Hạnh Phúc
mộng và thực
Nhất Hạnh
---o0o---
CHƯƠNG 3
NỘI DUNG KINH TAM DI
ĐỀ
-
3.1
Pháp Thoại Ngày 4 tháng 9 năm 1994
-
3.2
Pháp Thoại Ngày 8 tháng 9 năm 1994
-
3.3
Pháp Thoại Ngày 11 tháng 9 năm 1994
-
3.4
Pháp Thoại Ngày 14 tháng 9 năm 1994
-
3.5
Pháp Thoại Ngày 29 tháng năm 1994
-
3.6
Pháp Thoại Ngày 2 tháng 10 năm 1994
3.1
Pháp Thoại Ngày 4 tháng 9 năm 1994
TU TẬP LÀ TRỒNG TỈA TRÊN ĐẤT TÂM
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày mùng 4 tháng 9 năm
1994, chúng ta đang ở xóm Hạ trong khóa tu mùa Thu.
Kỳ trước tôi có ví sự thực tập tu học với việc cày bừa,
gieo trồng, và tưới tẩm ruộng vườn. Nghe chuông, đi thiền hành, ngồi
thiền, ăn cơm trong im lặng, thực tập hơi thở theo những bài kệ đều là
những phương pháp cày bừa, gieo trồng trên mảnh đất tâm của mình. Quí vị
có nhớ thầy Đ.T khi mới tới Làng không? Nếu chúng ta chụp được một tấm
hình khi thầy mới đến, rồi đem so với hình mà chúng ta chụp sau ngày thầy
rời Làng, thì chúng ta sẽ thấy có sự khác nhau rất lớn. Hình đầu là hình
của “một mảnh đất chưa cày, chưa bừa”, và hình sau là hình “đất đã cày, đã
bừa, đã vun xới”. Nhờ Bụt, nhờ Thầy, nhờ Pháp, nhờ Tăng thân, không tu thì
thôi chứ tu là có kết quả. Có người đạt tới kết quả mau, có người có kết
quả chậm, nhưng tất cả mọi người qua công phu đều được chuyển hóa cả. Điều
này là một điều có thể có thể xác quyết được, vì vậy chúng ta không nên bỏ
đi một giây phút nào trong đời sống hằng ngày mà không tu tập. Chữ Bhavana
dịch là tu tập. Nó có nghĩa là gieo trồng, là cày cấy, cho nên mình cũng
có thể dịch ra tiếng Pháp là culture. Chữ culture có nghĩa là trồng tỉa
nhưng đồng thời nó cũng có nghĩa là văn hóa, điều này rất có ý nghĩa. Khi
trồng trọt trên đất đai ở ngoài thì gọi là agriculture, còn khi trồng trọt
trong mảnh đất tâm thì ta tạm dịch là psychoculture vì cả hai đều là đất.
Loại đất ở ngoài, khi trồng trọt thì ta có mùa màng, có
rau ráng, có đậu bắp; còn loại đất trong tâm thì khi trồng, ta có an lạc,
hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc. Cho nên cả hai thứ trồng trọt đều gọi
là culture hết. Ở ngoài đời, khi làm ruộng người ta cũng biết tìm cách làm
cho công việc đồng áng vui vẻ thêm lên, Đi thăm những ruộng nho ơ vùng này
quí vị thấy rằng ở đầu các luống nho người ta trồng hoa hồng. Chủ ý của
việc trồng những khóm hồng ở đầu những hàng nho là để cho cuộc đời đẹp
lên, chứ không phải trồng nho là chỉ có mục đích để bán nho hay làm rượu
mà thôi. Ở Việt Nam trong khi cày cấy hay gặt hái thì những chàng nông
dân, những cô thôn nữ cũng vui đùa hát hò và họ cũng biết giã gạo dưới
trăng. Tất cả những việc đó đều nhằm tạo niềm vui ngay trong khi làm việc.
Trong sự tu học cũng vậy. Sự tu học của chúng ta phải mang lại niềm vui
cho chúng ta ngay trong khi tu học. Đừng nói rằng tu học thì phải cực khổ,
phải đợi mười năm, hai mươi năm sau ta mới bắt đầu có niềm vui, Điều đó
không đúng với lời Bụt dạy. Có một bài thơ thật buồn cười:
Thiên hạ đua nhau nói khổ vui,
Biết chi là khổ biết chi vui,
Vui trong tham dục vui là khổ,
Khổ để tu hành khổ ấy vui.
“Khổ để tu hành” có ý nói tu hành là phải chịu khổ.
Điều này chống lại giáo lý của Bụt. Trong tinh thần giáo lý của Bụt. Trong
tinh thần giáo lý của Bụt, ta phải có hạnh phúc, phải có niềm vui ngay
trong khi tu tập. Cái vui trong khi tu tập sẽ đem lại cái vui của tương
lai. Cho nên giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú rất là quan trọng.
HIỆN PHÁP LẠC TRÚ LÀ SỐNG HẠNH PHÚC TRONG KHI TU TẬP
Bây giờ ta đi sang kinh Samiddhi. Trong đoạn đầu của
Kinh, vị Thiên giả hỏi “Tại sao lại bỏ cái lạc thú hiện tại mà đi tìm
cái lạc thú phi thời như thế?”.
Chúng ta thấy trong câu này có hai chữ “hiện tại" và
“phi thời”, chữ hiện tại cũng như chữ phi thời mà vị thiên giả dùng là
theo nghĩa ngoài đời, nó có nghĩa rất khác với chữ hiện tại và phi thời
trong văn học đạo Bụt. Phi thời ở đây có nghĩa là không đúng lúc, nó nằm
trong tương lai chứ không có mặt trong hiện tại, nhưng đọc tiếp Kinh này,
ta sẽ thấy rõ hai danh từ phi thời và hiện tại được dùng với
ý nghĩa trong tinh thần đạo Bụt.
Ban đầu thầy Samiddhi cũng sử dụng hai danh từ đó theo
cái nghĩa của vị thiên giả, và thầy trả lời: “Tôi đâu có bỏ cái lạc thú
hiện tại mà đi tìm cái lạc thú phi thời. Chính tôi đã bỏ cái lạc thú phi
thời để tìm tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại đấy chứ”. Nói như
vậy tức là thầy dựa vào giáo lý Hiện Pháp Lạc Trú mà Đức Thế Tôn đã dạy
cho thầy. Hiện Pháp Lạc Trú là sống trong hiện tại với tất cả những niềm
vui và sự an lạc của mình trong khi tu tập, chứ không phải tu để mong ước
niềm vui trong tương lai, không phải “khổ để tu hành, khổ ấy vui”. Điều
này rất là quan trọng. Ví như khi thiền hành mà quí vị nghĩ rằng đi thiền
hành khổ cực bây giờ để mười năm sau sẽ có hạnh phúc, thì tất cả công phu
đi thiền hành của quí vị đổ xuống biển hết. Đi thiền hành như vậy thì quí
vị có đi mười năm cũng không ích lợi gì, tại vì quí vị cho rằng đi thiền
hành là một lao tác, một cực hình để đi tới một kết quả hạnh phúc an lạc
trong tương lai. Vì vậy phương châm của sụ thực tập là phải có hạnh phúc
ngay trong khi thực tập. Đi thiền hành ta phải có an lạc ngay từ trong mỗi
bước chân. Đây là nguyên tắc dẫn đạo cho sự tu học. Nếu trong khi đi thiền
hành mà chúng ta không có an lạc thì đừng mong gì ta sẽ có an lạc trong
tương lai, Phải đi thiền hành như thế nào để mỗi bước chân nuôi dưỡng được
mình và đem lại được niềm vui và sự an lạc cho mình ngay trong lúc đi.
“Từng bước chân thảnh thơi” có nghĩa như vậy.
Vua Trần Thái Tông, trong Khóa Hư Lục, có nói “Bộ bộ
đạp trước thật địa”; bộ bộ tức là mỗi bước; trước tức là
dính, bàn chân dính đất; thật địa là mảnh đất của thực tại. Mảnh
đất thực tại tức là mảnh đất của Niết Bàn, của Bản môn, không phải là mảnh
đất của vô minh, của vọng tưởng. Muốn cho đất thật, ta phải có chánh niệm.
Nếu không có chánh niệm, ta chỉ bước đi trong giấc mơ, chỉ đi trong mộng.
Người không tu, người không thực tập chánh niệm là người đi trong giấc mơ.
Bài kệ ngồi thiền buổi sáng có một câu rất hay: “Ngày mới nguyện đi trong
tỉnh thức (This is a new day, I vow to go through it in mindfulness). Thức
dậy hôm nay, tôi biết rằng tôi có hai mươi bốn giờ tinh khôi và tôi
không muốn đi qua hai mươi bốn giờ đó như là đi trong mộng, tôi muốn
đi trên miếng của thật tại, vì vậ tôi phải thắp lên ngọn đèn của chánh
niệm, của tỉnh thức. Mỗi bước chân của tôi đều dẫm lên đất thật chứ tôi
không muốn dẫm lên trên thế giới của mộng mơ.
Ở đời có một chứng bệnh gọi là bệnh mộng du (Sleep
walking), mình đang ngủ mà mình đang đi. Mộng du tiếng Pháp là
Somnambulence. Có những người ban đêm tự nhiên chổi dậy và đi. Họ đi trong
giấc mơ mà họ không biết. Chúng ta nghĩ rằng chỉ có những người đó mới
đang mộng du thôi. Kỳ thực trong đời sống hằng ngày, nhiều lúc chúng ta là
những người mộng du! Chúng ta đi trên đất, bước trên đất mà giống như
chúng ta bước trên mặt trăng. Có một thiền sư một hôm đi chơi trong vườn
chùa với một số khách tới viếng thăm mà trong đó có thể có những vị xuất
gia, đã dừng lại, chỉ vào một bụi cây có những cành lá rất xanh, rồi mỉm
cưới nói: “Người đời bây giờ nhìn những lá này, họ chỉ thấy được những cái
lá này ở trong mộng. Tôi đang cùng đi với quí vị, nhưng có thể quí vị đang
đi trong một giấc mơ”. Chúng ta thấy có những người học Phật, nhưng trong
khi học, hoặc bay bổng trên hư không. Sự học Phật của họ, cái giáo lý mà
họ học không dính líu gì đến đời sống hằng ngày của họ hết. Thành ra không
hẳn là họ đang học đạo giải thoát, học đạo tỉnh thức. Họ đánh mất họ
trong thế giới của suy luận, trong cái thế giới của siêu hình. Ăn một
miếng cơm mà họ ăn trong giấc mơ, họ không thật sự ăn cơm tại vì cái tâm
của họ hiện không có mặt (tâm bất tại). Họ bước một bước mà họ không thật
sự bước trong giờ phút hiện tại, tại vì họ không có chánh niệm. Cho nên
“bộ bộ đạp trước thật địa” (mỗi bước dẫm chân lên trên miếng đất của thật
tại) là phương châm của người tu. Khi dẫm chân trên thực tại ta tiếp xúc
được với chân như, tiếp xúc được với bản môn, tiếp xúc được với Niết Bàn
và kết quả là ta được nuôi dưỡng bằng cái chân như, bằng bản môn, bằng
Niết Bàn, chứ ta không bị nuôi dưỡng bằng những cái hình bóng giả tạo
trong mộng.
Vua Trần Thái Tông không phải là một người xuất gia,
nhưng kiến thức về Phật học cũng như sự hành trì của Vua đã vượt rất nhiều
người xuất gia. Vua đã làm ra những tác phẩm rất nổi tiếng, trong đó có
tác phẩm “Lục thời sám hối khoa nghi” để tự mình thực tập sám hối mỗi ngày
sáu lần. Nhnữg nghi thức sám hối này rất ngắn, như trong bài kệ sám hối
buổi sáng:
Xú xác hưu tham bảo
Mai đầu tảo nguyện đài
Ân cần chuyên lục niệm
Thứ đắc khế phương lai,
Vua đã dùng một câu rất mạnh là Xú xác hưu tham bảo.
Xú xác nghĩa là xác chết hôi thối, hưu tham bảo là mình đừng có ôm lấy xác
chết hôi thối nữa. Mình đừng có ôm lấy cái xác chết của mình mà nằm nữa,
mình phải tỉnh đậy! Trong đời sống của chúng ta, chúng ta thường ôm lấy
cái xác chết của chúng ta mà đi trong giấc mộng. Vua Trần Thái Tông khuyến
cáo chúng ta đừng làm như vậy nữa. Thức dậy và bước những bước tỉnh táo
trong cái thế giới của thật tại.
Vậy thì trong khi ta đi hành thiền, mỗi bước chân phải
giúp ta trở lại tiếp xúc với mặt đất, ta dẫm chân trên mặt đất chớ không
để ta bồng bềnh trôi nổi trong cái thế giới của mộng tưởng điên đảo.
Viễn ly điên đảo mộng tưởng là như vậy. Khi có thể bước được những
bước chân trên miếng đất của thực tại, ta tiếp xúc được với những nhiệm
mầu của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại, mà tiếp xúc được với
những nhiệm mầu của sự sống trong hiện tại thì ta được nuôi dưỡng bởi
những nhiệm mầu đó, và những nhiệm mầu đó ta chỉ có thể tiếp xúc được
trong giờ phút hiện tại mà thôi.
Trong khi ngồi thiền cũng vậy, mỗi hơi thở cần đưa ta
về với thực tại. Ngồi thiền không có nghĩa là đóng cửa đối với thế giới
thực tại để đi vào một cái thế giới của sự mơ tưởng, dầu là mơ tưởng về
Niết Bàn, về Giác ngộ. Niết Bàn là sự tỉnh táo, Giác ngộ là sự tỉnh táo.
Ngồi và ta biết là ta dang ngồi với tăng thân và mọi người đều đang thực
tập đạo lý tỉnh thức, Thực tập chánh niệm là tạo ra sự có mặt đích thực vì
phép lạ đầu tiên của chánh niệm là làm cho ta thực sự có mặt. Có mặt trong
khi ngồi, khi đi, khi ăn, khi nói. Có chánh niệm thì có sự có mặt. Vì vậy
ngồi thiền là thực tập sự có mặt đích thực của ta. Với cái ngồi rất vững
chải, ta làm cho sự sống của ta có mặt.
Khi thầy Samiddhi nói rằng thầy không bỏ cái hạnh phúc
trong hiện tại để chạy đi tìm cái lạc thú không đúng lúc mà chính thầy đã
bỏ cái hạnh phúc không đúng lúc để tìm cái hạnh phúc trong hiện tại, là
thầy nói ngược lại với những điều mà vị thiên giả đã nói. Vì vậy vị thiên
giả mới không hiểu và hỏi lại: “Thế nào là bỏ cái lạc thú phi thời để tìm
tới cái lạc thú chân thật trong hiện tại?”. Lúc ấy thầy Samiddhi đã dùng
những lời dạy của Đức Thế Tôn để trả lời vị thiên giả: “Đức Thế Tôn có
dạy: trong cái vui phi thời của ái dục, cái lợi rất ít mà chất cay đắng
rất nhiều, cái lợi rất bé mà tai họa rất lớn”. Trong ngôn ngữ này của thầy
Samiddhi, những danh từ thầy sử dụng vẫn còn mang cái nghĩa ở ngoài đời.
Chữ phi thời này là chữ phi thời của vị thiên giả đã dùng, nó vẫn còn có
nghĩa là bị thời gian chi phối, nó chưa có nghĩa là vượt thoát thời gian,
như trong danh từ Akakika mà chúng ta đã nhắc tới kỳ trước. Trong phần đầu
của kinh thì nghĩa của chữ phi thời là như vậy, nhưng về sau, chúng ta sẽ
đi đến một nghĩa cao siêu hơn.
Trong cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt rất ít mà
chất cay đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà tai họa rất lớn.
Đây là một điều mà ta phải luôn luôn tự nhắc nhở vì thường thường ta bị
chính ta đánh lừa. Cái vị ngọt của năm thứ dục lạc thường nằm ở trong
tâm chúng ta nhiều hơn là nằm ở trong thực tại. Năm thứ dục lạc là năm
cái bẫy, khi bị sa vào trong những cái bẫy đó thì ta sẽ bị nhận chìm trong
đau khổ, nóng bức và phiền não triền miên. Nếu may mắn không bị sụp vào
trong năm cái bẫy đó thì ta có tự do, có hạnh phúc thật sự, giống như
trong một bài kệ ta đã đọc trước đây: Như nai thoát bẫy sập, chạy nhảy
khắp bốn phương.
Thầy Samiddhi nói Tôi nay đang an trú trong hiện
pháp, hiện pháp ở đây là các pháp đang thật sự xảy ra trong giây phút
hiện tại, tiếng Pali là Ditthadhamma, tiếng Phạn là Drstàdharma; Lìa bỏ
được những ngọn lửa phiền não đốt cháy. Biệt Dịch Tạp A Hàm dùng chữ
Vô chư nhiệt não. Nhiệt là nóng, là thiêu đốt, là làm cho não phiền. Vô
chư nhiệt não tức là không có sự đốt cháy, tiếng Phạn là Nirjvaro; jvaro
này tức là cơn sốt, là fièvre, là fever. Đây là một danh từ
mà trong hai bản tiếng Hán đều có. Giáo sư Démiéville dịch là sans fièvre
(without fever). Vướng vào ái dục thì sẽ lên cơn sốt, vì phiền não làm cho
mình vương vấn và bị đốt cháy. Đây là tâm trạng não phiền mà Vũ Hoàng
Chương đã diễn tả qua hai câu thơ:
Kiều Thu này Tố em ơi
Ta đang lửa đốt tơi bời mái tây
Cái khổ đó gọi là nhiệt não. An trú trong giáo pháp của
Đức Thế Tôn để tu tập, tiếp xúc với những mầu nhiệm của hiện tại, có tự
do, không bị sập vào bẫy ái dục tức là vô chư nhiệt não. Người nào đã từng
rơi vào trong bẫy tham dục, bẫy danh, bẫy tranh đua lợi dưỡng hay bẫy tình
ái đều đã biết điều này rồi, đã được nếm cái mùi vị của cơn sốt này rồi.
Tôi nay đang an trú trong hiện pháp, lìa bỏ được những
ngọn lửa phiền não đốt cháy. Hiện pháp này vượt thoát thời gian.
Vượt thoát thời gian tức là Akàlika, bây giờ mới đúng là nghĩa của chữ phi
thời, nó có nghĩa là kiếp ngoại. Đây là những danh từ để diễn tả Chánh
Pháp của Bụt. Từ thứ nhất là Hiện Pháp (Ditthadamma). Khi ta có thể bước
được những bước chân dẫm lên thực tại, ta tiếp xúc được với những nhiệm
mầu của sự sống có mặt trong giây phút hiện tại, thì ta được nuôi dưỡng
bởi những nhiệm mầu đó, và những nhiệm mầu đó ta chỉ có thể tiếp xúc
được trong cái giờ phút hiện tại mà thôi. Từ thứ hai là Vô Chư Nhiệt
Não (Nrjvaro). Từ thứ ba là Phi Thời (Akàlika).
BẢY ĐẶC TÍNH CỦA CHÁNH PHÁP
Hôm thứ Năm vừa qua chúng ta đã nói về danh từ Akàlika
và có nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa vua Ba Tư Nặc và Bụt Thích Ca hồi Ngài còn
ba mươi tám tuổi. Bụt đã nói: “Đại Vương, vấn đề giác ngộ không phải là
vấn đề thời gian". Đó là ý nghĩa vượt thoát thời gian, không phải già thì
mới giác ngộ mà trẻ thì không giác ngộ được. Tu học không phải là công
chuyện chỉ nên làm khi chúng ta lớn tuổi. Trong Minh Tâm Bảo Giám, một
cuốn sách mà tất cả các học sinh Việt Nam và Trung Hoa thời xưa học thuộc
lòng, có câu:
Mạc đãi lão lai phương học đạo,
Cô phần đa thị thiếu nhiên nhân.
Nghĩa là đừng đợi tuổi già rồi mới học đạo, những nấm
mộ cô độc ở ngoài nghĩa địa phần lớn là những nấm mồ của người trẻ.
Trong truyền thống Bà la môn giáo ngày xưa, khi còn trẻ
ta phải hưởng những thú vui dục lạc, phải cưới vợ, phải lấy chồng, phải
sinh con. Đến khi con lớn rồi mới có quyền đi tu. Vua Tịnh Phạn đã hơn một
lần trích dẫn quan niệm đó với Thái tử Tất Đạt Đa, nhưng Thái tử đã thưa
với vua cha rằng: “Tuổi trẻ với tất cả năng lượng của nó mới có đủ sức
để chọc thủng bức màn vô minh và đem lại ánh sáng giải thoát, nếu đợi đến
khi già rồi thì làm sao còn có đủ sức để làm chuyện vĩ đại kia được?
Hiện pháp này vượt thoát thời gian, đến để mà thấy, tự
mình thông đạt, tự mình có thể giải thoát".
Đến để mà thấy, tiếng Pali là Ehipassiko và tiếng Phạn là Arhipasyikah.
Nói rõ ra, giáo pháp này không phải để giới thiệu, để nói, để diễn bày, để
hứa hẹn mà có mục đích đến để mà thấy. The dharma said: come and see for
yourself! Elle est sans fièvre, elle est indépendante du temps, elle dit:
“Venez et voyez par vous même!”. Khi ta thực sự thực tập nghe chuông, thực
tập thiền hành, ăn cơm yên lặng v.v... là ta đem thân của ta tới để chứng
kiến pháp, để kinh nghiệm pháp, để thấy được pháp. Pháp này không phải là
vấn đề quá khứ hay chuyện tương lai. Pháp này là cái ta có thể sờ mó được,
kinh nghiệm trực tiếp được trong hiện tại.
Tự mình có thể giác tri,
tiếng Pali là Paccatam veditabbo, vĩnnuhìti, tiếng Phạn là
Pratyàtmavedaniyo vijnaih; Paccatam tức là mỗi người, Vedi là biết, là
hiểu. Veditabbo tức là có thể được biết, có thể được hiểu bởi từng người,
còn “vĩnnu” cũng có nghĩa là giác ngộ hiểu biết, mà cũng có nghĩa là giác
tri (vijna).
Tự mình thông đạt, danh
từ Hán Việt là “năng tự thông đạt”. Chữ tự ở đây có nghĩa là mỗi người,
còn thông đạt là hiểu biết, tức là mỗi người phải tự hiểu biết lấy, chứ
không nhờ người khác thông đạt giùm được. Người có chánh niệm, có trí tuệ,
khi tìm tới giáo pháp thì tự mình có thể hiểu, có thể đạt. Thành ra tự
mình thông đạt ở đây đồng nghĩa với tự mình có thể giác tri,
nhưng “năng tự thông đạt” là dịch từ tiếng Pali “opanayiko”. Tiếng Phạn là
“aupanàyika”, tiếng Pháp dịch là “elle conduit au bon endroit”, có nghĩa
là có khả năng hướng thượng, có khả năng đi lên. Tôi dịch là dẫn dạo đi
lên. Cho nên tuy bản chữ nho dịch là tự mình thông đạt, nhưng ta có
thể sửa lại “Có khả năng dẫn đạo đi lên” để cho gần với nguyên bản hơn.
“Tôi nay đang an trú trong hiện pháp. Lìa bỏ được những
ngọn lửa phiền não đốt cháy. Hiện pháp này vượt thoát thời gian, đến để mà
thấy, có khả năng đẫn dạo đi lên, tự mình có thể giác tri”.
Như vậy theo bài tụng bằng tiếng Pali, giáo pháp của
Bụt có nhiều đặc tính.
Đặc tính thứ nhất là thiện thuyết, tiếng Pali là
Svàkkhàto, tiếng Phạn là Svàkhyàta. Thiện thuyết tức là khéo trình bày,
giáo lý của Đức Như Lai đã được khéo trình bày.
Đặc tính thứ hai là hiện chứng hay là hiện
thân thọ chứng. Tiếng Pali là Sandithiko, tiếng Phạn là Sàmdrstiko tức
là một cái gì rất hiện thực, mình có thể chứng nghiệm bằng chính cái thân
thể này của chính mình, mình có thể sờ mó được, chứ không phải chuyện mơ
tưởng.
Đặc tính thứ ba là vượt thoát thời gian
(Akalika).
Đặc tính thứ tư là đến để mà thấy (Ehipassiko).
Đặc tính thứ năm là dẫn đạo đi lên (Opanayiko).
Đặc tính thứ sáu là tự mình có thể giác tri
(Paccatam veditabbo vĩnnuhiti).
Sáu đặc tính của chánh pháp được lập đi lập lại trong
nhiều kinh thuộc tạng Pali cũng như trong nhiều kinh Hán tạng. Trong các
chùa Nam Tông ngày nào cũng tụng các đặc tính này của Chánh Pháp cả. Vì
vậy ta nên đem bài này vào trong Nghi Thức Tụng Niệm của Bắc Tông cho
thống nhứt. Tuy vậy ta nên thêm vào một đặc tính nữa của Chánh Pháp mà bài
này thiếu, đó là không có phiền não, vô chư nhiệt não.
Câu trả lời này thầy Samiddhi lấy trực tiếp từ trong
những kinh Bụt dạy mà thầy đã học thuộc lòng. Sau khi nói xong câu đó,
thầy tiếp: Này thiên nữ, đó gọi là bỏ cái lạc thú phi thời, để đạt tới
cái lạc thú hiện tại. Diệu pháp của Đức Thế Tôn có ngần ấy đặc tính
mầu nhiệm, cho nên sống với giáo pháp của Đức Thế Tôn thì rất an lạc và
hạnh phúc. Vì vậy không thể nói rằng tôi bỏ cái an lạc trong hiện tại để
đi tìm cái an lạc không phải thời ở tương lai.
QUÊ HƯƠNG ĐÍCH THỰC VÀ THIÊN ĐƯỜNG TRONG GIẤC MƠ
Ngày xưa có thể chúng ta đã có cơ hội sống với hiện
pháp, nhưng đã bỏ cái thiên đường thật đó để chạy theo một thiên đường mà
ta mơ tưởng, không bao giờ có thật. Trong một bài giảng bằng tiếng Anh
trước khóa tu này, tôi có nói rằng mỗi người trong chúng ta đều có cảm
tưởng là đã đánh mất cái thiên đường của mình và trong cuộc sống hiện tại,
ta đang tìm lại cái thiên đường đó. Ta tin rằng có một nơi, có một cảnh mà
trong đó nếu trở về được thì sẽ có an lạc, hạnh phúc, sẽ được che chở và
có an ninh. Vì vậy mà suốt đời chúng ta cứ đi tìm một thiên đường trong
giấc mơ.
Người tu Tịnh độ đầu tư vào việc “tìm về” bằng cách mỗi
ngày lần bao nhiêu xâu chuổi, niệm bao nhiêu chục ngàn danh hiệu Bụt. Qua
sự hành trì đó ta cũng nhận diện được ước muốn được trở về với quê hương
đích thực của họ. Trong bài giảng tiếng Anh nói trên tôi có nói rất rõ
rằng, một ý niệm về quê hương hay là một cảm nghĩ về quê hương, chưa phải
là quê hương đích thực. Khi nghe chuông ta thực tập: Lắng lòng nghe,
lắng lòng nghe, tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm; có khi ta nói
“đưa về quê hương” (listen, listen this wonderful sound brings me back to
my true home). Như vậy chúng ta là những người đã mất quê hương đích thực
và trong cuộc sống hằng ngày ta cứ mãi đi tìm cái quê hương đích thực đó.
Quê hương đích thực là gì? Ý niệm của chúng ta về quê
hương đích thực là gì? Quê hương đích thực là một nơi mà ta cảm thấy có an
ninh, cảm thấy được che chở, không phải lo sợ, không đánh mất chúng ta.
Quê hương đích thực, “True home” không phải là một cái ý niệm mà cũng
không phải là một cảm tưởng.
Ngay từ đầu, ý niệm về quê hương đích thực là một ý
niệm mà ta cần phải cứu xét. Mỗi chúng ta đều giữ lại cái kỷ niệm của thời
mà ta còn là bào thai trong lòng mẹ. Mỗi chúng ta đều cư trú khoảng chín
tháng trong bụng mẹ. Bụng mẹ tiếng Hán Việt gọi là tử cung, nó có nghĩa là
cung điện của đứa bé, rất hay! Trong cái cung điện đó ta cảm thấy rất an
ninh, không sợ gió, không sợ mưa, không sợ lạnh. Ta không cần phải đốt lò,
tại vì trong đó ấm lắm, trong đó độ ấm tuyệt hảo. Ta không phải lo chuyện
ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều. Ta không lo chuyện quấn khăn, đi giày, tại vì
mẹ làm tất cả cho ta. Thở thì đã có mẹ thở giùm, ăn cũng có mẹ ăn giùm,
uống cũng có mẹ uống giùm, và giữ gìn cũng có mẹ giữ gìn giùm, thành ra ta
khỏi làm gì hết, và chín tháng ở trong cung điện của đứa con ta rất có
hạnh phúc. Nhưng từ khi ra đời ta đã mất cái thiên đường đó. Sự kiện này
ghi lại trong ta một hoài vọng. Cái ước vọng của những người muốn trở vê
thiên đường với Chúa, trở về quê hương đích thực, để được che chở bảo hộ,
để khỏi phải làm gì cả! Trong ý niệm đi về cõi Tịnh Độ cũng có cái ước
vọng đó, Đi sang “bên đó” khỏi phải nấu ăn, đến giờ tự nhiên có thức ăn!
Ước muốn ấy đánh đúng vào cái nhu cầu của chúng ta, ngày nào cũng là ngày
làm biếng hết! Dù biết hay không biết thì trong tàng thức của ta vẫn đã có
hạt giống của hoài vọng muốn trở về cái thiên đường cũ. Ta phải thấy được
điều đó. Dù đã bốn mươi, năm mươi tuổi rồi mà mình vẫn muốn trở về trong
bụng mẹ như thường. Hôm trước tôi có nói rằng, tôi biết là hồi xưa trong
bụng mẹ tôi đã ưa nằm trong tư thế một chân để thẳng, một chân cong. Nhiều
đêm thức giấc, tôi thấy mình nằm trong tư thế đó. Nhờ tu chánh niệm cho
nên mình biết rằng ngày xưa, hồi mình được năm sáu tháng, mình đã bắt đầu
chơi trong bụng mẹ, mình đã cọ quậy xoay trở và mình tìm ra cái thế nằm lý
tưởng đó của mình.
Nhưng ta phải đặt câu hỏi: cung điện của đứa con có
phải là quê hương đích thực của chúng ta hay không? Chúng ta có đang tự
đánh lừa mình hay không, dù đánh lừa một cách có ý thức hay là không có ý
thức? Giả thiết bây giờ được phép trở về thì bạn có muốn trở về hay không?
Hay bạn thấy trong đó tối hu? Quê hương đích thực của ta không lý lại tối
hu như vậy? Khi đã ra đời, đã thấy ánh sáng , đã được nghe tiếng chim hót,
đã thấy bầu trời mênh mông xanh biếc rồi, ta có còn muốn bỏ những cảnh này
để chui vào trong cái cung điện của đứa con, để được nâng niu, để được che
chở như trước hay không? Thực tế mà xét, chắc hẳn trí óc của ta có thể
nhận thức được rằng quê hương của ta không phải là một vùng tối tăm như là
cung điện của đứa con. Quê hương đích thực của chúng ta phải là một cái gì
khác hơn va chắc chắn một trăm phần trăm là ta không muốn trở về nơi đó,
tại vì nơi đó không phải là quê hương đích thực của ta. Tuy vậy, dưới tiềm
thức ta vẫn có một sự thu hút cho nên đêm đêm ta vẫn mong trở về quê
hương, trở về với thiên đường đã mất đó!
Trong tâm ta Tàng thức có cái lý luận và cái thấy
của riêng nó và ước muốn của nó đôi khi không phù hợp với ước muốn của Ý
thức. Có những điều mà trong trạng thái thức, ta thấy rằng ta không
cần, không thật sự ham muốn. Vậy mà trong giấc mơ ta lại đi tìm chúng. Vì
vậy cho nên ta biết có sự bất đồng ý kiến giữa Ý và Tàng trong tâm ta.
Sư Chú Pháp Dụng có kể cho tôi nghe hồi về Việt Nam chú
đã đi tìm những món quà ăn mà chú thường nằm mơ trong thời gian còn là học
sinh, sinh viên Hoà Lan. Không hiểu tại sao mà mấy món quá đó hấp dẫn quá
chừng! Xa quê hương từ hồi còn bé và trong suốt thời gian mười mấy năm đó,
chú đã từng nằm mơ, đã từng chạy theo bóng dáng của những món quà của quê
hương và của tuổi thơ. Vậy mà khi về đến quê nhà, đứng trước hàng quà,
thấy được những món quà mà chú đã từng ước mơ, chú giựt mình tự hỏi “Cái
này đây hả, cái này là cái mà trong bao nhiêu năm mình mơ ước và thèm
thuồng đây hả? Rõ ràng thực tại có khi không hấp dẫn bằng trong giấc mơ.
Vì vậy mà ta thường nói “Đẹp như mơ!”
Trong trạng thái thức, những đối tượng của sự thèm
khát, của sự ham muốn về danh, về lợi, về tài, về sắc không có sức hấp dẫn
lớn bằng trong cái thế giới của tiềm thức, của ước. Trong giấc mơ, cảm
giác của chúng ta có cường độ lớn hơn, sâu hơn, đậm hơn so với khi ta còn
thức. Trong giấc mơ chúng ta sợ gấp mười lần lớn hơn, ta tham đắm mười lần
nhiều hơn, tại vì cảnh giới trong mộng bao giờ cũng đẹp hơn là cảnh giới
thực. Đó là chưa nói trong khi tỉnh ta vẫn dùng màn nhung của cõi mộng để
phủ lên trên cảnh giới của thực tại rồi cho rằng cái cảnh giới đó là rất
đẹp.
NHỮNG NUỐI TIẾC ÂM THẦM TRONG TÀNG THỨC
Trong lý thuyết văn nghệ Mác Xít, người ta hay nói
không được bôi đen thực tại, mà cũng không được tô hồng thực tại. Thực tại
là thực tại, mình không nên bôi cho nó đen thêm, cũng không nên tô cho nó
hồng hơn. Trên lý thì như vậy, nhưng thực tế thì các nhà văn, nhà thơ, nhà
họa luôn luôn có ý muốn bôi đen hoặc tô hồng. Tô hồng tức là làm cho đẹp
hơn sự thật và tàng thức của chúng ta thường làm công việc đó.
Có những điều mà trong khi tỉnh, ta biết rằng không
đáng để ta theo đuổi, vậy mà trong giấc mơ ta vẫn theo đuổi. Khi nghe nói
trong bụng mẹ tối hu và cung điện của đứa con không phải là cái đích mà ta
tìm tới, thì ta có thể đồng ý một trăm phần trăm rằng đó không phải là quê
hương đích thực của ta. Nhưng có thể trong giấc mơ ta vẫn âm thầm đi tìm
về cái hướng đó. Và chính tôi có thể cũng đang làm như vậy! Thức dậy buổi
khuya tôi vẫn thấy mình nằm ở trong tư thế ấy như thường. Thành ra ta phải
biết sự thật là trong con người của ta có một sự mâu thuẫn, có một sự khác
biệt giữa Ý và Tàng. Những đối tượng của năm thứ dục lạc kia, khi quán
chiếu bằng ý thức, ta không thấy chúng có sức hấp dẫn như vậy, nhất là khi
ta đã thắp lên ngọn đèn chánh niệm, ta đã thấy rõ mặt mũi chúng. Ta nghĩ
rằng, ta đã được giải thoát rồi, nhưng than ôi, khi đi vào giấc mơ, ta vẫn
còn bị kẹt! Và vì vậy cho nên phải tiếp tục thực tập quán chiếu để chuyển
hóa cái thấy của Tàng vì cái thấy của Ý chưa có nghĩa là ta đã được hoàn
toàn giải thoát. Ta đã có thể cắt đứt những sợi dây kết sử phía trên phần
Ý, nhưng mà những sọi dây kết sử ở dưới phần Tàng, gọi là hạ phần kết sử,
hay là tùy miên, có thể ta chưa cắt đứt được, vì vậy cho nên ta đừng khinh
thưòng.
Có một Sư Cô vì không gặp may mắn trên đường tu học,
không có thầy giỏi, không có tăng thân tốt, nên đã không thành công trong
việc chuyển hóa. Trong sự buồn đau và thất vọng đó, cô ngã bệnh. Trên
giường bệnh, chỉ còn mấy ngày nữa là từ trần, cô bảo những người xung
quanh hãy đem tới cho cô một muỗng nước mắm để cô uống. Câu chuyện này do
nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ kể trong một cuốn tiểu thuyết. Khi đọc đến đoạn
này, tôi biết rằng đây là một chuyện có thể có thật. Một Sư Cô trước khi
chết đòi uống một muỗng nước mắm là điều có thể có thật.
Nếu không phải là người Việt thì quí vị không biết được
địa vị của nước mắm trong văn hóa Việt Nam. Các món ăn Việt Nam sở dĩ thắm
thiết ngon lành và đậm đà là nhờ ở hương vị của nước mắm. Nước mắm là cái
vị ngọt, vị ngon của thức ăn, nó tượng trưng cho cái vị ngọt, vị ngon của
dục vọng. Khi đi tu ta bỏ cái dục lạc ở ngoài đời vì một lý tưởng cao siêu
hơn, vì một hạnh púc chân thật hơn là hạnh phúc của dục lạc. Nhưng vì cuộc
đời tu hành của mình thất bại, cho nên âm thầm trong tàng thức, mình tiếc
là mình đã bỏ cái tuổi xanh, đã bỏ năm món dục lạc để đi tìm cái hạnh phúc
mà mình không đạt tới được. Thành ra cái ý muốn đòi đem tới một muỗng nước
mắm để uống, đã phát sinh ra từ sự hối tiếc đó. Đối với những người
hầu cận xung quanh Sư cô lúc đó, thì hiện tượng này là do ma làm. Suốt mất
chục năm trời chay tịnh, tụng kinh, niệm Phật, mà đến giờ phút sắp lâm
chung lại đòi uống nước mắm, thì quả thực là ma tới phá, làm đổ vỡ cả một
công trình tu học mấy mươi năm.
Nhưng công trình tu học mấy mươi năm đó có gì đâu? Vì
không có thầy hay không có bạn giỏi, Sư cô đã không có hạnh phúc trong mấy
mươi năm tu học, thành ra cái công trình đó chưa phải là một kiến trúc của
hạnh phúc, của giác ngộ. Tuy vậy đối với những người xung quanh Sư cô, họ
cho đó là một công trình đáng giá, một kiến trúc công phu và chỉ cần một
muỗng nước mắm là có thể xô đô được cái công phu kia. Cho nên họ nhất
không đem cho Sư cô muỗng nước mắm đó. Một công trình thực sự đâu có thể
dễ dàng bị phá vỡ như vậy? Muỗn nước mắm đâu có khả năng như vậy? Muỗng
nước mắm chỉ tượng trưng cho tất cả những chất ngọt ngào, những dục lạc mà
Sư Cô đã bỏ lại sau lưng khi đi xuất gia. Rốt cuộc Sư Cô tịch mà không
thỏa mãn. Khi đọc đến đây tôi nghĩ rằng nếu có tôi ở bên giường bệnh thì
tôi sẽ đi lấy một muỗng nước mắm lớn để cho cô uống. Uống xong thì cô sẽ
giác ngộ.
Người đã trải qua những cơn sốt đều biết rằng trong khi
bệnh thì lưỡi rất nhạt, nên mình muốn có một cái gì mặn để dánh tan cái
chất nhạt đó đi, và tiềm thức của mình nói rằng cái ngon nhất, cái vi diệu
nhất, đậm đà nhất là muỗng nước mắm. Chính lúc đó là lúc mà Sư Cô cần nếm
nước mắm, và nếm xong muỗng nước mắm mặn chát ấy, thì Sư Cô sẽ có cơ hội
giác ngộ. Chỉ tiếc là người ta đã không đem tới cho Sư Cô một muỗng nước
mắm! Theo cái nhìn của tôi, lúc đó không phải Tâm Kinh hay Vãng Sang Tịnh
Độ Thần Chú sẽ cứu vãng được cô, mà là một muỗng nước mắm thật đầy, thật
mặn mới là phương tiện để giúp cho Sư Cô bỏ được sự nuối tiếc năm thứ dục
lạc. Đó là cái nhìn của một Thiền sư. Rất tiếc là vị Thiền sư không có mặt
ở đó cho nên Sư cô đã chết đi trong sự nuối tiếc một muỗng nước mắm, một
biểu tượng của vị ngon ngọt ở đời.
Sự tu hành của chúng ta hiện giờ cũng như vậy. Ta phải
đạt cho được cái hạnh phúc trong khi tu học. Đi tu là vì ta đã thấy được
những cơn sốt, những đau khổ, những phiền não trong cuộc đời và cái thấy
đưa tới một cái tâm muốn tạo hạnh phúc cho ta và cho người khác, muốn đem
giọt nước thanh lương để xóa tan cái sầu khổ trong lòng mình và trong lòng
người. Do đó mình phát ra một cái tâm rất đẹp, rất tươi, rất mát, gọi là
tâm Bồ Đề, có khi gọi là Sơ Tâm. Sơ Tâm tức là cái tâm ban đầu của người
đi xuất gia. Không có cái gì đẹp cho bằng sơ tâm của một người đi xuất
gia. Cho nên các thầy luôn luôn nhắc nhở các đệ tử là con làm sao thì
làm nhưng phải giữ gìn cái sơ tâm cho đừng bị hư nát. Sơ tâm đó, là
bảo vật của người tu. Nếu Sơ tâm còn được giữ gìn thì đường tu sẽ có tiến
bộ. Nếu Sơ tâm càng ngày càng co rút lại thì đạo nghiệp ssẽ tiêu tan như
trong trường hợp của Sư Cô nói trên. Nếu gặp một vị thầy không hiểu được
mình, không thấy được những nỗi khổ niềm đau, những khó khăn, những ước
vọng của mình mà chỉ biết la mắng trách móc; nếu sống chung với một tăng
thân trong đó các anh, các chị, các em đều không ai thật sự thương mình,
không ai thật sự hiểu mình và giúp đỡ mình, thêm vào đó mình lại đang hành
trì những pháp môn không đem lại hạnh phúc cho mình trong khi hành trì,
thì cố nhiên mình sẽ thất bại và cái Sơ tâm của mình, cái tâm Bồ Đề của
mình đã teo lại thì một cái gì khác nó sẽ lớn lên. Cái đó là sự hối tiếc
dục lạc, là ý muốn ra đời. Nếu hạt giống của Bồ Đề tâm được thầy được bạn
vun tưới, thì nó trở thành một vùng năng lượng rất lớn trong con người tu.
Tuy nhiên, như vậy không có nghĩa là những hạt giống của sự hưởng thụ, của
sự yếu hèn đã tiêu tan đi hết. Chúng vẫn còn và nếu ta để cho những hạt
giống đó được tưới tẩm thì chúng sẽ lớn lên. Trong khi tu học, ta nên vun
bón, tưới tẩm hạt giống của Bồ Đề tâm và đừng để cho những hạt giống chống
lại Bồ Đề tâm có dịp được vun bón tưới tẩm. Khi mới đi tu thì Bồ Đề tâm
của ta rất lớn. Nhưng điều đó không có nghĩa là lúc đó tất cả những hạt
giống muốn sống đời thế tục, muốn hưởng dục không có mặt hoặc đã biến mất.
Chúng vẫn còn đó. Tuy rằng mình muốn trở nên người xuất gia, một người
mang lý tưởng Bồ Tát, đem hiểu biết, đem thương yêu làm đẹp cho cuộc đời,
nhưng những hạt giống ích kỷ, những hạt giống của sự hưởng thụ năm món dục
lạc vẫn còn núp sau đó, Nếu ta không làm cho tâm Bồ Đề này, cho năng lượng
này càng ngày càng lớn thì những “hạt giống kia” sẽ có cơ hội lớn lên.
Tôi còn nhớ năm 40 tuổi, tức là sau khi đã tu được mấy
chục năm rồi, vậy mà lúc đó “hạt giống kia” vẫn còn khá mạnh trong tôi.
Một hôm đi thiền hành trong một công viên ở thành Nice miền Nam nước Pháp,
tôi thấy một thiếu phụ đẩy một chiếc xe có em bé bên trong. Hình ảnh đó đã
đánh động tới những hạt giống muốn sống đời thế tục của tôi. Nên biết là
trong thời gian đó tôi đang đi kêu gọi hòa bình, sống xa Thầy, xa Chùa, xa
Tăng thân, không có một chỗ để trở về vì lúc đó chính quyền không cho tôi
về nước. Cho nên hình ảnh người thiếu phụ Pháp đẩy con dạo chơi trong công
viên Nice đã làm động tới cái hạt giống “có một mái gia đình” ở trong tâm
tôi, và tôi đã nghĩ rằng nếu mình sống đời thế tục thì bây giờ mình cũng
có một người đàn bà như thế, và có một đứa con mũm mĩm xinh đẹp như thế.
Nhưng nhờ đang đi thiền hành cho nên chỉ trong vòng một hai giây đồng hồ
là tôi thoát được tư tưởng đó. Tuy vậy tôi đã thấy rõ là “hạt giống kia”
đang có ở trong tôi. Thành ra cái “hạt giống muốn có một gia đình”, có một
căn nhà ấm cúng, có một người chăm sóc cho mình, có một đứa con mũm mĩm,
nó đang có mặt trong bất cứ một Sư Cô hay một Sư Chú nào, và hạt giống đó
nó sẽ không lớn lên được khi mình ở trong một môi trường mà Bồ Đề tâm của
mình, sơ tâm của mình được nuôi dưỡng, tưới tẩm hàng ngày. Còn nếu tu học
không thành công, không có hạnh phúc trong sự tu học thì Bồ Đề tâm của
mình sẽ bé đi từ từ và cố nhiên “anh chàng kia” sẽ lớn từ từ, và một ngày
nào đó mình sẽ ra đời, mình sẽ đi lập gia đình, đó là chuyện dĩ nhiên. Chỉ
vì mình không để ý, chứ chuyện ra đời không phải là chuyện được quyết định
trong một giờ hay một ngày. Chuyện đó đã âm ĩ trong tàng thức của mình từ
nhiều năm nhiều tháng. Có thể muời năm sau mình mới ra đời, nhưng mà bây
giờ mình đã bắt đầu ra đời rồi. Tu chánh niệm là để thấy điều đó.
Cạo sạch mái tóc
Nguyện cho mọi người
Dứt hết phiền não
Độ thoát cho đời.
Bài kệ này biểu dương một hùng lực lớn. Cố nhiên là
trong trường hợp này Bồ Đề tâm chiếm thượng phong, nhưng điều đó không có
nghĩa là Phi Bồ Đề tâm đã hoàn toàn tiêu diệt. Nó vẫn còn nằm đó, phục
kích, đợi cho Bồ Đề tâm yếu đi là chiếm phần thượng phong trở lại. Trong
cuộc sống hàng ngày có những Sư anh, Sư em thỉnh thoảng hành xử khó chịu
với mình, có những Sư chị, Sư em thỉnh thoảng chua chát với mình, điều này
có thể đưa mình đến ước mơ có một người thiếu nữ rất hiền, rất ngoan, chỉ
biết nghe lời mình và chỉ thương một mình mình thôi, lo lắng cho mình đủ
cách, luôn luôn mềm mỏng, ngọt ngào như một bà tiên. Và mình nuôi hình ảnh
đó trong đầu. Trong thực tế có thể có một người như vậy hay không, chuyện
đó mình biết rất rõ. Nhưng trong tàng thức của ta, người đó vẫn luôn luôn
có mặt. Trong một bài thơ, Đinh Hùng đã viết: “Chưa gặp em anh đã nghĩ
rằng, có người thiếu nữ đẹp như trăng ...” Đó là người thiếu nữ lý tưởng
của bất cứ một chàng trai nào, nhưng người đó chỉ có thể có trong mộng mà
thôi. Trong thực tế, có thể đó là một bà chằng đội lốt nàng tiên. Tuy rằng
Ý thức thấy được điều đó, và hoàn toàn chấp nhận điều đó, nhưng
trong thế giới của Tàng thức thì lại khác. Giống như món quà của Sư
chú Pháp Dụng đã khám phá ở Việt Nam rất khác với món quà nằm trong tàng
thức của Sư chú.
Một Sư cô tuy cạo sạch mái tóc, sơ tâm rất lớn, rất
đẹp, rất hùng tráng nhưng “hạt giống kia” vẫn còn, nó núp đằng sau hạt Bồ
Đề Tâm, nhỏ xíu nhưng sẽ lớn lên từ từ nếu Sư cô đó không tu tập đàng
hoàng. Cho nên sinh ra trong phái nữ mình cũng có “hạt giống đó”, mình
cũng mơ ước có một người đàn ông của riêng mình, chỉ riêng cho mình thôi,
và mình sẽ rất an toàn khi có một người đàn ông như vậy đi bên cạnh. Đó là
vị hoàng tử của đời mình, vị hoàng tử trong giấc mơ của mình. Hoàng tử đó
có hay không trong thực tế là một chuyện khác, và hạt giống của sự ước mơ
này sẽ lớn lên khi sự tu học của mình không thành công. Điều đó là điều
mình phải biết. Mỗi khi tỉnh dậy sau một giấc mơ, nếu thấy những “hạt
giống” hiện hành trong giấc mơ, thì khi thức dậy rồi ta phải mỉm cười với
chúng, phải mỉm cười và ý thức rằng những “hạt giống đó” trong giấc mơ đã
phát hiện và trong đời sống tỉnh thức hàng ngày, ta phải thực tập và phải
chấp nhận sự phát hiện của những hạt giống đó trong giấc mơ. Trong đời
sống hàng này của một tu sĩ, ta ngồi thiền, đi thiền hành v.v... và không
bao giờ nghĩ rằng ta có thể nằm mơ thấy một giấc mơ như vậy. Nhưng sự thực
đêm qua ta vừa mơ thấy là ta ôm một người con trai hay một người con gái!
Cách tu tập của ta là khi thức dậy mà nhớ được giấc mơ, thì ta phải mỉm
cười với hình ảnh đó và phải ý thức rằng những hạt giống thế tục đó đang
hoạt động bên trong ta. Chỉ chừng đó là đủ rồi, không cần phải có mặc cảm
tội lỗi, không cần phải tự đày ải mình, không cần đấm ngực, không cần bứt
tóc, nhưng ta đã cạo đầu rồi thì còn tóc đâu mà bứt!
Đó là phương pháp nhận diện những hạt giống khi chúng
phát hiện trong tâm của ta. Có thể là trong giấc mơ, người ta ôm có những
nét hao hao giống Sư em của ta, khi thức dậy rồi, phải ý thức ngay điều
đó, và phải mỉm cười với nó, tại vì tàng thức của ta làm việc một cách rất
kỳ lạ, rất bất khả tư nghì. Bất khả tư nghì là không thể ngờ trước được,
không thể tính toán được. Ta phải tỉnh thức để thấy rằng Sư em của mình là
một người đi tu, một người đang mang chí nguyện độ đời trong vai trò Ni
Cô. Vậy mà trong giấc mơ, ta đã ôm một người con gái, và người con gái đó
lại có thể có những nét hao hao giống người Sư em, cho nên ta cảm thấy tội
lỗi và tự hỏi tại sao chuyện này có thể xảy ta? Trong đời sống tỉnh thức
hàng ngày, ta kính phục Sư em, không bao giờ dám có tư tưởng như vậy. Vậy
mà trong giấc mơ nó đã xảy ra. Điều này chỉ có nghĩa là những “hạt giống
kia” vẫn nằm ở trong tàng thức của ta, và đừng tưởng rằng trong thời gian
tỉnh thức của đời sống hàng ngày, ý thức có thể làm được hết tất cả mọi
công việc chuyển hóa.
CHUYỂN HÓA TÀNG THỨC MỚI ĐẠT ĐƯỢC GIÁC NGỘ
Cái thấy và cái hiểu của ý thức như ta đã biết không
phải là cái thấy và cái hiểu của tàng thức, vì vậy mà ta phải hạ thủ công
phu, phải tiến tới, phải đi sâu. Trong tàng thức, có những cái nằm ngủ âm
thầm ở dưới đáy mà chúng ta gọi là tùy miên (Anusaya). Tùy là còn
đi theo, và miên là ngủ. Khi ngủ ta không những chỉ tu với Ý mà còn
phải tu với Tàng, vì chính Tàng mới cống hiến được hoa trái của hạnh phúc,
của giác ngộ. Vì vậy ta không cần phải có mặc cảm tội lỗi, ta chỉ cần nhận
diện những hạt giống của tùy miên đó ở trong ta, và ta phải nổ lực quán
chiếu để thấy nếu người sư em của ta không hoàn thành được sự nghiệp của
người xuất gia, thì đó là sự hư hỏng cả đời của người đó. Và nếu chính ta
cũng không hoàn thành được sự nghiệp xuất gia, thì đó cũng là sự hư hỏng
của cả cuộc đời ta. Và như vậy ta tạo ra đau khổ không phải chỉ cho hai
người mà còn cho biết bao nhiêu người xung quanh, trong đó có thầy ta, gia
đình, bạn bè và tăng thân của ta. Quán chiếu như vậy mới có ích lợi, còn
đấm ngực và giựt tóc thì không có ích lợi gì cả.
Đã là người tu ta đừng để cho đến khi nước tới chân mới
nhảy. Trong đời sống hàng ngày nếu có tín hiệu nào phát ra, thì ta phải
tiếp nhận và ta phải tìm hiểu xem tâm của ta đang muốn nói gì với ta.
Nếu ta chỉ mới bắt đầu thấy chán nản và mệt mỏi, thì rất dễ chữa trị. Ta
có thể nhờ Thầy, nhờ bạn chuyển hóa cho, nhưng nếu chúng ta cứ để vậy rồi
mỗi ngày tưới thêm một chút chán nản, một chút mệt mỏi, thì sẽ đến lúc
những hạt giống tiêu cực lớn lên, xeo, nạy, và xô đẩy cái Bồ Đề tâm của
ta, khuynh loát Bồ Đề tâm của ta, rất nguy hiểm, Bồ Đề tâm là cái vốn của
người xuất gia, ta phải chăm chút nuôi dưỡng tâm ấy mỗi ngày. Nuôi dưỡng
bằng những bài pháp thoại, bằng những buổi thiền hành, bằng những buổi ăn
cơm im lặng, bằng tình thương của ta đối với những người đang sống chung.
Với chánh niệm, ta nhận thức được những giây phút tiêu cực, bất lợi cho Bồ
Đề tâm và cũng nhận thức cả những giây phút tích cực có khả năng nuôi
dưỡng Bồ Đề tâm. Vì vậy cho nên thắp sáng chánh niệm trong đời sống hàng
ngày là điều rất quan trọng.
3.2
Pháp Thoại Ngày 8 tháng 9 năm 1994
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày mồng 8 tháng 9 năm
1994, chúng ta đang ở xóm Thượng trong khóa mùa Thu, và học tiếp Kinh
Samiddhi.
NGŨ DỤC TẠO NÊN NHỮNG CƠN SỐT
Nhắc lại một phần bài giảng hôm trước, thầy Samiddhi
nói: Đức Thế Tôn có dạy, trong cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt rất
ít mà chất cay đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà tai họa rất lớn. Tôi nay
đang an trú trong hiện pháp, lìa bỏ được những ngọn lửa phiền não đốt
cháy, hiện pháp này vượt thoát thời gian, đến để mà thấy, có tác dụng đưa
chúng ta đi lên và tự mình mỗi người có thể hiểu được và thông đạt được.
Ta biết rằng câu trả lời này thầy Samiddhi lấy trọn
trong kinh ra nên rất đúng với Chánh Pháp. Câu đó được dịch từ tiếng Hán,
và ta cũng đã đọc câu bằng tiếng Pali. Theo văn học Phật Giáo Bắc Tông câu
trả lời này còn có thêm một danh từ nữa là vô chư nhiệt não, nghĩa
là không có sự nóng sốt, là lìa bỏ được những ngọn lửa phiền não đốt cháy.
Khi an trú trong giáo pháp và sống trong giờ phút hiện tại, ta có thể
tránh được những ngọn lửa phiền não đốt cháy. Chúng ta đã biết rằng những
ngọn lửa phiền não này là những ngọn lửa phát sinh từ ao ước hưởng thụ năm
thứ dục lạc. Giáo sư Démiéville dịch là “sans fièvre”, tức là không có sự
nóng sốt, không có cơn sốt. Danh từ tiếng Phạn là Nirjvara. Vara nghĩa là
con sốt. Chữ Hán dịch là vô chư nhiệt não, không bị đốt cháy bởi những
phiền não. Khi đi lạc vào mê hồn trận của danh, của lợi, của tài và của
sắc, ta bị những ngọn lửa phiền não đốt cháy. Nếu thoát ra được và an trú
được trong giáo pháp của Đức Thế Tôn, thì ta không bị những cơn sốt đó hãm
hại, cho nên gọi là vô chư nhiệt não. Vì vậy trong bài tụng tiếng
Pali quí vị nên thêm vào năm chữ “là xa lìa nhiệt não” ngay sau câu “là
hiện thân thọ chứng” cho đầy đủ. Khi tụng, ta sẽ tụng như vầy:
Diệu Pháp của Đức Thế Tôn là
thiện thuyết,
Là hiện thân thọ chứng,
Là xa lìa nhiệt não,
Là vượt thoát thời gian,
Là đến để mà thấy,
Là dẫn đạo đi lên,
Là tự mình thông hiểu ...
Vậy thì diệu pháp của Đức Thế Tôn là thiện thuyết,
tức là khéo diễn bày; là hiện thân thọ chứng (Sanditthika), nghĩa
là với kiếp này, với cái thân thể và tâm hồn này ta có thể thực chứng được
mà không phải mong ước ở tương lai; là xa lìa nhiệt não, tức không
có những cơn sốt của phiền não; là vượt thoát thời gian (Akalika);
là đến để mà thấy (Ehipassika); là dẫn đạo đi lên
(Upanayika); là tự mình thông hiểu (Paccattamveditabbo Vinnuhiti).
Sau khi nghe câu trả lời, vị Thiên giả thấy mình chưa
hiểu nên đã hỏi tiếp:
- “Tại sao Đức Thế Tôn lại nói trong cái vui phi thời
của ái dục vị ngọt rất ít mà chất cay đắng rất nhiều, cái lợi rất bé mà
tai họa rất lớn? Tại sao Đức Thế Tôn lại nói an trú hiện pháp là lìa bỏ
được những ngọn lửa phiền não đốt cháy, vượt ngoài thời gian, đến để mà
thấy, tự mình thông đạt, tự mình có thể giác tri”.
Lúc bấy giờ thầy Samiddhi hơi ngại vì đã một lần thầy
giảng nghĩa mà không đúng với ý của Đức Thế Tôn, nên lần này thầy cẩn thận
hơn trong khi trả lời:
- “Tôi mới xuất gia được có mấy năm, không đủ sức giảng
bày rộng rãi những giáo pháp và luật nghi mà Đức Như Lai tuyên thuyết.
Hiện Đức Thế Tôn đang cư ngụ gần đây, nơi rừng tre Ca Lan Đà, thiên nữ có
thể tới với Người để trình bày những nghi vần của thiên nữ. Đức Như Lai sẽ
dạy cho thiên nữ chánh pháp để tùy nghi thọ trì”.
Đây cũng là cái cơ hội để thầy đưa vị Thiên giả đến với
Đức Như Lai. Các Sư cô và Sư chú có thể học bài học này, để khi gặp các vị
Thiên giả đến hỏi chuyện lăng nhăng, quí vị có thể đưa họ đến với tôi, tôi
sẽ giúp quí vị độ được các vị Thiên giả nào đó.
Vị thiên nữ nói
“Thưa khất sĩ, Đức Như Lai đang được các vị Thiên giả
có nhiều uy lực túc trực bao quanh, tôi không dễ gì có cơ hội để tới gần
Người mà hỏi Đạo. Nếu thầy có thể đến Đức Thế Tôn để thỉnh vấn trước giùm
tôi thì tôi sẽ xin đi theo thầy”.
Hôm trước tôi đã giảng câu này rồi. Ngày xưa, muốn đến
gặp Bụt cũng khó, vì các thị giả không cho vô. Vì vậy tuy là một vị thiên
nữ, cô cũng không dễ dàng trực tiếp gặp Đức Thế Tôn. Mà phải nhờ một Sư
chú dẫn tới. Vậy mới biết các Sư chú, Sư cô là phước điền tốt, là “thượng
đẳng điền” nên mới có thể tới với Đức Thế Tôn một cách rất dễ dàng. Thầy
Samiddhi biết được điều đó cho nên thầy nói:
Tôi sẽ đi giúp thiên nữ.
Vị thiên nữ nói: “Thưa Tôn giả vâng, tôi sẽ đi theo Tôn
giả”.
Lúc ấy vị khất sĩ kia đến nơi Bụt ở, cúi đầu làm lễ
dưới chân Người, lui ra đứng một bên, và đem câu chuyện đã nói với vị
thiên nữ thuật lên cho Bụt nghe. Rồi thầy thưa tiếp:
Bạch Đức Thế Tôn, nếu vị thiên giả kia có tâm thành
khẩn thì giờ này cô ta đã có mặt ở đây rồi, còn nếu không thì có lẽ vị ấy
đã không tới.
Khi nghe vị thiên giả đồng ý đi theo để gặp Bụt, thầy
Samiddhi liền đến nơi Bụt ở. Làm lễ Bụt xong thầy lui ra đứng một bên và
thuật lại hết cho Bụt nghe câu chuyện thầy đi tắm sông, gặp thiên nữ chất
vấn thế nào và thầy đối đáp ra sao. Thầy Samiddhi thuật chuyện cho Bụt
nghe xon mà không thấy vị thiên nữ đâu. Có lẽ lúc này thầy đi vị Thiên giả
cũng đi theo, nhưng không đi theo sát bên thầy, cho nên khi thầy vào tiếp
xúc trực tiếp với Bụt thì không có vị Thiên giả đứng gần đó, Vì vậy cho
nên thầy mới nói: Bạch Đức Thế Tôn, nếu vị thiên giả kia có tâm thành
khẩn thì giờ này cô ta đã có mặt ở đây rồi, còn nếu không thì có lẽ vị ấy
đã không tới.
Trong bản Biệt Dịch Tạp A Hàm cũng như trong bản Pali
Samyutta Niakaya ta không thấy có câu ấy, nghĩa là không đặt vấn đề
thành khẩn. Tuy nhiên câu này cũng có cái nghĩa riêng của nó. Qua câu
này ta thấy rằng có thể vị Thiên giả có ý thao thức hỏi đạo, hoặc vị Thiên
giả không thật sự thao thức hỏi đạo mà chỉ vì thấy người khất sĩ kia là
một người còn trẻ mà đi tu, bỏ gia đình, bỏ tất cả danh lợi ngoài đời,
không hưởng thụ dục lạc, nên hiếu kỳ muốn tìm hiểu vậy thôi. Chúng ta nên
biết rằng, không phải những vị Thiên giả như thế chỉ có mặt ở thời xưa mà
thôi. Thời nay các vị Thiên giả như thế cũng có mặt, và thầy Samiddhi
không phải chỉ có mặt hai ngàn sáu trăm năm về trước mà thầy Samiddhi cũng
đang có mặt bây giờ và ở đây. Chừng nào còn có thầy Samiddhi, thì chừng đó
còn có những vị Thiên giả đặt câu hỏi là tại sao còn trẻ mà bỏ gia đình,
bỏ xã hội để đi tu, và chừng nào còn những vị Thiên giả như vậy thì chừng
đó thầy Samiddhi vẫn còn phải trả lời.
Lúc bấy giờ có tiếng vị Thiên giả từ xa nói vọng lại:
“Thưa Tôn giả tôi đang có mặt đây, tôi đang có mặt đây”.
Lúc đó Đức Thế Tôn mới nói lên một bài kệ:
Chúng sanh tùy ái tưởng,
Dĩ ái tưởng nhi trú,
Dĩ bất tri ái cố,
Tắc vi tử phương tiện.
Tôi dịch là:
Chúng sanh theo dục tưởng,
Trú trong dục tưởng ấy,
Không biết dục là gì,
Nên đi vào nẻo chết.
Có thể Đức Thế Tôn đã dạy bằng văn xuôi, nhưng các thầy
không nhớ hết, và để khỏi quên cái tinh túy của lời Đức Thế Tôn dạy, nên
các thầy hồi đó đã đúc kết những lời của Đức Thế Tôn bằng lại bằng lời kệ.
Chúng sanh tùy ái tưởng, Dĩ ái tưởng nhi trú
(Chúng sanh theo dục tưởng, trú trong dục tưởng ấy). Chữ ái này
đồng nghĩa với chữ dục. Ta thường gọi là Dục Ái hay Ái Dục. Tiếng
Phạn thường dùng chữ Chandaraga, nghĩa là tham ái hay dục ái. Tiếng Anh có
thể dùng chữ Craving tức là sự thèm khát. Còn chữ Tưởng ở đây là
chữ Tưởng trong năm uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức), có nghĩa là tri
giác, tiếng Anh là Perception. Hai câu trên có nghĩa là chúng sinh đi theo
những tri giác về ái dục của mình, và lấy cái tri giác về ái dục đó làm
chỗ cư trú. Nói như vậy có nghĩa là mình có một ý niệm về hạnh phúc và
mình có những ham muốn (ái dục). Hạnh phúc là một chuyện, mà ái dục là một
chuyện, hai cái khác nhau nhưng thường ta hay lẫn lộn. Đây là vấn đề chung
của tất cả mọi người.
Ý NIỆM VỀ HẠNH PHÚC LÀ NHỮNG CHƯỚNG NGẠI CỦA HẠNH PHÚC
Trong ta, mỗi người đều có một ý niệm về hạnh phúc. Ta
nghĩ rằng hạnh phúc là phải như thế này hay như thế kia. Nếu ta không được
như thế này hay như thế kia thì ta kết luận là ta không có hạnh phúc. Ta
cho rằng bị kẹt vào ý niệm về hạnh phúc của mình, và trong nhiều trường
hợp, ý niệm về hạnh phúc của mình là chướng ngại căn bản để mình đạt tới
hạnh phúc. Ví dụ mình ham muốn đậu được cái bằng cấp đó, và nghĩ rằng
nếu không có cái bằng cấp đó thì không bao giờ mình có hạnh phúc cả. Như
vậy tức là mình đã bị kẹt vào một ý niệm về hạnh phúc. Trong khi mình đang
có vô số cơ hội để có hạnh phúc, mình đánh mất hết, chỉ vì mình đã tự đóng
khung cái hạnh phúc của mình vào trong cái ý niệm có bằng cấp kia. Đó là
một cái muốn, một thứ ái dục, ái dục về bằng cấp. Trong đời sống tu hành
cũng vậy. Là một ông thầy tu mình có thể nghĩ rằng muốn nói cho thiên hạ
nghe thì mình phải có một cái bằng cấp vì có bằng cấp thì thiên hạ mới nể,
thuyết pháp người ta mới nghe. Vì vậy cho nên mình phải xông xáo ra đời
vài ba năm để học và giật cho được bằng cấp đó. Mình đâu có biết rằng vì ý
niệm về bằng cấp mà sự nghiệp tu hành của mình có thể sẽ bị hư hỏng. Tóm
lại tất cả đều do ý niệm của mình mà ra, và ý niệm thường rất dễ bị sai
lạc.
Có một anh chàng nói: “Hạnh phúc của đời tôi là phải
cưới cho được cô này, nếu không cưới được cô ấy thà rằng chết còn hơn,
hạnh phúc không thể nào có được!”. Như vậy anh chàng đã cột đời của mình
vào trong ý niệm là phải cưới cho được cô kia. Cưới không được thì đời
không còn có ý nghĩa gì cả. Tại sao đời không có ý nghĩa gì nữa cả. Đời
còn nhiều nghĩa lắm chứ! Nhưng tại mình không thấy được tất cả những
cái nghĩa khác của cuộc đời mà chỉ thấy có một nghĩa đó mà thôi. Cái
đó gọi là ý niệm. Ý niệm đó ở trong trong đạo Bụt gọi là Tưởng, một cái
Tưởng của mình về hạnh phúc.
Muốn sử dụng vô số những điều kiện để có hạnh phúc,
muốn đừng dẫm lên những điều kiện của hạnh phúc mà đi, ta đừng nên bị ràng
buộc vào một ý niệm nào về hạnh phúc cả. Khi đã bị kẹt vào một ý niệm về
hạnh phúc là ta không còn cơ hội nào khác để có hạnh phúc nữa. Ý niệm
hạnh phúc đó gọi là dục tưởng.
Ý NIỆM VỀ HẠNH PHÚC HAY DỤC TƯỞNG LÀ ĐỐI TƯỢNG CẦN QUÁN
CHIẾU
Ý niệm về hạnh phúc có thể là một ý niệm cá nhân, mà
cũng có thể là một ý niệm có tính cách cộng đồng, gọi là tâm thức cộng
đồng. Nếu ta hỏi một người Mỹ bình thường phải có những điều kiện nào
mới có hạnh phúc, thì người ấy sẽ liệt kê những điều kiện tồi thiểu mà một
người Mỹ phải có để có thể gọi là một người có hạnh phúc. Trước hết là
phải có một trình độ học thức tương đương với BA hay BS, nghĩa là phải tốt
nghiệp Đại học cấp một. Kế đến là phải có công ăn việc làm, tương đương
với trình độ học vấn, lương đủ cao để có thể thuê một căn nhà, mua một
chiếc xe. Trong nhà phải có TV, tủ lạnh. Thiếu một trong những thứ ấy
người đó sẽ chưa có hạnh phúc. Cái hạnh phúc đó gọi là ước lệ.
Đó là ý niệm về những điều kiện mà mình tin là cần thiết và là căn bản của
hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ lại, ta thấy rằng rất nhiều người đang có
những điều kiện như vậy, nhưng không hạnh phúc gì cả. Họ có thể đang bị
đau khổ cùng cực. Ngay cả khi có nhiều hơn, trên cả những điều kiện đã đòi
hỏi, họ vẫn khổ đau vô cùng. Vậy thì ý niệm về hạnh phúc (dục tưởng) là
một điều cần phải được quán chiếu, cần phải tìm hiểu vì ta có thể chết vì
nó.
Đừng nói gì ngoài đời, ngay ở trong đạo, người đã tu
rồi, cũng có thể có một ý niệm về hạnh phúc. Ví dụ mình nghĩ là phải có
một ngôi chùa riêng để tự do sắp đặt theo ý mình, để không phải làm theo
điều người khác sai phái. Chừng nào làm trụ trì, làm viện chủ của một ngôi
chùa rồi thì mới có quyền, mình có thể bảo chú này, cô kia làm theo điều
này, điều nọ. Mình nghĩ: có một ngôi chùa riêng để làm chủ là điều kiện
của hạnh phúc. Nhưng than ôi, khi đã có một ngôi chùa riêng rồi mình mới
biết rằng cái ý niệm về hạnh phúc có thể không đúng chút nào. Thật ra có
một ngôi chùa, có một trung tâm tu học không phải là điều dỡ. Ta có thể
căn cứ vào điều kiện đó để tạo rất nhiều hạnh phúc cho mình và cho người.
Nhưng không hẳn phải làm chủ một ngôi chùa mới có thể làm được những điều
đó. Nếu mình là một người có hạnh phúc, có khả năng hướng dẫn tu học và
tạo dựng hạnh phúc cho người, thì không có chùa mình vẫn làm được việc đó
như thường. Mình lại khỏi phải chăm sóc và lo lắng cho ngôi chùa như một
vị trụ trì. Nhiều khi không có chùa mình có thể tạo hạnh phúc cho mình và
cho người người gấp mười, gấp trăm lần khi mình có một ngôi chùa! Được tấn
phong là Thượng Tọa hay Hòa Thượng có phải là điều kiện của hạnh phúc
không? Có nhiều người rất đau khổ vì không gọi bằng những danh từ đó. Khi
được gọi bằng một danh từ khác họ thấy trong người như có lửa đốt, như bị
sốt rét. Tại sao đáng lý mình được gọi bằng danh từ ấy mà người ta gọi
mình bằnh danh từ này? Khi có sốt rét, khi bị một ngọn lửa đốt cháy, mình
biết rằng mình đang bị một dục tưởng trấn ngự, dù đó là một cái danh rất
nhỏ. Vì vậy dục tưởng hay ý niệm về hạnh phúc là một đối tượng mà mọi
chúng ta cần phải quán chiếu. Khi quán chiếu và đập vỡ được cái dục
tưởng ấy rồi thì mình được giải thoát, và tự nhiên ta có vô số hạnh phúc.
Điều kiện hạnh phúc có mặt rất nhiều trong ta và chung quanh ta, sở dĩ ta
không sử dụng được chúng là vì ta đang kẹt vào trong cái gọi là dục tưởng.
Trong hai câu cuối cùng của bài kệ Bụt nói cho vị Thiên
giả, Dĩ bất tri ái cố, Tắc vi tử phương tiện, Bụt dạy rất rõ rằng
“vì chúng sinh không biết bản chất của dục là gì (cố nghĩa là lý
do), cho nên cái dục ấy trở thành phương tiện của sự chết”. Phương tiện
của sự chết tức là công cụ của thần chết. Thần chết tiếng Phạn là Mara,
tức là Ma vương. Ma vương là biểu tượng cho con đường đi về đau khổ, chết
chóc. Vì vậy chữ chết ở đây còn có nghĩa là con đường lầm lạc, con
đường tối tăm, con đường tà ma. Nẻo chết là nẻo của phiền não, của sự đốt
cháy, của sự vắng mặt hạnh phúc, vắng mặt thanh tịnh, vắng mặt an lạc.
Trong Tạp A Hàm Biệt Dịch bài kệ đó rất hay:
Danh sắc trung sinh tưởng,
Vị vị chân thật giả,
Đương tri như tư nhân,
Thị danh thuộc tử kỉnh.
Danh sắc trung sinh tưởng
nghĩa là từ trong phạm vi danh và sắc, đã phát sinh ra những tri giác,
những nhận thức. Danh và Sắc ở đây có nghĩa là tinh thần và vật chất. Danh
(nama) tức là những cảm thọ, tri giác, tâm tư và nhận thức của chúng ta
(Thọ, Tưởng, Hành, Thức); còn Sắc (rupa) là thân thể, là sinh lý của chúng
ta. Nói tóm lại, Danh tức là những yếu tố làm ra con người thuộc về
phương diện tinh thần, còn Sắc là các yếu tố làm ra con người đứng về
phương diện vật chất. Trong lãnh vực của Danh và Sắc, ta đã làm phát
sinh ra những tri giác, nghĩa là ta có những tri giác về danh và về sắc.
Vị vi chân thật giả:
chúng ta cho những tri giác đó chính xác, là chân thực.
Đương tri như tư nhân:
phải biết rằng người này.
Thị danh thuộc tử kỉnh:
là những người đang đi trên con đường dẫn về cái chết, kỉnh tức là
con đường.
Bài kệ này tôi dịch là:
Những tri giác phát sinh từ danh
và sắc,
Người đời thường nhận lầm chúng là những gì có thật,
Kẻ nào đang kẹt vào tình trạng này,
Là kẻ đang đi trên con đường ma.
Con đường ma là con đường của khổ đau, của thiêu cháy.
Ta phải học kỹ bài kệ này, vì nó là mấu chốt của Kinh Samiddhi. Thầy Phật
Âm (Buddghosa) tác giả Thanh Tịnh Đạo Luận, sống vào thế kỷ thứ năm, đã
hiểu bài này một cách rất tỏ tường và đã giảng nghĩa bài này rất chính
xác. Cố nhiên là Thầy căn cứ trên văn bản tiếng Pali. Rất tiếc là bản dịch
của Pali Texts Society không phù hợp với các thấy của thầy Phật Âm.
Thầy Phật Âm nói “Con người có nhiều nhận thức về
năm uẩn, tức là về Danh và Sắc. Người có trí thì thấy những đối tượng của
tri giác đó không thật, không có có ngã, mà chỉ là năm uẩn luôn luôn biến
chuyển mà thôi”. Như vậy cái thấy của thầy rất phù hợp với hai câu
trong Biệt Dịch Tạp A Hàm “Danh sắc trung sinh tưởng, Vị vi chân thật
giả”, nghĩa là trong lãnh vực của năm uẩn là Danh và Sắc, người ta có
những nhận thức sai lầm, cho nó là chân thật, vì vậy cho nên người ta đang
đi trên con đường khổ đau, đang đi trên con đường chết. Trong khi đó, bản
Pali Texts Society dịch là:
Men are alone of what is told by Names,
Take up their stand on what is so
expressed,
If this they have not rightly
understood,
They go their ways under the yolk of
Death.
Trong bản tiếng Pali, akkeyya sannino sattà có nghĩa là
chúng sinh có những tri giác về những cái được phát hiện ra. Vì vậy
akkheyyàni này có thể dịch là những cái được tuyên bố ra, những cái được
nói ra. Nhưng cũng có thể được dịch là những cái được phát hiện ra, được
trình bày ra, chỉ bày ra. Tiếng Anh là what is proclaimed, what has
been proclaimed, what has been shown, what has been expressed. Nghĩa
chính của nó là “sự biểu hiện ra”. Năm uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức)
là phát hiện từ Danh Sắc, mà Danh Sắc là phát hiện từ Thức (Thức này là
viết hoa; còn thức trong các danh từ như Tàng thức, Nhất Thiết Chủng thức
thì không viết hoa). Từ Thức mà phát sinh ra Danh Sắc, từ Danh Sắc mà
phát sinh ra năm uẩn. Sự biểu hiện đó, sự phát sinh đó được trình bày,
được chỉ bày ra. Khi dịch bản Pali ta có thể dịch đúng như trong bản Biệt
Dịch Tạp A Hàm. Bản dịch này rất hay, còn hay hơn ở Tạp A Hàm, và rất dễ
hiểu. Vì vậy từ bài kệ tiếng Pali, ta có thể dịch ra tiếng Anh như sau:
Men have notions of what that have been expressed, that
have been shown, they take up their stand on these perceptions, and that
is why they go their way under the yolk of Death.
Ta thấy ba bản văn, bản Pali và hai bản tiếng Hán, cùng
mang một ý như nhau: Khi ta có một cái ý niệm về hạnh phúc, ta có thể bị
kẹt vào ý niệm về hạnh phúc đó, và ta đi vào nẻo đường của khổ đau, là vì
ta không biết được bản chất của cái mà ta gọi là hạnh phúc. Chúng chỉ là
đau khổ trá hình mà thôi. Nhìn quanh ta thấy có vô khối người đang đi như
vậy vì họ không biết bản chất của đối tượng mà họ đang đi tìm hay đi theo.
Bài kệ này là câu trả lời căn bản của Bụt về vấn đề hạnh phúc.
Thường thì ta có một ý niệm về hạnh phúc và ta nắm lấy
ý niệm đó mà không biết rằng như vậy là ta đang đi trên con đường của khổ
đau. Ngôn ngữ của Kinh điển có khuynh hướng giải thích về những cái nguy
hại, những tính cách giả tạo của ái dục, khuyên ta xa lìa ái dục, rũ bỏ
những ảo tưởng, mà chưa có đủ những ngôn từ, những lời nói để giúp ta
tìm thấy cái hạnh phúc chân thật. Vì vậy trong khóa tu này ta phải
thiết lập lại sự thăng bằng. Phần nói về ái dục là phần khai thị bên phía
tiêu cực. Phần trình bày về hạnh phúc chân thật là phần khai thị về phía
tích cực. Thầy Samiddhi đã trích dẫn lời của Bụt nói “trong ái dục vị
ngọt thì rất ít, mà vị cay đắng rất nhiều; cái lợi rất nhỏ mà cái hại rất
lớn; nó làm cho chúng ta bị đốt cháy, nó làm cho chúng ta đi theo con
đường của thần chết”, rồi thầy Samiddhi cũng nói “tới với Chánh
Pháp, sống với cái Pháp và Luật của Thế Tôn thì chúng ta có thể hạnh phúc
trong giây phút hiện tại, chúng ta xa lìa được những phiền não đốt cháy,
chúng ta có thể hiện pháp lạc trú, nghĩa là tìm thấy an lạc, hạnh phúc,
giải thoát ngay trong hiện tại". Vì vậy trong Kinh Samiddhi ta thấy sự
diễn bày về phần tích cực của hạnh phúc tương đối nhiều hơn trong những
kinh khác. Kinh Samiddhi không những chỉ nói về các tai hại, quá hoạn của
ái dục, mà chỉ nói về các tai hại, quá hoạn của ái dục, mà còn nói tới cái
tự do, cái thênh thang của hạnh phúc chân thật. Trong danh từ “quá hoạn”,
quá có nghĩa là những cái lỗi lầm, tiếng Pháp gọi là les defauts;
hoạn là sự nguy hiểm, les dangers.
NHỮNG HÌNH ẢNH BỤT DÙNG ĐỂ TƯỢNG TRƯNG CHO BẢN CHẤT CỦA
DỤC LẠC
Ái dục, trước hết được ví như một khúc xương trần.
Xương trần tiếng Anh là “bare bone”, tức là một khúc xương không còn một
chút thịt nào hết. Khi ta quăng một miếng xương trần cho con chó thì nó
rất thích. Nó tranh với những con chó khác để chiếm cho được miếng xưong
ấy mà gặm. Nhưng con chó không bao giờ thỏa mãn được sự thèm khát của nó
cả. Một miếng xương trần không thể làm thỏa mãn cơn đói của một một con
chó. Ái dục đối với ta cũng vậy. Ta nghĩ rằng có được đối tượng của ái
dục, ôm lấy đối tượng ấy ta sẽ được thỏa mãn sự thèm khát của ta và ta sẽ
có hạnh phúc. Nhưng đó là một ý niệm về hạnh phúc cần được quán chiếu.
Nếu một miếng xương trần không thể nào làm no một con chó, thì đối tượng
của ái dục không bao giờ làm thỏa mãn cái khát khao của một con người.
Càng theo ái dục, ta càng bị phiền não đốt cháy. Phiền não ở đây là sự
không được thỏa mãn. “Kiều Thu này Tố em ơi, ta đang lửa đốt tơi bời
mái tây”, ta bị lửa đốt là vì ta không được thỏa mãn cái tưởng của ta!
Hình ảnh khúc xương trần là hình ảnh đầu tiên mà Bụt
đưa ra để nói về bản chất của dục. Con chó có biết rằng khúc xương đó chỉ
là một miếng xương trần hay không? Con chó có biết khúc xương đó không bao
giờ có thể làm cho nó hết đói hay không? Có thể là nó biết, nhưng biết thì
biết, nó vẫn chạy theo miếng xương trần và gặm miếng xương trần như
thường. Gặm một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày mà cứ gặm
hoài. Người ta biết điều đó cho nên họ mới làm ra những khúc xương trần
bằng một hợp chất plastic. Nhìn con chó gặm khúc xương trần, ta phải nhìn
lại bản thân của mình. Ta cũng có cái khuynh hướng ấy, chạy theo khúc
xương trần, gặm ngày qua ngày khác, và không bao giờ ta thấy cơn thèm khát
của ta được thỏa mãn cả. Chúng sanh đi theo những tri giác của mình về ái
dục, và nương náu vào trong những ý niệm, những tri giác của ái dục đó, mà
không biết được bản chất của ái dục cho nên chúng sinh trở thành công cụ
của thần chết, đi vào trong tử lộ. Thật không có gì rõ ràng hơn!
Hình ảnh thứ hai mà Bụt đưa ra là một miếng thịt sống.
Ái dục là miếng thịt sống. Có một con chim bay ngang qua tiệm bán thịt,
đớp miếng thịt sống và bay lên trên không. Nó tưởng sẽ được ăn miếng thịt
đó, không ngờ từ đằng xa có con chim lớn hơn bay tới. Chuyện này xảy ra ở
Ấn Độ rất thường, vì ở Ấn Độ có rất nhiều kên kên. Khi một con chim nhỏ
đang ngậm miếng thịt mà thấy một con chim lớn bay tới, nếu muốn được an
thân, muốn khỏi bị con chim kia mổ chết, nó phải nhả miếng thịt ra lập
tức. Nếu không miếng thịt không còn mà nó cũng chưa chắc được yên thân.
Đó là những tai nạn của vật dục, của ái dục, gọi là quá hoạn.
Hình ảnh thứ ba của Bụt đưa ra là một bó đuốc rơm.
Người cầm bó đuốc rơm đi ngược gió thế nào tay người đó cũng bị đốt cháy.
Bó đuốc rơm cầm ngược gió là tượng trưng cho những tai nạn của ái dục.
Chui vào cái bẫy của ngũ dục, thế nào ta cũng bị đốt cháy.
Hình ảnh thứ tư mà Bụt đưa ra là hố than hồng. Ở
Ấn Độ, ngày xưa những người bị phong hủi không được sống chung với làng
xóm. Họ phải rủ nhau vào trong rừng để sống, vì vậy có những cộng đồng
riêng của người cùi. Đôi khi họ phải sống trong những cái hang. Ngày nay ở
Việt Nam cũng có những trại cùi, trong đó người bệnh không có nhà để ở.
Làng Mai chúng ta có những chương trình để giúp cho cộng đồng người cùi
như vậy. Thầy Chân Phương ở Việt Nam đã từng thay thế chúng ta đi thăm và
làm nhà cho những người cùi ở. Những người bị bệnh cùi đau khổ rất nhiều
vì sự ngứa ngáy. Ngày xưa họ đào những cái hố, chặt cành cây quăng xuống,
đốt thành một hố lửa than, để những khi ngứa quá họ tới gần hơ tay, hơ
chân cho thật nóng và gãi cho đã ngứa. Đối với những người không bị bệnh
cùi, tới gần cái hố lửa than như vậy là một cực hình vì nóng bức chịu
không nổi. Tuy nhiên với người cùi thì tới gần cái hố than nóng bức là một
sự khoái lạc. Bụt nói cái khoái lạc của dục vọng cũng giống như thứ khoái
lạc của những người cùi đang đưa tay chân hơ trên lửa nóng. Với những
người khỏe mạnh, đó là một một khổ thọ, chỉ có những người bị bệnh mới cho
đó là hạnh phúc mà thôi. Vì vậy cho nên hạnh phúc tìm thấy trong dục
lạc là thứ hạnh phúc có bản chất của đau khổ. Người có tu học thấy
điều đó rất rõ, nhưng người không tu thì không thấy được sự thật đó.
Hình ảnh thứ năm của Bụt đưa ra là một con rắn đôc.
Khi ta bị rắn độc cắn cái nọc độc ấy đi vào trong cơ thể làm cho ta mê
man, đau đớn. Ái dục cũng tương tự như vậy. Khi ôm lấy cái ái dục trong
người, ta sẽ bị ái dục làm cho khổ đau cùng cực, giống như khi bị nọc rắn
độc chạy vào người.
Hình ảnh thứ bảy là của vay mượn. Của vay mượn không phải là của
ta, không bao giờ nó thuộc về ta cả. Cũng như vậy, đối tượng của ái dục
không phải là của ta, nó không thuộc về ta. Ai nghĩ rằng những đối tượng
của ái dục thuộc về mình là người đó đang nhận lầm của mà mình vay mượn
là của mình.
Hình ảnh cuối cùng mà Bụt dùng là cây sây trái. Cây sây trái dễ bị người
ta tới leo trèo, phá phách, làm cho tan nát. Cũng vậy, khi có trong tay
những yếu tố của tài, sắc, danh, thực, thụy ta sẽ bị người tới cướp. Họ sẽ
đánh, sẽ phá làm cho ta thất điên bát đảo, cho đến khi ta không còn gì
trong tay họ mới chịu.
Đó là những tai nạn của ái dục. Trong kinh, những hình ảnh này được lập đi
lập lại rất nhiều để nói về những quá hoạn của năm thứ dục lạc.
Cách đây chừng năm sáu năm, trong một khóa tu cho người Pháp tại Paris, có
một cô sinh viên Pháp nói: “Bạch Thầy, con biết rất rõ ngũ dục là quá
hoạn. Chúng con thường tổ chức những buổi khiêu vũ riêng cho người trẻ,
trong đó nhạc mở lớn, tiếng reo hò và cười đùa rất lớn. Chúng con tìm cách
chôn vùi những niềm đau, nỗi khổ của chúng con dưới âm thanh rộn rã, trong
những tiếng cười đùa suốt sáng thâu đêm. Nhưng chúng con biết rằng trong
chiều sâu của tâm thức, chúng con có rất nhiều đau khổ. Có những lúc đang
khiêu vũ, tự nhiên con đứng khựng lại và thấy ràng âm nhạc ấy, những bước
nhảy ấy, tiếng ca hát, tiếng cười đùa ấy chi là một lớp màn rất mỏng,
không đủ để che dấu những niềm đau nổi khổ đầy ắp trong chúng con.
Những niềm đau nỗi khổ đó đang tìm cách chọc thủng bức màn để chui ra”.
Vì vậy, trên phương diện tiêu cực, Bụt đã dạy rằng
“Trong cái vui phi thời của ái dục, vị ngọt rất ít mà chất cay đắng rất
nhiều, cái lợi rất bé mà tai họ rất lớn”. Trên phương diện tích cực,
Bụt cũng giải thích về hạnh phúc chân thật. Hạnh phúc ở đây không khải là
một sự hứa hẹn mơ hồ nơi tương lai. Người không học đạo đã buông lời phê
bình rất cạn cợt. Họ nói đạo Bụt không thực tế, đạo Bụt đi tìm cái hạnh
phúc ở đâu xa vời. Niết Bàn là một cái gì viễn vông, xa xôi và mơ hồ. Họ
nói giống cô thiên nữ đã nói với Thầy Samiddhi. Trong khi đó thì không có
một nền giáo lý thực tiễn cho bằng đạo Bụt, không có một vị giáo chủ nào
khuyên chúng ta nên mở hai mắt thật lớn để tiếp xúc với những gì đang ở
ngay trước mặt chúng ta, và phải thấy được rất rõ rằng ái dục là ái dục,
phải thấy được rất rõ rằng khúc xương trần chỉ là khúc xương trần, hố lửa
cháy hừng chỉ là một hố lửa cháy hừng, con rắn độc chỉ là con rắn độc.
Không có giáo thuyết nào, không có nền triết học nào thực tế cho bằng Đạo
Bụt, vì Bụt bảo chúng ta phải mở rộng hai con mắt để nhận thức sự vật như
tự tánh của thực tại để thấy rõ được bản chất chân thực của từng uẩn. Phải
thấy vô thường là vô thường, phải thấy vô ngã là vô ngã, phải thấy hiểm
nguy là hiểm nguy, thì tại sao lại có thể nói rằng Đạo Bụt đi tìm một thứ
hạnh phúc trong tương lai, mơ hồ, không thực tế?
Sau khi nói xong bài kệ, Bụt hỏi vị thiên giả “Con có
hiểu bài kệ ấy không? nếu không thì cứ nói”. Vị thiên giả thưa “con chưa
hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa hiểu bạch Đức Thiện Thệ”. Thiện Thệ tiếng
Phạn là Sugata, nghĩa là người đã khéo kéo bước qua, người đã khéo léo
bước tới. Bụt đọc cho vị thiên giả một bài kệ thứ hai để giúp cho vị
thiên giả có thể hiểu được bài kệ thứ nhất. “Biết bản chất của dục, sẽ
không sinh dục tâm, dục không dục tưởng không, không ai xúi được mình”.
Một khi đã thấy được bản chất của dục rồi thì dục tưởng sẽ không còn phát
sinh. Lúc đó dục cũng không mà dục tưởng cũng không. Nhờ vậy không một
người nào có thể xúi được mình đi trở về con đường của đoạn trường, con
đường của thần chết. Trong Tạp A Hàm, bài kệ này là:
Nhược tri sở ái giả,
Bất ư bỉ thử ái,
Bỉ thử vô sở hữu,
Tha nhân mạc năng thuyết”.
“Nhược tri sở ái giả”,
nghĩa là nếu ta biết được cái bản chất của sở ái, của ái dục, thì “Bất
ư bỉ thử ái” đối với với cái ái dục đó, mình sẽ không sinh ra ái tưởng
nữa. Như vậy, nếu ta biết được bản chất đối tượng của tham dục rồi thì
không vì cái dục tưởng kia mà sanh tâm tham ái nữa. “Bỉ thử vô sỡ hữu”.
Bỉ thử là cả hai cái (ái và ái tưởng), nghĩa là cả hai cái đều
không còn nữa. “Tha nhân mạc năng thuyết”, nghĩa là kẻ kia không thể nào
còn nói được gì nữa. Kẻ kia có nói gì đi nữa, chúng ta cũng không bị lung
lay. “Kẻ kia” ở đây có nghĩa là trong xã hội, chúng ta thường có một ý
niệm về hạnh phúc có tính cách cộng đồng. Ai cũng nghĩ rằng phải có cái đó
mới có hạnh phúc, vì vậy mà chúng ta chạy theo cái đó, không suy nghĩ.
Điều này cũng là một đối tượng quán chiếu rất quan trọng của thiền quán.
CÓ THỂ CÓ HẠNH PHÚC NGOÀI NĂM THỨ DỤC LẠC KHÔNG?
Hạnh phúc là gì? Quan niệm của người đời về hạnh phúc
là gì? Trong thiền quán, khi chiếu ánh sáng vào, ta nhìn cho rõ ràng bản
thân của ái dục, để thấy rằng những hình ảnh mà Bụt đưa ra là những hình
ảnh rất tuyệt diệu. Hình ảnh của một khúc xương trần, một miếng thịt sống,
một bó đuốc rơm cầm ngược gió, một hố than hồng, một con rắn độc v.v...
rất là dễ sợ. Nhìn chung quanh, ta thấy biết bao người đã bị rắn độc cắn,
biết bao người đã rơi vào hố than hồng, đang lăn theo đối tượng của dục
vọng để gặm, để nhấm, để ham muốn, để hi cầu. Những người ấy không bao giờ
thỏa mãn cả. Không cần phải nhìn xa, chỉ nhìn chung quanh là ta thấy được
những điều Bụt dạy. Đó gọi là quán chiếu. Trong khi đó, người có tự do là
người không ôm ấp một ý niệm về hạnh phúc, không ôm ấp dục tưởng, những
người ấy có vô số cơ hội để có hạnh phúc ngay trong hiện tại. Trời mưa
cũng có thể hạnh phúc, mà trời nắng cũng có thể hạnh phúc.
Ta học được gì từ bài kệ này của Bụt? Điều quan trọng
nhất là muốn có hạnh phúc chân thật, ta phải đặt vấn đề nghi ngờ cái ý
niệm của mình về hạnh phúc, tại vì mỗi chúng ta đều có ý niệm rằng nếu
được như thế này, được như thế kia thì ta sẽ có hạnh phúc. Có thể ví cái ý
niệm đó mà trong quá khứ mình đã đau khổ vô cùng. Gạt bỏ được ý niệm về
hạnh phúc, mình sẽ bắt đầu có cơ hội hạnh phúc. Trước khi gạt bỏ được ý
niệm đó, ta vẫn chưa có hạnh phúc. Tại sao?
Khi có một ý niệm về hạnh phúc rồi thì ta không thể an
trú trong hiện tại được, vì ta cứ nghĩ rằng chừng tôi đạt được cái đó,
chừng nào tôi thành tựu được cái kia, thì tôi mới có hạnh phúc. Khi có một
dục niệm như vậy làm sao mà có hạnh phúc ngay trong hiện tại được? Cho nên
điều kiện tiên quyết để có hạnh phúc là phải rời bỏ cái ý niệm về hạnh
phúc đi để có thể an trú trong hiện tại. Bụt dạy rằng chúng ta có thể tiếp
xúc với hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, hiện tại lạc trú là có
nghĩa như vậy.
Trước đây tôi đã nói về sự thầm mong trở về quê hương
của chúng ta. Hôm nay tôi nói thêm về quê hương đích thực.
Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe,
Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương.
Quê hương này là quê hương đích thực. Quê hương này
không phải là quê hương Pháp, quê hương Mỹ, quê hương Hòa Lan, quê hương
Úc, hay quê hương Việt Nam, mà là cái quê hương tâm linh của chúng ta, nơi
ta cảm thấy thoải mái và hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có cơ hội
trong bụng mẹ hơn chín tháng. Thời gian đó ta không lo lắng về quá khứ
hoặc tương lai, còn hiện tại thì đã có mẹ lo hết. Ta có cảm tưởng rất an
lành dầu ta còn rất bé. Khi ra đời rồi, cảm giác đó dần dần bị đánh mất,
vì vậy trong ta có khuynh hướng muốn trở vế cái cung điện của đứa con,
muốn trở về nằm trong bụng mẹ! Dầu ta có mỉm cười biết rằng trở về nằm
trong bụng mẹ để có sự an toan là chuyện không thể làm được, nhưng trong
tàng thức, cái ước muốn thâm trầm đó vẫn còn. Tại sao? Tại vì sự khác nhau
về cách vận hành giữa ý thức và tàng thức. Ý thức biết rằng không làm thế
nào để trở về trạng thái bào thai để có sự an toàn, đó là một chuyện
không tưởng! Ý thức biết rất rõ như vậy, nhưng A Lại Gia Thức vẫn còn
mang cái ước muốn đó. Quán chiếu xa thêm chút nữa, ta thấy rằng sự an toàn
đó chỉ là một ý niệm an toàn mà thôi. Thực tế thì nơi êm ấm an toàn mà ta
đã nằm là một phần thân thể của mẹ. Vì vậy sự an toàn hay bất ổn của ta
hoàn toàn tuỳ thuộc vào những ái, ố, hỷ, nộ của mẹ, tùy thuộc vào những
chất dinh dưỡng hay độc tố mẹ dùng. Nếu một thi sĩ có cảm tưởng mình đã
đánh mất thiên đường, mình đang đi lang thang, đang bị đày đọa, thì cái ý
niệm về thiên đường đó cũng đã tạo được tạo ra từ cảm giác an toàn mà ta
đã có trong thời gian còn trong bụng mẹ. Ra khỏi bụng mẹ tức là ra khỏi
thiên đường.
Xét cho kỹ, ta vẫn còn thiên đường tới một mức độ nào
đó. Nằm trong nôi, vẫn còn là nằm trong loại thiên đường. Ta nhớ rằng hồi
còn bốn, năm tuổi, khi cha mẹ ta bận với công này việc nọ, ta thường đi
thơ thẩn một mình ra vườn. Ta chơi với con ốc, con bướm, con sâu. Ta thơ
thẩn một mình, làm quen với những gì chung quanh ta. Có khi ta sang hàng
xóm chơi với bạn. Đến khi rảnh tay hay đi chợ về, mẹ gọi ta, cho một cái
bánh in, một khúc mía thì ta có hạnh phúc rất nhiều. Tất cả những cái đó
đều là những yếu tố của một thiên đường mà hiện giờ ta đã mất. Thiên đường
ở đây có thể gọi là quê hương. Quê hương đầu tiên là bụng mẹ. Quê hương
thứ hai là thời thơ ấu, là cây khế ngọt v.v...
Ngày xưa ta không cần phải có những điêu kiện lớn lao
mới có hạnh phúc, chỉ cần một cây khế để leo lên hái ăn là đã có đủ hạnh
phúc rồi. Cây khế đó bây giờ có còn hay không? Trong thiên đường của ta
chắc chắn lúc nào cũng có một cây khế. Ngày xưa tôi có nói với thầy bổn sư
“Nếu cõi tịnh độ mà không có cây khế thì con không chịu về tịnh độ đâu!”.
Nói thế tại vì cây khế là một yếu tố rất cần thiết trong thiên đường của
tôi. Cách đây hai hôm, lúc ở Sơn Cốc, tôi ngồi dưới một cây táo loại
Golden Apple, trái bắt đầu chín và ăn một trái táo vừa mới hái trên cành,
ăn rất thảnh thơi, ăn với tất cả sự có mặt của mình. Hồi còn nhỏ, tôi được
ăn chuối, ăn cam, ăn xoài, ăn đủ thứ trái cây ngon, nhưng trái táo thì rất
hiếm. Tôi thường nghĩ rằng sau này có cơ hội đi sang các nước tây phương,
thế nào mình cũng tìm cách leo lên một cây táo và ăn một trái táo ngay
trên cây thì mới đã! Cái ước mơ đó của tôi đã được thực hiện. Nhưng ngày
hôm kia, khi ngồi dưới cây táo và ăn trái táo đó một cách rất chánh niệm,
rất sâu sắc và rất hạnh phúc thì tôi biết rằng cái thiên đường kia nó nằm
ở đó chứ không nằm ở đâu cả. Cây khế ngày xưa có còn hay không, đó là tùy
theo nhận thức của mình. Cây khế ngày xưa còn đó, và nó có thể nằm dưới
hình thức một cây táo hay cây mận. Tại sao lại phải cái thời gian đó, cái
địa phương đó, cái cây tên đó thì nó mới thuộc về thiên đường của mình? Ta
đã thực sự đánh mất cái thiên đường của ta hay chưa? Tại sao các Sư Chú,
Sư Cô, Sư Anh, Sư Chị không phát giác ra được cái thiên đường của mình, mà
cứ đi tìm hoài?
Quê hương là đường đi học,
Con về đuổi bướm vàng bay
Những hình ảnh ấy đã mất hay chưa? Những con đường
thiền hành ở xóm Thượng, những con đường thiền hành ở xóm Hạ, những con
bướm, những hạt sỏi, những lối rẽ đi quanh có bóng mát trưa hè ... những
cái ấy có hay không?
Tại sao ta phải ước mơ, phải hoài vọng về một thiên
đường trong quá khứ? Tại sao chúng ta không có khả năng thấy được rằng con
đường đi học vẫn còn có mặt ngay trong giờ phút hiện tại? Nếu biết an trú
trong hiện tại, biết nắm lấy hơi thở, thì ta có thể trở về ngay với quê
hương của ta. Tại sao trong khi thầy trò đi thiền hành với nhau ta lại
không cảm thấy được cái hạnh phúc cực kỳ mà ta đã có trong khi đi học trên
những con đường quê hương? Ta phải có khả năng dừng lại trong giây phút
hiện tại để khám phá ra cái sự thật đơn giản là quê hương của ta vẫn còn
đó, quê hương đích thực của ta vẫn còn đó. Quê hương đích thực không phải
và không thể nào chỉ nằm trong quá khứ! Quê hương đích thực cũng không thể
chỉ nằm trong tương lai! Nếu đã là một quê hương đích thực thì nó phải có
ngay trong hiện tại, nó phải có ngay bây giờ và ở đây.
Cái gì cấm ta, không cho ta trở về quê hương, trở về
với thế giới của hạnh phúc, với thiên đường của ta? Cái gì bắt chúng ta
phải than phiền rằng “thiên đường của ta đã mất”? Cái gì bắt ta phải đi
tìm kiếm một thiên đường khác? Cái đó là dục tưởng, là ý niệm về hạnh
phúc. Quê hương đích thực đã mất đâu? Thầy Samiddhi hiên đang có mặt
bên cạnh chúng ta. Con sông mà thầy Samiddhi tắm, con đường mà thầy
Samiddhi đi thiền hành cũng vẫn đang có mặt. Bụt cũng đang có mặt ở bên
cạnh chúng ta. Sở dĩ ta chỉ than khóc, chỉ hoài niệm là tại ta đang kẹt
vào một ý niệm về hạnh phúc xa vời. Nếu có khả năng buông bỏ cái ý niệm đó
về hạnh phúc thì ta có thể trở về an trú trong hiện tại, và bắt đầu khám
phá ra được tất cả những yêu tố và điều kiện của hạnh phúc đang nằm ngay
bây giờ và ở đây. Ngày xưa sở dĩ ta chơi được với một hòn sỏi, với một con
bướm, với một giòng suối là vì ta không kẹt về tương lai, không tiếc nuối
quá khứ. Sở dĩ ngày xưa ngồi trên bãi cát, ta say mê chơi với cát, tạo ra
một lâu đài bằng cát, đem hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui
chơi, không kể đến hết tất cả tâm tư và thân thể của mình để vui chơi,
không kể đến mặt trời đã lặn, không kể đến giờ cơm chiều đã qua, là tại
sao? Tại vì lúc đó ta có khả năng an trú trong hiện tại và giờ đây ta đã
đánh mất cái khả năng đó. Lỗi tại ai nếu không phải là lỗi của ý niệm
về hạnh phúc mà ta đã đưa vào trong đầu của ta?
Vì vậy tưởng là những đối tượng quán chiếu quan trọng.
Ta phải chiếu ánh sáng vào dục tưởng, phá cho nó tan tành để ta có thể
thực hiện sự trở về với quê hương đích thực. Trở về được thì có hạnh phúc
ngay trong giờ phút hiện tại.
“Quê hương là chùm khế ngọt”, chùm khế còn đó nhưng bây
giờ nó có thể gọi là chùm mận; “Quê hương là đường đi học”, đường đi học
còn đó mà bây giờ nó có thể được gọi là đường thiền hành. Không phải chỉ
nằm ở tỉnh đó, trong xã đó nó mới là đường đi học. Nó có thể ở xóm Thượng
hay xóm Hạ. Quê hương là một cơn mưa và trong cơn mưa đó, ta xúm xít lại
ăn bắp rang với nhau. Những cái đó là những cái vẫn còn cho ta tiếp xúc.
Ta đã mất thiên đường hay chưa? Quê hương của ta đã mất hay chưa? Hạnh
phúc của ta có thể có được hay không? Có thể có hạnh phúc ngoài năm thứ
dục lạc hay không? Đó là những câu hỏi rất căn bản và cấp thiết. Và câu
trả lời là câu trả lời của Bụt: Hạnh phúc ấy đang có mặt, và hạnh phúc
ấy rất lớn.
Để tiếp nhận được hạnh phúc này ta cần thực tập, và
trong khi thực tập ta có anh, có chị, có em, có bạn cùng thực tập với ta.
Nếu mọi người đều cùng thực tập, thì sẽ trở thành rất dễ dàng và ta dễ có
hạnh phúc.
3.3
Pháp Thoại Ngày 11 tháng 9 năm 94
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày 11 tháng 9 năm 1994,
chúng ta đang ở xóm Hạ, trong khóa tu mùa Thu, và học tiếp Kinh Samiddhi.
THẦN CHÚ ĐỂ DIỆT TRỪ TRI GIÁC SAI LẦM
Tuần tồi chúng ta đã đọc tới bài kệ thứ hai:
Biết bản chất của dục,
Sẽ không sinh dục tâm,
Dục không, dục tưởng không,
Không ai xúi được mình,
Nguyên văn trong Biệt Dịch Tạp A Hàm là:
Nhược thức ư danh sắc
Bản không vô hữu tính
Thị danh tôn kính Phật
Vĩnh ly ư chư thú.
Tôi dịch là:
Thấy chân tướng ái dục
Tâm ái dục không sinh
Tâm ái dục không sinh
Ai cám dỗ được mình.
Nếu mình biết được bản chất của điều mình gọi là hạnh
phúc, thì mình sẽ không bị níu kéo bởi ý niệm sai lầm về hạnh phúc. Khi đã
biết được tính cách sai lầm, cái không tưởng của ý niệm ấy thì mình sẽ
không bị kẹt vào trong ý niệm ấy nữa, nhờ vậy mà không một người nào, một
vị thiên gia nào có thể xúi biểu hoặc lay chuyển được mình, tại mình đang
an trú trong thực tại của vạn pháp.
Nguyên văn chữ Hán trong Biệt Dịch Tạp A Hàm, Nhược
thức ư danh sắc, nghĩa là nếu chúng ta biết rõ cái bản chất, có được
một nhận thức thật chính xác về danh (tức là những hiện tượng về tinh
thần), và sắc (những hiện tượng thuộc về vật chất).
Bản không vô hữu tính,
nghĩa là bản tính của chúng ta là vô hữu. Chữ “không" ở đây có nghĩa là
không phải như vậy, không phải như mình tưởng. Chữ không này đã có từ
lâu. Trong Áo Nghĩa Thư (Upanisad) nó có nghĩa là không phải như vậy,
không phải như vậy, (Neti, neti). Ví dụ mình có một ý niệm về hạnh phúc và
mình cho ý niệm đó là chính xác, là đích thực. Người có trí tuệ nhìn vào
thì thấy điều đó không phải là hạnh phúc chân thật nên bảo rằng đó không
phải là hạnh phúc đâu, không phải đâu. Chữ Sunyata còn có nghĩa là “không"
của Bát Nhã. Tuy nhiều nghĩa, nhưng một trong những nghĩa căn bản là neti,
neti, “không phải như vậy, không phải như vậy".
Thông thường ta có những nhận thức và những tri giác
(perception) mà ta cứ tin chắc là thật. Ví dụ khi đi trong chạng vạng tối,
thấy con rắn, ta la hoảng lên. Người có trí tuệ nói: “Không phải đâu, cái
đó không phải là con rắn đâu, cái đó chỉ là một sợi dây thừng vắt ngang
đường thôi”. Nhận thức này gọi là nhận thức sai lầm, danh từ chuyên môn là
vọng tưởng.
Trong đời sống hàng ngày, phần lớn nhận thức của ta đêu
sai lầm. Tất cả những khổ đau mà ta chịu đựng đều phát xuất từ nhận thức
sai lầm của ta. Cho nên phương pháp tu là mỗi khi thấy, nghe và nhận thức
điều gì, ta đừng vội quả quyết đó là sự thật. Trong ta có rất nhiều chất
liệu mê mờ, cho nên phải cẩn thận lắm mới được. Tôi thường cho các thiền
sinh một câu thần chú để bảo vệ thân tâm: mỗi khi có một nhận thức làm cho
trong người thấy bực bội thì phải đọc câu thần chú:
Are you sure? (Mình có chắc là như vậy hay không?)
Are you sure? Là một câu
nói rất thường đời sống hàng ngày, nhưng nếu động tới, ta có thể biến nó
thành một câu thần chú rất thâm diệu. Pháp Phật tức là Pháp thế gian
là như vậy. Biết cách thì tất cả các pháp thế gian có thể biến thành Phật
Pháp. Chuyện Chàng Trương là một ví dụ. Chàng Trương là một người đi quân
đội. Khi ra đi thì con chưa sinh, khi được giải ngũ về thì con đã biết nói
bập bẹ. Tropng khi cô vợ đi chợ để mua thức ăn về nấu mâm cơm cúng tạ,
chàng Trương chơi với con và nói: “Con, con gọi ba là ba đi con”. Đứa bé
không chịu, nó nói “Ông không phải là Ba của tôi, ba tôi ban đêm mới về.
Mẹ nói chuyện với ba nhiều lắm và mẹ thường khóc với ba. Mỗi khi mẹ ngồi
thì ba ngồi xuống, mỗi khi mẹ nằm thì ba cũng nằm theo”.
Đứa bé nói sự thật, Mỗi lúc đêm về, người thiếu phụ
thường nhớ chồng. Thắp đèn lên, nhìn bóng mình trên tường, nàng dạy con
“Ba con đây, Ba con đêm nào cũng về thăm con đó”. Cố nhiên là bóng làm
theo hình. Mình ngồi xuống thì bóng ngồi xuống, mình đứng dậy thì bóng
đứng dậy, mình nằm thì bóng nằm xuống theo. Đứa bé chỉ nói sự thật, nhưng
chàng Trương có tri giác sai lầm, nhận lầm sợi dây là con rắn, cho nên
niềm đau khổ trào dâng và không thấy được sự thật nữa. Bao nhiêu hạnh phúc
khi về được gặp lại vợ con đột nhiên tan biến hết. Bây giờ chỉ còn thuần
đau khổ! Tất cả đều vì một tri giác sai lầm, Nếu lúc đó chàng gặp một vị
thánh nhân hoặc một vị thầy nói “Neti, neti” thì chàng Trương mới có cơ
hội thoát khỏi cái thế giới khổ đau của mình. Nhưng vì không có ai giúp đỡ
khai thị nên từ lúc đó chàng ta không nói năng gì nữa hết. Niềm đau và nỗi
khổ lớn lao quá, chàng không còn muốn nói nữa.
Từ lúc người vợ đi chợ về, chàng lạnh lùng, tự nhiên
biến thành một tảng băng. Người vợ đi nấu cỗ cúng, chàng không nói với vợ
một lời nào. Đến khi dọn cơm lên cúng, dâng hương, khấn vái và lạy xong,
chàng lui ra, cuốn chiếu lại không cho vợ lạy. Anh tin chắc vợ mình là một
người đàn bà ngoại tình, không xứng đáng được lạy trước ông bà. Vợ chàng
Trương không hiểu tại sao từ khi đi chợ về tình trạng đã biến đổi một cách
đột ngột như vậy, nàng thầm lặng đau khổ.
Chàng Trương lạnh lùng với vợ như vậy trong ba ngày ba
đêm, người vợ chịu không nổi nên đâm đầu xuống sông tự tử. Lúc đó nếu có
ai hỏi tại sao anh quá tin tri giác của anh, thì chàng Trương sẽ trả lời:
“Trẻ con nói làm sao mà nghi ngờ được?” Trẻ con thường nói sự thật, tuy
vậy mình đã nghe và hiểu một cách khác, từ sợi giây mà mình có một con
rắn. Nếu chàng Trương biết sử dụng cái câu thần chú “are you sure?” thì
chàng đã có cơ hội thoát khỏi cái địa ngục kia rồi. Nếu mình không chắc
thì mình phải hỏi lại vợ: “Em, tại sao con nó nói rằng tối nào cũng một
người đàn ông tới và em thường nói chuyện với ông ta, em còn bảo con gọi
người đàn ông đó là ba, và tại sao khi em đứng dậy thì người đó cũng đứng
dậy, khi em nằm xuống, người đàn ông đó cũng nằm xuống?” Nếu chàng Trương
hỏi được câu đó thì sự thực sẽ bung ra và bao nhiêu nỗi đau khổ của chàng
sẽ tan biến, nhưng chàng đã không hỏi được câu đó, tại chàng đã quá tin ở
tri giác của mình.
Trong đời sống hàng ngày, sở dĩ chúng ta làm khổ nhau,
để rồi tự làm khổ mình là tại chúng ta không biết sử dụng câu thần chú
“Are you sure” Mình có chắc đó là sự thật không? Là người con Bụt, tin ở
giáo pháp của Bụt và thực hành theo giáo pháp đó thì mỗi khi nghe một điều
gì, thấy một cái gì, học nghĩ đến một việc gì, ta phải lập tức kiểm soát
lại, soi chiếu lại, tại vì có thể cái mà ta nhận thức là một tri giác sai
lầm. Nếu không, ta sẽ làm nô lệ, sẽ là nạn nhân của ý niệm đó.
Ở đây Bụt muốn nói tới cái ý niệm về hạnh phúc, về cái
dục mà chúng ta gọi là hạnh phúc. Nếu thấy được cái bản chất của danh, sắc
(tức là của sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và thấy được chúng không
phải như ta tưởng, chúng không phải như vậy (Không ở đây có nghĩa
là vô hữu), thì:
Thị danh tôn kính Phật,
nghĩa là chúng ta biết đi trên con đường của Bụt đi, biết tôn kính Bụt,
không đi theo con đường ma, và:
Vĩnh ly ư chư thú, nghĩa
là sẽ vĩnh viễn xa lìa được những nẻo đường tăm tối (thú ở đây có nghĩa là
những nẻo đường tăm tối). Ngũ thú dục lục đạo là sáu nẻo tăm tối (Thiên,
Nhân, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sanh). Chữ thú ở đây còn có nghĩa
là nẻo về, những nẻo về tăm tối mà ta sẽ xa lìa vĩnh viễn nếu ta có thực
tập quán chiếu về danh sắc và thấy được bản chất của những tri giác của
ta. Hạnh phúc cũng vậy. Bóng dáng của hạnh phúc đã làm bao nhiêu người lạc
đường, rơi xuống địa ngục, rơi xuống chỗ tận cùng của khổ đau. Bóng dáng
của hạnh phúc không phải là hạnh phúc chân thật, ta phải luôn luôn tâm
niệm điều đó.
CÁI TƯỞNG TẠO NÊN BÓNG DÁNG CỦA HẠNH PHÚC
Kinh Samiddhi
là Kinh dạy về niềm hạnh phúc chân thật mà ta có thể kiểm soát được, có
thể thừa hưởng được. Người Việt có câu ca dao:
Tóc mai sợi ngắn sợi dài,
Lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm.
Nếu lấy nhau được thì ta sẽ không thương nhau đến ngàn
năm, đôi khi chỉ thương được có một năm thôi. Chính vì không lấy nhau được
nên ta mới thương một ngàn năm! Thương như vậy là thương cái ý niệm về
người kia, thương cái hình bóng đẹp mà ta đã tạo ra từ người kia. Còn nếu
lấy người kia thì ta bắt buộc phải sống với cái thực tại của người kia. Mà
sống với thực tại thì cố nhiên là ý niệm mơ hồ và đẹp tuyệt vời về người
kia sẽ dần dần tan biến. Câu ca dao đó là một câu ca dao chỉ nói về chuyện
tình mà thôi. Cố nhiên khi một người thương một người khác thì bóng dáng
của người con trai hay của người con gái kia là bóng dáng tuyệt vời mà ta
mơ mộng. Một sợi tóc mai đủ để cột ý chí của một đấng anh hùng. Ngưòi Việt
hay dùng tiếng kép tóc tơ. Tơ là những sợi rất mỏng, nhưng cột thì
rất chắc.
Có một ông gọi là ông Tơ. Ông này chuyên đi cột người
ta và làm người ta khổ suốt đời. Khi cạo đầu đi tu, trên hình thức ta
không còn tóc để trói, nhưng sự thực, trên nội dung ta phải không
có tơ nữa mới được. Tất cả những sợi tơ lòng kia phải cắt hết thì
ta mới có tự do, mới có hạnh phúc, vì hạnh phúc không có thể có được nếu
không có tự do.
Chúng ta thấy trong Áo Nghĩa Thư, chữ Neti thường được
lặp lại hai lần: Neti, Neti, nghĩa là không phải, không phải, tại vì nói
một lần chưa chắc người ta đã thấm.
Hình ảnh tuyệt vời của người yêu “tóc mai sợi vắn sợi
dài” là một cái tưởng, mọi tri giác. Mình yêu là yêu cái bóng dáng đó, cái
ý niệm đó, cái tri giác đó chứ không phải là yêu cái thực tại của con
người kia. Giữa ý niệm về người yêu và cái thực tại của người yêu, có thể
có sự xa cách một trời một vực, Vì vậy nếu muốn giữa lại cái hình ảnh đẹp
tuyệt vời đó, tốt hơn là đừng cưới. Nếu cưới thì có thể trong vòng nửa năm
hay một năm hình ảnh đó sẽ tan vỡ và mình sẽ phải va chạm với thực tế.
Những người không biết tu có thể làm tan vỡ hạnh phúc của họ rất mau
chóng, dầu buổi ban đầu rất đẹp. Đẹp vì hình ảnh lý tưởng của người yêu
tan vỡ. Nếu không tu, đến khi hình ảnh lý tưởng đó tan vỡ rồi, chỉ còn lại
đau khổ mà thôi. Không tu thì không biết cách xây dựng cho mình và cho
người ấy.
Tạp chí Pháp có đăng một chuyện hài hước như sau: “Sau
đám cưới của một cặp vợ chồng trẻ, sáu tháng đầu chàng nói và nàng nghe.
Sáu tháng sau nàng nói và chàng nghe. Sáu năm sau thì chàng và nàng cùng
nói, và lần này thì hàng xóm nghe!” Nói mà nói lớn đến độ hàng xóm nghe
tức là hai người đang cãi lộn và làm khổ nhau. Lúc đó thì chân tướng của
cả chàng lẫn nàng đều hiện ra, và cái hình ảnh đẹp tuyệt vời của “tóc mài
sợi ngắn sợi dài” đã tan biến. Đó là trường hợp của những người không biết
tu.
Với người biết tu, khi cái hình ảnh lý tưởng tan vỡ, ta
biết cách để làm cho nó chuyển hóa, vì nếu hình ảnh tuyệt đẹp của người
kia tan biến nơi ta thì hình ảnh tuyệt đẹp của ta cũng tan biến nơi tâm
của người kia. Vậy cho nên năm đầu của hôn nhân là năm học tập cải tạo.
Chúng ta biết được sự thật, chung sống 24 giờ đồng hồ và bắt đầu thấy được
sự thật, thực tại không còn những cái tưởng nữa.
Chàng Trương sở dĩ đau khổ cùng cực như vậy là vì chàng
quá tin ở tri giác của mình. Nhưng cũng vì trong con người chàng còn có
những yếu đuối khác, như tự hào và tự ái. Người kia là vợ mình, người kia
là người thân yêu nhất trong đời mình, vậy mà mình đã để cho tự ái chen
vào giữa mình và người kia để gây thành ngăn cách. Tại sao chàng Trương
không hỏi ngay người vợ về điều đang làm cho mình đau khổ? Trong tình
thương chân thật không có chỗ đứng cho sự tự ái. Nếu tự ái có mặt thì tình
chưa phải là chân tình, chưa phải là “true love”. Điều này không những
đúng trong trường hợp vợ chồng, mà còn đúng trong trường hợp bạn bè. Nếu
bạn bè thương nhau chân thật thì đừng để cho lòng tự ái chia rẽ. Có những
đau khổ nào, mình nói cho người kia biết, đừng vì tự ái mà nín thinh.
Chàng Trưong vì tự ái nên trở thành một tảng băng sơn, không có khả năng
tới với vợ để chia xẻ cái đau khổ của mình. Phải nói cho người mình thương
những khổ đau của mình, và người ấy cũng cần nói những đau khổ của người
đó cho mình nghe. Tình thương là ở chỗ mình phải có mặt trong khi người
kia đau khổ. Cái đó mới gọi là Bi (Karuna). Khi người kia đau khổ mà mình
có mặt một bên, mình nói: “Anh ơi, em biết anh dang đau khổ nên em đang có
mặt với anh đây”, “I know you are suffering, therefore I am here for you”.
Đôi khi không cần nói lên mà câu đó vẫn có thể được nghe, được thấy, được
chấp nhận khi mình thực sự có mặt. Cách mình ngồi, cách mình nhìn cũng đủ
chứng tỏ cho người kia biết rằng mình đang có mặt với họ, đang có mặt cho
họ vì họ đang đau khổ, nhờ vậy tự nhiên họ bớt khổ. Đó là tình thương
đích thực.
Có nhiều khi đau khổ của ta là do người ta thương tạo
ra, hoặc ta nghĩ do người ta thương tạo ra! Khi mình nghĩ rằng chính người
mình thương đã làm cho mình có thương tích trong lòng, mình lại có khuynh
hướng lạnh lùng, không nhìn người đó, không nói với người đó và lánh trốn
người đó. Đó là sự dại dột lớn. Theo nguyên tắc thương yêu mà chúng ta học
được trong đạo Bụt, khi nghĩ rằng nỗi khổ của ta là do chính người mà ta
thương gây ra, ta phải tới với người đó và nói rằng “Chị ơi em khổ quá,
chị giúp em với, em cần chị”. Dầu người kia đã tạo ra cái khổ cho mình,
khi mình nói câu đó, người kia sẽ không thể nào mà không có mặt cho được.
Khi có mặt, người đó sẽ hỏi “Em có thể nói cho chị nghe được không?”. Lúc
đó mình có thể nói “Hôm qua cách nói của chị làm em khổ lắm. Em không biết
làm sao cho nên phải tới hỏi lại”.
Khi mình làm được như vậy thì niềm đau nỗi khổ của mình
không còn kéo dài và hạnh phúc có thể trở về một cách rất mau chóng. Chúng
ta đừng bắt chước chàng Trương, cũng đừng bắt chước thiếu phụ Nam Xương.
Đáng lý nàng nên tới với chàng và hỏi:”Anh ơi, tại sao ba ngày ba đêm nay
anh thèm nhìn mặt em? Tại sao anh không nói với em lời nào hết? Em đã làm
những gì để anh đối xử với em như vậy?” Nếu nàng hỏi được một câu như vậy
thì chàng sẽ nói: “Tại sao? tại vì ..., tại vì ...”. Khi đó vợ chàng
Trường sẽ có cơ hội minh oan và nhờ đó mà hai người sẽ tìm lại được hạnh
phúc sau bao năm xa cách.
Những bi kịch xảy ra hàng ngày, lớn hay không lớn bằng
bi kịch của chàng Trương, đều do chúng ta quá tin chắc ở tri giác của
mình. Nó làm khổ bản thân ta và làm khổ người ta thương. Người ta thương
có thể là thầy ta, có thể là học trò ta, có thể là sư anh, sư chị, sư em
ta, hoặc người bạn tu của ta. Ta đừng để cho bi kịch ấy xảy ra trong đời
sống hàng ngày. Thầy đã trao truyền truyền cho ta những tám kính để chiếu
soi. Đó là “Are You Sure?”. Đó là “Anh có chắc như vậy không?”. Đó là
“Neti, Neti”. Nếu biết rằng “Sunyata”, “Neti, Neti”, “Are you sure”, là
những tấm kính chiếu soi có thể giúp ta thoát khổ đau, vưọt thoát tri giác
sai lầm, thì ngày đêm ta phải mang những tấm kinh đó theo, phải sử dụng
chúng để soi chiếu, để nhận ra cái tính chất sai lầm của nhận thức. Được
như vậy ta sẽ có an ninh, ta sẽ không tạo ra những bi kịch trong và quanh
ta. Nếu có đọc cuốn Cửa tùng đôi cánh ngài, quí vị chắc còn nhớ câu
chuyện của một chàng tráng sĩ. Trước khi người tráng sĩ xuống núi, thầy đã
trao cho một cái kính. Nhưng người tráng sĩ chỉ dùng kính trong mấy tháng
đầu, sau đó thì không dùng nữa. Vì vậy sáu năm sau, người tráng sĩ trở
thành một ác ma mà cứ tưởng mình là người tráng sĩ cần thiết cho cuộc đời.
Cho đến khi về tới núi, người sư đệ hỏi “Cái kính thầy cho anh đâu?, tráng
sĩ đưa kính ra soi, mới nhận ra rằng mình không còn là người tráng sĩ của
cuộc đời nữa mà là một con ác quỷ. Do đó cho nên kính của Bụt trao, mình
phải lau chùi hàng ngày để soi sáng tất cả mọi tâm ý của mình, mỗi nhận
thức, mỗi cảm giác của mình. Nếu biết soi chiếu, mình sẽ mỉm cười với nhận
thức mình, nhờ đó mình sẽ có tự do và giải thoát.
Khi một người bạn tới than thở với mình là người ấy
đang đau khổ, đang buồn phiền vì người này nói câu này, vì người kia nói
điều nọ, mình phải ngồi yên và lắng nghe với tất cả chánh niệm của mình.
Nếu lỡ bạn mình quên câu thần chú thì mình phải nhắc “Chị có chắc như vậy
không? Chị có chắc là người đó đã nói như vậy hay làm như vậy không? Có
thể nhận thức của mình sai lầm, mình đến để hỏi lại”. Tuyệt đối đừng thêm
dầu vào lửa. Bổn phận của mình là phải lắng nghe. Sau khi lắng nghe, phải
tìm cách giúp người kia nhớ lại những câu thần chú. Nếu chị khổ như vậy
tại sao chị không tới với người kia để hỏi lại? Nếu chị không muốn đi một
mình, em sẽ đi với chị. Đây là những điều thực dụng mà mình phải áp dụng
trong đời sống hàng ngày, vì đó là hạnh phúc của bản thân mà cũng là hạnh
phúc của người mình thương và hạnh phúc của cả đại chúng.
Nói tóm lại, ta có thể hiểu của bài kệ này như sau:
“Nếu có được nhận thức chính xác đối với danh, với sắc, và thấy được tính
cách sai lạc, tính cách không có thật của chúng, thì ta được gọi là những
người biết đi theo con đường của Bụt dạy, vĩnh viễn xa lìa được những nẻo
về tối tăm”.
QUÁN CHIẾU VỀ VÔ NGÃ SẼ DIỆT ĐƯỢC BA MẶC CẢM
Sau khi Bụt đọc bài kệ đó cho vị thiên giả nghe (và
cũng để cho thầy Samiddhi cùng nhiều thầy khác và các vị thiên giả có mặt
trong hội chúng cùng nghe) thì Bụt hỏi: “Con có hiểu bài kệ ấy hay
không? nếu không hiểu thì cứ nói”. Nếu không hiểu thì cứ nói, đừng sợ
bị chê rằng mình chậm hiểu, mình không có trí tuệ. Vị thiên nữ thật tình
bạch Bụt: “Con chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa hiểu, bạch Đức Thiện
Thệ”. Bụt lại đọc cho vị Thiên giả một bài kệ khác:
Mặc cảm thua, hơn, bằng,
Tạo thành mọi tranh luận,
Ba mặc cảm dứt rồi,
Tâm không còn khuynh động.
Một bản dịch khác:
Mặc cảm hơn, kém, bằng,
Tạo ra nhiều rối rắm,
Ba mạn đã vượt rồi,
Tâm không còn khuynh động.
Ngôn luận là chữ dùng
trong Kinh Tạp A Hàm, nhưng Biệt Dịch Tạp A Hàm lại dùng chữ tranh luận.
Tranh luận có nghĩa là so sánh hơn thua. Vì vậy chữ tranh luận hay hơn.
Bản chữ Hán của bài kệ là:
Kiến đẳng, thắng, liệt giả,
Tắc hữu ngôn luận sinh,
Tam sự bất khuynh động,
Tắc vô nhuyễn trung thượng.
Đẳng tức là bằng nhau,
thắng là hơn, và liệt là thua. Cả ba cái đều là mặc cảm cả. Cả
ba đều là những “complexes” mà người tu phải vượt qua. Người ta không được
nói mình hơn người, mình thua người, hoặc mình bằng người. Chẳng những
không được nói, mà còn không được nghĩ và không được hành xử theo. Người
tu phải quán chiếu vô ngã, nghĩa là phải thấy mình là người đó, và người
đó là mình, mình có mặt trong người đó, người đó có mặt trong mình. Chúng
ta là một. Thành ra dưới ý niệm về tâm mạn, có ý niệm về ngã. Nếu quán
chiếu về ngã thành công thì ba cái mạn tức là ba cái mặc cảm đó sẽ tan
tành. Giáo lý này sâu sắc lắm, chúng ta không thể đọc qua mà hiểu ngay
được. Nó có liên hệ mật thiết với đời sống hàng ngày của chúng ta nên rất
hữu dụng. Luận Đại Tỳ Ba Sa có nói tới bảy thứ mạn, chúng ta sẽ học sau.
Mạn là Màna. Cả ba mặc cảm hơn, thua, bằng đều sai lầm
vì chúng được tạo nên bằng một kiến chấp sai lầm. Cái thấy sai lầm ấy gọi
là ngã chấp. Chữ ngã mạn mà chúng ta thường dùng không có nghĩa
là mình hơn người khác. Theo đúng nghĩa của nó thì ngã mạn là bị kẹt vào
cái ý niệm về ngã. Vì bị kẹt vào cái ý niệm về ngã cho nên ta mới thấy
mình hơn, bằng hoặc thua người kia. Cả ba đều xấu hết, vì mặc cảm tự ti
cũng có hại như mặc cảm tự tôn. Cái mặc cảm bằng người cũng có hại, vì
trong ý niệm bằng người vẫn còn có sự so sánh, vẫn còn có sự tự hào. Ví dụ
mình nói rằng “Anh nói tiếng Anh được thì tôi cũng nói tiếng Anh được", đó
là mạn. Như vậy cái “bằng” cũng được làm bằng chất mạn. Nếu không có mặc
cảm hơn thua, bằng thì mình là người giải thoát. Vấn đề không phải là có
bằng cấp hay không, biết tiếng Anh hay không, có học xong trường Cao Cấp
Phật Học hay không. Vấn đề là mình có ngã chấp hay không? Hạnh phúc là ở
chỗ đó. Tất cả giáo lý nguy nga của Đạo Bụt đều được xây dựng trên một
giáo lý cơ bản gọi là Vô Ngã, tức là thực tại không có một cái ta riêng
biệt. Chúng ta cùng chia xẻ sự sống. Sự sống đó không thể được cắt xén
thành ra những vùng riêng biệt. Vì vậy mỗi khi người kia nói một câu làm
cho mình buồn, làm một điều khiến mình bực, đó là một cơ hội để ta thực
tập vô ngã. Chính nhờ những dịp như vậy ta mới có thể tiến bộ trên con
đường tu tập. Nếu chung quanh chúng ta đều là những vị Bồ Tát thì chúng ta
sẽ không thể nào tu được. Cứ tưởng tượng quanh quí vị toàn là Bụt và Bồ
Tát, người nào cũng toàn mỹ, chắc quí vị sống không nổi! Vì vậy đừng đi
tìm một tăng thân toàn là thánh Tăng! Phải có người có yếu kém về mặt này,
mặt kia, mình mới có dịp so sánh và học hỏi được. Vì vậy tăng thân của
chúng ta không cần phải là một tăng thân tuyệt hảo, những yếu kém của tăng
thân là những chất lượng rất cần thiết cho việc tu tập của ta. Trong ta có
những yếu kém, và trong các phần tử khác của tăng thân cũng có những yếu
kém. Nhưng ta cũng như tất cả những phần tử khác đều có cái nguyện là
sẽ đi trên con đường chuyển hóa, vì vậy mà chúng ta có cái chất thánh của
một trong ba viên ngọc quý: tăng bảo. Một tăng thân trong đó còn có
phiền não, lỗi lầm, khuyết điểm thì vẫn là một viên ngọc quý như thường.
Ta chấp nhận những yếu kém của bản thân và chấp nhận những yếu kém của
những phần tử khác trong tăng thân, đó là chuyện phải làm. Cùng nhau tu
học là cùng đi trên một con đường và giúp đỡ lẫn nhau chuyển hóa những yếu
kém. Vì vậy khi người kia nói một câu hay làm một việc gì có tính cách
phát xuất từ sự vô ý, sự vụng về hay là sự giận hờn, ta phải biết đó là
một cơ hội bằng vàng để ta thực tập. Còn nếu người kia không bao giờ
nói một câu không dễ thương, không bao giờ làm một điều gì không dễ
thương, thì chúng ta đâu có cơ hội để tu? Quanh ta, nếu tất cả đều là toàn
mỹ thì ta tu sao được?
NƯƠNG TỰA HẢI ĐẢO TỰ THÂN
Một hôm có một sư cô trẻ lên than thơ với thầy: “Bạch
thầy, tại sao ngồi nói chuyện với sư chị mà con cảm thấy không có an ninh?
Trước đây con không thấy như vậy, con đã thấy sư chị rất dễ thương, có thể
tin cậy được, có thể hướng dẫn cho con được. Nhưng có một lúc, tự nhiên
con thấy sư chị không còn là sư chị nữa, và ngồi nói chuyện với sư chị,
con cảm thấy không còn an ninh nữa!” Đến than thở với Thầy như vậy là đúng
vì có tuệ giác, Thầy có thể soi sáng cho mình. Thật ra hồi còn nhỏ sư cô
ấy đã sống trong một khung cảnh phập phồng, sợ hãi, không có an ninh.
Ngưòi lớn thường thay đổi bất ngờ, và đôi khi giông bão tới một cách rất
đột ngột, không biết làm thế nào mà đoán trước được. Có những trẻ em khác
sống trong những hoàn cảnh tệ hại hơn nhiều, bị người lớn lạm dụng, bị
người lớn áp bức hơn nhiều. Vì vậy cho nên khi nhìn chung quanh, chúng có
cảm tưởng không có an ninh, thấy người nào cũng có cảm giác người đó sắp
lợi dụng mình, sắp vi phạm quyền làm người của mình, sống như một con chim
đã từng bị trúng tên, luôn luôn sợ hãi, thấy cái gì cũng là mối đe dọa cho
chính mình.
Khi không có an ninh, mình hay tìm cách tự vệ trước.
Mình dựng lên một bức thành để che đỡ cho mình bốn phía. Khi dựng lên bức
thành như vậy, mình tạo ra sự ngăn cách giữa mình và người khác, đồng thời
làm cho người khác khổ đau. Mình nói một câu không phải để làm khổ người
kia, mà nói để tự vệ, và trong khi nói mình tạo ra những bức tường để bao
quanh mình thì tự mình biệt lập, và tạo những khổ đau cho những người
chung quanh. Sư cô trẻ này không đến nỗi như vậy. Cái khổ đau của sư cô
nhỏ bé hơn nhiều.
Hỏi thăm, Thầy tìm ra đầu đuôi câu chuyện: Sư chị cũng
như mình, cũng như bất cứ người nào, đã có những giai đoạn khó khăn trong
đời sống. Khi gặp một trường hợp khó khăn, khi bị người này trách móc,
người kia la rầy, sư chị cũng có phản ứng muốn tự vệ, và sư chị cũng đã
dựng lên một bức thành để bao bọc lấy sư chị. Đó là khuynh hướng của tất
cả chúng ta, khi có cảm sắp bị tấn công, chúng ta đứng về phía tự vệ, nói
theo tiếng Pháp là “à la défense!”. Người kia chưa nói, chưa làm gì hết,
mình đã tự vệ rồi. Ví dụ thầy mời lên ăn sáng để mình có dịp ngồi chơi với
thầy thôi, nhưng mà mình sợ: “Chết rồi, chết rồi, lên đó chắc thế nào cũng
bị cạo gió, không biết đường nào xoay sở!”. Đôi khi thầy nhớ mình, muốn
mình lên ăn sáng với thầy cho vui thôi, nhưng mình lại sợ, vì mình không
có cảm giác an ninh. Bạn mình cũng vậy, mới nghe “Chiều này chị muốn gặp
em để bàn chuyện này một chút”, mình đã sợ run, nghĩ rằng chắc là có
chuyện gì đây. Cái khuynh hướng muốn tự vệ phát sinh làm mình khổ, và cũng
làm người kia khổ, nhưng biết làm sao? Trong quá khứ mình đã từng đau khổ,
nên bây giờ mình có khuynh hướng xây lên những bức thành tự vệ. Tuy biết
rất rõ hành động như vậy là tự làm khổ mình và làm khổ những người chung
quanh, nhưng cái đó đã trở thành một tập khí, một thói quen khó chừa. Vì
vậy tu tập là phải nhận diện cho được rằng mình có cái tập khí đó, có cái
thói quen đó, để khi nào cảm thấy không được an ninh, khi nào mình bắt đầu
làm công việc tự vệ, thì mình phải thở và phải biết mỉm cười để thấy rằng
mình đang “xây thành lũy” nữa đây!
Thầy đã nói với sư cô trẻ ấy: “Chị của con chắc chắn là
đang khổ, có thể chị của con trong những ngày vừa qua đã bị người này lên
án, người kia trách móc. Chị khổ, cho nên ngồi nói chuyện với con mà chị
đang đứng vào thế tự vệ, Tại vì có thể chị con sợ con trách chị, lên án
chị, cho nên chị đưa cái giáp sắt ra trước. Con thử nhìn lại coi có phải
như vậy không? Mấy tháng trước đây đâu có chuyện đó, nhưng trong những
ngày vừa qua, có phải là chị của con bị người này nói, bị người kia nói,
chị con đau khổ và chị con đứng về phương diện tự vệ, con có thấy điều đó
không?. Sư cô trẻ đó nói: “Bạch Thầy có, con có thấy như vậy". “Thấy như
vậy con có thương chị được không?”, “Bạch Thầy, con thương được". Thấy
được thì thương được, hiểu được thì thưong được. Thành ra ngồi với chị thì
con phải nói rằng: “Chị ơi, em sẽ không trách móc gì chị đâu, chị cứ ngồi
thoải mái đi, em chỉ muốn ngồi nói chuyện chơi với chị mà thôi”. Con nói
một câu đó thì tự nhiên bao nhiêu áo giáp của chị sẽ sụp xuống hết, và như
vậy mình giúp chị mình, và mình giúp chính mình. Thầy còn nhắc cho sư cô
trẻ đó phương pháp Quay về nương tựa. Khi con có cảm tưởng không an
ninh thì đừng đi tìm chỗ nương tựa ngoài con. Bụt đã dạy rằng chỗ an trú,
chỗ nương vững chãi nhất là Tam Bảo ở trong tự thân”.
Quay về nương tựa,
Hải đảo tự thân,
Chánh niệm là Bụt,
Soi sáng xa gần,
Hơi thở là Pháp,
Bảo hộ là thân, tâm,
Năm uẩn là Tăng,
Phối hợp tinh cần.
Khi nương tựa vào cái thành trì kiên cố của Bụt, của
Pháp của Tăng và khi mình đã vững chãi rồi thì mình có thể giúp được các
sư anh, sư chị, và sư em của mình. Cố nhiên vì mình là học trò, mình có
thể nương tựa vào thầy của mình. Nhưng thầy của mình cũng có thể có những
lúc cao, lúc thấp. Cũng như sư anh hay sư chị của mình, họ cũng có những
lúc cao lúc thấp. Không ai cấm mình nương tựa vào thầy của mình, vào sư
anh, sư chị, và vào tăng thân mình. Nhưng tất cả những người đó đều có thể
có lúc cao, lúc thấp. Khi thấy thấp, mình đừng hoảng sợ và có cảm giác mất
chỗ nương tựa! Ngược lại, khi thấy như vậy mình phải thương thêm và tìm
cách đem lại sự an ủi, rồi làm cho tình trạng của người đó và hoàn cảnh đó
trở nên vững chải hơn.
Sư cô đã nghe lời Thầy, đã thực tập quay về nương tựa
nơi Bụt, nơi Pháp, nơi Tăng và chỉ trong một ngày là có kết quả. Điều hay
nhất là Thầy không phải dạy tới lần thứ hai, chỉ dạy một lần thôi là cô
thực tập được, đã vượt thắng được, đã đem sự hiểu biết và lòng thương yêu
của mình mà đối đãi với người chị của mình. Tuy là em nhưng sư cô đã giúp
được chị. Chuyện em giúp được chị, em giúp anh là chuyện xảy ra rất
thường. Cũng như chuyện học trò giúp thầy đã xảy ra nhiều lần.
Khi thực tập như vậy, mình bắt đầu tiếp xúc được với
tính vô ngã nó nằm ở dưới nền tảng của mọi sự vật đang có mặt. Vì chị mình
là ai? Anh mình là ai? Chị mình chính là mình! Anh mình chính là mình!
Hạnh phúc của chị mình cũng chính là hạnh phúc của mình, hạnh phúc của
mình cũng chính là hạnh phúc của anh mình. Nỗi đau khổ của em mình cũng
chính là nỗi đau khổ của mình. Trong đời sống hàng ngày ta thấy điều đó
rất rõ. Khi con ngựa đau, cả tàu ngựa đều không ăn cỏ. Nếu có việc gì xảy
đến cho một người trong tăng thân, thì tất cả mọi người đều đau khổ, chúng
ta đã có kinh nghiệm về chuyện đó.
Có một năm đang đi dạy ở Bắc Mỹ, tôi nhận một tin rất
dữ. Đó là tin tai nạn xe hơi của anh Hoàng và chị Tịnh Thủy, và chị Tịnh
Thủy bị thương trầm trọng. Lúc đó tôi đang ở xa, không thể tiếp xúc được
với nhà thương, Tôi không biết chị Tịnh Thủy còn sống hay không? Vì vậy
cho nên đi một đoạn đường dài từ miền nam Cali lên đến Bắc Cali mà trong
lòng cứ ôm ấp hình bóng của người học trò! Không biết cô học trò đó hiện
bây giờ đang còn sống hay đã chết rồi? Từ lúc đó trở đi có nhiều tin tức
khác nhau. Đến khi về lại Pháp, tôi biết rằng Tịnh Thủy không đến nỗi nào,
cô đã vượt thoát nguy tai, và đã bình phục sau một thời gian điều trị. Lúc
về, tôi nhìn Tịnh Thủy bằng đôi mắt khác. Tôi cảm tạ đất trời, cảm tạ số
mạng, cảm tạ tất cả. Trái tim tôi tràn đầy sự biết ơn, Biết ơn ai, biết ơn
cái gì thì không rõ lắm, chỉ có một sự thực rất rõ là mình biết ơn đối với
cái sự kiện là Tịnh Thủy còn sống. Từ đó đến nay, mỗi khi ngồi gần Tịnh
Thủy, tôi thấy rất rõ sự kiện Tịnh Thủy còn sống là một sự kiện mầu nhiệm.
Tịnh Thủy hay bất cứ người nào trong tăng thân chúng ta cũng vậy, nếu lâm
vào tình trạng hiểm nguy đó, tai nạn đó, thì chúng ta cũng đau khổ như
nhau. Khi ngồi bên cạnh người sư anh, sư chị, sư em, mình phải thấy sự
kiện người đó còn sống và đang ngồi bên mình là một ân đức, một phép lạ.
Chỉ cần nhớ tới điều ấy thôi thì bao nhiêu nỗi buồn phiền và giận hờn của
mình đối với người đó sẽ tan biến hết. Đó là cách tiếp xúc với chiều sâu
của sự thật. Nếu không thì chúng ta chỉ có cái thấy cạn cợt trên bề mặt
của sự thật mà thôi.
QUÁN CHIẾU VỀ TƯƠNG QUAN SẼ DẪN TỚI CÁI THẤY VÔ NGÃ
Cách đây mấy tuần, một hôm ra vườn ngồi chơi trên bãi
cõ, có một con bọ xít nhỏ xíu bay bám vào áo mà tôi không hay. Ngồi một
lúc, thoáng có ý hay tôi vào phòng và ngồi vào bàn để ghi lại kẻo sợ quên.
Vừa cầm cây bút lên thì thấy anh chàng bọ xít đang đậu bên vai trái. Tôi
có cái tập khí là không ưa bọ xít vì mùi hôi của nó. Do đó, với phản ứng
tự nhiên, tôi đua tay lên phủi một cái, và con bọ xít rớt xuống. Lúc đó
tập khí mạnh và chánh niệm tới trễ. Quí vị có nhờ ngày xưa khi chưa đi tu,
hễ biết con muỗi đậu vào má mình thì mình đưa tay đánh một cái bốp liền.
Nhưng nhờ tu học nên chuyện đánh cái bốp cho con muỗi chết, mình không làm
nữa, mình chỉ đuổi cho nó bay đi thôi. Điều này ta cần thực tập mới làm
được. Từ chỗ đánh cái bốp cho con muỗi chết cho đến chỗ mình chỉ xua cho
nó bay đi, phải cần một thời gian thực tập tinh chuyên. Tôi cũng vậy. Sau
khi phủi con bọ xít rồi, tôi cúi xuống định ghi lại cái tư tưởng vừa có
thì tự nhiên chánh niệm tới và nó nói: “Trời đất ơi! Con bọ xít nhỏ xíu mà
phủi mạnh như vậy thì làm sao nó sống được. Bọ xít cần có một môi trường,
một khung cảnh mới có thể sống, bây giờ mình đem nó vào thư viện, nơi chỉ
sách, có nhang và tọa cụ thôi, thì nó ăn gì để sống?”. Tôi muốn đứng dậy
đi tìm con bọ xít để đưa nó ra ngoài, nhưng ý nghĩ thứ hai lại đến: “Sao
mình không ghi xong tư tưởng kia rồi sẽ đi kiếm và đưa nó ra ngoài sau?”
Tôi cúi xuống ghi chép và bỏ bút đứng dậy đi tìm con bọ xít, Tìm nó gần
mười phút mà không thấy! Tôi liên tưởng đến người Việt đi tị nạn được đưa
vào xã hội Tây phương mà còn khó sống, huống hồ đằng này “người ta” đang ở
ngoài vườn, có cây, có lá, có đất đai, có hạt sương tươi mát ... mà lại
đem bỏ vào một nơi chỉ có tọa cụ, kinh sách thì làm sao “người ta” sống
được? Cái hiểu đưa tới cái thương và thôi thúc mình đi tìm. Tôi rất làm lạ
là chỉ trong một vùng chừng hai ba thước vuông, vậy mà lật mọi thứ lên
cũng vẫn không tìm thấy! Tôi hơi hối hận là tại sao lúc đó mình không đi
tìm ngay mà phải đợi ghi cho xong một câu rồi mới đi tìm! Tu là phải đi
theo tâm ý mình, phải có chánh niệm từng giây từng phút.
Tìm mãi không được, tôi thất vọng và hình dung rằng con
bọ xít này sẽ từ từ khô đi giống như những con ốc leo tường. Nó sẽ khô như
vậy, sẽ chết như vậy và tội nghiệp cho nó quá! Tôi tự hứa lần sau sẽ hành
động có chánh niệm hơn. Với tâm trạng đó, tôi ngồi xuống tiếp tục làm
việc. Chừng nửa giờ sau, nhìn lên tôi thấy chàng bọ xít đã trở về đậu trên
vai áo, gần chỗ nó đậu hồi nãy! Sự trở về của con bọ xít làm cho tôi mừng!
Tôi có cải cảm giác vui như vừa tìm lại được một người bạn cũ và cái buồn
cái hối hận đột nhiên biến mất. Tôi cúi xuống lượm một tờ giấy, để con bọ
xít lên rồi đi ra vườn đặt nó lên một chiếc lá rất cẩn thận. Trong cuộc
sống nhiều lúc ta có những niềm vui đơn giản như vậy. Tôi thấy rất rõ ràng
việc làm lúc đó của tôi và niềm vui của tôi trong khi làm việc đó, nếu có
một quan sát viên nhìn vào, chắc sẽ buồn cười. Có biết bao nhiêu sinh mạng
ở ngoài trời đang chờ chết, mình cứu được một con bọ như thế có nghĩa gì
đâu? Sự có mặt của con bọ đối với quan sát viên kia không quan trọng gì
hết, nhưng đối với tôi nó quan trọng vô cùng, tại vì tôi biết rằng cái
hạnh phúc của mình tuỳ thuộc vào chỗ mình có lòng từ bi hy không. Một
người không có lòng từ bi thì không thể có hạnh phúc. Cho nên tu tập là
làm cho lòng từ bi càng ngày càng lớn để hạnh phúc của mình ngày càng lớn
hơn lên. Nếu ta có được lòng thương đối với những sinh vật li ti như vậy
thì ta cũng có thể có lòng thương đối với những sinh vật lớn hơn, trong đó
có hư huynh, sư đệ và học trò của ta.
Ban đầu khi nghe sư anh hay sư em của ta nói một câu
không dễ thương thì ta cũng theo cái tập khí, cái thói quen lâu đời “phủi
một cái rồi bỏ đi!” Nhưng sau đó ta phải có chánh niệm, phải thấy rằng
phủi như vậy là không dễ thương, và phải đi tìm sư anh, sư chị của mình mà
nói “Hồi nãy em làm vậy, nói vậy là không dễ thương”. Ta phải tập và nếu
tập được như vậy một vài lần thì sẽ không còn cái phản ứng tập khí ban
đầu. Nhờ vậy mà khi cảm thấy một con muỗi đậu vào gò má, ta sẽ không đánh
bốp một cái cho nó chết nữa. Những cử chỉ, những hành động nho nhỏ như vậy
sẽ đưa ta tới thành công lớn trong việc tu học. Tất cả đều nhờ thực tập
tinh chuyên.
Một hai tuần sau khi thấy được “cái tập khí con bọ xít”
của mình, tôi hành động khá hơn đối với những con sâu bám vào áo mình. Vào
mùa này tôi rất thích đi ra ngoài.Cứ làm việc một hồi lại ra ngoài đi
thiền hành, rồi ngồi dưới cây táo để thực tập an trú với những gì đang có
mặt trong giây phút hiện tại. Dĩ nhiên ngoài vườn còn có những sinh vật
khác cũng muốn tới để làm tăng thân với mình. Khi thấy được như vậy, mình
làm khác hơn và nhờ vậy mà thắng được cái tập khí của mình.
Tại sao mình làm được? Tại vì mình biết con sâu cũng có
sự sống. Nếu mình cần môi trường thích hợp để sống, thì con sâu cũng cần
có môi trường thích hợp để sống. Mình và con sâu đều thuộc về một thực tại
duy nhất là sự sống. Sự sống của ta tùy thuộc vào sự sống của son sâu. Sự
sống của con sâu tùy thuộc vào sụ sống của ta. Sự sống của mọi loài đều
dính dáng với nhau. Khi một loài bắt đầu bị diệt chủng, thì đó là một
tiếng chuông báo động rất lớn. Người bạn tu của mình, người sư chị, su em,
sư anh của mình chính là mình. Nếu người đó bực bội thì cũng như mình đã
từng bực bội, nếu người đó giận hờn thì cũng như mình đã từng giận hờn. Vì
vậy sau khi “phủi” một cái, mình phải trở về hàn gắn lại bằng cử chỉ hiểu
biết và thương yêu. Như vậy hạnh phúc của mình ngày càng lớn, hạnh phúc
của người kia cũng ngày càng lớn, và nhờ vậy mà hạnh phúc của tăng thân
cũng ngày càng lớn hơn lên. Tất cả đều căn cứ vào một cái thấy, cái
thấy vô ngã. Trong trường hợp này vô ngã có nghĩa là không có hạnh
phúc riêng, không có một thực thể riêng gọi là ta. Chúng ta đều là thành
phần của một thực thể chung gọi là sự sống. Hạnh phúc của anh có liên hệ
tới hạnh phúc của tôi. Đau khổ của anh cũng là đau khổ của tôi. Một con
ngựa đau cả tàu không ăn cỏ là vậy.
Cho nên khi quán chiếu về vô ngã không có nghĩa là ngồi
đó để suy nghĩ về vô ngã, mà mình phải sống đời sống hàng ngày một cách có
ý thức. tiếp xúc với con sâu, với hạt lúa,
với chén tương, với người bạn tu, với mặt trời v.v... một cách có chánh
niệm để thấy sự liên hệ mật thiết giữa tất cả các hiện tượng tức là
quán chiếu vô ngã. Thí dụ khi ăn trái mận mình thấy một đám mây trong
trái mận. Trái mận không bao giờ có được nếu không có đám mây, không có
mặt trời, không có đại địa, không có người trồng mận, không có anh, không
có tôi ... Vì vậy mà tôi có trong trái mận, và trái mận có trong tôi. Trái
mận cũng đồng thời là mặt trời, là đám mây. Trái mận bất diệt và tôi cũng
bất diệt. Đó là một bài thực tập quán chiếu về tính vô ngã.
Mình càng quán chiếu như vậy, càng sống có chánh niệm
như vậy thì tự nhiên trái tim mình càng ngày càng lớn thêm lên. Trái tim ở
đây tức là sự thương yêu, là lòng từ, và nhờ vậy mà mình sẽ dung chứa được
tất cả mọi người và mọi loài trong đó. Trái tim của em có thể chứa được
tôi không? Trái tim của em có thể chứa được người kia không? có thể chứa
được người mà mình nghĩ là khó chịu hay không? có thể bao dung được cô
Francois Berthot không? Nếu hiểu rằng Francois đã bị người ta giành mất
con, đã từng sống một đời sống rất khó khăn, đã lâm vào tình trạng mất
trí, thì tự nhiên cái hiểu đó đưa tới cái thương và ta có một chỗ ngồi ấm
áp cho Francois trong trái tim ta. Người thực tập từ, thực tập bi là người
làm cho trái tim ngày càng lớn để có đủ chỗ cho con sâu, con bướm, cho con
nít đói, cho bà lão cô đơn và cả cho người mình ghét.
3.4
Pháp Thoại Ngày 14 tháng 9 năm 94
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày 14 tháng 9 năm 1994,
chúng ta đang ở xóm Thượng, trong khóa mùa Thu.
THIÊN ĐƯỜNG CỦA TUỔI THƠ
Mỗi khi trời mưa ta thường có cảm giác êm dịu, mát mẻ
và thường nhớ đến những cơn mưa mùa hè ngày xưa. Tuổi thơ nào cũng được
dánh dấu bằng những cơn mưa. Khi còn là em bé, ta cởi trần cởi truồng, đùa
chơi dưới mưa. Cái thiên đường kia đâu đã mất vì cho đến bây giờ ta vẫn
còn có những cơn mưa và vẫn có thể an trú trong thiên đường tuổi thơ đó
trong giờ phút hiện tại.
Quê hương đích thực là quê hương không bao giờ bị đánh
mất. Nó không chỉ có mặt trong quá khứ mà còn có mặt bây giờ và trong
tương lai nữa. Hồi còn bé, khi được mẹ cho chén cơm với dưa giá thịt kho,
hoặc cá kho, ta mang bát cơm với đôi đũa ra ngồi ở bực cửa, vừa ăn vừa
nhìn những giọt nước mưa từ mái lá rơi xuống. Ta cứ đưa mắt lên, đưa mắt
xuống nhìn những giọt nước mưa từ mái lá rơi xuống do những những giọt
nước mưa tạo ra và ăn rất ngon lành. Ở tuổi đó, ta không lo lắng cho tương
lai, không tiếc nuối thời quá khứ, chỉ ngồi đó một mình và ăn rất chậm. Có
khi chậm quá mẹ phải gọi “Con ơi! Sao ăn một chén cơm mà lâu quá vậy?” Đó
là trường hợp ta ăn một mình. Nếu sanh trong một gia đình có anh chị em,
ta có thể ngồi quây quần với nhau để ăn cơm. Chúng ta cũng ngước mắt xuống
nhìn những bong bóng phập phồng. Chúng ta đã rất sung sướng vì có em, có
chị, có anh cùng ngồi bên cạnh và cùng hưởng cái thiên đường đó của tuổi
thơ.
Khi lớn lên, ta đánh mất cái thiên đường đó, tại vì
phải lo cho tương lai, phải nghĩ về quá khứ. Khi đi học ta lo về chuyện
thầy giáo hỏi bài, về việc thi cử, về quần áo, về cái lược chải đầu, lo
đôi giày cho bóng, lo chúng bạn chê cười ... Ta mất đi cái hồn nhiên của
tuổi thơ và từ từ ta đánh mất cái thiên đường của tuổi thơ đó. Ta cũng
đánh mất cái thiên đường ngây thơ, quây quần với anh chị em trong gia
đình.
Hồi đó, Tết đến ta không có nhiều quà, chỉ có một bộ
quần áo mới nhưng ta rất mừng và thường nôn nao chờ đón ngày Tết. Sáng
Mồng Một mặc áo quần mới vào, đi sột soạt vì vải mới còn dính chất hồ,
nghe rất oai. Đến trưa, mẹ cắt cho một khoanh bánh tét, lấy một chiếc đũa
cắm ngang, lăn quanh một ít đường cát, đưa cho ta rồi nói “con đi ra ngoài
chơi”. Có thể lúc đó mẹ đang bận công việc, không muốn ta quanh quẩn vướng
víu. Vui mừng ta mang khoanh bánh ra sân, vừa nhẩn nha ăn vừa nhìn con
mèo, con chó, nhìn bông hoa vạn thọ, nhặt xác pháo Giao Thừa mà lòng tràn
đầy hạnh phúc. Những hạnh phúc đó còn lại trong tàng thức ta dưới dạng
những hạt giống hạnh phúc, khiến ta thường có cảm tưởng thiên đường đó đã
mất và thường đi tìm.
Người Tây phương cũng như người Đông phương đều cùng có
một cảm nghĩ là quá khứ bao giờ cũng đẹp, quá khứ bằng vàng! Những ngày
tháng ngọc ngà ngày xưa bây giờ đã biến mất rồi! Thủa đó đời sống đẹp hơn,
mặt trời cũng rạng rỡ hơn ngày hôm nay, đó là lời bái hát rất nổi tiếng
của Pháp, “Les feuilles mortes” (Những chiếc lá rơi). Cái cảm nghĩ thiên
đường trong quá khứ bao giờ cũng đẹp hơn thực tế hiện tại, thường được
nuôi dưỡng bằng những kỷ niệm của tuổi thơ mà ta thường nghĩ bây giờ không
còn nữa.
Thực tập chánh niệm là để khám phá ra rằng không có
gì đã qua và đã mất. Cái hạt giống hạnh phúc kia của thiên đường tuổi
thơ vẫn còn trong chúng ta. Nếu biết thực tập nghĩa là biết cày bừa ruộng
tâm, biết tưới tẩm và vun bón hạt giống, ta có thể tiếp xúc và làm phát
khởi niềm hạnh phúc đó trở lại. Đây là một sự thực rất đáng mừng.
NGŨ CĂN VÀ NGŨ LỰC
Đạo Bụt có một dụng cụ rất mầu nhiệm để cày bừa, để
gieo hạt, để tưới tẩm, để vun bón, gọi là Chánh Niệm. Chánh niệm là cái
năng lượng mà ta có thể phát khởi trong đời sống hàng ngày. Nói chung năng
lượng có nhiều thứ: Năng lượng để phá hoại, năng lượng để xây dựng, để
thanh lọc v.v...
Khi bỏ củi vào lò để đốt, ta làm phát xuất một loại
năng lượng gọi là nhiệt lượng. Nhiệt lượng đó sưởi ấm căn phòng, giúp cho
ta có thêm hạnh phúc. Đó là một loại năng lượng mà mùa đông ta rất cần
đến. Trong con người cũng vậy, ta cần phải có sức nóng thì mới sống được.
Vì vậy ta phải ăn cơm. Ăn cơm là đưa những nguyên liệu vào trong cơ thể để
các tế bào tạo nên một loại năng lượng gọi là thân nhiệt. Sức nóng chữ Hán
là “noãn”. Khi giận trong người ta phát ra một loại năng lượng gọi là
“giận”, và cái năng lượng đó cũng làm cho ta nóng, nhưng nóng khó chịu hơn
là cái nóng của lò sưởi mùa đông. Năng lượng giận làm cho cơ thể ta bốc
cháy, đau khổ, và ta vung vẫy niềm đau nỗi khổ của ta lên những người và
vật chung quanh.
Nghi ngờ cũng là loại một năng lượng. Khi tưới tẩm hạt
giống nghi ngờ trong ta nó phát sinh ra một năng lượng làm ta uể oải, mất
hết sức sống, nhìn gì cũng thấy không thấy có ý nghĩa! Năng lượng đó là
loại năng lượng tiêu cực, có tính cách phá hoại. Tương tự như thế, năng
lượng giận cũng chứa rất nhiều tiêu cực, và sức phá hoại của nó cũng rất
trầm trọng.
Hiện nay ta có những trung tâm sản xuất năng lượng để
thắp đèn, để chạy máy. Các trung tâm này có thể dùng những loại nhiên liệu
như thác nước, dầu xăng, than đá v.v... Họ cũng có thể dùng nhiên liêu
nguyên tử Uranium để làm ra năng lượng hùng hậu hơn.
Đạo Bụt dạy về “Ngũ căn và ngũ lực”. Ngũ căn là năm
địa điểm để phát sinh ra năm năng lượng. Ngũ lực là năm nguồn năng lượng
phát sinh từ năm địa điểm đó. Ngũ căn có thể ví với năm nhà máy phát
sinh ra năng lượng. Căn tức là gốc, như trong các danh từ căn bản,
căn cứ v. v... Hình ảnh mà ta ví với hình ảnh của một nhà máy phát điện.
Nhà máy điện đầu tiên trong đạo Bụt là Tín. Tín là niềm
tin. Nếu có niềm tin thì tự nhiên ta có rất nhiều năng lượng. Khi có một
đối tượng tốt để tin tưởng thì tự nhiên ta có một nguồn năng lượng tích
cực. Ba đối tượng để tin của ta là Chân (một cái gì là Thật), Thiện
(một cái gì Lành) và Mỹ (một cái gì Đẹp). Thật có nghĩa là không phải
giả, vì đạo đức có khi là giả! Ban đầu ta có thể tin vào đạo đức giả,
nhưng sau một thời gian cái thần tượng đó nó đổ, nó rớt xuống và lúc đó
niềm tin trong ta tan biến. Lâm vào tình trạng này là vì ta đã nhận giả
làm chân, nhận ác làm thiện, nhận ố làm mỹ. Tất cả vì ta vô minh! Khi niềm
tin không được thắp sáng bởi trí tuệ thì nó dễ bị tan vỡ, và từ chỗ tin
tưởng, ta có thể lâm vào trạng thái nghi ngờ. Khi năng lượng của nghi ngờ
phát sinh trong tâm thức, ta sẽ uể oải, rã rời, hết muốn làm gì nữa! Do đó
theo giáo lý đạo Bụt, mọi niềm tin phải được làm bằng chất liệu của trí
tuệ. Tin mà không quán chiếu thì niềm tin đó rất nguy hiểm. Bụt dạy “Tín
ta mà không hiểu ta tức là bài báng ta”. Do đâu mà có niềm tin? Do cái
hiểu, vì vậy nhà máy năng lượng thứ hai trong đạo Bụt là nhà máy Tuệ.
Tuệ là cái thấy của hiểu.
Năng lượng của niềm tin (Tín) được chế tạo từ nguồn năng lượng của trí
tuệ. Có quán chiếu ta mới thấy rõ được sự thật. Thấy rõ được sự thật thì
ta mới có thể xa lìa những cái giả ngụy trang bằng vỏ chân, những điều ác
ngụy trang bằng vỏ thiện, và những việc xấu xa ngụy trang bằng vỏ tốt đẹp.
Lúc đó niềm tin sẽ được gọi là Chánh Tín. Muốn có trí tuệ, tức là muốn có
cái thấy sâu sắc (deep insights), ta phải biết nhìn. Nhìn cho sâu sắc
tức là quán chiếu bằng năng lượng của chánh niệm. Vì vậy nhà máy phát
sinh năng lượng thứ ba trong đạo Bụt là nhà máy Niệm.
Trung tâm tu học là nơi cung cấp vật liệu để tạo ra nhà
máy Niệm. Tại các trung tâm tu học, ta được dạy nhiều phương thức để thiết
lập nhà máy biến chế một loại năng lượng tích cực gọi là năng lượng Chánh
Niệm. Đây là một thứ năng lượng rất cần thiết để chúng ta có thể nhìn sâu
và thấy được sự thật tiềm tàng trong sự sống. Khi biết ăn cơm trong chánh
niệm, biết rửa nồi trong chánh niệm, biết đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc và
thở trong chánh niệm thì tâm của ta hưóng về một phía, nó tập trung, không
bị tán loạn. Trạng thái đó gọi là Định (Concentration).
Định là nhà máy năng lượng thứ tư trong đạo Bụt.
Người không có định thì không làm được gì cả. Muốn giải quyết một vấn đề
cho riêng mình hoặc cho đại chúng mà không có định thì không đi tới kết
quả nào. Khi soạn một bài giảng hay thực tập quán chiếu để tìm sự thật của
một vấn đề, ta phải có định tâm. Vì vậy nhà máy Định rất cần thiết, nếu
không có nhà máy định thì không bao giờ ta có tuệ cả. Nếu không tập trung
thì làm sao thấy được giải pháp, tìm được sự thật?
Khi có bốn nguồn năng lượng kể trên, đời sống của ta là
một đời sống tinh chuyên, không uể oải, không bệ rạc. Nếu ta uể oải, rã
rời, không có niềm vui, không thiết sống là vì ta không có năng lượng tinh
chuyên. Đó là nhà máy thứ năm trong đạo Bụt, nhà máy Tấn. Tấn tức là sự
siêng năng, sự chuyên cần.
Năm nhà máy đó gọi là năm căn. Căn ở đây là nhà máy
phát sinh ra năng lượng. Với năm nhà máy đó, khi chúng bắt đầu hoạt động
thì chúng phát sinh ra năm loại năng lượng gọi là năm lực. Vì vậy ngũ căn
cũng là Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mà ngũ lực cũng là Tín, Tấn, Niệm, Định,
Tuệ. Căn tức là hình thức của nhà máy, những trang bị của nhà máy. Lực là
năng lực phát xuất từ sự vận hành của các nhà máy đó. Ngày xưa khi mới học
tôi thường thắc mắc: “Đã có năm căn Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ tại sao còn
phải có năm lực nữa?” Lúc đó tôi chưa hiểu năm căn là năm nhà máy, và
năm lực là năm loại năng lượng do năm nhà máy đó phát xuất và biến chế ra.
Nếu trong thân và tâm ta không có đủ năng lượng, hoặc
năng lượng yếu ớt, ta phải biết xét tìm trong năm nhà máy đó, xem những bộ
phận nào bị hư hỏng để lập tức tìm cách chữa trị. Xem xét và chữa trị
thường xuyên mới đúng là đời sống tu tập tinh chuyên.
TÍNH TƯƠNG TỨC MẦU NHIỆM CỦA CÁC CHỦNG TỬ
Nếu năm nhà máy chế tạo năng lượng toàn hảo thì chúng
sẽ phát sinh ra năm nguồn năng lượng rất cần thiết cho sự tu tập và chứng
ngộ của ta. Bụt dạy tâm ta có hai phần: tàng thức và ý thức. Tàng thức là
nơi chứa tất cả các hạt giống của năng lượng. Ý thức là nơi các hạt giống
biểu hiện, đơm hoa, kết trái. Có những điều mà khi nhìn vào vùng ý thức
ta không thấy, nên ta quả quyết ta không có điều đó. Thực ta điều đó có
trong tâm ta, nó nằm trong tàng thức dưới dạng những hạt giống, và chưa
phát hiện ra mà thôi. Nếu trang bị đầy đủ phương tiện và chăm bón các
hạt giống này, chúng sẽ phát sinh ra những năng lượng trên vùng ý thức. Ví
dụ khi quý vị nói: “Bây giờ tôi không giận ai hết”. Điều đó đúng. Bây giờ
có ai đỏ mặt tía tai, có ai sân si la mắng ai đâu mà có người giận phải
không? Thật ra thì cái giận chỉ không có mặt ở trên phần ý thức, nhưng
nó vẫn có mặt ở dưới phần tàng thức. Chúng ta ai cũng đều đang có cái
giận trong lòng, nhưng nó đang ở trong trạng thái hạt giống và đang ngủ
yên trong tàng thức của ta. Người tu học, phải khôn ngoan, phải biết
lợi dụng lúc những hạt giống tiêu cực đang ngủ yên để lo vun bón gieo
trồng những hạt giống tích cực. “Thiền sinh ru hội kết” là một bài
thực tập ru ngủ các hạt giống tiêu cực. Nội kết là những niềm đau, nỗi
khổ, ở trong lòng ta. Nếu ru cho chúng ngủ thì ta sẽ rảnh rang để cày bừa,
gieo trồng, tưới tẩm những hạt giống tốt. Đừng nghĩ rằng khi lấy hết những
hạt giống xấu xa rồi thì ta mới có thể tu được. Nếu những hạt giống xấu
được lấy ra hết rồi thì ta đã là toàn mỹ, và đã là toàn mỹ thì có gì sai
đâu mà phải sửa, phải tu nữa?!
Hạt giống của nghi ngờ cũng có trong tất cả chúng ta.
Nếu ta không tu tập Tín, Tấn, Niệm, Định, và Tuệ thì hạt giống nghi ngờ sẽ
phát sinh, nó sẽ bao trùm hết cả con người ta, và năng lượng tiêu cực đó
sẽ làm tiêu mòn đời ta. Nó sẽ làm cho ta khổ, và những người chung quanh
ta cũng sẽ khổ theo. Khi một người có niềm tin, tin vào một điều thật
lành, thật đẹp thì tự nhiên đôi mắt người đó sáng long lanh, và người đó
có rất nhiều năng lượng. Người đó sống có định tâm, có chánh niệm và có sự
hiểu biết.
Tu học là cày bừa mảnh đất tàng thức và gieo vào những
hạt giống tốt, tưới tẩm và gieo vào đó những hạt giống tốt, tưới tẩm để
chúng nảy mầm rồi mọc thành cây trên phần ý thức. Khi mọc, những cây đó sẽ
đơm hoa, kết trái rồi trở thành những hạt giống lành cùng loại và rơi trở
xuống mảnh đất tâm. Duy thức học gọi đó là Dẫn tự quả, nghĩa là một
hạt giống có thể sanh ra nhiều hạt giống có cùng một tính chất. Đây là một
trong sáu tính chất của chủng tử. Muốn một hạt giống tốt phát hiện trên
phần ý thức, làm đẹp cuộc đời rồi gieo xuống tàng thức những hạt giống tốt
cùng loại, ta cần một điều kiện gọi là Đãi chúng duyên. Đãi
là đợi, chúng là những, và duyên là điều kiện. Đãi chúng
duyên là đợi những điều kiện thuận lợi. Hạt giống nào ở dưới tàng thức
cũng cần những điều kiện thuận lợi mới phát hiện được trên phần ý thức, kể
cả hạt giống chánh niệm. Những điều kiện thuận lợi đó gồm có điều kiện
tăng thân, điều kiện thầy, điều kiện thiền đường, điều kiện pháp thoại,
điều kiện thực tập v.v... Khi ta trang bị đầy đủ những điều kiện đó thì
hạt giống tốt tiềm tàng dưới tàng thức sẽ có cơ hội để nảy mầm và phát
sinh, làm đẹp cho cuộc sống của ta và gieo lại những hạt giống đồng loại
vào đất tâm, làm cho rạng rỡ môi trường sinh sống của ta. Người nào đã học
50 bài tụng duy biểu chắc còn nhớ hai tính chất vừa nói của chủng tử. Bụt
thưòng dạy rằng tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tất cả chúng sinh đều
có thể trở thành những bậc toàn giác. Kinh Pháp Hoa có câu: “Nhất thiết
chúng sinh giai hữu Phật tánh”, nghĩa là chúng sinh ai cũng có hạt giống
Bụt ở trong mình. Nếu hạt giống đó có đầy đủ điều kiện thì nó sẽ phát
triển. Mục đích của tu học là nhận thức trong ta có hạt giống Bụt và tìm
đủ mọi cách, trang bị đủ điều kiện để cho hạt giống đó phát sinh và nảy
nở. Ta có thể gọi hạt giống đó là hạt giống của chánh niệm, hay là hạt
giống của tuệ giác, hoặc hạt giống của chánh tín. Chúng cùng là một
thực tại nhưng tùy trường hợp ta có thể gọi bằng nhiều tên khác nhau.
Trong trường này ta gọi là hạt giống Niệm vì trong Niệm có chứa Định,
trong Định có chứa Tuệ, trong Tuệ có chứa Tín, trong Tín có chứa Tấn. Vì
vậy Niệm là hạt giống của Bụt ở trong ta. Ta cũng có thể gọi hạt giống ở
trong ta là Định, Tuệ, Tín hay Tấn. Nhưng để cho dễ dàng ta lấy Niệm làm
biểu tượng cho hạt giống Bụt ở dưới tàng thức.
Bụt là phiên âm của chữ Buddha. Danh từ Buddha do động
từ Budh mà ra. Budh có nghĩa là thức dậy, hiểu biết, thức tỉnh, giác
ngộ. Biết cái gì đang xảy ra, và biết một cách sâu xa thì gọi là Budh.
Động từ Budh có hàm chứa tính chất của chánh niệm. Chánh niệm nghĩa là
biết cái gì đang xảy ra, thấy được cái gì đang xảy ra. Và tùy theo
trình độ thấy của mình mà cái thấy đó sâu hay cạn. Nhưng tất cả đều là
cái thấy. Bụt là người đã thấy, đã hiểu, đã tỉnh thức hoàn toàn. Mỗi chúng
ta đều có khả năng tỉnh thức. Cái khả năng tính có thể thức dậy, có thể
trở thành một vị Bụt, gọi là Phật tánh. Tiếng Phạn là Buddhata. Phật tánh
tức là hạt giống Chánh Niệm. Ta không thể nói ta không có hạt giống đó.
Tại vì chánh niệm trước hết được định nghĩa là ý thức được cái gì đang
xảy ra trong giây phút hiện tại. Ví dụ khi tôi nâng cái ly lên và tôi
biết tôi đang nâng cái ly lên thì lúc đó năng lượng chánh niệm đang có
mặt. Khi uống nước mà tôi biết tôi đang uống nước thì lúc đó chánh niệm
cũng đang có mặt. Năng lượng của chánh niệm có mặt trong khi tôi nâng ly
lên, và năng lượng của chánh niệm có mặt trong khi tôi đang uống nước. Vì
vậy không thể nói ta không có Phật tánh. Tại vì sự có mặt của chánh niệm
chứng minh rằng ta có hạt giống chánh niệm trong tàng thức của ta. Câu
chào hỏi “Sen búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai" nó chỉ có nghĩa là
“Nhìn thấy cái hạt giống Phật tánh ở nơi anh, tôi xin thân kính chào anh”.
Khi nói “một vị Bụt tương lai" là mình nói tới cái Phật tánh đó.
CÁC HẠT GIỐNG VÔ GIÁ TRONG TÀNG THỨC
Ta có mặc cảm thấp kém và thường nghĩ rằng mình chỉ có
thể là chúng sinh thôi, không thể nào thành Bụt được. Đó là vì ta không
công nhận hạt giống Bụt ở trong ta.
Một trong ba mặc cảm mà Kinh Samiddhi đề cập tới là mặc
cảm tự ti, nói rõ ra là mặc cảm cho rằng
mình chỉ có thể là chúng sinh thôi. Thật ra trong chúng ta ai cũng đều có
hạt giống Bụt, tức là có khả năng tính thành Phật. Khả năng tính thành
Phật là danh từ mới, trong quá khứ ta gọi là Phật tính. Dầu sống trong
thất niệm 24 tiếng mỗi ngày và chánh niệm không bao giờ có mặt trên vùng ý
thức, nhưng trong tâm ta lúc nào chánh niệm cũng nằm trong tàng thức dưới
dạng một hạt giống. Cái kho tàng ta thường đi kiếm nó nằm ngay trong tâm
của ta mà ta không hay! Chúng ta ai cũng nghĩ rằng mình chỉ là người bần
cùng, suốt đời đi cầu xin một chút tình thương, một chút hiểu biết, một
chút giác ngộ của Bụt, còn chính ta thì không có gì cả. Vì vậy mà Bụt nói
Kinh Pháp Hoa để giúp ta đánh tan mặc cảm thấp kém đó. Kinh dạy rằng trong
tâm ta có đủ kho tàng của giác ngộ, hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc,
đừng tìm kiếm đâu xa:
Hỡi người giàu sang bậc nhất,
Tha phương cầu thực xưa nay,
Hãy thôi làm thân cùng tử,
Về đây tiếp nhận gia tài.
Ngày xưa có một vị Bồ Tát vì thấy được cái Phật tánh
trong mọi người là một sự thật nên Ngài phát một hạnh nguyện rất lớn. Ngài
thường làm một việc rất bình thường và vì công việc đó mà Ngài thường bị
người ta la rầy, xua đuổi nhưng không bao giờ Ngài mất niềm tin. Ngài tên
là Thường Bất Khinh. Thường Bất Khinh là nghĩa là tôi không dám
khinh ai cả, tại vì tôi biết mỗi người đều có khả năng tính thành Phật.
Gặp bất cứ người nào, lớn cũng như bé, có địa vị hay không có địa vị. Ngài
đều cúi xuống rất thấp và nói rằng “Tôi không dám khinh bạn đâu, bạn là
một vị Bụt tương lai, bạn có khả năng tính thành Bụt". Có người nghe nói
vậy rất lấy làm sung sướng, có được niềm tin, nhưng cũng có người khi nghe
họ nghĩ rằng anh này chế nhạo mình, thành ra họ lấy đá liệng, lấy gậy đánh
đuổi Ngài. Tuy vậy Ngài không bao giờ thối chí, suốt đời chỉ mang cái hạnh
nguyện nhắc cho mọi người biết rằng họ có một kho châu báu ở bên trong,
đừng bỏ đi mà uổng.
Một hạt giống khác có liên hệ mật thiết với hạt giống
Phật tánh là khả năng tính yêu thương, hay khả năng thương yêu. Lắm
khi ta có cảm tưởng ta không thương được ai cả. Trong tình trạng chán nản,
rã rời đó, ta thấy mình không còn là gì và không có một giá trị tối thiểu
nào hết! Không thương được ai là vì ta không thương được chính bản thân
của ta, do đó ta thường đi đến kết luận trong tôi không có tình thương.
Điều đó có thể đúng trong phạm vi ý thức, nhưng đứng trong chiều sâu của
tàng thức thì nó không đúng. Vì trong ta ai cũng có hạt giống gọi là hạt
giống thương yêu, tức hạt giống từ và hạt giống bi. Bụt được làm bằng chất
liệu của tỉnh thức, của chánh niệm, nhưng Bụt cũng được làm bằng chất liệu
của thương yêu, của từ, của bi. Chánh niệm và thương yêu là hai bề mặt của
cùng một thực tại. Hiểu biết và thương yêu cũng cùng là một thực tại. Hễ
có hiểu biết thì có thể thương yêu được, ngược lại khi thương yêu đích
thực thì lòng thương yêu đó được làm bằng chất liệu của sự hiểu biết.
Tương tự như vậy, niềm tin mà ta gọi là Chánh Tín cũng được làm bằng chất
liệu của sự hiểu biết. Vì vậy khi nghi ngờ cái khả năng thương yêu trong
ta, ta phải nhớ lời Bụt dạy: Trong ta ai cũng có hạt giống thương yêu
cả. Mạch nước thương yêu chưa phun lên được là vì ta chưa biết đào
giếng. Ta hãy tự đào giếng bằng những năng lượng của tinh tấn, của chánh
niệm, của chánh định, của chánh tín. Khi thấy một người bạn tu không tự
thương mình và không thương được những người chung quanh, ta đừng nản. Ta
nên nghĩ người đó đang ở vào tình trạng khó khăn, nếu được giúp, mai klia
họ có thể tiếp xúc và tưới tẩm hạt giống thưong yêu trong người, lúc đó
hạt giống thương yêu sẽ nảy mầm, đơm hoa và họ có thể mỉm cười. Là bạn tu,
mình có bổn phận phải quán chiếu, không phải chỉ ở trong tâm thức của
người mình mà còn phải quán chiếu nơi tâm thức người khác nữa. Bụt dạy
quán chiếu trong tự tâm mình và quán chiếu trong tâm của người khác nghĩa
là như vậy. Kinh Niệm Xứ luôn luôn nhắc lại điều này. Nếu có vốn liếng
của hiểu biết, của thương yêu thì ta nên làm công việc giúp bạn tu của ta
tiếp xúc, vun bón, tưới tẩm hạt giống tốt để một mai người đó có thể mỉm
cười nhận ra rằng mình cũng có khả năng thương yêu, và cái mặc cảm mình
không ra gì, mình bất lực sẽ tan biến đi.
Một khả năng tính nữa là khả năng tính hạnh phúc
(La capacité d’être heureux), một khả năng rất quí giá trong đời sống hàng
ngày. Người có khả năng hạnh phúc thì sống trong điều kiện nào cũng có thể
có hạnh phúc, rất là mầu nhiệm. Được sống chung với một người như vậy là
ta có phước lắm. Khi lâm vào tình trạng khó khăn, người có khả năng hạnh
phúc thường có đủ khả năng tạo ra ánh sáng cùng niềm vui cho mình và cho
người chung quanh. Nếu đi vào địa ngục người đó sẽ làm cho địa ngục sáng
lên, làm cho tiếng cười vang lên nơi địa ngục. Những người như vậy có
thật. Bồ Tát Địa Tạng là một người chuyên đi vào những chỗ tối tăm nhất,
khổ đau nhất để làm cho ánh sáng và tiếng cười có mặt ở những nơi đó. Nếu
không tu tập phát triển hạt giống của hạnh phúc, không dày công vun xới
khả năng tính hạnh phúc trong ta, thì làm sao ta làm được điều đó, làm sao
ta đi vào được những nơi tăm tối như vậy để cứu giúp người? Khả năng tính
hạnh phúc là một chất liệu tạo nguồn vui cho mọi người. Nếu trong đại
chúng có một người mà trong hoàn cảnh nào cũng cười được, vui được và cũng
không mất niềm tin, thì đại chúng đó đã được hưởng rồi, huống hồ khi trong
đại chúng có được nhiều người như vậy? Thử hỏi ta có phải là một người như
vậy hay không? Mới nhìn vào vùng ý thức, ta hơi nghi ngờ cái khả năng của
mình. Nhưng như vậy là ta đã mang cái mặc cảm thứ ba, mặc cảm thua kém. Ta
phải theo gương Bồ Tát Địa Tạng, Bồ Tát Thường Bất Khinh, nhìn sâu vào
tàng thức và công nhận các khả năng tính của ta, công nhận ta có thể có
hạnh phúc được. Muốn dễ dàng có hạnh phúc, trong đời sống hàng ngày ta
phải tu tập và phát triển cái hỷ tính của mình. Tiếng Phạn là Muditatà,
nghĩa là khả năng trong trường hợp nào cũng vui cười được cả. Ai trong
chúng ta mà lại không có kinh nghiệm về rửa chén? Lúc mới nghĩ đến, ta
thường có cảm tưởng rửa chén không phải là niềm vui mà là một cực hình,
một “dirty work” nói theo tiếng Anh, Nhưng khi đã xăn hai tay áo lên và
nước lạnh, nước nóng đã chảy ra, bọt xà bông bắt đầu xuất hiện, thì ta có
thể tìm được hạnh phúc trong lúc rửa chén. Chúng ta ai cũng đã đi qua con
đường ấy rồi. Trước khi rửa chén thì thấy khác nhưng trong khi rửa chén
thì thấy thấy rửa chén đâu có khổ như mình tưởng? Nếu có tu tập, biết thở
biết mỉm cười trong khi rửa chén, thì rửa chén có thể là giây phút tuyệt
diệu. Quý vị đã từng hái mận. Trước khi hái mận mình có thể than “Trời,
lại bắt hái mận nữa!”. Nhưng khi đã xuống tới vườn mận cùng với những
người bạn của mình trong đó có thầy Xá Lợi Phất, thì mình thấy hái mận
cũng vui quá chừng. Hái mận cũng có thể là một cơ hội, một môi trường để
tưới tẩm hạt giống hạnh phúc. Tăng chúng Làng Mai ai cũng đều có kinh
nghiệm này hết.
Tất cả đều tùy thuộc vào cách ta tiếp xử với hoàn cảnh.
Nếu có khả năng hạnh phúc thì trong điều kiện nào ta cũng có thể tạo dựng
được hạnh phúc cho ta và cho những người chung quanh. Ngược lại, nếu
không tu tập và cứ nghĩ rằng hoàn cảnh này không tạo được niềm vui cho ta,
ta phải đi kiếm một hoàn cảnh khác, thì ta luôn luôn làm tăng thân cùng
tử, làm thân của một cô hồn lang thang.
Vậy thì hoàn cảnh nào là hoàn cảnh lý tưởng của ta?
Thật ra thay vì thắc mắc như vậy, ta phải tự hỏi: “Ta có khả năng có hạnh
phúc hay không?” Nếu có thì trong hoàn cảnh nào ta cũng tạo được hạnh phúc
cả. Sống tại đây ta cũng thấy vui, ở Úc hay Mỹ cũng vậy, mà ở Việt Nam ta
cũng tìm được hạnh phúc như thường. Sống ở đâu ta cũng có hạnh phúc, đó là
nhờ trong khi tu tập ta cắm rễ được trong giây phút hiện tại, và lấy tất
cả những điều kiện trong giây phút hiện tại làm nền tảng cho sự sống, cho
niềm vui của ta. Trời nắng ta vui, trời mưa ta cũng thấy hạnh phúc. Trời
mưa là một trong những yếu tố không thể thiếu trên quê hương đích thực của
tôi. Nếu sanh qua nước Bụt A Di Đà mà không có trời mưa thì thôi sẽ thấy
thiếu thốn vô cùng, tôi sẽ thấy rằng cõi tịnh độ của Ngài chưa được toàn
hảo và thế nào tôi cũng năn nỉ Bụt A Di Đà cho mưa mỗi ngày một lần, cho
nắng mỗi ngày một lần, cho cõi Bụt A Di Đà có cây chanh, cây khế, cây mận,
cây trúc, cây đào ...
Tuy nhiên, mình đâu cần phải đi đâu? Đâu cần du lịch về
tương lai hay quá khứ mới có những điều đó. Những cái thuộc về quê hương
đích thực của ta nó đang có mặt ngay ở đây và trong giờ phút này, chỉ vì
ta không có khả năng tiếp xúc với những điều kiện hạnh phúc, chỉ vì ta
đang làm thân cùng tử, đang làm người hành khất, chỉ vì ta không có khả
năng an trú trong hiện tại cho nên ta chưa thấy thoải mái đó thôi.
Vậy thì khả năng tính thương yêu (còn gọi là “tính” như
trong “Phật tính”), khả năng tính hạnh phúc, khả năng tính hiểu đều có
trong ta dưới hình thái của những hạt giống. Tu tập là cày bừa, tưới tẩm,
vun bón, để cho những khả năng tính đó nảy mầm, nở hoa, kết trái để sau đó
những hạt giống của hạnh phúc, của hiểu biết, của thương yêu sẽ rào rào
rơi xuống tàng thức và sẽ mọc mầm, lên canh xanh tốt trở lại. Khi đi trong
một khu vườn không được chăm sóc, ta có thể gặp một bông hồng rất tươi
đẹp, và ta muốn hái bông hồng đó. Tuy vậy muốn hái bông hồng, ta phải bước
qua đám gai vàng! Thường thì trong khu vườn hoang, bông hồng nở nhưng
những bụi gai cũng mọc đầy. Không thể vì gai mà ta không hái được bông
hồng. Muốn hái hoa, ta tìm cách rẽ cành gai cho đừng vướng áo, hay lấy gậy
đè nó xuống để bước tới được dễ dàng. Trong đời sống tu tập hàng ngày cũng
vậy,ta đừng nói rằng vì có chướng ngại nên ta không thể có hạnh phúc. Thật
ra là vì trong tâm ta còn giận hờn, còn buồn, nên ta không thể hưởng được
cái hạnh phúc mà đáng lý ta được hưởng. Ta phải biết xử lý cơn giận, nỗi
buồn để đừng đánh mất đóa hoa tươi thắm và niềm an lạc trong đời sống hàng
ngày. Chỉ cần khéo léo một chút là ta sẽ hái được bông hoa tươi thắm cho
ta,và cả cho những người chung quanh ta nữa.
Phải biết rằng những lúc nội kết và niềm đau của ta ngủ
yên, thì đó là thời gian thuận lợi nhất cho sự tu tập để những hạt giống
tốt, những niềm vui có cơ hội đơm hoa, kết trái, để những hạt giống của
chúng rơi trở lại trong miếng đất tâm của ta. Nếu đợi cho đến khi niềm
đau, nỗi khổ ào ào nổi lên, xâm chiếm cả vùng ý thức của ta thì lúc đó tu
tập khó hơn nhiều. Vì vậy Làng Mai ta có bài Thiền sinh ru nội kết:
Ngủ đi nội kết mông lung,
Để cho hơi thở mấy tầng vào ra,
Sớm khuya gieo hạt từ hòa,
Mai này lòng đất nở hoa cho đời,
Ngủ đi nội kết ta ơi,
Ngày mai chuyển hóa cho đời thương nhau.
Đừng lấy cớ là ta có niềm đau mà không tu tập bây giờ.
Ta phải hái đóa hoa hồng tươi thắm đó ngay ngày hôm nay.
TIẾP XÚC VỚI HIỆN TẠI LÀ TIẾP XÚC VỚI HẠNH PHÚC
Ngày xưa lúc Bụt sắp nhập diệt, thầy A Nan rất đau
buồn. Thấy vắng thầy A Nan nên Bụt hỏi, các thầy mới bạch cho Bụt biết
thầy A Nan đang đứng khóc ở sau một gốc cây. Bụt liền kêu thầy A Nan đến
và an ủi rằng: “Nếu chư Bụt quá khứ có những thị giả giỏi, thì họ cũng chỉ
giỏi bằng thầy A Nan mà thôi”. Thầy A Nan lo cho Bụt hết lòng. Kinh Du
Hành và Kinh Niết Bàn có ghi lại những câu Bụt khen thầy. Tuy nhiên, trong
những kinh khác, ta thấy thỉnh thoảng thầy A Nan cũng được Bụt nhắc nhở là
đừng có lo chuyện thị giả quá mà quên những điều mầu nhiệm đang xảy ra
chung quanh mình. Dưới mắt của người thị giả thì chỉ có Thầy thôi, còn tất
cả những chuyện khác đều như không có. Như vậy chưa phải là thị giả giỏi.
Bằng chứng là Bụt thường nhắc thầy A Nan nhìn và sống với những cái mầu
nhiệm đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Trong kinh có rất nhiều câu
nhắc nhở của Bụt:
- Này thầy A Nan, thầy có thấy những thửa ruộng trải
dài dưới chân đồi, những cánh đồng lúa chín vàng, trải tận chân trời, đẹp
mầu nhiệm như thế nào không?
- Đẹp lắm, đẹp lắm, thưa Đức Thế Tôn.
Nếu Bụt không nhắc thì thầy đâu có thấy! Rồi Bụt lại
nói:
- Cái áo Tăng Già Lê của các thầy nếu may theo kiểu của
những đám ruộng này thì chắc đẹp lắm.
- Dạ để về con bàn với mấy sư huynh, chế cách may áo
Tăng Già Lê theo mô thức của những đám ruộng đó.
Có lúc Bụt lại hỏi:
- Thầy A Nan thầy có thấy núi Linh Thứu đẹp không?
- Bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm!
Đến năm thầy trò an cư lần cuối ở thành phố Vaisali,
Bụt nói:
- Thành phố Vaisali đẹp quá hả thầy A Nan?
- Dạ bạch Đức Thế Tôn đẹp lắm.
- Cái đền này đẹp không?
- Dạ đẹp lắm.
- Cái đền kia cũng đẹp phải không?
- Da bạch Đức Thế Tôn cũng đẹp lắm.
Khi tới vùng có suối nước nóng, Bụt cũng khen và thầy A
Nan cũng nhớ những vùng có suối nước nóng là rất đẹp. Đức Thế Tôn luôn
luôn nhắc nhở như vậy vì Ngài thấy thầy A Nan mải lo cho Bụt mà quên hái
những bông hoa tươi thắm trong đời sống hàng ngày.
Tại Làng Mai những vị đã từng làm thị giả cho thầy,
chắc đã thấy thầy học được rất kỹ bài học này của Bụt. Khi nào thầy thấy
ngôi sao mai lấp lánh trên nền trời thì thầy nói “Con! Con có thấy ngôi
sao mai lấp lánh kia không?” Hay “Con có thấy hoàng hôn rực rỡ hay không?”
và luôn luôn thầy nhắc như vậy. Đó là một sự thực tập. Ta phải sống như
thế nào để những hạt giống của hạnh phúc được tưới tẩm trong ta. Khi được
tiếp xúc với hạnh phúc mà ta có khả năng tiếp nhận được hạnh phúc thì ta
mới có thể giúp được sư em, sư chị, sư anh và sau này, học trò của ta. Cái
đó gọi là “La culture de là joie”, “La culture du bonheur”, tu tập hạnh
phúc, tu tập niềm vui, tu tập thương yêu.
Mình chỉ có thể làm được những điều đó khi mình có cái
năng lượng gọi là chánh niệm. Nếu không có chánh niệm thì làm sao thấy
được núi Linh Thứu đẹp? làm sao thấy được trời mưa là đẹp? làm sao nhận ra
mưa là một phần phải có của quê hương đích thực của ta, và làm sao thấy
chính ta đang ở trong quê hương đích thực, không cần phải đi tìm ở đâu cả?
Thở vào tôi biết là trời đang mưa, thở ra tôi mỉm cười với mưa, thở vào
tôi biết mưa là một phần phải có của quê hương đích thực của tôi, thở ra
tôi mỉm cười với quê hương của tôi hiện đang có mặt.
Cái thiên đường mình nghĩ rằng đã mất, ai sẽ giúp mình
khôi phục được nó? Chánh niệm! Chánh niệm có thể giúp khôi phục lại cái
quê hương mình đã đánh mất. Muốn phát ra cái năng lượng chánh niêm đó,
chúng ta cần có một bầu không khí, một môi trường để tu tập cùng với tăng
thân.
NGỒI CHO YÊN, ĐỨNG CHO VỮNG
Chúng ta thường có khuynh hướng muốn đi tìm hạnh phúc
và phủ nhận, chối từ cái quê hương đang có trong hiện tại vì nghĩ rằng
hiện tại chỉ là khổ đau. Ta nghĩ hạnh phúc chỉ có thể có được ở trong
tương lai và quê hương đích thực chỉ có mặt trong quá khứ mà bây giờ thì
đã mất rồi! Cái khuynh hướng trốn chạy và chối từ đó đã trở thành một tập
khí, nên bây giờ ta không đứng yên, không ngồi yên được nữa, ta chỉ có thể
chạy thôi! Người Việt thường nói ngồi như ngồi trên đống lửa! là vì
ta đã mất cái khả năng gồi yên, cái khả năng an tọa. Xin mời sư huynh an
tọa, nghĩa là mời anh ngồi xuống trên một đóa sen, đừng ngồi như ngồi trên
một đống lửa. Người không tu tập không tu tập thì không có khả năng ngồi
yên. An tọa có nghĩa là ngồi yên và ngồi yên an lạc thì đó là ngồi trên
một đóa sen. Dầu ngồi trên một tảng đá, dưới một gốc cây, hay trên một đồi
cỏ, nếu ta biết an tọa thì chỗ ngồi đó sẽ biến thành một đóa liên hoa. Ta
thường vẽ Bụt ngồi trên đóa sen là vì Bụt biết an tọa. Bụt ngồi ở đâu cũng
là ngồi trên đóa hoa sen là vì Ngài am tường nghệ thuật an tọa.
Khi về tới quê hương là ta đã trở về nơi ta thương yêu
nhất, thoải mái nhất, thì ta còn phải đi tìm gì nữa? Gia đình Phật tử Việt
Nam có bài hát “Kính mến Thầy”, trong đó có một câu rất ngộ:
Hôm nay Thầy về đây,
Chúng con xin kính chào Thầy,
Trong giờ phút vui này,
Chúng con biết làm gì đây?
Thương thầy và được gặp thầy thì mình ngồi yên, an tọa
với thầy là chuyện phải làm. Cái gì mà thương mến nhất, điều gì khiến ta
cảm thấy thoải mái nhất, khi đã đạt rồi thì ta đâu cần làm gì nữa? Tại sao
gặp được người mình thương, tới được chỗ ta coi là quê hương mà còn phải
lăng xăng “không biết làm gì đây”? Vì vậy tôi đề nghị với các cháu sửa câu
này lại là:
Trong giờ phút vui này,
Chúng con quyết lòng ngồi đây.
Người Việt có nhiều câu rất hay để diễn tả những người
không có khả năng đi đứng, nằm, ngồi yên ổn. Ví như trong truyện Kiều:
Vậy nên những chốn thong dong,
Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng,
Ma đưa lối, quỉ dẫn đàng,
Lại tìm những chốn đoạn tràng mà đi.
Ở những chỗ thong dong như mái chùa, như tại Làng Mai,
xóm Thượng, xóm Hạ, mà mình vẫn không an trú được, thì đúng là ta bị ma
quỉ nó xúi đi về những nẻo đường tăm tối, những nẻo tạo nên trạng huống
đau buồn đứt ruột. Những nẻo đường đó do đâu mà có? Chính là do những tập
khí năm xưa, và tập khí đó là ma, là quỉ.
Một câu ví von khác là “Như bắt cóc bỏ vào đĩa!” Con
cóc sống mà đạt lên cái đĩa thì nó ngồi yên được bao lâu? Nếu ta ngồi
không yên, đi không vững ngay tại những nơi đáng lý ta phải có an lạc, thì
đó là những năng lượng tiêu cực của tập khí, những năng lượng phát sinh từ
tư tưởng ta đã đánh mất quê hương, đánh mất thiên đường, và từ ý tưởng
rằng quê hương ấy chỉ có trong quá khứ hoặc trong tương lai. Nếu chuyên
tâm và khôn khéo tu tập, ta có thể tạo được, khôi phục lại được cái quê
hương ấy ngay bây giờ và ở đây.
ĐI CHO THẢNH THƠI
Giới bình dân mô tả những người không thể đi một cách
thong thả, thảnh thơi bằng những câu rất hay như “chân đi không dính đất”,
“chạy như chó đạp lửa”. “Đi mà chân không dính đất là đi mà không biết
mình đi, là đi như ma đi, còn chó mà đạp phải lửa thì nó chạy cuống quít,
vừa chạy vừa kêu la, tâm thần tán loạn!
Cái khả năng có thể tìm ra quê hương, an trú trong quê
hương, hái được bông hồng trong quê hương, nghe được tiếng mưa trên quê
hương là một hạt giống tích cực. Cái tập khí trốn chạy, làm thân cùng tử
là một loại năng lượng tiêu cực. Nhờ tu tập chánh niệm, mỗi khi hạt giống
tiêu cực này phát hiện, ta nhận diện được nó, mỉm cười với nó và nói “biết
rồi, ta biết ngươi rồi”. Ngay giây phút ta nhận thức được cái tập khí đó,
thì nó không còn làm gì được ta nữa, tự nhiên ta an trú được liền trong
chánh niệm. Có rất nhiều kinh đề cập đến việc ma vương xuất hiện trong
thời gian Bụt ngồi dưới cội Bồ Đề, nhưng mỗi lần ma vương xuất hiện, Bụt
biết là ma vương và Ngài nói “Ta biết ngươi là ma vương”, thì ma vương vội
vàng biến đi. Những bậc tu hành thâm hậu họ có khả năng ngồi yên, ngồi yên
trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hòa Thượng Thích Quảng Đức là một điển hình,
Ngài đã ngồi yên trên tòa sen giữa đường Phan Đình Hùng trong khi lửa bốc
cháy, thiêu đốt nhục thân của Ngài. Đó là một hình ảnh có thể dùng để cực
tả cái khả năng an trú trong hiện tại của một con người. Vì vậy mà ta gọi
Ngài là Bồ Tát Quảng Đức.
Kinh Samiddhi dạy ta những phương pháp tu tập để tận
hưởng được nguồn hạnh phúc có ngay trong giây phút hiện tại. Kinh cũng dạy
ta đừng chạy trốn, đừng lìa bỏ quê hương mà ta đang có để đi tìm một quê
hương, một thiên đường, một bóng dáng của hạnh phúc vốn chỉ là ảo mộng mà
thôi. Ta có thể nghiên cứu Kinh Samiddhi rất sâu để tìm được giáo lý mầu
nhiệm của Bụt tiềm tàng trong từng câu, từng chữ trong Kinh.
BỐN LÃNH VỰC CỦA CHÁNH NIỆM
“Niệm” có nhiều nghĩa. Nghĩa đầu tiên là nhớ lại. Trong
cách viết chữ Hán, phần trên của chữ niệm là chữ kim, có nghĩa là bây giờ,
phần dưới là chữ tâm, tức là cái tâm của ta. Vậy trước hết Niệm có nghĩa
là cái tâm của ta ngay trong lúc này. Một điều gì ta đã quên, bây giờ nó
trở về trong giây phút hiện tại thì gọi là nhớ. Ví dụ gặp lại một người mà
ta đã gặp cách đây 20 năm, và đã quên tên người ấy. Tuy nhiên “cái hạt
giống tên” của người đó vần còn trong tâm ta, cho nên sau khi tìm kiếm và
bươi xới tàng thức, thì hạt giống đó nảy mầm và ta nhớ lại tên người đó.
Đó gọi là niệm, ức niệm. Nói về nhớ, ta có nhiều thứ và nhiều cách
để nhớ. Chẳng hạn ta nhớ những việc đã qua như nhớ đến những khổ đau,
những kỷ niệm vui buồn trong quá khứ, và trong khi nhớ ta có thể đánh
mất mình, có thể chìm đắm trong những kỷ niệm khổ đau, hay hạnh phúc
trong quá khứ. Cái đó cũng là niệm, nhưng hoài niệm. Trong giáo
pháp Bụt dạy, những sự nhớ nghĩ như vậy là tà niệm, vì ta tự đánh
mất mình trong lúc nhớ, nên nó không phải là chánh niệm.
Khi nghĩ tới tương lai, ta lo lắng, thao thức, chìm đắm
trong tương lai thì điều đó cũng là một loại niệm, nhưng nó được gọi là
vọng niệm.
Ngay cả trong hiện tại nếu ta bị lôi cuốn bởi những
hình sắc, những âm thanh, tâm ta không tự chủ được, không an trú được
trong cái thấy chân thật về thực tại, thì tuy thuộc hiện tại, nhưng nó
cũng không phải là chánh niệm. Ví dụ khi ăn bánh hay cà rem, ta có hạnh
phúc trong khi ăn, Nhưng nếu quên rằng ăn những thứ đó nhiều quá, sẽ nguy
hại cho thân và tâm của ta, thì tuy đang sống trong hiện tại, nhưng ta
đang không sống trong chánh niệm, mà đang sống trong thất niệm. Cho
nên không phải khi tiếp xúc được với những gì trong hiện tại, thì gọi là
chánh niệm. Tiếp xúc mà bị lôi cuốn bởi những cái trong hiện tại thì đó là
tà niệm. Bởi chánh niệm cho ta thấy rằng ăn cà rem nhiều như vậy thì nguy
quá. Ăn nửa ly hay một ly mà biết rằng ăn nửa ly hay một ly thì không
đến nỗi nào tức là lúc đó ta có thực tập quán ăn uống chừng mực. Nhưng
ăn tới ly thứ hai mà vẫn không có sự soi sáng, thì rõ ràng ta đang bị cà
rem nó kéo đi. Như vậy tuy gọi đang sống trong hiện tại, nhưng kỳ thực ta
đang bị hiện tại kéo đi, ta không có tự chủ. Điều đó gọi là thất niệm.
Thất niệm là đánh mất chánh niệm. Chánh niệm là không bị lôi cuốn và chìm
đắm trong quá khứ, không bị lôi cuốn và chìm đắm trong tương lai, cũng như
không bị lôi cuốn và chìm đắm trong hiện tại. Sống mà có sự tỉnh thức thì
mới gọi là sống trong chánh niệm.
Chánh niệm có bốn lãnh vực: lãnh vực của thân, của thọ,
của tâm, và của pháp. Khi những gì đang xảy ra trong bốn lãnh vực này mà
ta biết được, thấy được, thì gọi là ta đang có chánh niệm.
* Khi biết những gì đã xảy ta torng cơ thể của ta, ví
dụ khi ngồi, ta biết ta ngồi; khi cúi xuống, biết ta cúi xuống; khi đi
biết ta đi; khi đau bụng, biết ta đau bụng; gan yếu, biết gan ta yếu, thì
những cái thấy và biết đó được gọi là thân niệm. Quán chiếu về cơ
thể và về sự vận hành sinh lý của cơ thể thì gọi là thân hành niệm.
Kinh Thân Hành Niêm dạy rất rõ về những phép quán chiếu này.
* Khi nhận diện được những cảm thọ của ta như vui,
buồn, dễ chịu, khó chịu, hay không vui buồn, không dễ chịu, không khó chịu
thì gọi là thọ niệm. Thọ là một trong 51 tâm hành của ta. Trong
tàng thức ta có 51 hạt giống, gọi là 51 tâm hành. Trong đó Niệm là một,
Thất Niệm là hai, Thọ là ba, Tưởng là bốn, Xúc là năm v.v... Và Thọ Thọ
được liệt kê riêng ra như một đối tượng đặc biệt của Chánh niệm vì Thọ là
một tâm hành rất quan trọng.
* Còn 50 loại tâm hành khác được liệt kê vào phạm trù
thứ ba gọi là Tâm, còn gọi là tâm hành. Khi buồn, khi vui,
mà ta biết ta đang buồn, đang vui thì cái biết đó gọi là tâm niệm.
Quán chiếu về tâm tư và về sự vận hành tâm là gọi là tâm hành niệm.
* Lãnh vực thứ tư là Pháp, tức là những đối tượng
của tâm hành. Có tất cả là 51 tâm hành. Mỗi tâm hành đều có đối tượng
riêng của nó, nghĩa là ta cũng có 51 pháp. Ví dụ giận là một tâm hành.
Giận có đối tượng của giận, giận ai hay giận điều gì? Như vậy “ai” hay
“điều gì” là Pháp. Niệm cũng vậy. Niệm là nhớ. Nhớ thì phải nhớ ai hay là
nhớ cái gì. “Ai” hay “cái gì” là đối tượng của Niệm.
Ta phải nắm cho vững những điều này. Để dễ hiểu ta dùng
hình vẽ một trái quít có năm múi. Trái quít này có thể đem ví với năm yếu
tố làm ra con người (năm uẩn). Múi đầu là Sắc, nghĩa là thân của ta. Múi
thứ hai là Thọ, tức là những cảm thọ của ta (dễ chịu, khó chịu, và trung
tín). Múi thứ ba là Tưởng (tri giác cũng là một trong 51 tâm hành). Múi
thứ tư là hành, có nghĩa là tâm hành, tiếng Pháp là “Formations mentales”,
tiếng Anh là “Mental formations”, nó gồm 49 tâm hành trên tổng số 51 tâm
hành. Tuy hai tâm hành kể trên (Thọ và Tưởng) cũng thuộc về phạm trù thứ
tư, nhưng vì chúng quan trọng quá, nên Bụt liệt riêng thành một dòng hiện
tượng để quán chiếu, và 49 tâm hành còn lại thì gom vào một mối và gọi
chung là hành. Múi thứ năm là Thức, thức ở đây là tàng thức, nó chứa đựng
tất cả những hạt giống của 51 tâm hành. Vì vậy tàng thức được ví
với nhà kho, còn ý thức được xem như phòng khách. Trong nhà kho chúng ta
chứa rất nhiều đồ đạc. Thọ, Tưởng và Hành thường xuất hiện trong phòng
khách. Khi ta buồn, vui, thương, ghét nhớ, quên v.v... thì tất cả những
tâm hành đó phát hiện trên ý thúuc. Khi không có mặt trong phòng khách,
chúng nằm nghỉ ở tàng thức dưới dạng những hạt giống. Vì vậy ở đây có
nghĩa là tàng thức, và thọ, tưởng, hành là nội dung của ý thức.
Thường trong phòng khách chỉ có một người khách, nhưng
đôi khi cũng có hai, ba người tới thăm cùng lượt. Tuy vậy không khi nào cả
51 “người khách tâm hành” cùng vào ngồi một lần trong đó. Lý do là khi
giận thường ta không thương, khi thưong thường ta không giận, khi quên ta
không nhớ, khí nhớ ta không quên. Điều đó có nghĩa là trong khách ta
thường chỉ có “một chàng khách” thôi. Chàng có thể làm cho phòng khách vui
hơn hay tan nát hoặc ngổn ngang là tùy vào bản chất của chàng khách đó.
Khi một người khách dễ thương, một người khách có hạnh
phúc tới thăm thì ta có hạnh phúc, vì vậy mà ta nên tìm đủ cách để giữ
người đó lại, ta cầu cho trời mưa để người đó đừng về, (Vũ vô kiềm tỏa
năng lưu khách). Ngược lại nếu lỡ mời một người khách không dễ thương vào
nhà, ta phải biết cách làm cho người đó đừng tạo ra khung cảnh sầu đau, u
ám. Một trong những phương pháp để tránh khó khăn là ta nên tỉnh táo để
mời thêm một người bạn biết tiếp khách, “Người bạn Chánh Niệm” tới để soi
sáng, vỗ về và chăm sóc người bạn kia. Cũng như khi đứa con khóc thì bà mẹ
dù đang ở dưới bếp cũng chạy lên ẵm lấy con. Vì vậy mỗi khi ta buồn chán,
giận ghét ta phải mời người bạn chánh niệm lên để ôm lấy cái buồn, cái
giận, cái ghét, cái chán đó mà an ủi, chuyển hóa chúng. Tu tập nghĩa là
luôn luôn mời chánh niệm lên để ý thức được ai đang ở trong phòng khách,
và phải tiếp xử như thế nào để cho cái phòng khách của ta nó đẹp, nó vui
hầu ta luôn luôn có hạnh phúc. Cũng cùng trong mục đích đó mà ta niệm
Bụt. Niệm Bụt là gì? Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng tức là chánh niệm! Vì
biết phòng khách của ta cần có những người khách quí như vậy nên ta niệm
Bụt tức ta mời người khách có giá trị bậc nhất vào trong phòng khách của
ta. Tại vì ta biết rằng nếu người đó ngồi lại lâu trong phòng khách của ta
thì có lợi lắm. Mỗi phút có mặt, người đó sẽ gieo vào tàng thức của ta vô
số hạt giống thương yêu, hiểu biết. Cho nên niệm Bụt tức là mời vào
phòng khách của ta một người khách hay nhất đẹp nhất, hiền nhất, dễ thương
nhất để ta được lợi lạc.
BỐN Ý NGHĨA CỦA NIỆM
Như đã nói ở trên, trước hết niệm có nghĩa là nhớ. Niệm
là một trong 51 tâm hành và được gọi là “Tâm sở Niệm”. Tâm sở niệm có thể
là niệm.
Kế đến, niệm còn có nghĩa là chánh niệm, nó tương đương
với “Đức Bụt tiềm tại trong ta”. Đây chính là Phật tánh ở trong ta, và là
một trong năm lực.
Nghĩa thứ ba của niệm là khoảng thời gian ngắn nhất,
như sát na. Ví dụ trong Văn Cảnh Sách Qui Sơn có câu:
Niệm niệm tấn tốc, nghĩa
là sát na này nói theo sát na kia, thời gian đi qua rất mau.
Chuyển tức tức thị lai sinh,
thay một hơi thở là đã đi sang đời mới rồi,
Hà nại yến diên không quá,
vì vậy không nên chần chờ để cho thời gian trôi qua.
Trong mỗi niệm có thể có những cảm thọ, nhiều tri giác.
Thành ra niệm còn có nghĩa là khoảng thời gian chứa đựng những cảm thọ,
những tri giác.
Thứ tư, niệm còn có nghĩa là tà niệm. Tà niệm tức là
tri giác sai lầm. Nghĩa này mới phát sanh, không phải có từ thời Bụt còn
tại thế. Vào đời Đường, trong khi Thiền Tông rất hưng thịnh, có hai thầy
tên là Vô Tướng và Vô Trú. Thầy Vô Tướng ở Chùa Tịnh Chúng (Tịnh Chúng
Tự), và thầy Vô Trú ở Chùa Bảo Đường, hai thầy cực lực tuyên dương giáo lý
gọi là “Vô Niệm”. Từ đó trong Thiền Môn chữ vô niệm trở thành một danh từ
rất là quan trọng. Vô niệm tức là vô vọng niệm, nghĩa là không có vọng
niệm. Vọng có nghĩa là sai lầm. Đáng lý phải nói là vô vọng tưởng
vì vọng tưởng là tri giác sai lầm, nhưng các thầy đã dùng chữ vô vọng
niệm, cho nên đã tạo ra những lầm lẫn cho con cháu về sau. Ví dụ có
người nói rằng tu thiền cao rồi thì không cần chánh niệm nữa, tại vì chánh
niệm cũng vẫn là niệm! Điều đó chứng tỏ người đó không biết chữ “niệm”
dùng trong Thiền học là không cùng nghĩa với chữ “niệm” trong danh từ
chánh niệm. Chánh niệm là tất cả vốn liếng của Bụt, chánh niệm là sự tỉnh
thức. Nó không phải là khái niệm, nó không phải là vọng niệm. Không có
chánh niệm thì không có sự tỉnh thức, cho nên khi nói chánh niệm cũng là
niệm, là đã không phân biệt được sự khác nhau giữa chánh niệm và vọng
niệm.
Như vậy ta có hai danh từ: Tưởng và Niệm. Tưởng là một
tri giác, tiếng Pháp là “con cept” hay là “idée”, nghĩa là cái ý niệm của
chúng ta. Có lẽ sự lầm lẫn cũng từ chỗ đó mà ra. Ví dụ bên Nhật Bản có
ngọn Núi Phú sĩ (Mount Fuji). Núi Phú sĩ rất cao và đỉnh núi có tuyết phủ
quanh năm. Nếu chưa tới đó thì cái tự thân, cái chân như của núi Phú sĩ ra
sao ta sẽ không biết. Nếu đã tới đó rồi ta cũng chỉ biết một phần nào về
núi Phú sĩ thôi, chứ không thể nào ta có một cái thấy, một tri giác hoàn
toàn về núi Phú sĩ được. Làng Mai cũng vậy. Nếu tới thăm Làng một ngày ta
cũng có thể có ý niệm về Làng Mai, nhưng cái ý niệm đó không phải là Làng
Mai thật sự, và nó rất khác với thực tại của Làng Mai. Chúng ta đã từng
nghe nói tới núi Phú sĩ. Thầy Nhất Hạnh đã leo núi Phú sĩ, nhưng cái ý
niệm của Thầy khác hơn cái ý niệm về núi Phú sĩ của Sư chú Vô Ngại. Thầy
Nhất Hạnh biết rất rõ rằng, tuy thầy đã leo lên núi Phú sĩ, nhưng cái
biết về núi Phú sĩ của thầy nó vẫn còn là một ý niệm, nó chưa phải là núi
Phú sĩ tự thân, chưa phải là chân như của núi Phú sĩ. Vì vậy cho nên
cái ý niệm, cái tri giác của ta về một thực tại, không phải là thực tại
đó. Nếu bị kẹt vào trong những tri giác, những ý niệm đó thì ta đánh mất
thực tại. Tu học là phải vượt thoát những ý niệm. Vì vậy mới có giáo lý vô
niệm, nghĩa là phải vượt thắng hết tất cả những ý niệm về thực tại, thì ta
mới đạt tới chân như. Cho nên Vô Niệm là giáo nghĩa Thiền Tông rất trọng
yếu từ đời Đường cho đến bây giờ. Nói tới Thiền tức là nói tới giáo lý Vô
Niệm. Trong cuốn Nẻo Vào Thiền Học tôi cũng có nói về giáo lý Vô Niệm, mà
tôi dịch là “ The non-conception way” (Con Đường Vô Niệm).
Ý niệm của con mọt về cái bàn này nó khác với ý niệm về
cái bàn của con người. Con mọt có thể cho cái bàn này là kho thực phẩm,
nhưng đối với con người thì cái bàn này là một nơi có thể để bình bông hay
bình trà. Vì vậy, ý niệm không phải là thực tại, nếu mình cứ khăng khăng
cho ý niệm đó là thực tại thì mình bị kẹt vào “niệm” và mình không bao giờ
có thể đạt tới cái chân như của vạn pháp cả. Cho nên con đường của
Thiền Tông là con đường Vô Niệm, con đường diệt trừ tất cả những ý niệm
trong tâm ta. Vô niệm ở đây có nghĩa là vô vọng niệm, tại vì cái ý
niệm của mình dù có chính xác hơn cái ý niệm của người khác, nó vẫn
chứa chất một phần tính cách do tưởng do vọng ở bên trong nó. Ví dụ ta
dã nhận ra dây là sợi dây chứ không phải là con rắn, tức là ta đã xóa bớt
rất nhiều ảo vọng ở trong tâm rồi. Tuy vậy ta vẫn còn những si mê đối với
sợi dây đó; Không biết sợi đây làm bằng chất gì, ai để ở đó? Và ta tưởng
sợi dây đó là một thực thể độc lập đối với những hiện tượng khác. Nói rõ
ra, dầu ta cẩn thận bao nhiêu đi chăng nữa, thì trong cái niệm, cái tri
giác của ta về một thực tại vần còn những yếu tố sai lầm. Vì vậy khảo
cứu về thực tại mà căn cứ vào ý niệm thì không bao giờ có thể đạt tới chân
như của thực tại cả, phải đi theo con đường vô niệm, tức là con đường vượt
thoát ức tưởng phân biệt. Đối với tôi, giáo lý này tuy thâm sâu nhưng
có tính cách lý thuyết, không thực dụng lắm, và còn có thể nguy hiểm cho
người hành trì.
Như vậy, theo định nghĩa của giáo lý này, vô niệm tức
là vô vọng niệm, chứ không có nghĩa là vô chánh niệm (vì chính nhờ chánh
niệm nên ta mới biết được điều đó là vọng niệm). Khi một điều gì chánh mà
ta biết là chánh, một cái gì vọng mà ta biết là vọng, thì đó là chánh
niệm. Tuy vậy, trong truyền thống thiền này, hành giả thường có nhận thức
hết sức sai lầm; họ phân biệt vọng niệm và những cái không phải là vọng
niệm. Sự sai lầm bắt nguồn từ chỗ họ cho rằng những cái không vọng
niệm cũng có thể là vọng niệm. Ví dụ khi đang ngồi thiền mà ta nghĩ
tới tới hủ tiếu thì nó là vọng niệm. Có phải vậy không? Đang ngồi thiền,
đang thở, vào, ra, sâu, chậm, tại sao lại nghĩ tới hủ tiếu? Vậy thì nghĩ
đến hủ tiếu trong lúc này là vọng niệm. Nhưng khi ta đưa chánh niệm về và
nói rằng: tôi đang thở vào, tôi biết tôi đang nghĩ tới hủ tiếu, thì tự
nhiên cái niệm đó trở thành chánh niệm. Nghĩ tới hủ tiếu và biết rằng mình
đang nghĩ tới hủ tiếu là chánh niệm rồi. Thành ra cái vọng, cái chân
không không phải là những thực tại khách quan, mà là những thực tại chủ
quan. Nghĩ tới hủ tiếu hay là nghĩ tới danh, tới lợi, tới sắc thì ai
cũng cho đó là vọng niệm, không ai phản đối, cãi bàn. Nhưng sự thực là khi
tới Bụt, tới Pháp, tới Tăng mà ta không có nhận thức chính xác về Bụt, về
Pháp, về Tăng thì dù rằng ta đang nghĩ tới Bụt, đó vẫn là một vọng niệm
như thường! Ví dụ ta nghĩ đến Bụt như một vị thần linh ban phúc giáng họa,
Bụt như là một người có thể hối lộ được, chỉ cần một ít chuối, một ít xôi,
và một ít nhang đèn là Bụt có thể tha thứ cho ta, Bụt có thể giúp cho con
ta thi đậu, thì cách tưởng niệm tới Bụt đó là một vọng niệm, một tư tưởng
sai lầm. Khi giảng Kinh Hoa Nghiêm cũng vậy, nếu hiểu Kinh Hoa Nghiêm sai
thì ta giảng Kinh Hoa Nghiêm sai. Cho nên đừng nghĩ rằng nghĩ tới ma mới
là vọng niệm, còn nghĩ tới Bụt thì luôn luôn là chánh niệm! Nghĩ tới thầy
cũng vậy. Thầy không phải là đối tượng chánh hay vọng, mà cái tri giác
của mình về Thầy nó tạo ra cái tính cách chánh hay vọng. Điều này tôi
đã giảng trong một khóa tu vừa rồi.
Khi đang có vọng niệm mà ta nhận diện được nó thì tự
nhiên vọng niệm đó biến đi và chánh niệm liền có mặt. Thành rra nếu vọng
niệm không có, thì tất nhiên phải có chánh niệm. Vì vậy những câu như
“biết vọng không theo” là những câu khuyên thừa. Khi ta biết vọng là vọng
rồi thì nó tan đi mất, đâu còn vấn đề theo hay không theo nữa!
Nguy hiểm hơn nữa là khi mình bị kẹt vào một ý niệm mà
mình cho là “chân như”, là “không", là “vô ngã”, hay một ý niệm về Bụt, về
Pháp, về Tăng. Rất nhiều người trong ta đang bị kẹt vào những ý niệm như
vậy. Kinh Bảo Tích dạy rằng khi kẹt vào “ý niệm có”, ta có thể dùng “ý
niệm không" để tháo gở, nhưng khi bị kẹt vào cái “ý niệm không" thì ta
đành bó tay! Thành ta ý niệm về danh, về lợi, về sắc đã là nguy hiểm, mà ý
niệm về Chân Như, Không, Vô Ngã, về Bụt, Pháp, Tăng, và về Sinh, Diệt, Vô
Thường lại càng nguy hiểm hơn. Tất cả những ý niệm này đều có thể có tính
chất vọng bên trong chúng. Khi nói “biết vọng không theo”, ta nghĩ “vọng”
là danh, là lợi, là tài, là sắc, chứ ta không biết rằng chân như cũng có
thể là vọng, và vô ngã, Bụt, Pháp cũng đều có thể là vọng, “vọng” là vì
cái nhận thức của ta mang theo tính chất hư vọng.
Nói chánh niệm cũng vẫn là niệm thì thật là sai lầm. Ta
phải nhớ rằng vô niệm chỉ có nghĩa là vô vọng niệm, và nó cũng có nghĩa là
vô tưởng. Vô tưởng ở đây có nghĩa là được tự do đối với tri giác. Vì tri
giác cũng có thể sai lầm, cho nên ta phải luôn luôn thực tập câu thần chú
“Are you sure?”, “Ta có chắc tri giác của ta là chính xác hay không?”.
Vốn liếng của người tu là cái năng lượng của chánh
niệm, một nguồn năng lượng giúp ta có mặt, tỉnh táo để thấy được cái gì
đang xảy ra để giữ được sự tự do của ta và không bị cái đang xảy ra cuốn
theo. Vì vậy, phương pháp tu tập chánh niệm là phương pháp an toàn và
cụ thể nhất.
BA LOẠI NĂNG LƯỢNG CỦA CHÁNH NIỆM
Trưóc hết, năng lượng của chánh niệm giúp cho ta có
mặt đích thực bây giờ và ở đây, nhờ vậy mà ta có thể trở về với quê
hương của mình được. Chánh niệm tức là phương tiện chuyên chở, giúp ta trở
về quê hương của mình. Đã về, đã tới, và về được tới tới được là nhờ chánh
niệm.
Năng lượng thứ hai của chánh niệm là công nhận sự có
mặt của đối tượng. Nếu không có mặt thì làm sao ta công nhận sự có mặt
của kẻ kia được? Phải có mặt trước thì ta mới nói được rằng tôi biết anh
đang ngồi đó. Thở vào, tôi biết là tôi có mặt ở đây, thở ra tôi biết là
anh đang ngồi đó, trước mặt tôi. Nội một hơi thở như vậy thôi đã có thể
đem lại cái khả năng tỉnh thức, hiểu biết, thương yêu rồi. Mà thương yêu
là gì? Thương yêu là công nhận sự có mặt của con sâu, tờ lá, mặt trăng,
cây khế, hay của bà mẹ, người anh, người chị.
Nếu không có mặt thì làm sao ta bước được bước thứ hai
là công nhận sự có mặt của kẻ kia? Cho nên khi nhìn lên mặt trăng rằm mà
nhìn bằng con mắt có năng lượng của chánh niệm thì mình thấy được mặt
trăng tròn, sáng và mát. Mà sở dĩ mặt trăng có mặt một cách hiện thực, rõ
ràng, tươi mát, là tại vì ta có mặt. Ngược lại nếu ta đánh mất ta trong sự
lo nghĩ, giận hờn thì làm sao mặt trăng đó tươi mát được? Có mặt đích thực
mới thấy được ngôi sao mai, và mới nói được với thị giả: “Này con, con có
thấy ngôi sao mai không?” Người học trò của mình có mặt, và ngôi sao trên
trời cũng có mặt, là nhờ mình có mặt. Cho nên khi ta vun bón hạt giống
chánh niệm, thì hạt giống chánh nhiệm tạo ra một nguồn năng lượng để giúp
ta có mặt đích thực.
Hòa Thượng Thích Quảng Đức đã đốt lên lên ngọn lửa
chánh niệm cho toàn thế giới, để cho mọi người thấy rằng đau thương của
Việt Nam đang có mặt! Nếu không nhờ ngọn lửa chánh niệm, có mấy ai nhận
diện được cái đau thương bốc cháy của chiến tranh Việt Nam? Chúng ta cũng
vậy, nếu cái mặt trăng tròn kia, nếu cây khế kia không có mặt là tại vì
chúng ta không đốt đuốc chánh niệm có mặt trong ta. Chúng ta chỉ cần thở
vào, thở ra, là làm cho chúng ta đích thực có mặt, thì tự nhiên cây khế,
cây chanh đó, người Sư anh, Sư chị đó, mặt trăng ngôi sao mai đó sẽ hiện
ra. Bụt dạy cái này có là vì cái kia có, nếu ta không có mặt thì không có
gì hết. Khi chúng ta thương yêu, khi chúng ta biết trân quí sự sống, trân
quí những cái mầu nhiệm của sự sống, là chúng ta đã có năng lượng của
chánh niệm. Khi người ta thương đang khổ đau, ta ngồi đó với tất cả sự mặt
của ta và nói rằng: “Tôi biết anh đau khổ, vì vậy cho nên tôi đang ngồi
bên anh”. Như vậy, dù mình chưa làm gì hết, mình chỉ cần có mặt thôi, thì
cái đau khổ của người kia đã vơi bớt đi rồi. Chỉ có chánh niệm trong một
sát na thì hai cái phép là này (mình có mặt đích thực thì cái kia có mặt
đích thực) hiển bày ra liền. “Cái kia” có thể là hạnh phúc mà cũng có thể
là khổ đau, cả hai trường hợp đều cần sự có mặt đích thực của ta. Nếu có
mặt trước một sự mầu nhiệm thì ta làm cho sự mầu nhiệm đó hiện rõ ra, tỏa
chiếu, và mầu nhiệm hơn lên. Như mặt trăng, như hoa anh đào, như người
mình thương. Ngược lại nếu ta không có mặt thì cái đó, người đó cũng không
có mặt, hoặc có cũng như không. Truyện Kiều có hai câu do chính Kiều nói:
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?
Đôi ta là ai? là mình và mặt trăng. Khi nhìn mặt trăng
tròn mầu nhiệm đang đi trên thái không mà mình thấy được sự mầu nhiệm đó
là nhờ mình có năng lượng của chánh niệm, mình có mặt đích thực. Có những
người sống 70 năm nhưng chưa bao giờ nhìn mặt trăng với chánh niệm cả. Cái
mặt trăng của họ luôn luôn lu mờ là vì chính họ cũng lu mờ! Cho nên chỉ
một giây phút có mặt cho đích thực và sâu sắc, là cả vũ trụ của sự sống có
mặt đích thực và sâu sắc. Thành ra nhìn mặt trăng mà mỉm cười: “Bây giờ rõ
mặt đôi ta” là mình biết rằng trong tương lai mình sẽ không hối hận vì
mình đã thấy mặt trăng rồi, mình đã từng có mặt và đã từng thấy mặt trăng
trong cái chiều sâu thẳm của thực tại rồi.
Bây giờ trời đang mưa. Trời mưa cũng là một thực thể
rất mầu nhiệm, không kém gì trời nắng hay mặt trăng tròn. Trời mưa là một
phần không thể thiếu trong quê hương ta. Nếu ta có mặt thì trời mưa sẽ có
mặt, và ta sẽ tiếp xúc được với trời mưa một cách rất sâu sắc. Nếu ta
không có mặt, thì trời mưa cũng như không mưa!
Ngày xưa có một Thiền sư chỉ vì ngắm hoa đào, thấy được
hoa đào mà chứng ngộ. Một hôm tôi tình cờ đi xuống vườn Mai ở Xóm Hạ trong
mùa hoa mai nở (nếu quí vị ở lại được tới đầu tháng tư thì sẽ thấy những
đồi mai đầy hoa trắng rất đẹp). Khi đi giữa những hàng mai một mình, nhìn
những bông hoa trắng nõn nà, tôi chợt hiểu tại sao vị Thiền sư đó chỉ cần
nhìn hoa đào mà chứng ngộ. Là vì khi cái tinh lực của chánh niệm tràn đầy,
hùng hậu, thì một bông mai có thể làm hiển lộ được cả cái Pháp thân mầu
nhiệm, cũng như một cách hoa hồng, một mặt trăng tròn, và quê hương đích
thực, niết bàn của hiện tại có đó, nhưng vì ta chỉ biết chạy, chỉ biết đi
tìm cái ảo tưởng, cho nên ta không tiếp xúc được.
Chánh niệm là cái năng lượng giúp chúng ta ngồi xuống
an ổn để có thể tiếp xúc được với cái thực tại mầu nhiệm kia. Ngồi thiền
là để làm chuyện đó, đi thiền hành là để làm chuyện đó, và ngồi uống trà
cũng là để làm chuyện đó mà thôi. Nếu không có vốn liếng của chánh niệm
thì những điều mà ta làm trong đời sống hàng ngày và gọi là tu tập, chỉ là
hình thức cạn cợt, chỉ là những công tác lao động mệt nhọc mà thôi.
Khi cái đối tượng trở nên mầu nhiệm, nó sẽ có tính cách
nuôi dưỡng, có tính cách trị liệu. Tiếp xúc được với chúng rồi, thì đương
nhiên ta sẽ được nuôi dưỡng, được trị liệu. Đi thiền hành, nhìn cây, nhìn
trời, thở khí trời, an trú trong hiện tại, tiếp xúc với những mầu nhiệm
của sự sống là một phương pháp trị liệu thân tâm rất là mầu nhiệm. Trị
liệu cho ta và cho người quanh ta. Do đó khi cái đối tượng mà ta tiếp xúc
bằng chánh niệm là khổ đau, thì những khổ đau đó sẽ vơi đi, vì chánh niệm
là một nguồn năng lượng có thể làm êm dịu những khổ đau. Có mặt mà có mặt
với chánh niệm là đã thương yêu, đã làm vơi bớt niềm đau. Thương yêu ở đây
có nghĩa là làm vơi bớt niềm đau và dâng hiến hạnh phúc, tức là từ và bi.
Từ là dâng hiến hạnh phúc bằng cách giúp cho người kia tiếp xúc được
với những mầu nhiệm của sự sống. Bi là làm vơi bớt niềm đau bằng cách đem
cái năng lượng hiểu biết để xoa dịu và chuyển hóa nỗi khổ đau của
người kia.
Năng lượng thứ ba của chánh niệm là nhìn sâu. Nhìn sâu
vào trong lòng thực tại để làm cho cái tưởng, cái tri giác của ta từ từ
mất đi tính sai lầm của nó. Mỗi tri giác của ta đều có chứa yếu tố sai
lầm, càng thực tập nhìn sâu thì những yếu tố sai lầm đó càng được chuyển
hóa. Đó gọi là nhìn kỹ hay quán chiếu, tiếng Anh là “deep looking”, tiếng
Pháp là “le regard profond”. Hồi mới viết đoản văn cho ngày Vu Lan, tôi
đặt tên là “Bông Hồng Cài Áo” và gởi về cho một nhóm sinh viên ở Đại học
Saigon. Nhưng khi in họ đổi tên lại là “Nhìn kỹ mẹ”. Ý này cũng đúng, tại
vì có một bà mẹ nhưng có thể chưa bao giờ ta nhìn kỹ mẹ cả. Bởi vậy cho
nên ta không khám phá ra cái kho tàng mầu nhiệm, ngọt ngào của bà.
HAI BƯỚC CỦA THIỀN TẬP
Thiền tập có hai bước, bước đầu là chỉ, bước thứ hai là
quán. Chỉ tức là dừng lại và tập trung vào một đối tượng. Quán là đưa mắt
nhìn xâu vào để thấy rõ như nhìn kỹ mẹ, nhìn kỹ em, nhìn kỹ cây hoa đào,
nhìn kỹ mặt trăng, nhìn kỹ con sâu, nhìn kỹ lá gan của mình. Nhìn kỹ
trong bốn phạm vi Thân, Thọ, Tâm, Pháp, gọi là Tứ niệm xứ. Khi nhìn kỹ
như vậy thì ta mới thấy và mới hiểu. Cái hiểu, cái thấy đó cởi trói, giúp
cho ta giải thoát và chuyển hóa. Những bước thiền tập đó sẽ dẫn đến tuệ.
Tập khí năm xưa rồi chuyển hóa,
Vườn tâm tuệ giác nở trăm hoa.
Thành ra những chữ Giác, Trí, Tuệ, có thể dịch
bằng những danh từ rất đơn giản như Hiểu và Thấy.
Con người khổ đau là tại vì cái tà niệm, cái vọng niệm,
cái tri giác sai lầm của mình. Khi nhìn sâu, quán chiếu để làm tan những
vọng niệm, những sai lầm của tri giác, thì ta có tuệ, nghĩa là giải thoát
được những khổ đau của ta. Ta giận hờn, ghen tuông và khổ đau là vì ta bị
trói buộc bởi những tri giác sai lầm của chính ta. Do công phu quán chiếu,
nhìn sâu thì ta hiểu, ta thấy và ta được cởi trói, cho nên ta chuyển hóa
được và có hạnh phúc. Tất cả những công trình đó thực hiện được là nhờ một
loại năng lượng gọi là chánh niệm. Ngoài công việc thực tập hơi thở chánh
niệm, thực tập, đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc trong chánh niệm, thực tập
ăn cơm có chánh niệm, uống trà có chánh niệm, thì ta đâu còn cơ hội nào để
sản xuất được thứ năng lượng quí giá gọi là chánh niệm đó? Cho nên công
phu thực tập hàng ngày rất quan trọng. Có thể ta cũng đi thiền hành với
mọi người, cũng ăn cơm yên lặng, ngồi thiền, rửa bát, chùi phòng tắm, cầu
tiêu với mọi người, nhưng nếu trong khi người khác làm công việc đó mà
phát ra tinh lực chánh niệm tràn đầy, còn ta chỉ làm hình thức thôi thì đó
là một điều rất uổng phí. Đi thiền hành nửa giờ có thể làm lưu xuất không
biết bao nhiêu là tinh lực của chánh niệm để nuôi dưõng, soi sáng và
chuyển hóa. Nếu chỉ đi cho có hình thức, đi là vì người khác đi, thì rất
uổng. Cũng như cùng đi qua một rừng trầm hương châu báu, có người thu thập
được rất nhiều châu báu, trong khi ta lại về tay không! Vì vậy khi vào tu
viện, chúng ta nên học ngay những bài Thi Kệ Nhật Dụng như Uống nước, Rửa
tay, Rửa chân, Mặc áo, Đi cầu, Ngồi xuống, Đứng dậy v.v.. Tất cả mọi sinh
hoạt đều phải được thực hành theo những bài Thi Kệ trong Tỳ Ni Nhật Dụng
Thiết Yếu. Trong truyền thống của ta, thực tập chánh niệm là điều căn bản,
do đó những điều đã được đem ra để học hỏi, thực tập, ta phải chấp hành
một cách thật nghiêm chỉnh, như vậy mới thực sự sống trong truyền thống
của Làng Mai.
3.5
Pháp Thoại Ngày tháng 9 năm 94
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày 29 tháng 9 năm 1994,
chúng ta đang ở xóm Thượng, trong khóa tu mùa Thu và học tiếp Kinh
Samiddhi.
DIỆT TAM MẠN LÀ GIẢI THOÁT TỬ SINH
Hôm nay ta đọc lại bài kệ thứ ba của Bụt nói về ba mặc
cảm bằng chữ Hán trong Tạp A Hàm và giải thích từng câu:
Kiến đẳng, thắng, liệt giả,
Tắc hữu ngôn luận sinh,
Tam sự bất khuynh động,
Tắc vô nhuyến, trung, thượng.
Kiến đắng, thắng, liệt giả,
nghĩa là khi thấy có kẻ bằng mình, hơn mình, thua mình, “giả” ở đây nghĩa
là kẻ, là người; Tắc hữu ngôn luận sinh, thì phát sinh những tranh
luận. Nên biết rằng chữ “ngôn luận" ở đây không phải chỉ là lời nói, mà tư
lượng ở trong tâm của ta cũng là một thứ ngôn luận. Tâm ta có sự kỳ thị,
sự ganh tị, sự cao ngạo, sự chê bai, tất cả những cái đó đều là ngôn luận.
Tam sự bất khuynh động, “sự” là cái việc, ở đây tam sự là ba mặc
cảm. Nếu ta không bị lay động bởi ba mặc cảm, ba tư tưởng đó, Tắc vô
nhuyến trung thượng, thì ta không còn cái ý niệm kém người, bằng người
hay hơn người nữa. Chữ “nhuyến” cũng có nghĩa là mềm. Đọc là nhuyến nhưng
nghĩa của nó cũng như chữ nhuyễn. Nhuyến có nghĩa là yếu ớt, mềm yếu, hèn
nhát, vô dụng.
Trong Biệt Dịch Tạp A Hàm, bài kệ tương đương có tới
sáu câu:
Thắng mạn, cập đẳng mạn,
Tinh cập bất như mạn,
Hữu thử tam mạn giả,
Thị khả hữu tranh luận,
Diệt trừ thử tam mạn,
Thị danh bất động tưởng.
“Thắng mạn” tức là mặc cảm hơn người; “đẳng mạn” là mặc
cảm bằng người; “Cập bất như mạn là mặc cảm không bằng người. “Tinh” có
nghĩa là và; “Cập” cũng có nghĩa là và, nó còn có nghĩa là với tới, theo
kịp, theo bằng. Chúng ta hay nói “khi thái quá, khi bất cập”. Thái quá tức
là đi quá đà, bất cập là chưa tới bằng. “Cập bất như” tức là chưa bằng
người, nghĩa là cái mặc cảm không bằng người, thua người. Hữu thử tam
mạn giả là có ba cái mạn này, “thử” nghĩa là này. Thị khả hữu tranh
luận nghĩa là cái đó có thể tạo nên sự tranh luận. Tranh luận bên
ngoài (lời nói, hành động), và tranh luận bên trong (tư tưởng, cảm nghĩ).
Từ ba cái mặc cảm này phát sinh ra nhiều tai nạn: giận
hờn, ganh ghét, ghen tuông, tủi hổ v.v... Chỉ cần tủi thân thôi cũng có
thể đưa đến chán đời, tự tử rồi!
Diệt trừ thử tam mạn
nghĩa là diệt trừ được ba cái mạn này rồi. Thị danh bất động tưởng,
“tưởng” tức là tri giác, nghĩa là đạt tới cái tri giác gọi là bất động,
tức là không bị những mặc cảm, những giận hờn, tủi hổ và chán đời đó làm
cho mình khuynh động, ngã nghiêng. Mình đứng vững như một gốc đại thụ. Bất
động có nghĩa là vững chãi và thảnh thơi. Bất động là một trong những
thuộc tính của Niết Bàn (Diệu, Trạm, Tổng, Trì, Bất động).
So sánh hai bản dịch ta thấy bản dịch của Tạp A Hàm,
ngắn hơn, chỉ có bốn câu, nhưng bản dịch của Biệt Dịch Tạp A Hàm dễ hiểu
hơn. Bên Tạp A Hàm, hàng đầu liệt kê cả ba thứ mặc cảm: Kiến đẳng, thắng,
liệt giả. Mỗi thứ chỉ dùng một chữ thôi: “đẳng, thắng, liệt”. Cố nhiên là
nó đầy đủ ý nghĩa, nhưng bên BIệt Dịch Tạp A Hàm nêu rõ từng mặc cảm bằng
nhiều chữ, “Thắng mạn, cập đẳng mạn, Tinh cập bất như mạn”, cho nên rõ
ràng hơn. Tôi dịch bài Kệ trong Biệt Dịch Tạp A Hàm như sau:
Mặc cảm ta hơn người,
Kém người hoặc bằng người,
Kẹt trong ba tưởng ấy,
Là vướng vòng tranh chấp,
Diệt trừ được cả ba,
Là đạt tới bất động.
Cố nhiên hạnh phúc sẽ không có được nếu ta còn kẹt vào
trong vòng tranh chấp. Chữ tranh chấp hay hơn chữ tranh luận. Tại vì tranh
chấp có thể bằng ngôn ngữ, bằng tư tưởng, mà cũng có thể bằng hành động,
còn tranh luận thì ta có thể hiểu nó chỉ thuộc phạm vi ngôn từ mà thôi.
Trong những bài kệ này, ta thấy Đức Thế Tôn chỉ giáo
hóa trong phạm vi hạnh phúc, tại vì Kinh Tam Di Đề là một kinh nói về hạnh
phúc chân thật. Khởi đầu Đức Thế Tôn nói về nhận thức sai lầm, ý niệm sai
lầm của ta về hạnh phúc. Ngài nói rằng vì chưa biết được bản chất của
những đối tượng tham dục, nên ta mới nhận lầm đó là hạnh phúc đích thực.
Nếu quán chiếu và thấy được bản chất đích thực của chúng, thì sẽ thấy rằng
đó chỉ là những tư tưởng kéo ta đi vào những nẻo đường tăm tối, luân hồi,
khổ đau mà thôi. Thấy được như vậy thì không có cái vọng tưởng nào, không
có một vị thiên giả nào có thể lôi kéo ta đi theo cái ý niệm hạnh phúc giả
tạo được. Sau đó, Đức Thế Tôn dạy rằng vượt được những mặc cảm hơn người,
bằng người, thua người, thì những phiền não như ganh tị, giận hờn v.v...
sẽ tan biến, và lúc đó mới có hạnh phúc thực sự.
BẢY LOẠI MẠN
Chúng ta thấy ý niệm hạnh phúc không phải là vấn đề
cá nhân rất là đúng. Cá nhân tức là có một cái ngã, có một cái thực
tại riêng biệt. Nếu mình đi tìm hạnh phúc cho cái ngã riêng biệt đó, thì
không bao giờ có thể tìm được. Sự an lạc của những người chung quanh phải
là sự an lạc của mình thì sự an lạc đó mới là an lạc thật sự. Sự sống là
một, không thể chia năm xẻ bảy ra thành từng mảnh vụn, để từng mảnh điểm
tìm hạnh phúc riêng. Muốn rõ hơn ta phải đi sâu vào giáo lý Bụt dạy về
mạn. Trong luận Đại Tì Bà Sa (Mhàvibhasa) của thuyết Nhất Thuyết Hữu Bộ
cũng như trong luận Câu Xá (Abhidharma0koha-shastra) ta thấy có ý niệm về
bảy mặc cảm đó vì khi dùng danh từ Phật học mà không biết rõ ý nghĩa đích
thực của danh từ thì ta dùng sai. Ví dụ khi nói rằng “Anh chàng đó ngã mạn
quá”, ta có ý nói rằng anh đó tự cho mình là hơn người. Thật ra cái chữ
“ngã mạn” nó không chỉ có nghĩa “cho mình hơn người” mà thôi. Cho mình
thua người cũng là ngã mạn, mà cho mình bằng người cũng là ngã mạn! Tiếng
Phạn “Mạn” là Mana. Có bảy loại Mana.
Thứ nhất là Mạn (Mana). Đối với những người mà địa vị,
gia tài, danh tiếng, hay học thức thua mình mà mình có ý tưởng rằng
người đó thua mình, người đó học dở hơn mình, người đó thuộc về hàng
không quí phái bằng mình, người đó không văn minh bằng mình, người đó tu
học chậm, mình thu thập giỏi hơn, mình thực tập lâu ngày hơn, mình thông
minh hơn, mình biết nhiều ngoại ngữ hơn v.v... cái đó gọi là mạn.
Điều này chúng ta kẻ ít người nhiều ai cũng đều bị kẹt vào cả. Cái tư
tưởng đó nó phát xuất từ cái ý niệm mình với người kia là hai người khác
nhau. Khi mình thấy người đó là người anh em, người chị em, cùng sống với
nhau, cùng thực tập trong một tăng thân, thì tự nhiên mình thấy người đó
là mình, mình là người đó. Những cái yếu của người đó, mình có trách
nhiệm, và những cái gì mình đã đạt tới, mình có bổn phận phải trao truyền,
phải giúp đỡ người đó để cho hai người là một, cùng đi trên một con đường,
thì lúc đó mình mới thoát được cái mạn thứ nhất.
Thứ hai là quá mạn (Ati-mana). Quá mạn có nghĩa là
đối với những người tương đương với mình, học cũng tương đương, tu tập
cũng tương đương, bên tám lạng, bên nửa cân mà mình lại cho mình hơn
người đó. Điều này nó cũng phát sinh từ sự phân biệt giữa mình và
người là hai thực thể khác nhau. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc có điều khoản
“Tất cả mọi người sinh ra đều đồng đẳng”, đó cũng là mạn. Lúc mới nghe, ta
thấy câu đó rất hay, nó công nhận sự bình đẳng của tất cả mọi người. Nhưng
nhìn lại cho kỹ thì nó vẫn chưa vượt được cái phân biệt tôi với anh là
hai người khác nhau, vì vậy quá mạn cũng còn nằm trong đó. Hiến Chương
hay nhất là Hiến Chương công nhận rằng tôi với anh là một, chúng ta không
ai hơn ai, không ai bằng ai, không ai thua ai, tại vì chúng ta là một! Đó
mới là Hiến Chương theo đúng chân tinh thần của đạo Bụt.
Mạn thứ ba là “Mạn quá mạn” (MànàtiMàna). Đối với
những người có đức độ hơn mình, tu học hơn mình, có tài năng hơn mình, có
trí tuệ hơn mình mà mình lại cho mình hơn người đó, thì gọi là Mạn quá mạn.
Mạn thứ tư là Ngã mạn (àtma-màna). Đây là mạn gốc, bởi
vì nó làm phát sinh ra những nhận thức sai lầm khác. Chúng ta nhận lầm
những yếu tố, sắc, thọ, tưởng, hành, thức là một cái ngã biệt lập với
những yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức khác. Chúng ta thường bị kẹt
trong ba ý niệm: ý niệm về ngã, ý niệm về ngã sở và ý niệm về tương tại.
Ví dụ sắc là một trong năm uẩn:
- Khi ta nói “thân thể này là tôi”, ta đã bị kẹt vào
ý niệm về ngã.
- Khi ta nói “thân này không phải là tôi, nhưng nó
thuộc về tôi”, tức là ta bị kẹt vào ý niệm dị ngã hay ngã sở.
- Trường hợp thứ ba, khi ta nói “thân này và tôi là cái
khác nhau, nhưng trong thân có tôi và trong tôi có thân, tức là ta bị kẹt
vào ý niệm tương tại.
Cả ba ý niệm đều thuộc về mạn thứ tư, gọi là ngã mạn.
Kinh Tam Di Đề đề cập tới ba ý niệm đó, nghĩa là đề cập tới mạn căn bản
trong bảy mạn. Trong một lần dạy La Hầu La, Bụt có nói rất rõ: “Này La Hầu
La, con nên nhớ cái thân này không phải là ngã, thân và ngã không phải là
một. Này La Hầu La, thân và ngã cũng không phải là hai cái khác nhau”. Bao
rằng “thân là ngã” đó là một sự chấp ngã. Còn nếu bảo rằng “thân khác với
ngã” thì đó cũng là một sự chấp ngã nữa. Cả hai ý niệm đều là ngã mạn mà
ta cần vượt thoát. Tuy nhiên khi đã vượt được hai ý niệm đó rồi, có thể ta
lại rơi vào ý niệm thứ ba: “Tuy rằng thân không phải là ta và thân cũng
không thuộc về ta nhưng trong thân có ta và trong ta có thân”. Ý niệm này
cũng là ngã mạn và cũng cần được vượt thoát. Bụt lại dạy La Hầu La: “Phải
làm sao lấy đi cái ý niệm về ngã. Cái ý niệm về dị ngã, và cái ý niệm về
tương tại đối với thân”. Sau đó ta lấy đi ý niệm về ngã đối với thọ, đối
với tưởng, đối với hành và đối với thức. Tất cả năm uẩn đều là đối tượng
của phép quán chiếu về ngã. Trong năm uẩn, không có uẩn nào là ngã, và hợp
cả năm uẩn lại cũng phải là ngã. Ngã cũng không phải là cái biệt lập với
năm uẩn. Ngã không nằm trong năm uẩn, và năm uẩn cũng không nằm trong ngã.
Phải vượt thoát ba cái phạm trù đó của tư tưởng thì mới thoát ra khỏi ý
niệm về ngã mạn.
Thứ năm là Tăng thượng mạn (Adhimana). Khi mình chưa
đạt được sự chứng đắc mà mình tuyên bố rằng mình dã có sự chứng đắc, đó
gọi là Tăng thượng mạn. Đây là một trong bốn giới lớn của người khát
sĩ. Ví dụ chưa chứng được quả A La Hán mà nói tôi đã chứng quả A La Hán,
thì đó là tăng thượng mạn.
Thứ sáu là Ty mạn (Unamana). Đối với những người rất ưu
tú, siêu việt như Bụt, các vị Bồ Tát lớn như Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế
Chí v.v... mà mình có mặc cảm rằng không bao giờ mình có thể được như họ,
thì mặc cảm đó là Ty mạn. Mặc cảm này là đối tượng giáo hóa của các
Kinh Đại thừa. Ngày xưa trong tăng đoàn, cái nhân cách của Bụt lớn quá,
cái hào quang của Bụt nó vĩ đại quá, thành thử các đệ tử của Ngài nghĩ
rằng mình chỉ đạt tới cái địa vị giải thoát là nhiều lắm rồi, không bao
giờ mình có thể có được cái nhân cách, cái hào quang sáng chói của Đức Thế
Tôn, vì vậy mà họ không có chí nguyện tu học. Họ nghĩ mục đích đi tu của
mình là để bớt khổ, khỏi cần trở thành một vị đạo sư lớn như Bụt. Cái nhận
thức đó, cái ý nguyện đó được căn cứ trên cái mặc cảm, trên cái nhận thức
Bụt là quá ưu việt (Superman), mình chỉ là người thường thôi và mình đừng
ôm ấp cái mộng đó. Vì vậy Kinh Đại thừa dạy rằng tất cả mọi người đều có
khả năng tính thành Bụt, và có thể giống như Đức Thế Tôn. Kinh Pháp Hoa,
trong chương Ngũ Bách Thọ Ký ta thấy Bụt thọ ký cho thầy Xá Lợi Phất, thầy
Mục Kiền Liên, và cho tất cả các thầy Thanh Văn. Bụt nói họ cũng có thể
thành đấng toàn giác như Đức Thế Tôn. Lúc nghe như vậy, mọi người rất mừng
rỡ, các thầy trong đại chúng có cái gì trong tay họ liệng lên trời cái đó
để biểu lộ sự vui mừng, cái khung cảnh tưng bừng náo nhiệt chưa bao giờ
từng xảy ra trong tăng đoàn trang nghiêm của Bụt! Trước đó họ mang đầy Ty
mạn, không bao giờ nghĩ rằng mình có thể như Bụt được!
Trong bài kệ này Bụt đề cập tới giáo lý căn bản nhất
của đạo giải thoát, giáo lý vô ngã. Khi quán chiếu, ta thấy sự sống là
một, không có biên giới, không có sự phân biệt giữa sự sống này và sự sống
khác, lúc đó ta thoát khỏi cái ý niệm phân biệt ta và người thì tự nhiên
những phiền não, những khổ đau của ta sẽ tan biến đi rất nhiều.
Khi nghe tin chú Charlie bị bệnh và Charlie có thể mất
trong vòng vài tháng nữa thì ta giật mình. Người vô tâm có thể nói Charlie
bệnh chứ không phải tôi bệnh, Charlie sắp chết chứ không phải tôi sắp
chết. Cái tai nạn, cái chết nó xảy ra cho người khác chứ không bao giờ xảy
ra cho tôi. Ta thường có một niềm tin, một điều ước ngây thơ như vậy trong
tâm của ta. Chỉ những người kia mới bị tai nạn xe hơi, chỉ những người kia
mới bị chứng nan y, mới bị chìm tàu, mới bị rơi máy bay, còn mình thì
không bao giờ bị cả. Niềm tin đó được căn cứ trên cái ngã mạn, tức là
cái ý niệm phân biệt mình là khác, người là khác. Sự thật thì những
điều đó có thể xảy tới cho tất cả mọi người. Tại Mỹ, thống kê, năm ngoái
cho biết đã có 25,000 vụ ám sát, tính ra mỗi giờ có ba người bị ám sát tại
Mỹ! (USA Homicide, 1993). Tại Nga cũng năm ngoái, số người bị ám sát lên
gần tới 70,000 người. Dân Moscova cho biết số người Việt bị ám sát tại thủ
đô trong tháng 9 vừa qua là 39 người. Đó là số nạn nhân có khai báo, ngoài
ra còn có những người chết mà không khai báo vì sợ bị trả thù!
Mỗi lần có một người bị giết như vậy là mình chết, tại
vì người đó là mình. Khi nói chuyện với đồng bào ở Moscow, tôi đã nói rằng
“Mỗi lần có một người bị bắn ngã, tức là vũ trụ sụp đổ một lần”, rất đúng!
Đã có lần tôi nói rằng “Nếu chúng ta không thương nhau, nếu chúng ta không
ngồi lại với nhay để bảo vệ cho nhau, thì ngày mai có thể sẽ tới phiên
chúng ta”. Cố nhiên khi nghe tin Charlie chết, thì có sự sụp đổ trong tim
của tất cả chúng ta, tại Charlie là một người anh em đã từng ngồi nghe
Pháp thoại, đã từng đi thiền hành với chúng ta, đã từng nấu cơm, chẻ củi
với chúng ta. Trong quá khứ có lúc ta đã khó ôm được người anh em ấy,
nhưng bây giờ thì ta thấy rất rõ, dầu muốn dầu không, Charlie cũng là
người anh em của chúng ta, và chúng ta đã ôm lấy Charlie ở trong lòng. Tôi
đã nhiều lần nói rằng khi thấy được người kia là mình thì cái ranh giới
giữa ta và người không còn nữa, và tự nhiên những giận hờn, ganh tị, và
mặc cảm tan biến hết. Ta chấp nhận người anh em của ta một cách dễ dàng
hơn. Quí vị nên thấy rằng có một Charlie đã chết, nhưng còn nhiều Charlie
đang sống cạnh chúng ta. Trong sự thực tập, phải làm sao để ôm cho được
những “Charlie còn sống” ở chung quanh ta, ngay bây giờ và ở đây, đừng đợi
đến ngày mai mà có thể trễ. Cách ôm hữu hiệu nhất là thấy rằng người đó
là mình, người đó cần có hạnh phúc, cần được an tĩnh, cần có sự đùm bọc
giống hệt như mình vậy. Người nào cũng là ta, sự ra đi của bất cứ
người nào cũng là một sự sụp đổ của chính ta. Thấy được như vậy thì ta có
thể sống một cách an lạc, có nhiều hòa điệu với em, với chị, hay là với
anh của ta. Vượt thoát những mặc cảm này, những ý niệm ranh giới về ngã
này là điều căn bản của hạnh phúc. Nếu chưa vượt thoát những ranh giới đó
thì hạnh phúc vẫn chưa là hạnh phúc đích thực. Trong Kinh Samiddhi Bụt nói
hạnh phúc một cách rất là sâu sắc: Hạnh phúc chân thật. Hạnh
phúc chân thật chỉ có thể đạt được bằng sự quán chiếu, nhìn sâu để thấy
rằng không có ranh giới giữa ta và người. Cái số phận, cái hoàn cảnh
của cái gọi là ta và người là cái số phận chung, hoàn cảnh chung. Quán
chiếu sâu sắc để thấy rằng cái ý niệm về hạnh phúc của ta cái ý niệm giả
tạo, cạn cợt, và chính vì những ý niệm đó mà chúng ta dấn thân vào những
nẻo đường tăm tối, hôn mê.
PHẢI THÔI HY VỌNG MỚI CÓ HẠNH PHÚC CHÂN THẬT
Sau khi nói xong bài kệ thứ ba Bụt hỏi vị thiên giả:
“Con có hiểu bài kệ hay không? Nếu không hiểu thì cứ nói”. Cố nhiên những
bài kệ này ý nghĩa rất là thâm ảo, dầu vị thiên giả có thông minh thì cũng
phải nghe đi nghe lại nhiều lần mới nắm được cái yếu chỉ của lời Bụt dạy.
Vì vậy vị thiên giả bạch Bụt: “Con chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa
hiểu, bạch Đức Thiện Thệ”. Đây là một chi tiết mà ta cần phải chú ý. Đây
là lần thứ ba vị thiên giả nói “Con chưa hiểu, bạch Đức Thế Tôn, con chưa
hiểu, bạch Đức Thiện Thệ”. Nếu chưa hiểu, chưa nắm được thì phải nói là
chưa hiểu, chưa nắm được để thầy dạy lại cho mình, đừng sợ thầy chê mình
chậm hiểu, hay sợ các bạn chê mình không thông minh. Một vị thiên giả hào
quang sáng chói mà khi chưa hiểu thì nói là chưa hiểu, tại sao mình lại
không làm được điều đó?
Lúc đó Bụt đọc thêm cho vị thiên giả một bài kệ thứ tư:
Cắt ái và danh sắc,
Trừ mạn hết buộc ràng,
Chấm dứt mọi sân hận,
Nội kết và hy cầu,
Là giải thoát mọi cõi,
Đời này và đời sau.
Tôi dịch là:
Trừ dục, vượt ba mạn,
Tâm lặng, hết mong cầu,
Mọi đau phiền cởi bỏ,
Đời này và đời sau.
Ta ghi lại hai bài chữ Hán để dễ đối chiếu. Bài kệ
trong Tạp A Hàm là:
Đoạn ái cập đanh sắc,
Trừ mạn vô sở hệ,
Tịch diệc tức sân nhuế,
Ly kết tuyệt hy vọng,
Bất kiến ư nhân thiên,
Thử thế cập tha thế.
Bài trong Biệt Dịch Tạp A Hàm:
Đoạn ái cập đanh sắc,
Diệt trừ tam chủng mạn,
Bất xúc ư chư dục,
Diệt trừ ư sân nhuế,
Bạt trừ chư độc căn,
Chư tưởng nguyện dục tận,
Nhược năng như thị giả,
Đắc độ sinh tử hải.
Những bài kệ trong Biệt Dịch Tạp A Hàm thường dài hơn,
nhưng rõ ràng hơn.
Đoạn ái cập danh sắc,
đoạn tức là cắt đứt, là vượt thoát; ái ở đây là ái dục; danh sắc là
cái ý niệm về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc này là thân chứ không phải
là nữ sắc, còn danh này là tâm chứ không phải là danh tiếng. Câu này có
nghĩa là vượt thoát những ý niệm về danh và về sắc. Ta thường có ý niệm về
hạnh phúc này, về sắc, thọ, thọ, tưởng, hành, thức kia, những ý niệm đó
thường sai lầm, và chính những sai lầm đó dẫn ta đi vào những nẻo đường
tăm tối. Vì vậy “đoạn” ở đây tức là chấm dứt, là thoát khỏi những ý niệm,
những khái niệm sai lầm mà ta đã có về hạnh phúc.
Diệt trừ chúng tam mạn là
lấy đi, đoạn trừ ba thứ mặc cảm bằng người, hơn người, thua người. Vô
sở hệ là không bị buôc ràng vào cái gì hết. Hệ có nghĩa là buộc
ràng. Chữ hệ này có cùng nghĩa với chữ hệ lụy, tức là bị buộc ràng, bị
vướng vào. Vô sở hệ là không bị buộc ràng vào cái gì hết, nó có nghĩa là
thảnh thơi. Khi có ba ý niệm hơn người, bằng người, thua người thì ta bị
buộc ràng vào, vì vậy mà có những phiền não. Khi trừ được ba cái mạn đó
thì ta hết bị buộc ràng, lúc đó tâm ta có trạng thái vắng lặng, gọi là
tịch diệt. Vắng lặng là vắng lặng vẻ những xôn xao của suy tư: ta thua
người đó, ta hơn người đó, ta bằng người đó. Như vậy chữ tịch diệt này có
nghĩa là niết bàn, giải thoát. Tức sân nhuế, tức ở đây có
nghĩa là chấm dứt. Tịch diệt cũng có nghĩa là chấm dứt. Khi chấm
dứt được những cái như là sân giận, ganh tị, tranh đua, chán nản, thì mình
Ly kết. Ly tức là xa lìa, kết là nội kết (Sam-yojana) tức là những
nổi khổ, niềm đau đã đóng thành từng khối trong lòng. Không bị thu hút,
không chạy theo, không có những mối ràng buộc ở trong lòng thì gọi là ly
kết. Mắt thấy hình sắc là tâm có nội kết. Hình sắc ghê rợn cũng có nội
kết, hình sắc êm đềm cũng có nội kết. Sở dĩ anh chàng kia cứ đi quanh
quanh ngôi nhà đó nhiều lần mà không có ích lợi gì hết là vì trong lòng
anh ta có một nội kết, một hình ảnh tuyệt đẹp về người yêu. Đi cho tới
ngày thấy xác pháo đầy hết ở trước sân thì mới không đi nữa. Cái sức mạnh
đẩy anh chàng đó đi vòng vòng mỗi ngày là do nội kết tạo nên.
Tuyệt hy vọng, tuyệt
cũng có nghĩa là chấm dứt, hy vọng là sự chạy theo, sự tìm cầu, tiếng Anh
là teaching of no hope, no expectation, no longing. Ta nên biết rằng đây
là văn xưa, ngày nay ta dịch là nguyện. Vô nguyện là một trong ba
giải thoát môn. Vô nguyện hay vô tác. Hai giải thoát môn kia là Không và
Vô tướng. Vô nguyện tức là không đặt mình trước một đối tượng của sự
tìm bắt, dầu đối tượng đó là bằng cấp, là mỹ nhân hay là danh hoặc
lợi. Không chạy theo tiếng Phạn là Apranihita, nghĩa là không đặt mình
trước một đối tượng để chạy theo. Chừng nào mình không chạy theo một điều
gì nữa hết, thì chừng đó mình mới thực sự có hạnh phúc. Chừng nào mình còn
chạy theo một cái gì thì chừng đó mình còn nói rằng ta chưa có hạnh phúc,
những điều kiện có trong hiện tại không đủ để ta có hạnh phúc nên ta phải
đi tìm. Hạnh phúc đích thực là khi ta không còn chạy tìm nữa. Tôi không
cần thêm một điều kiện nào nữa. Tôi không cần thêm một điều kiện nào nữa,
tất cả những điều kiện sẵn có của hạnh phúc tôi đã có ở đây và bây giờ.
Chỉ khi nào đạt tới cái nhận thức như vậy thì mới có hạnh phúc thật sự.
Trong đạo Cơ Đốc, giáo lý về hy vọng đóng một địa vị
rất quan trọng. Hy vọng một niềm hạnh phúc trong tương lai, cho nên người
ta có nghị lực để chịu đựng cái đau khổ trong hiện tại. Ráng lên, ráng
lên! Ngày mai, ngày mốt mình sẽ hết khổ mình sẽ về Nước Chúa! Như vậy điều
căn bản của giáo lý đó là công nhận hiện tại chỉ là khổ đau, cho nên đi
ngược lại với giáo lý của đạo Bụt: Hạnh phúc có thể tìm được trong hiện
tại. Vì vậy cho nên phải tuyệt hy vọng, phải “ending all hopes,
ending all longing”. Đây là một điều rất đặc thù của đạo Bụt. Các tôn giáo
khác thường treo cái hy vọng “được cứu chuộc trong tương lai", trong khi
đó Bụt dạy ta phải chấm dứt cái đó, phải trở về khai thác mảnh đất hiện
tại cho thật sâu sắc. Ly kết tuyệt hy vọng! Danh từ rất mạnh, lối dùng chữ
rất là hùng vĩ!
Làm được những điều đó thì Bất kiến ư nhân thiên,
không thấy mình trôi nổi, vào ra, bập bềnh trong cõi nhân và cõi thiên.
Thử thế cập tha thế, đời này và cả trong tương lai mình không còn là
con người đi lang thang, luân hồi nữa.
Không phải trong cõi người ta mới bị hệ lụy, mà trong
cõi trời ta cũng bị hệ lụy luôn. Hệ lụy là vì sao? Vì sự chạy tìm của ta,
vì những phiền não như sân hận, ganh tị, thèm khát, giận hờn trong con
người của ta. Những cái đó được chuyển hóa là nhờ ở sự thực tập diệt trừ
những ý niệm, vọng tưởng sai lầm về hạnh phúc, về thực tại, trong đó có
danh và sắc. Vượt được những ý niệm sai lầm về thực tại, vượt được những ý
niệm về ngã, giải thoát khỏi những sợi dây ràng buộc thì tự nhiên ta đạt
tới giải thoát và không còn thấy mình quanh quẩn, luân hồi, khổ đau trong
cõi Người và cõi Trời nữa.
Bước sang bài kệ trong Biệt Dịch tạp A Hàm, Đoạn ái
cập danh sắc, diệt trừ tam chủng mạn nghĩa là đoạn trừ ý niệm về ái và
về danh sắc, diệt trừ ba loại ngã mạn. Bất xúc ư chư dục là không
tìm tới những đối tượng mà ta gọi lầm là hạnh phúc. Diệt trừ những tâm
niệm phiền não trong lòng như sân nhuế. Bạt trừ chư độc căn, Bạt
tức là nhổ lên, trừ diệt tận gốc. Chư độc căn là những cái gốc làm
độc ở trong con người của ta. Những độc căn đó là tham (thèm khát), sân
(giận hờn), si (u mê), ganh tị, tranh đua. Bạt trừ chư độc căn, tức là nhổ
trừ cho sạch những gốc rễ của các chất độc ở trong con người của ta.
Chư tưởng nguyện dục tận là những cái vọng tưởng, những cái hy cầu,
những cái tham dục đã chấm dứt rồi. Nhược năng như thị giả, nếu có
thể làm được như vậy (năng là có thể), thì Đắc độ sinh tử hải.
Nghĩa là có thể vượt qua được biển sinh tử. “Đắc độ sinh tử hải” nó hay
hơn “Bất kiến ư nhân thiên, thử thế cập tha thế”. Bất kiến ư nhân thiên,
thử thế cập tha thế là một hình tượng được lập đi lập lại nhiều lần trong
nhiều kinh khác. Vượt thoát biển sanh tử thì ta có mặt trong cõi nhân và
cõi thiên cũng không sao, chứ không phải ra khỏi cõi nhân cõi thiên mới là
vượt thoát sinh tử. Bụt và các vị Bồ Tát cũng đã và đang có mặt trong cõi
Nhân và cõi Thiên. Như vậy bài kệ này có mục đích khai triển những điều
Bụt đã nói trong hai bài kệ trước. Không có gì mới, nhờ vậy mà lần này vị
thiên giả hiểu được. Nghe Pháp thoại cũng cậy, đề tài nghe rồi nhưng
nghe nữa, rồi nghe nữa, thì có lúc sẽ thấm.
Đến đây vị thiên giả mới bạch: “Con đã hiểu, bạch Đức
Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Đức Thiện Thệ”. Nghe Bụt nói kinh này xong, vị
thiên giả vui mừng vâng theo, biến đi không còn trông thấy tăm dạng đâu
nữa.
Kinh này ta có thể đưa vào trong Nghi Thức Tụng Niệm
năm 2000. Kinh tuy ngắn, nhưng chứa đựng rất nhiều giáo nghĩa của Bụt. Ta
cũng cần in một cuốn sách mỏng để có thể chú giải được những bài kệ ở
trong Kinh này, tại vì chủ lực của Kinh này là lời giải thích của thầy
Samiddhi về hiện pháp lạc trú (thời và phi thời), và ba bài kệ của Đức Thế
Tôn dạy (2).
_______________
(2) Xem “Tuổi trẻ, lý
tưởng và hạnh phúc, Kinh Samiddhi bình giải”, Thích Nhất Hạnh, Lá Bối,
1999.
3.6
Pháp Thoại Ngày 02 tháng 10 năm 94
Thưa đại chúng, hôm nay là ngày 02 tháng 10 năm 1994,
chúng ta đang ở xóm Hạ trong khóa tu mùa Thu. Chúng ta đã đọc Kinh
Samiddhi và nghe những lời Bụt đạy về những nguyên tắc hành trì căn bản để
cho hạnh phúc chân thật trở thành một sự kiện hiện thật. Hôm nay chúng
ta ôn lại những điều của Bụt nói trong kinh Samiddhi và nhìn sâu hơn để
tìm ra những phương pháp hành trì cho thật cụ thể.
HẠNH PHÚC VÀ KHỔ ĐAU CÓ TÍNH CHẤT TƯƠNG TỨC
Theo cách suy nghĩ thông thường ở đời thì hạnh phúc là
những điều không phải là khổ đau. Hạnh phúc là hạnh phúc, khổ đau là khổ
đau, hai sự kiện hoàn toàn trái ngược nhau. Đó là khuynh hướng lập luận
của tâm tư ta. Nhưng theo nguyên tắc tương tức của Bụt dạy thì hạnh phúc
và khổ đau có liên hệ mật thiết. Hạnh phúc làm bằng chất liệu của khổ đau,
và khổ đau cũng làm bằng chất liệu của hạnh phúc. Giống như rác làm ra hoa
(ủ rác làm phân bón cho cây nở hoa) và hoa nếu để lâu ngày sẽ biến thành
rác. Hạnh phúc cũng vô thường, mà khổ đau cũng vô thường. Vì khổ đau vô
thường cho nên khổ đau có thể trở thành hạnh phúc, và hạnh phúc cũng vô
thường nên có có thể thành khổ đau. Đó là cái nhìn tương tức trong đạo Bụt
mà chúng ta phải nhớ. Vì vậy khi ta vạch ra một giới tuyến để chia hạnh
phúc và khổ đau làm hai thực thể riêng biệt, là chúng ta đã tạo ra một lầm
lẫn căn bản. Vì giới hạn của ngôn ngữ cho nên chúng ta phải diễn tả
như thế. Tuy nhiên nếu thấy được rằng hạnh phúc được làm bằng những yếu tố
của khổ đau thì dầu cho gạch ra đường phân biệt này, ta cũng không bị kẹt
vào sự phân biệt đó. Ta nên biết rằng nếu chưa từng khổ đau (chuyện này
chắc chưa xảy ra!) thì chúng ta chưa có cơ hội biết được thế nào là hạnh
phúc. Khi có khổ đau mà biết quán chiếu thì chúng ta có thể tạo được hạnh
phúc bằng những chất liệu của khổ đau đó. Trong Kinh Bao Tích, Bụt có dạy
rằng những chất liệu như là rác rến, phân người, phân thú, nếu biết dùng
để chăm bón ruộng nho, ruộng mía, thì những chất liệu đó sẽ làm cho ruộng
nho, ruộng mía tốt tươi hơn, Các vị Bồ Tát cũng vậy, họ biết sử dụng những
chất liệu đau khổ của họ để làm ra hạnh phúc cho họ và cho muôn loài. Như
vậy giáo lý về rác, về hoa là đã có sẵn trong kinh, không phải chúng ta
mới đặt ra sau này.
Như vậy nếu đã từng khổ đau thì với những chất liệu khổ
đau trong người, ta có thể tu tập để biến chúng thành những chất liệu của
hạnh phúc, những năng lượng tích cực của cuộc sống. Còn nếu hiện tại đang
có hạnh phúc mà ta không biết bảo trì, ta dẫm lên hạnh phúc mà đi trong
đời sống hàng ngày, thì nó sẽ biến thành khổ đau! Vì vậy cho nên ta có thể
nói rằng hạnh phúc và khổ đau là hai hiện tượng có tính cách tương tức
(inte-rêtre, inter-being), cái này chứa cái kia, Tính cách tương tức này
thể hiện trong mọi ý niệm, mọi thực tại của cuộc sống hàng ngày.
Trong Kinh Samiddhi Bụt có nói tới ngũ dục, tức là
năm ý niệm về hạnh phúc như là phải có thật nhiều tiền, phải có danh
vọng cao ... Nhiều người trong chúng ta bị kẹt và những ý niệm đó. Làm sao
để có cái này, làm sao để có cái kia, nếu không có cái này cái kia thì
hạnh phúc không thể có được. Hầu hết chúng ta đều chạy theo những đối
tượng như vậy. Chúng chỉ là bóng dáng của hạnh phúc, là ý niệm về hạnh
phúc mà không phải là hạnh phúc chân thật. Ý niệm đó có thể là đanh, là
lợi, là tài, là sắc. Ý niệm đó cũng có thể là một thiên đường hay một đời
sống sung túc, giàu có. Tất cả những ý niệm đó Bụt gọi là những cái bẫy
sập.
Ngay đầu khóa tu chúng ta có học một bài kinh đề cập
đến sự tự do, sự thoát khỏi những bẫy sập của các vị khất sĩ. Họ là những
người tự do, không bị ràng buộc vào bất cứ một điều gì, một vật gì. Họ như
những con nai thoát khỏi những bẫy sập, đang chạy nhảy khắp bốn phương.
Muốn đi thành Xá Vệ thì đi, muốn đi thành Ca Tì La thì đi, muốn đi thành
Ba Tư Nại thì đi, muốn đi thành Vương Xá thì đi, muốn đi thành Tì Xá Li
thì đi, không bị ràng buộc vào dù một khu rừng hay một gốc cây. Đó là cách
diễn tả sự tự do của các vị khất sĩ đối với các bẫy sập của danh, của lợi,
của sắc dục, của thức ăn ngon, của giường cao chiếu sạch.
Hôm ở Moscow, tôi có giảng một bài về ý niệm hạnh phúc.
Tôi nói rằng 73 năm về trước, quí vị đã có một ý niệm về hạnh phúc, quí vị
muốn xây dựng một thiên đường căn cứ trên chủ thuyết Mác Lê Nin. Quí vị đã
phải đau khổ suốt cả 73 năm trời vì cái ý niệm về hạnh phúc đó của quí vị.
Bây giờ những vết thương đã ăn sâu vào trong con người quí vị và trong con
cháu của quí vị. Sự sợ hãi, nghi ngờ, căm thù, khổ đau đã in đậm dấu trong
cả một dân tộc. Quí vị sẽ phải tu tập nhiều năm, nhiều chục năm mới có thể
gột sạch được những vết thương của 73 năm Xã Hội Chủ Nghĩa đó. Ngày nay
quí vị lại hình thành một ý niệm khác là ý niệm về Tư Bản. Chán ý niệm
Cộng Sản, bây giờ mình mong ước một thiên đường Tư Ban. Quí vị hãy cẩn
trọng, ý niệm Tư Bản cũng nguy hiểm như ý niệm Cộng Sản. Chúng ta không
nên sống với ý niệm, chúng ta phải tiếp xúc với sự thật. Tôi đến đây không
phải để trao cho quí vị một ít ý niệm về đạo Bụt. Tại vì ý niệm về Phật
Giáo cũng có thể nguy hiểm như niệm về Tư Bản hay ý niệm về Cộng Sản. Nói
như vậy có nghĩa là nếu quí cị có một ý niệm về Phật Giáo, quí vị có thể
bị kẹt trong ý niệm đó, và quí vị có thể đau khổ suốt đời. Phật Giáo không
phải là một ý niệm. Trong ba ngày vừa qua tôi đã dạy cho quí vị tiếp xúc
với cái năng lượng có sẵn trong quí vị, năng lượng chánh niệm. Năng lượng
đó có thể che chở, soi sáng, chỉ đường cho quí vị, có thể chữa trị những
vết thương trong lòng quí vị. Năng lượng chánh niệm đó không phải là một ý
niệm, không phải là một cái tưởng, mà là một thực tại, và trong ba ngày tu
học vừa qua quí vị đã thực tập tiếp xúc trực tiếp với cái năng lượng đó.
Vì vậy quí vị đừng nói rằng thầy Nhất Hạnh tới đây để hiến cho chúng ta
những ý niệm rất là mầu nhiệm về chánh niệm! Nếu thấy được sự thật thì quí
vị nói rằng thầy Nhất Hạnh tới đây giúp chúng ta gạt bỏ, thoát ly khỏi tất
cả mọi ý niệm, trong đó có ý niệm về chánh niệm, và ý niệm về Phật Giáo.
Trong mười bốn giới Tiếp Hiện, giới đầu có liên hệ tới
vấn đề ý niệm. Thường chúng ta khổ đau là chỉ vì ý niệm. Chúng ta có một ý
niệm về hạnh phúc, chúng ta bị kẹt vào ý niệm đó, và chúng ta khổ cả một
đời. Trong khi hạnh phúc có thể có thật, bây giờ và ở đây, mà chúng ta
không biết cách để sống cho sung sướng. Có hạnh phúc trong tay mà ta vẫn
đi tìm nó, là tại chúng ta kẹt vào ý niệm. Cho nên muốn có hạnh phúc đích
thực, trước hết phải bỏ cái ý niệm về hạnh phúc đi. Nếu một sư cô, sư chú,
hay một sư anh, sư chị trong chúng, nghĩ rằng mình không có hạnh phúc là
tại vì mình chưa có cái này, cái kia, tại vì điều này không như ý mình,
thì đó là những ý niệm, mà ý niệm thì có thể rất sai lầm. Sở dĩ mình đau
khổ, đêm ngày là tại mình kẹt vào chính những ý niệm của mình về hạnh
phúc. Nếu mình tháo bỏ những ý niệm của mình về cái này, cái kia, về người
này, người kia, về những điều kiện về hạnh phúc của mình, thì tự nhiên
hạnh phúc là một cái gì có thể xảy ra được ngay trong giây phút hiện tại.
Đây không phải là chuyện lý thuyết. Vì vậy Kinh Kim Cương và nhiều Kinh
khác của đạo Bụt đều nhắm tới việc giúp chúng ta phá trừ những ý niệm, phá
trừ những cái tưởng, những “notions”. Đó là phần tinh túy nhất của đạo
Bụt. Đối với giáo lý của Bụt như vô thường, vô ngã, bản môn, tích môn, ta
đừng tiếp nhận những những ý niệm, đừng bị kẹt vào ý niệm, phải phá tung
những ý niệm đó đi vì những điều Bụt đưa ra là ngón tay chỉ mặt trăng mà
không phải là mặt trăng thực sự. Hễ bị kẹt vào ngón tay thì không thấy
được chân như của mặt trăng. Ý niệm là nguồn gốc của mọi khổ đau, đó là
điều mà tất cả chúng ta cần phải nhớ.
HÀNH TRÌ GIỚI LUẬT SẼ KHÔNG VƯỚNG VÀO BẪY SẬP
Trong bài giảng của khóa tu mùa hè năm nay tôi có nói
rằng nếu quí vị cảm thấy cô đơn thì có thể sự cô đơn đó phát sinh từ
nguyên nhân quí vị không hành trì năm giới. Tôi đã đưa ví dụ giới thứ ba
là giới tà dâm. Ban đầu mình cô đơn và nghĩ rằng có liên hệ với người khác
phái sẽ giúp mình ấm áp, bớt cô đơn. Rồi từ đó đi đến chuyện chung đụng
xác thân. Nhưng ai ngờ những kinh nghiệm chung đụng xác thân đó, niềm cô
đơn của mình lại lớn lên gấp bội. Đó là vì khi không có sự đối thoại và
thông cảm giữa hai tâm hồn mà lại có sự giao tiếp giữa hai thân xác, thì
sự giao tiếp này sẽ đào thêm cái hố ngăn cách và tạo thêm nỗi cô đơn. Sau
đó hai tuần, tôi nhận được bức thư của một thiếu phụ người Tây Phương nói
rằng: “Bạch Thầy, điều Thầy nói không có gì đúng hơn nữa, con đã đi qua
kinh nghiệm đó. Có một lúc con cảm thấy cô đơn, con đi tìm sự ấp ủ, sự ấm
áp, con khám phá ra rằng càng ngày niềm cô đơn của con càng lớn. Sự xa
cách của con với loài người, với xã hội càng ngày càng lớn là tại vì con
đã đi lầm đường”.
Đó mới chỉ là một trong năm giới. Bốn giới kia cũng
vậy. Khi không hành trì các giới, ta dễ bị sập vào bẫy ái dục, bẫy danh
lợi, bẫy ý niệm về hạnh phúc, và ta sẽ khổ đau nhiều. Nếu có hành trì, năm
giới ta mới biết cách phá lưới mà ra, biết cách lấy lại tự do. Tự do ở đây
không phải là tự do chính trị mà là tự do đối với những bẫy sập, những
ý niệm về hạnh phúc. Mình đòi hỏi phải có điều kiện này, điều kiện nọ,
thì hạnh phúc mới có thật. Cái ý niệm về hạnh phúc đó chính là cái ngục tù
giam hãm mình. Bỏ ý niệm đi thì khung cửa tự do sẽ mở rộng và hạnh phúc
thật sự sẽ hiển bày ngay trong giây phút hiện tại. Tự do có khi được gọi
là thảnh thơi, và đó là một trong hai đặc tính căn bản của Niết Bàn (vững
chải và thảnh thơi). Vững chải dịch ra tiếng Anh là Stability Solidity.
Nếu trong ta không có hai yếu tố vững chải và thảnh thơi thì hạnh phúc
không phải là hạnh phúc đích thực.
TĂNG THÂN ĐỒNG HOÀN CẢNH MỚI GIÚP TA THOÁT ĐƯỢC BẪY SẬP
Khi một con thú bị sập bẫy, nó vùng vẫy đủ cách nhưng
vẫn rất khó thoát, nó rất khổ sở và mất hết tự do. Với ngũ dục cũng vậy.
Khi đã sa vào thì không khác nào bị sập bẫy, ta cũng vùng vẫy nhưng rất
khó thoát ra. Chẳng hạn như khi nghiện ma túy, nghiện rượu, nghiện sắc dục
hay là nghiện tiền bạc. Có tiền không bao giờ thỏa mãn hết, có tiền ít thì
muốn có tiền thêm, có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn nữa, giống như người
khát nước ngoài biển khơi, càng uống nước biển thì càng khát thêm. Sắc dục
cũng vậy mà danh lợi cũng vậy, rất dễ sợ, sa vào rồi thì rất khó thoát ra.
Nhất là khi mình phải đơn phương tranh đấu để thoát khỏi những cái bẫy ngũ
dục và nghiện ngập thì thậm nan, vạn nan! Sở dĩ như vậy là vì mình đã
nhiễm vào một cái thói quen gọi là tập khí. Tập khí cũng giống như ngựa
theo lối cũ, dù có được học, được nghe và hiểu được rằng điều đó là có
hại, là không nên làm, nhưng ta vẫn “ngựa theo lối cũ” như thường. Thành
ra nếu đến người nghiện ma túy và khuyên họ rằng: “Anh ơi! Anh không nên
sử dụng ma túy tại vì nghiện ma túy thì thân anh sẽ tan nát, công danh sự
nghiệp của anh sẽ tan nát, gia đình của anh cũng sẽ tan nát, anh đừng nên
tiếp tục con đường này nữa” thì vô ích lắm. Tại vì chính người này cũng
biết điều đó, và biết rất rõ, có thể còn rõ hơn chúng ta nữa, nhưng họ
không làm được, họ không thoát ra khỏi cái bẫy sập được. Vì vậy chúng
ta đừng đến để dạy luân lý, đạo đức cho họ, Nếu có những phương cách gì để
giúp họ thoát ra thì hãy đến, còn đến để dạy luân lý đạo đức thì không có
ích lợi gì. Một phương cách có hiệu quả là lập một tăng thân, một đoàn
thể, trong đó có những người đã thoát bẫy sập. Đưa tăng thân này đến gặp
các người sập bẫy và nói rằng “Đây là những người ngày xưa cũng như anh,
bây giờ đã thoát ra rồi, anh nên sống chung với họ, để họ nâng đỡ, yểm trợ
cho anh thoát khỏi tình trạng khổ đau này”. Tập khí rất nguy hiểm, biết đó
là cái bẫy, không muốn chui vào nhưng ta vẫn lặng lẽ, êm ái chui vào như
thường. Chui vào rồi tâm sự: “Bẫy sập của ta ơi! Ta không thể nào thiếu
ngươi được, ta phải chui vào, dầu ta biết rằng ngồi ở trong ngươi ta sẽ
đau khổ vô cùng, nhưng ta vẫn sẵn sàng để chui vào!” Sự thật là như vậy,
cho nên trong đạo Bụt có danh từ gọi là trầm luân. Trầm là chìm
xuống, luân là lăn đi. Khi bị trầm luân trong những bẫy sập, chỉ có một
tăng thân vững mạnh, đầy thương yêu mới cứu được ta mà thôi. Lý do là
trong Tăng có Bụt và có luôn cả Pháp.
Hiện nay ở các nước Tây Phương có những tổ chức lo về
tâm lý trị liệu, cũng như lo về vấn đề cai rượu, cai thuốc phiện. Tuy họ
không phải là những tổ chức của đạo Bụt, nhưng họ cũng biết vai trò của
tăng thân rất quan trọng. tại Mỹ có một chương trình gọi là “The twelve
step ptrogram” để cứu những người bị nghiện rượu. Họ biết rằng không có
tăng thân thì không thể cứu được người nghiện ngập, cho nên họ đã sử dụng
phương pháp tăng thân. Tại Pháp và các nước Âu Châu cũng vậy. Để cứu những
chàng thanh niên và những cô thiếu nữ vương vào vòng ma túy, họ lập ra các
trung tâm để cho người bị nghiện tới để cùng tập cai thuốc với nhau. Khi
thực tập chung với một tăng thân đồng hoàn cảnh, ta sẽ có sự nương tựa và
nâng đỡ tinh thần của nhau, vì vậy mà dễ thành công hơn là làm một mình.
Bởi lẽ chống chọi với tập khí xấu như nghiện ngập là một việc rất khó làm,
nhất là khi nạn nhân ở trong tình trạng suy yếu từ tinh thần cho đến thể
chất.
Thành ra tăng thân là một nổ lực tập thể đưa mình đi
lên. Trong bài Kinh Quy Nguyện có một đoạn tán dương tăng thân:
Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời.
Tuy nhiên để cho “tăng là đoàn thể đẹp”, và những người
sống trong tăng thân có an lạc, hạnh phúc thì phải có giới, có luật, phải
tuân theo nếp sống của tăng thân. Nếu sống trong tăng thân mà mình như một
cù lao biệt lập thì không thể nào thành công được. Trong nguyên tắc lục
hòa của đạo Bụt, mình không thể là một hiện tượng đặc biệt, mình phải làm
tất cả những gì mà người khác đang làm, phải hành trì những điều người
khác đang hành trì thì tăng thân mới vững chãi, mới thảnh thơi và mình mới
hưởng được cái vững chãi và thảnh thơi đó của tăng thân. Có những người
trong chúng ta thiếu thảnh thơi đã đành mà còn thiếu luôn vững chãi. Họ
luôn luôn sợ hãi, không biết ngày mai mình sẽ ra sao, không biết cái gì sẽ
xảy ra cho mình chiều này hay sáng mai, họ rất dễ bị buồn, bị lo. Tình
trạng đó tiếng Anh gọi là vulnerability hay insecurity. Đó là đặc tính
tiêu biểu cho con người của thời đại ngày nay.
Con người trong thời đại mới thường xuyên sống trong
trạng thái không cảm thấy an toàn, dễ bị thương tích. Mỗi ngày có không
biết bao nhiêu người bị thương, vì họ không có sự vững chãi, không có gốc
rễ, không có cội nguồn. Một thân cây mà không có gốc rễ thì cố nhiên không
đứng vững được. Con người cũng vậy, không có gốc rễ trong gia đình, không
có gốc rễ trong xã hội, cũng không có gốc rễ trong truyền thống tâm linh
thì làm sao mà đứng vững được, làm sao có vững chãi được! Cho nên mình
phải tự hỏi mình có gốc rễ vững chãi trong gia đình hay không? Nếu không
thì phải lập tức thiết lập gốc rễ đối với gia đình của mình. Nếu gia đình
huyết thống bị đổ vỡ thì phải bám vào gia đình tâm linh. Khi gia đình tâm
linh có gốc rễ rồi, mình trở lại xây dựng gốc rễ cho gia đình huyết thống.
Những người không có gốc rễ là những con người đau khổ. Nếu mình thấy
thù hận xã hội, thù hận tăng thân, thù hận truyền thống tâm linh của mình
thì điều đó chứng tỏ mình đã mất gốc ở trong xã hội và trong truyền thống
tâm linh của mình, vì vậy cho nên mình dễ ngã xuống như một thân cây không
có rễ.
Con người không có gốc rễ là một cô hồn, đi lang thang
vất vưởng, không biết thống thuộc về đâu. Cho nên năm cái lạy của Làng Mai
là để thực tập nối lại gốc rễ của mình với tổ tiên, giònghọ, vói gia đình
huyết thống, với gia đình tâm linh, với xã hội, với chính những người mà
mình thù hận, mình khổ đau. Cái lạy chót là cái lạy để thấy được những khổ
đau của người đã làm cho mình đau khổ, để tha thứ được cho người đó, bởi
vì mình cũng có gốc rễ nơi người đó. Người đó có thể là cha mình, có thể
là mẹ mình mà mình đang thù hận! Người đó có thể là người ngày xưa mình
đem lòng thương yêu và giờ đây trở thành người thù của mình. Khi gốc rễ
của mình trên những mảnh đất đó bị cắt đứt thì mình biến thành một người
bơ vơ, đi lang thang. Cô hồn sống là một hiện tượng rất đặc thù của thế kỷ
thứ 20. Chúng ta chỉ cần nhìn chung quanh là chúng ta sẽ thấy có biết bao
nhiêu người trẻ đi lang thang như những con ma đói, họ không tin tưởng vào
một cái gì hết, không thấy cái gì đẹp, cái gì thật để tin.
TUỆ GIÁC GIÚP CHÚNG TA GIẢI THOÁT KIẾN THỨC LÀM TA TỰ
HÀO
Trong Kinh Samiddhi, thầy Samiddhi nói: Tôi biết
những ý niệm về hạnh phúc, về ngũ dục là những cái bẫy sập vì vậy cho nên
tôi không phí tuổi trẻ của tôi để sa vào những cái bẫy sập đó. Tôi đi tìm
hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại là vì pháp của Đức Thế Tôn là
thiết thực hiện tại, đến để mà thấy, nó vượt tính cách thời gian, bó bảo
đảm sự tự do cho mình, nó cho mình sự vững chãi.
Kinh Samiddhi cũng có đề cập tới nơi nương tựa, tức là
gốc rễ của mình. Nơi nương tựa này là con đường tu học mà Đức Thế Tôn đã
trình bày ra, tức là Pháp. Thầy Samiddhi đã nói tới nguyên tắc hiện pháp
lạc trú: Tôi đi tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và
ở đây, tôi không bị sập vào bẫy của những ý niệm hạnh phúc, tôi đi tìm
hạnh phúc chân thật trong sự sống, trở về với hiện tại và Pháp của Bụt là
ngọn đèn soi sáng cho tôi, giúp tôi tiếp xúc với thực tại mà không làm
cho tôi bị rơi vào những bẫy sập của ý niệm. Thành ra khi có chỗ nương
tựa tức là ta đã có một niềm tin, và có một niềm tin thì ta có hạnh phúc
chân thật. Niềm tin ở đây không phải là tin vào một chủ thuyết về hạnh
phúc, một ý niệm về hạnh phúc. Niềm tin ở đây là một cái gì mình có thể có
kinh nghiệm trực tiếp. Những người có một ý niệm về hạnh phúc ví dụ như
Thượng đế và họ tin vào ý niệm đó, tin vào một thiên đường tương lai, thì
tuy đó cũng là những niềm tin nhưng không phải được đặt trên căn bản thực
chứng trong hiện tại.
Đạo Bụt nói tới niềm tin như là một năng lượng tạo ra
hạnh phúc, nhưng niềm tin ở trong đạo Bụt khác với niềm tin ở ngoài đời.
Vì vậy ở đây ta cần nhắc lại giáo lý về ngũ lực. Ngũ lực là năm loại năng
lượng làm cho ta trở nên một người sống động, có sức sống với hai con mắt
sáng, với những bước chân vững chãi. Năng lượng đầu là Niềm tin. Người
không có niềm tin là người không có năng lượng, đó là một người đã chết.
Tin ở một cái gì thật, một cái gì lành, tin vào một cái gì đẹp, và những
cái đó không thể là những ý niệm. Những điều ta tin phải do kinh nghiệm
trực tiếp của ta. Thí dụ tin vào chánh niệm vì ta vừa nghe một bài
giảng rất hay về chánh niệm, thì đó chưa phải là chánh tín. Được nghe
giảng về chánh niệm, ta thực tập về chánh niệm và ta thấy chánh niệm, ta
thực tập về chánh niệm và ta thấy chánh niệm là nguồn năng lượng mà ta có
thể tạo ra được, ta có kinh nghiệm được, có thể soi sáng cho ta được thì
đó mới là chánh tín. Điều này rất là quan trọng, hành giả phải ghi nhớ
trong lúc thực tập chánh niệm.
Nguồn năng lượng thứ hai là Tấn (diligent), có nghĩa là
sự siêng năng. Nguồn năng lượng thứ ba là Niệm, nghĩa là chánh niệm. Chánh
niệm là trái tim của sự thực tập ở trong đạo Bụt. Chánh niệm là năng lượng
mà mình có thể chế tác ra, giống như điện năng do một nhà máy điện chế
biến ra. Con người của ta cũng là một nhà máy, cũng là một trung tâm biến
chế năng lượng. Năng lượng Niệm là năng lượng ánh sáng, ánh sáng soi đường
cho ta. Năng lượng niệm làm cho êm dịu, trị liệu những nỗi khổ niềm đau
của ta, giúp ta nhìn sâu và thấy được sự thật của đối tượng quán chiếu. Có
năng lượng của chánh niệm thì ta có thể chuyển đổi được các tình trạng. Có
chánh niệm thì ta sống rất có ý thức, đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, làm
việc, hoặc đối xử với anh chị em của ta một cách rất có ý thức. Khi có
năng lượng của niệm thì ta có năng lượng của Định, nguồn năng lượng thứ tư
của người tu. Nhờ định tâm, nhờ sự chăm chú cho nên ta mới thấy được cái
bản chất, cái tự tánh của sự sống. Nhờ niệm, nhờ định mà ta thấy được tự
tánh của đám mây, của bông hoa, của thức ăn, của niềm vui, của Sư em, Sư
chị, Sư anh, và thấy được một cách rất rõ ràng. Cái đó gọi là Tuệ, nguồn
năng lượng thứ năm. Tuệ tức là cái thấy rất sâu và rõ, tiếng Anh là
“understanding" hay là “wisdom”.
Như vậy Niệm là cái năng lượng để soi chiếu. Khi có soi
chiếu thì có sự tập trung và khi tập trung thì ta thấy được cái bản chất,
cái tự tánh của đối tượng. Chính cái thấy đó là cái thấy trực tiếp, cái
thấy do kinh nghiệm bản thân, nên mới gọi là Tuệ. Ngược lại, thấy bằng
những ý niệm, những lý thuyết chồng chất thì được gọi là kiến hay kiến
thức. Học Phật Pháp ta có thể chất chứa rất nhiều kiến thức về Phật Pháp,
nhưng những kiến thức đó không phải là tuệ, đôi khi nó còn có hại.
Rất nhiều người học Phật trên mười năm nhưng đời sống của họ không có chút
nào thay đổi cả. Tại vì họ chỉ có kiến thức mà không có cái thấy trực tiếp
của tuệ giác.
Trong phương pháp Tứ Y do chư Tổ đặt ra, điều thứ tư là
Y trí bất y thức. “Y trí” là nương vào tuệ, “bất y thức” là đừng
nương vào kiến thức. Tuệ tức là cái biết trực tiếp bằng kinh nghiệm.
Còn kiến là cái biết nhận từ những ý niệm do người khác trao truyền lại
hay là từ đọc sách. Hai cái đó rất khác nhau. Tuệ có công dụng giải
phóng, trị liệu cho ta, còn kiến làm cho ta càng ngày càng tự hào và trở
thành nạn nhân của những kiến thức của ta. Ví dụ khi nghe Thầy giảng về
chánh niệm, Thầy tìm mọi cách để cho ta thấy rằng chánh niệm không phải là
một ý niệm mà là một vùng năng lượng ở trong con người. “Tôi đang thở vào
và tôi biết rằng đây là hơi thở vào, tôi đang thở và tôi biết rằng đây là
hơi thở ra”. Cái năng lượng nhờ đó mình nhận diện được hơi thở vào là
hơi thở vào là chánh niệm. Khi uống nước mà không biết là mình uống
nước thì lúc đó chánh niệm không có mặt. Thành ra chánh niệm là một cái có
thật và mình có thể tiếp xúc được. Khi học về Niệm như vậy rồi thì mình
đâu bị kẹt vào ý niệm về Niệm, tại vì mình đã có kinh nghiệm trực tiếp về
loại năng lượng mà mình gọi là Niệm, và Niệm đó là do Tuệ đưa tới.
Khi thấy ta đã có khả năng chế biến ra năng lượng niệm,
và năng lượng niệm giúp ta tập trung được, hiểu biết được, thì ta có đức
tin về niệm, và đức tin này hoàn toàn làm bằng kinh nghiệm, không
phải làm bằng ý niệm, cho nên nó là Chánh Tín. Dù cho một số rất đông
người tin vào một điều gì, dù cho cả một nước tin vào một chủ nghĩa, thì
niềm tin đó chỉ mới là niềm tin trên một ý niệm mà thôi. Ví dụ nước Nga
tin vào chủ nghĩa Mác Xít trong 73 năm, nước Việt cũng tin vào chủ thuyết
Cộng sản trên 45 năm, cả hai dân tộc đã chịu không biết bao nhiêu đau khổ
vì ý niệm, vì niềm tin không được soi sáng và thực chứng đó. Trong Kinh
Kalama Bụt đã dạy rất rõ “Đừng vội tin vào điều gì, dầu điều đó là điều đa
số đang nói tới như một sự thật; đừng vội tin điều gì dầu điều đó đã được
biên chép trong kinh điển; đừng vội tin vào điều gì dù điều đó đã được một
vị đạo sư nổi tiếng nói ra”. Những câu đó là những câu do chính Bụt đã
nói, ta phải đem ra thí nghiệm. Nếu thực tập và thấy những điều có thể
diệt trừ được khổ đau, xây dựng được sự giải thoát, sự an lạc, thì lúc đó
ta mới tin. Niềm tin đó mới là chánh tín.
BỐN ĐẶC TÍNH CỦA PHÁP
Pháp có nhiều đặc tính. Đặc tính thứ nhất là thiết thực
hiện tại (Sanditthika), tức là có thể sờ mó được, có thể chứng nghiệm ngay
bây giờ. Trong khi đó có những chủ thuyết, những ý niệm hứa hẹn rằng 30
năm sau hay đời sau thì thiên đường sẽ hiển hiện, nhưng có thể là không
bao giờ nó xảy ra cả! Ngược lại, đặc tính của Pháp là ngay giây phút mình
bắt đầu thực tập là mình có thể cảm thấy được hiệu quả của nó. Ví dụ “thở
vào, tôi biết tôi đang thở vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra”, nắm lấy
điều này để thực tập thì tự nhiên chánh niệm phát sinh và ta có định liền
lập tức và ta trở về được với chính ta. Như vậy dù chưa đến mức độ cao
siêu, nhưng niệm, định, và tuệ đã thực sự phát sinh, và sự thực tập của ta
có kết quả liền lập tức.
Đặc tính thứ hai của Pháp là Akalika, nghĩa là vượt
thoát thời gian. Những bẫy sập, những ý niệm về hạnh phúc có tính cách
lệ thuộc vào thời gian, nằm trong thời gian. Ngược lại, Pháp thì vượt
thoát thời gian.
Đặc tính thứ ba của Pháp là Ehipassika nghĩa là tự mình
tới, tự mình thấy, mình kinh nghiệm mà không cần phải qua trung gian của
một ai hết. Ta có thể dịch là đến để mà thấy (Venez voir par vous
même; come and see for yourself). Không cần phải có một giai cấp Tăng lữ
đứng làm trung gian để giúp ta tới chứng kiến cái mầu nhiệm của Pháp.
Đặc tính thứ tư của Pháp là Upanayika tức là có khả
năng đưa mình tới chỗ an lành tốt đẹp, có khả năng hướng thượng. Ta có thể
dịch là có công năng dẫn đạo đi lên.
CHỈ NƯƠNG TỰA VÀO HẢI ĐẢO TỰ THÂN
LÀ CÓ ĐỦ NĂM NGUỒN NĂNG LƯỢNG
Chúng ta có một bài thực tập nương tựa rất hay mà tôi
thường áp dụng nhiều lần mỗi ngày, lúc có vấn đề cũng như lúc không có vấn
đề. Đó là bài Hải đảo tự thân:
Quay về nương tựa,
Hải đảo tự thân,
Chánh niệm là Bụt,
Soi sáng xa gần,
Hơi thở là Pháp,
Bảo hộ thân tâm,
Năm uẩn là Tăng,
Phối hợp tinh cần,
Thở vào, thở ra,
Là hoa tươi mát,
Là núi vững vàng,
Nước tĩnh lặng chiếu,
Không gian thênh thang.
Quay về nương tựa, là hơi
thở đầu, Hải đảo tự thân, là hơi thở thứ hai. Bụt dạy rằng, đừng
nương tựa vào bất cứ một điều gì, nhất là đừng nương tựa vào ý niệm, dầu ý
niệm về Bụt, vì ý niệm đó có thể sai, có thể không phải là Bụt. Bụt và
ý niệm về Bụt là hai cái khác nhau. Trong quá trình tu học càng ngày
ta càng khám phá ra chân tướng của Bụt, và những ý niệm xưa của ta về Bụt
cứ từ từ biến mất. Nếu những ý niệm về Bụt không rơi xuống thì chân tướng
của Bụt không bao giờ hiển hiện ra được. Điều này cũng phải được áp dụng
cho những hiện tượng khác, như trời xanh, mây trắng, hạnh phúc, người Sư
anh, Sư em, Sư chị của ta. Những ý niệm về họ phải được lột ra, phải được
làm cho rơi xuống rào rào, thì cái bản thân, cái chân như của người đó,
của vật đó mới phát hiện ra được. Cho nên có ý niệm về một điều gì là rất
nguy hiểm. Bụt dạy chúng ta phải quay về để tiếp xúc cho được cái pháp ở
trong tự thân, Ngài nói trong hải đảo của tự thân có năm nguồn năng lượng,
khi nương tựa vào năm nguồn năng lượng thì rất có an ninh,
“Attadipasarana”. (Atta là tự thân, Dipa là hải đảo, Sarana là nương tựa).
Đó là lời Bụt căn dặn các thầy và các sư cô vào năm Ngài 80 tuổi. Ngài
biết rằng Ngài sẽ nhập diệt trong vòng mấy tháng nữa và trong số môn đệ
của Ngài có nhiều người sẽ cảm thấy rất bơ vơ. Ngài nói với các đệ tử:
“Này các thầy, các thầy đừng nương tựa nơi bất cứ một cái gì khác, hãy trở
về nương tựa nơi hải đảo của tự thân”. Hải đảo là một vùng đất rất khó bị
sóng cuốn đi, vì vậy cho nên nó đứng vững. Trở về nương tựa nơi hai đảo
của tự thân tức là trở về nương tựa nơi Pháp, vì trong hải đảo tự thân có
Pháp. Quí vị có nhớ năm nguồn năng lượng mà mình gọi là ngũ lực không?
Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ là chỗ mình trở về, là nơi mình nương tựa. Năm
điều đó không phải là năm ý niệm, mà là năm nguồn năng lượng có thật trong
mỗi người chúng ta. Nếu ta sợ hãi, khổ đau, bơ vơ là vì ta không biết tìm
về nương tựa nơi năm nguồn năng lượng đó.
Chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần,
là hơi thở thở thứ ba và thứ tư.
Bụt không còn là ý niệm nữa, Bụt là một chất liệu có
thật mà mình có thể tiếp xúc bất cứ lúc nào, đó là chánh niệm. Một em bé
năm tuổi cũng có khả năng chế biến ra chánh niệm, có thể đi trong chánh
niệm, ăn trong chánh niệm, nhìn trong chánh niệm, nắm tay người thân trong
chánh niệm. Cho nên chánh niệm không phải là một ý niệm, mà là một nguồn
năng lượng, là bản chất của một vị Bụt. Vì vậy ta thường nói chánh niệm là
Bụt. Quay về nương tựa Bụt tức là quay về nương tựa nơi nguồn năng
lượng đó của Chánh niệm, trong đó có chứa bốn nguồn năng lượng khác là
Tín, Tấn, Định, và Tuệ. Chánh niệm là ánh sáng được chế biến do sự
thực tập. Khi có ánh sáng rồi thì ta được soi chiếu, được dẫn dắt, và nhờ
đó mà ta biết nên làm gì và không nên làm gì, nên nói gì và không nên nói
gì, nên nghĩ gì và không nên nghĩ gì, nên sinh sống bằng cách nào và không
nên sinh sống bằng cách nào. Đó là Bát Chánh Đạo, Như vậy Bát Chánh Đạo là
tám con đường được chiếu sáng bởi ánh sáng của chánh niệm.
Người có niềm tin nơi chánh niệm luôn luôn trở về với
hải đảo tự thân và lấy năm nguồn năng lượng đó làm nơi nương tựa và soi
sáng cho mình. Trong câu “chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần”, gần
tức là bây giờ và ở đây, những cái gì đáng làm, những cái gì không nên
làm; những cái gì đáng nói, những cái gì không đáng nói ngay trong giờ
phút này. Xa nghĩa là trong trong tương lai, mình cũng biết được
những gì đáng làm, đáng nói, không đáng làm, không đáng nói trong tương
lai.
“Hơi thở là Pháp, bảo hộ thân tâm”
là câu thực tập hơi thở thứ năm và thứ sáu. Pháp ở đây cũng không phải là
ý niệm, pháp ở đây là một thực tại. Ví dụ một bài pháp thoại ở trong băng,
chưa hẳn là pháp, nó chỉ là những ý niệm về pháp. Một cuốn Kinh cũng chưa
phải là pháp mà chỉ là ý niệm về pháp. Ngược lại một hơi thở có ý thức là
pháp sống, pháp linh động, pháp đích thực (Living Dharma). Thành ra khhi
đi thiền hành mà đi có chánh niệm, là ta đang thuyết pháp, thuyết pháp
bằng thân và tâm của mình. Đó gọi là pháp đích thực. Còn một bài giảng
dầu hay cách mấy cũng chỉ là pháp ý niệm để giúp mình đi tới cái pháp đích
thực mà thôi.
Khi đang nghe thuyết pháp hoặc đang giảng mà nghe tiếng
đồng hồ hay tiếng chuông điện thoại reo, ta dừng lại, thở vào thở ra trong
chánh niệm, tức là ta cũng đang thuyết pháp, pháp linh động. Khi thấy Thầy
đang giảng hay mà bỗng dưng ngừng lại khi có một tiếng chuông, các vị chưa
quen thường giận lắm, tại sao không để cho Thầy nói? Đó là tại ta chưa
biết rằng những điều Thầy nói tuy hay, nhưng không thể sánh được với hơi
thở của Thầy và của ta trong lúc đó. Chính những hơi thở đó mới là pháp mà
ta thực chứng được.
Vì vậy với câu thực tập hơi thở thứ năm và thứ sáu,
hơi thở là Pháp, bảo hộ thân tâm, mình nhận thức được rằng thân và tâm
của mình được bảo hộ bằng những hơi thở chánh niệm. Sự bảo hộ không phải
là một sự bảo hộ thần bí nào cả. Khi mình có chánh niệm thì chánh niệm đó
là lực lượng bảo hộ cho mình. Một người thợ, một công nhân, trong khi sử
dụng máy móc mà có chánh niệm thì không bao giờ bàn tay bị máy cán. Chánh
niệm bảo đảm cho sự an toàn. Khi lái xe mà anh có chánh niệm thì chánh
niệm bảo hộ cho anh. Khi sắp sửa nói một câu mà có chánh niệm thì chánh
niệm cũng sẽ bảo hộ anh. Đó là sự bảo hộ đích thực của Bụt, không phải do
một thần lực huyền bí hay phép màu nào cả.
Năm uẩn là tăng, phối hợp tinh cần
là hai câu cuối của Bài Thực Tập Quay Về Nương Tựa mà tôi muốn trao truyền
lại cho quí vị. Năm uẩn là năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức.
KHI NĂM UẨN KHÔNG HÒA HỢP TA SẼ KHAI CHIẾN VỚI BÊN
NGOÀI
Khi một người có “chiến tranh” với cha mẹ, anh em, vợ
con trong gia đình hay với bạn bè ngoài xã hội, thì chính người đó đang có
sự rối loạn bất ổn trong nội thân. Những lúc đó tâm họ không an lạc, nói
một cách khác, năm uẩn của người đó không có sự phối hợp điều hòa, chúng
đang chống đối nhau.
Thường thường khi có “chiến tranh” ở bên trong là chúng
ta hay “khai chiến “ với bên ngoài. Thành ra những người hay “khai chiến”
với bên ngoài là chắc chắn họ đang có nội chiến trong thân tâm của họ.
Những lúc như vậy, nếu biết nắm lấy hơi thở và thở theo chánh pháp, tức là
ta biết dùng chánh niệm để soi chiếu nội tâm, thì tự nhiên năm uẩn sẽ trở
lại hòa điệu với nhau, và nhờ vậy mà ta có được an lạc, ta thôi gây chiến.
Trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt dạy “Tôi đang thở vào và làm cho thân
thể tôi trở nên an tịnh”, tức là ta có thể dùng hơi thở có chánh niệm để
tạo ảnh hưởng tốt trên sắc và thọ của mình. Trong khi thực tập nắm lấy hơi
thở ta điều hợp năm uẩn để cho chúng êm dịu lại và tự nhiên sự an lạc sẽ
tới và nhờ vậy mà mình không còn khai chiến với người khác nữa. Năm uẩn ở
đây không có nghĩa là cái thế giới bên trong. Khi nói năm uẩn là năm uẩn
của anh là không đúng, tại vì đứng về phương diện thân tức là sắc, cũng
như đứng về phương diện thọ, tưởng, hành và thức thì thân thể của tôi được
làm bằng những chất liệu không phải là tôi. Thức ăn tôi ăn, không khí tôi
thở, nước tôi uống, tất cả những cái đó là từ anh, từ chị, từ những người
khác, từ những hiện tượng khác trong vũ trụ. Cho nên khi ta nói cái sắc
này là của tôi là không đúng. Thọ cũng vậy, thọ tức là cảm giác, mà cảm
giác luôn luôn là cảm giác giác về cái gì, cảm giác về những cái ở trong
thân và cảm giác về những cái ngoài thân. Còn tưởng tức là tri giác, cũng
vậy. Tri giác là tri giác về cái gì. Ví dụ tôi có tri giác về anh thì chủ
thể của tri giác với đối tượng của tri giác là một. Anh là đối tượng của
tri giác của tôi, thành ra nói anh ở ngoài tôi là không đúng. Những tâm
hành khác như giận cũng vậy. Giận thì giận ai, hay thương là thương ai.
Thành ra đối tượng của những tâm hành này là tất cả những cái ở bên ngoài.
Vì vậy nên nói năm uẩn là những cái ở bên trong tôi là không đúng. Khi
chưa tu học thì ta tưởng như vậy, nhưng nhờ quán chiếu, nhờ nhìn kỹ ta
thấy năm uẩn thật ra không phải là của ta. Chúng nó dính chùm, liên kết
với nhau. Năm uẩn của anh và năm uẩn của tôi nó dính líu tới cái mức mà ta
không thể nào tách rời ra được.
Khi một tăng thân không có sự hòa hợp thì mọi người
không có hạnh phúc. Khi năm uẩn của ta không có hòa hợp thì chúng có chiến
tranh, và ta không có hạnh phúc. Hơi thở chánh niệm làm lắng dịu, và
đem lại sự hòa điệu bên trong, vì vậy cho nên hơi thở chánh niệm là sự
thực tập rất quan trọng. Sơ khởi, chánh niệm làm dịu tâm tư ta lại,
gọi là an tịnh tâm hành. Tâm hành an tịnh rồi, nếu tiếp tục thì chánh niệm
càng soi sáng, ta thấy cái này sai cái kia không đúng. Điều chỉnh lại một
lúc tự nhiên có sự hòa điệu ở trong năm uẩn của ta. Cũng như trong căn
phòng ta ở, nếu không có thì giờ để sắp xếp, đồ đạc lung tung, thì khi
bước vào ta thấy cấn cái, khó chịu. Nhưng nếu có thì giờ, nhìn cho kỹ, ta
thấy cái này phải xoay lại một chút, cái kia xếp lại một chút, sắp đặt một
hồi tự nhiên căn phòng có không gian, và ta sống được thoải mái. Năm uẩn
cũng vậy nếu không có chánh niệm thì ta để sắc, thọ, tưởng, của ta bất an,
xáo trộn, và vì vậy mà ta khó chịu, bức rức ở bên trong. Mà khó chịu ở bên
trong thì ta khai chiến với bên ngoài! Cho nên thắp ngọn đèn chánh niệm
lên, nhìn cho kỹ, sắp đặt lại bằng hơi thở chánh niệm là tạo ra sự an lạc
và hòa điệu bên trong thì tự nhiên mình có hạnh phúc với cả bên trong lẫn
bên ngoài. Vì vậy mà năm uẩn đích thực là tăng thân của ta. Khi dùng hơi
thở chánh niệm và phối hợp một cách tinh cần, thì ta tạo ra sự an lạc. Từ
đó những lo sợ, những giận hờn, những thất vọng của ta sẽ được chuyển hóa.
Sau đó ta thực tập tiếp bài Quán niệm hơi thở:
Thở vào, thở ra,
Là hoa tươi mát,
Là núi vững vàng,
Nước tĩnh lặng chiếu,
Không gian thênh thang.
Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra. Thở vào tôi
thấy là hoa, thở ra tôi thấy tôi tươi mát, thở vào tôi thấy tôi là núi,
thở ra tôi thấy tôi vững vàng, thở vào tôi thấy tôi là nước tĩnh ...
Lúc đó những cảm xúc, những giận hờn, những lo lắng của
ta sẽ lắng xuống, và tâm ta an lạc như mặt nước tĩnh, và nhờ vậy nó mới
phản chiếu được sự thật. Nước tĩnh lặng chiếu là vậy. Nếu tâm mình còn
ghét, còn giận thì cái hình ảnh về người anh, người em hay người chị của
mình nó méo mó một cách rất là buồn cười. Khi tâm tĩnh lặng thì tri giác
ta sẽ đúng lại từ từ, nếu không thì chỉ là vọng tưởng và là tri giác sai
lầm mà thôi. Tri giác sai lầm sẽ làm cho mình khổ và làm cho người khác
khổ theo.
Câu cuối của bài thực tập, Không gian thênh thang
nghĩa là lúc đó ở trong tâm ta có không gian, và ta thấy khỏe, không còn
chật chội nữa! Lúc có những tri giác sai lầm, có những giận hờn buồn phiền
thì trái tim ta co lại nhỏ xíu, không có chỗ để cho người sư anh, sư em
ngồi trong đó. Khi tâm tĩnh xuống thì ta bắt đầu thấy được rõ hơn, tim ta
mở rộng hơn ra, vì vậy mà có không gian bên trong và chấp nhận được người
kia.
Hai bài thực tập này rất hay, chúng được đúc kết từ
những tinh túy của lời Bụt dạy. Cùng với những bài khác, hai bài này với
lời chú giải, đã được in trong cuốn Sen Búp từng Cánh Hé, Hai bài
này cũng đã được dịch ra tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Ý.
Những lúc mà ta do dự, sợ hãi, không được vững chải, là
những lúc ta cần tới những bài thực tập này hơn lúc nào hết. Những lúc
không do dự, không sợ hãi, không lung lay mà thực tập bài này thì nó hạnh
phúc nhiều hơn lên. Đừng đợi tới khi có do dự, sợ hãi, lung lay rồi mới
thực tập. Chúng ta hãy thực tập hàng ngày cho thuần thục, để lúc sắp có
chiến tranh ta chỉ cần vài hơi thở là có thể tạo được hòa bình.
Hạnh phúc là có sự mát mẻ và thanh lương. Trái với hạnh
phúc là cơn sốt. Khi rơi vào ngũ dục ta sẽ lên cơn sốt ngũ dục. Đầu đó là
danh, là lợi, là tiền tài, là sắc dục, hay là sự ăn ngon. Trong khi hưởng
thụ những dục lạc đó, người nào cũng có những cơn sốt. Ta chỉ cần quán
chiếu là thấy cơn sốt có mặt trong lúc hưởng thụ và cơn sốt sẽ trầm trọng
hơn sau lúc hưởng thụ.
Khi sốt tức là bị ngọn lửa đốt cháy. Thơ của Vũ Hoàng
Chương nói về Kiều Thu có câu:
Kiều Thu này Tố em ơi,
Ta đang lửa đốt tơi bời mái tây.
Đó là cơn sốt mà trong năm bẫy dục lạc, cái nào cũng
có. Ví dụ một món rất ngon, Khi sắp ăn ta đã bắt đầu sốt, trong khi ăn ta
lại có sốt, và khi ăn xong thì cơn sốt càng trầm trọng hơn. Sau khi ăn
xong , ta thường tự hỏi tại sao ta đã ăn và tại sao ta ăn nhiều vậy? Tại
sao đã quyết định không nên ăn những thứ này mà ta vẫn ăn! Lúc đó ta thắc
mắc, ân hận, lo âu, oán trách ... Đó là những cơn sốt, những ngọn lửa đốt
cháy tâm can.
DÀY CÔNG TU TẬP MỚI CHUYỂN HÓA ĐƯỢC TÀNG THỨC
Ta đã biết tất cả hạt giống đều có mặt ở dưới tàng thức
của ta. Tuy nhiên, phần tàng thức thiên biến vạn hóa, bất khả tư nghì. Ta
đã biết cái danh, cái lợi, cái tài, cái sắc v.v... là những bẫy sập, và
nhiều khi ý thức của ta thấy điều đó rất rõ, Ta đồng ý một trăm phần trăm
với những điều Bụt đạy, những lời Thầy nói. Ta biết rằng con đường dục lạc
không phải là con đường của ta. Con đường của ta là nương tựa vào Pháp, là
đi theo tăng thân để tạo dựng niềm vui, ta thấy rất rõ, không nghi ngờ gì
hết. Vậy mà một đêm, trong giấc mơ ta thấy ta làm khác. Sở dĩ như vậy là
vì ở dưới tàng thức ta có những lực lượng của tập khí, chúng đi tìm cái
hạnh phúc theo thói quen! Ví dụ một Sư chú đã cạo đầu đi tu, đã quyết
không những đời này làm người xuất gia, mà đời sau cũng nuốn tiếp tục làm
người xuất gia. Nó rõ ràng rành mạch như vậy, nhưng tại sao đêm qua mình
lại nằm mơ thấy mình trở thành một chú rể! Tôi cũng đã trải qua cái hoàn
cảnh đó, tôi cũng đã một lần nằm mơ thấy mình làm rễ, có cô dâu đàng
hoàng, rất buồn cười! Các Sư cô cũng vậy, chắc chắn rằng đã hoặc sẽ có một
đêm nào đó các sư cô nằm mơ thấy mình là một cô dâu, mặc áo rất đẹp, có
những cô phù dâu đứng ở hai bên.
Giấc mơ này sẽ xảy ra, và tôi nghĩ nó chỉ sẽ xảy ra
chừng hai, ba lần thôi. Cái tàng thức của ta nó kỳ lắm! Nó có đường lối
vận hành riêng của nó, rất là khó đoán. Tôi có bổn phận phải cho quí vị
biết những giấc mơ này sẽ xảy ra. Khi nó xảy ra quí vị nên mỉm cười với nó
mà thôi. Ta nên biết rằng phần ý chưa phải là tất cả cái tâm của ta, tâm
ta còn có phần tàng nữa. Trong tàng, nó có những ước muốn. Lắm lúc trong
khi thức ta thấy bằng cấp đối với ta không có nghĩa, tại vì nó là một
trong những cái bẫy sập. Người ta chạy chọt, lăng xăng đi tìm bằng cấp. Ta
thấy rất rõ rằng điều ta đi tìm là hạnh phúc chân thật, bây giờ và ở đây.
Vậy mà có thể trong một đêm, ta thấy ta dội nón, mặc áo tốt nghiệp từ một
trường đại học! Thành ta ở dưới tàng thức ta có những cái dư của tập khí,
những lề lối suy tư, những ý niệm về hạnh phúc cũ. Nhờ tu tập, trên phần ý
ta đã giải quyết xong, nhưng ở dưới phần tàng nó vẫn còn, nên ta phải tiếp
tục quán chiếu ngày đêm. Sự quán chiếu đó đưa ánh sáng chánh niệm xuống
dưới tàng thức để chuyển hóa những tập khí lâu đời. Ví dụ ban đêm sư cô
nằm mơ thấy mình trở thành cô dâu. Khi thức dậy, sư cô chỉ nên mỉm cười mà
không cần buồn giận, trách móc mình. Ban đầu giấc mộng đó sẽ làm cho ta
mạnh khỏe, không sao cả, vì làm cô dâu ở trong giấc mộng, an toàn hơn làm
cô dâu ở trong thực tế. Làm cô dâu trong giấc mộng ta chỉ sống cái giây
phút mặc áo đẹp thôi, nhưng không phải trải qua tất cả những chua cay mà
cô dâu thật sự ở ngoài đời phải gánh chịu. Theo tâm lý học, nằm mơ thấy
mình là cô dâu là một chuyện rất mạnh khỏe, “good for our health”, không
sao cả, Nhưng như vậy không có nghĩa là ta không cần tiếp tục quán chiếu.
Phải thấy rất rõ rằng làm cô dâu hay chú rể trong lần đó thôi thì rất an
toàn, nhưng nếu tiếp tục thấy thêm nhiều làn nữa thì có nghĩa là ta tu tập
không có hiệu quả và ta sẽ gánh chịu tất cả. Phải thấy rõ điều đó để tinh
chuyên thực tập quán chiếu mà chuyển hóa tàng thức.
Như vậy ở dưới tàng ta có những lực luợng của tập khí,
những tùy miên đi theo ta. Chúng nằm ngủ ở dưới đó mà nhiều khi ta không
biết và nghĩ rằng ta không còn những tập khí đó nữa. Vì vậy tu tập là
chuyển hóa kho tàng thức, chứ không phải chỉ thuyết phục anh chàng ý thức
mà thôi. Cố nhiên ở phần trên của tâm có lý trí, có sự phán xét và ta
bắt đầu thực tập quá chiếu với phần ý của ta. Nhưng ở dưới phần tàng nó có
những cái tùy miên mà mình cần phải nhận diện. Những tùy miên đó
tạo ra một lực lượng, một khuynh hướng rất gần với cái mà ta gọi là thức
thứ bảy hay là Mạt Na. Chính cái ý thức của ta nó dựa trên mạt na mà hoạt
động. Trong đời sống ban ngày, ý thức tiếp xúc với thế giới thực tại bên
ngoài, nhờ vậy nó sáng suốt, biết cái gì nên, cái gì không nên, Nhưng ban
đêm trong giấc mơ, sự tiếp xúc với thế giới thực tại không có, vì vậy mà
có những cái thấy được tạo dựng bởi những tùy miên, bởi những ao ước,
những tập khí của mình. Nó tạo ra một cái thế giới không phù hợp với cái
thế giới của thực tại. Vì vậy cho nên sự thực tập của mình đêm cũng như
ngày là rọi ánh sáng Chánh niệm xuống tận những tầng lớp sâu sắc nhất của
tàng thức để chuyển hóa những tùy miên, những tập khí lâu đời. Cũng vì vậy
mà tôi đã nói rằng đối với người nghiện ma túy, nếu ta tới và nói rằng:
“Anh đừng có dùng ma túy nữa, dùng ma túy làm cho thân thể anh bệ rạc,
cuộc đời anh hư hỏng, không có tương lai cho chính anh và cả cho con cháu
anh” là ta đang làm một chuyện vô ích vì người kia đã thấy được điều đó,
nhưng dưới tàng thức của họ, những lực lượng ma quái kia, những tập khí
lâu đời kia, những sự ràng buộc chắc nịt kia còn quá lớn. Vì vậy một mặt
mình phải tạo một tăng thân, mặt khác mình phải giúp người đó có phương
tiện để sống với một tăng thân có cùng hoàn cảnh, cùng quán chiếu thì mình
mới có thể giúp được người đó.
Sống trong tăng thân, cùng thực tập, cùng hành trì
những giới luật với tăng thân, là con đường an ninh nhất cho chúng ta. Khi
nghĩ rằng ta đã học được một ít giáo lý và có thể ở riêng một chỗ để thực
tập thì ý niệm đó rất nguy hiểm cho chính ta và cho cả những người chung
quanh.
---o0o---
[
Mục Lục
] [
Chương 1] [
Chương 2
] [Chương
3] [
Chương 4]
---o0o---
Vi tính: Cao Thân
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-03-2006