Pháp
Tạng
Phật Giáo Việt Nam
Tập
19
CỘI BỒ ĐỀ
Nguyên
tác:Peter Della Santina
Việt dịch:
Thích Nguyên Đăng
Chứng Nghĩa:
Thích Đổng Minh
Chùa Long Sơn, Nha Trang
Phật Lịch: 2548 - 2004
--- o0o ---
Phần III
KIM
CƯƠNG THỪA
Chương 22
NGUỒN GỐC
HỆ PHÁI KIM CƯƠNG THỪA
Vajrayana (Kim cương thừa hay mật tông) là một
phần của hệ phái Đại thừa. Hệ phái Đại thừa chia thành hai tông phái:
Paramitayana (Ba-la-mật-đa thừa) và Mantrayana (Chân ngôn thừa), hay còn
gọi là Kim cương thừa. Không có sự khác nhau giữa hai tông phái
Ba-la-mật-đa thừa và Kim cương thừa cả trên sự khởi điểm (cảm nhận đau
khổ) cũng như mục địch (đạt đến Phật quả). Khác nhau duy nhất là ở phương
pháp tu tập: phương pháp của giáo phái Ba-la-mật-đa thừa cần phải trải qua
nhiều niên kỷ mới có thể đạt đến sự thành tựu, trong khi phương pháp của
Kim cương thừa cho phép hành giả thúc giục sự tăng tiến và bằng cách đó sự
tiến triển của hành giả sẽ trở nên mau chóng hơn.
Hệ phái Kim cương thừa có 3 tên thông dụng: Kim
cương thừa, Chân ngôn thừa và Tanhayana (Đát-đặc-la thừa). Nói nôm na, Kim
cương thừa là đạo Kim cương (một phương pháp kiên quyết). Vajra có nghĩa
là Kim cương, một chất bền chắc hơn bất kỳ chất nào khác. Vajra còn là một
tiếng sấm sét hay là một cây vương trượng mà Đế thích (vua của chư thiên)
dùng. Chính vì vậy, Vajra biểu tượng của sự không thể tiêu hủy và cũng là
sự thống trị vũ trụ.
Mantra, một câu thần chú trong Kim cương thừa
là một hình thức rút gọn, nói chung có 3 mục đích. Thứ nhất, nó được dùng
để giúp ích cho sự tập trung. Vì hành giả dùng hơi thở, ảnh tượng Đức
Phật, một bông hoa xanh tươi hay một quan điểm làm đối tượng để định tâm
cho nên hành giả cũng có thể dùng âm vang của một câu thần chú vào việc
đó. Thứ hai, nó dùng để ghi nhớ. Chẳng hạn, khi hành giả tụng một câu thần
chú; “Om mani padme hum” hành giả không chỉ nhớ đến Bồ-tát Quán Thế Âm mà
còn liên tưởng đến những phương tiện khéo léo và trí Tuệ của Ngài nữa. Thứ
ba, một câu thần chú còn có công năng củng cố sự phát triển tâm linh của
hành giả. Người ta kể rằng các vị luận sư thiền tông sử dụng lặp đi lặp
lại các câu thần chú qua nhiều thế kỷ đã có nhiều hiệu nghiệm.
Từ Mantra gồm hai phần: Man xuất phát từ chữ
manas, có nghĩa là “Cái tâm” và Tra có từ chữ Tranam, có nghĩa là “bảo
vệ”. Do đó, Mantra có nghĩa là “một điều gì đó bảo vệ cái Tâm”. Tựu trung,
nó cũng có nghĩa là một thừa mầu nhiệm hay huyền bí.
Trantra có nghĩa là sự liên tục hay mở rộng tri
thức. Về nghĩa đen, Trantra xuất phát từ sự liên kết của một luồng vải
trong một tấm vải; điều đó hàm nghĩa rằng nó là một luồng tri thức vô tận
và cứ như thế mở rộng tri thức, rồi dần dần bao quát tất cả tri thức. Có
một sự phân biệt được rút ra từ kinh tạng của Kim cương thừa và kinh tạng
của Đại thừa. Hệ phái Đại thừa gồm Ba-la-mật-đa thừa và Kim cương thừa nên
kinh tạng Đại thừa cũng hàm cả Sutras và Tantras (hiển kinh và mật kinh
chú). Người ta nhìn nhận cả hiển kinh và mật kinh do Phật thuyết và chúng
hình thành hệ thống kinh tạng của Đại thừa và Kim cương thừa. Mật kinh có
một số lượng rất đồ sộ, những kinh quan trọng là Guhyasamaja trantra (Bí
mật tập hội), Hevajra tantra (Như hồ kim cương) và Kalacakra tantra
(Đề-xứng-dĩ-thời luận). Ngoài mật kinh, hệ phái Kim cương thừa còn nhìn
nhận một số khế kinh do Nagarjuna và Candrakirti cũng như Mahasiddhas (84
vị Tất đạt, hay Thành tựu giả) biên soạn và luận giải.
Nhiều người thường thắc mắc nguồn gốc của mật
kinh, rằng chúng thực sự có phải là do Phật thuyết hay không. Từ buổi bình
minh của Phật giáo thường thì Phật thuyết pháp trong những trường hợp đặc
biệt. Có khi Ngài thuyết pháp vì sự cung thỉnh của chư thiên và thậm chí
nhiều người tin rằng bộ luận A-tỳ-đạt-ma là do Phật thuyết cho mẹ Ngài,
lúc đó bà đang ngự tại tầng trời thứ 33. Trong hệ phái Đại thừa, nhìn
chung người ta thường thừa nhận rằng các vị luận sư Đại thừa tiếp nhận sự
giáo hóa thông qua những phương tiện phi thường. Thí dụ, nhiều người tin
những khế kinh căn bản của tông phái Duy tâm là do vị Phật tương lai
Di-lặc thuyết cho Asanga (Vô Trước) (xem Chương 19).
Người ta tin mật kinh cũng được chuyển tải
trong một cách tương tự như vậy. Nếu nghiên cứu thấu đáo, thấy rằng mật
kinh không phải không có nghĩa. Nghĩa của nó không khác với những kinh
khác trong đạo Phật (sẽ nói rõ hơn trong những Chương sau). Nếu Phật không
thuyết mật kinh ngay khi Ngài còn tại thế cho muôn loài, chắc hẳn là bởi
không ai có thể lãnh hội được ý nghĩa thâm áo chân thật của kinh. Vì vậy,
dưới ánh sáng của tư duy không còn một khả nghi nào hữu lý về tính xác
thực của Kim cương thừa.
Kim cương thừa xuất hiện là kết quả tiến triển
của ba trào lưu tư tưởng – các trào lưu tư tưởng này đã có từ thời Đức
Phật. Ba trào lưu này là (1) trào lưu bình đẳng, (2) trao lưu cúng tế lễ
nghi hay Pháp thuật và (3) trào lưu biểu tượng. Trào lưu tư tưởng bình
đẳng động viên, khuyến nhủ người Phật tử tại gia tu tập để đạt đến quả vị
cao nhất trong đời sống tâm linh như sự giác ngộ. Thí dụ về trào lưu bình
đẳng vào thời kỳ đầu của đạo Phật là sự chứng đắc quả vị Arhatship
(A-la-hán) của thân phụ Đức Phật, vua Suddhodana (Tịnh Phạn), trong lúc
còn là một người cư sĩ. Trong hệ phái Đại thừa, hình ảnh vị Bồ-tát tại gia
đã trở nên quen thuộc.
Những thí dụ về dòng pháp thuật hay cúng tế lễ
nghi xuất hiện dưới những mẫu chuyện trong kinh tạng Pali. Đức Phật dùng
những phương thức khẩu ngữ để bảo vệ khỏi bị rắn cắn và những hiểm họa của
sự sanh nở. Trong kinh cũng nêu ra câu chuyện về sự hóa hiện của Phật
thành một Hoàng hậu Kshema, trong đó Đức Phật cũng hiện ra một người góa
phụ tuyệt đẹp, và khi Kshema vừa nhìn thấy liền chỉ trong chốc lát, người
góa phụ này trở nên già yếu lụm khụm. Trong thí dụ này Đức Phật dùng thần
lực phi thường để hóa hiện ra ma quỷ nhằm để giảng dạy chân lý vô thường.
Điều này rất thường xảy ra trong kinh điển Đại thừa, Đức Phật thị hiện
dưới nhiều hình thức để giáo hóa. Cũng trong kinh điển Đại thừa ta thấy có
sự đọc tụng chú Dharanis (Đà-la-ni, tiền thân của thần chú sau này) và
cũng đã xuất hiện nhiều hình thức lễ lạc trong giai đoạn đầu của đạo Phật,
đặc biệt lễ thụ giới như việc xuống tóc và khoác lên mình áo giải thoát.
Thí dụ về trào lưu biểu tượng cũng đã xuất hiện
từ thời kỳ đầu của đạo Phật. Chẳng hạn, bánh xe là biểu tượng cho giáo
pháp (bánh xe chuyển pháp luân), và cây đàn là biểu tượng cho giáo lý
Trung đạo. Trong Đại thừa việc sử dụng những biểu tượng như vậy đóng vai
trò hết sức quan trọng. Ba dòng tư tưởng này (bình đẳng, pháp thuật hay lễ
nghi và biểu tượng) đóng góp vào sự phát triển của hệ phái Kim cương thừa.
Những hiện tượng được cho là của hệ phái Kim
cương thừa xuất phát từ Ấn độ vào khoảng giữa thế kỷ thứ III và thứ VII.
Vào thế kỷ thứ VII Kim cương thừa phát triển rực rỡ khắp nước Ấn độ.
Nagarjuna và Asanga đặt nền móng trong buổi đầu phát triển của hệ phái
này, và sau đó 84 vị Tất-đạt đã xiển dương nó. Hệ phái Đại thừa tôn
Nagarjuna và Asanga là những người khai sáng ra hệ phái này. Tiểu sử của
hai vị nói rõ bối cảnh Kim cương thừa bắt nguồn và phát triển.
Theo huyền sử truyền thống Tây tạng về
Nagarjuna, nhiều người tiên đoán Ngài không thể sống quá bảy tuổi. Huyền
sử chép rằng khi ngày sanh nhật lần thứ bảy của Ngài đến gần, thân sinh
Ngài không muốn nhìn thấy cảnh con mình chết nên gửi Ngài đi xa. Và
Nagarjuna nhắm hướng bắc mà đi và cuối cùng đến Đại học Nalanda. Tại đó,
Nagarjuna gặp một giáo sư lỗi lạc là Saraha (hành giả đầu tiên của Kim
cương thừa ở Ấn độ vào thế kỷ thứ 7). Khi hay tin sự tiên đoán về cái chết
của Nagarjuna, Saraha khuyên Ngài niệm chú A-di-đà (của Phật A-di-đà Vô
Lượng Thọ). Sau khi niệm chú này qua hết ngày sanh lần thứ 7 của mình,
Nagarjuna thoát khỏi tử thần.
Dù có tin câu chuyện trên là thật hay không,
cũng thừa nhận giai thoại đó như một phần tiểu sử của Ngài – chính điều
đó mà những câu thần chú được tin là có công năng ảnh hưởng đến thực tại.
Trong tiểu sử Nagarjuna có một câu chuyện khá
thú vị, trong thời kỳ đói kém, Nagarjuna cứu giúp đồng đạo của mình bằng
cách biến những vật bình thường thành vàng bạc. Ở Kim cương thừa có một
thí dụ mang tính biểu tượng, thuật giả kim. Biểu tượng này trở nên quan
trọng trong hệ phái Kim-cang-thừa. Những người làm nghề thuật giả kim tạo
những vật bình thường thành vàng bạc, tượng trưng cho hành giả của Kim
cương thừa cũng nổi tiếng tinh thông trong việc chuyển hóa sự cảm thọ đau
khổ, ô nhiễm của người phàm thành sự cảm thọ giác ngộ, thanh tịnh.
Tiểu sử Asanga, cũng xuất hiện những câu chuyện
tương tự như vậy. Theo tiểu sử, Asanga vào một cái hang động để tu thiền,
dùng hình ảnh vị Phật tương lai Di-lặc để quán chiếu tu tập như vậy trong
suốt 3 năm mà không đạt kết quả gì. Quá chán nản và thất vọng, sau 3 năm
Ngài rời khỏi hang và hầu như ngay lập tức gặp một người đang dùng một sợi
lông mài một miếng sắt. Asanga hỏi người đàn ông này đang làm gì, ông ta
nói đang mài kim. Asanga bèn nghĩ rằng nếu người ta có đủ kiên nhẫn làm
được những việc như vậy, có lẽ ta quá nóng vội mà từ bỏ tu tập, vì thế
Ngài quay lại hang động và tiếp tục Thiền định .
Asanga tu Thiền định ròng rã trong suốt mười
hai năm nhưng cũng không có kết quả, vẫn không thấy được Đức Di-lặc, do đó
hết năm thứ 12 lại rời bỏ hang. Lúc này Ngài gặp một con chó bệnh hoạn nằm
bên đường, thân đầy những vết thương ghẻ lở và ung mủ, bị sâu giòi đục
khoét. Vì đã tu thiền về hình ảnh Đức Phật trong suốt 12 năm nên liền khởi
lên tâm từ, Asanga bèn muốn cứu thoát con chó khỏi đau đớn. Ngài nghĩ cách
bắt sâu giòi ra khỏi thân nó nhưng còn đắn đo vì nếu dùng tay sẽ làm tổn
thương nó. Để không làm tổn thương sâu giòi và cứu con chó, Ngài cúi xuống
dùng lưỡi để bắt giòi. Vừa làm như vậy, con chó biến mất, hiện ra một vừng
tia sáng màu cầu vòng và Bồ-tát Di-lặc xuất hiện.
Asanga hỏi: “Những năm nay Ngài ở đâu?”. Phật
Di-lặc đáp: “Ta luôn ở bên con, chỉ tại con không thể thấy ta mà thôi. Chỉ
khi con đã tăng trưởng lòng từ bi và tịnh hóa tâm trí vẹn toàn, con liền
thấy ta”. Để chứng minh cho điều này là thật, Bồ-tát Di-lặc bảo Asanga
cõng Ngài trên vai đi khắp đầu làng cuối xóm. Không ai thầy gì trên vai
Asanga trừ một bà già, bà hỏi: “Ông làm gì mà cõng con chó bệnh hoạn vậy”.
Do đó, trong tiểu sử Asanga, hiện lên một chân
lý quan trọng khác là bất cứ điều gì ta cảm thọ (toàn bộ thực tại) đều phụ
thuộc vào trạng thái của tâm.
Trong tiểu sử của hai vị sáng lập này
(Nagarjuna và Asanga), nhiều nhân tố rất quan trọng đối với hệ phái Kim
cương thừa. Nhân tố pháp thuật hay lễ lạc, nhân tố thuật giả kim, nhân tố
quỷ thần đều là bản chất của thực tại.
Trong khi Nagarjuna và Asanga là cha đẻ của hệ
phái Kim cương thừa, 84 vị Tất đạt chắc chắn thực hiện sứ mạng truyền bá
giáo lý Kim cương thừa khắp nước Ấn độ. Chư vị là những mẫu người tiêu
biểu cho một nhân cách mới của tôn giáo. Bất luận là tu sĩ Phật giáo hay
giáo sĩ Bà-la-môn, những nhân vật đóng vai trò quan trọng trong sự lớn
mạnh của Kim cương thừa là những cư sĩ tại gia, tu sĩ lõa thể, người lái
đò, thợ làm gốm và cả vua chúa nữa. Sử liệu về đời sống và thời đại của
những vị khai sáng này cho biết một xu hướng tâm linh xuất hiện ở Ấn độ
trong thời kỳ hưng thịnh của hệ phái Kim cương thừa. Xin đề cập tiểu sử
của Virupa và Naropa, hai trong số 84 vị Tất đạt.
Virupa là một giáo sư tại Đại học Nalanda, ban
ngày ông dạy triết lý và ban đêm tu tập mật tông (Kim cương thừa). Ông dạy
môn: “Nguồn gốc và sự chuyển hóa của giáo lý Kim cương thừa”. Ông tu mật
tông trong suốt nhiều năm và tụng hàng ngàn câu thần chú mà không thu được
kết quả gì. Cuối cùng, ông đâm ra chán nản, không tu niệm nữa và quăn kinh
vào hố xí. Đêm đó, trong lúc ngủ ông mơ thấy Nairatmya, một nữ thần tượng
trưng cho sự giả tạo, mách bảo rằng ông đã niệm sai thần chú. Sáng ngày,
Virupa đến hố xí nhặt lại cuốn kinh, tụng niệm và dùng hình ảnh nữ thần
Nairatmya để thiền quán. Với sự tu tập này ông đã thành tựu và từ bỏ sự
nghiệp giảng dạy, đi lang thang như những du sĩ Du-già khắp xứ Ấn độ.
Có 3 tích quan trọng về Virupa: (1) Truyền
thuyết cho rằng ông ngăn chặn dòng chảy sông Hằng để vượt qua nó; (2) uống
rượu suốt ba ngày không ngưng nghỉ và (3) làm cho mặt trời đứng yên, bất
động trên bầu trời ở mọi lúc. Tạo được những chiến công như vậy có nghĩa
gì? Ngăn chặn dòng chảy sông Hằng hàm ý ngăn chặn dòng sông phiền não, đập
tan vòng sanh tử. Uống rượu ba ngày liền hàm ý thụ hưởng sự cứu cánh, hạnh
phúc cao tột. Điều khiển mặt trời đứng yên trên bầu trời muốn nói đến sự
điều khiển tâm trí sáng suốt, tinh thông mọi việc đến nhất thiết trí.
Trong tiểu sử Virupa chúng ta còn tiếp nhận một
điều mà Kim cương thừa đặt ra dựa trên những kiến thức trực tiếp. Virupa
là một giáo sư đại học Nalanda, nhưng ông không thoả mãn với sở tri của
mình; ngoài những kiến thức đạt được qua việc học hỏi nghiên cứu, ông còn
thu thập những tri thức trực tiếp để thực chứng cho chính mình.
Đề tài tương tự cũng hiển hiện trong tiểu sử
Naropa, ông cũng là một giáo sư đại học Nalanda. Ngày nọ, đang ngồi đọc
sách trong căn phòng của mình, một bà già hiện ra hỏi ông: Ngươi có hiểu
văn tự giáo lý chứa đựng trong những bộ luận không? Naropa nói ông hiểu.
Bà vui mừng rồi hỏi tiếp: Ngươi có hiểu tinh thần của giáo lý đó không?
Naropa thoáng nghĩ: với câu trả lời khi nãy bà đã quá vui mừng nên nói ông
hiểu tinh thần của giáo lý chứa đựng trong những bộ luận. Nhưng bà lão
đùng đùng giận dữ, hét rằng lần đầu ông nói thật, lần sau nói dối. Bà lão
là Vajravarhi (cũng là một nữ thần tượng trưng cho sự giả tạo). Kết quả từ
câu chuyện huyền bí về bà lão này cho thấy ông không hiểu tinh thần của
những điều ông đã đọc, ông từ bỏ nghề nghiệp và đi tìm chân lý.
Nghiên cứu một vài quan điểm trong những đoạn
thơ sau được cho là do 84 vị Tất đạt viết ra. Trong những đoạn thơ này nổi
lên nhân cách tôn giáo mới. Cũng như nhiều biểu tượng dùng để tải tầm quan
trọng của sự siêu việt, vượt ra ngoài Nhị nguyên.
Đoạn thơ như sau:
Dombi (tên một bà già bị ruồng bỏ)
Lều bà ngoài làng
Tiếp xúc với kẻ trọc đầu, Bà-la-môn
Tôi, tu sĩ khổ hạnh đầu đội hoa
Không thành kiến, đưa bà đến người hầu tôi.
Ở đây “Dombi” là biểu tượng của Nairatmya,
vị thần tượng trưng cho sự giả tạo.
“Túp lều bà nằm ngoài làng” hàm ý muốn thấu
triệt Tánh không, hành giả phải siêu việt lên trên giới hạn tục đế. Phần
còn lại của bài thơ có nghĩa là dù những tu sĩ và giáo sĩ Bà-la-môn có thể
tiếp nhận Tánh không, chỉ những du sĩ Du-già (những nhân cách mới của tôn
giáo) mới có thể thấu triệt Tánh không, được ví với người hầu của nhà thơ.
Đoạn hai của bài thơ là:
Người đàn bà ủ rượu
Kẻ uống rượu nhận ra
Cổng thứ mười của quán
Liền thong dong bước vào.
Ở đây “Người đàn bà ủ rượu” là biểu tượng nữ
thần Nairatmya. “Rượu” là một loại rượu phi nhị nguyên, vượt ra ngoài ý
tưởng này - kia. “Dấu hiệu cổng thứ mười” hàm ý Địa thứ mười của Bồ-tát
đạo, ngưỡng cửa Phật quả. Do đó, đoạn thơ muốn nói rằng người uống rượu
nhập vào Phật quả môn qua việc trụ vào phi nhị nguyên.
Với sự hưng thịnh của những dòng pháp thuật, lễ
nghi và biểu tượng cùng sự lớn mạnh của những dòng bình đẳng hứa hẹn những
quả vị cao nhất của tôn giáo dành cho tất cả mọi người. Vì thế mà hệ phái
Kim cương thừa lan rộng khắp xứ Ấn độ chỉ trong vài thế kỷ.
Chương 23
NỀN TẢNG TÔN GIÁO VÀ TRIẾT
LÝ
Tôn giáo và triết lý Kim cương thừa thâu
tóm tất cả các tư tưởng quan trọng của Đại thừa. Ba tư tưởng tôn giáo và
triết lý quan trọng của nó và cũng là tinh yếu nơi hệ phái Đại thừa là:
(1) Tánh không, (2) Duy Tâm và (3) Phương tiện thiện xảo.
Chương 22 đã bàn đến sự kiện Phật giáo Tây
tạng tôn hai Ngài Nagarjuna và Asanga là những người sáng lập ra tông phái
Kim cương thừa. Ngoài những yếu tố trong tiểu sử của hai Ngài như đã nói ở
chương 22, còn có một điều vô cùng ý nghĩa khác, mà dựa vào đó người ta
tôn hai Ngài là cha đẻ của Kim cương thừa, là hai Ngài ủng hộ và luận giải
về tư tưởng Tánh không và Duy thức. Sử liệu nhìn nhận một số tác phẩm
trong kinh tạng của Phật giáo Tây tạng được cho là do hai Ngài sáng tác,
dù cho các nhà học giả đang tranh cãi về điều này. Bất luận Nagarjuna và
Asanga có thật sự viết ra những tác phẩm của Kim cương thừa hay không,
điều hiển nhiên là nếu không có những tư tưởng do hai Ngài đặt ra, đối với
mọi người, hệ phái Kim cương thừa chắc chắn khó hiểu và cũng không thể
thích ứng được với từng hoàn cảnh xã hội.
Thứ nhất, Tánh không là tư tưởng đặc thù trong
các tác phẩm của Nagarjuna. Như đã nói ở Chương 22, người ta tin Nagarjuna
đã chuyển hóa những vật bình thường thành vàng bạc của quý. Điều đó là một
sự ẩn dụ cho quan điểm cốt yếu mà hệ phái Kim cương thừa chú trọng, chuyển
hóa sự cảm thọ của người phàm phu thành sự cảm thọ của người giác ngộ.
Nghiên cứu sự tương đồng về thuật giả Kim, thấy rằng đối với những sự
chuyển hóa như vậy hoàn toàn có thể, vì những vật bình thường tự thân nó
không có bản tính vĩnh cửu, chắc thật. Thí dụ, một mẫu than đá nếu có tính
bất di bất dịch, người ta không bao giờ có thể biến đổi nó thành một hình
thức khác được. Nhưng như chúng ta biết một mẫu than đá, dưới những điều
kiện nhất định, có thể trở thành một thanh Kim cương.
Quan điểm về đặc tính không đổi, độc lập được
thể hiện bằng từ Svabhava trong tiếng Sanskrit, có nghĩa là “tự hiện hữu
hay tự tính, còn chữ Nihsvabhava có nghĩa là không hiện hữu, nó đồng nghĩa
với Tánh không. Tánh Không, tất nhiên không phải là không có gì cả. Đó là
một trạng thái mà mọi hiện tượng hiện hữu phải y vào nhân duyên.
Thuyết Tánh không không những được kết hợp từ những quan điểm trong tông
phái Trung quán của Nagarjuna và giáo lý Trung đạo cũng như những thuyết
quan trọng khác của Đại thừa, nó còn xuất hiện trong tông phái Theravada.
Theo Kinh tạng Theravada, Phật ví tất cả các hiện tượng với ngọn lửa trong
cây đèn dầu, ngọn lửa này phải phụ thuộc vào tiêm đèn và dầu mới hiện hữu
được. Hay nói tương tự, tất cả tướng trạng đều y vào nhân duyên.
Trong hệ phái Đại thừa, quan điểm này được trình bày chi tiết hơn. Tất cả
các tướng trạng được ví với cuộc biểu diễn ảo thuật. Chẳng hạn, khi xem
con voi làm trò ảo thuật, người xem thấy nó cần phải có những điều kiện cơ
bản nhất định như nó đứng trên một đùn cát hay một miếng gỗ chẳng hạn, rồi
người ảo thuật đọc những câu thần chú gì đó để dắt nó ra và còn những
chuyện đại loại như thế. Vì thế, những sự hiện hữu hiện ra phải y vào nhân
duyên, hay nói tương tự chính nhân duyên sinh ra các tướng trạng. Bởi
chính sự phụ thuộc này (Y duyên) hay Tánh không mà sự biến hoá như đã nói
ở trên là hoàn toàn có thể.
Nagarjuna long trọng tuyên bố rằng nếu có bất
kỳ một bản chất nào cố định, thì sự tu tập chuyển hóa đem lại mục đích
giải thoát là điều hoàn toàn không thể. Nói cách khác, nếu mẫu than đá vừa
đề cập trước đây mà có bản chất bất di bất dịch, không thay đổi, nó sẽ
không bao giờ trở thành Kim cương được. Nói một cách tương tự, mỗi một
chúng sanh phàm phu, đầy phiền não nhiễm ô như chúng ta mà có được bản
tánh thường hằng bất diệt – nếu bản tính đó đồng nhất trong mỗi người – dù
có tu tập bao nhiêu giáo pháp đi chăng nữa cũng không thể trở thành một
người giác ngộ được. Bởi cứ bám vúi vào các phiền não (vô minh, tham ái,
và sân hận) mà phải sở hữu cái bản tánh phàm phu của chúng sanh; nhưng nếu
dùng Trí Tuệ để phá màng vô minh, dùng sự không tham ái diệt trừ tham ái,
dùng tâm từ bi đập tan lòng sân hận sẽ thay đổi những trạng thái của chúng
ta. Bằng cách thay đổi những trạng thái đó, có thể chuyển đổi tâm tính
phàm phu thành tâm tánh Phật đà, của người đã giác ngộ. Tánh không, do đó,
tuyệt đối hữu ích và cần thiết để giúp chuyển hóa từ trạng thái Luân hồi
sanh tử thành trạng thái giải thoát Niết-bàn.
Tư tưởng thứ hai nói đến vai trò của Tâm trong
sự cảm thọ. Theo Kim cương thừa Asanga và người em trai Vasubandhu đưa ra
hai quan điểm phổ quát: (a) tất cả những đối tượng (sắc trần) không có
hình thức hiện hữu cố định, chắc thật và (b) tất cả những đối tượng vẫn
hiện hữu ngay cả khi không có sự khuấy động nào từ bên ngoài.
Giống như những quan điểm chính khác của Đại
thừa và Kim cương thừa, hai quan điểm này cũng không thể thiếu trong hệ
phái Theravada. Quan điểm đầu tiên thể hiện rất rõ trong những bản văn của
Phật giáo. Chẳng hạn, trong Kinh có chép một câu chuyện rất nổi tiếng liên
quan đến trưởng lão Tissa (Để-sa). Khi có người hỏi: Thầy có thấy một
người đàn bà bên đường không ? Trưởng lão Tissa đáp rằng thầy không biết
người đó là đàn bà hay đàn ông, mà chỉ thấy một nắm xương khô bên đường mà
thôi. Câu trả lời của Tissa chứng minh một điều, rằng tất cả các đối tượng
đều không có những hình thức (tướng trạng) cố định, chắc thật; đối với
người đàn ông nào đó, người đàn bà là một người quyến rủ nhục dục, song
đối với người khác (như Tissa chẳng hạn) người đàn bà đó chỉ là một nắm
xương khô không hơn không kém.
Hệ phái Đại thừa cũng trình bày tỉ mỉ về quan
điểm này bằng cách dùng đến sự cảm thọ đối với một số tướng trạng biến
hiện của Thức. Chẳng hạn, một người nào đó khi uống quá nhiều rượu sẽ cảm
thấy trái đất đang rung chuyển hay thấy mình có một sức mạnh ghê gớm. Khi
dùng những hóa chất gây kích thích, gây ảo giác, thì sự nhận thức về đối
tượng của người dùng hóa chất rõ ràng sẽ khác đi. Trong Hai mươi đoạn Luận
giải về Duy Thức Vasubandhu minh họa cho quan điểm này bằng cách dùng sự
cảm thọ của chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo - xem Chương 19).
Ngài giải thích tường tận những cách thức khác nhau mà những đối tượng
xuất hiện đều phải nương vào những trạng thái chủ quan của người cảm nhận,
và Ngài kết luận rằng những đối tượng xuất hiện dưới những hình thức và
dáng dấp khác nhau đối với mỗi chúng sanh riêng biệt tuỳ vào trạng thái
nghiệp lực của chúng.
Quan điểm thứ hai, những đối tượng vẫn xuất
hiện khi không có sự khuấy động từ bên ngoài, cũng hiển hiện trong hệ phái
Theravada. Thí dụ, trong lời giải thích của Buddhaghosha (Phật-âm) về ba
cấp độ của thiền quán (cấp độ khởi đầu, cấp độ tiếp cận và cấp độ thuần
thục), hình ảnh của thiền (đối tượng) được lĩnh hội ở cấp độ thứ hai, cấp
độ tiếp cận. Giả sử, nếu hành giả dùng một cái bàn màu xanh để quán chiếu
ở cấp độ thứ nhất, thì ở cấp độ thứ hai hành giả đã thể nhập lĩnh hội về
cái bàn đó và lúc này hành giả chỉ quán về hình ảnh tinh thần bên trong
của nó mà thôi. Trong khi ở cấp độ thứ nhất hành giả dùng một đối tượng
của thân để làm công án thiền (đối tượng để quán chiếu), thì ở cấp độ thứ
hai hành giả không còn cần đến đối tượng bên ngoài đó nữa, vì lúc này đối
tượng hiện ra trong hành giả mà không cần một sự kích thích nào từ bên
ngoài. Có thể thấy điều này trong giấc mơ, những người nằm mơ vẫn cảm nhận
đối tượng bên ngoài mà không cần đến bất kỳ một sự tác động nào từ ngoại
cảnh.
Vasubandhu cũng nói thêm điều này về trường hợp
của những người cai quản dưới địa ngục. Nếu những người cai ngục này bị
sanh vào địa ngục do nghiệp lực của chính họ, tất nhiên họ phải chịu lấy
sự đau khổ ở đó. Nhưng nếu những người cai ngục này bị sanh vào địa ngục
chỉ để tra tấn, hành hạ những chúng sanh trong địa ngục, Vasubandhu nói
rằng họ hiện lên là do tâm của chúng sanh trong địa ngục tạo dựng ra. Nói
cách khác, bởi do những bất thiện nghiệp của mình mà những chúng sanh
trong địa ngục phải chiêu cảm lấy hình ảnh những người cai ngục, rồi những
người này quay trở lại tra tấn họ.
Trong tất cả những trường hợp này - Sự cảm thọ
đối với giấc mơ, đối với chúng sanh trong địa ngục, đối với Thiền định -
tất cả những đối tượng dấy khởi lên mà không cần có sự kích thích khuấy
động từ bất kỳ một đối tượng bên ngoài nào. Cho nên Nagarjuna nói rằng:
người họa sĩ vẽ bức chân dung về ma quỷ sẽ bị bức chân dung đó làm khiếp
đảm. Những chúng sanh chưa giác ngộ tự vẻ lên một bức tranh về sáu nẻo
luân hồi, rồi bị chính bức tranh đó ám ảnh và làm cho khiếp sợ. Qua sức
mạnh ghê gớm của Tâm, chúng sanh tự tạo ra sáu nẻo luân hồi, và rồi cứ ở
luẩn quẩn mãi trong cái vòng đó không dứt. Chúng sanh có thể tạo ra sáu
nẻo luân hồi sanh tử này, nói chính xác hơn, là bởi vì chúng sanh không có
bất kỳ sự tự hiện hữu hay Tự tánh nào.
Hai quan điểm đầu tiên này – quan điểm về Tánh
không và quan điểm về vai trò của Tâm trong việc tạo ra sự cảm thọ – phải
song hành với nhau. Những đối tượng không có sự tự hiện hữu (Tự tánh) độc
lập. Sự hiện hữu của chúng phải tương giao với nhân và duyên – quan trọng
nhất là những nhân duyên thuộc về Tâm: vô minh, tham ái, sân hận, tham
lam, giận dữ, đố kỵ v.v… Bởi vì trạng thái tinh thần này, và bởi các pháp
(mọi tướng trạng) đều là không, nên cái Tâm tạo dựng ra sự cảm thọ bằng
một hình thức cụ thể nào đó, một hình thức khổ đau trong 6 nẻo luân hồi
chẳng hạn.
Bởi Tâm có thể hoạt động một cách vô ý thức và
tự động để tạo ra sự cảm thọ đau khổ trong sáu nẻo luân hồi sanh tử, và
Tâm cũng có thể tạo ra hoạt động một cách có ý thức và cân nhắc nhằm mang
lại cảm thọ giải thoát. Điều này hiện rõ trong thí dụ về sự cảm thọ trong
Thiền định đã xét trước đây. Nói một cách thông thường, Tâm hoạt động một
cách vô thức và tự động để tạo ra sự cảm thọ. Mỗi người ứng lại một cảnh
tượng nào đó như hình dáng của một người đàn bà chẳng hạn là bởi họ đã
quen với trạng thái đó, bởi chúng ta đã bám vúi quá chặt vào vô minh và ái
dục. Trong Thiền định hành giả huấn luyện Tâm thức để nó hoạt động theo
cách trạch pháp nhằm thay đổi trạng thái cảm thọ. Nhờ sự cảm nhận trong
trạng thái Thiền định mà có thể thay đổi sự nhận thức về các đối tượng
tương tự với cách thức mà trưởng lão Tissa thay đổi sự nhận thức của thầy,
vì thế thầy thấy hình thể của người đàn bà kia chỉ là một nắm xương khô.
Lại nữa, chúng sanh thường tự động cảm nhận
những màu sắc khác nhau một cách không trực tiếp và không cụ thể. Nhờ
thiền quán chúng ta có thể thay đổi trạng thái đó để chúng ta có thể hình
dung và tạo ra, bất kỳ lúc nào ta muốn, những mảnh màu sắc hợp với sự cảm
thọ tinh thần của chúng ta. Quan điểm về Tánh không và quan điểm về sức
mạnh tạo tác của Tâm được trình bày rõ ràng trong những phương pháp Thiền
định của Kim cương thừa (sẽ nghiên cứu chi tiết hơn trong chương 29). Sự
song hành của Tánh không và sức mạnh tạo tác của Tâm tạo ra khả năng và
phương pháp cần thiết để chuyển hóa sự cảm tho. Có thể chuyển hoá sự cảm
thọ bởi vì không một vật nào có được bất kỳ một bản chất riêng biệt trong
tự thân nó, và chuyển đổi một cách thức nào đó là nhờ sử dụng công dụng
của Tâm để tạo ra và quyết định cách thức cảm nhận đối tượng.
Như đã đề cập ở Chương 22, Kim cương thừa là
một giáo pháp của Đại thừa cả về sự khởi đầu và mục đích. Quan điểm căn
bản trong hệ phái Đại thừa là sự phát khởi Bồ-đề tâm (sự quyết tâm đạt đến
Phật quả vì lợi ích của tất cả chúng sanh), và thành quả của sự quyết tâm
này là sự chứng đắc Phật quả, Pháp Thân và sắc Thân. Sắc Thân là sự hiển
lộ lòng đại từ bi của Phật, cái tự thân hiển lộ bằng những phương tiện
thiện xảo – quan điểm thứ ba rất hưng thịnh ở Đại thừa và cũng vô cùng
quan trọng trong Kim cương thừa.
Phương tiện thiện xảo chính là khả năng dìu dắt
chúng sanh tùy vào trình độ và cơ duyên của chúng. Nhiều kinh Đại thừa
dùng sự tương đồng để giải thích cho điều này, như trong Kinh Pháp Hoa Đức
Phật dùng thí dụ về cơn mưa cũng như ánh sáng của mặt trăng và mặt trời
(xem Chương 15)
Sắc thân của Phật hiện ra để hóa độ chúng sanh
tuỳ vào trình độ và căn tánh sai biệt của chúng. Sắc thân tự hiển lộ bằng
những hình thức khác nhau, như hình thức của một người góa phụ tuyệt đẹp
mà Đức Phật hiện ra để giáo hóa Kshema chẳng hạn (xem Chương 22). Trong
nhiều kinh và luận của Đại thừa chính Đức Phật thị hiện dưới hình thức
những người bình thường hay cả ma quỷ để đưa chúng sanh về bến giác, về
với giáo pháp giải thoát.
Cũng trong ý nghĩa này Phật thị hiện ra những
vị thần trong các điện của Kim cương thừa tuỳ vào căn tánh và trình độ của
chúng sanh. Thí dụ cho điều này là trường hợp của năm vị Phật báo thân,
chính Phật thị hiện ra năm hình thức đặc biệt này cho thích ứng với những
nghiệp lực cụ thể của chúng sanh. Theo đó, Đức Phật thị hiện ra Phật
Vairocana (Đại-nhật) để giáo huấn những chúng sanh mà phiền não căn bản là
vô minh; thị hiện Phật Aksobhya (Bất-động) để giáo hóa những chúng sanh mà
phiền não căn bản là sân hận; và thị hiện Phật Amitabha (A-di-đà) để giáo
hóa những chúng sanh có phiền não căn bản là tham ái.
Những sự thị hiện của Phật tác động đến chúng
sanh để mang lại giải thoát cho chúng. Đây là một hình thức tương quan qua
lại giữa sự thị hiện của Phật (dưới những hình thức của chư Phật ở cõi
trời Đâu Suất và những vị thần trong các điện thờ của Kim cương thừa) và
sự thăng tiến của chúng sanh nhờ việc tu tập Thiền định. Trở lại câu
chuyện Asanga và Đức Phật tương lai Di-lặc để minh họa cho quan điểm này.
Asanga đã tu thiền ròng rã suốt 12 năm trước khi thấy Đức Di-lặc. Ngài
Di-lặc luôn ở bên Asanga nhưng chỉ khi phát triển Tuệ nhãn, Asanga mới
trực tiếp nhận ra Đức Di-lặc. Một cách tương tự, chư Phật lúc nào cũng
hiển hiện bên cạnh chúng sanh nhưng để trực tiếp nhận ra các Ngài chúng
sanh phải phát triển tâm tánh qua Thiền định và phải tịnh hóa tâm phàm
phu. Sự tịnh hóa tâm trí này có thể ví với tiến trình điều chỉnh cái ti-vi
trước khi nó nhận được một chương trình truyền hình cụ thể. Chương trình
phát thanh truyền hình lúc nào cũng có, nhưng nếu không điều chỉnh máy vô
tuyến để bắt đúng tần số, không thể thấy được cảnh tượng mong muốn.
Ba quan điểm này - quan điểm về Tánh không,
quan điểm về năng lực tạo tác của tâm để quyết định bản chất sự cảm thọ,
và quan điểm về những phương tiện thiện xảo - trình bày cách thức giáo
pháp Kim cương thừa vận dụng, và nói lên tính đa dạng của những hình thức
và hình ảnh mà Kim cương thừa dùng để xử lý tiến trình chuyển hóa.
Chương
24
PHƯƠNG PHÁP TU TẬP
Như đã đề cập ở Chương 22 và 23, Kim cương thừa
và Đại thừa có chung quan điểm về sự khởi đầu và mục đích giác ngộ, nhưng
hai tông phái này khác nhau ở phương pháp hành trì. Điểm đặc biệt của Kim
cương thừa là ở chổ nó đưa ra một phương pháp nhanh chóng và khéo léo hơn
để đạt đến sự khởi đầu (nhận ra trạng huống đầu tiên của đau khổ) và thành
tựu mục đích (Phật quả).
Nguyên nhân sâu sa gây ra khổ đau là vô minh.
Vô minh hàm nghĩa thừa nhận thuyết nhị nguyên, hay sự đối đãi, giữa chủ
thể và khách thể (danh và sắc), giữa ngã và pháp. Có nhiều phương pháp
tháo gỡ các ý niệm nhị nguyên, bản chất của Vô minh. Bộ luận A-tỳ-đạt-ma
nhấn mạnh đến sự tháo gỡ bản ngã. Bằng cách tách biệt bản ngã (ta) -một
thái cực của nhị nguyên - tức là đã tháo gỡ chủ thể. Và tháo gỡ chủ thể
cũng hàm ý tháo gỡ khách thể. Đó là lý do tại sao luận A-tỳ-đạt-ma nhấn
mạnh sự phân tích tách rời bản ngã. Quan điểm này là mục đích chính của bộ
luận A-tỳ-đạt-ma. Dù không có nội dung riêng biệt, trong tam tạng
A-tỳ-đạt-ma có một bộ luận nói về luật Nhân quả, Phát-thú luận, trong đó
chủ thể cũng như khách thể hoàn toàn bị tháo gỡ.
Trong hệ phái Đại thừa và Kim cương thừa có một
phương pháp khác nhau không đáng kể, trong đó những hệ phái này khởi đầu
bằng cách nhắm vào đối tượng với những phương pháp khác nhau. Thí dụ,
trong Chương 23, đã nói rằng đối tượng không có hình thức hiện hữu cố
định, và đối tượng có thể xuất hiện mà không cần bất kỳ sự tác động nào từ
bên ngoài. Do đó, đối tượng thật ra chỉ là một đối tượng như trong giấc
mơ, nó không có thật.
Trong hệ phái Đại thừa và Kim cương thừa,
phương pháp phổ quát để tháo gỡ nhị nguyên chủ thể và khách thể hay ngã và
pháp như sau: khởi đầu bằng cách chứng minh rằng đối tượng chỉ như một
giấc mơ và không thật, rồi dùng sự thấu hiểu về tính Y duyên để chứng minh
rằng nếu đối tượng không thật thì chủ thể cũng không thật, như một giấc
mơ, nó phụ thuộc vào đối tượng. Cũng vậy, giống không thật, mầm cũng không
thật. Ý nghĩa này giúp tri kiến Tánh không của chủ thể và khách thể. Tiến
trình này phản chiếu rõ ràng trong quan điểm của hai tông phái chính của
Đại thừa - tông phái Duy tâm, tông phái mô tả bản chất của sự cảm thọ chỉ
như một giấc mơ và tông phái Trung quán luận, tông phái cho rằng bản chất
của các pháp phải nương vào nhân duyên mà có (Y duyên).
Ngoài nhị nguyên căn bản này - nhị nguyên chủ
thể và khách thể hay ngã và pháp - còn có nhiều cặp nhị nguyên khác cần
phải loại trừ nếu muốn đạt đến giác ngộ. Loại nhị nguyên chính yếu khác là
nhị nguyên giữa luân hồi và Niết-bàn, nó tạo ra sự đau khổ, vì vậy mà các
tông phái Đại thừa và Kim cương thừa dựa vào đó mà thành lập tư tưởng của
mình. Tựu trung, đây là cặp nhị nguyên nói đến những gì phụ thuộc vào nhân
duyên, có điều kiện cũng như những gì không phụ thuộc vào nhân duyên,
không có điều kiện. Thuyết này phản chiếu trong phương pháp mô tả về các
pháp luân hồi là những hiện tượng hữu duyên, có điều kiện; còn các pháp
Niết-bàn là thực tại không Y duyên, không có điều kiện. Luân hồi Y duyên
và có điều kiện bởi nó là đặc tính của sự dấy khởi và hoại diệt, trong khi
Niết-bàn không Y duyên bởi nó không phải là đặc tính của sự dấy khởi và
hoại diệt, của sanh-tử.
Nhưng cặp nhị nguyên này
có thật hay không, hay nó chỉ là sự tạo dựng? Theo quan điểm của Đại thừa
và Kim cương thừa, nhị nguyên giữa luân hồi và Niết-bàn là không có thật.
Nó chỉ là sự tạo dựng của tâm, và do đó nó là ảo tưởng. Đã chứng minh điều
này bằng phương pháp phân tích về đặc tính của luân hồi - đó là sự phân
tích về sự dấy khởi và hoại diệt.
Các hệ phái Đại thừa và Kim cương thừa khảo sát
sự dấy khởi và hoại diệt bằng những phương pháp khác nhau. Một trong những
phương pháp đó xuất hiện trong cách khảo sát sự dấy khởi của Nagarjuna
trong tác phẩm Trung quán luận. Nagarjuna xét đến bốn khả năng của sự dấy
khởi: (a) từ chính nó, (b) từ các pháp bên ngoài, (c) từ cả hai (từ chính
nó và từ các pháp bên ngoài) và (d) sự dấy khởi không có nguyên nhân (xem
Chương 18). Kim cương thừa chấp nhận sự khảo sát mang tính tương đồng về
sự dấy khởi, trong đó nói rằng nếu những đối tượng giống như những đối
tượng trong giấc mơ, thì thật sự không có bất kỳ sự dấy khởi nào cũng
không có bất kỳ sự hoại diệt nào vậy.
Trong Samadhiraja Sutra (Nguyệt đăng tam-muội
kinh) có chép một câu chuyện như vầy: có một người con gái trẻ đẹp trinh
tiết, nằm mơ thấy sinh được một người con, và cũng trong giấc mơ đó người
phụ nữ này lại thấy đứa con đó chết đi, đầu tiên (tất nhiên) cô ta rất
hạnh phúc và rồi vô cùng đau khổ? Nhưng khi tính dậy cô ta nhận ra rằng cô
ta thật sự không có con, và vì không có con nên cô ta thấy đâu có chuyện
mất con. Hay nói tương tự tất cả các pháp thực sự không có sự dấy khởi và
hoại diệt. Mà trong thực tại, các pháp không có sự dấy khởi và hoại diệt,
hẳn những đặc tính của Luân hồi không còn sở hữu những điều xấu ác, mà nó
là những đặc tính thật hữu. Lúc đó, sự phân biệt về Luân hồi và Niết-bàn
đã bị đập đổ. Và chúng ta kết luận như Nagarjuna đặt quan điểm này trong
tác phẩm Trung quán luận, rằng không còn một sự khác biệt tinh tế nào giữa
luân hồi và Niết-bàn. Nếu không có sự dấy khởi và hoại diệt, cố nhiên đặc
tính của luân hồi với đặc tính của Niết-bàn là một, nó hoàn toàn giống
nhau bởi Niết-bàn là đặc tính của sự không dấy khởi và hoại diệt.
Nhờ tháo gỡ ý tưởng về Luân hồi nên thấy sự
đồng nhất giữa nó với Niết-bàn. Luân hồi được định nghĩa là những gì có
điều kiện, nương vào nhân duyên, và những gì nương nào nhân duyên, có điều
kiện đều có tính dấy khởi và hoại diệt, nhưng thật sự không có bất kỳ sự
dấy khởi và hoại diệt nào. Nếu luân hồi không có những đặc tính này, đương
nhiên sự đối đãi của nó, Niết-bàn, cũng hoàn toàn Vô nghĩa.
Như đã nói từ đầu vì vô minh (nguyên nhân sâu
sa của đau khổ), nên thấy có nhị nguyên giữa chủ thể-khách thể và luân
hồi-Niết-bàn, nhưng các cặp nhị nguyên này là Tánh không như Nagarjuna đã
phân tích -tất cả điều này thể hiện quan điểm của tông Trung quán luận và
hệ phái Đại thừa. Đã có một cuộc tranh luận sôi nổi giữa hai tông phái này
để đi đến thống nhất quan điểm trên. Và để có lập trường chung về sự phân
biệt giữa tri thức gián tiếp và sự thấy biết trực tiếp bằng rung cảm hai
tông này cũng nổ ra một cuộc tranh cãi quyết liệt.
Cố nhiên truyền thống Phật giáo ghi nhận sự
phân biệt giữa tuệ tri chân lý bằng tri thức và sự liễu ngộ chân lý trực
tiếp (bằng sự rung cảm). Thí dụ, hệ phái Theravada ghi nhận tính khác nhau
giữa sự hiểu biết Tứ thánh đế bằng tri thức và đốn ngộ Tứ thánh đế bằng sự
chấn động của con tim một cách trực tiếp. Cũng vậy, điểm mấu chốt của vấn
đề trong các hệ phái Đại thừa và Kim cương thừa là chúng ta thấu hiểu tính
đồng nhất giữa luân hồi và Niết-bàn bằng tri thức hay bằng sự liễu ngộ
trực tiếp, và chứng nghiệm nó bằng sự rung động.
Nếu theo phương pháp đặt ra trong khế kinh
Bát-nhã-ba-la-mật - những phương pháp lập luận do Nagarjuna, Asanga,
Vasubandhu giải thích tường tận- sẽ thấu hiểu về sự không khác biệt giữa
chủ thể-khách thể, luân hồi-Niết-bàn bằng tri thức một cách gián tiếp.
Chính sự thấu hiểu bằng tri thức gián tiếp với những phương pháp nhanh hơn
và tinh xảo hơn, rồi chuyển hóa nó thành sự thấu hiểu trực tiếp bằng rung
động và có tính biến hóa mà phương pháp Kim cương thừa trở nên nổi tiếng
và có ảnh hưởng rộng khắp.
Bí quyết để tri kiến mỗi phương pháp của Kim
cương thừa là phải thấu triệt Tánh không của Vạn pháp. Tự thân các pháp
vốn là không. Nếu các pháp có tính chất, ý nghĩa ở một chừng mực nào đó,
bởi chúng do cái tâm tưởng, là sản phẩm của Tâm mà thôi. Hai thí dụ sau
trong hệ phái Theravada minh họa quan điểm này của Tánh không, hay trung
tính, của tất cả mọi tướng trạng. Trong kinh Alagaddupama (kinh Bắt rắn),
Phật ví các pháp với rắn và chiếc bè. Ngài dạy rằng người nào tinh thông
trong việc dùng tay bắt rắn, có thể bắt rắn mà không sợ tai họa (bị rắn
cắn), nhưng người nào không biết cách bắt rắn mà cố bắt, nhất định sẽ gặp
tai họa, sẽ bị rắn cắn. Ngài còn dạy rằng các pháp giống như một chiếc bè.
Chiếc bè là phương tiện để qua sông, nhưng khi sang sông rồi không cần ôm
giữ chiếc bè nữa; các pháp cũng vậy, không cần phải nắm giữ lấy nó một khi
đã liễu ngộ.
Những bài pháp của Phật nhấn mạnh đến Tánh
không của các pháp trong một cách cô đọng và súc tích. Tất cả các pháp
không phải các này, hay cái kia. Chúng là trung tính, phụ thuộc vào cách
thức chúng sanh nắm bắt hay sử dụng chúng. Bản tính của con dao không phải
là tốt hay xấu, cầm dao ở đầu lưỡi sẽ bị đứt tay, chảy máu; cầm dao ở đầu
cán sẽ sử dụng nó dễ dàng. Dùng chiếc bè làm phương tiện để qua sông tất
thấy nó hữu hiệu, nhưng sau khi sang sông rồi mà vác chiếc bè trên vai thì
tự gây khó cho chính mình mà thôi. Lợi ích hay bất lợi của các pháp không
phải nằm trong tự thân chúng mà ở cách thức sử dụng chúng.
Điều này không chỉ đúng đối với các đối tượng
bên ngoài (thân) mà còn hợp với trạng thái tinh thần bên trong (tâm) như
tham lam và sân hận. Thí dụ, kinh chép một câu chuyện về lời giáo huấn của
Phật cho người em họ Nanda. Vào đúng ngày thành hôn của mình, Đức Phật
khuyến nhủ Nanda bỏ tục xuất gia. Sau khi đã nhập đoàn thể tăng già, Nanda
bắt đầu nhung nhớ vị hôn thê của mình và cảm thấy hối tiếc trở thành người
xuất gia. Đức Phật biết tâm trạng của Nanda, vì thế Ngài đưa ông lên các
cõi trời để tận mắt nhìn thấy những tiên nữ xinh đẹp, dễ thương ở đó.
Nanda lập tức say đắm, mê muội những tiên nữ trên trời. Khi Đức Phật hỏi:
“So với vị hôn thê của ông, ông thấy họ thế nào?” Nanda đáp: “So với họ,
vị hôn thê của con chỉ trông như một bộ xương của con khỉ cái”. Đức Phật
bảo Nanda rằng nếu muốn đời sau chiếm được những tiên nữ này, cách tốt
nhất là ông tiếp tục ở trong tăng đoàn và tu tập giáo pháp.
Nanda trở lại tăng đoàn, tu tập với một lòng vô
cùng tinh tấn. Khi các tăng sỹ khác phát hiện tại sao Nanda tu học tinh
tấn đến lạ thường như vậy, họ trêu chọc ông. Cuối cùng, Nanda không còn
thấy có động cơ nào trong ông ta nữa và chứng quả A-la-hán, ông được biết
đến là một trong những người đầu tiên có khả năng kiểm soát các giác quan
của mình. Đây là thí dụ trung tính về trạng thái tinh thần bên trong của
lòng tham. Có một điểm đặc biệt trong sự thăng tiến của Nanda là Đức Phật
dùng lòng tham để làm động cơ giáo hóa Nanda định tỉnh và tinh tấn tu học.
Cho nên thấy rằng không chỉ những đối tượng như
rắn, chiếc bè, con dao, mà còn những trạng thái tinh thần khác đều có bản
chất trung tính và phụ thuộc vào cách thức chúng ta nắm bắt và sử dụng, tự
thân nó không có gì cả: chúng phụ thuộc vào phương thức chúng ta sử dụng
chúng, dù đối với sự thăng tiến hay trì hoãn về mặt tâm linh. Bởi thế Đức
Phật dạy rằng: “giết chết sân hận sẽ có lợi cho người giết”. Sân hận cũng
không phải tốt hay xấu. Nếu chống lại những bất thiện nghiệp sẽ đưa đến
giải thoát; nhưng nếu chống lại những thiện nghiệp sẽ không đem lại kết
quả tốt đẹp.
Đây là tư tưởng được phát triển trong hệ phái
Kim cương thừa và làm cho hệ phái này sử dụng những phương pháp đặc biệt
(sử dụng tất cả các pháp) cho sự thăng tiến về mặt tâm linh.
Ở một chừng mực nào đó chúng sanh dùng chỉ một
phần sự cảm thọ của mình để tạo sự thăng tiến cho mục đích giải thoát, sự
thăng tiến của họ càng trở nên chậm tiến hơn là điều không tránh khỏi. Bạn
dùng bao nhiêu thời gian cho việc Thiền định và tụng niệm? Bạn tiêu phí
phần lớn thời gian cho chuyện ăn, ngủ, đàm tiếu vô bổ. Bạn đã và đang lãng
phí số lượng thời gian đó, và bạn không dùng tất cả sự cảm thọ như vậy để
tạo sự thăng tiến cho mục đích giải thoát. Hệ phái Kim cương thừa dung nạp
quan điểm trung tính căn bản của các pháp, bởi nếu tất cả các pháp là
không, tại sao bạn không tận dụng chúng - từ cảnh tượng, âm thanh, và các
trạng thái tinh thần - cho sự thăng tiến về mặt tâm linh. Lý do này giải
thích hệ phái Kim cương thừa xem tất cả những cảnh tượng, âm thanh và
những trạng thái tinh thần khác như các vị thần linh, kinh chú và pháp
thân của Phật đà. Mọi thứ mà chúng ta thấy, nghe, nghĩ thật sự đều là
trung tính và Tánh không. Nếu chúng ta thấy những cảnh tượng, âm thanh và
ý nghĩ là sự hiển lộ của cảnh giới thanh tịnh, chúng ta có thể dùng những
yếu tố cảm thọ này trợ duyên cho sự thăng tiến đến giác ngộ. Sẽ giải thích
điều này chi tiết hơn ở các chương sau, ở đây đưa ra thí dụ này. Cái tách
tôi đang cầm đây, theo Kim cương thừa, thuộc về sắc uẩn, nó là hiển thân
báo thân của Phật Đại-nhật. Cái đối tượng thuộc về sắc uẩn này, do đó,
không đơn thuần là một cái tách mà còn là thân của Phật Tỳ-lô-giá-na. Đây
là tư tưởng vô cùng ý nghĩa trong hệ phái Kim cương thừa vì, như đã nói,
hệ phái này xem tất cả những cảnh tượng đều là thần linh, là hiển thân của
thực tại thanh tịnh. Tu tập theo Kim cương thừa bằng hoạt động cụ thể của
tâm hành giả cũng có thể thực tập tương tự.
Việc sử dụng các cảnh tượng, âm thanh, và những
trạng thái tinh thần đặc biệt hiện rõ trong nghi thức Thiền định của Kim
cương thừa. Ở phương diện này việc tu tập Thiền định của phái Kim cương
thừa được ví với chiếc bè - một chiếc bè dung chứa tất cả các cảnh tượng,
âm thanh và các trạng thái tinh thần. Chẳng hạn, trong nghi thức của Kim
cương thừa, có một thành phần hình dung (quán tưởng), đó là sự quán tưởng
về bất kỳ vị thần linh nào trong các điện thờ của Kim cương thừa; một
thành phần về âm vang thính giác, đó là việc tụng niệm kinh chú, và một
thành phần về mặt tâm linh, đó là sự đồng nhất giữa hành giả với công án
(đối tượng của Thiền định) và tu dưỡng sự thấu triệt phi nhị nguyên tính
và Tánh không .
Các chương tới sẽ nói rõ hơn về quan điểm này.
Bây giờ tôi dùng nghi thức tu tập Thiền định của phái Kim cương thừa để
chứng minh cho ba thành phần này - quán tưởng, thính giác và tinh thần tâm
linh - tạo ra một chiếc bè nghi thức (raft of ritual) dùng nhiều pháp môn
khác nhau và việc này sẽ đem lại một phương pháp Thiền định đặc biệt thiết
thực hữu hiệu.
Quý vị nào tu tập thiền Quán sổ tức hay các
phương pháp khác của Thiền định sẽ dễ dàng lĩnh hội chân lý này. Nếu quý
vị chỉ cố gắng tập trung vào hơi thở, sẽ đến một lúc tâm quý vị cảm thấy
mệt mỏi với việc chỉ cố gắng tập trung lên hơi thở và bắt đầu khởi lên tạp
niệm. Quý vị tụng niệm, tâm quý vị có thể cũng sẽ mệt mỏi vì phải nhớ
những lời kinh chú. Nếu quý vị thực tập thiền nội quán, tâm quý vị có thể
chán chường với sự phân tích sâu sa về các pháp. Nhưng đặc tính nhiều mặt
của phương pháp tu tập Thiền định của Kim cương thừa là, khi tâm quý vị
trở nên mệt mỏi và khởi lên vọng niệm, không còn có thể tập trung vào một
phương pháp quán tưởng về một vị thần linh nào đó, quý vị có thể hướng tâm
vào niệm chú; khi tâm mệt mỏi với việc tập trung chuyên sâu vào niệm chú,
quý vị có thể tập trung vào việc quán tưởng về Tánh không, và khi đã mệt
mỏi với việc quán tưởng về Tánh không, tâm có thể trở lại phương pháp quán
tưởng về một vị thần linh nào đó.
Thành thực mà nói, phương pháp Kim cương thừa
thiết thực và hữu hiệu hơn bất kỳ phương pháp Thiền định nào khác bởi đặc
tính đa phương diện của nó. Thí dụ, khi tâm bị xao lãng, vọng động, phóng
theo trần cảnh, hành giả không cần dùng phương pháp để đối trị lại cái tâm
xao lãng, mà dùng ngay chính cái tâm xao lãng đó luôn. Chính vì thế,
phương pháp Thiền định của Kim cương thừa cho phép tâm xao lãng, dù cho nó
chỉ được cho phép trong phạm vị tôn giáo hay trong lĩnh vực ý nghĩa về mặt
tâm linh nào đó. Bởi vậy, dù tâm có dựa hay có vướng vào đâu chăng nữa -
dù cho đó là hình thức quán tưởng về một vị thần linh nào đó, về một câu
chú, sự đồng nhất giữa hành giả và hình tượng thần linh, hay thậm chí Tánh
không đối với hình tượng đó-nó vẫn nương vào những điều có năng lực thực
sự về mặt tâm linh.
Phương pháp Kim cương thừa được ví như chiếc bè
với ý nghĩa rằng: nó không phải điều gì đó để nắm bắt. Nó chỉ là một
phương pháp, phương tiện mà thôi. Phương pháp này không giới hạn trong các
khóa thực tập Thiền định, có thể sử dụng nó trong mọi lĩnh vực.
Dù ở đâu và làm gì, chúng ta nên dùng toàn bộ
sự cảm thọ như “chiếc bè tu tập Thiền định” để tự thân mình có thể hợp
nhất và sử dụng tất cả những nguồn năng lượng này và cảm nhận được trong
việc thực hành của chúng ta. Trong sinh hoạt hằng ngày, mỗi người sẽ cảm
nhận những cảnh tượng, âm thanh, các trạng thái tâm linh trong một cách
đặc biệt, chuyển hóa chúng như thế này. Nói cách khác, chúng ta nắm bắt
những thành phần cảm thọ “bằng cán chứ không phải bằng lưỡi”. Bằng phương
pháp Thiền định của Kim cương thừa, hành giả học được cách nắm bắt những
cảnh tượng, âm thanh, và các trạng thái tâm linh một cách thiện xảo mà
không sợ gặp tai họa, rủi ro. Học cách nhận chân những cảnh tượng, âm
thanh và những trạng thái tâm linh mà chúng ta thấy, nghe và cảm thọ để
thay vì bị kẹt vào những sự cảm thọ này, thì chúng ta dùng chúng nhằm phát
triển về mặt tâm linh và tạo sự thăng tiến cho việc giác ngộ.
Chương
25
HUYỀN THOẠI
VÀ BIỂU TƯỢNG
Chương 24 đã nói đến đặc tính đặc thù của Kim
cương thừa, sử dụng toàn bộ sự cảm thọ để thành tựu sự liễu ngộ trực tiếp
về phi nhị nguyên. Để chuyển hóa toàn bộ sự cảm thọ thành sự tu dưỡng tinh
tấn về mặt tâm linh mang tính tôn giáo, quan trọng là phải chọn ra những
thành tố cảm thọ đặc biệt có công năng và ý nghĩa. Điều này không loại trừ
sử dụng toàn bộ sự cảm thọ cho sự thăng tiến về mặt tâm linh. Trước tiên
hành giả tập trung vào những hình thức cảm thọ đặc biệt có công năng và ý
nghĩa, dùng chúng như những thành phần cơ bản cho sự thay đổi cảm thọ. Rồi
mở rộng sự cảm thọ đã được chuyển hóa đó để cuối cùng nó thâu tóm tất cả
sự cảm thọ, ngay cả những sự cảm thọ có căn nguyên ít ý nghĩa hơn.
Bắt đầu hành giả chọn những thành tố đặc biệt
có công năng và hiệu nghiệm. Trong quy trình này, phải tách biệt những
thành tố nguyên mẫu. Những thành tố nguyên mẫu là những thành tố có phương
thức đã bám quá sâu vào cả ý thức cá nhân lẫn ý thức chung của cộng đồng
(đó là toàn bộ ý thức cá nhân của con người chúng ta).
Dưới đây là một vài thí dụ cụ thể về sự cảm thọ
nguyên mẫu. Thí dụ đầu tiên thuộc về lĩnh vực huyền bí. Tính chất nổi bật
nhất của sự huyền bí là cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác. Đề tài này có
từ buổi đầu nguyên thuỷ, mang tính chất huyền thoại, và hiển hiện trong
các câu chuyện huyền bí từ buồi khai thiên lập địa đến ngày nay. Điểm mấu
chốt trong cuộc tranh luận giữa Rama (La-ma vương) và Ravana
(La-phạt-noa-quỷ vương) trong Ramayana (một loại sử thi Ấn độ) là cuộc
chiến giữa sức mạnh của cái thiện và sức mạnh của cái ác, và trong những
câu chuyện thần thoại phổ biến nhất ý nghĩa này vẫn là đại ý nổi bật. Cách
đây không lâu, đại ý cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác được thần thoại
hóa trong phim khoa học giả tưởng “Chiến tranh giữa các vì sao”.
Đề
tài này cũng có trong quan điểm và sự hùng biện của các nhà chính trị và
những vị nguyên thủ quốc gia. Thí dụ, khi tổng thống Mỹ Ronald Regan gọi
Liên bang Xô Viết là: “Đế chế tội ác”, là ông ta mượn từ ngữ trong phim
“Chiến tranh giữa các vì sao” để nói đến quan điểm của mình, rằng cuộc
chiến giữa thế giới dân chủ và thế giới cộng sản là cuộc chiến của cái
thiện chống lại cái ác. Đề tài này quan trọng trong văn hoá nhân loại. Gọi
đề tài này mang tính thần thoại không làm mất đi giá trị của nó. Nếu có
một điều nào đó làm tăng giá trị của nó là bởi nó mang lại cho đề tài đó
một ý nghĩa có tính chất toàn cầu, nó tạo cho đề tài đó có một ý nghĩa về
mặt siêu phàm. Gọi một đề tài nào đó mang tính thần thoại không làm cho nó
thành cái không thật, mà ngược lại, còn tạo cho nó có ý nghĩa hơn nữa.
Cái
thiện và cái ác, tất nhiên, là nhị nguyên (như chủ thể-khách thể,
ngã-pháp, luân hồi-Niết-bàn …). Sự siêu việt lên trên nhị nguyên thiện-ác,
sự thống trị và tiếp nhận cái ác bên cạnh cái thiện hiện ra dưới hình thức
các vị thần linh ở các điện của Kim cương thừa. Chương 24 đã nói cách thức
hành giả có thể chuyển hóa những thành tố cảm thọ và dùng chúng cho sự
thăng tiến tâm linh. Điều chúng ta bàn ở Kim cương thừa là sự thống trị
của những điều mà con người thường cho là cái ác lên cái thiện, sự tiếp
nhận và chuyển hóa toàn bộ cái ác mang tính thần thoại dưới hình thức
những thành tố đặc biệt trong các điện thờ của Kim cương thừa.
Điều này giải thích những hình thức chung của
các vị thánh thần trong các điện thờ của Kim cương thừa. Quý vị nào đã
từng xem các bức tranh và các tượng điêu khắc của Kim cương thừa có thể
thắc mắc tại sao các vị thần linh lại đeo vàng ngọc trên đầu, các vật
trang trí bằng xương … Tại sao trong các bức tranh của Kim cương thừa lại
đầy những cảnh tượng khủng khiếp liên quan đến sự chết chốc?
Sở dĩ như vậy là vì trong ý thức của cộng đồng,
con người nói chung đều lầm tưởng, tự lừa dối mình để tin rằng các vật
trang trí bằng xương, những thân phần của con người và súc vật, khí giới …
đều là quyền năng của cái ác. Các vị thần linh của Kim cương thừa đeo
chúng trên người và sử dụng chúng là biểu tượng cho một số điều sau đây:
(1) nó biểu tượng sự chiến thắng của cái thiện lên cái ác; (2) nó hàm ý
đến việc sử dụng sức mạnh của cái ác cho mục đích của cái thiện, (3) nó
nói lên sự thống nhất và siêu việt lên trên nhị nguyên thiện-ác,
Niết-bàn-Luân hồi.
Ở mức độ thần thoại, cách thức này để chúng ta
thấu hiểu bản chất đặc biệt về hình tượng của các vị thần linh trong hệ
phái Kim cương thừa, là sự biểu đạt về sự thống trị và chuyển hóa cái ác,
và biểu đạt tính siêu việt lên trên nhị nguyên thiện-ác.
Hệ phái Kim cương thừa cũng đưa ra tính bình
đẳng về những đối tượng của lòng ưa muốn và ghét bỏ. Tính bình đẳng này
muốn nói đến sự siêu việt khỏi tính đối đãi lòng ưa muốn - sự ghét bỏ,
thiện, ác. Trong biểu tượng của hệ phái Kim cương thừa, những đối tượng
của lòng ưa muốn và sự ghét bỏ xuất hiện bên cạnh nhau. Thí dụ, những đồ
châu báu xuất hiện bên cạnh những sợi dây xâu những đầu người; hình dáng
dục vọng của người đàn bà bên cạnh xác chết; hoa sen, mặt trăng, mặt trời
xuất hiện bên cạnh máu mủ, thịt và xương trong cùng một bức chân dung. Tất
cả những đối tượng này xuất hiện bên cạnh nhau đều là biểu tượng của sự
siêu việt lên trên nhị nguyên cái thiện, cái ác, sự ưa muốn và chán
chường, thanh tịnh và ô nhiễm v.v…
Còn có những hình thái đặc biệt hơn, những dạng
cụ thể về một biểu tượng nguyên mẫu. Nhiều hình tượng được sử dụng để hàm
ý sự siêu việt nhị nguyên. Đầu tiên là biểu tượng đồng nhất giữa phái nam
và phái nữ, biểu tượng này rất nổi bật trong hệ phái Kim cương thừa. Biểu
tượng nguyên mẫu này có ý nghĩa rằng nó luôn là một phần cơ bản trong sự
cảm thọ của chúng sanh. Nó là những thành tố thâm căn cố đế, đã ăn sâu vào
ý thức của cá nhân và ý thức chung của tất cả chúng sanh, ý thức cộng
đồng. Tính đồng nhất giữa phái nam và phái nữ từng được dùng để làm biểu
tượng cho tính đồng nhất của những cặp đối đãi - thường là biểu tượng cho
tính đồng nhất giữa Trời và đất trong nghệ thuật, thi ca, và văn học.
Hệ phái Kim cương thừa sử dụng một cách thịnh
hành những thành tố có công năng và ý nghĩa của sự cảm thọ để miêu tả và
biểu tượng cho tính đồng nhất giữa Tánh không và hình thể, Niết-bàn và
luân hồi, Trí tuệ và Từ bi. Phái nữ là tiêu biểu cho Tánh không, Niết-bàn
và Trí tuệ, (như chúng ta đã thấy ở Chương 22) theo đó Tánh không được
trình bày dưới hình tượng những vị không hành nữ Naitratmya và
Vajravarahi. Phái nam là tiêu biểu cho sắc (hình thức của các pháp), luân
hồi và từ bi (những phương tiện thiện xảo). Phái nữ còn tiêu biểu cho Tánh
không, và phái nam biểu tượng cho sự sáng ngời v.v…
Cây cũng là một biểu tượng rất thịnh hành trong
những bức chân dung của Kim cương thừa, nó là biểu tượng của đời sống,
tăng trưởng và phát triển. Khi bắt đầu nương tựa vào một khoá tu tập Thiền
định của Kim cương thừa, hành giả thường quán tưởng những đối tượng của sự
nương tựa đặt dưới một cái cây. Giống như tính đồng nhất giữa phái nam và
phái nữ, cây cũng là một biểu tượng nguyên mẫu, nó mang ý nghĩa của nhiều
nền văn hóa.
Cây là biểu tượng của hầu hết tất cả các truyền
thống tôn giáo và văn hoá trên khắp thế giới. Thiên chúa giáo có cây hiểu
biết trong vườn địa đàng. Trong Phật giáo cây là biểu tượng nguyên mẫu rất
quan trọng, đặc biệt cây nương tựa (refuge tree) có thể được coi là đồng
nhất với cây Bodhi, Bồ đề. Và cây Giác ngộ nói về một thời kỳ trong lịch
sử văn hoá Ấn độ trước thời Phật Thích Ca.
Trong tranh ảnh Kim cương thừa có một vị thần
đặt ngai vàng dưới một gốc cây. Ngai vàng là biểu tượng nguyên mẫu của
Hoàng gia, quyền tối thượng và sự thống trị, như vương trượng và vòng
nguyệt quế. Như đã nói ở chương 22 hệ phái Kim cương thừa lấy tên từ
Vajra, một vương trượng của Phạm Thiên, biểu tượng của sự thống trị, thì
không còn nghi ngờ những biểu tượng này rất có ý nghĩa trong ý thức cá
nhân và ý thức cộng đồng nói chung. Ngay cả trong những xã hội cộng hòa ở
Mỹ, người ta rất quan tâm đến triều đình Hoàng gia. Có lẽ người Mỹ biết rõ
về triều đình hoàng gia Anh quốc hơn cả người Anh nữa. Ở Mỹ có rất nhiều
tài liệu và kịch được chiếu trên truyền hình về gia đình Hoàng gia Anh
quốc hơn cả ở Anh. Thậm chí thể chế tổng thống cũng gắn liền với đủ loại
biểu tượng về quyền tối thượng.
Như biểu tượng về cây, triều đình cũng là biểu
tượng trong hầu hết các tôn giáo chính. Jesus nói đến nước chúa và người
ta tôn Jesus là vua của người Do thái. Muôn loài tôn xưng Đức Phật là Pháp
Vương (vua của các Pháp) và là vua của giới y sỹ. Bài pháp đầu tiên Đức
Phật tuyên giảng là Dhammachakkappavattana Sutra (Kinh Chuyển Pháp Luân),
còn gọi là bài pháp làm nền tảng cho vương quốc của các pháp.
Giống như cây, ánh sáng, lửa và nước cũng có vị
trí nổi bật trong biểu tượng của Kim cương thừa. Lửa thường xuất hiện bên
cạnh các vị thần linh. Ánh sáng là một phương diện quan trọng cho tính
đồng nhất giữa hành giả và hình thức quán tưởng các vị thần linh. Lửa và
ánh sáng là những thành tố quan trọng và có ý nghĩa trong lịch sử tiến hóa
nhân loại. Có lẽ chính nhờ sự khám phá ra lửa mà con người trở nên văn
minh. Tất cả điều này ngày nay đã trở nên quá rõ ràng, vì trong sinh hoạt
của mình, ai trong chúng ta không cần dùng đến lửa? Trong hệ phái Kim
cương thừa, người ta coi lửa là tiêu biểu cho ngọn lửa hủy diệt và đốt
cháy vô minh.
Nước cũng là một biểu tượng ý nghĩa của Kim
cương thừa. Trong sinh hoạt của con người, nước còn quan trọng hơn cả
thức ăn, và tất nhiên, nó cần thiết để nuôi dưỡng đất. Nước đóng vai trò
quan trọng trong Kim cương thừa là không có gì lạ, nơi có biểu tượng của
lễ Quán đảnh (Symbol of initiation) – buổi lễ này nhằm khơi dậy hạt giống
tâm linh. Giống như tưới nước vào đất, vào hạt giống là để chúng tốt tươi;
trong buổi lễ Quán đảnh của Kim cương thừa, người ta rẩy nước để tạo cho
cái chủng tử tâm linh của người nhập đạo nẩy nở, rồi sau đó đạt đến trạng
thái thực chứng và chuyển hóa hoàn toàn, thực chứng Phật quả.
Biểu tượng hoa sen không chỉ có trong các bức
tranh của Phật giáo nói chung mà còn xuất hiện ở Kim cương thừa. Về mặt
văn hoá, nó đặc biệt quan trọng hơn các biểu tượng vừa xét đến. Hoa sen có
lẽ gắn liền và gần gũi nhất với sự nhận thức về mặt văn hóa của người Ấn
độ, nơi đây nó là một biểu tượng có ảnh hưởng đối với sự tiến triển về mặt
tâm linh và chuyển hóa. Vì lẽ đó, trong hệ phái Kim cương thừa nó là biểu
tượng của sự siêu việt, chuyển hoá và tiến triển về mặt tâm linh.
Trong hệ phái Kim cương thừa, còn có những
biểu tượng đặc biệt về các chữ cái, từ ngữ và những bài chú. Biểu tượng
này cũng mang ý nghĩa rằng nó là những thành tố đã ăn sâu và có ảnh hưởng
trong ý thức của mỗi cá nhân và cộng đồng nói chung. Đối với người “Sơ
khai mông muội” hay “người hiện đại” đều như nhau, tên về một vật gì đó là
nói đến sự khởi thủy về quyền năng thống trị lên vật đó. Người cổ đại
thống trị được sức mạnh thiên nhiên bằng cách đặt cho chúng những cái tên
nhất định nào đó. Chẳng hạn, bằng cách gọi trận giông bão là “Inda” (Đế
Thích, Phạm Thiên), người Bà-la-môn cổ đại đã thiết lập nên cơ cấu và một
mức độ kiểm soát lên trên nó. Quan điểm này phản hiện rõ ràng trong sự cảm
thọ cá nhân. Nếu có người đập vào xe của bạn, bạn không thể chế ngự được
người đó nếu bạn không biết tên người đó; nhưng nếu bạn biết rõ tên người
gây hư hỏng chiếc xe của ban, bạn có thể bắt y phải bồi thường. Tên, do
đó, có một sức mạnh, một quyền lực nhất định. Với ý nghĩa đó, tên tạo ra
thực tại của những đối tượng mà nó nói đến. Thí du, khi tôi nói đến từ
“Kim cương”, tất cả chúng ta đều mường tượng được nó như thế nào (thực tại
của Kim cương). Vì thấy công dụng của các chữ cái, danh tự và từ ngữ nên
Kim cương thừa dùng chúng dưới những hình thức, những bài chú để mang lại
một hình thái thực tại nhất định nào đó.
Hệ phái Kim cương thừa nhận chân triệt để cách
sử dụng danh từ và ngôn tự để tạo ra một thực tại cụ thể mà con người thời
xa xưa vốn cho chúng là một đặc tánh, nhìn nhận chúng như một quyền năng
hết sức ngây thơ.
Do vậy, Kim cương thừa sử dụng phóng khoáng có
chủ ý đối với những biểu tượng khẩu ngữ này là để làm phương tiện nhằm tạo
ra và chuyển hoá công dụng của Tâm. Trong tiếng Sanskrit người ta biểu
tượng hóa cái tâm bằng Âm tiết Hum, và theo cách hình dung, dùng biểu
tượng đó làm phương tiện để nói đến cái Tâm như là chủng tử của nhiều vị
thần linh khác nhau trong các điện thờ của Kim cương thừa. Các ký hiệu, từ
ngữ và danh tự đã tạo ra một công dụng nguyên mẫu, đã bắt rễ quá sâu vào ý
thức của cá nhân và ý thức của cộng đồng. Hệ phái Kim cương thừa dùng công
dụng nguyên mẫu này trong biểu tượng của nó, để mô tả cái tâm và làm cho
việc tuệ tri và chuyển hoá sự cảm thọ được dễ dàng hơn.
Cái bức tranh chân dung của Kim cương thừa cũng
nói đến tầm quan trọng và ý nghĩa của màu sắc như là biểu tượng của những
xu hướng và quan điểm nhất định nào đó. Đây là điều được các nhà tâm lý
học hiện Đại thừa nhận. Giữa thập niên 1930 một nhà tâm lý học nổi tiếng
người Mỹ khuyên một công ty sản xuất thuốc lá rất có ảnh hưởng chuyển biểu
tượng trên gói thuốc lá từ màu xanh sang màu đỏ; chỉ trong vài ngày, giá
thuốc lá tăng từ 50 đến 60 phần trăm. Khi những gói mang màu đỏ không đủ
để bán, nhà sản xuất bán những gói thuốc mang nhãn hiệu màu xanh, và giá
liền hạ xuống một mức đáng kể. Rồi khi biểu tượng được đổi lại màu đỏ, giá
thuốc lại tăng lên. Từ đó, các nhà quảng cáo và các nhà thiết kế rất chú
trọng đến ảnh hưởng của màu sắc lên sự lựa chọn của khách hàng.
Màu sắc có những vai trò và công dụng đặc biệt
của nó. Thí dụ, màu trắng là biểu tượng cho sự tinh khiết – ý nghĩa này
hết sức thông dụng, mang tính phổ cập và hiển nhiên. Nhưng màu trắng còn
là biểu tượng cho sự u ám, vô minh; và mặt khác, nó còn là biểu tượng của
sự thấu triệt Dharmadhātu (pháp giới). Biểu tượng cuối cùng này giải thích
tại sao trong Mandala (bản đồ pháp giới) về năm vị Phật báo thân, đức
Đại-nhật Phật mang màu trắng, và trong điện thờ Kim cương thừa Vajrasattva
(Kim-cương-tát-đỏa) được tô vẻ bằng màu trắng là để nói đến tầm quan trọng
của sự tịnh hóa những tội lỗi.
Màu xanh cũng như màu đen là biểu tượng cho sự
cố định, không thay đổi. Màu đen, không như các màu khác, không thể thay
đổi được. Ở một phương diện, màu xanh biểu tượng cho sự thù hận, nhưng ở
một phương diện khác nó biểu tượng cho sự tri kiến quán triệt bản chất của
các pháp mà không hề bóp méo chúng (như màu xanh của nước phản hiện không
thiên lệch vô số đối tượng khác nhau). Do đó, màu xanh được ví với một tấm
gương phản chiếu sự vật. Màu đỏ là màu lửa, biểu tượng cho lòng tham và
cũng tượng trưng cho ý thức phân biệt.
Những màu sắc mang những thông điệp biểu tượng
này, không chỉ liên quan đến 5 vị Phật báo thân, mà còn gắn chặt với các
vị thần linh khác. Tuy những thông điệp biểu tượng này thường biểu hiện ở
mức độ tiềm thức, song ý nghĩa đặc biệt của chúng là khơi dậy những cảm
xúc cũng như những phản ứng nhất định. Chẳng hạn, những người hút thuốc
không biết động cơ nào thúc đẩy họ mua những gói thuốc có biểu tượng màu
đỏ thay vì những gói thuốc có biểu tượng màu xanh.
Nghệ thuật và tranh ảnh Kim cương thừa còn hiện
diện những đối tượng ý nghĩa và đặc biệt hơn – những vật dụng mà các vị
thần linh cầm trong tay, và những vật trang trí các vị tô điểm trên người.
Thí dụ, thần Vajrakilaya của Kim cương thừa giẫm lên hai vị thần Shiva và
Parvati của Ấn độ giáo. Thoạt nhìn, dễ lầm tưởng đây là một kiểu chiến
thắng của Phật giáo, nhưng ý nghĩa thật sự của nó ẩn dấu bên trong. Hai vị
thần Shiva và Parvati tiêu biểu cho hai sự cực đoan; vĩnh cửu và hư vô.
Những điều mà thần Vajrakalaya nói đến, do đó, là biểu tượng của sự siêu
việt, hay Tánh không khỏi hai thái cực này. Vả lại, tranh ảnh Kim cương
thừa cũng họa thần Mahakala đứng trên một cái thây chết. Thây chết là
tượng trưng cho cái tôi, bản ngã. Thần Mahakala giẫm lên nó biểu tượng của
sự chiến thắng lên bản ngã, cái tôi.
Đặc biệt hơn nhiều vị thần của Kim cương thừa
cầm đao trong tay. Điều này thể hiện ở các bức tranh của Phật giáo Đại
thừa, như Bồ-tát Văn Thù cầm lưỡi kiếm Trí Tuệ chém màng vô minh để phá
vòng sanh tử. Cũng vậy, đao trong tay các vị thần ở Kim cương thừa là
những dụng cụ biểu tượng cho trí Tuệ dùng để phá màng vô minh và vọng
tưởng.
Có những bức tranh vẻ hình các vị thần uống
máu, tượng trưng cho phiềøn não. Về mặt biểu tượng việc các vị thần uống
máu là minh chứng cho khả năng diệt trừ và ngăn chặn phiền não của các
Ngài. Bên cạnh đó, các vị thần của Kim cương thừa cầm thanh kim cương và
cái chuông. Kim cương là biểu tượng của những phương tiện thiện xảo, và
cái chuông biểu tượng cho trí Tuệ; do đó, việc các Ngài nắm Kim cương và
chuông trong tay là tượng trưng cho tính đồng nhất của phương tiện thiện
xảo và trí Tuệ, hình tướng và Tánh không, luân hồi và Niết-bàn.
Các vị thần còn đội năm cái sọ người trên đầu.
Năm cái sọ người này tượng trưng cho Trí tuệ siêu xuất hay sự thấy biết
siêu việt của năm vị Phật báo thân: (a) tri kiến về Pháp giới, (b) tri
kiến như một tấm gương phản chiếu tất cả sự vật, (c) tri kiến về sự bình
đẳng, (d) tri kiến sự phân biệt và (e) tri kiến sự thành tựu. Thân thể các
Ngài được tô điểm bằng sáu vật trang trí được làm từ xương-vòng đeo ở tay,
vòng đeo ở chân, vòng đeo ở lưng v.v… sáu vật trang trí này tượng trưng
cho sáu Ba-la-mật: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và
Trí Tuệ.
Những vật như thế có ảnh hưởng mạnh ở khoa chân
dung của Kim cương thừa không chỉ có ý nghĩa trong việc gây ra những cảm
giác kỳ quái và ghê rợn, những vật dụng này gắn chặt chẽ với một số mức độ
ý nghĩa khác nhau:
- ý nghĩa còn ở dạng sâu trong tiềm thức
- ý nghĩa được thể hiện bằng phương tiện văn
hóa
- ý nghĩa liên quan một cách hết sức đặc biệt
và chính xác đến những nội dung cụ thể trong giáo lý nhà Phật.
Thật là vô cùng sai lầm nếu xem các biểu tượng
và những sự tượng hình của Kim cương thừa là những thứ tuỳ tiện, ngẫu
nhiên cũng như chỉ mang ý nghĩa về mặt cảm xúc. Không chỉ có thế, hệ phái
Kim cương thừa sử dụng những câu chuyện thần thoại và biểu tượng có chủ ý
và cân nhắc cẩn thận nhằm tạo sự thăng tiến của hành giả trên đường thành
tựu Phật quả.
Chương
26
TÂM LÝ, SINH
LÝ VÀ VŨ TRỤ HỌC
Trong hệ phái Kim cương thừa, tâm lý học,
sinh lý học và vũ trụ học liên hệ chặt chẽ với nhau. Chương này sẽ trình
bày quan điểm này và phát thảo một cách chung nhất về mối quan hệ tương hỗ
này. Tính tương quan phụ thuộc đồng nghĩa với tính tương đồng, hay Tánh
không, và là một trong hai tính chất chính của hệ phái Kim cương thừa. Ở
Kim cương thừa tương quan phụ thuộc có một ý nghĩa đặc biệt: sự xâm nhập
vào nhau. Quan điểm này nói rằng, trong một chừng mực nào đó, mọi thứ phụ
thuộc vào mọi thứ khác để hiện hữu cũng như để có bản chất riêng của nó,
vì thế mọi thứ tự thân nó đã chứa đựng những chủng tử, nhân duyên của mọi
thứ khác. Có thể thấy điều đó trong quan điểm về sự tương quan phụ thuộc
giữa từng phần và tổng thể, vì bản chất của tổng thể phụ thuộc vào bản
chất từng phần; và ngược lại, bản chất từng phần dính vào bản chất tổng
thể.
Về mặt truyền thống, quan điểm này được
trình bày tỉ mỉ bằng những thí dụ ở Phật giáo Đại thừa như dụ về lưới của
Phạm Thiên. Trong thí dụ này, mỗi phần của tấm lưới phải phụ thuộc vào
những thành phần khác để tồn tại và sở hữu bản chất riêng của nó, và theo
một ý nghĩa nào đó, mỗi phần nhỏ của tấm lưới đều thâu tóm những đặc tính
siêu nhỏ của toàn bộ tấm lưới. Quan điểm tương quan phụ thuộc hay sự xâm
nhập vào nhau giữa từng phần và tổng thể đã trở thành quan điểm rất quan
trọng ở Trung Hoa, nơi đây tư tưởng quan trọng nhất là tư tưởng về triết
lý Hua-Yen (Hoa Nghiêm), triết lý về Pháp giới (hay tổng thể).
Quan điểm này cũng phản chiếu ở hệ phái Kim
cương thừa, nó biểu đạt bằng từ Tantra1. Về mặt nghĩa đen và nghĩa cơ bản,
từ tantra nói đến quan điểm về một sợi vải trong tấm vải (xem Chương 22).
Nhờ sự tương đồng về tấm vải, có thể thấu hiểu sự xâm nhập vào nhau giữa
từng phần và tổng thể, như từng phần nhỏ của tấm vải tạo ra bộ khung kéo
dài xuyên suốt tấm vải.
Trong hệ phái Kim cương thừa quan điểm về sự
xâm nhập vào nhau giữa từng phần và tổng thể cũng được biểu đạt bằng quan
điểm về sự xâm nhập vào nhau giữa những chúng sanh đơn lẻ (những chúng
sanh ở đây nói đến từng phần, hay có nghĩa là thế giới vi mô) và vũ trụ
(cái này nói đến tổng thể, cả thế giới vĩ mô).
Bằng cách giới thiệu một quan điểm đặc biệt hơn
về tâm lý, sinh lý và vũ trụ học Kim cương thừa muốn xét đến quan điểm xem
con người và vũ trụ giống như thế giới vi mô và thế giới vĩ mô.
Vai trò linh động của tâm lý, sinh lý và vũ trụ
học trong hệ phái Kim cương thừa thể hiện ở quan điểm cơ bản thứ hai của
hệ phái này - quan điểm về tính hay thay đổi của sự cảm thọ. Điều này được
hiển lộ trong sự cảm thọ của Asanga, trước đó Ngài thấy đức Di-lặc chỉ là
đức Di-lặc mà thôi, chứ không thấy gì ngoài điều đó; sau đó, Ngài thấy đức
Di-lặc dưới hình thức một con chó bệnh hoạn, và cuối cùng thấy được sự
chuyển hóa báo thân của Ngài Di-lặc. Quan điểm này cũng được phản hiện
trong chúng sanh ở sự quan sát các pháp có tính sai khác tuỳ vào cảnh giới
chúng sanh chiêu cảm: tính dễ thay đổi của sự cảm thọ này tương giao đối
với trạng thái phụ thuộc, hữu duyên của tâm thức. Bởi thế nên thực tại y
vào những trạng huống của tâm: với cái tâm nhiễm ô, sẽ cảm nhận và thể
nghiệm thực tại theo cách loạn động, phóng theo trần cảnh; với tâm chuyển
hóa thanh tịnh sẽ cảm nhận và thể nghiệm thực tại theo cách hỷ lạc và tịch
tĩnh.
Nếu thấu hiểu mối quan hệ giữa cá nhân và vũ
trụ trong tâm lý, sinh lý và vũ trụ học của Kim cương thừa, và thấy được
cách thức mối quan hệ này vận hành linh động để mang lại sự chuyển hoá,
(mục đích của Kim cương thừa), thì mới có thể điều khiển tính dễ thay đổi
trong cách cảm thọ của tâm.
Đầu tiên nói đến tâm lý học trong hệ phái Kim
cương thừa. Như đã nói từ đầu, hệ phái Kim cương thừa phát triển rất logic
và mang tính chất tự nhiên của Phật giáo nói chung, tính luận lý đó biểu
hiện trong các tông phái Đại thừa và Theravada. Cho nên, Kim cương thừa
tiếp nhận những phần giáo lý cơ bản vốn là trung tâm trong triết lý học
Phật giáo nói chung không có gì lạ. Những phần cơ bản này là ngũ uẩn. Như
trong hệ phái Đại thừa và Theravada, năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và
thức vận hành như những thành tố cơ bản trong tâm lý học ở Kim cương thừa.
Trong trạng thái ô nhiễm của Tâm trạng thái thông thường của tất cả người
phàm phu trước khi chuyển hóa sự cảm thọ – năm uẩn này bám chặt lấy năm
phiền não hay năm sự tạp nhiễm: vô minh, ngã mạn, tham ái, đố kỵ và thù
hận. Ba phiền não cơ bản gây ra sự cảm thọ đau khổ là vô minh, tham ái, và
thù hận.
Năm phiền não này liên lụy đến năm cảnh giới
dẫn dắt chúng sanh đến con đường đọa lạc, không giải thoát. Ở ý nghĩa này,
vô minh thích ứng với cảnh giới súc sanh, ngã mạn thích ứng với cảnh giới
ma quái, tham ái thích ứng với cảnh giới ngạ quỷ, đố kỵ thích ứng với cảnh
giới A-tu-la, và thù hận thích ứng với cảnh giới địa ngục. Năm phiền não
này cũng gây ra nguyên nhân khiến chúng sanh phải đọa vào năm cảnh giới
khổ đau đọa lạc đó.
Đây là bức tranh thực tại phản chiếu từ quan
điểm chưa được chuyển hóa của chúng sanh, cái quan điểm này tiêu biểu cho
sự cảm thọ của tất cả chúng ta, mà cũng là tiêu biểu cho sự cảm thọ của
Ngài Asanga khi Ngài chưa thể thấy Đức Di-lặc, đó là quan điểm nhiễm ô.
Ngay cả trong khế kinh Bát-nhã-ba-la-mật cũng nói những trạng huống này
ảnh hưởng đến thành quả tu tập. Chẳng hạn, khi chư vị Bồ-tát trên đường
thăng tiến đến Phật quả, năm uẩn trong các Ngài đã trở nên hoàn toàn thanh
tịnh, vắng lặng. Trong hệ phái Kim cương thừa, những trạng huống phổ quát
này có nội dung hết sức đặc biệt, vì thế ở lĩnh vực tâm lý học của nó một
khi tâm được tịnh hóa bằng sự tu dưỡng thiện nghiệp, năm uẩn được chuyển
hóa và hiện ra thành năm vị Phật báo thân theo thứ tự lần lượt như sau:
sắc uẩn khi đã tịnh hóa hiện ra sắc thân của Đại-nhật Phật; thọ uẩn khi đã
tịnh hóa hiện ra sắc thân của Ratnasambhava (Bảo Sanh Phật); tưởng uẩn khi
đã tịnh hóa hiện ra sắc thân của A-di-đà Phật; hành uẩn khi đã tịnh hóa
hiện ra sắc thân của Bất Không Thành Tựu Phật, và thức uẩn khi đã tịnh hóa
hiện ra sắc thân của Bất Động Phật.
Năm vị Phật báo thân này được miêu tả bằng các
bức tranh trong mandala (Mạn-đà-la), đó chính là sự hiện thân ở cảnh giới
thanh tịnh, đã chuyển hóa. Những điều mà năm vị Phật báo thân hiện thân là
những sự cảm thọ tâm sinh lý về năm uẩn dưới hình thức những chúng sanh đã
thanh tịnh, đã được chuyển hóa. Năm vị Phật cùng hiện trong chúng ta dưới
hình thức sự chuyển hóa từ sự cảm thọ ô nhiễm sang sự cảm thọ thanh tịnh,
giải thoát.
Năm vị Phật báo thân cũng biểu tượng cho năm vị
Phật gia trong Kim cương thừa: Phật, Ratna (bảo báu) Padma (hoa sen),
Nghiệp và Kim cang2. Đây là những biểu tượng của ngũ uẩn khi đã chuyển hóa
trạng thái cảm thọ chuyển hóa.
Ở cấp độ chưa chuyển hóa, năm uẩn bám chặt lấy
năm phiền não, và ở trạng thái đã chuyển hóa thanh tịnh, năm vị Phật báo
thân tương xứng với năm sự tri kiến siêu việt. Sự thấy biết đầu tiên trong
năm tri kiến là tri kiến về pháp giới, chỉ về Đại-nhật Phật. Tri kiến pháp
giới là sự thấy biết các pháp như thật, sự thấy biết về bản chất, hay đặc
tính, tinh túy của các pháp. Nói cách khác, Pháp giới là bản chất cốt yếu
của các pháp vì cái tính không và phi nhị nguyên của nó. Chính vì vậy, sắc
uẩn khi đã chuyển hóa trở thành Đại-nhật Phật và sự chuyển hóa này hàm ý
đến sự chuyển hóa từ cái phiền não vô minh thành sự thấy biết siêu việt
bản tánh thật hữu của các pháp, của Tánh không .
Thứ hai, thọ uẩn khi đã chuyển hóa thì xuất
hiện dưới báo thân của Bảo Sanh Phật, đó là sự chuyển hóa từ cái phiền não
ngã mạn thành sự thấy biết siêu việt về thể tính bình đẳng. Chính sự tri
kiến này làm cho các pháp trở nên bình đẳng. Lại nữa, Kim cương thừa hiện
lên tiếng vang sâu thẳm về những triết lý đã có trong khế kinh
Bát-nhã-ba-la-mật. Khế kinh này nói rằng: Trí tuệ ba-la-mật sẽ làm cho
những sự không bình đẳng thành bình đẳng. Trường hợp của Bảo Sanh Phật, sự
tri kiến siêu việt làm cho các pháp trở nên bình đẳng. Sự thấy biết bình
đẳng hơn tất cả các điều gì khác ở chổ không còn thấy có sự phân biệt giữa
Luân hồi và Niết-bàn. Chư Phật và chư Bồ-tát nhờ thành tựu sự thấy biết
siêu việt về tính bình đẳng, không còn thấy có sự sai khác giữa Luân hồi
và Niết-bàn mà thong dong tự tại đi lại trong tam giới.
Thứ ba, thọ uẩn khi đã chuyển hoá và ở trạng
thái thanh tịnh là hiện thân của A-di-đà Phật. Sự chuyển hóa này tương ứng
với sự chuyển hóa tham ái thành sự thấy biết siêu việt lên trên sự phân
biệt. Chính sự thấy biết này mà liễu ngộ các pháp tồn tại được là do phụ
thuộc vào đặc tính đơn lẻ của chúng. Theo một ý nghĩa nào đó, sự thấy biết
này tương ứng với sự tri kiến về pháp giới, sự thấy biết đặc tính tinh tuý
và tổng thể của vạn pháp, đó chính là Tánh không. Vì thế, chính nhờ sự
thấy biết về Pháp giới mà thành tựu sự tri kiến vô phân biệt, đó là sự tri
kiến những đặc tính đặc thù của các pháp.
Thứ tư, hành uẩn khi đã tịnh hóa là hiện thân
của Bất Không Thành Tựu Phật. Sự chuyển hóa này là biểu tượng cho sự tịnh
hóa phiền não đố kỵ thành sự tri kiến siêu việt về thành tựu. Sự tri kiến
này là khả năng biết tường tận những trạng huống đích thực của tất cả
chúng sanh để hành giả có thể trợ duyên một cách tốt nhất cho họ trên
đường thăng tiến Phật quả.
Cuối cùng, Thức uẩn khi đã tịnh hóa là hiện
thân của Bất Động Phật. Sự chuyển hoá này biểu tượng cho sự chuyển hóa
phiền não sân hận thành sự tri kiến siêu việt như tính chất của một tấm
gương, phản chiếu các sự vật hiện tượng như thật. Cái gương phản chiếu
đích xác những đối tượng sự vật đặt trước nó nhưng nó không hề bị tác
động, biến đổi bởi những đối tượng sự vật mà nó phản chiếu.
Sự sắp xếp đối xứng giữa sự cảm thọ ô nhiễm và
sự cảm thọ thanh tịnh cũng được nói đến như là những thành tố cơ bản của
sắc chất. Ở trạng thái tịnh hóa, năm vị Phật báo thân hình thành từ năm
thành tố thuộc thế giới vật chất-Đất, nước, gió, lửa và Không, mà năm vị
Phật báo thân, theo Kim cương thừa cũng là báo thân của những vị Không
hành nữ. Không giới ở mức độ thanh tịnh đã chuyển hóa sẽ thành thân một vị
không hành nữ, cũng đồng nghĩa với Đại-nhật Phật, tương ứng với sắc uẩn.
Đất, nước, lửa, gió ở trạng thái tịnh hóa là thân bốn vị thần không hành
nữ (female deities), lần lượt cũng được nhìn nhận là chư Phật Bảo Sinh,
A-di-đà, Bất Không Thành Tựu và Bất Động, và theo thứ tự tương xứng với
các uẩn: thọ, tưởng, hành, và thức.
Hai trạng thái cảm thọ này được sắp xếp rất đối
xứng nhau, một tiêu biểu cho đời sống nhiễm ô, và một tiêu biểu cho đời
sống thanh tịnh đã chuyển hoá. Đây chính là tinh yếu cơ bản thuộc lĩnh vực
tâm lý học của Kim cương thừa.
Còn trong lĩnh vực sinh lý của Kim cương thừa,
năm vị Phật báo thân chính là năm hợp thể ngũ uẩn, phản chiếu trong thân
thể mỗi người. Chúng được đặt tại năm phần trung tâm thuộc nguồn năng
lượng siêu nhiên trong cơ thể mỗi người, gọi là cakras (trung khu hay Luân
xa). Năm phần trung tâm thuộc nguồn năng lượng siêu nhiên được đặt tại
đỉnh đầu, cổ họng, trái tim, rốn, và cơ quan sinh dục. Tại mỗi bộ phận,
đều biểu tượng cho một trong năm vị Phật gia, hay năm vị Không hành nữ của
Kim cương thừa: Phật Đại-nhật là hình thức tịnh hóa của sắc uẩn được đặt ở
đỉnh đầu; Phật A-di-đà là hình thức tịnh hoá của tưởng uẩn được đặt ở yết
hầu; Phật Bất Động là hình thức tịnh hóa của thức uẩn được đặt ở trái tim;
Phật Bảo Sinh là hình thức tịnh hóa của thọ uẩn được đặt ở rốn; và Bất
Không Thành Tựu là hình thức tịnh hóa của hành uẩn được đặt ở bộ phận sinh
dục.
Có một vài tuyến năng lượng được gọi là Nadis3
gắn kết với năm phần trung tâm năng lượng này (Trung khu hay Luân xa). Cho
dù có rất nhiều nguồn năng lượng, song ba nguồn năng lượng quan trọng nhất
là: avadhuti (trung tuyến), bắt nguồn từ đỉnh đầu chạy xuyên qua năm trung
khu, rồi đến cơ quan sinh dục. Hai tuyến năng lượng còn lại là ở bên trái
và bên phải trung tuyến, lần lượt là Rasana và Lalana (lặc-la-noa và
la-la-noa). Trong Kim cương thừa, ở trạng thái tu tập thăng tiến, Hành giả
có thể sử dụng và điều khiển tuyến năng lượng siêu nhiên - nguồn năng
lượng tâm thức-qua nhiều trung khu luân xa này. Điều này cho phép hành giả
thống nhất sự đối đãi phản hiện trong cách tri nhận tâm sinh lý của từng
cá nhân và cộng đồng nói chung, để trong lúc quán tưởng hành giả thấy mình
là một khối thống nhất tuyệt đối với tất cả mọi sự đối đãi, đoạn diệt mọi
nhị nguyên, và đó chính là mục đích của sự tu tập trantra (sự tu tập chỉ
có ở Kim cương thừa).
Nhờ thành tựu tính thống nhất đối với mọi sự
đối đãi trong sự cảm thọ tâm lý, sinh lý (tinh thần và thể xác hay tâm và
thân) của mình như những cá nhân đơn lẻ mà hành giả đã tinh thông có thể
vận dụng sự chuyển hóa của chính mình cho khắp vũ trụ nói chung. Sở dĩ
hành giả làm được như vậy là vì lúc này hành giả đã là một thế giới, vũ
trụ thu nhỏ. Trong vũ trụ học của Kim cương thừa, những tính chất về vũ
trụ nói chung cũng được hiển hiện trong sự cảm thọ về thân tâm của mỗi
người. Theo thế giới quan Phật giáo, ngọn núi trung tâm của thế giới
Sumeru (Tu-di) được đặt trong thân của hành giả, nên mặt trời mặt trăng,
những con sông linh thiêng ở Ấn độ, các thắng tích hành hương cũng được
ghi nhận trong thân của hành giả theo một cấp độ nhỏ hơn.
Những tính chất thuộc vũ trụ này không chỉ được
đặt trong thân thể con người, mà còn là những tính chất cốt yếu đối với sự
cảm thọ thanh tịnh chuyển hóa, như năm vị Phật gia được nhìn nhận trong
thân thể tại năm phần luân xa. Tương tự, Kim cương thừa nhìn nhận rằng sự
cảm thọ cá nhân thật ra không gì khác hơn là sự cảm thọ siêu phàm tịnh hóa
đối với toàn thể vũ trụ, nhân loại, nên thân thể cũng chính là những trú
xứ linh thiêng của chư Phật. Cho nên, trong tâm lý, sinh lý và thế giới
quan của Kim cương thừa có một biểu đạt hết sức thâm thuý “thân thể chính
là điện thờ”. Điện thờ là nơi thờ chư Phật, các Ngài không khác hình thức
chuyển hóa sự cảm thọ của những chúng sanh phàm phu đối với các thành tố
thuộc về thân, tâm hay nói khác là năm hợp thể ngũ uẩn.
Cũng như những biểu tượng và thần thoại, ý
nghĩa mà chương này muốn chuyển tải là chứng minh rằng trong hệ thống tâm
lý, sinh lý và thế giới quan của Kim cương thừa không có một bức chân dung
nào bí ẩn và mang những hình thức ngẫu nhiên, tuỳ ý hay có sự xâm nhập từ
bên ngoài vào. Cách hành trì này hoàn toàn phù hợp với những tinh yếu cơ
bản trong giáo lý giải thoát của Phật. Những điều chúng ta thấy thật ra
chỉ là một sự phát triển muôn hình vạn trạng về những tư tưởng đã có trong
Phật giáo trước đó, trong quan điểm A-tỳ-đạt-ma cũng như trong khế kinh
Bát-nhã-ba-la-mật. Đối với tông phái Kim cương thừa, tất cả những tư tưởng
này đều chứa đựng những nội dung thâm thúy.
Chương 27
HÀNH TRÌNH
TƯ LƯƠNG
Chương 27 đến chương 29 sẽ trình bày những giai
đoạn tu tập thật sự trong giáo pháp Kim cương thừa. Có ba cấp độ trong sự
tu tập:
a/ Giai đoạn thực tập khởi đầu hay giai đoạn sơ
bộ.
b/ Giai đoạn nhập đạo hay nhập Phật môn.
c/ Giai đoạn tu tập thật sự, có hai loại.
Như đã đề cập ở Chương 22, Đại thừa và Kim
cương thừa thật ra đều là một tông trong Phật giáo. Điểm khởi đầu và mục
đích của hai tông phái này giống nhau, chỉ khác nhau ở phương pháp hành
trì để đạt mục đích. Qua những bước tu tập thật sự phổ quát này, có thể
nói rằng giữa cách tu tập của Đại thừa và sự hành trì giáo pháp của Kim
cương thừa có chung những điểm thiết yếu.
Nói khác đi, điều gì cần thiết cho việc tu
tập sơ khởi của Kim cương thừa cũng hữu ích đối với sự tu tập toàn bộ giáo
pháp Đại thừa. Những công việc tiên quyết cần thiết cho sự tu tập và hành
trì của Kim cương thừa là: 1- lễ quy y, 2- Quán niệm khổ đau, 3- Định luật
của nghiệp lực, 4- Chết và Vô thường, 5- Bản tánh tốt đẹp và phước đức của
con người, 6- Tu dưỡng Từ bi tâm, 7- Tạo lập ý niệm giác ngộ và 8- Tu tập
Thiền định, nội quán.
Ngoài những tương đồng còn có một vài ngoại lệ
trong sự tu tập của hai hệ phái này. Một trong những ngoại lệ đó là buổi
lễ quy y. Nếu tông phái Đại thừa có ba đối tượng trong lễ quy y là: Đức
Phật (bậc Giác ngộ), Pháp (lời dạy của Phật) và Tăng (chúng hội Bồ-tát
bất thối chuyển, hay những vị Bồ-tát đã chứng đắc địa thứ bảy trong mười
địa của Bồ-tát Thập địa), và do đó không còn rơi rớt lại, thì Kim cương
thừa có bốn đối tượng trong lễ quy y. Ngoài ba đối tượng vừa đề cập, còn
thêm một đối tượng nữa là vị The Guru hay Lama (Đạo sư). Một số môn phái
Kim cương thừa có sáu đối tượng trong lễ quy y Phật, Pháp, Tăng, vị Đạo
sư, những vị hộ thần và các vị Không hành nữ. Hộ thần là những sự thị hiện
nhiệm mầu của Phật, tức bất kỳ vị thần nào tu tập trong hệ thống Tantra1 -
Hevajra (Hộ kim cương), Chakrasamvara (Thắng lạc luân)2 v.v… Quán tưởng
những vị hộ thần có thể giúp hành giả đạt đến giác ngộ. Những vị Dakinis
(không hành nữ)3 là những vị nữ thần tượng trưng cho sự bất hoại. Trong
các điện thờ của Kim cương thừa, các vị không hành nữ được thờ như các vị
trong hội chúng giải thoát Bồ-tát, tức những hình thức Tăng sĩ tu tập theo
phương pháp Tantra của Kim cương thừa. Cho dù truyền thống và sử liệu Kim
cương thừa ghi nhận sáu đối tượng trong lễ quy y, nhưng thường chỉ có bốn
đối tượng - Tam bảo và vị Đạo sư.
Vị Đạo sư đặc biệt quan trọng trong Kim cương
thừa. Đạo sư thực hiện một chức năng tương tự như công dụng của cái kính
lúp. Ai cũng biết rằng mặt trời rất nóng và có nguồn năng lượng vô biên,
nhưng nếu không có một thiết bị như cái kính lúp thì không thể nào khai
thác sức nóng của mặt trời để tạo ra lửa. Cùng với ý nghĩa đó, giáo pháp
của Phật vô cùng thậm thâm vi diệu, nếu không có vị Đạo sư hướng dẫn người
đệ tử sẽ không thể thắp lên ngọn lửa trí tuệ. Bằng phương pháp tu định và
tiếp nhận thần lực vi diệu của Phật, Pháp, Tăng, vị Đạo sư hoạt động theo
hướng làm cho năng lực đó trở nên diệu dụng và thích hợp với căn cơ của
người đệ tử.
Vai trò quan trọng của vị Đạo sư thể hiện trong
câu chuyện của Marpa (Ma-nhĩ-ba), một trong những nhân vật Tây tạng nỗi
tiếng, đến Ấn độ để cầu học pháp Mật tông với Naropa4. Huyền sử chép rằng,
một dịp nọ, có một vị hộ thần hiện ra trước Marpa, ông liền cúi đầu chào,
và lầm tưởng đó là một vị hộ thần chứ không biết đó là Đạo sư của mình,
Naropa. Hậu quả của hành động lầm lạc này là những người con của ông chết
vì tai nạn, và ông không còn ai để trao truyền lại giáo pháp mà ông đã
lãnh thọ.
Chương 29 sẽ trình bày cách ứng dụng hai thành tố cuối cùng trong những
bước khởi đầu–tu Thiền định và nội quán – đối với sự tu hành của hành giả
trong phương pháp Thiền định của Kim cương thừa. Trong Phật giáo Tây tạng
không có một tông phái nào khuyến khích tu tập giáo pháp Kim cương thừa mà
không trải qua thời gian tập sự; các tông phái đề cập đến những hình thức
thực hành tập sự bằng khẩu ngữ và văn ngữ. Cũng có những người không thực
tập những bước khởi đầu mà vẫn tu tập thành công giáo pháp Kim cương thừa.
Tuy nhiên, tôi không muốn làm quý vị hoang mang. Điều tôi muốn nói là làm
sao bạn có thể theo khóa đào tạo ở trường Đại học mà không có thời gian
học hành trước ngưỡng cửa Đại học? Nếu như vậy giai đoạn khó khăn sẽ chờ
đợi bạn phía trước.
Hai bước khởi đầu thông dụng nhất là: Quy y và
sự phát Bồ-đề tâm, hay phát nguyện tu tập theo những nghiệp lực của Bồ-tát
(Bồ-tát nguyện). Nên xem hai bước này như một buổi lễ Quán đảnh. Một hình
thức có thể xem tương tự như buổi lễ Quán đảnh là giai đoạn mới xuất gia
hay giai đoạn bắt đầu nhập vào đoàn thể Tăng già.
Tất cả ba hình thức này đều có thể xem như
những buổi lễ Quán đảnh khác nhau. Lễ quy y tiêu biểu cho việc nhập vào
cộng đồng Phật giáo; thời kỳ mới xuất gia biểu tượng cho việc chính thức
nhập vào đoàn thể Tăng già; và phát Bồ-đề nguyện biểu trưng cho việc nhập
vào Phật môn. Theo một ý nghĩa nào đó, những buổi lễ Quán đảnh này cần
phải gắn liền với những nguyện lực nhất định. Lễ quy y gắn liền với sự giữ
giới của người Phật tử tại gia; Nhập vào Tăng đoàn liên quan đến những
hạnh nguyện và tuân giữ những giới luật đã thọ nhận lúc sơ phát tâm; và
thực hành Bồ-tát nguyện là phải hành đúng theo những lời nguyện của
Bồ-tát. Có nhiều phương diện trong các buổi lễ quy y, nhập đạo, và phát
Bồ-tát nguyện tương tự với những thành tố quan trọng trong buổi lễ Quán
đảnh của Kim cương thừa.
Trong Kim cương thừa việc hành giả hoàn thành
những bước thực tập trước khi bắt đầu tu tập một phương pháp nào đó không
phải là một mệnh lệnh, một điều bắt buộc. Và cũng không buộc hành giả phải
trải qua những bước tập sự trước khi lãnh thọ, tiếp nhận lễ Quán đảnh. Tuy
nhiên, trước khi tĩnh tâm quán tưởng về một trong những vị hộ thần, bắt
buộc hành giả phải hoàn thành chúng, vì những bước khởi đầu tập sự rất cần
thiết cho hành giả về sau.
Trong tiếng Tây Tạng, từ ngữ nói đến những bước
tu tập khởi đầu tư lương là Ngon-dro5, có nghĩa đen là “đi trước, thực
hành trước”. Trong tất cả các hệ phái của Kim cương thừa có bốn bước thực
hành tập sự là: 1- Quy y, 2- Sám hối, 3- Đạo sư Du-già và 4- Sự hiến cúng
Mandala. Hành giả phải thực hành mỗi hình thức này một trăm ngàn lần.
Ngoài bốn hình thức trên, nhiều môn phái còn yêu cầu nằm úp mặt trên đất …
Quy y như đã đề cập trước đây, tông phái Kim
cương thừa có bốn đối tượng trong buổi lễ quy y: Phật, Pháp, Tăng và vị
Đạo sư. Quy y gắn liền với sự quán tưởng những đối tượng trong buổi lễ quy
y theo cách riêng biệt hay tập hợp như sau: a- Hành giả quán tưởng Phật,
Pháp, Tăng và vị Đạo sư của mình theo từng phần một; b- Hành giả quán
tưởng bốn đối tượng quy y đã hội nhập, hay kết hợp, thành một hình thể duy
nhất của vị hộ thần. Có thể thấy các vị hộ thần được tô vẽ bằng những bức
tranh, còn Phật, Pháp, Tăng và Đạo sư trong lễ quy y được tô vẽ dưới hình
thức một cái cây, một ngai vàng, hoa sen, mặt trăng v.v… Để quán tưởng bốn
đối tượng trong lễ quy y, hành giả phải tụng niệm những bài kinh chú trong
nghi thức quy y một trăm ngàn lần.
Sám hối. Sám hối không có nghĩa tha thứ, mặc
khải. Sám hối không phải là hành động xưng tội, và có một quyền năng bên
ngoài mặc khải, tha thứ cho hành động xin tội của bạn như ở Thiên chúa
giáo. Không hề có cái nghĩa đó trong Phật giáo. Theo quan điểm của Phật
giáo, Sám hối đơn giản hàm ý rằng người phạm tội biết ăn năn hối cải, thừa
nhận mình đã tạo ra những ác nghiệp trong quá khứ và tâm nguyện rằng sẽ
không phạm phải những ác nghiệp đó nữa. Điểm đặc biệt trong việc hành trì
Sám hối những bất thiện nghiệp là Phật Vajrasattva (Kim-cương-tát-đỏa),
một hình thức đặc biệt của Phật, tương tự với năm vị Phật gia. Vajrasattva
là một hình thức nguyên mẫu của Phật, Ngài hiện thân cho trạng thái giác
ngộ vì mục đích đặc biệt là Sám hối và tịnh hóa các nghiệp.
Vajrasattva được thờ phụng trong các điện của
Kim cương thừa, và một trong những bước khởi đầu mà Ngài thực hiện khi mới
tu tập theo con đường Bồ-tát đạo là hành trì Sám hối những ác nghiệp.
Trong tranh tượng Vajrasattva được vẽ màu trắng, tượng trưng cho sự hòa
nhập ngũ Phật vào thân này. Tay mặt của Vajrasattva cầm Kim cương chữ, tay
trái dựa trên một chuông đồng lần lượt tượng trưng cho phương tiện thiện
xảo và trí tuệ. Trong việc hành trì Sám hối, hành giả quán tưởng hình ảnh
Vajrasattva và tụng niệm chú Mantra gồm một trăm âm tiết một trăm ngàn
lần.
Người ta tin có bốn năng lực, bốn sức mạnh xuất
phát từ việc hành trì và tịnh hóa những ác nghiệp. Sức mạnh đầu tiên là
“Sức mạnh của Thánh đường”, đề cập đến năng lực của Vajrasattva là biểu
trưng cho sự tịnh hóa. Đây là một sức mạnh biểu tượng, tương tự với cái
sức mạnh xuất phát từ một biểu tượng với ý nghĩa tầm thường như lá cờ quốc
gia chẳng hạn. Cờ quốc gia là biểu tượng cho sức mạnh của một đất nước;
tương tự như vậy, trong ý nghĩa thiêng liêng của thiền quán, hình tượng
Vajrasattva có một sức mạnh nhất định, đó là sức mạnh biểu tượng.
Sức mạnh thức hai là “Năng lực siêu xuất”, có
nghĩa là vượt lên trên. Sức mạnh này đề cập đến sự thành thật từ bỏ những
ác nghiệp. Nói cách khác, trong lúc thiền quán, hành giả thoát ra khỏi,
siêu xuất tất cả những ác nghiệp.
Sức mạnh thứ ba xuất phát từ sự thực hành là
“Năng lực sửa chữa, ăn năn đối với những sự cố chấp”, sức mạnh này đề cập
đến việc thành tâm lập nguyện sắc son không lặp lại những ác nghiệp mà
người phàm phu đã tạo trong quá khứ, và nó khiến cho hành giả xa lánh
những ác nghiệp trong tương lai.
Sức mạnh thứ tư là “Sức mạnh phục hồi”. Sức
mạnh này đề cập đến những ác nghiệp thuộc về trạng thái thực tại của duyên
sanh, trạng thái tục đế. Thật sự những ác nghiệp này không xâm nhập, len
lỏi vào bổn tâm của mỗi chúng sanh, vì tâm của chúng sanh vốn có Phật
tánh, hay bản tính Tánh không. Trong thực tế có những ác nghiệp xuất hiện
ngẫu nhiên. Chúng giống như tấm vải màu trắng bị những thứ dơ dáy làm vấy
bẩn, hay bầu trời trong xanh bị những đám mây, đám khói che phủ nên trở
thành tối tăm. Bởi vậy, quán tưởng Vajrasattva sẽ mang lại cho hành giả
các khả năng phục hồi, đó là sự thực chứng đối với tịnh hóa nội tâm của
hành giả.
Đạo sư Yoga. Đạo sư là một vị thầy có đủ khả
năng truyền đạt những buổi lễ Quán đảnh và có sự chứng đắc đặc biệt về mặt
tâm linh. Theo truyền thống người Tây tạng không quen gọi những vị tu sĩ
là Lama, mà dùng từ Lama hay Guru để chỉ những vị tu sĩ có đủ năng lực, đã
thực chứng để thích ứng với những môn đệ khác nhau, có thể nói là tùy cơ
ứng biến, tùy “chứng phát dược”, trong khi họ gọi là những vị tu sĩ bình
thường bằng từ Gelong - có nghĩa là Khất sĩ.
Mục đích của vị Đạo sư Yoga là thiết lập
một mối quan hệ gần gũi thân thiết giữa thầy và trò. Sự thực tập này có
nhiều hình thức khác nhau, nhưng sư sai khác là không đáng kể. Nói chung
sự thực hành này liên quan đến sự trì chú, tụng niệm đối với một hình thức
nào đó một trăm ngàn lần, vì làm vậy nó biểu lộ lòng mộ đạo của người đệ
tử và nói lên khả năng của vị Đạo sư.
Tông phái Kim cương thừa quan trọng trên hết là
truyền thống khẩu ngữ, việc truyền tâm ấn trực tiếp từ thầy sang trò. Mối
quan hệ giữa thầy và trò đặc biệt quan trọng, vì nó đem lại sự truyền thừa
huyết mạch trong Phật giáo. Sự truyền thừa, tất nhiên, không chỉ đặc biệt
quan trọng trong Kim cương thừa mà còn trong toàn bộ đạo Phật nói chung,
đặc biệt khi nó đề cập đến lễ thọ giới của người xuất gia. Điều này thể
hiện rõ trong lối sống sinh hoạt của các Tăng sĩ ở Tích lan và Thái lan. Ở
đó, do không có sự truyền thừa, nối dõi trong các buổi lễ truyền giới nên
nhiều vị Tăng được gởi đến một nước Phật giáo Đại thừa để tiếp nhận và
phục hồi lại tông môn.
Sự truyền thừa giống như một mạch điện. Khi sự
truyền thừa bị ngưng lại, gián đoạn thì không thể có những buổi lễ truyền
giới cho những tân Tăng mới nhập đạo. Điều này đã xảy ra trong đời sống
thiền môn ở Tây tạng. Sau pháp nạn Phật giáo dưới thời vua Lan-dar-ma, sự
truyền thừa phải được thiết lập lại với sự trợ giúp của các tăng sĩ Trung
Quốc. Nhờ sự truyền thừa- sợi dây liên kết giữa thầy và trò không bị gián
đoạn mà giáo pháp Kim cương thừa được truyền trao trực tiếp từ thế hệ này
sang thế hệ khác.
Khái niệm truyền thừa cũng được ví với sự thống nhất của một mắc xích
trong cả sợi dây xích, thống nhất đối với mỗi thành viên trong cả môn
phái. Hình ảnh vị Đạo sư là sự gắn chặt thống nhất giữa thầy, trò và các
vị hộ thần. Sau đó, chính người đệ tử phải làm cho mối quan hệ này tiếp
nối mãi mãi vì họ đã ý thức, liễu ngộ được sự thống nhất giữa họ với vị
Đạo sư, và rồi thống nhất giữa họ với các vị hộ thần.
Buổi lễ truyền thừa, giống như sự hiện thân về
hình ảnh của vị Đạo sư, không tương xứng với thời gian, không gian. Nó là
vật nối hàn gắn những sự cách biệt ngăn cách chúng ta; nhờ vậy ngay lập
tức, từ mọi nơi mọi lúc và mọi hình thức của chúng ta đều là Phật. Đó là
lý do tại sao trong lễ Quán đảnh và tu tập quán tưởng của Kim cương thừa,
vị Đạo sư là một, là đồng nhất với vị hộ thần, và người hành giả có bổn
phận thống nhất với vị hộ thần đó qua Đạo sư. Thực tập sự thống nhất với
Đạo sư là quan trọng vì nó tạo ra nền tảng cho mối quan hệ đặc biệt giữa
hành giả và Đạo sư.
Hiến cúng Mandala. Mandala là một vòng tròn
linh thiêng, có tính chất biểu tượng. Trong phạm vi ý nghĩa lễ hiến cúng,
Mandala là hình thức biểu tượng cho toàn thể vũ trụ, và trong truyền thống
thế giới quan của Phật giáo, nó diễn tả bằng những bức tranh vẽ. Về mặt
truyền thống, vũ trụ được nói ở đây là trung tâm ngọn núi Sumeru (Tu-di)
và bốn phía của ngọn núi … Mandala là sự biểu tượng cho vũ trụ này.
Thực hành hiến cúng Mandala, hành giả hiến dâng
những công đức sanh khởi từ việc thi hành các thiện nghiệp của chính mình
cho bốn đối tượng trong lễ quy y (Phật, Pháp, Tăng và vị Đạo sư) trong
hình thức biểu tượng của vũ trụ. Hành giả hiến cúng tất cả những thiện
nghiệp của mình cho bốn đối tượng này, đó là kho chứa nhóm tất cả những
phẩm hạnh tốt đẹp vì mục đích đem lại sự giác ngộ cho chúng sanh. Sự dâng
cúng như vậy diễn ra một trăm ngàn lần. Cùng với sự trì tụng, hành giả còn
tham dự một khóa lễ dùng một đĩa kim loại, đá, hay gỗ và nhiều nắm gạo,
bột mì hay nắm cát, và bằng cách đó hành giả tạo ra những tính chất nổi
bậc mang tính biểu tượng cho thế giới quan của vũ trụ.
Thực hành hiến cúng là điều hữu ích vì nó là
hình thức tốt đẹp nhất của nghiệp lực. Có năm điều kiện hổ trợ làm cho sức
nặng của nghiệp lực tăng lên- gồm ba điều kiện chủ quan và hai điều kiện
khách quan. Ba điều kiện chủ quan là: 1- Hành động dai dẳng hay hành động
tái hiện nhiều lần, 2- Hành động cố ý, có chủ tâm, 3- Hành động mà không
biết ăn năn hối cải. Hai điều kiện khách quan là: 1- Hành động nhắm vào
các bậc đã giác ngộ (như Phật, A-la-hán) và 2- Hành động hướng đến những
người ta có ân sâu nặng như Sư trưởng, phụ mẫu (xem Chương 8).
Trong sự dâng cúng Mandala, chúng ta thấy những
điều kiện làm tăng giá trị của những thiện nghiệp và sự hiến cúng diễn ra
một trăm ngàn mà không có sự tiếc nuối của hành giả, những người dâng cúng
tất cả những công đức của mình cho đấng giác ngộ dưới hình thức biểu
tượng. Nếu hiến cúng vật chất, một lúc nào đó chúng ta có thể cảm thấy
nuối tiếc. Chẳng hạn, nếu tôi phát nguyện cúng dường tịnh tài cho tu viện,
có lúc tôi nghĩ rằng mình cúng quá nhiều. Nhưng dâng cúng mang tính biểu
tượng như vậy thì không có đất cho sự nuối tiếc phát triển và sanh nở, vì
thiện nghiệp mà nó sanh ra không hề có sự chống lại trong tự thân nó. Hơn
nữa, Ai là người xứng đáng để dâng cúng hơn là đấng giác ngộ? Ai là người
có công đức nhất và lợi ích nhất cho chúng ta ngoài đấng giác ngộ, vì các
đấng giác ngộ làm cho sự giác ngộ trở nên dễ tiếp cận. Việc dâng cúng
Mandala, do đó, tạo ra những công đức cần thiết để tạo ra sự thăng tiến
trên đường tu học giáo pháp Kim-cương-thừa.
Tóm lại, bốn bước thực hành khởi đầu đem lại sự
chuẩn bị thực sự cho việc tu tập giáo pháp Kim cương thừa. Tụng niệm những
hình thức trong lễ quy y tạo cho hành giả sự kiên định trên việc tu tập
giáo pháp. Thiết lập một nơi nương tựa vững chắc để bảo vệ hành giả khỏi
những chán nản và phóng dật. Thực hành sám hối để tịnh hóa, thanh lọc
những bất thiện nghiệp. Quán tưởng Đạo sư Yoga đem lại sự thống nhất hành
giả và Đại sư. Thực hành dâng cúng Mandala tạo ra những chủng tử tốt đẹp,
những năng lực thiện nghiệp để hành giả tạo ra những sự tiến bộ nhanh
chóng và hữu hiệu.
Chương 28
LỄ QUÁN
ĐẢNH
Trên nửa thế kỷ qua Kim cương thừa được biết
đến ở Phương tây và thế giới trên bình diện rộng. Song người ta đã suy
luận và hiểu sai giáo lý Kim cương thừa, mà nguyên nhân lớn nhất có thể là
lễ Quán đảnh. Nhiều tông phái không nhìn nhận lễ Quán đảnh là một phần
giáo pháp trong Phật giáo.
Như đã đề cập ở Chương 27, không có nhiều sự
khác biệt trong lễ Quán đảnh của Kim cương thừa để có thể tách nó ra khỏi
những hình thức lễ nghi đóng vai trò quan trọng trong Phật giáo. Khó hiểu
tại sao người ta có thể chấp nhận lễ quy y và lễ xuất gia nhưng khó đồng
tình với lễ Quán đảnh của Kim cương thừa. Hy vọng rằng với những nội dung
trong lễ Quán đảnh và vai trò của nó trong sinh hoạt tôn giáo sẽ không còn
những suy luận sai lạc và ngộ nhận như vậy.
Tiếng Sanskrit dùng từ Abhisekha để nói đến lễ
Quán đảnh. Nó được dịch là “lễ Khai tâm”, “lễ Thánh Hóa”, và thậm chí còn
có nghĩa là “Sự truyền lực”. Không có từ nào trong ba từ trên mang nghĩa
đen của từ Abhisekha, nghĩa đen của nó là “rưới nước”, “rẩy nước” - đặc
biệt là rưới nước lên những mãnh đất, như rưới nước lên thửa ruộng.
Mục đích của buổi lễ Quán đảnh là làm cho người
đệ tử cảm thấy phấn chấn và thăng tiến nhanh hơn trên đường giác ngộ. Khi
chúng ta tưới nước lên những thửa ruộng thì những hạt giống được gieo
trong đó sẽ nẩy nở và tăng trưởng nhanh; cũng vậy trong lễ Quán đảnh, vị
Đạo sư rưới nước lên đầu người đệ tử cho cái chủng tử tâm linh của họ tăng
trưởng nhanh chóng.
Dịch từ chữ Abhisekha là tưới nước hay phun
nước không hợp lý lắm; từ này chỉ về một tiến trình mà mục đích và chủ
định của nó khác xa những điều chỉ mang những giá trị bề ngoài, xem lễ
Quán đảnh là một buổi lễ mang hình thức huyền bí.
Trong lễ Quán đảnh vị đạo sư cho phép đệ tử tu
tập một tantra (Nghi quỹ), giới thiệu cho người đệ tử biết về Mandala
(Mạn-đà-la), một vòng tròn linh thiêng, về một trong những vị hộ thần
trong các điện thờ Kim cương thừa. Những vị hộ thần này là những hình thức
thiêng liêng đặc biệt của Phật, quán tưởng về các Ngài có thể giúp cho
hành giả chứng đắc giác ngộ. Mandala là biểu tượng cho vũ trụ (Chương 27).
Trong nội dung lễ Quán đảnh nó không chỉ là biểu tượng cho vũ trụ, mà còn
tượng trưng cho cảnh giới thanh tịnh, linh thiêng mà hành giả chứng đắc
trạng thái giác ngộ khi nhãn quan của họ đã tịnh hóa, gạn lọc khỏi những
khuynh hướng bất tịnh. Nhiều ý tưởng tôi đã trình bày ở Chương 26 về sự
chuyển hóa năm hợp thể ngũ uẩn thành năm vị Phật báo thân là tương xứng
với tư tưởng về vũ trụ đã được thanh lọc và chuyển hóa. Chung quy lại, lễ
Quán đảnh giới thiệu cho người đệ tử biết về một trong những vị hộ thần
Tantra trong Mandala thì cũng có nghĩa buổi lễ này giới thiệu cho người
đệ tử biết về vũ trụ tịnh hóa của một trong những vị hộ thần.
Để đạt tới năng lực và công hiệu trong việc
mang lại sự chuyển hóa từ hình thức phàm phu sang hình thức giác ngộ, có
thể chia những vị hộ thần thành bốn loại: 1- Kriya-tantra (tác tantra), 2-
Caryā-tantra (hành tantra), 3- Yoga-tantra (Du-già tantra) và 4-
Anuttarayoga-tantra (vô thượng Du-già tantra). Lễ Quán đảnh giới thiệu cho
người đệ tử hiểu biết về thế giới thần linh của những vị hộ thần đối với
một trong bốn loại Tantra vừa đề cập. Tác tantra đề cập đến những vị hộ
thần và những sự tu tập chủ yếu liên quan đến những hình thức lễ lạc và tu
tập bên ngoài. Kriya có nghĩa là “hành”, “nghi thức”, “lễ lạc”. Người tu
tập Tantra này có kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn và quán
tưởng, tu tập Thiền định. Những hình thức lễ lạc của Tantra này gồm có
việc khất thực hay ngay cả những buổi lễ tẩy dục, lễ dâng cúng.
Trái lại, những vị hộ thần trong Hành tantra gắn chặt với những sự tu tập
mà việc chính là theo dõi thái độ, sự chuyên chú và tư tưởng của hành giả.
Trong khi phương pháp tu tập ở Tác tantra hướng ra bên ngoài, sự tu tập ở
loại Hành tantra hướng vào nội tâm, và loại bỏ những sự tu tập thực hành
bên ngoài. Những hành giả tu tập theo Hành tantra không mang những hình
thức xã hội như những hành giả tu tập theo Tác tantra.
Loại thứ ba là những vị hộ thần thuộc loại
Du-già tantra (Tantra - luyện tâm). Tu tập theo Tantra này là sự kết hợp
giữa hai phương pháp tu tập Tác tantra và Hành tantra. Tu tập theo Du-già
Tantra là luôn cố gắng đạt tới sự cân bằng giữa sự thực hành hướng ra bên
ngoài và hướng vào bên trong. Sự cân bằng hay thống nhất giữa những sự tu
tập hướng ngoại và hướng nội được phóng chiếu trong từ Yoga, có nghĩa là
sự thống nhất hay sự kết hợp.
Loại cuối cùng là những vị hộ thần trong loại
Vô thượng Du-già tantra. Đây là phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật
trong kiếp này với thân này. Ba loại Tantra đầu được định nghĩa là siêu
xuất hay quét sạch tất cả những chướng ngại (hướng ngoại, hướng vào nội
tâm và kết hợp cả hai). Anuttara có nghĩa là “siêu xuất”, siêu xuất ở đây
có nghĩa là siêu xuất cả bên ngoài và bên trong. Hành giả tu tập theo Vô
thượng Du-già Tantra, đạt đến sự hợp nhất giữa thực chứng tự thân và giáo
pháp, sự hợp nhất này tự động dẫn dắt hành giả đem lại sự chuyển hóa cho
tất cả chúng sanh. Quan điểm này đã trình bày ở Chương 24, khi nói đến mục
đích phương pháp tu học của Kim cương thừa, đó là hợp nhất sự chứng nghiệm
tự thân với giáo pháp.
Lễ Quán đảnh có ba hình thức khác nhau, lễ đầu
tiên là lễ Quán đảnh chính, bao gồm tất cả những hoạt động khác. Nói theo
cách tương đồng bình thường, lễ Quán đảnh chính này được ví như một tờ
giấy phép lái xe, cho phép bạn lái tất cả các loại xe, hay những quyền lực
mà chính phủ trao cho một nhân viên để quyết định đến những vấn đề cụ thể.
Lễ Quán đảnh là buổi lễ truyền lực, truyền tâm ấn cần trải qua hai ngày.
Ngày đầu tiên là để vị Đạo sư cho phép hành giả tu tập những bước tập sự,
nói chung là để tịnh hóa cho đệ tử. Ngày thứ hai là truyền dạy cho người
đệ tử biết về một trong những vị hộ thần trong Mandala.
Lễ thứ hai là lễ Quán đảnh phụ, và bạn dựa vào
đó để vận dụng những sự tu tập chuyên môn, riêng biệt. Tuy thế, nó cũng
rất quan trọng và có công hiệu cao.
Lễ Quán đảnh thứ ba thậm chí còn ở trong phạm
vi hạn hẹp hơn bao gồm những hình thức khá đơn giản, thường rất ngắn gọn
vì thời gian dành cho việc truyền lại những phép khai tâm cho người đệ tử
để họ tham dự những sự tu tập tiếp cận với những vị hộ thần thuộc về những
tông môn lớn hơn mà họ đã được giới thiệu trong những buổi lễ Quán đảnh
đặc biệt. Đôi khi những buổi lễ Quán đảnh này được gọi là “lễ Khai tâm cho
hàng hậu tấn” vì theo truyền thống là để vị Đạo sư hướng dẫn cho đệ tử hậu
học biết về vị thần hộ vệ.
Những vị thần hộ vệ ở Kim cương thừa có thể được chia thành nhiều tông môn
(không liên quan đến những vị hộ thần vừa đề cập trước đây) hợp nhất với
ngũ Phật gia – Đại-Nhật Phật, Bảo Sanh Phật, A-Di-Đà Phật, Bất Không Thành
Tựu Phật và Bất Động Phật. Thí dụ, vị hộ thần Hevajra (Hộ Kim cương -
Tantra) kết hợp với Phật Bất Động, đứng đầu gia môn Kim cương, vị thần
Cakrasamvara (Thắng Lạc Luân - Tantra) hợp nhất với gia môn của Phật
Đại-Nhật.
Có thể ví lễ Quán đảnh chính với việc mua một
chiếc vé theo quý để tham dự những sự kiện quan trọng. Chiếc vé này cho
phép bạn tham dự tất cả những sự kiện, khi bạn tham dự bạn phải xuất trình
vé và có đóng dấu trên vé đó. Cũng vậy, lễ Quán đảnh chính giúp hành giả
có cơ hội tiếp nhận những phép quán đảnh phụ và ít quan trọng, mỗi khi
tiếp nhận hành giả phải trải qua những khóa lễ phù hợp.
Theo truyền thống, lễ Quán đảnh chính tạo cho
người đệ tử được tiếp cận với toàn bộ những vị hộ thần và những sự tu tập.
Tuy nhiên, những năm gần đây, ngày càng có nhiều người tham dự những phép
Quán đảnh Tantra nên các vị Lama (hay Guru) chọn lễ Quán đảnh phụ - lễ
khai tâm cho hàng hậu tấn - để trao truyền, vì những sự tu tập trong phép
Quán đảnh này dễ thực tập hơn. Điều này tỏ ra hữu ích, nó được xem như một
sự sát hạch công khai trong sự tu tập Mật giáo, giống như việc trao một
giấy phép lái loại xe phân khối nhỏ, trước khi cấp một giấy phép lái toàn
bộ các loại xe cho người sử dụng xe.
Tất cả các lễ Quán đảnh phải do một vị Đạo sư
trao truyền, và vị này phải có hai khả năng. Khả năng thứ nhất, vị Đạo sư
phải tiếp nhận sự truyền lực trực tiếp từ vị hộ thần, để chứng đắc sự phát
triển tâm linh ở mức độ cao. Khả năng thứ hai là khả năng mà vị Đạo sư đạt
được giống như chư vị Mahasiddhas (84 vị thành tựu) - khả năng này phổ
biến ở Ấn độ, nhưng ít được biết đến ở xứ Tây Tạng.
Khả năng thứ hai quan trọng hơn. Trong trường
hợp này, vị Đạo sư tiếp nhận sự truyền lực của vị thần qua một vị thầy có
đủ khả năng thực sự. Vị Đạo sư cũng phải thực hành những sự thực tập thiền
quán theo yêu cầu - sự ẩn tu … mà truyền thống quy định, để đạt được sự
tiếp cận đầy đủ với các vị thần với mục đích thành một người trung gian có
đủ khả năng dìu dắt người đệ tử về một vị hộ thần đã đề cập trong Mandala.
Điều quan trọng trong lễ Quán đảnh là đệ tử phải tiếp nhận sự trao truyền
từ vị Đạo sư có đủ năng lực, ít ra phải có khả năng thứ hai.
Trong ý nghĩa lễ Quán đảnh, người đệ tử xem vị
Đạo sư là sự hợp nhất với vị hộ thần trong Mandala, vòng tròn linh thiêng
mà người đệ tử đã được hướng dẫn. Tương tự như vậy, người đệ tử xem môi
trường, tất cả những vị trí trong lễ Quán đảnh là đồng nhất với vũ trụ
tịnh hóa của vị thần đó. Họ được truyền thụ và thống nhất với vị hộ thần
mà họ quán tưởng (đó là hình thức của vị Đạo sư), và thế giới linh thiêng
được biểu tượng bằng những vị trí trong chính buổi lễ này.
Tiến trình truyền thụ và thống nhất xảy ra qua
việc sử dụng những biểu tượng, gồm cả những biểu tượng phổ quát và cụ thể.
Những biểu tượng cụ thể được đặt trưng bởi những khí cụ lễ nghi. Những vật
này gắn liền và biểu tượng cho những thành tố, hay những vật, có liên quan
đến những sự kiện linh thiêng. Tại buổi lễ Quán đảnh, người đệ tử được
truyền trao cho một thanh Vajra (Kim cương) và một cái chuông để mang vào,
cũng như vương miệng để đội lên đầu. Những hoạt động mang tính biểu tượng
này có hai hoạt dụng: 1- Để truyền trao cho người đệ tử biết vũ trụ tịnh
hóa và 2- Hợp nhất giữa người đệ tử với vũ trụ tịnh hóa đó.
Ngoài những biểu tượng đặc biệt này, còn có
những biểu tượng thống nhất phổ quát và linh động hơn, ánh sáng và nước
(xem Chương 22). Trong lễ Quán đảnh, ánh sáng và nước được dùng để nói đến
sự thống nhất giữa người đệ tử với vị hộ thần và vũ trụ tịnh hóa linh
thiêng. Ánh sáng chỉ về sự thống nhất giữa đệ tử với vị Đạo sư, người được
xem là hợp nhất với vị hộ thần. Cùng ý nghĩa đó, nước biểu tượng cho sự
thống nhất giữa đệ tử và các cấp độ tri kiến khác nhau về thế giới thần
linh. Cả ánh sáng và nước tạo thành vật nối để hợp nhất hai hình thức đầu
tiên của chúng sanh – sự phân biệt giữa đệ tử và Đạo sư dưới hình thức vị
hộ thần, và giữa sự cảm thọ của người đệ tử với sự cảm thọ của những người
trong cảnh giới thần linh.
Lễ Quán đảnh là phương tiện chuyển hóa tái
sanh. Điều này được chứng minh bằng sự kiện đặt tên mới (pháp danh) cho
người đệ tử. Khi họ chính thức là người Phật tử sau khi đã quy y, đã được
truyền giới. Đặt pháp danh tượng trưng cho sự tái sanh của người đệ tử
trong một hình thức mới, bởi vì lúc đó họ đã nhập thành một và thống nhất
với vị hộ thần và vũ trụ thần linh đã tịnh hóa.
Lễ Quán đảnh quan trọng không chỉ vì chính nó
nhập thành một và thống nhất với vũ trụ tịnh hóa, mà còn đem lại cho người
đệ tử phương pháp hay bí quyết mà về sau họ tự mình có thể nhập thành một,
tái thống nhất và hòa hợp với thế giới thần linh mà họ đã trực diện trong
lúc Quán đảnh. Những phương pháp hay những bí quyết này là: 1- Sự quán
chiếu mà vị Đạo sư đã hướng dẫn họ khi họ nhìn thấy cảnh giới tịnh hóa
thần linh dưới hình thức biểu tượng trong lần đầu tiên, 2- Tụng niệm thần
chú Mantra tương ứng với vị hộ thần mà họ được trao truyền khi tham dự
phép Quán đảnh.
Giống như những buổi lễ Quán đảnh khác, lễ Quán
đảnh của Kim cương thừa cũng có những điều cấm giới mà người đệ tử phải
tôn trọng và giữ gìn. Những buổi lễ như quy y, xuất gia, thọ giới đòi hỏi
người đệ tử phát những hạnh nguyện và hoàn thành chúng.
Nói chung, có ba hạnh nguyện trong Phật giáo:
Phát nguyện thọ trì giới cấm, Ba-la-đề-mộc-xoa, phát nguyện quyết tâm giải
thoát, để cứu độ chúng sanh, đó là Bồ-tát nguyện, và phát những hạnh
nguyện khế hợp với sự tu tập của Kim cương thừa. Nói tóm lại, giá trị
thiết yếu của những hạnh nguyện khế hợp với sự giải thoát của mỗi người là
tránh gây thương tổn đến tha nhân (Ba-la-đề-mộc-xoa nguyện), giá trị chủ
yếu của Bồ-tát nguyện là làm lợi lạc hữu tình, và giá trị cốt yếu của Kim
cương thừa nguyện là xem tất cả chúng sanh là một phần của sự quán chiếu
thanh tịnh, cảnh giới tịnh hóa mà người đệ tử đã quán tưởng trong lễ Quán
đảnh.
Chương
29
ỨNG DỤNG
GIÁO PHÁP KIM CƯƠNG THỪA
Chương này giới thiệu sự thực hành Thiền định
mà Kim cương thừa gọi là Sadhana (Nghi quỹ). Từ Sadhana có nghĩa “thành
tựu”, “chứng đắc” hay “kiến lập”. Nghi quỹ Kim cương thừa là phương pháp
mà hành giả có thể thành tựu, chứng đắc hay kiến lập sự cảm thọ về cảnh
giới tịnh hóa, thực chứng Giác ngộ. Người tham dự vào Nghi quỹ gọi là
Sadhana - tức người thực hiện Nghi quỹ. Sự chứng đắc Nghi quỹ gọi là
Siddhi1 (Tất-địa), và người thành tựu sự chứng đắc đó gọi là Tất đạt hay
Thành tựu giả. Nhờ tu tập Thiền định theo giáo pháp Kim cương thừa, hay
còn gọi là Nghi quỹ mà 84 vị Tất đạt đã thực chứng Giác ngộ.
Điều đáng nói ở Thiền định của Kim cương thừa
là pháp tu (hay giáo pháp) và thành quả (mục đích). Thực tập thiền định
Kim cương thừa có thể đưa hành giả đạt đến sự thực chứng Giác ngộ. Theo ý
nghĩa đó, Thiền định Kim cương thừa được xem là phương pháp. Nhưng hành
giả còn phải thăng tiến qua sự tu tập Thiền định của mình, thực hiện
phương pháp hoàn hảo, lúc đó phương pháp trở thành mục đích. Do đó, ở một
cấp độ nào đó, Thiền định Kim cương thừa là phương pháp, còn ở cấp độ khác
Thiền định trở thành thành quả. Nó vẫn là phương pháp chỉ trong trường hợp
liên quan đến những nhân tố khác, chứ ít đem lại thăng tiến cho hành giả.
Kim cương thừa là sự phỏng theo, hay là một bản
sao, về sứ mạng của chư Bồ-tát và chư Phật. Sứ mạng của chư Bồ-tát và chư
Phật là nói đến cả phương pháp và mục đích. Khi Bồ-tát thăng tiến trên con
đường Giác ngộ theo giáo pháp Bồ-tát, đối với các Ngài, giáo pháp đó là
phương pháp. Và một khi các Ngài đạt đến Phật quả, giáo pháp của Bồ-tát và
sứ mệnh của Phật trở thành mục đích (thành quả) đối với các Ngài. Song,
đối với chúng sanh, Bồ-tát đạo và sứ mệnh của Phật vẫn là phương pháp. Thí
dụ, như đã thấy ở Chương 15, sứ mệnh của Phật - từ Đản sanh, sự từ bỏ đời
sống thế tục, xuất gia khổ hạnh, và chứng thành Phật quả - chỉ là những sự
kiện do chính Đức Phật tạo ra để chúng sanh theo gương Ngài tu tập nhằm
đạt đến Giác ngộ.
Khi hành giả thăng tiến trên sự tu tập theo
giáo pháp Bồ-tát, không còn có sự phân biệt giữa phương pháp và mục đích.
Đối với hành giả đó sự tu tập đã thành mục đích; song đối với những người
phải tu tập để tiến đến Phật quả. Sự hành trì vẫn là pháp môn tu tập. Do
đó, Thiền định Kim cương thừa có hai nghĩa: phương pháp và thành quả,
chúng phụ thuộc vào trạng huống của mỗi người thăng tiến trên sự tu tập
theo giáo pháp, vào sự liễu giải và chứng đắc của hành giả.
Có thể chia Thiền định của Kim cương thừa thành
hai phần nhỏ. Để đạt đến quả vị Phật, hành giả phải thuần thục hai thứ:
Công đức và Tri kiến, hai yếu tố không thể thiếu để chứng đắc Phật quả.
Kết quả sự hành trì Bố thí ba-la-mật, Trì giới ba-la-mật và Nhẫn nhục
ba-la-mật đem lại sự thành tựu những công đức, kết quả tu tập Thiền định
ba-la-mật và Trí tuệ ba-la-mật đưa hành giả đến sự thành tựu Tri kiến.
Ba-la-mật thứ tư, Tinh tấn ba-la-mật có ích cho cả hai: công đức và Tri
kiến.
Phần thứ nhất, trong sự tu tập của Kim cương
thừa là sự mô phỏng - sự biểu đạt mang tính biểu tượng, quán chiếu, thể
nhập - về giáo pháp Bồ-tát nhờ việc thành tựu công đức và tri kiến. Sự
quán tưởng của Kim cương thừa bắt đầu bằng phép quy y. Tiếp sau quy y là
phát khởi Bồ-đề tâm và tập trung định lực quán chiếu lục độ và tứ vô lượng
tâm (từ, bi, hỷ, xả). Tất cả sự hành trì này biểu đạt cho sự tích lũy công
đức của Bồ-tát.
Nội dung trong Nghi quỹ (Thiền định của Kim
cương thừa) còn có quán niệm Tánh không. Điều này không khác sự biểu đạt
mang tính biểu tượng, nội tĩnh đối với sự thành tựu tri kiến của Bồ-tát.
Bồ-tát thành tựu tri kiến nhờ việc hành trì Thiền định và Trí tuệ
ba-la-mật. Ở Kim cương thừa, sau khi quán niệm Tánh không, hành giả thấy
Thiền định và Trí tuệ là một thể thống nhất.
Ở phần thứ nhất, sau khi chứng ngộ (đạt đến
Phật quả), kết quả thành tựu hai phần công đức và tri kiến là chứng đắc
hai quả vị. Hai quả vị này là hai thân Phật, sắc thân và báo thân, phát
sanh trực tiếp từ việc thành tựu công đức và tri kiến. Phần thứ hai trong
Nghi quỹ Kim cương thừa là sự biểu đạt mang tính biểu tượng, quán tưởng
hay mô phỏng đối với thật tánh Phật quả, bao gồm hai thân này. Điều này
được trình bày trong Nghi quỹ nhờ sử dụng khái niệm trên hai tiến trình
sau đây: 1- Tiến trình tạo dựng hay phát khởi; 2- Tiến trình thành tựu,
viên mãn. Hai tiến trình này lần lượt tương ứng với Sắc thân và Pháp thân.
Trong cách nào, những tiến trình sinh khởi và
viên mãn được phóng chiếu mang tính biểu tượng, mô phỏng bằng sự cảm thọ
trong Thiền định theo Nghi quỹ Kim cương thừa. Theo sau sự chứng đắc mang
tính biểu tượng của Phật quả là quán tưởng hình thức vị hộ thần. Nói cách
khác, sự tạo ra pháp thân của Phật dưới hình thức một vị hộ thần cụ thể
nào đó để hành giả phỏng theo đó quán
tưởng. Hành giả tạo ra sự mô phỏng hữu thức về pháp thân của Phật dưới
hình thức vị thần đã đề cập. Sau nữa, hành giả trì tụng thần chú của vị hộ
thần đó. Trì tụng thần chú là sự phỏng theo mang tính biểu tượng, nội tĩnh
và quán niệm trong giáo pháp của Phật. Hai thành phần này - việc
tạo dựng hình thể của vị hộ thần và tụng niệm thần chú Mantra - tạo ra
tiến trình sinh khởi. Tiến trình đó tương ứng với sắc thân của Phật, và là
sự mô phỏng những hoạt động mang tính hiện tượng của Phật.
Tiếp sau việc tạo dựng hình thể vị hộ thần và
tụng niệm thần chú Mantra là xóa đi hình thể vị hộ thần bằng việc quán
niệm Tánh không và ngưng trì tụng thần chú. Sự dừng tụng chú và loại bỏ
việc quán tưởng vị hộ thần là sự phỏng theo mang tính suy niệm đối với
Pháp thân của Phật. Cho nên, trong phần thứ hai của Nghi quỹ, còn có sự mô
phỏng sứ mạng của Phật cùng với Pháp thân và Sắc thân. Thành tựu sự mô
phỏng này nhờ những khái niệm hai tiến trình tạo dựng và thành tựu. Tiến
trình tạo dựng đem lại sự quán tưởng vị hộ thần và trì tụng chú Mantra,
đều mô phỏng theo sắc thân của Phật - những hoạt động của Ngài cùng với
giáo pháp. Tiến trình thành tựu đem lại sự xả ly hình ảnh vị hộ thần và
dừng nghĩ trì tụng thần chú Mantra, tức phỏng theo pháp thân của Phật.
Nói tóm lại, Thiền định của Kim cương thừa là
sự sao chiếu hay mô phỏng hoàn toàn sứ mạng của chư Phật và chư Bồ-tát.
Phần đầu mô phỏng sự thành tựu hai phần: công đức và tri kiến của Bồ-tát,
và phần thứ hai mô phỏng theo Sắc thân và Pháp thân của Phật.
Trở lại hai tư tưởng về Thiền định và Trí tuệ.
Điểm này nhấn mạnh tính nhất quán toàn bộ trong Phật giáo, bởi nó đặc
trưng tuyệt đối cho tất cả các tông phái để nhấn mạnh sự hợp nhất giữa
Thiền định và Tuệ giác, tức sự hợp nhất giữa tịch tĩnh và quán chiếu.
Trong Nghi quỹ, sự thống nhất này rất cần thiết. Khi hành giả quán niệm
Tánh không trong sự mô phỏng đối với sự thành tựu tri thức của Bồ-tát,
hành giả phải thống nhất Thiền định và Trí tuệ. Trong trường hợp này khả
năng tập trung tâm lực của hành giả vào một đối tượng được ứng dụng cho
việc liễu giải Tánh không. Trái lại, nếu trước đây trong Nghi quỹ, hành
giả phát triển khả năng định tâm của mình nhờ sự trợ duyên từ những yếu tố
ngoại cảnh như một cái bàn màu xanh chẳng hạn, thì lúc này hành giả tập
trung trực tiếp vào sự tuệ tri Tánh không. Trong phương pháp này, nhờ quán
niệm Tánh không, hành giả phỏng theo sự thành tựu tri giác của Bồ-tát bằng
cách tu dưỡng Thiền định và Trí tuệ ba-la-mật.
Phải có sự thống nhất giữa Thiền định và Trí
tuệ trong việc quán tưởng vị hộ thần và trì tụng thần chú Mantra. Đối
tượng để định tâm là hình thức suy niệm về vị hộ thần và âm thanh của chú
Mantra, nhưng hành giả phải hợp nhất sự liễu ngộ Tánh không của mình trên
sự quán tưởng hình thức vị hộ thần cùng với âm thanh của chú Mantra. Vì
thế, trong trường hợp quán tưởng và tụng niệm, hành giả xem sự quán tưởng
và âm thanh của thần chú Mantra như sự minh họa cho các pháp Tánh không,
tương tự như sự phản chiếu, cuộc biểu diễn ma thuật hay tiếng vang. Đây là
điều vô cùng ý nghĩa bởi như sự phản chiếu hay tiếng vang xuất hiện nhờ
vào nhân duyên, phụ thuộc vào nhân duyên nên sự quán tưởng vị hộ thần và
âm thanh của thần chú sinh khởi và hiện hữu được cũng phụ thuộc vào nhân
duyên.
Trong ý nghĩa Nghi quỹ, sự quán tưởng và tụng
niệm lần lượt cũng là khuôn mẫu cho các pháp hữu vi sanh diệt và Tánh
không. Như trong các hệ phái Phật giáo phát triển sự thống nhất giữa Thiền
định và Trí tuệ tuyệt đối cần thiết trong Thiền định của Kim cương thừa.
Đó là lý do tại sao Nagarjuna đã nói trong tác phẩm Shrillekha (Long Thọ
Bồ-tát Khuyến Giới Vương Tụng) của Ngài rằng: “nếu không có Thiền định sẽ
không có trí tuệ, và ngược lại. Nếu hành giả nào biết kết hợp hai yếu tố
này lại với nhau, người đó không còn thấy biển khổ sanh tử luân hồi”.
Trong Nghi quỹ, bằng cách kết hợp Thiền định
và Trí tuệ hành giả có thể đạt đến sự cảm thọ đối với cảnh giới giải
thoát, tức cảnh giới của Phật. Theo thời gian hành giả sẽ đạt đến điều này
nhờ việc thể nhập và thuần thục vào cảnh giới linh thiêng được mô tả trong
Nghi quỹ, sự mô phỏng sứ mạng chư Phật và Bồ-tát. Theo pháp này, hành giả
có thể đạt đến Phật quả. Rồi sau đó, sự thực chứng Giác ngộ của hành giả
sẽ trở thành phương tiện để hoằng hóa chúng sanh đến mục đích tương tự,
tức đến thế giới của chư Phật.
--- o0o ---
[ Mục
Lục] [ Phần I
] [ Phần II
] [Phần III
] [Phần IV]
--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-01-2005