

b) Ngài hiểu về chữ hiếu rất là đứng đắn 

Đã hay nghĩa mẹ công cha

Trời cao biển rộng báo đà xứng chưa?

Nhưng tôi khổ hạnh bây giờ

Mai sau cha mẹ nương nhờ được siêu.

Kẻo e nghiệp chướng quá nhiều

Chẳng tai bể khổ cũng nàn sông mê.

-   Vả lại vua cha đốt chùa giết Sư, dễ gì cải hoá, chỉ có một cách là: 

Thân này thành Phật may ra

Hộ nước hộ nhà thì mới có phương,

Giữ chi hiếu nhỏ tầm thường

Giữ điều hiếu lớn là đường báo ân.  

cXúc động trước: 

18 cảnh địa ngục ghê rợn

Chẳng đành con mắt chẳng yên dạ lòng

Ước sao tù ngục trống không

Bao nhiêu khổ quả tội nhân sạch làu. 

- Thành chánh quả, Chúa càng có nhiều phương tiện để thực hành lý tưởng. trước tiến độ cho hai đệ tử, đưa cả gia đình lên toà sen, giác tỉnh cho hai yêu quái Thanh Sư và Bạch Tượng, còn vua Thuỷ Tề cũng kịp thời thoát khổ mắc lưới.

 

- Cả cuộc đời ngài vẫn là một tấm gương sáng ngời phát huy tinh thần đại hùng lực, chánh tinh tấn, để giữ đạo cứu đời. Thân thế ngài chứng minh một sự thật, chỉ có tu hành mới độ được cha mẹ thân quyến, mới đưa được muôn loài ra khỏi những khốn khổ của phiền não chướng, nghiệp chướng và báo chướng. Nghĩa là mới thực hiện hai chữ Hiếu và Nhân một cách trọn vẹn rốt ráo.

 

Ngoài ra sách Nam Hải Quán Thế Âm vẽ con đường nhân quả một cách sâu sắc. Tham sân si, sát đạo dâm đem tai hoạ cho con người thật nặng nề. Bức tranh xã hội được miêu tả rõ nét.

 

Vua Trang Vương hiếu sát:

Hay vì giặc giã đâu đâu

Mà ta giết nó bấy lâu quá nhiều.

Phép binh như lửa cháy đầu 

Há không oan uổng luống tiêu mạng người. 

Rồi vì vô minh sân hận muốn giết cả con gái. 

-   Những cảnh suống cấp đạo lý như con rể  âm mưu cho con rể uống thuốc độc, phò mã họ Hà nhân vua bị nạn đem quân về chiếm ngôi. Ven đường bờ bui yêu ma quỷ quái luôn luôn rình rập hãm hại người lành. Tất cả chỉ vì tranh danh đoạt lợi. Những cảnh như vậy thật tương phản hoàn toàn với nếp sống có bản chất từ bi đạo hạnh trong trắng của Chúa ba. Ngài thật là một đoá hoa sen thơm ngát, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. 

Đoạn miêu tả 18 cảnh địa ngục rùng rơn dài tới 95 câu, là một cảnh cáo nghiêm khắc cho bọn mê si độc ác. Đây cũng thể hiện ước mơ của nhân dân, mong muốn kẻ ác phải bị trừng trị đích đáng. Cho nên thông thường các chuyện cổ tích đều phân minh rõ rệt Ác và Thiện. Người thiện kẻ ác đấu tranh gay gắt. Cuối cùng thiện bao giờ cũng thắng và hưởng hạnh phúc, Ác thì bị trừng trị. 

Còn đây là sự tích ưng thân của Bồ-tát. Lý tưởng Phật giáo theo một hướng khác. Người thiện phải đấu tranh quyết liệt, dù mất thân mạng cũng cam, để bảo vệ đường đi sáng suốt của mình, để đưa kẻ ác trở về thiện chung hưởng an vui. 

Dưới đây là bài thơ của danh sĩ Chu Mạnh Trinh vịnh cảnh Chùa Hương Tích núi Hương Sơn ở Phủ Lý tỉnh Hà Nam Bắc Việt, nơi Chúa Ba tu thành chánh quả.

 

Bầu trời, đất Bụt!

Cảnh Hương Sơn ao ước bấy lâu nay!

Kìa non non, nước nước, mây mây.

Đệ nhất động, hỏi rằng đây có phải?

Thỏ thẻ rừng mai, chim cúng trái.

Lững lờ khe nước cá nghe kinh.

Thoảng bên tai một tiếng chầy kình.

Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.

Này suối Giải Oan, này Chùa Giải thoát.

Kìa am Phật Tích, kìa động Tuyết Kinh.

Nhác trông lên, ai khéo hoạ hình

Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.

Thăm thẳm có hang lồng bóng nguyệt

Gập ghềnh mấy lối bước lên mây

Chừng giang sơn muốn đợi ai đây?

Nên tạo hoá khéo ra tay xếp đặt.

Lần tràng hạt niệm nam mô Phật

Của từ bi đón khách trần lao.

Viên thông tự tại ra vào

Bồ-đề sẵn có ai ơi mau về(7)

 

100 quả núi trầu về một động. Chúa Trịnh dâng cúng biển đề:” NAM THIÊN ĐỆ NHẤT ĐỘNG”. Lối vào là một dòng suối rộng thênh thang. Nước trong xanh mát, lăn tăn sóng bạc. Đò vào đò ra, chào nhau vang lừng Nam Mô Quán Thế Âm Bồ-tát. Hai bên bờ suối núi xanh chạy dài ven núi, khiến chốn sơn lâm thăm thẳm mênh mông vắng vẻ, đượm làn không khí yên ổn thái bình. Không một nhà tại gia, không một thuyền đánh cá. Trùng trùng điệp điệp núi rồi lại núi. Ngoài những ngôi chùa trang nghiêm lẫm liệt, còn ẩn trong cây cao lá thắm, không biết bao nhiêu những am nho nhỏ, vàng son vui vẻ, như những thiên thọ vương nở hoa. Đâu đâu cũng chỉ thờ Phật bà Quán Thế Âm.

 

Từng đàn cò trắng bay qua. Bao la là những rừng mơ, cả ngàn cây số, hoa trắng muốt màu tuyết, trái mịn vàng đỏ tươi, vị vừa ngọt vừa chua dịu dịu. Hoa cũng thơm trái cũng thơm. Đầu xuân toàn hoa, cuối thu trái chín. Hương thơm bát ngát ướp cả bầu trời. Dân gian giản dị đặt tên cả vùng là núi thơm ( hương sơn)

 

Mặt đất đầy rau sắng, lòng đất sẵn củ mài. Vị ngon chất bổ hai thứ thổ sản đặc biệt chỉ Hương Sơn có, để cúng dường người tu. 

 

9.TÍN NGUYỆN LỰC.

 

Sách Thần Tăng chép: Gã Vinh Kha rượu thịt nặng nề. Một hôm đọc Vãng Sanh Truyện. Đọc xong một truyện, gật đầu một cái. Nhờ nhân lành này về sau đủ duyên tu hành. Nghe Phật A Di Đà dạy:” Mười năm nữa ngươi sẽ được vãng sanh”. Kha bạch:” Ta Bà uế trược, chánh niệm dễ mất. Nguyện con sớm về Tịnh-độ, phụng sự Thánh Hiền”. Quả nhiên ba hôm sau, Kha nhẹ nhàng vãng sanh. 

Tâm động một niệm là đã gieo một hạt giống trong mười pháp giới. Vậy mà có thể không trân trọng mỗi khi khởi niệm sao? Một tấc quang âm là một tấc đời sống. Vậy mà không mến tiếc sao? Niệm niệm chấp trì danh hiệu Phật là không uổng phí tinh thần cũng không uổng phí thời giờ. Làm phước cầu phước cũng là lãng phí như đem bảo châu như ý đổi lấy manh áo chén cơm. Huống chi còn buông lung ba nghiệp đến nỗi đoạ lạc tam đồ, đau xót bao nhiêu! Một niệm danh hiệu Phật tiêu 80 ức kiếp sanh tử trọng tội. Đã về tới cõi Phật rồi, bao nhiêu gốc ngọn sanh tử diệt hết, Đã cùng các bậc thượng thiện chung hội thì chỉ một đời thì nhất sanh bổ xứ. Xin quý học giả để tâm chiêm nghiệm mà lựa chọn đường đi. 

Một người nghèo xa nhìn thấy xâu tiền, vội tới nhặt. Nhưng cầm vào tay lại là con rắn, vội vứt đi. Kẻ khác thấy tiền lấy xài. Ta thấy căn thân ngoại cảnh cũng như thấy tiền ra rắn. Rắn duy tâm hiện mà cắn chết người. Tiền duy tâm hiện mà đem no ấm an vui cho người. Ta Bà nhơ uể đau khổ , An Lạc vi diệu thanh khiết, đều duy tâm hiện. Nhưng khổ Ta Bà từ khổ về khổ, không biết đến bao giờ mới hết khổ. Còn vui Tịnh-độ đi mãi về vui, cho tới ngày vĩnh viễn an vui. 

Kinh nói nghiệp lực khó nghĩ bàn. Nhưng nghiệp lực không tự tánh, toàn mượn tâm mà có. Dùng trọng tâm tu tịnh nghiệp quyết định vãng sanh. Như cổ đức có một vị mạng chung, chư thiên đem âm nhạc tới rước. Ngài nhất định không đi, một lòng niệm Phật cầu về Tịnh-độ. Thân tứ đại lúc sắp phân tán, đau khổ biết ngần nào. Cảnh trời lục dục hấp dẫn biết ngần nào? Nếu tin không sâu, nguyện không thiết, sức không kiên, ở hoàn cảnh này làm sao tự chủ? 

Ta thường nghe nói:” Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh-độ”. Cái tâm tánh này, Phật và chúng sanh bình đẳng. Phật đã ngộ tâm này như người tỉnh thức. Chúng sanh mê tâm này như người đang chiêm bao. Hết chiêm bao, người mộng chính là người tỉnh. Ước về chỗ duyên sanh vô tánh thì Phật và chúng sanh bình đẳng nhất không. Ước về vô tánh duyên sanh thì 10 pháp giới khác nhau một vực một trời. Vua A Dục lúc lâm chung, kẻ hầu cận làm rớt cái quạt vào mặt. Vua nổi giận. Ngay niệm sân ấy ắt tắt hơi đoạ làm thân rắn. Một mụ ăn xin qua sông, bị sẩy tay rớt con xuống nước. Vì cố vớt con nên mẹ cũng chết chìm. Niệm thương con đưa mụ lên trời. Một niệm lúc lâm chung này không thể cầu may mà được. Hàng ngày TÍN-NGUYỆN-HÀNH phải tập cho thuần thục để đủ lực đối phó với những bất ngờ. Những bất ngờ dĩ nhiên phải có trong kiếp sống vô thường, vô ngã của chúng ta.

 

10.  LỜI NÓI TRONG GIÓ

 

Từ các trường học xa xôi cùng tột, lấp lánh trong ánh tuyết nước Nga cho đến các nóc trường hẻo lánh, ẩn trong đồi sử Ả Rập. Từ những ngôi đại học to lớn nước Anh ở phương Bắc, sinh hoạt trong sương mù đến những trường tiểu học bé con của lũ trẻ da đen Phi Châu cháy nắng. Có tới triệu triệu đứa trẻ đang đi học. Những tổ kiến học sinh này, ngàn vạn dân tộc khác nhau, đang phấn khởi tinh thần đi lên. 

Ví phỏng một lý do gì khiến sự sinh hoạt này ngừng lại, thì đó lại là tai hoạ lớn cho quả địa cầu, vì nhân loại sẽ trở về mọi rợ. Thế giới sẽ sa vào tối tăm. Hoạt động của học sinh là tiến bộ, là hi vọng, là ánh sáng vinh quang của văn minh. Mỗi học sinh là một tên lính nhỏ trong đạo quân hùng vĩ. Lấy sách vở làm khí giới. Trường học là quân đội. Coi ngu dốt là thù địch. Văn minh nhân loại là khúc khải hoàn. 

Hỡi các học sinh phấn đấu! Hãy cố gắng phấn đấu! Như mặt trời phấn đấu, xoá tan đêm tối, đem ánh sáng cho muôn loài. 

Được đọc bài trên đây ở cuốn” Tâm hồn cao thượng”. Thầy choàng dậy, nghĩ tới mùa hạ của chúng ta sắp chấm dứt. 

Cành cành lá lá tiếp nối không ngừng,

Tổ đường rực rỡ chánh pháp xương minh.

 

Chánh pháp của chúng ta xương minh chính nhờ mùa hạ! 

-   Các con có hôm nào để chút thời gian suy nghĩ Hạ là gì không?

-   Phàm lập Pháp nếu gắt gao thì ít người theo kịp. Nên thế gian mỗi năm có 12 tháng, Đức Phật chỉ bắt chúng ta 3 tháng quyết định phải an cư, thân tâm đều chuyên nhất. Phải ở trong một đoàn thể đồng chí hướng, để cùng nhau sách tấn tu học. Ai không theo lệnh này gọi là phạm giới. Chúng ta không an cư, không thể gọi là Tăng. Bởi vì an cư là Tu, là Chứng, là nhập thánh siêu phàm. Cho nên bao nhiêu người vì chúng ta mà bận rộn, Phật tử khắp các nơi rủ nhau đem lễ phẩm, kính cúng dường người kết hạ. 

Thương cho chúng ta đâu có biết, kể từ lúc tác bạch an cư, bách thần lo lắng giữ gìn, các Bồ-tát đăm chiêu tìm phương tiện ủng hộ. Bởi vì mùa hạ này có thể vĩnh viễn xoá tên chúng ta trên con đường dài sanh tử. Bởi vì mùa hạ này, chúng ta có thể vĩnh viễn không còn số phận phải làm thân ngựa ngậm hàm sắt, kéo xe đền nợ tín thí như những kiếp luân hồi sanh tử vừa qua. Mùa hạ này, chúng ta có thể chuyển được địa vị. Đầu hạ còn là phàm, cuối hạ đã chứng thánh quả, tất cả đều ở chúng ta. Nếu miên mật dụng công, không nhiều thì ít, chúng ta sẽ có phần trên đền đáp hồng ân đức Phật, dưới đem mừng rỡ cho muôn loài. 

Còn nếu cứ vẩn vơ, mặc cho mùa hạ trôi qua, tâm hồn chỉ để lo chấp ta, chấp người. Một bụng chứa toàn tham sân si. Một lồng ngực thở ra tranh chấp, thở vào ta hay, thì hôm nay tự tứ, mai Vu lan, chúng ta chỉ có phần một gói quà hay vài cuốn tập... 

Viết tới đây, tu sĩ già bệnh mệt quá, phải trở về dường nằm, niệm đức Quán Thế Âm cho tĩnh thần tĩnh trí. 

Khoẻ một chút, Thầy ngồi dậy cầm bút viết tiếp để gởi mấy con. 

Đức Phật đại từ đại bi không bức thiết đệ tử. Một năm 12 tháng, ngài chỉ bắt buộc Tăng ni an cư 3 tháng. Ngoài ra tuỳ duyên tuỳ phước của mỗi người mà tự lo giải thoát. Chùa chúng ta nhờ thiện căn phước đức, đại chúng được an cư cả 12 tháng. Nay ba tháng hạ đã lỡ, vậy mùa Thu Đông sắp tới ( Chùa ta gọi là mùa y công đức), chị em ráng phấn đấu! Cố gắng phấn đấu! 

Hỡi hỡi các vị đã phát tâm Bồ-đề! Chúng ta quyết tâm giác tỉnh, đẩy màn vô minh, quyết đem thân ra khỏi mệnh cọp sanh, già, bệnh, chết. Mỗi tu sĩ là một tên lính trong đạo quân hùng vĩ ở khắp pháp giới của Như Lai. Kinh Pháp là vũ khí. Chùa chiền là nơi rèn luyện. Vô minh là thù địch. Giải thoát là khúc hải hoàn. Hỡi các học sinh phấn đấu! Cố gắng phấn đấu! Mong rằng Giới Định Tuệ của các con đem ánh sáng cho muôn loài, muôn đời vị lai. 

Mong rằng lời nói run rẩy này, xuyên qua được rừng cây khe lá, theo gió tìm đến tai các con. 

Thầy viết ngày 22-06 âm lịch 1992  khi vừa ra khỏi bệnh viện Chợ Rẫy.

 

 

11.CHƯƠNG TÁN HẠ

 

Mùng 8:  Tạ pháp và tạ ban chức sự

Mùng 9:   Tác pháp sám ma.

10 – 11 :  Từng cá nhân y luật sám hối.

12 – 13 :  Từng cá nhân đối đại chúng thỉnh tự tứ. Từ lớn đến nhỏ tuỳ ý cử lỗi.

Tuổi 13 :  Lễ đức Đại Thế Chí Bồ-Tát

Ngày 14 : Tác pháp tự tứ theo nghi lễ thông thường.

Sáng 15 :  Đại lễ Vu Lan.

Chiều 15 : Chia Vật Tăng.

Sáng 16 :  Thọ Y công đức.

Chiều 16 : Đại đàn thí thực.

17 -18 :     Khánh tuế giới sư.

 

 

 

11.  NGÀY 13-07 LỄ ĐỨC ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT

 

TÁN

 

Tánh giác linh minh

Tịnh chiếu chân thường.

Xưa mê nay ngộ thật tỏ tường.

Tam-bảo từ đường,

Đảnh lễ cúng dường

Một nén tâm hương.

Nhẫn độ, Thích Ca pháp tôn vương!

An lạc, Di Đà đại nguyện vương!

Liên tông các Tổ tận lực hoàng dương.

Ao sen thơm ngát, hải hội Tây phương.

Duy nguyện giáng cát tường,

Pháp giới hằng thanh lương.

 

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ:

 

-   Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (1 lễ) 

-   Nam mô An Lạc thế giới, Phật Bồ-tát bao nhiêu kinh pháp, cho đến nước chim gió cây...tất cả pháp âm, thanh tịnh pháp tạng ( 1 lễ). 

-   Nam mô đại thừa 48 nguyện, Vô Lượng Thọ kinh, mười phương 12 loại Tịnh-độ pháp bảo (1 lễ) 

-   Nam mô An Lạc thế giới Quán Thế Âm Bồ-tát (1 lễ) 

-   Nam mô An Lạc thế giới Đại Thế Chí Bồ-tát (1 lễ) 

-   Nam mô An Lạc thế giới, Thanh Tịnh đại hải chúng Bồ-tát (1 lễ)  

Ø                   Liên tông sơ Tổ, Lô Sơn Đông Lâm, Bạch Liên đạo tràng, HUỆ VIỄN đại sư. 

Ø                   Liên tông nhị Tổ, Trường An, Quang Minh đạo tràng, THIÊN ĐẠO đại sư. 

Ø                   Liên tông Tam Tổ , Nam Nhạc, Bát Chu đạo tràng, THỪA VIỄN đại sư. 

Ø                   Liên tông tứ Tổ, Trường An, Ngũ Hội đạo tràng, PHÁP CHIẾU đại sư. 

Ø                   Liên tông ngũ Tổ, Hàng Châu, Vĩnh Minh đạo tràng, DIÊN THỌ đại sư. 

Ø                   Liên tông thất Tổ , Chiêu Khánh, Tịnh Hạnh đạo tràng, TĨNH THƯỜNG đại sư. 

Ø                   Liên tông bát Tổ, Hàng Châu, Vân Thê đạo tràng LIÊN TRÌ đại sư. 

Ø                   Liên tông cửu Tổ , Bắc Thiên Mục, Linh Phong đạo tràng, NGẪU ÍCH đại sư. 

Ø                   Liên tông thập Tổ, Ngưu Sơn, Phổ Nhãn đạo tràng, HÀNH SÁCH đại sư. 

Ø                   Liên tông thập nhất Tổ, Hàng Châu, Tiên Lâm đạo tràng, THẬT HIỀN đại sư. 

Ø                   Liên tông thập nhị Tổ, Hồng Loa, Tư Phước đạo tràng, TRIỆT NGỘ đại sư. 

Ø                   Liên tông thập tam Tổ, Tô Châu, Linh Nham đạo tràng, ẤN QUANG đại sư. 

Ø                   Liên tông Việt Nam, Vạn Đức đạo tràng, HÂN TỊNH đại sư. 

Ø                   Liên tông Việt Nam, Bồ-đề đạo tràng, TUỆ NHUẬN đại sư. 

Ø                   Liên tông Việt Nam, Hương Nghiêm đạo tràng, THIỀN TÂM đại sư. 

Ø                   Liên tông Việt Nam, tiền hiền hậu bối liệt vị Tổ sư. 

 

SÁM HỐI

 

Quy mệnh mười phương Phật,

Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng,

Tam Thánh cõi Cực lạc

Xin thương xót chứng minh.

Vô thuỷ kiếp đến nay,

Con mê lạc luân hồi,

Do bởi tham, sân, si,

Từ nơi thân miệng ý,

Tạo 4 trọng, 5 nghịch,

Mười ác vô biên tội.

Nay đem tâm chí thành

Tỏ bày cầu sám hối.

Nguyện nhờ sức gia trì

Chúng con đều thanh tịnh,

Phát đại Bồ-đề tâm,

Độ mình, người giải thoát.

 

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ-tát ma-ha-tát ( 3lần)

Sám hối phát nguyện rồi, chí tâm đảnh lễ A Di Đà Phật biến giới Tam-bảo (1lễ)

 

 

 

Ý NGHĨA DANH HIỆU ĐẠI THẾ CHÍ BỒ-TÁT 

 

Đại : lớn, Thế : thế lực, Chí : đến. 

ĐẠI THẾ CHÍ : là một bậc có thế lực lớn đến đây. Kinh dạy: Mỗi bước chân của Bồ-tát rung động cả trái đất. Ngài đi tới đâu, tạng thức chúng sanh ở nơi đó liền bị rung động. Các địa ngục, ngã quỷ, bàng sanh được giác tỉnh mà giải thoát đau khổ báo. Ánh sáng trí tuệ có mãnh lực soi tan vô minh từ luỹ kiếp. 

Chúng ta đảnh lễ đức Quán Thế Âm thân tử kim muôn ức. Thân màu vàng kim rực rỡ trang nghiêm là tướng phước báu đã từ bi tầm thanh cứu khổ. Còn đức Đại Thế Chí Bồ-tát được ca ngợi là thân trí sáng vô biên vì trí tuệ quang minh của ngài chiếu khắp pháp giới. 

Đức Đại Thế Chí và đức Quán Thế Âm đều là pháp thân Bồ-tát, báo thân ở Cực Lạc thế giới, hầu cận Phật A Di Đà. Các chùa thường thờ 3 vị gọi là Tây phương tam Thánh. 

KINH BI HOA: Vua Vô Tránh Niệm có 1000 con. Vua xuất gia sau thành Phật A Di Đà. Các thái tử đều theo cha đi tu. Vị lớn nhất là Quán Thế Âm Bồ Tát. Vị thứ hai là Đại Thế Chí Bồ Tát. 

Việt Nam thờ hình tượng đức Đại Thế Chí Bồ-tát, trên mũ có vẽ cái bình gọi là bình Trí Tuệ. Tay cầm hoa sen vì ngài có nguyện tiếp người niệm Phật vãng sanh Tịnh-độ. 

Trong kinh Lăng Nghiêm, các Thánh trình bày sự tu hành, có vị tu về căn mắt, có vị tu về căn mũi. Đức Quán Thế Âm tu về căn tai, đức Đại Thế Chí tu về kiến đại nghĩa là cả sáu căn. 

 

KINH LĂNG NGHIÊM

CHƯƠNG ĐẠI THẾ CHÍ NIỆM PHẬT 

Ngài Đại thế Chí, con đấng Pháp-vương, cùng 52 vị đại Bồ-tát đồng hành với ngài, đứng dậy đập đầu lễ dưới chân Phật, mà bạch Phật rằng: Con nhớ xa xưa, có Phật ra đời, hiệu ngài gọi là Phật Vô Lượng Quang. Mười hai Như Lai cùng nối đuôi nhau ra trong một kiếp, Như Lai cuối cùng hiệu ngài gọi là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Ngài dạy con pháp” Niệm Phật Tam Muội”. Ví như hai người: một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế dù có gặp nhau cũng như chẳng gặp, dù có thấy nhau cũng như chẳng thấy. Vậy hai người phải cùng nhớ tới nhau rất là thâm thiết, cứ như thế mãi, cho hết kiếp này, lại sang kiếp khác, như bóng với hình chẳng hề rời nhau. 

“ Mười phương Như Lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, nếu con trốn chạy, thì mẹ dẫu nhớ cũng có làm gì được. Nếu con nhớ mẹ, như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng rời xa nhau”. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật Niệm Phật, đời này đời sau quyết định thấy Phật, cách Phật chẳng xa. Chẳng nhờ đến pháp phương tiện nào khác, mà cũng khai ngộ được tâm của mình. Như người ướp hương, thân có mùi hương. Pháp này gọi là Hương Quang Trang nghiêm”. Chỗ bản nhân con dùng tâm niệm Phật vào vô sanh nhẫn. Nay ở cõi này, tiếp người niệm phật về nơi Tịnh-độ. Phật hỏi viên thông, con không chọn lựa, con chỉ thu nhiếp tất cả sáu căn, chuyên một tịnh niệm, nối nhau liền liền, được vào chánh định, ấy là đệ nhất. 

Niệm Phật-Hồi Hướng-Tam Quy.

 

12.  CHƯƠNG TRÌNH TỰ TỨ

-   Lễ Phật-Lễ Tổ

-   Đại chúng quỳ nghe giáo sắc của đại Tăng.

-   Thông kiểm số chúng.

-   Tụng kinh” Tự tứ Thanh Lương”.

-   Yết ma:

a)Sai người thọ tự tứ.

b)Bạch pháp hoà Tăng tự tứ.

c)Yết ma nhận vải may y công đức.

Vấn hoà yết ma sai người chia vật. Đã sai người rồi, không cần vấn hoà nữa, yết ma giao vật để chia( xem Yết Ma Chỉ Nam)

-   Đọc bài “Ý nghĩa tự tứ”.

-   Thượng toà đối thú tự tứ.

-   Sư cô thọ sai cho chúng tự tứ.

-   Đọc bài “ Huấn từ tán hạ”.

-   Bát Nhã-Hồi Hướng-Tam Quy.

 

  

14. KINH TỰ TỨ THANH LƯƠNG 

Tôi nghe như vầy: Một thời Phật ngự tại Thành Vương xá, trong rừng Trúc Lâm, vườn Ca Lan Đa, cùng với 500 đại Tỳ-kheo đồng an cư mùa mưa. 

Bấy giờ vào ngày 15 cuối hạ, đại chúng tự tứ thay vì Bồ-tát. Tôn giả Xá Lợi Phất đứng dậy sửa y , chắp tay bạch Phật: 

Bạch Thế Tôn, Vô-thượng Y Vương! Ai chưa điều ngự, chưa tịch tịnh khiến cho tịch tịnh, chưa giải thoát khiến cho giải thoát, chưa đắc đạo khiến cho đắc đạo, chưa tu tập phạm hạnh khiến cho tu tập phạm hạnh. Thế Tôn là bậc tri đạo, giác đạo, thức đạo, thuyết đạo. 

Chúng con là con của Phật, thọ sanh từ miệng Phật, hoá sanh từ Pháp Phật. Phật dạy chúng con:” Các Tỳ-kheo hãy nhắc nhở lẫn nhau, sám hối lẫn nhau:. Hôm nay ngày tự tứ, lãnh thọ khuyến giáo, lãnh thọ khiển trách. Đệ tử chúng con vâng theo lời dạy, nhất hướng tu hành. Do đây chúng con sẽ được tự tại như ý, khéo biết rõ chánh pháp. 

Bạch thế Tôn, đối với thân khẩu ý hành của Xá Lợi Phất con, Thế Tôn có phiền gì chăng? 

-Này Xá Lợi Phất! Ta không phiền gì đối với thân, khẩu, ý hành của Thầy. Vì Thầy đã Thành Tựu Thật Tuệ. Ví như Thái Tử không dám phạm lời khuyên dạy, bái lãnh sự truyền thừa của phụ vương và sau này có thể truyền thừa lại. Nay Xá Lợi Phất, ta chuyển vận pháp luân, Thầy cũng có thể chuyển vận Pháp Luân. 

Này xá lợi Phất! Ta không phiền gì về thân, khẩu, ý hành của Thầy. 

- Bạch Thế Tôn, ngài có phiền gì về thân khẩu ý hành của 500 thầy Tỳ-kheo chăng? 

- Này Xá Lợi Phất, các Tỳ-kheo này đều đã chứng đắc vô trước, dứt trừ các lậu, phạm hạnh đã vững, việc làm đã xong, hữu kết đã tận, gánh nặng đã đặt xuống. Các Tỳ-kheo này đã đạt được thiện nghĩa chánh trí, chánh giải thoát. Này Xá Lợi Phất, ta không phiền gì về thân khẩu ý hành của 500 Thầy Tỳ-kheo. 

Tôn giả Xá Lợi Phất, lần thứ ba chắp tay hướng về Thế Tôn: Bạch Thế Tôn! Trong số 500 Tỳ-kheo đây, bao nhiêu vị đã đạt tam minh, bao nhiêu vị đã chứng đắc câu giải thoát, bao nhiêu vị đã chứng đắc tuệ giải thoát? 

-Này Xá Lợi Phất! 90 vị đã đạt tam minh, 90 vị đã chứng câu giải thoát. Còn bao nhiêu đều đã được tuệ giải thoát. Trong chúng không có hạt lép, chỉ có toàn hột chắc.

Khi ấy Tôn giả Bàng Kỳ Xá đứng dậy trịnh vai áo chắp tay: 

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn gia trì cho con thêm uy lực! Để ở trước Phật và đại chúng, con được tụng lời tán đúng nghĩa. 

-   Này Bàng Kỳ Xá! Thầy cứ tuỳ ý. 

 

Hôm nay ngày rằm tự tứ.

Hội hoa Tăng chúng 500,

Đoạn tận buộc ràng, kết sử

Đồng chứng vô ngại, vô sanh.

Thanh tịnh người quang minh

Giải thoát tất cả hữu,

Dứt sanh, lão, bệnh, tử.

Lậu diệt, việc làm xong.

Trạo hối và nghi kết,

Mạn, hữu lậu đã trừ.

Nhổ tuyệt gai ái dục,

Thành vô thượng y sư.

Dõng mãnh như sư tử,

Sợ hãi đã dứt trừ,

Đã vượt qua sanh tử,

Diệt lậu tận, vô dư.

Ví như Chuyển Luân Vương

Quần thần vây chung quanh,

Thống lãnh toàn trái đất,

Cả đại dương vô cùng.

Đấng đại hùng tối thắng

Bậc thượng trí thượng tôn,

Ai cung kính sẽ được

Tam minh, ngoài tử sanh.

Tất cả đại chúng đây

Phạm hạnh đã thành lập,

Chuyển pháp luân vô thượng

Đảnh lễ đức Thế Tôn.

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)

 

 

15. Ý NGHĨA TỰ TỨ 

Tự là tự mình. Tứ là tha hồ. Trải thân đảnh lễ cầu thỉnh mọi người, hoặc thấy hoặc nghe hoặc nghi, xin tận tình chỉ bảo. Ta biết lỗi sám hối, khiến thân tâm được hoàn toàn thanh tịnh. 

Nhân duyên: Một trụ xứ, chúng Tỳ-kheo an cư, tự đặt luật lệ, không cùng nhau nói, để được tuyệt đối an tĩnh. Phật dạy:” Ngu si lấy hại làm lợi. Sống chung với nhau như oan gia. Ta vô số phương tiện dạy các Tỳ-kheo phải dạy dỗ nhau, nghe lời nhau, giác ngộ lẫn nhau. Nếu hành pháp câm, phạm đột-cát-la”. 

Bộn Lục Quần liền cử tội thanh tịnh Tỳ-kheo. Phật dạy: Muốn cử lỗi ai, trước phải cầu nghe, đến người đó phân tích minh định lỗi lầm. Nếu họ chịu sám hối thì thôi. Nếu không nghe mới cử tội. 

Lục Quần lại đến thanh tịnh Tỳ-kheo cầu nghe. Phật bảo: Muốn cầu người ta nghe, chính mình phải đủ năm pháp: 

1)                   Phải thời, không được phi thời. Không nên cầu người đang bệnh hoặc đang sân nghe chỉ lỗi. 

2)                   Chân thật, không được hư dối. Thật có lỗi lầm, không do vu báng. 

3)                   Lợi ích, không dùng vô ích. Việc cần đáng nói mới nói, không lèm bèm vụn vặt, hão huyền. 

4)                   Mềm mỏng hoà nhã, không dùng lời thô tháo, cứng xẵng. 

5)                   Từ tâm không dùng sân giận, chân thật xây dựng không vì hiềm thù. 

Các Tỳ-kheo đủ năm pháp cầu Lục Quần nghe, Lục Quần không nghe. Phật dạy:” Từ nay an cư xong, phải tự tứ”. 

Cho ngăn tự tứ nếu phi pháp. Ngày tự tứ không nên cầu nghe, vì người tự tứ chính đương thỉnh chỉ lỗi. Phật bắt buộc trước phải sám hối tất cả lỗi lầm cho thanh tịnh, rồi sau mơi tự tứ. 

Nên chọn nơi đất trống, ngồi trên cỏ mà tự tứ. Ở đất trống nêu biểu sự thẳng thắn, không che đậy tội lỗi. Vì sao ngồi trên cỏ? Đức Như Lai nửa đêm vượt thành xuất gia, vào núi học pháp ngoại đạo, sáu năm khổ hạnh, chẳng được ích gì. Ngài bèn xuống sông Ni Liên tắm rửa rồi lên gốc Bồ-đề ngồi kết già. Có tên Cát Tường đang cắt cỏ tại đó, thấy thế vội đem dâng cỏ để ngài làm toà ngồi. 49 ngày sau Ngài chứng Vô-thượng Bồ-đề. 

Chúng ta ngày nay căn tánh kém cỏi lười biếng. 90 ngày an cư đi qua, đã không chứng thánh quả còn đầy lỗi lầm. Dù đã sám hối vẫn trải cỏ ngồi trên đất trống, vâng lời Phật, sạch lòng, kính cẩn cầu người mắt sáng theo chỗ thấy nghe nghi chỉ rõ những thiếu sót. 

Rửa sạch ba nghiệp, sáu căn thanh tịnh, làm sao pháp nhãn chẳng khai mở để thân chứng diệu tịnh minh tâm. 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

16. HUẤN TỪ NGÀY TÁN HẠ 

Mùa hạ mưa nhiều, chư Tăng đi khất thực vất vả, ướt lạnh, có khi nguy hại tới sức khoẻ mạng sống. Lại thêm côn trùng sâu kiến sinh sản rất nhiều, khó tránh tội sát sanh. Nên Phật dạy Tăng ni mùa hạ phải nhóm họp một chỗ tịnh tu, y chỉ những bậc tiên giác thượng toạ. 

Ba tháng chuyên tu giới định tuệ. Thượng căn chứng qủa, trung căn hàng chục phiền não. Dù hạ căn mà giới luật thanh tịnh cũng tăng tấn đạo nghiệp. Nên Tỳ-kheo lấy kết hạ làm tuổi, gọi là hạ lạp.Niên thiếu Tỳ-kheo chưa đủ năm hạ phải y chỉ. Ai chưa đủ 12 hạ không được phép làm thầy. Trong khoá an cư, ai không được sự chấp thuận của đại chúng mà bước chân ra ngoài đại giới gọi là phá hạ, nghĩa là mất tuổi. Nên ngày rằm tháng bảy, lễ tán hạ là ngày Tăng nhận tuổi, là ngày khánh Tuế của thiền môn. 

Cũng gọi là ngày Tăng tự tứ vì sau ba tháng an cư, mỗi vị tự kiểm điểm mình để sửa lỗi. Có một ngày sám hối chưa đủ, còn phải đặc biệt thêm một ngày, thỉnh cả đại chúng, ai có thấy nghe nghi điều gì, cũng xin chỉ dạy, để như pháp sám hối. Thế thì toàn chúng hẳn phải thanh tịnh. Đã thanh tịnh hẳn được giải thoát. Được giải thoát là đáp đúng với bổn hoài độ sanh của chư Phật. Nên ngày ấy còn có tên là ngày chư Phật hoan hỷ. 

Ai thanh tịnh luân 3 tháng được thọ y công đức, được hưởng năm quyền lợi đặc biệt. Nên ngày thọ y công đức gọi là ngày thưởng thiện phạt ác. 

Lại nữa, theo kinh Vu Lan, Phật dạy ngài Mục Kiền Liên phải đợi Tăng tự tứ, đem cúng dường phẩm vật để cứu khổ treo ngược cho cha mẹ và cửu huyền thất tổ. Khổ treo ngược là khổ địa ngục. Khổ địa ngục còn cứu được huống chi các khổ khác. Nên ngày rằm tháng bảy là ngày xá tội vong nhân. Ngày những người con cứu khổ cha mẹ vì gặp được phước điền thanh tịnh. Nên có tên là ngày báo hiếu. 

Vì 3 tháng an cư, công đức lớn như thế nên an cư là luật quan yếu. Tỳ-kheo không an cư, dù trọn đời cạo tóc đắp y trì giới, vẫn gọi là phá giới. Nhóm họp an cư mà không kỷ luật chân chính, gọi là tặc trụ, tội không nhỏ. Tỳ-kheo dù thông hiểu Phật Pháp, dù đã chứng quả mà chẳng an cư, cũng phạm tội không kính thánh giáo. 

Chúng ta từ lịch kiếp nghiệp chướng nặng nề, đã trôi lăn mãi trong tam đồ lục thú. Nay nhờ thiện duyên được gặp Phật Pháp Tăng, được xuất gia, biết phát tâm Bồ-đề. Lại đủ phước viên mãn 3 tháng an cư. Chúng ta nên tự khánh tự mừng, phấn khởi trên con đường tự giác, giác tha, cho bản thân giải thoát, cho cha mẹ lục thân mong chờ, cho quốc gia xã hội nương đức, cho xứng đáng ngôi lục hoà thanh tịnh. Trong kinh Vu Lan, Phật đã đích chỉ Tăng già là nơi trồng cây độc nhất của vạn loài. 

 

17.LỄ VU LAN 

SÁNG 

-   Tụng kinh Vu Lan

-   Diễn từ bạch lễ Vu Lan.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

Trong khung cảnh trang nghiêm của đạo tràng Liên Hoa, con xim phép trình bạch những cảm nghĩ về Vu Lan, một ngày lễ trọng đại của Phật Giáo. 

Cách đây hơn 2500 năm, thái tử Tất Đạt Đa, vì thấy bốn cảnh khổ sanh, già, bệnh, chết đã quyết tâm xuất gia tìm đạo, một trường hợp thoát tục phi thường, có một không hai trong lịch sử. 

Sau khi phấn đấu mãnh liệt với bao gian khổ, đơn độc tham thiền nhập định trên núi Tuyết, ngài đã ngộ đạo giải thoát. 

Suốt 49 năm thuyết pháp, ngài căn dặn các đệ tử lấy giới luật làm Thầy. Ngài để lại cho thế gian một kho tàng pháp bảo thâm sâu, vi diệu. Nhờ đây tất cả chúng sanh, kẻ còn người mất, đều được hướng dẫn lên đường an vui lợi lạc. 

Hai giáo lý nghiệp báo và tái sinh, có liên hệ mật thiết với nhau. Đời sống hôm nay là kết quả của những hành động quá khứ. Tương lai sẽ là những kết quả của những hành động hiện tại. 

Trong bức tranh 12 nhân duyên. Phật dạy khoen “HÀNH” vẽ ông thợ đồ gốm đang nặn chiếc bình. Bình là kết quả theo ý muốn của ông thợ, theo hai bàn tay khéo léo hoặc vụng về của ông mà ra. Nghiệp cũng vậy, thường xuyên thay đổi theo tâm biến hoá: Một ác nhân ngày hôm nay có thể trở thành thánh nhân ngày mai. Một người tốt có thể vì một lý do nào đó, trở thành tội nhân. 

Dòng sông nghiệp lực còn được cung cấp bằng những khối nước bùn lầy tham, sân, si còn tiếp tục chảy. Tái sinh là kết quả tất nhiên của nghiệp lực. Ví như ánh sáng đèn điện, bóng đèn vỡ ánh sáng tắt, nhưng vì điện lực không mất, nên ánh sáng trở lại với một bóng đèn khác. Thân chúng ta dù tan rã, nghiệp lực còn tồn tại, hẳn còn tái sinh. Vòng luân hồi chỉ ngừng khi ta không tạo nghiệp. 

Tóm lại quả khổ chuyển theo nghiệp, nghiệp chuyển theo tâm. Chỉ cần soi sáng con tâm là hết khổ. Vì thế chỉ có ánh sáng giác ngộ của Tam-bảo là cứu tinh độc nhất của muôn loài. Tam-bảo thường trụ ở thế gian nhờ Tăng Ni kế tiếp truyền dăng. Chúng sanh nương Tam-bảo thoát khổ, tiến lên quả vị Thánh Hiền cho đến thành Phật. Vì vậy tronh kinh Vu Lan, Phật đích chỉ: Tăng chúng hoà hợp thanh tịnh tự tứ, là năng lực duy nhất có thể cứu khổ tam đồ  và mở cửa giải thoát cho cả lục đạo luân hồi. 

Lễ Vu Lan làm sáng tỏ chân lý” Nhất thiết duy tâm tạo”. Công đức chư Tăng thanh tịnh cùng với tấm lòng hiểu thảo chí thành của Phật tử chúng con, cảm thông đến những tâm hồn đau khổ. Khiến cha mẹ tổ tiên chúng con chuyển tâm niệm, hướng về đường thiện mà thoát khỏi hình phạt của nghiệp báo, tiến dần lên thánh vị. Nghiệp lực sâu thẳm vô biên, từ lực và nguyện lực của Tăng Ni cùng vi diệu không tận. 

Hôm nay ngày rằm tháng bẩy, ngày chư Phật hoan hỷ, ngày chư Tăng tự tứ. Phật tử chúng con tụ hội về đây, thành kính dâng lễ phẩm cúng dường Tam-bảo, ngưỡng mong cha mẹ hiện đời tăng thêm phước thọ, cửu huyền thất tổ  thoát cảnh luân hồi. Bản thân chúng con cùng với gia đình thân quyến cũng nương phước báo này mà tiêu tai giải nạn, kết duyên Bồ-đề. 

Trước khi dứt lời, chúng con xin chí thành cầu nguyện mười phương Tam-bảo gia hộ cho toàn thể Tăng Ni phật tử , Bồ-đề tâm kiên cố, Phật sự viên thành, để dắt dẫn chúng con bắc nhịp  cầu giải thoát cùng về cõi Phật. 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên tôn giả tác đại chứng minh.

 

 

NI TĂNG CHÚC NGUYỆN 

Toàn chúng quỳ tụng:” Nam mô tát đa nẩm. tam miệu tam bồ đề câu chi nẩm, đát diệt tha. Ám, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề, sa bà ha” 

(108 biến từ chữ Ám...) 

Vì việc gì bố thí,

Ắt sẽ được như ý.

Như vì vui mà thí,

Sau ắt được an vui.

Quy y mười phương tận hư không giới nhất thiết thường trụ Tam-bảo.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. 

Nam mô Dược Sư hải hội Phật Bồ-tát, nhất thiết Hiền Thánh Tăng. Từ bi chứng minh công đức cho mười phương Phật Tử, đã tuân phụng Như Lai di giáo. Nhân ngày chúng Tăng tự tứ, làm lễ Vu Lan, dâng y và cúng dường phẩm vật, cùng hương trà hoa trái, hồi hướng công đức về cha mẹ hiện tiền, quá khứ phụ mẫu, cửu huyền thất tổ, lịch kiếp thân duyên, nội ngoại gia tiên, lục thân quyến thuộc. Rộng cùng mười phương trăm họ, đồng tiêu tội chướng, đồng thoát khổ luân, đồng sanh An Lạc, đồng thành Phật đạo (3 lần). 

Chuyển ý thức phân biệt hư vọng,

Xoay trở về bản tánh viên minh.

Thường trụ tâm địa quang hiển phát

Như nước đục lóng thành trong sáng

Kết quả chứng được đại thần thông. 

Chí tâm đảnh lễ: Nam mô đại hiếu Mục Kiền Liên tôn giả (3 lần).

 

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ 

Nam mô tánh tướng bất nhị, mình hợp vô vi, nhất thiết tối thượng Tăng già gia chúng (1 lễ). 

Nam mô thập Địa tam Hiền, ngũ quả tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng ( 1 lễ). 

Nam mô Tỳ-kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng ( 1 lễ).

 

SỚ TIẾN LỄ VU LAN

SÁCH DẠY: 

Tiết Vu Lan trăng tỏ,

Ngày Tự Tứ thanh lương.

Thiết trai đàn cầu cha mẹ hiện tại bình an.

Dâng sớ tấu độ tổ tiên siêu thăng Phật cảnh.

Câu” dương khánh” một lòng mong tưởng.

Chữ “âm siêu” trông đợi phước duyên.

Khiến nhà nhà an lạc như nguyền.   

Mong trốn trốn bình yên toại ý.

 

CHÚNG CON KÍNH NGHE 

Động chân cất bước mỗi sát na tạo tội muôn vàn. Tham sân si mạn, mỗi sơ sẩy gây oan luỹ kiếp. Từ vô thuỷ đã tạo bao ác nghiệp. E lại sinh còn thiếu thiện nhân.

 Ơn Phật Tổ mở hội Vu Lan,

Mỗi năm dạy lập đàn xá tội.

Trước bệ ngọc lạy cầu sám hối,

Đối liên toà đèn nến trang nghiêm.

Trượng Phật thừa nương đức từ bi,

Cầu Tăng chúng dắt về giác đạo.

 

DUYÊN NAY 

Ni chúng Liên Hoa 3 tháng hạ tinh tấn công phu. Đầu tháng 7 tụng kinh sám hối, tuần trung nguyên khiêm thân tự tứ. Lại kính vâng kim ngôn ngọc luật, mở hội Vu Lan. Cả hai chúng xuất gia tại tục vâng lời di giáo, tụ hội về chùa, thiết lập trai đàn, sửa lễ cúng dường.

 

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ 

-   Nam mô thập phương thường trụ Tam-bảo kim liên toạ hạ. 

-   Nam mô Ta bà hải hội Phật Bồ-tát kim liên toạ hạ. 

-   Nam mô Tây Phương An lạc thế giới Phật Bồ-tát kim liên toạ hạ. 

-   Nam mô đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát kim liên toạ hạ. 

-   Nam mô tánh tướng bất nhị, minh hợp vô vi, nhất thiết tối thượngTăng già gia chúng. 

-   Nam mô thập Địa tam Hiền, ngũ quả tứ hướng, nhất thiết xuất thế Tăng già gia chúng. 

-   Nam mô Tỳ-kheo ngũ chúng, hoà hợp vô tranh, nhất thiết trụ trì Tăng già gia chúng.

 

KÍNH MONG 

Liệt Tổ cảm thông, Thánh Tăng chiếu giám.

Đức lục hoà cứu khổ trầm luân,

Thanh tịnh giới vớt dòng lục đạo.

Bát bộ gia trì, thiên long ủng hộ,

Khiến vong giả tội khiên diệt sạch

Và người còn cát khánh tam đa.

Mong gia tiên tắm gội liên trì,

Cầu cha mẹ quay về bát đức.

 

LẠI CHẠNH NGHĨ 

Trên trời biết bao tóc bạc da mồi không còn dưới gối,

Dưới âm 36 loại quỷ thần ai kẻ xót thương,

Địa ngục giờ này vạc dầu sôi lửa cháy,

Ngay đến cõi thiên đường chưa thoát khổ mê say.

Chúng con học Mục Liên, Địa Tạng,

HIẾU chính Phật tâm, NHÂN là Phật hạnh.

Nên dâng sớ nguyện cầu âm siêu dương thái.

Phật nhật tăng huy, pháp luân thường chuyển.

Để từ nay oan kết băng tiêu,

Chung cộng hưởng thái bình Tịnh-độ.

Việt Nam an lạc! Thế giới thanh bình!

Trăm lạy khấu đầu dâng sớ.

Ngưỡng mong Tam-bảo chứng minh.

 

 

18. KHÁNH TUẾ THẦY (1992) 

Kính bạch Thầy! 

Những tưởng rằng chị em chúng con sẽ mãi mãi không bao giờ còn Thầy nữa, như đàn chim non sắp mất mẹ hiền, bao nhiêu lo lắng bàng hoàng bên giường Thầy bệnh. Nhưng phước đức thay! Mười phương Chư Phật, Bồ-tát đã thấu nghe lời thống thiết nguyện cầu của chúng con mà thầm cảm ứng. Hôm nay Thầy thật sự ở lại với chúng con. Còn Thầy là còn tất cả. Sau cơn mưa trời lại sáng, cảnh trí tưng bừng, hoa lá xanh tươi hơn, gió núi rì rào như cùng chia sẻ niềm hân hoan với chúng con. 

Thầy đã 39 tuổi đạo là 39 bước vững vàng chắc chắn, trên con đường giác ngộ giải thoát. Mùa hạ năm nay, Thầy bị sốt rét nặng. Chị em chúng con ít được học kinh trong lớp. Nhưng nơi thân giáo, mỗi cử động của Thầy trên giường bệnh, chúng con đã học rất nhiều, nhất là khả năng tự trị, Thầy vẫn miên mật công phu, chiếu soi 5 uẩn là không, hàng phục thọ ấm. Đến nỗi ngay trong mê sảng, Thầy toàn giảng Bát Nhã Tâm Kinh. 

Ba tháng trôi qua nhanh chóng, chúng con có được phước sớm tối hầu Thầy, có người ở trụ xứ xa... 

Hôm nay giờ phút trang trọng này, chúng con kính dâng lên Thầy 39 bông sen thơm ngát như 39 tuổi đạo hương quang trang nghiêm và 10 ngọn đèn để cầu chúc Thầy sớm viên mãn 10 ba la mật. 

Một lần nữa chúng con xin thay mặt tất cả huynh đệ, từ đồng bằng đến cao nguyên, Việt Nam cũng như Hải Ngoại, hân hoan đồng thanh cầu chúc Thầy của chúng con sẽ như đức Quán Thế Âm. 

“ Ngàn xứ cần cầu ngàn xứ ứng,

Biển khổ thả thuyền vớt chúng sinh,

Diệu ứng thần hoá khó đo lường

Tuỳ cơ thuyết pháp đồng giải thoát”. 

Toàn thể chị em chúng con dập đầu đảnh lễ kính mừng hoà nam bách bái.

 

19. ÂN ĐỨC TAM SƯ 

Lễ Vu Lan mở ra cho nhân loại một mùa báo hiếu. Cha mẹ thế gian có công sanh dưỡng tấm thân giả tạm, Phật còn dạy mỗi năm phải có một ngày đặc biệt thiết thực báo ân. Huống chi giới thân tuệ mạng, chúng ta lại lơ là không nghĩ tới người sanh dưỡng hay sao? 

Hôm nay ngày tốt đẹp khai khóa tu này, chúng ta nên cùng nhau nhớ tưởng ân đức tam sư. 

Thầy BỔN SƯ mở lòng đạo, cho ta thọ hưởng ân lành ngôi Tam-bảo. Đối với ngài ta phải hết lòng yêu mến, trọng kính như đấng cha lành chí ái chí thân. 

Đưa lên ngôi vị Tăng bảo, dẫn dắt ta đặt chân cất bước trên đường tu hành là công đức của GIỚI SƯ . Nhờ GIỚI SƯ ta được trang nghiêm đạo hạnh, giới phẩm triêm thân. Nên bổn phận chúng ta phải tuân thừa luật học, đỉnh đới phụng trì. Đây là chân thật báo ân. 

Thầy PHÁP SƯ giác mê khai ngộ. Đời tu hành chúng ta tươi sáng, trí đức chúng ta linh nghiêm, đều nhờ ngài trau dồi hun đúc. Bao nhiêu tâm huyết hao tổn, bao nhiêu công lao khó nhọc, Thầy mới dìu dắt được chúng ta ra khỏi rừng gai vô minh rậm rạp, đưa chúng ta lên cảnh giới quang sáng giải thoát. Là sứ giả của Như Lai, giáo hoá không màng danh lợi, Thầy bá thí thời giờ sức khoẻ, Thầy bá thí cả tâm hồn. Chúng ta ngày nay noi theo con đường Thầy đã vạch sẵn, đâu được không tận tình kính cẩn học hành, trên đền bốn ân, dưới cứu muôn loài, hầu mong đáp ơn giáo dưỡng trong muôn một. 

Đối với ba ngôi Thầy, nếu đủ nhân duyên được hân hạnh thân cận, chúng ta phải hết lòng phụng sự. Oai nghi tế hạnh, ba nghiệp không buông lung, gương mặt tươi tỉnh, mắt tai lanh lẹ, đón biết ý Thầy, thuận theo nhan sắc. Nếu để Thầy nói nhiều, vừa nhọc sức Thầy, vừa tổn đức mình. Thầy có điều quở trách, ta nên vui vẻ tạ ơn không hiện tướng chống trái. 

Ba ngôi Thầy là nhà cửa che mát, ruộng vườn nuôi sống giới thân tuệ mạng chúng ta. Các ngài là nguyên soái trong mặt trận chống vô minh, phiền não ma quân. Tất cả các pháp lành ở thế gian đều nhờ ơn quý ngài gieo giống. Nền đạo đức trang nghiêm của nhân loại chính từ bàn tay trăm phước của quí ngài an bài. Cho nên dầu thế nào, ta cũng phải một lòng biết ơn. Nếu như ta trái bước lùi lại thì thật là một điều đáng ân hận. 

Miễn chúng ta thành tâm cung kính quý mến phụng sự 3 đấng Tôn sư, còn các phương thức sự tướng thì tuỳ duyên. Gần Thầy, chúng ta được nghe những điều chưa nghe, được huân tập những nết chưa có. Như vậy chúng ta vừa tròn bổn phận đối với Thầy mà riêng mình lại được bội phần lợi ích. 

Ngoài Tăng già là một trong ba ngôi Tam-bảo. Đối với liệt vị Tăng Ni, chúng ta tuy không thọ ân riêng, nhưng vì quý ngài hạnh đức giới phẩm đáng ngôi Thầy cả cõi trời người, nên chúng ta phải cung kính phụng thờ. Mỗi khi có nhân duyên hầu tiếp, chúng ta nên thành thật trình bày chỗ còn ghi trong đạo lý, xin được học thêm. Quý ngài từ xa đến tạm trú, chúng ta nên liệu biện chu đáo tất cả các nhu dụng, cung kính tôn thờ, như đối với Thầy chúng ta không khác. 

Và sau nữa, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, chị em chúng con một lòng thành kính biết ơn Sư cô trụ trì cùng toàn ban chức sự. Rộng ra mỗi mỗi chấp tác, quét nhà, bổ củi,v.v..., đều là công vụ thiền môn ân. Những bàn tay chung góp xây dựng cảnh giới An Lạc tương lai cho chúng con. Chúng con phát nguyện biết ơn và nỗ lực đền ơn. Cho nên hàng năm ngày Vu Lan, chúng con sung sướng được đảnh lễ khánh tuể.

 Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. 

 

 

20. CHÚC THỌ QUÝ CỤ 

Vinh dự biết bao chùa chúng ta được tổ chức lễ chúc thọ quý cụ. 

Hạnh phúc bao nhiêu, chùa Hương Sen chúng ta có đến 16 bậc lão thành đã quá tuổi mà người đời gọi là “ cổ lai hy”. Hơn tuổi thầy có cụ Tỳ-kheo-ni Hạnh Lâm 94 xuân xanh. Trẻ nhất là ni sư Thể, Ni sư Lý, tuổi đã gần 70 nhưng ở trong hội trưởng lão, quý ngài còn tươi như hoa sen mới nở. 

Vinh dự biết bao cho đàn hậu học chúng con được xun vầy dưới gối. Lịch đại tiền hiền hậu bối truyền bá đạo giải thoát. Trải 3000 năm cho tới ngày nay, lại nhờ công ơn quý cụ đem thân làm nhịp cầu tiếp nối. Bàn tay một đời nâng đỡ ngọn đuốc chánh pháp quang minh, nay đã đốm da mồi. Mái đầu bao năm lao nhọc tinh thần trong mặt trận chống vô minh phiền não, nay nhuộm màu bạc trắng và gối mỏi răng long, quý cụ vẫn dõng mãnh trên con đường về cõi Phật.

Hương sen ngào ngạt toả khắp gần xa. Quý cụ tay lần tràng hạt, miệng niệm nam mô không ngớt tiếng. Mỗi ngày 4 khoá lễ cầu vãng sanh, chuông mõ vang vang khắp rừng sâu núi thẳm. Hồng chung chiêu mộ, học luật sớm chiều... 

Hôm nay hậu học chúng con đảnh lễ Phật Tổ, thành kính dâng lên quí vị trưởng lão của gia đình Hương Sen niềm tri ân. Quý ngài vừa là những bậc Thầy đạo sư của chúng con, vừa là những tấm gương tinh tấn cho chúng con. 

Trẻ thơ còn sơ sanh trong đạo Thánh Hiền, chúng con nguyện cầu quí cụ trường thọ để đàn con dại dài lâu núp bóng. Và bên trời An Lạc phương Tây, đức Quán Âm, Thế Chí đang tô điểm những đoá sen trăm báu, đợi chờ mai đây, toàn thể gia đình Hương Sen ta thượng phẩm giác khai. 

Nam mô tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật.

 

MỞ CỬA TÂY PHƯƠNG 

Mở cửa Tây phương

Cung thỉnh quý cụ đi về, đi di về.

Bên Tây phương vui tươi ( 2 lần).

Hằng nghe loài chim nói pháp.

Mau mau đi lên ( 2 lần)

Khỏi vòng tử sanh ( 2 lần)

 

Đến cảnh Tây phương,

Vui vẻ an lạc bốn mùa, bốn bốn mùa.

Đi sang bên Tây phương (2 lần)

Đầy hoa mùi hương thơm ngát.

Trong ao hoa sen (2 lần)

 

Dưới đáy ao hoa sen

Lót những thuỷ ngọc xà cừ, xà xà cừ.

Bốn phía trên ao sen (2 lần)

Bao nhiêu hào quang chiếu sáng.

Đua nhau tuân ra (2 lần)

Trắng vàng đỏ xanh ( 2lần).

 

Nhớ thủa xưa kia,

Biết bao người đã sinh về, sinh sinh về.

Đức Thích Ca Mâu Ni ( 2lần)

Không hỏi mà ngài tự nói.

Muốn cho nhân sinh (2 lần).

Đặng về cõi Tây ( 2lần).

 

Thích Ca Mâu Ni

Quyết tâm độ tận phen này, phen phen này.

Những ai muốn sanh ( 2lần).

Thì mau trì danh Đức Phật.

Hay thay! Hay thay! (2 lần)

Thoát vòng tử sanh ( 2 lần).

 

Hết thảy con em

Tâm ý cung kính vui mừng, vui vui mừng.

Nào còn có bao lâu ( 2 lần).

Quý cụ hào quang sáng chói.

Bay lên trên hư không ( 2 lần).

Vang đầy trống chuông ( 2 lần).

Lúc đến Tây Phương,

Chư thánh trổi nhạc rước vào, rước rước vào.

Ôi Tây phương vui thay ( 2 lần).

Cầu xin về bên cõi ấy.

Thánh tăng hân hoan ( 2lần)

Đón mững những ai, phát nguyện vãng sanh.

 

Hôm nay Hương Sen

Quý cụ niệm Phật chuyên cần, chuyên chuyên cần.

Chúng con kính dâng ( 2 lần)

Tràng hoa hương thơm tinh khiết.

Trông mong mai sau ( 2 lần).

Quý cụ vãng sanh, thượng phẩm hoá sanh.

 

( Dành riêng cho các thiếu nhi đầu còn để chóp trái đào múa hát mừng quý cụ). 

-   Dâng quà khách tuế quý cụ.

 

 

21. HIẾU TRONG ĐẠO PHẬT 

Liên Tông Bảo Giám dạy:” Hiếu đứng đầu trăm hạnh”. Hiếu là tâm Phật, dưỡng là hạnh Phật. Muốn được hạnh Phật phải biết thảo nuôi cha mẹ. 

Trường Lư Di thiền sư dạy: “ Hiếu là cửa mở ra vạn diệu”. Kinh lấy Hiếu làm tông. Luật lấy Hiếu làm giới. 

Hiếu tại gia là cha mẹ thương không lờn, khi cha mẹ ghét không giận, thuận theo nhan sắc mà phụng thờ. 

Hiếu xuất gia thế gian là tinh tấn giới định tuệ, đem công đức hồi hướng song thân. Chẳng những lợi ích cho cha mẹ về sau mà hiện đời này, cha mẹ cũng được bình an thêm thọ. 

Như Lai nử đêm vượt thành, sáu năm khổ hạnh mới có cái phước lên trời nói pháp độ cho mẫu thân. Một bậc Thế Tôn vua chúa cúi đầu lễ dưới chân, ngài còn về hộ niệm vua Tịnh Phạn lúc cuối cùng khiến trước khi tắt thở, vua chứng quả Tu-đà-hoàn. Lại đích thân cùng Anan, Nan Đà và La Hầu La, 3 vị A La Hán, khiêng linh cữu, để cho người xuất gia về sau, đừng lầm cậy mình đã xuất thế mà coi thường ân đức cù lao. 

Tổ Huệ Năng có 10 lạng bạc cúng mẹ hết rồi ra đi học đạo. Tổ Tất Năng ghánh cha mẹ đi học. Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn làm nhà riêng thờ mẹ, để tạ cái ơn 6 năm nhẫn khổ cưu mang. Ngài Trần Lục Châu dệt dép bán để nuôi mẹ già. Rạng pháp sư cõng mẹ đi giảng Pháp.

Chính bởi vì đứng hàng Tăng bảo, làm Thầy cõi trời người nên mới đủ trí tuệ biết ơn đền ơn. Càng xuất thế càng không quên bổn phận con người. Sách dạy: Con quạ ở rừng sâu, ngày kiếm mồi về nuôi mẹ, tới khi mẹ chết, quạ vẫn đem mồi về, gọi mẹ suốt đêm thâu. 

Người tại gia độ cho cha mẹ đỡ cái khổ thân xác thịt hành hạ, người xuất gia độ cho cha mẹ thoát khổ luân hồi. 

Hôm nay đại chúng Liên Hoa, người người đều biết rõ bổn phận này. Sau ba tháng an cư kết hạ, vâng lời Phật dạy, mỗi năm một lần, hàng Phật tử xuất gia làm lễ đại sám hối, đảnh lễ mười phương Tăng cầu tự tứ, và nhân đây mở hội Vu Lan.

Thỉnh mời cha mẹ về chùa dự lễ. Kính dâng tràng hoa tỏ tâm hiếu hạnh, noi gương Phật Tổ.

 

TRÀNG HOA HIẾU HẠNH 

Trong cảnh trang nghiêm của tùng lâm Liên Hoa ngày Vu Lan, chúng con vô cùng xúc động, tâm hân hoan mà nước mắt tuôn rơi, chúng con cảm động bái lãnh tràng hoa. 

Hân hạnh bao nhiêu cho gia đình chúng con đã nẩy nở được mầm Bồ-đề, con của chúng con ngày nay, dự hàng Tăng bảo ở địa vị chúng trung tôn. 

Tâm hoa tươi nở,

Trồng trong vườn tuệ.

Tưới nước từ bi,

Toả hương công đức. 

Phật dạy:” Làm thân lạc đà trở nặng đi xa chưa phải là khổ, ngu su không biết hướng đi mới thật là khổ”. Gia đình chúng con được Thầy dung nạp vào hàng đệ tử, đã được giải thoát một phần nào nỗi khổ thứ nhất ấy. Nhờ ân trời biển của Tam-bảo, chúng con đã hiểu được ý nghĩa cuộc đời. “ Thân này chẳng phải ta, chẳng phải của ta. Vạn vật có đấy rồi mất đấy. Chỉ có thánh Phật là thường trụ. Từng giờ, từng phút giữ gìn thân miệng ý thanh tịnh để trở về bản tánh chân không...” 

Quý sư cô đang đi lên, bỗng nhiên thầy gọi: “ Nhớ lại cha mẹ còn đang chơi vơi trong trần luỵ” Và nhắc nhở:” Đừng lầm cậy mình đã xuất thế mà coi thường ân đức cù lao”. 

Thật vậy! Hàng tại gia Phật tử chúng con tuy đã biết phá vô minh để chuyển nghiệp là cần thiết, nhưng vô cùng yếu đuối lại nặng trần lao, bao nhiêu phiền não từ ngàn đời đã nung nấu tâm gan. 

Giữa cảnh đời bơ vơ lạc lõng, biết bao ưu tư phiền muộn, tiếng chuông giác ngộ từ chùa Liên Hoa vọng ra giữa các nẻo đường đầy gió bụi. 

Bầu trời không khí nặng nề những lo âu. Không gian như mờ tối vì mây mù tham sân si. Ánh sáng từ chánh diện Liên Hoa toả ra hùng dũng như ánh sáng mặt trời, đem lại niềm tin và hy vọng cho những người đang lạc lõng trong đêm tối phân vân. 

Phật tử chúng con nguyện mười phương Tam-bảo gia hộ, mãi mãi đủ duyên lành, nội ngoại đồng khí liền cành, cao thấp trước sau quyến thuộc, nguyện đều phát tâm xuất thế. Xưa kia mỗi kẻ một đường. Nay cầu về Lạc Bang. 

Chúng con nguyện noi gương cổ nhân, một tấm lòng son phụng sự Tam-bảo. Nguyện tu học nghiêm minh để góp phần an vui giải thoát cho bản thân gia đình và xã hội.

Chúng con xin chân thành đảnh lễ kính chúc Thầy cùng đại chúng thân tâm an lạc, pháp thể khinh an, rộng độ quần mê, đồng thành Phật đạo. 

Nam mô Hoan Hỷ mười phương Phật.

 

Phật tử ĐINH VIỆT THÀNH

Pháp danh Chánh Pháp.

Mùa Vu Lan năm 1982 

 

 

22. GIA ĐÌNH PHẬT HOÁ PHỔ 

Kính gửi phụ huynh các em... 

Mọi kế hoạch phát triển xã hội từ ngàn xưa không đề nghị gì hơn là làm sao cho con người đỡ khổ. Phật giáo cũng chỉ một mục đích ấy, nhưng phương tiện không dùng đến danh lợi, thế lực, cảm tình mà lo thực hiện chuyển hoá tâm thức.

 

Liệt vị tổ sư noi dấu chân đức Phật, lấy chữ Hiếu làm đầu trăm hạnh, lấy rằm tháng 7 làm ngày cha mẹ. Lễ Vu Lan mở ra tục lệ bổn phận làm con phải lo đưa cha mẹ ra khỏi biển khổ luân hồi sanh tử. 

Riêng chúng tôi, ngửa lên cầu nguyện thần lực Tam-bảo gia hộ cho gia đình được âm dương siêu thái, là việc đương nhiên. Ngoài lợi ích cứu vớt song thân cùng cửu huyền thất tổ, còn thiết thực đức dục con em tập học chữ Hiếu. 

Luyện tâm hướng thiện là việc cần yếu để đưa quý cô đi lên. 

Vậy xin toàn gia quyến vui vẻ hưởng ứng chương trình giáo dục của nhà chùa mà trợ duyên cho quý cô, bằng cách vui vẻ nghe quý cô giảng giáo lý. Yêu cầu gia đình đặt câu hỏi về Phật Pháp để quý cô tập thực hiện chí nguyện tự giác giác tha. Lấy ngay gia đình làm điểm xuất phát tâm Bồ-đề, quý cô phải quan tâm, phải tôn trọng, phải đem tất cả tâm hồn để cầu nguyện cho gia đình hạnh phúc an vui. 

Sự nghiệp thánh thiện này sẽ đem lại lợi lạc giải thoát cho cả quý cô và gia đình. 

Trân trọng

Tỳ-kheo-ni Hải Triều Âm

Ngày 10-07-Kỷ Mão (1999) 

 

23. TIẾNG NÓI CỦA GÀ 

Dù có để bao nhiêu trứng trong ổ cho gà ấp, con của chúng tất cả đều nở ra một lúc. Thiên nhiên đã quan tâm đến điều này: đàn con xuất hiện đồng loạt, mẹ dễ trông coi và bảo vệ. Tuy nhiên trong một thời gian dài, người ta không tìm ra được bí quyết của sự đồng bộ này. 

Alêchxanđrơ Tikhônôp, cán bộ khoa học chính của khoa sinh vật trường Đại Học Tổng Hợp Matxcơva, đã ngồi nhiều giờ trong phòng cách âm và nghe, theo đúng nghĩa của từ này, tiếng nói của các quả trứng. Thì ra các phôi thai truyền nhau qua vỏ trứng những tín hiệu âm tần. Tới một giai đoạn phát triển nhất định, phôi thai nào khoẻ nhất sẽ phát ra đầu tiên những tiếng lách tách. Như thế có nghĩa là chúng cũng bắt trước chuyển thở bằng phổi. Việc này làm tăng tốc độ phát triển và hình thành của chú gà con tương lai. 

Trong máy ấp trứng, “ một ổ” là 8-9 ngàn quả trứng, đẻ ra trong những lúc khác nhau. Tạo ra cho chúng một nhịp độ phát triển nhất định là một ý nghĩ hấp dẫn: các con gà nở cùng một lúc sẽ làm đơn giản rất nhiều quy trình nuôi gà. 

Alêchxanđrơ Tikhônôp đã cộng tác với các nhà động vật học, các kĩ sư và kĩ thuật viên vô tuyến điện. Họ đã tạo ra một tổ hợp kỹ thuật sinh vật của các máy tạo sóng âm tần. 

...Trứng nằm trong máy ấp đến ngày thứ 17, khi phôi thai đã có thể nghe được, người ta cho thiết bị vô tuyến điện tử chạy. Nó phát ra những âm lách tách mạnh và khẩn thiết. Trong các máy ấp thông thường gà con nở ra suốt trong mấy ngày. Còn ở đây chúng theo “lệnh” và đồng loạt rời khỏi vỏ trứng chỉ trong cùng một ngày. Chúng tức thì rời khỏi ổ và chạy theo tiếng gọi của con gà điện tử. 

Bây giờ cần tách riêng gà mái gà trống. Người nuôi gà biết rằng đây là một công việc tỉ mỉ đòi hỏi rất nhiều công sức. Thiết bị” giải tần” cũng là một công trình mới của các nhà bác học và kĩ sư, giúp giải quyết vấn đề này, chỉ trong mấy giây và không sai sót. Chỉ cần gà con kêu một tiếng trước micrô thì gà trống có giọng “thấp” hơn, nhưng chỉ có máy thật nhạy mới phát hiện được sự khác nhau đó. Những nhà am hiểu cho rằng gà mái rất ưa kêu. Số “ từ” của chúng chưa tới 25 âm. Máy kích thích phát triển âm học “ Brôile”, phát ra một số các tín hiệu này, như các tín hiệu an thần và các tín hiệu gọi đi ăn, làm cho gà con ăn ngon miệng. 

Tất cả các thiết bị đã được chế tạo ra này là những thành phần của tổ hợp kĩ thuật sinh vật, có thể điều chỉnh chúng để ấp và nuôi gà tây, vịt, chim cút. Tổ hợp thí nghiệm này đã có kết quả trong các xí nghiệp chăn nuôi gia cầm.

Tin tức khoa học báo Liên Xô 1983

 

Quý vị nghe xong hẳn ai cũng có cảm giác thương tâm. Tu sĩ còn thêm cảm giác lo sợ cho mình vì sống nhờ tín thí mà 5 uẩn chưa không, kiến-hoặc tư-hoặc chưa hết, thì kiếp sống trong quả trứng kia mấy ai đã bảo đảm giải thoát. 

Các nhà bác học kĩ sư đây, tài trí siêu việt, tinh thần an định tinh vi. Cho đến nghe được tiếng nói trong quả trứng. Có thể biết đích xác, đến ngày ấp thứ 17, phôi thai bắt đầu có nhĩ thức để nghe cảnh ngoài. Các ngài còn thấu đáo được sự cảm thông của cả 10.000 quả trứng với nhau. Một âm thanh của một phôi thai gà mạnh, được cả 10.000 đồng nghiệp hưởng ứng, đến nỗi đồng loạt cố gắng sớm hoàn tất sáu căn, để cùng nhau trỗi dậy trong một ngày, để đồng loạt một ngày ra khỏi vỏ trứng. Đã thực hiện đủ máy điện tử để phụng sự các cô mái chú gà. Hay nói cho đúng là phụng sự nghề chăn nuôi. Nghĩa là phụng sự đồng tiền và miếng ăn cho thế gian.

 Thương tâm thay những tâm thức mịt mù trong quả trứng. Nhưng đáng thương hơn nữa là bao nhiêu tài trí chẳng gặp được Phật Pháp. Uổng qua đời sống thông minh, chẳng thể ra khỏi vòng Hoặc-Nghiệp-Khổ. Mỗi nhà máy có cho ấp cả ngàn lần. Mỗi ổ ấp 10.000 trứng. Trong đó có biết bao bác học kỹ sư đang chuyển kiếp luân hồi. 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Đấng Đại Giác đã cấm tiệt đệ tử không được ăn trứng, không được làm vỡ trứng, dù trứng sâu trứng nhện. Vì trong đó có hàm thức biết đau khổ.

Ngài đặt ra giới luật quy tắc để bảo đảm các đệ tử khỏi xa đoạ. Giới luật thấp nhất là ngũ giới. Giữ được ngũ giới thì dù ngu xuẩn đến đâu cũng thoát khổ, không lọt vào những sọt trứng đáng thương kia. 

Trong loài người, đặc biệt đối với trẻ em mới đẻ, giọng nói của mẹ được chúng nhận biết rất chính xác. Tại một bệnh viện ở nước Đức, các núm vú nhựa được nối với máy ghi âm rồi cho vào miệng đứa trẻ 12 ngày tuổi. Khi tiếng nói của mẹ chúng cất lên, lũ trẻ đột nhiên múc sữa rất tích cực so với lúc tiếng lực khác, không phải của mẹ chúng. Các nhà bác học giải thích hiện tượng này rằng, trẻ nhỏ đã quen với chất giọng của mẹ từ hồi còn ở trong bụng. Giọng nói của mẹ đọng lại trên vỏ não của thai nhi từ khi mới được một vài tháng. Các bác sĩ khuyên phụ sản nên trò chuyện với đứa con trong bụng. Trẻ chắc chưa hiểu được lời nhưng tâm truyền tâm, chúng có thể cảm biết được ý mẹ. Các cụ Việt Nam ân cần khuyên các bà mẹ trong lúc mang thai nên cẩn thận từng tâm niệm. Tinh thần của mẹ có quan hệ mật thiết đến tính nết đứa trẻ rõ ràng. Như vậy tình mẹ con đâu có phải chỉ là vay mượn chút máu mủ để thành hình thai mà thai nhi bơ vơ không nơi trông cậy, chỉ có mẹ là đời sống, là tất cả.

 

---o0o---

 

Mục Lục  > I > II > III > IV > V > VI > VII

---o0o---

Vi tính: Quảng Tuệ Hương & Quảng Trí Lực

 Trình bày: Anna

Cập nhật: 10-2007

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544