| .. ... |
. |

Căn Bản Phật Giáo
Bình Anson
NXB Tổng Hợp TP HCM
TL. 2005 - PL. 2549
Mục lục
-01-
Tóm Tắt Căn
Bản Phật Giáo
Tỳ-khưu Dhammika
Bình Anson lược dịch
---*---
Lược dịch từ bài "Basic Buddhism: A Five-Minute Introduction" (Căn
bản Phật giáo: Giới thiệu trong năm phút), trong quyển "Good Question,
Good Answer" (Khéo Vấn, Khéo Đáp) của Bhikkhu Dhammika, ấn bản Internet
(http://www.buddhanet.net).
*
Hỏi: Phật Giáo là gì?
Đáp: Phật Giáo là một tôn giáo có khoảng 300 triệu tín
đồ trên khắp thế giới. Danh từ Phật
Giáo (Buddhism) phát nguồn từ chữ "buddhi", có nghĩa "giác
ngộ", "thức tỉnh". Phật Giáo khởi nguồn từ hơn 2,500 năm
trước, khi Ngài Siddhattha Gotama (Sĩ-đạt-ta
Cồ-đàm), hay Đức Phật, tự mình
giác ngộ vào lúc 35 tuổi.
Hỏi: Có phải Phật Giáo chỉ thuần là một tôn giáo?
Đáp: Đối với nhiều người, Phật
Giáo không phải chỉ là một tôn giáo mà còn có thể xem như là một
triết học, hay đúng hơn, đó là "một
lối sống". Gọi Phật Giáo là một triết học, vì danh từ "triết học -
philosophy" có nghĩa là "sự yêu chuộng trí tuệ", và con
đường của đạo Phật có thể tóm tắt như sau:
(1) sống có đạo đức,
(2) nhận thức rõ ràng về mọi ý nghĩ và hành
động, và
(3) phát triển sự hiểu biết và trí tuệ.
Hỏi: Phật Giáo giúp tôi bằng cách nào?
Đáp: Phật Giáo giải thích mục
đích của đời sống, giải thích hiện tượng bất công và bất bình
đẳng trên thế gian, và
đưa ra một phương cách thực hành hay
một lối sống để đưa đến hạnh phúc thật sự.
Hỏi: Tại sao Phật Giáo trở nên phổ biến?
Đáp: Phật Giáo ngày càng phổ biến ở các nước Tây phương vì
nhiều lý do. Thứ nhất là vì Phật Giáo có những giải
đáp cho nhiều vấn đề trong các xã hội
vật chất hiện đại. Tiếp đến, cho những ai có
chú tâm, Phật Giáo đem lại một sự thông hiểu sâu sắc về tâm trí con người
và các cách trị liệu tự nhiên, mà các nhà tâm lý nổi tiếng trên thế
giới đều công nhận là rất cao cấp và
rất hiệu quả.
Hỏi: Đức Phật là ai?
Đáp: Ngài Siddhattha Gotama sinh ra vào năm
563 trước Tây Lịch, trong một hoàng tộc tại Lumbini, nay thuộc xứ
Nepal. Vào năm 29 tuổi, Ngài nhận thức
rằng tiện nghi vật chất và an ninh trong thế gian không bảo
đảm hạnh phúc; vì thế, Ngài
đi tìm hiểu các học thuyết, tôn giáo
và triết học thời đó, để tìm kiếm chìa
khóa đưa đến hạnh phúc. Sau sáu năm học tập và
hành thiền, Ngài tìm ra con đường "Trung Đạo"
và giác ngộ. Sau khi chứng đắc, Ngài
dùng quãng đời còn lại tại thế gian
để truyền giảng các nguyên lý trong
đạo Phật -- gọi là Pháp, hay Chân lý,
cho đến khi Ngài nhập diệt vào năm
80 tuổi.
Hỏi: Có phải Đức Phật là Thượng
Đế?
Đáp: Không, Ngài không là Thượng
Đế, và Ngài cũng không tuyên bố như
thế. Ngài là người chỉ dẫn con đường đưa đến
giác ngộ, từ kinh nghiệm thực chứng của Ngài.
Hỏi: Phật tử có tôn thờ các thần tượng không?
Đáp: Những người Phật tử tỏ lòng tôn kính các hình ảnh của
Đức Phật, nhưng không tôn thờ, cũng không van
xin những điều lợi lạc. Một pho tượng Phật ngồi trong tư thế với hai tay
dịu dàng đặt trên vế, với nụ
cười từ bi, nhắc nhở chúng ta nỗ lực phát triển tình thương và an
định nội tâm. Lễ lạy tượng Phật là
để tỏ lòng biết ơn về các lời dạy của
Ngài.
Hỏi: Tại sao nhiều quốc gia Phật Giáo lại nghèo như vậy?
Đáp: Không hẳn đúng như vậy.
Nhật Bản là một quốc gia có truyền thống Phật Giáo sâu
đậm và ngày nay cũng là một quốc gia
có kinh tế giàu mạnh. Thái Lan, với Phật giáo là quốc giáo, cũng có một
nền kinh tế tương đối vững mạnh và
phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng một trong các
điều dạy của Phật Giáo là tài sản của
cải không bảo đảm được hạnh phúc, và
tài sản của cải cũng không bao giờ thường còn. Dân chúng trong bất kỳ quốc
gia nào cũng chịu đau khổ, cho dù họ
giàu sang hay nghèo nàn. Chỉ những người nào thông hiểu các lời dạy của
Đức Phật thì mới có thể tìm
được hạnh phúc thật sự.
Hỏi: Có phải có nhiều tông phái Phật Giáo không?
Đáp: Có nhiều tông phái trong Phật Giáo là vì có những khác
biệt về văn hóa và truyền thống lịch
sử của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, căn bản của
Phật Giáo vẫn không thay đổi, đó là Pháp hay Chân lý.
Hỏi: Có phải các tôn giáo khác đều sai
lầm?
Đáp: Phật Giáo là một hệ thống tín ngưỡng có tính bao dung
đối với các tín ngưỡng hay tôn giáo khác.
Phật Giáo chấp nhận các lời giảng đạo đức của các tôn giáo khác, nhưng
Phật Giáo còn tiến xa hơn, bằng cách
đưa ra một mục tiêu dài hạn trong sự hiện hữu của chúng ta, qua trí
tuệ và sự hiểu biết thật sự. Phật Giáo chân chính thì rất bao dung, và
không quan tâm đến các nhãn hiệu như
là "tín hữu Ky-tô giáo", "tín hữu Hồi giáo", "tín hữu Ấn-độ
giáo", hay "Phật tử". Vì vậy, trong lịch sử, không bao giờ có các
cuộc thánh chiến mang danh Phật Giáo. Cũng vì thế mà những người Phật tử
không đi truyền giảng hay cải đạo người khác;
họ chỉ giảng giải nếu được ai hỏi đến.
Hỏi: Phật Giáo có tính khoa học không?
Đáp: Khoa học là tri thức được
kết hợp thành hệ thống, qua các dữ kiện
được quan sát và thực nghiệm và
đề ra các định luật tổng quát của thiên
nhiên. Cốt lõi của Phật Giáo phù hợp với định
nghĩa đó, bởi vì Tứ Diệu Đế hay Bốn Sự
Thật Thâm Diệu, có thể được thử nghiệm và minh chứng bởi bất kỳ
người nào, và ngay chính Đức Phật cũng đã
từng nói với các đệ tử rằng họ phải thực
chứng các lời dạy của Ngài, mà không nên chỉ tin suông. Phật Giáo
dựa nhiều trên trí tuệ, hơn là lòng tin.
Hỏi: Đức Phật đã dạy những gì?
Đáp: Đức Phật đã giảng
dạy rất nhiều đề tài, nhưng các
điều căn bản trong Phật Giáo có thể tóm tắt
trong Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo.
Hỏi: Diệu đế thứ nhất là gì?
Đáp: Khổ Đế, chân lý thâm diệu
đầu tiên, nói rằng đời sống là
đau khổ, nghĩa là phải chịu
đau đớn thể xác, già nua, bệnh hoạn,
rồi chết. Ta cũng phải chịu đau khổ về mặt
tâm lý như cô đơn, phiền giận, bực bội, sợ hãi, bối rối, thất vọng,
hay sân hận. Đây là một sự kiện hiển
nhiên, không thể chối cãi. Đây là thực
tế khách quan, không phải bi quan; vì bi quan là mong
đợi những điều gì trở nên tệ hại. Mặt
khác, Phật Giáo đề ra cách thức giải quyết
các đau khổ đó và cách thức để có hạnh
phúc thật sự.
Hỏi: Diệu đế thứ nhì là gì?
Đáp: Tập Đế, chân lý thâm diệu
thứ nhì, dạy rằng tất cả mọi đau khổ
đều do ái dục và chấp thủ. Ta sẽ bị phiền khổ nếu ta mong
đợi người khác phải tuân theo ý muốn của mình,
phải làm giống như mình, nếu ta không được
những gì mình muốn, v.v. Ngay cả khi ta muốn và
được, điều này cũng không bảo
đảm có hạnh phúc. Tâm khát khao ham muốn cướp
đoạt của ta niềm vui được thỏa lòng và hạnh phúc. Thay vì kiên trì
chiến đấu để thành
đạt điều mong muốn, hãy cố gắng sửa
đổi chính cái lòng ước muốn của mình.
Hỏi: Diệu đế thứ ba là gì?
Đáp: Diệt Đế, chân lý thâm diệu
thứ ba, là có thể chấm dứt đau khổ và
đạt được trạng thái thỏa lòng và hạnh
phúc. Khi ta dứt bỏ ái dục, vốn là vô ích, và tập sống từng ngày, chúng ta
bắt đầu sống an vui và tự do. Chúng ta
sẽ có nhiều thì giờ và năng lực để giúp đỡ
người khác. Trạng thái ấy được gọi là Niết Bàn.
Hỏi: Diệu đế thứ tư là gì?
Đáp: Đạo Đế, chân lý thâm diệu
thứ tư, là con đường đưa đến chấm dứt
đau khổ. Con đường này gọi là Bát Chánh Ðạo.
Hỏi: Bát Chánh Đạo là gì?
Đáp: Đó là con
đường gồm 8 yếu tố chân chánh: Chánh Kiến,
Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh
Niệm, và Chánh Định. Đây là con
đường của đạo đức và tỉnh thức -- qua
lời nói, ý nghĩ và hành động, và phát
triển trí tuệ bằng sự nhận thức rõ ràng về Tứ Diệu
Đế và bằng sự tăng
trưởng lòng từ bi.
Hỏi: Ngũ giới là gì?
Đáp: Đây là năm
điều giới luật đạo đức của Phật Giáo. Đó là: không sát hại, không
lấy của không cho, không tà dâm, không nói dối, và không dùng các chất say
làm lu mờ trí óc.
Hỏi: Nghiệp là gì?
Đáp: Nghiệp hay "nghiệp-quả" là một
định luật cho biết rằng mỗi một nguyên
nhân đều tạo ra một hậu quả, có nghĩa là
các hành động của ta đều có những hậu quả.
Định luật đơn giản này đã giải
thích nhiều vấn đề: sự bất công trên
thế gian, tại sao có người sinh ra lại có phế tật, có người lại có nhiều
tài năng, có người có đời sống rất ngắn ngủi.
Nghiệp cho thấy tầm quan trọng về việc tất cả chúng ta phải chịu trách
nhiệm về các hành động của chính mình,
trong quá khứ và hiện tại. Làm thế nào để thử
nghiệm tác động nghiệp quả của các hành
động của ta? Câu trả lời được tóm tắt bằng
cách hãy nhìn xem 3 điểm chính: (1) ý
định đằng sau của mỗi hành động, (2)
hậu quả của hành động đó vào
chính mình, và (3) hậu quả của hành động đó vào
những người khác.
Hỏi: Trí tuệ là gì?
Đáp: Trong Phật Giáo, Trí tuệ phải
được phát triển cùng với Từ bi. Trong
một cực đoan, bạn có thể là một người
tốt bụng nhưng khờ dại, và trong một cực đoan
khác, bạn có thể có nhiều kiến thức nhưng lại không có tình cảm.
Phật Giáo dạy ta nên giữ thật sự cân bằng và trọn vẹn cả hai, phải trau
giồi cả trí tuệ lẫn và từ bi. Trí tuệ cao nhất là thấy rõ ràng rằng trên
thực tế, mọi hiện tượng đều không hoàn
toàn, không thường còn, và không có một thực thể cố
định. Trí tuệ thật sự không phải chỉ tin vào
những gì được dạy, mà phải chứng
nghiệm và thông hiểu chân lý và thực tế. Trí tuệ
đòi hỏi phải có một tâm ý rộng mở,
khách quan, không cố chấp. Con đường của Phật
Giáo đòi hỏi phải can đảm, nhẫn nại,
mềm dẻo và thông minh.
Hỏi: Từ bi là gì?
Đáp: Từ bi bao gồm các phẩm hạnh của lòng san sẻ, sẵn sàng
an ủi người khác, thiện cảm, chăm lo và
quan tâm. Trong Phật Giáo, ta chỉ thật sự cảm thông người khác khi nào ta
thật sự cảm thông chính mình, qua trí tuệ.
Hỏi: Tôi phải làm thế nào để trở thành
một Phật tử?
Đáp: Bất cứ ai cũng có thể tìm hiểu và thực nghiệm các lời
dạy của Đức Phật. Ngài dạy rằng lời
giải đáp cho mọi vấn đề của chúng ta là
ở bên trong chúng ta, không phải ở bên ngoài. Ngài nói với các
đệ tử không được tin ngay vào lời dạy
của Ngài, mà họ phải tự thử nghiệm các lời dạy
đó. Như thế, mỗi người tự có quyết định và
tự chịu trách nhiệm về các hành động và
sự hiểu biết của mình. Điều này cho
thấy Phật Giáo không phải là một tập hợp cố
định các tín điều cần phải được chấp nhận trọn vẹn. Đây là những
lời dạy để mỗi người tự tìm hiểu, học
tập và áp dụng theo tình huống riêng của mình.
Perth, Tây Úc, tháng 8-2004
-02-
Tám Pháp Thế Gian
Bình Anson
---*---
Bài nầy viết dựa theo tập sách "The Eight Worldly Conditions", do Hòa
thượng Nàrada viết năm 1970, và bác
Phạm Kim Khánh dịch năm 1972 với tựa đề
"Những Bước Thăng Trầm".
*
T iếng Pali của "tám pháp thế gian" là "atthalokadhamma".
"Attha" là tám, "loka" là thế gian, và "dhamma" là
pháp. Atthalokadhamma còn được dịch là
Bát Pháp, hay Bát Phong, là tám ngọn gió làm rung chuyển thế gian.
Đó là:
được (làbha) và mất (alàbha), danh thơm (yasa)
và tiếng xấu (ayasa), ca tụng (pasamsà) và khiển trách (nindà),
hạnh phúc (sukha) và đau khổ (dukkha).
Trong kinh "Tùy Chuyển Thế Giới", Tăng Chi
Bộ, Chương Tám Pháp, Đức Phật dạy:
Này các Tỳ-khưu, có tám pháp thế gian làm tùy chuyển thế giới. Thế nào
là tám? Đó là: lợi dưỡng và không lợi
dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạc và
đau khổ.
Sau đó, Ngài nói lên bài kệ:
Lợi dưỡng, không lợi dưỡng,
Danh vọng, không danh vọng
Tán thán và chỉ trích
An lạc và đau khổ
Những pháp này vô thường
Không thường hằng, biến diệt
Biết chúng, giữ chánh niệm
Bậc trí quán biến diệt
Pháp khả ái, không động
Không khả ái, không sân
Các pháp thuận hay nghịch
Ðược tiêu tan không còn.
Sau khi biết con đường
Không trần cấu, không sầu
Chơn chánh biết sanh hữu
Ði đến bờ bên kia.
Ngài giảng rằng khi chúng ta gặp phải một trong tám sự kiện ấy (lợi
dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng, tán thán, chỉ trích,
an lạc, đau khổ), chúng ta không nên
bám theo các điều thuận lợi như: lợi dưỡng,
danh vọng, tán thán, an lạc; và chúng ta cũng không nên sân hận với
các điều bất thuận lợi như: không lợi dưỡng,
không danh vọng, chỉ trích, đau khổ. Chúng ta không nên
để các điều đó ngự trị và lấn áp tâm
trí. Trái lại, chúng ta nên nhận biết rõ ràng rằng: "Sự kiện này
đang khởi lên nơi ta. Tuy nhiên, sự
kiện ấy là vô thường, khổ, biến hoại", để có
một thái độ bình thản, tỉnh giác. Vị Thánh
đệ tử nào
đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, sẽ được giải thoát khỏi sanh, già,
bệnh, chết, sầu, não. Từ đó, vị ấy thoát khỏi
mọi ô nhiễm ràng buộc, và tiến đến bờ
giải thoát.
*
1. Ðược và Mất (Làbha và Alàbha)
Trên đường đời, chúng ta thường phải gặp
cả hai điều: được và mất, hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lã. Dĩ
nhiên, khi được lợi thì người ta thỏa
thích, vui mừng. Nhưng đến khi lỗ lã
thì phiền não bắt đầu khởi phát. Nhiều trường
hợp lỗ lã quan trọng làm cho người ta loạn trí, lắm khi
đưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, nếu
không còn chịu đựng được nữa. Chính trong
những hoàn cảnh tương tợ, ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và
giữ tâm bình thản, không để quá chao động.
Trong lúc vật lộn với đời sống, tất cả mọi người đều phải gặp những lúc
thăng, lúc trầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu
đựng, sẵn sàng
đối phó, nhất là trong nghịch cảnh.
Mất một vật gì, tất nhiên ta cảm thấy buồn. Nhưng chính cái buồn ấy
không giúp ta tìm lại được vật đã mất.
Ta phải nghĩ rằng ai đó có thể hưởng vật kia,
mặc dầu họ hưởng một cách bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ, an lành
và hạnh phúc. Hoặc giả ta có thể tự an ủi: "Ðây chỉ là một mất mát nhỏ
nhen, không quan trọng." Hoặc giả ta có thể chấp nhận một thái
độ triết lý cao thượng: "Không có gì
là 'Ta', không có cái gì là 'Của Ta'".
Ta phải dũng cảm chịu đựng những lỗ lã,
thua thiệt, mất mát. Phải đương đầu với nó, và
như câu "họa vô đơn chí" diễn
tả, nó có thể đến một cách đột ngột, từng đoàn,
từng đám đông, chớ không đơn độc. Ta phải
điềm tĩnh đối phó, với tâm Xả (upekkhà) hoàn toàn, và nghĩ
rằng: đây là cơ hội vàng ngọc
để thực hành
đức tánh Xả ly cao thượng nầy.
*
2. Danh Thơm và Tiếng Xấu (Yasa và Ayasa)
Danh thơm và tiếng xấu là cặp thăng trầm
khác mà ta phải đối phó hàng
ngày.
Danh thơm, chúng ta hoan hỷ đón mừng.
Tiếng xấu thì chúng ta không thích. Danh thơm làm phấn khởi tinh
thần. Tiếng xấu làm cho ta phiền muộn, khổ
đau. Chúng ta thích được trứ danh. Chúng ta rất thỏa thích thấy những hoạt
động của mình, dầu không đáng kể, được
tường thuật và được nhiều người nhắc
nhở, nhiều người biết đến. Lắm khi ta cũng cố gắng, một cách bất chánh, làm
cho người ta chú ý đến mình.
Thật ra, chúng ta không cần chạy theo danh thơm, tiếng tốt. Nếu ta xứng
đáng, ắt nó sẽ đến mà không cần tìm.
Khi hoa đượm mật đầy đủ thì ong, bướm
sẽ đến. Hoa không cần mời ong, hay mời bướm.
Còn tiếng xấu thì sao? Chúng ta không thích nghe, hay nghĩ
đến. Chắc chắn là khi những lời nói
xấu lọt vào tai, nó sẽ làm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu. Nỗi khổ tâm
càng sâu đậm hơn, nếu những lời gọi là
tường thuật hay báo cáo ấy tỏ ra bất công và hoàn toàn sai lạc.
Nhưng cũng nên nhớ rằng cho dù ta có thể sống
đời đạo đức trong sạch như một vị Phật, ta
cũng không thể tránh những lời chỉ trích, tấn công và nguyền rủa.
Ðức Phật là vị giáo chủ trứ danh nhất thời bấy giờ mà cũng thường bị những
người ác ý tìm cách vu oan, ám hại, nói xấu.
Ta không nên phung phí thì giờ để đính
chánh những lời đồn đãi sai lạc, nếu hoàn cảnh không bắt buộc ta
phải làm sáng tỏ vấn đề. Kẻ thù nghịch
sẽ lấy làm thỏa thích mà thấy ta bực bội vì lời nói của họ. Ðó chính là
điều mà họ mong muốn. Nếu ta thản
nhiên, lời vu oan sẽ rơi vào tai điếc.
Giáo Pháp có dạy:
"Hãy như sư tử, không run sợ trước tiếng
động.
Hãy như luồng gió, không dính mắc trong màn lưới.
Hãy như hoa sen, từ bùn nhơ nước đục mọc
lên,
Nhưng không bị nước đục và bùn nhơ
làm ô nhiễm.
Hãy vững bước, đơn độc một mình,
như con tê giác."
Là chúa sơn lâm, sư tử không sợ hãi. Bẩm chất thiên nhiên của sư tử là
không run rẩy giựt mình khi nghe tiếng gầm thét của các loài thú khác.
Trên thế gian nầy, chúng ta thường nghe thuật lại những câu chuyện trái
tai, bất lợi, những lời buộc tội giả mạo, những tiếng vu oan phỉ báng
đê hèn. Như sư tử, ta không cần
để tâm đến.
Chúng ta đang sống trong thế gian bùn
nhơ, nước đục. Nhiều đóa hoa sen đã từ
đó vượt lên, tô
điểm đời sống, mà không bị nước
đục và bùn nhơ làm hoen ố. Chúng ta
phải cố gắng sống như hoa sen, một cuộc đời
trong sạch và cao quý, không màng quan tâm
đến bùn nhơ mà người khác có thể ném
vào ta. Phải sẵn sàng đón nhận bùn
nhơ, mà người khác có thể ném vào mình, thay vì mong
đợi những đóa hoa hồng mà người ta có
thể tặng. Như thế, ta sẽ không thất vọng.
Mặc dầu là điều khó khăn, chúng ta phải cố
gắng trau giồi hạnh từ khước, buông bỏ, không luyến ái. Không cần để ý đến
nọc độc của những lời nói ác ý. Ðơn
độc một mình, chúng ta hãy ra đi đó
đây, tận lực phục vụ và tạo an lành cho kẻ khác.
*
3. Ca Tụng và Khiển Trách (Pasamsà và Nindà)
Ðược ca tụng và bị khiển trách là hai hoàn cảnh thăng
trầm khác, hằng ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi
được ca tụng thì ta nở mặt nở mày, hân
hoan thỏa thích. Lúc bị khiển trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu.
Ðức Phật dạy rằng giữa những lời ca tụng hay khiển trách, bậc thiện trí
không thỏa thích, cũng không ủ dột ưu phiền, mà tựa hồ như tảng
đá vững chắc, không lay chuyển dưới cơn bão
táp phong ba của đời sống. Nếu chúng ta xứng
đáng, những lời khen tặng quả thật êm tai. Nhưng nếu ta không xứng
đáng, như trường hợp có người nịnh bợ, thì
những lời ấy dù có êm tai, cũng sẽ làm cho ta thất vọng, và là một tai
hại.
Người thực hành Giáo Pháp thì không tin vào những lời nịnh bợ, cũng
không muốn được nịnh bợ. Khi khen tặng ai
xứng đáng, người Hiền trí thật lòng khen tặng mà không ẩn ý ganh
tị. Khi khiển trách, các Ngài khiển trách mà không ẩn ý khinh khi. Các
Ngài chỉ khiển trách vì lòng bi mẫn, muốn cải thiện người lầm
đường lạc nẻo.
Còn khiển trách thì sao? Ðức Phật dạy: "Người nói nhiều bị khiển
trách. Người nói ít bị khiển trách. Người lặng thinh cũng bị khiển trách."
Ðức Phật cũng nói: "Người thế gian phần
đông sống không kỷ luật. Như voi chiến ở trận địa, hứng lãnh lằn
tên mũi đạn từ mọi hướng dồn dập bắn đến, cùng
thế ấy, Như Lai hứng chịu mọi nguyền rủa của thế gian."
Kẻ si mê lầm lạc chỉ tìm cái xấu, cái hư của người khác mà không nhìn
cái tốt cái đẹp của ai. Ngoại trừ Ðức
Phật, không có ai hoàn toàn tốt lành. Cũng không có ai hoàn toàn xấu ác.
Giữa chúng ta, bên trong con người tốt nhất, cũng có phần hư hỏng. Trong
con người xấu nhất, cũng có điểm tốt đẹp.
Ðức Phật dạy rằng người nào biết câm lặng như cái mõ bể khi bị tấn
công, nguyền rủa, chửi mắng, thì, mặc dầu chưa chứng ngộ Niết Bàn, người
ấy cũng đã
đứng trước Niết Bàn.
*
4. Hạnh Phúc và Ðau Khổ (Sukha và Dukkha)
Hạnh phúc và đau khổ là cặp thăng
trầm cuối cùng. Nó cũng có nhiều năng
lực nhất, ảnh hưởng đến đời sống nhân loại.
Ðiều gì làm được dễ dàng là hạnh
phúc. Cái gì khó chịu đựng là
đau khổ. Thông thường, thỏa mãn
điều mong ước là hạnh phúc. Nhưng,
liền khi vừa đạt được điều mong ước ấy, ta đã
ước mong một loại hạnh phúc khác. Phần đông
chúng ta thỏa thích trong sự thọ hưởng những lạc thú của đời sống. Nhưng
cũng có hạng người thỏa thích trong sự từ khước, buông bỏ các lạc thú ấy.
Không luyến ái, hay vượt lên trên mọi khoái lạc vật chất, là hạnh
phúc đối với người đạo đức. Hạnh phúc Niết Bàn
-- tức trạng thái thoát ra khỏi mọi đau khổ
-- là hình thức hạnh phúc cao thượng nhất.
Chúng ta vui vẻ đón mừng hạnh phúc. Nhưng
đau khổ thì không được niềm nở tiếp
nhận. Ðau đớn (vật chất) và
phiền muộn (tinh thần) đến với ta dưới nhiều
hình thức. Chúng ta đau khổ khi phải
chịu bệnh hoạn, già yếu, đó là
lẽ tự nhiên. Phải điềm tĩnh chịu đựng những
khổ đau đó.
Lắm khi chúng ta phải xa lìa thân bằng, quyến thuộc. Cảnh biệt ly vô
cùng đau khổ. Chúng ta phải nhận thức rằng
mọi kết hợp đều phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Đó là luật Vô
thường, và đây là cơ hội quý báu
để ta thực hành tâm Xả.
Trên bước thênh thang trong vòng luân hồi, chết là mối ưu phiền trọng
đại nhất mà chúng ta phải
đối phó. Ðôi khi cái chết không
đến lẻ loi cho một người thân, mà
đến trùng hợp cho nhiều người thân
trong một lúc. Cái chết không thể tránh, đến
với tất cả mọi người, không trừ ai. Và ta phải bình thản
đối phó.
*
Ð ức Phật dạy rằng:
"Cũng như trên đất, ta có thể vứt bất luận
vật gì, dầu chua, dầu ngọt, dầu sạch, dầu dơ. Ðất vẫn thản nhiên
một mực trơ trơ, không giận cũng không thương. Vậy, cùng thế ấy, trong
hạnh phúc, trong phiền muộn, lúc thăng lúc
trầm, ta phải giữ tâm bình thản như
đất."
Trước những thăng trầm của thế gian, tâm
của các vị Thánh A-la-hán không bao giờ chao động. Vì vậy, noi theo
gương các Ngài, giữa những hoàn cảnh được và
mất, danh thơm và tiếng xấu, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và
đau khổ, chúng ta hãy cố gắng giữ tâm
bình thản.
Perth, Tây Úc, tháng 8-2004.
-03-
Về Hạnh Bố Thí
Bình Anson
---*---
B ố Thí là một đức hạnh cao quí
thường được đề cập đến trong cuộc sống tu tập của người con Phật, tu sĩ
lẫn cư sĩ, trong mọi tông phái Phật Giáo.
Có lẽ đa số Phật tử chúng ta đều nghe biết
nhiều về các lời giảng trong kinh điển Bắc truyền, đều quen thuộc với các
khái niệm hành trì như Lục độ
Ba-la-mật và Tứ nhiếp pháp của hàng Bồ-Tát. Về lục
độ Ba-la-mật thì gồm có 6
đức hạnh: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục,
Tinh Tấn, Thiền định, và Trí tuệ. Về
Tứ nhiếp pháp thì gồm có: Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, và
Đồng sự.
Trong kinh điển nguyên thủy, Bố Thí
là một đức hạnh tối quan trọng mà
Đức Phật thường giảng dạy và khuyên
nhủ chúng ta nên cố gắng tu tập. Tứ nhiếp pháp cũng
được ghi lại trong kinh điển. Thêm vào
đó, trong khi kinh điển Bắc truyền có ghi 6
pháp Ba-la-mật, kinh điển nguyên thủy
đề cập đến 10 pháp Ba-la-mật của hàng Bồ Tát, gồm: Bố thí, Trì
giới, Xuất gia, Trí tuệ, Tinh tấn, Kiên nhẫn, Chân thật, Chí nguyện, Từ
tâm, và Xả ly. Cho nên, khái niệm về các hạnh Ba-la-mật trong tất cả các
tông phái đều rất giống nhau, đều đề cao Bố
Thí như là đức hạnh đầu tiên
cần phải được tu tập.
Ở đây, chỉ xin trình bày tóm tắt,
giới hạn trong phạm vi pháp bố thí trong thế gian, về các lời dạy của
Đức Phật cho hàng
đệ tử cư sĩ tại gia chúng ta, như đã
ghi lại trong Kinh Tạng Nikàya nguyên thủy.
*
"Bố Thí" là chữ Hán Việt, gồm chữ "Bố" và chữ "Thí".
"Bố" là bày ra, ban rộng ra, trải đều ra; như
trong những chữ: ban bố, phân bố, tuyên bố, công bố, bố trí, bố
cục, bố cáo, bày binh bố trận. "Thí" còn đọc
một âm khác là "Thi", nghĩa là thực hiện, áp dụng, làm ra; như
trong những chữ: thí nghiệm, thí điểm, thí
công (thi công)
"Bố thí" có nghĩa là làm cho rộng ra, trải rộng ra, phân chia cùng
khắp. Từ đó, Bố Thí mang một ý nghĩa là:
chia xẻ, san sẻ. Tiếng Anh thường dịch là Giving, Donating, hay
Sharing. Trong tiếng Pàli (Phạn ngữ), Bố Thí là Dàna, hay
Càga.
"Dàna" thường được phiên âm là
"Đàn-na", có khi chỉ gọi tắt là "Đàn",
như trong cụm từ "Đàn Ba-la-mật", có
nghĩa là "Đàn-na Ba-la-mật", "Dàna
Pàrami", hay là hạnh Ba-la-mật về sự Bố Thí.
Trong kinh sách, đôi khi chúng ta thấy có
sự dùng chữ kết hợp âm tiếng Phạn và tiếng Hán. Thí dụ như chữ "Đàn
chủ": Đàn là từ chữ Phạn "Dàna",
Chủ là tiếng Hán. Đàn Chủ là người
đứng ra thực hiện việc bố thí cúng dường,
tiếng Pali là "Dànapati".
"Đàn chủ" cũng còn
được gọi là "Thí Chủ". Chữ "Thí" ở
đây là nói tắt từ chữ "Bố Thí". Trong
thuật ngữ Phật học, chữ "Thí" không còn mang nghĩa
đen là "làm, thực hiện, hành
động", mà thường
được hiểu như là chữ tắt của "Bố Thí".
Ngoài chữ "Thí Chủ", chúng ta thường thấy các chữ khác như là:
Đàn-na tín thí, nhà thương thí, thí
thực, thí cô hồn, tài thí, pháp thí, niệm thí, v.v. Tất cả
đều có hàm chứa ý nghĩa "Bố Thí".
*
Trong Trường Bộ, kinh 33; trong Kinh Phật Thuyết Như Vậy, Chương Ba
Pháp; và trong Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp,
Đức Phật có dạy 3 pháp hành để tạo căn
bản phước báu trên đường tu tập. Đó là:
Bố thí (Dàna), Trì giới (Sìla), và Tu thiền (Bhàvanà): "Này các
Tỳ-khưu, có ba phước nghiệp sự này. Đó là:
Phước nghiệp sự do bố thí tác thành, phước nghiệp sự do giới tác thành, và
phước nghiệp sự do tu thiền tác thành".
Bố thí là một trong 3 hạnh kiểm được người
hiền trí, bậc thiện nhân tán thán. Đó là: Bố thí, Xuất gia, và
Phụng dưỡng cha mẹ. "Xuất gia" (pabbajjà) ở
đây có ý nghĩa là sự thiểu dục, sự thoát ly
điều bận rộn phiền não, thọ trì pháp
không não hại, sống chế ngự, điều phục và
hòa hợp. Trong Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp,
Đức Phật dạy: "Này các Tỳ-khưu, có ba pháp
được người Hiền trí tuyên bố,
được bậc Chân nhân tuyên bố.
Đó là: Bố thí, Xuất gia, và Hầu hạ cha
mẹ."
Bố thí cũng là một trong bốn pháp để thu
phục nhân tâm, chung sống hài hòa trong gia
đình cũng như trong Tăng
chúng và trong xã hội. Tăng Chi Bộ,
Chương 4 Pháp, có ghi lại lời khuyên của
Đức Phật như sau:
- Này các Tỳ-khưu, có bốn nhiếp pháp này. Thế nào là bốn?
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành và đồng sự
Hỡi các vị Tỳ-khưu,
Ðây là bốn nhiếp pháp.
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành và đồng sự,
Ðối với những pháp này,
Ở đời đối xử nhau,
Chỗ này và chỗ kia,
Như vậy thật tương xứng.
Và bốn nhiếp pháp này,
Như đỉnh đầu trục xe,
Nếu thiếu nhiếp pháp này,
Thời cả mẹ lẫn cha
Không được các người con
Tôn trọng và cung kính..
Do vậy bậc Hiền trí,
Ðồng đẳng nhìn nhiếp pháp
Nhờ vậy họ đạt được,
Sự cao lớn, tán thán.
Trong truyền thống Nam tông, một trong những bài kinh mà chúng ta
thường được nghe tụng đọc là kinh
Đại Hạnh Phúc (Mahà-Mangala Sutta),
thuộc Kinh Tập, Tiểu Bộ. Trong bài kinh nầy,
Đức Phật giảng rằng Bố thí là một trong 38
điều mang lại hạnh phúc tối thượng cho người
cư sĩ tại gia chúng ta. Đức Phật còn cho biết rằng Bố thí là một
trong ba yếu tố để biết được một người có lòng
tin trong sạch nơi Chánh Pháp, như đã
ghi lại trong Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp:
"Do ba sự kiện, này các Tỳ-khưu, một người
được biết là có lòng tin. Thế nào là ba? (1) Ưa thấy người có giới
hạnh, (2) ưa nghe diệu pháp, (3) với tâm ly cấu uế của xan tham, sống
trong nhà, bố thí rộng rãi với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn sàng
để được yêu cầu, thích phân phát vật
bố thí."
Một người bố thí trong sạch như thế, theo lời
Đức Phật, sẽ tạo được một tài sản rất
lớn, không bao giờ bị lửa đốt cháy, lụt làm
trôi mất, bị ăn trộm, bị chánh quyền tịch
thu, hay bị kẻ thù địch lấy đi mất. Tài
sản phước báu do hạnh Bố Thí tạo ra là một trong 7 loại tài sản cao quí
nhất - gọi là thánh tài - mà chúng ta có thể tích lũy
được. Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ,
ChươngBảy Pháp:
Này các Tỳ-khưu, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy? Tín tài, giới tài,
tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài,
tuệ tài. (...) Và này các Tỳ-khưu, thế nào là thí tài? Ở
đây, này các Tỳ-khưu, vị Thánh
đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống
tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở, ưa thích xả bỏ, sẵn sàng
để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật
bố thí. Này các Tỳ-khưu, đây gọi là
thí tài.
Bố Thí cũng được xem là một loại
hương thơm cao quý, tỏa ra cùng khắp, theo mọi hướng, tạo ra nhiều tiếng
lành, danh thơm cho xóm làng hay cộng đồng
nơi chúng ta sinh hoạt. Trong Tăng Chi Bộ, Chương Ba Pháp, Ngài
Ananda hỏi Đức Phật:
-"Bạch Thế Tôn, loại cây hương gì có mùi hương bay thuận gió, có mùi
hương bay ngược gió, có mùi hương bay thuận gió lẫn ngược gió?
Đức Phật trả lời:
-"Ở đây, này Ananda, tại làng
nào hay tại thị trấn nào, có nữ nhân hay nam nhân quy y Phật, quy y Pháp,
quy y chúng Tăng, tuân giữ 5 giới, tâm tánh
hiền lương, sống trong nhà với tâm không nhiễm xan tham, bố thí
không luyến tiếc với tay rộng mở, thích thú từ bỏ, sẵn sàng
được yêu cầu, ưa thích chia xẻ
đồ bố thí. Người như vậy, được các Sa-môn, Bà-la-môn,
Chư Thiên và các phi nhân đều tán thán. Và
như thế, người đó là loại cây hương
quý. Cây hương đó, này Ananda, có mùi
hương bay thuận gió, có mùi hương bay ngược gió, có mùi hương bay thuận
gió lẫn ngược gió".
*
Tuy nhiên, hạnh Bố Thí không phải là một
điều dễ thực hiện như nhiều người thường hiểu lầm. Đây là một pháp
môn tu tập đòi hỏi chúng ta phải tinh
tấn, có chánh niệm và trí tuệ.
Trước hết, Đức Phật dạy rằng khi bố thí,
chúng ta phải biết nhận thức rõ ràng về vật cho, cách cho, và tâm ý
cho. Trong Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Ngài
dạy:
"Này các Tỳ-khưu, có tám sự bố thí của bậc chân nhân. Thế nào là tám?
Cho vật trong sạch; cho vật thù diệu; cho
đúng thời; cho vật thích ứng; cho với sự cẩn thận; cho luôn luôn; khi cho,
tâm tịnh tín; sau khi cho, tâm luôn hoan hỷ".
Như thế, khi bố thí, vật cho phải là vật trong sạch, vật thù diệu, vật
thích ứng; cách cho phải là cho đúng thời,
cho với sự cẩn thận, cho luôn luôn; và tâm ý cho phải là tâm tịnh
tín khi cho, tâm luôn hoan hỷ sau khi cho.
Trong Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Đức
Phật dạy: "Có năm loại bố thí xứng
đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng tin; bố thí có kính trọng; bố
thí đúng thời, bố thí với tâm không gượng ép;
bố thí không làm thương tổn mình và người." Ngài cũng dạy về năm
loại khác là: "Có năm loại bố thí
xứng đáng bậc chân nhân: bố thí có lòng cung kính; bố thí có suy
nghĩ; bố thí tự tay mình; bố thí đồ không
quăng bỏ; bố thí có suy nghĩ đến tương lai".
Về bố thí cho đúng thời, Đức Phật nêu
rõ có 5 loại:
- Bố thí cho người mới đến trú xứ của
chúng ta.
- Bố thí cho người sắp ra đi, rời khỏi trú xứ của chúng ta.
- Bố thí cho người đau bệnh.
- Bố thí trong thời đói.
- Phàm những hoa quả gì mới gặt hái
được, dành chúng đầu tiên
để cúng dường các bậc giữ giới hạnh.
Nếu được như thế, hạnh Bố Thí sẽ mang lại
các lợi ích: "Tùy theo vật bố thí, tùy theo cung cách bố thí,
kết quả sẽ đưa đến cho người bố thí với tài
sản sung mãn, với dung sắc thù thắng như hoa sen, với vợ con, các người
làm công tận tụy phục vụ tuân hành, với các vật dụng
đến đúng thời, đúng lúc, với năm dục công đức
được thọ hưởng đầy đủ, và với các tai nạn không hề xảy
đến."
Trong các đoạn kinh khác, Đức Phật dạy thêm
về các lợi ích khác:
"Này các Tỳ-khưu, có năm lợi ích này
của bố thí. Thế nào là năm?
- Được nhiều người ái mộ, ưa thích;
- Được bậc thiện nhân, chân nhân thân cận;
- Tiếng đồn tốt đẹp được truyền đi,
- Không có sai lệch khi thuyết pháp;
- Khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cỏi lành thiên giới."
Về lợi ích của bố thí thực phẩm: "Người bố thí bữa
ăn, này các Tỳ-khưu, sẽ
được hưởng năm kết quả: sống thọ, sắc diện
tươi đẹp, sống an lạc, có sức khỏe, có biện tài".
Thêm vào đó, theo Chú Giải, để có kết quả
to lớn, sự bố thí phải hội đủ 3 điều kiện thành tựu:
1. Thành tựu ruộng phước (khettasampatti), tức là nói
đến đối tượng thí, người thọ thí là
bậc chánh hạnh, bậc hội đủ các ân đức đặc
biệt.
2. Thành tựu vật thí (deyyadhammasampatti), tức là có vật thí
đầy đủ, hợp pháp, thanh tịnh và thích
hợp lợi ích cho người nhận.
3. Thành tựu tâm ý (cittasampatti), tức là tác ý bố thí có
đầy đủ, có tâm tịnh tín, có tâm hoan hỷ trong
ba thời: trước khi làm, đang khi làm
và sau khi làm.
*
Có 2 loại bố thí: bố thí tài vật (tiền bạc, thức
ăn, vật dụng) và bố thí pháp (giáo
pháp, các điều hay, lẽ phải). Trong 2 loại
nầy, bố thí pháp là cao quý và có nhiều lợi lạc hơn, như
đã dạy trong Kinh Pháp cú (354):
"Bố thí Pháp là cao thượng hơn tất cả các pháp bố thí khác".
Trong Kinh Phật Thuyết Như Vậy (kinh số 98),
Đức Phật dạy: "Có hai loại bố thí:
Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Trong đó, bố
thí Pháp là bố thí tối thượng. Có hai sự phân phát: Phân phát tài
vật và phân phát Pháp. Trong đó, phân phát
Pháp là phân phát tối thượng. Có hai loại giúp
đỡ: giúp đỡ bằng tài vật và giúp
đỡ bằng Pháp. Trong đó, giúp đỡ bằng Pháp là
giúp đỡ tối thượng."
Trong Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp:
"Có hai loại bố thí: Bố thí tài vật và bố thí Pháp. Trong
đó, bố thí Pháp là tối thắng."
Trong Tương Ưng Bộ, Tập I, Chương I, có ghi lại câu chuyện trong một
đêm nọ, một vị thiên tử
đến hỏi Đức Thế Tôn:
Cho gì là cho lực?
Cho gì là cho sắc?
Cho gì là cho lạc?
Cho gì là cho mắt?
Cho gì cho tất cả?
Xin đáp điều con hỏi?
Đức Thế Tôn trả lời:
Cho ăn là cho lực,
Cho mặc là cho sắc,
Cho xe là cho lạc,
Cho đèn là cho mắt.
Ai cho chỗ trú xứ,
Vị ấy cho tất cả.
Ai giảng dạy Chánh Pháp,
Vị ấy cho bất tử.
Cũng cần ghi nhận ở đây là có nhiều
người thường than phiền rằng vì điều kiện
sinh hoạt làm ăn khó khăn, hay vì
hoàn cảnh gia đình, nên họ không có dư
tiền của để thực hiện hạnh bố thí. Tuy nhiên,
đó chỉ là các bố thí tài vật.
Đức Phật có dạy rằng nếu người nào giữ
lòng tịnh tín, quy y Tam Bảo và giữ tròn 5 giới căn
bản, thì đó là
đại bố thí, và là nguồn công
đức vô lượng cho chúng sinh, vì người
ấy mang lại sự an vui, thương yêu hài hòa đến
cho mọi người, mọi loài sống chung quanh người ấy. Trong Tăng
Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Đức Phật dạy:
"Có tám nguồn nước công đức này, là
nguồn nước thiện, món ăn cho an lạc, làm
nhân sanh Thiên, quả dị thục an lạc, đưa đến
cõi trời, dẫn đến khả ái, khả hỷ, khả
ý, hạnh phúc, an lạc. Đó là:
- Quy y Phật, Pháp, Tăng là 3 nguồn
nước đầu;
- 5 nguồn nước kế là giữ tròn 5 giới căn
bản. Đó cũng là 5 đại bố thí, bởi vì
làm được như thế, sẽ đem cho sự không sợ hãi
(vô úy) cho vô lượng chúng sanh, đem cho sự
không hận thù cho vô lượng chúng sanh,
đem cho sự không hại cho vô lượng chúng sanh; sau khi cho vô lượng chúng
sanh, không sợ hãi, không hận thù, không hại, vị ấy sẽ
được san sẻ vô lượng không sợ hãi,
không hận thù, không hại."
Cũng xin ghi nhận thêm là trong vài tài liệu kinh sách phát triển về
sau nầy, ngoài Bố thí Tài và Bố thí Pháp, còn có
đề cập đến một loại thứ ba là Bố thí
Vô úy, tức là mang đến, san sẻ sự không sợ hãi,
không hận thù, không hại. Theo thiển ý, có thể xem Bố thí Vô úy là kết quả
của Tài thí và Pháp thí, không cần phải tách ra thành một phân loại riêng
biệt.
*
Nếu chỉ thực hành hạnh Bố Thí không thôi thì cũng chưa tròn
đủ. Trong Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Ngài
Xá Lợi Phất có dạy ông Cấp Cô Độc rằng cúng
dường, bố thí tứ vật dụng, tuy tạo nhiều phước báu, nhưng cũng chưa đủ.
Người cư sĩ còn phải gắng tu tập thiền
định, để được hỷ lạc do tâm xả ly sinh ra. Lời khuyên nầy
được Đức Phật đồng ý và khen ngợi.
Do đó, kinh điển nguyên thủy còn
ghi lại việc thực hành pháp quán niệm về lòng Bố Thí, hay "Niệm Thí", như
là một trong 6 pháp tùy niệm cần phải tu tập. Trường Bộ, kinh 34, có ghi:
"Thế nào là sáu pháp cần phải tu tập? Đó là
sáu tùy niệm xứ: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng
tùy niệm, Giới tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm. Ðó là sáu
pháp cần phải tu tập."
Và Đức Phật giải thích thêm cho ông
Mahànàma về niệm Thí như sau (Tăng Chi Bộ,
Chương Mười Một Pháp):
"Này Mahànàma, Ông hãy niệm Thí như sau: "Thật là
được lợi cho ta! Thật là khéo
được lợi cho ta! Vì rằng với quần
chúng bị cấu uế xan tham chi phối, ta sống trong gia
đình, với tâm không bị cấu uế của xan
tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay sạch sẽ, ưa thích từ bỏ, sẵn
sàng, để được yêu cầu, ưa thích phân
phát vật bố thí".
Này Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ tử tùy
niệm Thí, tâm của vị ấy không bị tham ám ảnh, tâm không bị sân ám ảnh, tâm
không bị si ám ảnh; trong khi ấy, tâm được
chánh trực nhờ duyên Thí. Vị Thánh đệ
tử, này Mahànàma, với tâm chánh trực, có
được nghĩa tín thọ, có được pháp tín thọ, có
được hân hoan liên hệ đến pháp. Khi có
hân hoan, hỷ sanh; khi có hỷ, thân được khinh an; khi thân khinh an, cảm
giác lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm được định tĩnh. Này Mahànàma, như
vậy gọi là bậc Thánh đệ tử sống đạt được bình
đẳng với chúng sanh không bình
đẳng, sống đạt được vô sân với chúng sanh có
sân, nhập được dòng lưu của Chánh Pháp, và tu tập tùy niệm Thí."
Trong Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp, ngoài
6 đề mục quán niệm nêu trên, còn ghi
thêm 4 đề mục khác là niệm Hơi thở,
niệm Chết, niệm Thân, và niệm Tịch tịnh, như sau:
"Có một pháp, này các Tỳ-khưu, được tu
tập, được làm cho sung mãn, đưa đến
nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn
diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Một pháp ấy là gì?
Chính là niệm Phật... niệm Pháp... niệm Tăng...
niệm Giới... niệm Thí... niệm Thiên... niệm Hơi thở... niệm Chết...
niệm Thân... niệm Tịch tịnh. Chính một pháp này, này các Tỳ-khưu,
được tu tập, được làm cho sung mãn,
đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham,
đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ,
Niết-bàn".
Xin giải thích tóm tắt:
1. Niệm Phật (buddhànussati) là niệm tưởng mười ân
đức của Phật.
2. Niệm Pháp (dhammànussati) là niệm tưởng sáu ân
đức của giáo pháp.
3. Niệm Tăng
(sanghànussati) là niệm tưởng chín ân
đức của Tăng chúng.
4. Niệm Giới (sìlànussati) là niệm tưởng giới thanh
tịnh của mình.
5. Niệm Thí (càgànussati) là niệm tưởng hạnh bố thí xả tài
của mình.
6. Niệm Thiên (devatànussati) là niệm tưởng các công hạnh
tác thành chư thiên và xét lại công hạnh mình có.
7. Niệm Chết (maranàsati) là suy niệm sự chết
đã,
đang và sẽ đến với chúng sanh luôn
cả ta, để làm cho tâm không dể duôi.
8. Niệm Thân hành (kàyagatàsati) là suy niệm thân này cho
thấy rằng bất tịnh, uế trược, ổ bệnh tật, khả ố, thực tính thân này là
như vậy, v.v. để từ bỏ sự luyến ái.
9. Niệm Hơi thở (ànàpànàsati) là niệm về hơi thở
vô, hơi thở ra, để trừ sự phóng tâm.
10. Niệm Tịch tịnh (upasamànussati) là suy niệm
trạng thái Niết-bàn, nơi không còn phiền não và
đau khổ, một trạng thái vắng lặng tuyệt
đối.
Để tu tập về pháp quán niệm lòng Bố Thí, có thể xem thêm các
hướng dẫn chi tiết của ngài Luận sư Phật Âm (Buddhaghosa) trong bộ luận
Thanh Tịnh Đạo (Visuddhi-magga), do Ni sư Trí
Hải dịch Việt, ở Chương VII, đoạn viết về Niệm Thí.
*
T óm lại, Bố Thí là một đức hạnh cao
quý mà Đức Phật khuyên tất cả
Phật tử chúng ta cần phải tu tập. Bố thí có 2 loại: Bố thí Tài và Bố thí
Pháp, trong đó, Bố thí Pháp là cao
thượng hơn. Khi bố thí, chúng ta phải có chánh niệm và trí tuệ
để nhận thức rõ ràng về vật bố thí,
cách thức bố thí, đối tượng nhận bố thí, và
tâm ý của chúng ta khi làm chuyện bố thí. Bố thí cần phải phát nguồn từ
lòng tịnh tín nơi Tam Bảo và tròn đủ giới
hạnh để đem lại sự an vui đến cho muôn loài. Cuối cùng, chúng ta
cần phải hành thiền, trong đó, quán niệm về lòng
Bố thí là một pháp môn quan trọng cần phải
được tu tập.
Perth, tháng 7-2004
-04-
Chánh
Ngữ
Bình Anson
---*---
C hánh ngữ là lời nói chân chánh, không tạo nghiệp bất thiện bằng
lời nói, mà trái lại, dùng lời nói để tạo các
nghiệp thiện lành. Trong Bát Chánh
Đạo, Chánh Ngữ là chi thứ ba, và được
định nghĩa như sau, như đã ghi trong Tương Ưng Bộ: "Thế nào là
chánh ngữ? Đó là từ bỏ nói láo, từ bỏ
nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói
lời phù phiếm". Đó là về
mặt tiêu cực. Về mặt tích cực, Đức Phật cũng
dạy rằng chúng ta phải cố gắng tu tập để có những lời nói chân
thật, hòa hợp, dịu dàng, và có ý nghĩa. Khi ta thực tập
được những lời nói nầy, ta được nhiều người
quý mến. Để đáp lại, họ sẽ lắng nghe những gì ta nói ra, và sẽ
đáp ứng thân thiện và xây dựng.
Trong Tăng Chi Bộ 10.176, Đức Phật dạy:
-- "Có bốn pháp tịnh hạnh về lời nói:
1) Ở đây, có người đoạn tận nói láo, từ bỏ
nói láo. Nếu không biết, người ấy nói: "Tôi không biết"; nếu biết, người
ấy nói: "Tôi biết"; nếu không thấy, người ấy nói: "Tôi không thấy"; nếu
thấy, người ấy nói: "Tôi thấy". Như vậy lời nói của người ấy không trở thành
cố ý vọng ngữ, hoặc nguyên nhân vì mình, hoặc nguyên nhân vì người, hoặc
nguyên nhân vì một vài quyền lợi gì.
2) Người ấy đoạn tận nói hai lưỡi, từ bỏ
nói hai lưỡi. Nghe điều gì ở chỗ này, người ấy không
đi đến chỗ kia nói, để gây chia rẽ ở những
người này; nghe điều gì ở chỗ
kia, người ấy không đi nói với những người này,
để gây chia rẽ ở những người kia. Như vậy
người ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, tăng
trưởng những kẻ hòa hợp, thích thú hòa hợp, nói những lời
đưa đến hòa hợp.
3) Người ấy đoạn tận lời nói độc ác, từ bỏ
lời nói độc ác. Người ấy chỉ dùng những lời nói nhu hòa, êm tai, dễ
thương, thông cảm đến tâm, tao nhã,
đẹp lòng nhiều người, vui ý nhiều
người.
4) Người ấy đoạn tận lời nói phù
phiếm. Người ấy nói đúng thời, nói chân thật,
nói có ý nghĩa, nói Pháp, nói Luật, nói những lời đáng được gìn
giữ. Vì nói hợp thời, nên lời nói thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, lợi
ích".
Đó cũng l à 4 thiện nghiệp về Khẩu trong 10 thiện nghiệp (thập
thiện nghiệp) mà Đức Phật thường giảng dạy
cho các vị đệ tử cư sĩ. Còn các thiện nghiệp khác là về Thân có 3:
các hành động không sát sanh, không trộm cắp,
không tà dâm; và về Ý có 3: các ý tưởng không tham, không sân,
không tà kiến.
*
Cũng có trường hợp, khi ta nói chân thật và lễ
độ mà vẫn chạm
đến tự ái của kẻ khác, khiến họ phật lòng.
Tuy thế, đôi khi cần phải nói sự thật dù
có mất lòng nhưng hữu ích, có khả năng đem
đến lợi lạc trên đường tu tập. Trong
kinh số 58, Trung Bộ, Vương tử Vô Úy hỏi Đức Phật rằng có thể nào
lời nói của Ngài làm phật ý người khác hay không. Ngài trả lời:
-- "Này Vương tử Vô Úy, lời nói nào Như Lai biết không như thật, không
như chân, không tương ứng với mục đích, và
lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai không nói
lời nói ấy.
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục
đích, và lời nói ấy khiến những người
khác không ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục
đích, và lời nói ấy khiến những người
khác không ưa, không thích, ở đây, Như Lai
biết đúng thời mà giải thích lời nói ấy.
Lời nói nào Như Lai biết là không như thật, không như chân, không tương
ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến
những người khác ưa thích, Như Lại không nói lời nói ấy.
Lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, không tương ứng với mục
đích, và lời nói ấy khiến những người
khác ưa và thích, Như Lai không nói lời nói ấy.
Và lời nói nào Như Lai biết là như thật, như chân, tương ứng với mục
đích, và lời nói ấy khiến những người
khác ưa và thích, ở đây, Như Lai biết đúng
thời mà giải thích lời nói ấy".
Như thế, chúng ta thấy rằng Đức Phật chọn
đúng thời để giảng dạy người khác, với những lời lẽ như thật, như chân,
đưa đến mục đích giải thoát giác ngộ, cho dù lời ấy
được người nghe ưa thích hoặc không ưa thích.
*
Trong kinh Lời Nói (Tăng Chi 5.198), Đức
Phật giảng 5 yếu tố của một lời nói thiện lành như sau:
--"Thành tựu năm chi phần, này các
Tỳ-khưu, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội
và không bị những bậc Hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm?
Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời
đem đến lợi ích, nói với từ tâm".
1) Nói đúng thời: có khi một lời chân thật
nhưng không được phát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích hoặc làm
cho người khác bực mình. Người thiện trí phải tế nhị
để áp dụng lời nói của mình
đúng chỗ, đúng lúc.
2) Nói đúng sự thật: bậc thiện tri thức
nói một lời phải dựa trên sự thật, không ngụy biện, không lừa dối.
3) Nói lời nhu hoà: lời nói cần phải dịu dàng, lễ phép, tạo không khí
hòa hợp.
4) Nói lời đem đến lợi ích: lời nói phải
có mục đích và ý nghĩa của nó, dù là lời chân thật nhưng không có
mục đích đem lại lợi ích cho ai, thì
đó cũng chỉ là lời nói nhảm, vô dụng.
5) Nói lời với từ tâm: lời nói phải phát xuất từ tấm lòng thương yêu,
cẩn trọng.
Ngoài ra, trong bài kinh Khéo Thuyết, Kinh Tập 78,
Đức Phật giảng thêm:
-- "Thành tựu bốn chi phần, này các Tỳ-khưu, lời nói
được khéo nói, không phải vụng nói, không có
lỗi lầm, không bị người trí quở trách. Thế nào là bốn? Ở
đây, này các Tỳ-khưu, Tỳ-khưu chỉ nói
lời khéo nói, không nói lời vụng nói; chỉ nói lời
đúng pháp, không nói lời phi pháp; chỉ nói
lời khả ái, không nói lời phi khả ái; chỉ nói lời đúng sự thật, không nói
lời không đúng sự thật. Thành tựu với bốn chi phần này, này các
Tỳ-khưu, lời nói là được khéo nói, không phải
vụng nói, không có lỗi lầm, không bị người trí quở trách."
*
Trong Tăng Chi Bộ 10.69,
Đức Phật khuyên chúng ta chỉ nên bàn
luận về những đề tài thiết thực, có
ích lợi trong sự tu tập:
-- "Có mười đề tài
đáng để
đàm luận. Thế nào là mười?
Đó là các
đề tài về ít dục, đề tài về
biết đủ,
đề tài về viễn ly, đề tài về
không tụ hội, đề tài về tinh tấn,
đề tài về giới,
đề tài về
định, đề tài về tuệ,
đề tài về giải thoát,
đề tài về giải thoát tri kiến".
Ngài thiền sư Buddhadasa (Phật Lệ), Thái Lan, giải thích thêm:
1) Giảm dục (Appiccha-gatha): đàm
luận để giảm lòng tham, dùng những lời
nói khuyến khích ta tiết giảm lòng ham muốn.
2) Biết đủ hay Tri túc
(Santutthi-gatha): đàm luận
để đưa
đến sự biết
đủ, dùng những lời nói khuyến khích ta
thỏa mãn với những gì mình đang có, mà
không còn chú ý đến các tiện nghi xa
hoa.
3) Viễn ly hay Ðộc cư (Paviveka-gatha):
đàm luận
để đưa
đến sự sống một mình, dùng những lời
nói khuyến khích việc sống và tư duy đơn
độc, xa lánh các náo
động.
4) Không tụ hội hay Giảm Tiếp (Asamsagga-gatha):
đàm luận
để tránh các tiếp xúc vô ích, dùng những lời nói khuyến khích ta
tránh phí phạm năng lực và thì giờ.
5) Tinh tấn (Viriyarambha-gatha): đàm
luận để bảo tồn và gia tăng
tinh tấn, dùng những lời nói khuyến khích nỗ lực trong tu tập.
6) Giới đức (Sila-gatha):
đàm luận
để giữ giới hạnh tốt, dùng những lời nói
để khuyến khích gìn giữ
đức hạnh.
7) Thiền định (Samadhi-gatha):
đàm luận
để tạo lập tâm an định, thăng
bằng, chuyên chú, hợp nhất, dùng những lời nói
để khuyến khích tâm thêm trong sáng và
ổn cố.
8) Trí tuệ (Panna-gatha): đàm
luận để tạo thông minh và trí tuệ,
dùng những lời nói để khuyến khích sự
phát triển tuệ minh triết.
9) Giải thoát (Vimutti-gatha): đàm
luận để giải thoát, dùng những lời nói
để khuyến khích sự giải thoát tâm trí
khỏi mọi phiền não, mọi mầm mống bất thiện.
10) Tri kiến Giải thoát (Vimutti-nanadassana-gatha):
đàm luận
để tạo lập tri kiến giải thoát, dùng những lời nói
để khuyến khích sự chú tâm và hiểu
biết về tri kiến giải thoát, xả ly khỏi mọi tham thủ và phiền não.
*
Ðức Phật rất chê trách những cuộc nói chuyện huyên thuyên, phí thời
gian vô ích. Những lời gièm pha và đồn
đãi không
đem đến lợi lạc gì, vì chúng
làm quấy động sự yên tĩnh và
định tâm. Ngài cũng giảng thêm rằng
người ta không thể trở thành bậc trí chỉ vì nói nhiều, cũng không phải vì
nói nhiều mà người ta được gọi là bậc
lão thông Pháp (Dhammadhara), như trong các câu Pháp Cú sau
đây:
"Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc." (PC
100)
"Không phải vì nói nhiều,
Mới xứng danh bậc trí.
An ổn, không oán sợ.
Thật đáng gọi bậc trí." (PC 258)
"Không phải vì nói nhiều,
Là thọ trì chánh pháp.
Người nghe ít diệu pháp,
Nhưng trực nhận viên dung,
Chánh pháp không buông lung,
Là thọ trì chánh pháp." (PC 259)
Trong ngôn ngữ Pàli, danh từ "Mâu-ni" (Muni) trong tên "Thích-ca
Mâu-ni" (Sakya Muni) có nghĩa là người luôn giữ sự yên lặng (bậc
Tịch tịnh), thường được dùng
để gọi một vị Thánh.
Đức Phật thường khuyên các vị tu sĩ
đệ tử rằng: "Này các Tỳ-khưu, khi
quí vị hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: một là
đàm luận về Chánh pháp, hai là giữ sự
im lặng của bậc Thánh" (Phật tự thuyết, Ud 10).
*
T óm lại, lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng, không
những tác động
đến đời
sống hạnh phúc của mỗi cá nhân mà còn có thể tác
động đến
sinh hoạt của xã hội. Nếu có tỉnh giác và định
hướng tốt, lời nói qua các cuộc đàm
luận, giao tiếp hằng ngày, sẽ mang đến
nhiều lợi ích cho sự tu tập của những người con Phật chúng ta. Chính vì
thế mà Đức Phật
đã đưa
Chánh Ngữ vào Bát Chánh Đạo, con
đường Tám Chánh dẫn
đến giải thoát giác ngộ.
Perth, Tây Úc, tháng 9-2004
-05-
Rằm Tháng Sáu: Ngày Chuyển
Pháp Luân
Bình Anson
---*---
C ó ba dịp lễ lớn trong truyền thống Phật giáo Nguyên thủy.
Đó là ngày lễ Magha Puja, Vesakha
Puja, và Asalha Puja. "Puja" nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có
nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây,
Puja còn có nghĩa là ngày lễ lớn. "Magha, Vesakha, Asalha" là tên
các tháng trong lịch của Ấn độ. So với
âm lịch Việt Nam, "Magha" tương ứng với tháng Giêng, "Vesakha" tương ứng
với tháng Tư, và "Asalha" tương ứng với tháng Sáu.
"Magha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Giêng, kỷ niệm ngày
Đức Phật thuyết kệ "Ovada-Patimokkha",
là căn bản cho các giới luật sau này.
"Vesakha Puja" là ngày lễ Rằm tháng Tư, tức là ngày Tam Hợp hay Phật
Đản. "Asalha Puja" là ngày lễ Rằm
tháng Sáu, kỷ niệm ngày Đức Phật giảng
kinh Chuyển Pháp Luân, và sau đó, chư
Tăng Nam tông bắt
đầu mùa An cư Kiết hạ.
Ngoài ra, truyền thống Nam tông còn có các ngày lễ khác như ngày Tự Tứ
(rằm tháng Chín) -- kết thúc mùa An cư Kiết hạ, và mùa lễ Dâng Y Kathina
trong một tháng, từ ngày 16 tháng Chín đến
ngày rằm tháng Mười âm lịch.
*
1. Chuyển Pháp Luân
Ngài Bồ tát Sĩ-đạt-ta rời gia
đình, tìm
đạo giải thoát năm 29 tuổi, và
thành đạo năm
35 tuổi, vào đêm trăng
Rằm tháng Tư. Sau khi Ngài giác ngộ, có vị Phạm thiên Sahampati cung thỉnh
Ngài vì lòng từ bi thuyết pháp độ
đời. Đức
Phật quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên, Ngài nghĩ
đến đạo
sĩ Alàra Kàlàma và đạo sĩ Uddaka
Ràmaputta, là hai vị thầy dạy đạo cho
ngài khi còn là Bồ-tát tầm sư học đạo,
nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã
qua đời. Tiếp
đến, Ngài nghĩ
đến năm
người bạn là: Kondanna (Kiều Trần Như), Bhaddiya, Vappa, Mahànàma và
Assaji, mà lúc trước đã cùng tu khổ
hạnh với ngài, và hiện giờ họ đang ở
vườn Lộc Uyển, gần thành Ba La Nại.
Từ Bồ đề
đạo tràng, nơi Ngài giác ngộ,
Đức Phật
đi đến vườn Lộc Uyển, một cuộc
hành trình khoảng 210 km, mất khoảng 2 tháng, và
đến nơi
đó vào đúng ngày Rằm tháng Sáu.
Thoạt tiên, khi thấy Ngài, anh em Kiều Trần Như quyết
định không chào hỏi, cũng không
đứng lên
đảnh lễ Ngài, bởi vì họ cho rằng lúc trước, Ngài
đã từ bỏ lối tu khổ hạnh, không còn là
một bậc chân tu nữa. Tuy nhiên, khi Ngài tiến
đến gần, chư vị đã bị chinh
phục trước vẻ cao quý của một bậc giải thoát, khiến họ
đối xử với Ngài vô cùng kính cẩn. Chư
vị cầm lấy bình bát và thượng y của ngài, sửa soạn chỗ ngồi cho Ngài, rửa
chân Ngài và gọi Ngài là "Hiền giả" (Àvuso) theo thói quen. Song
Đức Phật bác bỏ cách xưng hô này, và
nói:
"Này chư vị, đừng gọi Như Lai
(Tathàgata) là "Hiền giả" như một trong các vị. Như Lai là bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác" -- (Đại Phẩm)
Lời tuyên bố đã khám phá con
đường đưa
đến Bất Tử tức con
đường Giải thoát,
đã giác ngộ và chứng
đắc Chân Lý của Ngài
được năm
người bạn đồng tu cũ
đáp lại với vẻ hoài nghi. Chư vị hỏi:
Làm thế nào một người đã từ bỏ khổ
hạnh để chọn
đời sống sung túc, lại có thể chứng
đắc Chân Lý? Ðức Phật giải thích rằng
Ngài chẳng hề tham đắm
đời sống sung túc.
Để làm sáng tỏ mọi việc, Ngài thuyết
giảng bài kinh Chuyển Pháp Luân, khởi
đầu công trình hoằng pháp của Ngài.
Bài kinh trình bày Pháp Giải Thoát là Trung Ðạo, và nêu lên Bốn
Chân Lý Cao Quý (Tứ Diệu Đế)
- như đã ghi lại trong Luật Tạng
và trong Tương Ưng Bộ:
"Có hai cực đoan, này chư vị, mà
người xuất gia nên tránh. Hai cực đoan
đó là gì?
Đắm mình vào dục lạc, thấp kém, tầm thường, hạ liệt, không xứng
đáng bậc Thánh, không ích lợi, là một
cực đoan. Cực
đoan kia là chuyên tâm khổ hạnh ép
xác, gây khổ đau, không xứng
đáng bậc Thánh, và cũng không ích lợi.
Này chư vị, Như Lai đã tránh xa hai
cực đoan này, và tìm ra Trung Ðạo,
chính là con đường khiến cho Ta thấy
và biết rõ, con đường
đưa đến
an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn."
Ngài giảng tiếp:
"Đây là Chân lý về Khổ: Sanh, già,
bệnh, chết là khổ; sầu, bi, ưu, não là khổ; thân cận những gì ta không
thích là khổ; xa lìa những gì ta thích là khổ; cầu không
được là khổ; tóm lại, ngũ thủ uẩn là
khổ.
Đâ y là Chân lý về Nguồn gốc của Khổ: Ðó chính là khát ái
đưa đến
tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm thấy lạc thú chỗ này chỗ kia:
đó là Dục ái, Hữu ái và Phi hữu ái.
Đâ y là Chân lý về Khổ Diệt: Đó
chính là sự đoạn trừ, diệt tận hoàn
toàn khát ái đó, quăng
bỏ nó, chấm dứt nó, xả ly nó, không chấp thủ nó.
Đâ y là Chân lý về Con Ðường Diệt Khổ: Ðó là Thánh Ðạo Tám Ngành,
tức là: Chánh Kiến, Chánh Tư duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng,
Chánh Tinh tấn, Chánh Niệm, và Chánh Ðịnh." -- (Đại
Phẩm, Tạng Luật; Tương Ưng Bộ)
Năm vị tôn giả hết sức chú tâm lắng
nghe lời ngài. Khi Ngài thuyết giảng, tôn giả Kondanna quán triệt:
"Những gì có sinh khởi đều phải chịu
qui luật hoại diệt", và đắc quả Dự
lưu. Sau đó, tôn giả liền xin
Đức Phật nhận làm
đệ tử. Đức
Phật nói: "Ðến đây, này Tỳ-khưu,
Giáo Pháp đã
được khéo giảng, hãy sống
đời Phạm hạnh
để đoạn
tận khổ đau" và nhận tôn giả làm
một Tỳ-khưu. Như vậy, tôn giả Kondanna là vị Tỳ-khưu
đầu tiên trong lịch sử Phật giáo,
đánh dấu khởi
điểm sự thành lập Tăng
đoàn, tồn tại cho
đến ngày nay.
Chẳng bao lâu, lời dạy của Đức Phật
đã giúp cho tôn giả Vappa và Bhaddiya
hiểu Pháp và hai vị cũng được nhận làm
Tỳ-khưu. Trong lúc các ngài Kondanna, Vappa và Bhaddiya
đi khất thực
để cung cấp thức
ăn cho cả nhóm,
Đức Phật thuyết giảng riêng cho tôn
giả Mahànàma và Assaji. Sau đó, hai vị
nầy đắc quả bậc Nhập lưu, và xin làm
đệ tử. Như vậy, lúc
đó có sáu Tỳ-khưu trên thế gian -
Đức Phật và năm
vị đệ tử của Ngài.
Vài ngày sau, Đức Phật dạy bài pháp
về Vô Ngã - kinh Vô Ngã Tướng. Khi năm
Tỳ-khưu nghe lời thuyết giảng này của Đức
Phật, tâm của chư vị thoát khỏi mọi lậu hoặc, và trở thành các bậc Thánh
A-la-hán giải thoát.
*
2. An cư Kiết hạ
Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng
trong truyền thống Phật giáo Nam tông bắt đầu
mùa An cư Kiết hạ.
Trong Chương "Vào Mùa Mưa", Đại
Phẩm, Luật Tạng, có ghi:
Đứ c Thế Tôn ngự tại thành Vương Xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc
an cư mùa mưa chưa được
Đức Thế Tôn quy
định cho các Tỳ-khưu. Các vị Tỳ-khưu
đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa
nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
-"Vì sao các sa-môn Thích Tử lại đi
du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả
các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý
được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố
định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả
những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố
định trong mùa mưa. Còn các sa-môn
Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa
lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy
đang dẫm
đạp lên các loại cỏ xanh, đang
hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và
đang gây nên việc giết hại hàng loạt
chúng sanh nhỏ nhoi".
Các Tỳ-khưu nghe được những người
ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị ấy trình sự việc lên
Đức Thế Tôn.
Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các
Tỳ-khưu rằng:
-"Này các Tỳ-khưu, ta cho phép an cư trong mùa mưa.
Đây là hai thời
điểm vào mùa an cư: thời
điểm trước và thời
điểm sau. Thời
điểm trước là ngày kế của ngày trăng
tròn tháng Āsālha,
thời điểm sau là vào ngày sau trăng
tròn tháng sau."
Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời
điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời
điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy
tiếp:
-"Này các Tỳ-khưu, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra
đi du hành. Vị nào ra
đi thì phạm tội tác ác (dukkata)."
Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được
thỉnh mời, vị Tỳ-khưu được phép rời
trú xứ trong thời hạn không quá 7 ngày. Đức
Phật dạy:
-"Này các Tỳ-khưu, ta cho phép đi
khi được thỉnh mời với công việc có
thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi,
nếu không được thỉnh mời."
Suốt thời kỳ gió mùa ở miền bắc Ấn Độ,
từ tháng Sáu đến tháng Mười, chư Tăng
sống một nơi cố định trong 3 tháng an
cư. Chư vị có thể lựa chọn cách tự mình xây một am thất trú mưa, hay ở
trong một tinh xá sẵn có.
Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng
Àsàlha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, Đức
Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-khưu nào khởi sự chậm hơn một tháng vào
ngày rằm tháng Bảy - gọi là "hậu An cư". Việc
đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Àssina).
Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười
(Kattikà). Chư Tăng tổ chức lễ sám
hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt,
tức là lễ Tự Tứ (Pavàranà), kết thúc mùa an cư. Sau
đó, các Tỳ-khưu công bố hoàn tất các
phận sự trong Giới Luật, rời nơi an cư, và bắt
đầu du hành truyền
đạo.
Tập tục an cư mùa mưa không chỉ có lý do cổ truyền, mà còn có lý do
thực tiễn nữa. Khi trời đổ mưa ào ạt
và các con sông chảy tràn bờ, khi đường
xá chìm trong bùn lầy, và những mảnh đất
không ngập nước làm thành nơi trú ẩn cho rắn rết, bọ cạp, thì việc du hành
và cắm lều ngoài trời hầu như không thể thực hiện
được. Hơn nữa, khí ẩm bốc hơi trong
thời gió mùa tạo ra những tai hại khác cho sức khỏe; và nếu một Tỳ-khưu bị
bệnh, thì dễ săn sóc vị ấy tại một
tinh xá hơn là lúc di chuyển.
Tục lệ an cư mùa mưa còn có lợi cho Tăng
chúng theo nhiều cách. Trong suốt những tháng du hành theo ý riêng của mỗi
người, có thể là một vài Tỳ-khưu nào đó
trở thành buông lung trong nếp sinh hoạt. Trong mùa an cư, các Tỳ-khưu
chung sống sinh hoạt với nhau, nên phải chú tâm
đến quy luật xử thế và theo
đúng nguyên tắc. Mùa an cư còn tăng
cường mối tình cảm trong Tăng
đoàn. Cuộc sống chung ở một nơi và
cùng học tập lời dạy của bậc Ðạo Sư, sự trao
đổi kinh nghiệm và kiến thức đưa
đến sự thiết lập các mối quan hệ thân
hữu có giá trị giáo dục, đã
được Đức
Phật đánh giá cao. Ngài nói:
"Quả thật tất cả đời sống
đồng Phạm hạnh của Tăng
chúng cốt yếu ở tình thân hữu giữa những người ưa thích
điều thiện, ở tình
đồng đạo,
đồng chí hướng. Một Tỳ-khưu làm bạn
với điều thiện, là người bạn giao du,
người đồng chí hướng, có triển vọng tu
tập và làm sung mãn Bát Chánh Ðạo, để
giải thoát cho đồng bạn cũng như bản
thân vị ấy".
Có lần Đức Phật thấy một Tỳ-khưu bị
bệnh, nằm bơ vơ không ai chăm sóc,
Ngài và Trưởng lão Ànanda cùng đến săn
sóc vị ấy. Rồi Ngài gọi Tăng chúng
đến và dạy: "Này các Tỳ-khưu, chư
vị không có cha mẹ chăm sóc mình. Vậy,
nếu chư vị không chăm sóc nhau, thì ai
sẽ làm việc ấy? Này các Tỳ-khưu, bất cứ ai trong chư vị muốn chăm
sóc ta, thì vị ấy hãy chăm sóc người
bạn đồng Phạm hạnh".
Việc an cư mùa mưa cũng quan trọng trong việc học tập của chư Tăng
thời đó. Chư vị tụng
đọc lại các bài kinh của
Đức Phật và học hỏi những lời dạy mới
của Ngài. Việc học tập nghe kinh không chỉ giới hạn vào mùa an cư, nhưng
được thuận lợi hơn nhờ sự chung sống
suốt ba tháng của một hội chúng Tỳ-khưu đông
đảo tại cùng một
địa điểm.
Có lẽ Giáo Pháp sẽ không được truyền
tụng đến thời
đại chúng ta trong hình thức chính xác
như ngày nay, nếu Tăng chúng thời xưa
không có cơ hội duyệt lại toàn thể lời giáo huấn của
Đức Phật trong các mùa an cư kiết hạ
hằng năm ấy.
Perth, tháng 7-2004
-06-
Sơ Lược Về Lý Duyên Khởi
Bình Anson
---*---
Tiếng Pàli của lý Duyên khởi hay Duyên sinh là
"Paticcasamuppàda", còn được dịch
là "Tùy thuộc Phát sinh", tiếng Anh là "Dependent Origination". Thuyết nầy
bao gồm 12 thành tố, nên cũng được gọi
là Thập Nhị Nhân Duyên.
Trong Tăng Chi Bộ, chương Mười
Pháp, kinh số 92, Đức Phật giảng cho
ông Cấp Cô Độc:
"Ở đây, này Gia chủ Cấp Cô
Độc, vị Thánh
đệ tử quán sát như sau:
Do cái này có, cái kia có.
Do cái này sinh, cái kia sinh.
Do cái này không có, cái kia không có.
Do cái này diệt, cái kia diệt."
Đó là tóm lược lý Duyên khởi. Rồi Ngài giảng rộng ra:
"Tức là do duyên vô minh, có các hành.
Do duyên các hành, có thức.
Do duyên thức, có danh sắc.
Do duyên danh sắc, có sáu nhập.
Do duyên sáu nhập, có xúc.
Do duyên xúc, có thọ.
Do duyên thọ, có ái.
Do duyên ái, có thủ.
Do duyên thủ, có hữu.
Do duyên hữu, có sinh.
Do duyên sinh, có già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
Như vậy, là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này."
Tiếp theo, Đức Phật giảng về sự
đoạn diệt các khổ uẩn:
"Do vô minh diệt, không có dư tàn, nên các hành diệt.
Do các hành diệt, nên thức diệt.
Do thức diệt, nên danh sắc diệt.
Do danh sắc diệt, nên sáu nhập diệt.
Do sáu nhập diệt, nên xúc diệt.
Do xúc diệt, nên thọ diệt.
Do thọ diệt, nên ái diệt.
Do ái diệt, nên thủ diệt.
Do thủ diệt, nên hữu diệt.
Do hữu diệt, nên sinh diệt.
Do sinh diệt, nên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.
Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này diệt. Ðây là Thánh lý
được khéo thấy và khéo thể nhập với
trí tuệ."
Như thế, khi thuyết giảng lý Duyên khởi,
Đức Phật dạy cho chúng ta thấy rằng vì vô minh và bị mê si mà sự
hiện hữu và khổ đau hiện tại
đã phát sinh; do sự diệt tận của vô
minh, và từ đó ái diệt và thủ diệt, mà
không còn sự tái sinh nào tiếp theo; và như vậy, tiến trình hiện hữu
được dừng lại, và cùng với sự dừng lại
ấy, là sự chấm dứt mọi đau khổ.
*
Ở đây, xin trình bày sơ lược tóm
tắt về các liên hệ giữa 12 thành tố của lý Duyên khởi như sau:
"Vô minh duyên hành": Do vô minh (avijjà), các hành
(sankhara) có điều kiện
để sinh ra. Hành là những tư tâm sở
(cetanà) hay ý chí, đưa
đến tái sinh, còn gọi là hành nghiệp.
Vô minh ở đây chủ yếu là vô minh về Tứ
Diệu Ðế, vô minh về lý nhân duyên, vô minh về quá khứ và hiện tại của
chúng ta.
Do vô minh, đôi khi chúng ta làm
những hành động thiện, nhưng phần lớn
chúng ta làm những hành động bất
thiện, vì đa phần những
điều chúng ta làm
đều bắt nguồn từ tham và sân. Dưới ảnh
hưởng của vô minh chúng ta làm đủ mọi
loại hành động. Thật ra, vì chúng ta
không biết đâu là
đúng, đâu
là sai, hoặc chúng ta chỉ hiểu chung chung rằng những hành
động thế này là thiện, những hành thế
kia là bất thiện. Vì mù quáng bởi vô minh mà chúng ta thường làm những
điều lầm lạc, dù rằng
đôi khi chúng ta cũng làm
được những việc tốt.
Hai chi phần này, Vô Minh và Hành, thuộc thời quá khứ, và
đây là hai yếu tố
đã đem
chúng ta đến thế gian này. Những hành
động thiện trong quá khứ của chúng ta
như bố thí, trì giới, có những ý nghĩ tốt đẹp,
v.v. là những thiện nghiệp (kusala-kamma),
đã giúp chúng ta sinh ra làm người, có
mặt trong thế gian này.
"Hành duyên thức": Tùy thuộc nơi hành nghiệp, thiện và bất
thiện, chi phần thứ ba khởi sinh, đó
là Thức (vinnàna), tức tái sinh trong thế gian này. Thức là
thời hiện tại và thuộc nhóm quả dị thục. Thức sinh khởi như kết quả của Vô
Minh và Hành trong quá khứ. Ở đây,
Thức không có nghĩa là tất cả các loại tâm mà chỉ là tâm tục sinh sau khi
chết. Như vậy, khởi đầu của kiếp sống
hiện tại này, chúng ta có Kiết Sinh Thức - Thức nối liền - nghĩa là Thức
nối liền kiếp sống hiện tại với quá khứ. Thức tái sinh phát khởi, chúng ta
được tái sinh,
đó là lý do tại sao ta dùng chữ "tái
sinh", mà không dùng chữ "đầu thai"
với ý nghĩa một linh hồn đi tái sinh.
Bởi vì không có một linh hồn bất tử trong quan niệm của
đạo Phật.
"Thức duyên danh sắc": Tâm không thể làm việc một mình, nó có một
số tâm sở (cetasika) phối hợp làm việc chung với nó, và vì là tâm
nên nó không thể tồn tại đơn
độc, nó cần một cái thân vốn là kết
quả của những hành động trong quá khứ.
Do vậy, tùy thuộc nơi Kiết sinh thức - thức nối liền, chúng ta có tâm và
thân, tức là Danh (nàma) và Sắc (rùpa). Danh là phần
tinh thần, còn Sắc là phần vật chất.
"Danh sắc duyên lục nhập": Do có thân và tâm, hay danh và sắc, ta
có 6 Căn hay 6 Nhập (àyatana).
Chúng ta có năm căn
bên ngoài: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt và thân. Còn gọi là "ngũ môn" hay năm
cửa. Chẳng hạn qua nhãn môn, chúng ta tiếp nhận một
đối tượng của sự thấy, và qua nhãn
môn, chúng ta buông bỏ đối tượng
đó; vì thế, con mắt có hai chức năng:
thu nhận và buông bỏ. Chữ "căn"
được dùng ở
đây với ý nghĩa của một "căn
cứ", dựa vào đó mà tâm có thể thực
hiện. Căn thứ 6 là ý căn.
Đây là một căn
thuộc bên trong, hay nội môn. Nó không những chỉ là một căn
hay môn, mà nó cũng còn là dòng tiến sinh của chúng ta - trong Pàli gọi là
Bhavanga hay "hữu phần". Chính dòng tiến sinh này dẫn chúng ta
đi hết kiếp sống này
đến kiếp sống khác trong vòng sinh tử
luân hồi.
"Lục nhập duyên xúc": Tùy thuộc vào 6 căn,
ta có Xúc (phassa). Xúc là sự va chạm hay tiếp xúc giữa một
đối tượng giác quan bên ngoài với bề
mặt của bộ máy cảm giác tương xứng, hay giữa căn
và cảnh (trần). Tùy thuộc nơi năm cửa
giác quan (ngũ môn) và ý căn (ý
môn), ta có Xúc. Chẳng hạn, khi một cảnh sắc và phần nhạy cảm của con mắt
(tức nhãn căn) nằm trong một khoảng
cách thích hợp và có ánh sáng thích hợp, lúc
đó, sự tiếp xúc giữa căn và
cảnh khởi sinh, hình sắc đó tiếp chạm
với phần nhạy cảm của con mắt. Tương tự như vậy với âm thanh và nhĩ căn,
v.v.
"Xúc duyên thọ": Vì có xúc nên ta có cảm giác, như vậy, Thọ
(vedanà) phát sinh. Khi có sự tiếp chạm với một
đối tượng qua căn,
ta có cảm thọ. Nếu sự tiếp xúc là mềm mại, ta có thể cảm nghe một cảm giác
dễ chịu; nếu sự tiếp xúc là thô nhám, ta cảm thấy một cảm giác khó chịu;
hoặc đôi khi, ta có một cảm thọ trung
tính, không khổ không lạc, v.v.
"Thọ duyên ái": Vì có thọ mà Ái (tanhà) khởi sinh, không có
thọ thì tham ái không sinh khởi. Khi có cảm thọ dễ chịu - qua thấy, nghe,
ngữi, nếm, v.v., tham ái, thích thú sinh khởi. Còn
đối với các cảm thọ khó chịu thì sao?
Trong bộ luận Thanh Tịnh Ðạo, có giải thích: "Một bệnh nhân
đang có một cơn
đau kinh khủng, có một cảm thọ khó
chịu. Lúc đó, tham vẫn khởi lên, bởi
vì người ấy có một ước muốn thoát ra khỏi cơn
đau đó, muốn thoát ra khỏi cái
cảm thọ khó chịu đó. Như vậy tham khởi
lên bằng hai cách: theo cảm thọ dễ chịu và theo cảm thọ khó chịu".
"Ái duyên thủ": Một khi ái đã
sinh thì Chấp Thủ (upàdàna) liền theo sau. Sự khác biệt giữa Ái và
Thủ rất rõ ràng: Ái là tham muốn nhẹ nhàng, trong khi Thủ lại là
ăn rễ thâm sâu, buộc chặt chúng ta vào
một cái gì đó. Tham tự nó thì không
dính mắc, không tiến đến trạng thái
chấp thủ, nó chỉ là sự ước muốn hay mong muốn bình thường. Tuy nhiên, với
một phàm nhân không giác niệm, tham ái liền dẫn theo lòng chấp thủ.
"Thủ duyên hữu": Vì có chấp thủ, nên tạo duyên
để tạo hiện hữu. Hữu (bhava)
nghĩa là ta đang khởi sự trở thành,
thu thập nghiệp lực mới cho đời sống
tương lai. Hữu có hai mặt: nghiệp hữu (kamma-bhava) là hành
động tích lũy của quả dị thục, và sinh
hữu (upapatti-bhava) là quả dị thục hướng
đến tái sinh. Nói một cách khác, do
duyên Ái và Thủ, chúng ta hành động
tạo nghiệp, bây giờ là những hành động
hiện tại (là nghiệp hữu), và đồng
thời, chúng ta đang chuẩn bị cho cuộc
tái sinh trong tương lai (là sinh hữu).
"Hữu duyên sinh": Do bởi những hành động
hay nghiệp hiện tại, chúng ta đang
chuẩn bị cho lần tái sinh sắp tới, đó
là tái sinh hay Sinh (jàti), mang ý nghĩa của sự khởi
đầu của kiếp sống tương lai.
"Sinh duyên già chết": Do tái sinh trong thế gian nên ắt sẽ
đưa đến
Già Chết (jarà-marana). Jarà là tuổi già, già một cách dần
dần, và rồi, Marana là chết. Tất cả mọi hiện tượng xảy ra như một
hệ quả tất nhiên. Chúng ta đã sinh ra
nên phải chịu buồn rầu, bi, khổ, ưu, não, tuyệt vọng, v.v. vì chúng sẽ
hiện khởi như kết quả của việc sinh.
*
Chúng ta thấy ở đây có cả thảy 12
chi phần, thường được phân thành 3
thời: quá khứ, hiện tại, và vị lai. Hai chi Vô Minh và Hành thuộc về quá
khứ; năm chi: Thức, Danh Sắc, Lục
Nhập, Xúc, Thọ thuộc hiện tại, xem như là quả dị thục của quá khứ. Ái,
Thủ, Hữu cũng thuộc hiện tại và làm nhân cho tương lai. Sinh và Già chết
thuộc về tương lai, kết quả của những nhân đã
gieo trong hiện tại. Từ Sinh đến
Già chết, chỉ có hai chi được
đề cập ở thời tương lai; tuy nhiên,
chúng bao hàm cả năm chi phần trong
nhóm quả dị thục hiện tại - từ Thức đến
Thọ. Sự kết hợp của năm chi phần này
tạo ra cái gọi là đàn ông hay
đàn bà, và chính năm
chi phần này là cái được sinh ra, già
chết và rồi lại tái sinh, cứ tiếp tục mãi mãi không ngừng, do những hành
nghiệp từ quá khứ cũng như trong hiện tại.
Trong quyển sách "Cây Giác Ngộ" (The Tree of Enlightenment), Giáo sư
Peter Santina phân chia 12 chi phần thành 3 nhóm: 1) nhóm tai ách (ô
trược): vô minh, ái và thủ; 2) nhóm hành động
(nghiệp): hành và hữu; và 3) nhóm khổ đau:
thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, sinh, và già chết.
Trong nhóm thứ nhất, vô minh là căn
bản. Do vô minh mà chúng ta tham đắm
vào các dục lạc giác quan, vào hưởng thụ, vào những ý tưởng sai lầm, nhất
là ý tưởng về cái Ta độc lập và thường
còn. Do vậy, vô minh, ái và thủ là nguyên nhân của nghiệp (hành
động).
Nhóm thứ hai là nghiệp (hành động),
gồm có hành và hữu. Hành bao hàm những dấu ấn, hay thói quen hình thành
trong dòng tâm thức, hay sự tiếp diễn không ngừng của thức. Những dấu ấn
ấy được tạo thành bởi những hành
động lập
đi lập lại từ nhiều kiếp trước, trở thành thói quen. Những thói
quen đó dẫn dắt nhiều hành
động của ta trong hiện tại. Ngoài ra,
còn có những hành động tạo tác trong
kiếp sống này, và được gọi là hữu.
Những thói quen vốn phát triển từ nhiều kiếp trước cùng với những hành
động tạo tác trong kiếp này dẫn
đến tái sinh với thân ngũ uẩn, rồi già
chết, khổ đau, v.v.
Đó là nhóm thứ ba.
Khi hiểu được sự vận hành của lý
Duyên khởi, ta có thể phá vỡ vòng luân hồi sinh tử
đó, bằng cách gột bỏ những bất tịnh
của tâm - là vô minh, ái và thủ. Một khi các bất tịnh này bị loại bỏ, sẽ
không còn hành nghiệp, và nguồn thói quen cũng không sanh khởi. Khi những
hành nghiệp ngưng thì tái sinh và khổ đau
cũng ngưng.
*
Trong Trường Bộ, kinh số 15, Ðức Phật có dạy ngài
Anandà rằng:
- "Nầy Anandà, giáo pháp Duyên Khởi rất thâm sâu, thật sự thâm sâu.
Chính vì không thông hiểu giáo pháp này mà thế gian giống như một cuộn chỉ
rối ren, một tổ chim, một bụi rậm lau lách, và không thể thoát khỏi các
đọa xứ, cõi dữ, phải chịu khổ
đau trong vòng luân hồi sinh tử."
Trong một đoạn kinh khác, thuộc
Trung Bộ 28, Ngài dạy rằng:
- "Ai hiểu được lý Duyên khởi,
người ấy hiểu Pháp; và ai hiểu được
Pháp, người ấy hiểu lý Duyên khởi".
Cho nên, giáo lý Duyên khởi là một giáo lý tinh yếu, thâm sâu, quan
trọng, không phải dễ dàng thực chứng và thông hiểu. Là một phàm nhân cư sĩ
còn đang tu học, ở
đây, chúng tôi chỉ có thể trình bày
tóm tắt sơ lược theo kiến giải thô thiển của mình.
Perth, Tây Úc, tháng 8-2004
-07-
Về Bát Quan Trai Giới
Bình Anson
---*---
N goài việc thọ trì, tuân giữ 5 điều
giới căn bản trong
đời sống hằng ngày, thỉnh thoảng,
trong các ngày trai giới, các dịp lễ lớn, hay trong các khóa tu thiền tịnh
tâm, người Phật tử cư sĩ chúng ta thường giữ thêm Bát Quan Trai Giới. Tám
giới đó dựa vào năm
giới căn bản, nhưng
được khai triển thêm
để giúp tạo một
đời sống tịnh hạnh,
đơn giản, giúp tạo các
điều kiện thuận lợi
để tu dưỡng tâm trí.
Đó là:
1) Không sát sanh.
2) Không trộm cắp.
3) Không hành dâm.
4) Không nói dối.
5) Không uống rượu và dùng các chất say.
6) Không ăn trái giờ (không
ăn sau 12 giờ trưa).
7) Không tham gia múa hát, thổi kèn, đánh
đàn, xem múa hát, nghe
đàn, kèn, và không trang
điểm, thoa vật thơm, dồi phấn và
đeo tràng hoa.
8) Không nằm ngồi nơi quá cao và nơi xinh
đẹp.
Ngày trai giới còn có tên gọi là ngày Bố-tát, phiên âm từ chữ
"Uposatha". "Uposatha" có nghĩa là đi
đến và lưu lại tại một ngôi chùa hay
một tu viện. Theo phong tục Ấn Độ ngày
xưa, các giáo sĩ Bà-la-môn thực hiện các nghi lễ thanh tịnh hóa, rồi rời
gia đình, chọn một nơi thanh vắng
để sống
độc cư trọn ngày, vào ngày trăng
tròn (ngày rằm) và ngày đầu trăng
(mồng 1). Trong bối cảnh đó,
Đức Phật cho phép các vị tu sĩ
đệ tử của Ngài hội họp lại vào các
ngày đó
để tụng giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa
(Patimokkha, giới luật tu sĩ) và thuyết giảng cho hàng
đệ tử cư sĩ khi họ
đến lưu lại tại chùa. Ngoài ra, cộng
đồng Phật tử thời
đó còn có 2 ngày trai giới khác là
ngày giữa tuần trăng
đầu (mồng 8) và ngày giữa tuần trăng
sau (ngày 23).
Đó là bốn ngày trai giới căn
bản của truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, vẫn còn
được áp dụng cho
đến ngày nay. Tuy nhiên, tại Việt Nam,
Phật tử cư sĩ thường thọ trì 6 ngày trai giới trong tháng: 8, 14, 15, 23,
29, 30 (28, 29 cho tháng thiếu), hoặc 8 ngày: 5, 8, 14, 15, 20, 23, 29, 30
(28, 29 cho tháng thiếu).
*
Các bài giảng của Đức Phật có liên
quan đến tám giới nầy
đã được
ghi lại trong Tăng Chi Bộ, Chương Tám
Pháp, Phẩm "Ngày Trai Giới". Đức Phật
giảng rằng người nào thọ trì tám giới nghiêm túc với tâm trong sạch, người
ấy sống tịnh hạnh như một vị A-la-hán. Vì thế, các
đệ tử của Ngài phải cố gắng giữ tám
giới trong ngày Bố-tát. Ngài giảng chi tiết cho bà Visakha như sau:
--"Thánh đệ tử ấy, này Visàkhà, suy
tư như sau:
1) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sanh,
tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòng từ, sống
thương xót đến hạnh phúc của tất cả
chúng sanh và loài hữu tình. Cũng vậy đêm
nay và ngày nay, ta sống từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ
kiếm, biết tàm quí, có lòng từ, sống thương xót
đến hạnh phúc của tất cả chúng sanh và
loài hữu tình. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ
thực hành trai giới".
2) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ lấy của
không cho, chỉ lấy những vật đã cho,
chỉ mong những vật đã cho, tự sống
thanh tịnh, không có trộm cắp. Cũng vậy, đêm
nay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấy những vật
đã cho, chỉ mong những vật
đã cho, tự sống thanh tịnh, không có
trộm cắp. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực
hành trai giới".
3) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ tà hạnh,
tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Cũng vậy,
đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ tà
hạnh, tịnh tu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ. Về chi
phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".
4)"Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ nói láo,
tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc chắn,
đáng tin cậy, không lừa gạt, không
phản lại lời hứa đối với
đời. Cũng vậy,
đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ nói
láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắc
chắn, đáng tin cậy, không lừa gạt,
không phản lại lời hứa đối với
đời. Về chi phần này, ta theo gương
các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".
5) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ rượu men,
rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa
rượu men, rượu nấu làm cho đắm say.
Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống
từ bỏ rượu men, rượu nấu làm cho đắm
say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm cho đắm
say. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành
trai giới".
6) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán
ăn một ngày một bữa, không
ăn ban đêm,
không ăn phi thời. Cũng vậy,
đêm nay và ngày nay, ta sống
ăn một ngày một bữa, không
ăn ban đêm,
không ăn phi thời. Về chi phần này, ta
theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".
7) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán tránh xa không
xem múa, hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu,
dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm
nay và ngày nay, ta sống tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch,
không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và các thời trang. Về
chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".
8) "Cho đến trọn
đời, các vị A-la-hán từ bỏ giường cao,
giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấy nằm trên giường
thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ.
Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta từ
bỏ giường cao, giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Ta nằm trên
giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm
cỏ. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai
giới".
"Như vậy, này Visàkhà, là Thánh trai giới, thực hành Thánh trai giới,
này Visàkhà, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chói sáng lớn, có ánh sáng
lớn".
Trong Tăng Chi Bộ, Chương Mười
Pháp, Đức Phật cũng khuyên các cư sĩ
của bộ tộc Thích-ca (Sakya) trong các ngày Bố-tát phải nỗ lực hành trì bát
quan trai giới, sống tinh cần, nhiệt tâm, không phóng dật trọn ngày và
trọn đêm. Những lợi lạc do công phu tu
tập đó còn to lớn hơn tài sản của cải
mà họ có thể tích tụ được
để sống sung túc cả trăm
năm; vì công phu
đó sẽ tạo thiện nghiệp
đưa đến
tái sinh trong các cõi trời an lạc với tuổi thọ cả ngàn năm.
Hơn thế nữa, kết quả đó sẽ giúp tạo
điều kiện thuận lợi
để phát triển tuệ giác,
đưa họ nhập dòng thánh giải thoát, qua
các quả vị Dự lưu, Nhất lai, và Bất lai. Ngài nói:
--"Ở đây, này các Thích tử,
đệ tử của Ta, trong 10 năm
sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy. Như vậy,
vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống trăm
năm, ngàn năm,
trăm ngàn năm
được cảm thọ nhất hướng lạc. Vị ấy có
thể chứng được quả Bất lai, quả Nhất
lai hay quả Dự lưu không có sai chạy.
Này các Thích tử, đâu phải là 10 năm!
Ở đây, đệ
tử của Ta trong 9 năm ... 8 năm,
... 1 năm ... 10 tháng ... 9 tháng ...
8 tháng ... 1 tháng ... 10 đêm 10
ngày... 9 đêm 9 ngày... 8
đêm 8 ngày ... trong 1
đêm 1 ngày sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy. Như vậy, vị ấy thực hành, vị ấy có thể
sống trăm năm,
ngàn năm, trăm
ngàn năm
được cảm thọ nhất hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Bất lai, quả
Nhất lai, hay quả Dự lưu không có sai chạy".
*
Theo truyền thống, trong ngày trai giới, người cư sĩ Phật tử thức dậy
sớm, sửa soạn thức ăn, rồi cúng dường
đến các vị Tăng
sĩ đi khất thực trong xóm làng. Hoặc
họ mang thức ăn
đến chùa và cúng dường
đến chư Tăng
ở đó. Đồng
thời, các vị Phật tử này xin chư Tăng
đọc truyền Tam quy và Bát quan trai
giới để
được thọ trì trong suốt ngày và đêm
hôm đó. Có thể là sau
đó, họ trở về nhà, sinh hoạt bình
thường, nhưng vẫn tuân giữ tám giới cho đến
sáng hôm sau. Có thể là họ thu xếp để
ở lại chùa trọn ngày và trọn đêm hôm
đó.
Tùy theo nếp sinh hoạt của mỗi chùa, chương trình có thể thay
đổi. Có những nơi Phật tử lưu lại
đó để
đọc sách, nghe thuyết pháp,
đóng góp vào các công tác Phật sự, làm
công quả tại chùa. Có những nơi chú trọng đến
hành thiền, người Phật tử dành trọn ngày và đêm
để tập sống quán niệm, tĩnh tâm, xen
kẽ các buổi ngồi hành thiền và đi kinh
hành, và đến gặp thiền sư
để tham vấn riêng về các vấn
đề có liên quan
đến công phu tu tập của mình.
Có những chùa tổ chức đêm thọ
đầu đà,
với tham dự viên nguyện không ngủ hay nằm, tích cực tham gia vào các buổi
thuyết pháp và thảo luận về Phật pháp. Trong
đêm đầu tháng và giữa tháng,
nếu tại chùa có trên 4 vị Tỳ-khưu, chư Tăng
tụ họp tại chánh điện, nơi có kết giới
Sima, để tụng
đọc 227 điều
giới bổn của hàng Tỳ-khưu, và cuộc lễ này có thể kéo dài hơn một giờ.
*
Ngày nay, trong môi trường xã hội kinh tế hiện
đại, khi chúng ta phải sinh hoạt, làm
việc theo lịch Tây phương, rất khó mà tuân giữ các ngày Bố-tát
đúng theo âm lịch. Khuynh hướng thông
thường là dời ngày Bố-tát vào những ngày cuối tuần, khi mọi người
được nghỉ ngơi, dễ thu xếp
để gặp nhau, hay
đi đến
chùa, đến các thiền viện. Có những
nhóm Phật tử đã linh hoạt tổ chức ngày
"Tĩnh Tâm" hằng tháng, vào ngày cuối tuần kề cận với
đêm trăng
rằm, thường là ngày thứ Bảy và hành trì bát quan trai giới trọn ngày và
trọn đêm
đó cho đến sáng ngày Chủ nhật.
Nếu có chư Tăng Ni hiện diện, chúng
ta thỉnh quý ngài truyền quy giới. Ở những nơi không có Tăng
Ni, chúng ta có thể mời một vị cư sĩ lớn tuổi, có uy tín, tuyên
đọc quy giới, mọi người cùng
đọc theo, và tự nguyện thọ trì với tâm
trong sạch. Chương trình sinh hoạt thì tùy duyên, có thể là tổ chức các
buổi thiền tập, tham cứu kinh sách, xen kẽ với các buổi thuyết pháp hoặc
đàm luận về Phật pháp, hoặc cùng tụng
đọc các bài kinh căn
bản như kinh Từ Bi, Đại Hạnh Phúc,
Châu Báu, Chuyển Pháp Luân, v.v., hoặc cùng nghe các bài giảng, các bài
kinh tụng thu âm trong băng
audio-cassette hay đĩa CD.
Tương tự trong tinh thần đó, ở
những nơi xa xôi, không có nhiều Phật tử, ta vẫn có thể tự tổ chức một
ngày trai giới tại nhà riêng, tự đọc
lên lời nguyện quy y Tam Bảo và hành trì Tám Giới, rồi lập ra một chương
trình tịnh tu cho riêng mình trong trọn ngày ấy.
Đ iều quan trọng là làm sao giữ tâm thanh tịnh, nhu hòa, không
bận rộn, không lo âu tính toán, và lúc nào cũng cố gắng tỉnh giác, chánh
niệm, nhất tâm hướng về Phật Pháp trong suốt thời gian thọ trì bát quan
trai giới.
Tháng 9-2004
-08-
Niệm Ân Đức
Tam Bảo
Bình Anson
---*---
H ằng ngày, vào buổi sáng sớm và buổi tối, các Phật tử trong
truyền thống Nam tông thường tụng các bài kinh văn
căn bản, trong
đó, có bài tụng về các ân
đức Tam Bảo, Phật-Pháp-Tăng.
Ở đây, xin mạo muội trình bày sơ lược
về ý nghĩa các lời tán dương Tam Bảo đó,
dựa theo một tập sách học tiếng Pàli của Tỳ-khưu Nguyệt Thiên Indacanda.
*
Bắt đầu mỗi buổi lễ, chúng ta
thường nghe tụng câu:
Namo tassa bhagavato arahato sammà sambuddhassa
Trong đó,
Namo tassa : Xin cung kính đến
vị ấy.
bhagavato: đức Thế Tôn,
đức Phá-ga-va.
arahato: bậc A-la-hán, Ứng Cúng.
sammà sambuddhassa: đấng
Chánh Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Bậc
Tự Giác Ngộ hoàn toàn, không ai chỉ dạy.
Nghĩa toàn câu: "Cung kính đến
Ngài là đức Thế Tôn (Phá-ga-va), bậc
A-la-hán (Ứng Cúng), đấng Chánh Biến
Tri".
*
Tiếp theo, là các câu tụng về ân đức
Tam Bảo như sau:
1) Ân đức Phật Bảo:
Itipi so Bhagavà Araham Sammàsambuddho Vijjàcaranasampanno Sugato
Lokavidù Anuttaro Purisadammasàrathi Satthà devamanussànam Buddho
Bhagavàti
Itipi so: Thật vậy, vị ấy là ...
Bhagavà: đức Thế Tôn.
Araham: người không còn ô nhiễm, bậc A-la-hán, bậc Ứng Cúng.
Sammàsambuddho: đấng Chánh
Biến Tri, Chánh Đẳng Giác, Bậc Tự
Giác Ngộ hoàn toàn, không ai chỉ dạy.
Vijjàcaranasampanno: Minh Hạnh Túc, người có trí tuệ và
đức hạnh thành tựu một cách trọn
vẹn.
Sugato: bậc Thiện Thệ, vị đã
ra đi một cách trọn vẹn,
đã Niết-bàn.
Lokavidù: người hiểu biết rõ ràng về thế gian, Thế Gian Giải.
Anuttaro: không gì hơn được,
Vô Thượng Sĩ.
Purisadammasàrathi: người có khả năng
điều khiển, huấn luyện kẻ khác, Ðiều
Ngự Trượng Phu.
Satthà devamanussànam: vị thầy của chư thiên và loài người, Thiên
Nhân Sư.
Buddho: bậc đã giác ngộ,
đức Phật.
Bhagavà: Đức Thế Tôn.
Nghĩa toàn câu: "Thật vậy, bậc
đáng kính trọng ấy là A-la-hán, Chánh
Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn."
Đâ y là đoạn văn
rất thường gặp trong các bài kinh thuộc Đại
Tạng Kinh do ngài Hòa thượng Thích Minh Châu dịch sang Việt ngữ.
Đó cũng là 10 Danh hiệu của
Đức Phật. Tuy nhiên, trong một vài
kinh sách, chúng ta chỉ thấy đề cập
đến 9 danh hiệu,
đó là vì 2 danh hiệu Vô Thượng Sĩ
và Ðiều Ngự Trượng Phu đôi khi
được gộp chung thành một, như có giải
thích trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo,
Chương VII, của ngài Phật Âm (Buddhaghosa).
Ngoài ra, trong nhiều kinh sách Bắc tông, có thấy thêm vào danh hiệu
Như Lai, tạo ra 11 danh hiệu. Để
có được con số 10 danh hiệu, có sách
gộp chung Vô Thượng Sĩ và Điều
Ngự Trượng Phu thành một, hay gộp chung Phật và Thế Tôn
thành một danh hiệu.
Trong quyển "Nghi thức tụng niệm" của chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ, có
dịch là:
Hồng danh Phật nhiệm mầu Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hạnh đủ
đầy,
Ðức ân Thiện Thệ cao dày,
Bậc Thế Gian Giải chỉ bày lý chân,
Vô Thượng Sĩ pháp âm tịnh diệu,
Bậc Trượng Phu Ðiều Ngự độ sanh,
Thiên Nhân Sư đấng cha lành,
Phật Ðà toàn giác, Thế Tôn trong đời.
*
2) Ân đức Pháp Bảo:
Svàkkhàto bhagavato dhammo sanditthiko akàliko ehipassiko opanayiko
paccattam veditabbo vinnùhìti
Svàkkhàto: đã khéo
được thuyết giảng.
bhagavato: của đức Thế Tôn.
dhammo: giáo pháp.
Svàkkhàto bhagavato dhammo: Pháp của
đức Thế Tôn đã khéo
được thuyết giảng
sanditthiko: hoàn toàn hiển nhiên,
được thấy rõ ràng.
akàliko: không đợi thời gian,
không bị chi phối bởi thời gian.
ehipassiko: hãy đến và hãy
thấy, mời đến
để thấy.
opanayiko: có khả năng hướng
thượng, dẫn dắt về hướng thượng (Niết-bàn).
paccattam: tự cá nhân, riêng rẽ.
veditabbo: nên được hiểu
biết.
vinnùhì: bởi các bậc trí tuệ.
Nghĩa toàn câu: "Pháp của đức
Thế Tôn đã khéo
được thuyết giảng, hoàn toàn hiển
nhiên, không bị chi phối bởi thời gian, hãy
đến và hãy thấy, có khả năng
dẫn dắt về hướng (Niết-bàn), và nên được
hiểu biết tự cá nhân bởi các bậc trí tuệ."
Trong các bộ kinh Nikàya, Hòa thượng Minh Châu dịch là "Ðây là Pháp
do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có quả tức thời,
đến để
mà thấy, có khả năng hướng thượng, do
người trí tự mình giác hiểu."
Trong quyển "Nghi thức tụng niệm" của chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ, có
dịch là:
Pháp vi diệu, cha lành khéo dạy,
Lìa danh ngôn, giác ngộ hiện tiền,
Vượt thời gian, chứng vô biên,
Sát na đại ngộ, hoát nhiên liễu tường,
Ðạo vô thượng, đến rồi thấy rõ,
Hướng thượng tâm, thoát ngõ vọng trần,
Trí nhân tự ngộ giả chân,
Diệu thường tịnh lạc, Pháp ân nhiệm mầu.
*
3) Ân đức Tăng
Bảo:
Supatipanno bhagavato sàvakasangho
ujupatipanno bhagavato sàvakasangho
nàyapatipanno bhagavato sàvakasangho
sàmìcipatipanno bhagavato sàvakasangho
yadidam cattàri purisayugàni atthapurisapuggalà
esa bhagavato sàvakasangho
àhuneyyo pàhuneyyo dakkhineyyo anjalikaranìyo
anuttaram punnakkhettam lokassàti
Supatipanno: đã tu hành tốt
đẹp trong thiện
đạo (thiện hạnh)
bhagavato: của đức Thế Tôn.
sàvakasangho: Tăng chúng
đệ tử.
bhagavato sàvakasangho: Tăng
chúng đệ tử của
đức Thế Tôn.
ujupatipanno: đã tu hành
trong trực đạo (trực hạnh)
nàyapatipanno: đã tu hành
trong chân đạo (như lý hạnh).
sàmìcipatipanno: đã tu hành
trong chánh đạo (chân chánh hạnh).
yadidam: điều trên có nghĩa
là thế này.
cattàri: bốn (số đếm).
purisayugàni: (bốn) cặp / đôi
hạng người: Đạo quả Dự lưu,
Đạo quả Nhất lai,
Đạo quả Bất lai,
Đạo quả A-la-hán (Đạo
và Quả tính chung thành một đôi).
atthapurisapuggalà: tám hạng người, nếu tính
đơn, đó
là Đạo và Quả tách rời ra.
esa: nhóm người ấy, nhóm người đã
nói ở trên.
bhagavato: của đức Thế Tôn.
sàvakasangho: Tăng chúng
đệ tử.
àhuneyyo: đáng
được cung kính.
pàhuneyyo: đáng
được thân cận.
dakkhineyyo: đáng
được cúng dường.
anjalikaranìyo: đáng
được chắp tay,
đáng
được lễ bái.
anuttaram: không gì hơn được,
vô thượng.
punnakkhettam: nơi để gieo
nhân phước báu, phước điền.
lokassà: của thế gian.
Nghĩa toàn câu: Trong các bộ kinh Nikàya, Hòa thượng Minh Châu
dịch là "Chúng Tăng
đệ tử Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng
Tăng đệ
tử Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng
đệ tử Thế Tôn là bậc Như lý hạnh;
chúng Tăng
đệ tử Thế Tôn là bậc Chân Chánh hạnh;
tức là bốn đôi, tám chúng. Chúng Tăng
đệ tử này của Thế Tôn
đáng được
cung kính, đáng
được thân cận,
đáng được
cúng dường, đáng
được chấp tay chào, là phước
điền vô thượng ở trên
đời."
Trong quyển "Nghi thức tụng niệm" của chùa Pháp Luân, Texas, Hoa Kỳ, có
dịch là:
Bậc diệu hạnh, thinh văn
Thích Tử,
Bậc trực hạnh, pháp lữ thiền gia,
Bậc như lý hạnh, Tăng Già,
Bậc chân chánh hạnh, dưới toà Thế Tôn,
Thành đạo quả bốn
đôi, tám chúng,
Ðệ tử Phật ứng cúng tôn nghiêm,
Cung nghinh kính lễ một niềm,
Thánh chúng vô thượng, phước điền thế
gian.
*
Trì tụng, ghi nhớ và thông hiểu rõ ràng 3 câu tụng trên là một pháp
hành căn bản nhưng rất quan trọng. Khi
thông hiểu ý nghĩa, chúng ta tăng
trưởng niềm tín thành nơi Tam Bảo. Khi ghi nhớ và trì tụng
đều đặn,
thường xuyên, chúng ta dưỡng nuôi sự định
tâm.
Trong Tương Ưng Bộ 11.3, kinh Đầu
Lá Cờ, Đức Phật khuyên các vị Tỳ-khưu
khi hành thiền, sống độc cư trong rừng
vắng, nên thường xuyên tụng niệm và quán tưởng
đến ân đức
Tam Bảo qua các câu trên để giúp các
vị ấy có thêm tự tin, không còn lo âu, sợ hãi. Ngài tóm tắt trong câu kệ:
"Này các vị Tỳ-khưu,
Trong rừng hay gốc cây,
Hay tại căn nhà trống,
Hãy niệm bậc Chánh Giác.
Các Ông có sợ hãi,
Sợ hãi sẽ tiêu diệt.
Nếu không tư niệm Phật,
Tối thượng chủ ở đời,
Và cũng là Ngưu vương,
Trong thế giới loài Người,
Vậy hãy tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết.
Nếu không tư niệm Pháp,
Hướng thượng, khéo tuyên thuyết,
Vậy hãy tư niệm Tăng,
Là phước điền vô thượng.
Vậy này các Tỳ-khưu,
Như vậy tư niệm Phật,
Tư niệm Pháp và Tăng,
Sợ hãi hay hoảng hốt,
Không bao giờ khởi lên".
Đứ c Phật cũng khuyên hàng đệ
tử cư sĩ có những tùy niệm tương tự như thế. Trong Tăng
Chi Bộ 11.12, Ngài dạy vị cư sĩ Đại
Danh (Mahànàma) về 6 tùy niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng,
niệm Giới, niệm Thí (Bố thí), và niệm chư Thiên. Về niệm Phật-Pháp-Tăng,
Ngài nói:
--"Này Mahànàma, trong khi vị Thánh đệ
tử tùy niệm Tam Bảo (Phật-Pháp-Tăng),
tâm của vị ấy không bị tham ám ảnh, không bị sân ám ảnh, không bị si ám
ảnh. Tâm của vị ấy được chánh trực nhờ
duyên Tam Bảo. Vị Thánh đệ tử ấy, với
tâm chánh trực, có được nghĩa tín thọ,
có được pháp tín thọ, có
được hân hoan liên hệ
đến pháp. Khi có hân hoan, hỷ sanh;
khi có hỷ, thân được khinh an; khi
thân được khinh an, cảm giác
được lạc thọ; khi có lạc thọ, tâm
được định
tĩnh. Này Mahànàma, như vậy gọi là bậc Thánh
đệ tử sống đạt
được bình
đẳng với chúng sanh không bình đẳng,
sống đạt
được vô sân với chúng sanh có sân, nhập
được pháp lưu, tu tập tùy niệm Tam
Bảo".
Trong bộ luận Thanh Tịnh Đạo,
Chương VII, ngài Phật Âm đề cập
đến các lợi ích của pháp niệm ân
đức Tam Bảo như sau:
-- "Khi vị hành giả chú tâm đến
việc suy niệm đấng Giác Ngộ như vậy,
suy niệm Chánh Pháp như vậy, suy niệm chư Thánh Tăng
như vậy, vị ấy có lòng tôn kính đức
Phật, tôn kính Giáo Pháp của Ngài, tôn kính chư Thánh Tăng
đệ tử của Ngài. Vị ấy
đạt đến
sự viên mãn về đức tin, chánh niệm,
trí tuệ và công đức. Vị ấy có nhiều
hạnh phúc và an lạc, nhiếp phục được
sự sợ hãi khủng bố, và có khả năng
kham nhẫn, chịu đựng các khổ
đau. Vị ấy có cảm giác như mình
đang sống trước mặt
đấng Đạo
sư, đang sống trong Chánh Pháp,
đang sống với các bậc Thánh Tăng.
Trong khi an trú suy niệm những đức
tính đặc biệt của Tam Bảo, thân thể
của vị hành giả ấy trở thành một nơi đáng
tôn trọng như một đền thờ. Tâm vị ấy
hướng về chư Phật, hướng về Pháp vô thượng, hướng về chư Thánh Tăng.
Hành giả ấy cảm thấy hổ thẹn và e sợ (tàm và quý) trước các ác pháp, và
như thế giúp vị ấy không phạm giới. Nếu vị ấy không chứng
đạt được
quả vị cao thượng trong kiếp này, thì ít nhất, vị ấy cũng sẽ tái sinh vào
một cảnh giới an lạc sau khi chết".
*
Đ a số Phật tử Việt Nam chúng ta, thường không quen thuộc với các
bài kinh tụng trong truyền thống Phật giáo Nam tông, có lẽ sẽ cảm thấy bỡ
ngỡ, khó khăn khi bắt
đầu tụng niệm các câu ân
đức Tam Bảo trình bày ở trên. Tuy
nhiên, nếu có dịp gần gũi với chư Tăng
Nam tông và các cộng đồng Phật tử
trong vùng Nam Á và Đông Nam Á như:
Thái Lan, Cam-pu-chia, Lào, Miến Điện
và Tích Lan, và nếu chúng ta thường xuyên tham dự các khóa tu thiền, dần
dần, chúng ta sẽ quen nghe các câu tụng căn
bản đó. Các bài tụng nầy
đã được
thu âm và quảng bá rộng rãi trên các trang web Phật Giáo của mạng
Internet, qua các băng audio-cassette
và đĩa CD; và
điều đó
sẽ giúp chúng ta học thuộc và tụng đọc
dễ dàng hơn, nếu có quyết tâm học tập.
Qua kinh nghiệm bản thân cũng như qua các trao
đổi với các bạn thiền sinh khác, một
khi chúng ta thông hiểu ý nghĩa và trì tụng ân
đức Tam Bảo thuần thục
đều đặn
mỗi ngày, chúng ta sẽ thấy được nhiều
lợi lạc do pháp hành tùy niệm đó mang
đến cho sự hành thiền và làm phong phú
thêm cho đời sống tinh thần của mình,
như Đức Phật
đã thường khuyên dạy cho hàng
đệ tử, khi Ngài còn tại thế.
Tháng 9-2004
-09-
Về Pháp Tu Thiền
Bình Anson
---*---
T rước hết, chúng ta hãy thử tự trả lời câu hỏi: Thiền là gì? Một
câu hỏi tuy đơn giản, nhưng có lẽ sẽ
có nhiều lối trả lời khác nhau.
Theo ngữ nguyên, Thiền là cách nói tắt của chữ "thiền-na", là
lối phiên âm Hán Việt của chữ Phạn Jhana, hay Dhyana trong
Sanskrit. Thiền-na, trong kinh điển
nguyên thủy, dùng để chỉ mức
độ an định
đặc biệt khi luyện tâm.
Thiền còn được dùng
để dịch chữ Bhàvana và
Samadhi. Bhàvana có thể được
hiểu như là một sự tiến triển, phát triển tâm linh, sự tu tâm, luyện tâm.
Tiếng Anh thường dịch là Mental development. Samadhi thường
được dịch là
Định, Thiền
định, Tâm
định. Tiếng Anh thường dịch là Concentration, Meditation.
Ngay trong ngôn ngữ Thái Lan, họ cũng không có một từ chuyên môn
để dịch. Thông thường,
để chỉ công phu ngồi hành thiền, họ
dùng chữ "Nắng Samadhi" ("nắng" là ngồi), hay "Nắng
Bhavana". Thỉnh thoảng, họ dùng chữ "Nắng Thang-nay" nghĩa là
"ngồi và quay nhìn vào bên trong".
Theo thiển ý, có thể dịch chữ "bhàvana" là: tu thiền, tu tâm,
luyện tâm, lọc tâm, dưỡng tâm. Còn chữ "samadhi" thì tùy theo
ngữ cảnh. Nếu được dùng trong nghĩa
"chánh định" (samma samadhi),
một trong 8 chi phần của Bát Chánh Đạo,
thì chữ nầy có liên quan đến các tầng
thiền-na, và thường được xem như cùng
nghĩa với "samatha-bhàvana", dịch là Thiền An Chỉ, hay Thiền Chỉ.
Nếu được dùng trong nghĩa tam vô lậu
học Giới Định Tuệ, thì có nghĩa là bao
gồm 3 chi: Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh
Định của Bát Chánh Đạo.
Theo Tiến sĩ Muller, một học giả Bắc tông, tác giả quyển Tự
điển Thuật ngữ Phật học
Đông Á (Dictionary of East Asian
Buddhist Terms), Thiền Định là
tiếng ghép đôi, từ chữ Phạn là "Thiền"
(từ "thiền-na") và chữ Hán là "Định",
có nghĩa là quay nhìn vào bên trong, với trạng thái tĩnh lặng.
Cư sĩ Đoàn Trung Còn, một học giả
Bắc tông khác, trong quyển Phật học Từ điển,
cho biết rằng Thiền là từ chữ "Thiền-na", phiên âm từ tiếng Phạn
"Jhana, Dhyana". "Thiền định" dùng
để dịch chữ "Samadhi", phiên âm
là Tam-ma-địa, Tam-muội. Có khi dịch
là "tĩnh lự", nghĩa là làm cho an tĩnh để
suy xét (tư lự).
Theo Tự điển Phật Học Huệ Quang,
Dhyàna hay Jhàna, ngoài tiếng phiên âm là Thiền-na, còn
được phiên âm là
Đà-diễn-na, Trì-a-na; dịch là Tĩnh lự,
Tư duy tu tập, nghĩa là tư duy trong sự vắng lặng.
*
Vì Thiền có liên quan đến Con
Đường Tám Chánh
đưa đến
giác ngộ giải thoát, ở đây, chúng ta
cũng nên ôn lại lời Phật dạy về 8 chi phần của con
đường nầy.
Tương Ưng Bộ, Tập 5, có ghi như sau:
"Này các vị Tỳ-khưu, thế nào là chánh tri kiến?
Đó là sự thông hiểu về khổ, sự thông
hiểu về nguyên nhân của khổ, sự thông hiểu về sự diệt khổ, và sự thông
hiểu về con đường diệt khổ.
Thế nào là chánh tư duy? Đó là tư
duy về sự xuất ly, tư duy về vô sân, tư duy về vô hại.
Thế nào là chánh ngữ? Đó là từ bỏ
nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc
ác, từ bỏ nói lời phù phiếm.
Thế nào chánh nghiệp? Đó là từ bỏ
sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ hành
động tà dâm.
Thế nào là chánh mạng? Đó là
đoạn trừ tà mạng, nuôi sống với chánh
mạng.
Thế nào là chánh tinh tấn? Đó là
tinh tấn ngăn chận không cho khởi sanh
các bất thiện pháp chưa sanh, tinh tấn trừ diệt các bất thiện pháp
đã sanh, tinh tấn phát khởi các thiện
pháp chưa sanh, và tinh tấn duy trì các thiện pháp
đã sanh.
Thế nào là chánh niệm? Đó là sống
quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều
phục mọi tham ưu trên đời; sống quán
thọ trên thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều
phục mọi tham ưu trên đời; sống quán
tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều
phục mọi tham ưu trên đời; sống quán
pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, điều
phục mọi tham ưu trên đời.
Thế nào là chánh định?
Đó là ly dục, ly pháp bất thiện, chứng
và trú Thiền-na thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có
tứ; rồi làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, chứng và trú vào Thiền-na thứ hai, một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không
tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm; rồi ly hỷ trú xả, chánh niệm, tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng
và trú vào Thiền-na thứ ba; rồi xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu
đã cảm thọ trước, chứng và trú vào
Thiền-na thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh."
Qua đoạn kinh trên, có 2
điều quan trọng cần ghi nhận:
1) Chánh Định là công tác tu tập
để đem
tâm an trú vào 4 Thiền-na, sau khi đoạn
trừ các dục, các bất thiện pháp - ở đây
thường được hiểu là
đoạn trừ 5 triền cái: tham dục, sân
hận, hoài nghi, hôn trầm thụy miên, và trạo hối; và thay thế bằng 5 thiền
chi: tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Sau đó
lần lượt xả bỏ 4 thiền chi đầu: tầm,
tứ, hỷ, lạc, chỉ còn giữ lại một trạng thái tâm chuyên nhất, thanh tịnh,
và tỉnh thức ở tầng thiền-na thứ tư.
2) Nếu xem Định trong tam học Giới-Định-Tuệ
là gồm 3 chi cuối của Bát Chánh Đạo,
thì Chánh Niệm và Chánh Định cần phải
thực hành chung với nhau, dựa trên Chánh Tinh Tấn.
*
Tu thiền, hành thiền, định tâm là
một công phu tu tập tối quan trọng để
phát khởi tuệ giải thoát, và thường được
ghi lại trong rất nhiều bài kinh giảng của Đức
Phật. Định trong Con
Đường Tám Chánh
đã được
Đức Phật tuyên bố ngay trong bài giảng
đầu tiên sau khi Thành
Đạo, bài kinh Chuyển Pháp Luân. Trong
những ngày cuối cùng còn tại thế, Ngài tóm tắt về các pháp tu tập qua 37
phần bồ đề, trong
đó, "Định"
được đề
cập trong các nhóm: Ngũ căn, Ngũ lực,
Thất giác chi, và Bát chánh đạo, như
đã ghi lại trong kinh
Đại Bát Niết Bàn của Trường Bộ.
Ngoài ra, theo Hòa thượng Thích Minh Châu, trong quyển "Hành Thiền", có
bốn lợi ích hay bốn công năng của
Thiền:
1) Thiền có khả năng
đoạn trừ các tham dục qua mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân.
2) Thiền có khả năng
đối trị sợ hãi, giúp hành giả có thể
tu tập trong bất cứ hoàn cảnh nào.
3) Thiền đem lại hỷ lạc cho hành
giả.
4) Thiền đưa
đến thành tựu trí tuệ,
đưa đến
giác ngộ giải thoát, đưa
đến Niết bàn.
Trong Kinh Pháp Cú, kệ 282, Đức
Phật dạy:
Tu thiền, trí tuệ sanh,
Bỏ thiền, trí tuệ diệt.
Trong kệ 372, Ngài khuyên:
Không trí tuệ, không thiền,
Không thiền, không trí tuệ.
Người có thiền, có tuệ,
Nhất định gần Niết Bàn.
Trong Tương Ưng Bộ, Tập 5, Ngài dạy rằng Bát Chánh
Đạo chính là cỗ xe tối thượng, là Pháp
Thừa, để chiến thắng tham-sân-si:
- Này Ànanda, cần phải hiểu như thế này: "Cỗ xe thù thắng, cỗ xe pháp
vô thượng - pháp thừa - là sự chinh phục trong chiến trận chống tham, sân,
si. Cỗ xe pháp nầy chính là Con Đường
Tám Chánh".
Rồi Đức Thế Tôn dạy thêm rằng vật
dụng để tạo cỗ xe
đó là Giới luật, Thiền là trục bánh xe
và Niệm là người đánh xe.
*
Trong Trung bộ 24, Kinh "Trạm Xe", ngài Xá-lợi-phất giảng về 7 trạm xe,
ám chỉ 7 giai đoạn thanh tịnh hóa của
một người tu Phật: Giới thanh tịnh, Tâm thanh tịnh, Kiến
thanh tịnh, Đoạn nghi thanh tịnh, Ðạo
phi đạo tri kiến thanh tịnh, Ðạo tri
kiến thanh tịnh, và Tri kiến thanh tịnh. Trong
đó:
1) "Giới thanh tịnh" là tuân giữ nghiêm túc các học giới
đã thọ.
2) "Tâm thanh tịnh" là nhiếp phục năm
triền cái, đưa tâm an trú vào các
thiền-na.
3) "Kiến thanh tịnh" là phân biệt Danh-Sắc, sự thấy
đúng danh và sắc như vậy, một sự thấy
đã được
an lập trên sự không mê mờ, do đã vượt
qua ảo tưởng về tự ngã.
4) "Đoạn nghi thanh tịnh" là
thấy rõ quá trình tâm lý và vật lý tự phô bày sự thật Duyên khởi,
sự tồn tại và sự tan rã của các cảm thọ, các tưởng, không còn nghi ngờ gì
nữa.
5) "Đạo phi
đạo tri kiến thanh tịnh" là biết
rõ các cảm thọ hỉ, lạc đều là chướng
ngại cho sự phát triển trí tuệ rộng lớn, liền giác tỉnh, rồi khởi cảm thọ.
Hành giả đắc
được trí biết rõ cái gì là
Đạo và cái gì là chướng
đạo (hay Phi
đạo). Bấy giờ, hành giả tự mình
biết chắc rằng: giờ đây ta mới thực sự
hạnh phúc.
6) "Đạo tri kiến thanh tịnh"
là thấy rõ quá trình thực hành, tu tập; thấy rõ hiện tượng tan rã của các
quá trình thân và tâm, thấy không có gì hiện hữu nữa; các
đối tượng chú tâm
đều tan rã. Hành giả thấy rõ ba pháp
ấn: khổ, vô thường, vô ngã.
7) "Tri kiến thanh tịnh" là tâm hoàn toàn thanh tịnh do thấy và
biểt. Trong giai đoạn này, hành giả
đi vào các tầng thánh
Đạo-Quả (Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, và
A-la-hán), sau khi thành tựu Ngũ căn,
Ngũ lực, Thất giác chi và Bát Chánh đạo.
Bảy giai đoạn thanh tịnh nầy
được triển khai trong bộ luận Thanh
Tịnh Đạo của ngài Phật Âm
(Buddhaghosa), trong đó, có 3 phần:
Giới, Định, và Tuệ. Phần
đầu là tu tập về Giới,
để đưa
đến thanh tịnh
đầu tiên là Giới thanh tịnh.
Tiếp đến là phần tu tập
Định, có
đề cập đến phát triển các tầng
thiền-na. Tu tập Định
đưa đến
Tâm thanh tịnh. Từ đó, làm nền
tảng để tu tập Tuệ, ở phần thứ 3 của
bộ luận, để
đưa đến
các thanh tịnh kế tiếp là: Kiến thanh tịnh,
Đoạn nghi thanh tịnh, Ðạo phi
đạo tri kiến thanh tịnh, Ðạo tri kiến
thanh tịnh và Tri kiến thanh tịnh.
*
Trong bài kinh số 107, thuộc Trung Bộ, Đức
Phật giảng cho người Bà-la-môn Ganaka Moggallàna, tóm tắt con
đường tu tập, như sau:
- giữ gìn giới hạnh,
- hộ trì các căn,
- tiết độ
ăn uống,
- chú tâm cảnh giác,
- thành tựu chánh niệm tỉnh giác,
- tìm nơi thanh vắng để hành
thiền,
- loại trừ 5 triền cái,
- an trú vào 4 tầng thiền-na.
Và các bước tu tập này áp dụng cho bậc hữu học - tức là các vị Dự lưu,
Nhất lai, Bất lai - lẫn các bậc vô học, tức là các vị thánh A-la-hán giải
thoát.
Thêm vào đó, theo kinh Sáu Thanh
Tịnh, Trung Bộ 112, sau khi an trú vào 4 tầng thiền-na,
Đức Phật khuyên các vị Tỳ-khưu hữu học
phải tiếp tục hành trì, phát triển các tuệ minh và tiến tới giải thoát:
Sau khi an trú trong Tứ Thiền, với tâm định
tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử
dụng, vững chắc, bình thản như vậy, vị ấy dẫn tâm, hướng tâm
đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật:
"Ðây là khổ", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của khổ", biết như thật:
"Ðây là khổ diệt", biết như thật: "Ðây là con
đường đưa
đến khổ diệt", biết như thật: "Ðây là
những lậu hoặc", biết như thật: "Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết
như thật: "Ðây là các lậu hoặc được
đoạn trừ", biết như thật: "Ðây là con
đường đưa
đến các lậu hoặc
được diệt trừ".
Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục
lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân
đã giải thoát như vậy, vị ấy khởi lên
sự hiểu biết: "Ta đã giải thoát"". Vị
ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, việc cần làm
đã làm; không còn trở lui trạng thái
này nữa".
Cũng xin ghi nhận ở đây, ngay trong
chương đầu tiên của bộ luận Thanh Tịnh
Đạo, ngài Phật Âm trích lời Phật dạy
trong Tương Ưng, Tập 1:
Người trú giới có trí
Tu tập tâm và tuệ
Nhiệt tâm và thận trọng
Tỳ-khưu ấy thoát triền.
Ngài Phật Âm giải thích: "người trú giới có trí" là người có giới thanh
tịnh, có hiểu biết rõ ràng dựa trên vô tham, vô sân, vô si. "Tu tập tâm" ở
đây là pháp hành thiền an chỉ, "tu tập
tuệ" ám chỉ hành thiền minh quán , "tu tập tâm và tuệ" có nghĩa là hành
thiền Chỉ-Quán, hay Chỉ-Quán đồng tu.
"Nhiệt tâm và thận trọng" có nghĩa là có nhiều nghị lực, tinh tấn và tỉnh
giác nhận thức. "Tỳ-khưu" - bhikkhu - ở
đây mang một nghĩa rộng, không phải
để chỉ hàng tu sĩ, mà
để chỉ người thấy
được sự khốn khổ của sinh tử luân hồi.
"Thoát triền" là thoát khỏi mọi trói buộc của sinh tử luân hồi. Như thế,
qua câu kệ trên, Đức Phật dạy chúng ta
phải an trú trong Giới, tu tập thiền Định,
phát triển Tuệ quán, để giác ngộ giải
thoát.
*
Đô i khi, trong kinh tạng, Đức
Phật có đề cập
đến hai pháp thiền: (1) thiền an chỉ
hay thiền chỉ (samatha-bhavana), và (2) thiền minh quán
(vipassana-bhavana) hay thiền quán. Hai pháp Chỉ-Quán nầy cần phải
được phát triển
đồng đều,
bổ túc cho nhau.
Trong Tăng Chi Bộ, Chương Hai Pháp,
Đức Phật dạy:
Có hai pháp này, này các Tỳ-khưu, thuộc thành phần minh. Thế nào là
hai? Chỉ và Quán. Chỉ được tu tập, sẽ
được lợi ích gì? Tâm
được tu tập. Tâm
được tu tập, sẽ
được lợi ích gì? Cái gì thuộc về tham
được đoạn
tận. Quán được tu tập, sẽ
được lợi ích gì? Tuệ
được tu tập. Tuệ
được tu tập, sẽ
được lợi ích gì? Cái gì thuộc vô minh
được đoạn
tận. Bị tham làm uế nhiễm, này các Tỳ-khưu, tâm không thể giải thoát. Hay
bị vô minh làm uế nhiễm, tuệ không được
tu tập. Vì vậy, do ly tham, là tâm giải thoát. Do
đoạn vô minh, là tuệ giải thoát.
Trong kinh Kimsuka, Tương Ưng Bộ, Thiên Sáu Xứ, Ngài có ví dụ pháp tu
Chỉ-Quán như là hai vị thiên sứ cùng đến
báo cáo cho vị chủ một ngôi thành ở vùng biên giới về tình trạng an ninh,
bảo vệ phòng chống quân địch. Vị chủ
thành đó là Tâm Thức của chúng ta, và
địch quân ở
đây là các phiền não lậu hoặc. Người
giữ cửa thành là Niệm, và thành có sáu cửa là sáu căn.
Như thế, ta dùng Niệm để canh giữ sáu
căn, và nhờ có tu tập thiền Chỉ-Quán
mà ta có thể ngăn chận và phòng chống
được các phiền não do lậu hoặc mang
đến.
*
T óm lại, Thiền định là một
pháp môn tu tập cần thiết của người con Phật. Thiền
định giúp tạo một khả năng
bền vững để có
đời sống thiện, hướng thiện, và cứu
cánh là thiện. Thiền có thể được xem
là một tiến trình huân tập về cảm thọ, nuôi dưỡng các cảm thọ tốt
đẹp như hỷ, lạc, xả, và từ bỏ các cảm
thọ không tốt đẹp, như khổ, ưu.
Đây là một sự giáo dục tâm lý,
đoạn tận các tâm lý không tốt
đẹp như năm
triền cái vốn bắt nguồn từ tham sân si, và thay thế bởi những tâm lý tốt
đẹp là năm
thiền chi, có căn bản là không tham,
không sân, và không si. Thiền định là
một giai đoạn tiếp theo việc vun bồi
Giới đức, và là nền tảng
để bước vào giai
đoạn kế là phát triển Tuệ giác.
Perth, Tây Úc, tháng 7-2004
-10-
Vài Câu Vấn Đáp Về Hành Thiền
Tỳ-khưu Dhammika
Bình Anson lược dịch
---*---
VẤN: Thiền là gì?
ĐÁ P: Thiền là một nỗ lực có ý thức
để làm thay
đổi sự vận hành của tâm. Tiếng Phạn
Pàli cho chữ Thiền là "Bhavana", nghĩa là "làm tăng
trưởng" hay "phát triển".
VẤN: Thiền có quan trọng không?
ĐÁ P: Vâng, thiền rất quan trọng. Cho dù chúng ta muốn
tốt đẹp bao nhiêu, cũng khó mà thay
đổi được
tâm ý, nếu chúng ta không thể thay đổi
những tham dục vốn đã tạo nên cách
hành xử của chúng ta. Ví dụ, một người có thể nhận ra rằng mình hay nóng
nảy với vợ, và anh ấy tự hứa "Từ đây
về sau, tôi sẽ không nóng nảy như thế". Nhưng một giờ sau, anh ấy có thể
la mắng vợ mình, đơn giản là vì anh ấy
không tự tỉnh thức, sự nóng nảy đã
phát khởi mà anh không biết được. Hành
thiền giúp phát triển sự tỉnh thức và năng
lực cần thiết để chuyển hóa các thói
quen đã ăn
sâu trong tâm ý.
VẤN: Tôi nghe nói rằng hành thiền có thể rất nguy hiểm. Ðiều nầy có
đúng không?
ĐÁ P: Chúng ta cần có muối
để sống. Nhưng nếu bạn ăn một
kí lô muối, thì nó sẽ giết bạn. Để
sống trong thế giới hiện đại, bạn cần
có xe ô tô; nhưng nếu bạn không tuân theo luật giao thông, hay trong lúc
lái xe, bạn lại say rượu, thì xe ô tô trở thành cái máy nguy hiểm. Hành
thiền cũng giống như thế, nó cần thiết cho sự an lạc tinh thần, nhưng nếu
bạn thực hành một cách sai lạc, nó sẽ tạo ra nhiều vấn
đề. Một số người có vấn
đề như buồn nản, sợ hãi vô lý hay bệnh
tâm thần, họ nghĩ rằng thiền là một phương cách
điều trị tức thời cho những vấn
đề của họ. Họ bắt
đầu hành thiền và
đôi khi vấn
đề của họ trở nên tồi tệ hơn. Nếu bạn
có vấn đề như thế, bạn nên tìm sự giúp
đỡ của một chuyên gia tâm lý; sau khi
bạn cảm thấy khá hơn, bạn mới nên hành thiền. Một số người khác, khi hành
thiền, lại cố gắng quá mức, thay vì hành thiền từ từ từng bước một, họ lại
thực hành với quá nhiều năng lực, và
chẳng bao lâu họ kiệt sức.
Nhưng có lẽ phần lớn những vấn đề
trong khi hành thiền xảy ra là do loại "thiền Kăng-ga-ru",
hay "thiền chạy nhảy" (Kangaroo, Đại
thử, là một loài thú lớn có túi trước bụng,
đặc biệt ở Úc, có thể nhảy xa bằng hai chân sau rất khỏe). Một
số người đi
đến một vị thầy
để học thiền rồi áp dụng phương pháp
thiền của vị ấy trong một thời gian; sau đó,
họ đọc sách rồi quyết
định thực hành theo sự chỉ dẫn trong
sách; một tuần sau, có một thiền sư nổi tiếng viếng thăm
thành phố của họ và họ quyết định phối
hợp một số lời dạy của vị ấy vào trong việc tu thiền của họ; và chẳng lâu
sau đó, họ rơi vào tình trạng hoang
mang, thất vọng. Chạy nhảy giống như con Kăng-ga-ru,
từ một phương pháp này sang một phương pháp nọ, là một việc làm sai lầm.
Dù sao, nếu bạn không có vấn đề
nghiêm trọng về bệnh tâm thần, và bạn hành thiền
đúng chừng mực, Thiền là một trong
những điều tốt nhất mà bạn có thể tự
làm cho chính mình.
VẤN: Có mấy pháp hành thiền?
ĐÁ P: Ðức Phật dạy nhiều pháp hành thiền khác nhau, mỗi
pháp để
đối trị một vấn đề
đặc biệt, hay
để phát triển một trạng thái tâm lý
đặc biệt. Tuy nhiên, hai pháp thiền
phổ thông và hữu dụng nhất là quán niệm hơi thở (anapana
sati) và quán từ bi (metta bhavana).
VẤN: Làm thế nào để hành thiền
quán niệm hơi thở?
ĐÁ P: Bạn làm theo bốn bước
đơn giản: chọn nơi chốn, giữ tư thế ngồi, theo dõi hơi thở, và
đối phó những trở ngại.Trước hết, bạn
tìm một nơi thích hợp, có thể một căn
phòng không ồn ào và tại nơi đó, bạn
không bị quấy rầy. Thứ hai, ngồi trong tư thế thoải mái. Tư thế tốt là
ngồi với chân xếp lại, dưới mông có kê một cái gối, lưng thẳng, hai bàn
tay xếp lên nhau đặt trên bắp
đùi, và mắt nhắm lại. Cách khác, bạn
có thể ngồi trên ghế nhưng cần phải giữ lưng cho thẳng.
Bước tiếp theo là phần thực hành. Trong lúc ngồi yên tịnh với mắt nhắm
lại, bạn tập trung vào sự chuyển động
của hơi thở vào và hơi thở ra. Thực hiện điều
này bằng cách đếm hơi thở hay theo dõi
sự phồng xẹp của bụng. Trong khi hành thiền, vài vấn
đề và khó khăn
có thể sinh khởi. Bạn có thể thấy ngứa ngáy khó chịu trên cơ thể hay
đau nhức ở
đầu gối. Nếu
điều này xảy ra, hãy cố gắng giữ cơ
thể thư giản, không nhúc nhích, và tiếp tục
để tâm vào hơi thở. Có thể sẽ có nhiều ý nghĩ xuất hiện ở tâm bạn
và làm xao lãng việc chú tâm vào hơi thở. Cách duy nhất
để xử lý vấn
đề này là kiên nhẫn tiếp tục
đem tâm trở lại với hơi thở. Nếu bạn
tiếp tục làm như thế, cuối cùng, các ý nghĩ kia sẽ yếu
đi, việc
định tâm của bạn sẽ mạnh hơn, và bạn sẽ có
được những giây phút
đi sâu vào sự an lạc và thanh tịnh nội
tâm.
VẤN: Tôi nên hành thiền bao lâu?
ĐÁ P: Tốt nhất là hành thiền mỗi ngày 15 phút trong một
tuần lễ; rồi gia tăng thêm 5 phút mỗi
tuần, cho đến khi bạn có thể hành
thiền trong 45 phút. Sau vài tuần lễ hành thiền
đều đặn
mỗi ngày như thế, bạn sẽ bắt đầu thấy
việc định tâm trở nên tốt hơn, những ý
tưởng tán loạn sẽ giảm dần và bạn sẽ có những giây phút an hòa và tĩnh
lặng thật sự.
VẤN: Còn quán Từ bi là sao? Phương cách thực hành như thế nào?
ĐÁ P: Khi bạn quen thuộc với pháp thiền quán niệm hơi thở
và thực hành đều
đặn rồi, bạn có thể bắt
đầu hành thiền Quán Từ bi. Pháp hành
này nên được thực hiện hai hay ba lần
mỗi tuần, sau khi bạn hành thiền quán niệm hơi thở. Trước tiên, bạn chú
tâm vào chính mình và tự nói những lời như: "Xin cho tôi
được khỏe mạnh và hạnh phúc. Xin cho
tôi được bình an và tĩnh lặng. Xin cho
tôi thoát khỏi mọi hiểm nguy. Xin cho tâm tôi không còn sân hận. Xin cho
tâm tôi tràn đầy tình thương. Xin cho
tôi được khỏe mạnh và hạnh phúc".
Sau đó, bạn nghĩ
đến những người khác, từng người một,
từ người thân thương cho đến những
người bạn bình thường - nghĩa là người mình không thương mà cũng không
ghét, và cuối cùng là đến những người
mà mình không ưa thích; ước nguyện cho họ an vui như bạn
đã ước nguyện cho chính mình.
VẤN: Pháp hành thiền quán từ bi này có lợi ích gì?
ĐÁ P: Nếu bạn thực hành Thiền Quán Từ bi này một cách
đều đặn
và với thái độ
đúng đắn,
bạn sẽ thấy trong bạn có nhiều thay đổi
tích cực. Bạn sẽ thấy mình có thể chấp nhận và tha thứ cho chính mình. Bạn
sẽ thấy tình cảm dành cho người mình thương gia tăng
thêm. Bạn sẽ thấy mình thân thiện hơn với người mà trước
đây mình thờ ơ và không quan tâm; và
bạn sẽ nhận thấy những ác ý hay sân hận mà bạn
đã có với người nào
đó nay sẽ giảm
đi, và cuối cùng sẽ tan biến. Thỉnh
thoảng nếu bạn biết ai đó
đang lâm bệnh, buồn khổ hay gặp khó khăn,
bạn có thể nghĩ đến họ trong lúc hành
thiền từ bi, và thường thì bạn sẽ thấy tình cảnh của họ
được cải thiện.
VẤN: Ðiều ấy có thể xảy ra như thế nào?
ĐÁ P: Tâm ý, khi được
phát triển đúng
đắn, là một công cụ rất hùng mạnh. Nếu
chúng ta biết tập trung năng lực tinh
thần và hướng nó đến người khác, nó có
thể có ảnh hưởng đến họ. Hẳn bạn
đã có kinh nghiệm như thế. Có thể bạn
đang ở trong một phòng
đông người và bạn có cảm giác rằng ai
đó đang
chú ý đến mình. Bạn xoay một vòng xem
và biết chắc là ai đang nhìn chằm chằm
vào mình. Ðiều này đã xảy ra khi bạn
bắt được năng
lực tinh thần của người khác. Thiền quán từ bi cũng giống như vậy. Chúng
ta hướng năng lực tích cực của tinh
thần tới người khác và dần dần sẽ chuyển hóa
được họ.
VẤN: Tôi có cần một vị thầy hướng dẫn hành thiền không?
ĐÁ P: Một vị thầy thì không tuyệt
đối cần thiết, nhưng có
được sự hướng dẫn cá nhân của một
người có kinh nghiệm hành thiền thì chắc chắn có lợi ích. Tiếc thay, có
một số tu sĩ và cư sĩ tự xem mình là thiền sư, nhưng kỳ thực, họ không
biết họ đang làm gì. Bạn hãy cố gắng
tìm một vị thầy có tiếng tốt, có nhân cách thăng
bằng và trung thành với những lời Phật dạy.
VẤN: Tôi nghe nói rằng thiền định
ngày nay được các chuyên gia về tâm
thần và các nhà tâm lý học áp dụng rộng rãi. Ðiều
đó có đúng
không?
ĐÁ P: Vâng, đúng như
thế. Ngày nay, thiền được chấp nhận
như có một ảnh hưởng lớn để trị liệu
tâm thần, và được nhiều chuyên gia về
sức khỏe tâm thần sử dụng, để giúp làm
thư giản, vượt qua những ám ảnh và mang đến
tỉnh thức cho chính mình. Sự hiểu biết thâm sâu của Ðức Phật về tâm ý nhân
loại đang giúp rất nhiều cho con người
hôm nay cũng giống như đã từng giúp
cho con người thời xưa.
Perth, Tây Úc, tháng 9-2004
(Trích từ tập sách "Good Question, Good Answer",
Bhikkhu Dhammika, ấn bản Internet)
---o0o---
Nguồn:
www.buddhanet.net/budsas
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2005
|
|