
Sự Vi Diệu Của Đấng Giác Ngộ
Thích Nữ Ngọc Duyên
(Paññā Paccayā)
Tịnh Thất Siêu Lý
Thuận Hưng, Thốt Nốt
Cần Thơ - VIỆT NAM
Lời Dẫn Nhập
Trong thế giới loài hữu tình, chỉ có một người khi xuất
hiện ở đời đem lại hạnh phúc cho đa số chúng
sanh. Người ấy là ai? Chính là Đức Thế
Tôn Bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác.
"Sự vi diệu của Đấng Giác
Ngộ" là tập toát yếu trích lục Kinh
điển, mô tả quá trình tu chứng trong 3 thời kỳ của Ngài:
- Xuất gia.
- Thành đạo
- Níp Bàn.
Cuộc đời của Bậc giác ngộ,
đã được các vị Cao tăng, các nhà
văn lỗi lạc diễn giảng thật thâm sâu vi diệu.
Tập kinh nầy, chỉ trích một phần trong những bộ Kinh: Dìgha Nikàya,
Majjhima Nikàya, Anguttara Nikàya v.v...
Đức Bồ Tát ra đời giữa vườn hoa lá Lumb
ìnì, Ngài
tên là Siddhatta (Sĩ Đạt Ta), con Vua
Suddhodana (Tịnh Phạn) và mẹ là Hoàng Hậu MahàMayàdevì. Năm
29 tuổi, Ngài từ bỏ hoàng cung đi xuất
gia, vào đêm rằm tháng 6. Sau 6
năm dài tu khổ hạnh trong rừng sâu núi
thẩm, Ngài đã chứng
đạo dưới cội Bồ Đề. Năm 80 tuổi, Ngài
Níp Bàn giữa hai cây Sàlà Song thọ tại xứ Kusinàrà, của dòng họ Mallà.
Những bức tranh trong tập kinh nầy, sẽ làm sống dậy
những lời dạy thâm sâu mà Ngài đã
chứng đắc.
Tập sách nầy được biên
khảo nhờ sự đóng góp của chư vị thí chủ người
Miến Điện như:
- Gia đình: Ông
U. Ko Nyan Oo.
- Bà Ma Htwe.
- Gia đình: Bà Ma Phyu
- Gia đình: Ông U. Kyo Phei.
- Bà Daw Yee Yee Aye.
- Cậu Ko Myint Khaing.
- Đại Đức Tuệ Siêu
đã ủng hộ máy computer.
- Thích Nữ Diệu Liên (Pokkharā Ñānā)
đánh máy, trình bày và in ấn.
Phương danh chư thí chủ hùn phước tài chánh:
- Cụ Ngọc Thanh.
- Cụ Hựu Huyền .
- G.Đ. Cô Tốn và các con.
- G.Đ. Cô Ngọc Tùng và các con .
- G.Đ. Cô Hồng Nhung.
- G.Đ. Cô Thủy và các con.
- G.Đ. Chị em Cô Mỹ Phương.
- G.Đ. Chị em Cô Ngọc Hân.
- G.Đ. Chị em Cô Thu.
- Cụ Diệu Hoa.
Chúng tôi thành tâm hoan hỷ cùng chư thí chủ. Với tất
cả những thiện tâm cao thượng của chư vị, sẽ cho quả lành xứng
đáng trong vạn kiếp về sau.
Thủ Đô Yangon - Myanmar
Rằm tháng 7 Âl, P.L. 2548 - T.L. 2004
Thích nữ Ngọc Duyên
Pañññā Paccayā
-ooOoo-
Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa
Chúng con xin
đảnh lễ bậc Toàn Giác trí tuệ vô song,
Giáo Pháp Vi Diệu và hội chúng Thánh Tăng
cao quý.
GIAI
ĐOẠN SƠ KHỞI
Nhờ chí nguyện và căn lành
đã tích lũy trong vô lượng kiếp trước.
Dù sống trong nhung lụa, nhưng Hoàng Tử mãi ưu tư. Rồi một ngày kia, trong
khi Bồ Tát đi dạo bốn cửa thành, chứng
kiến cảnh "Già, Bệnh, Chết", tâm của Bồ Tát suy tư muốn tìm
đường thoát khổ cho nhân loại. Những cảnh nầy
do Chư Thiên hóa hiện, để làm
cho Ngài khởi sanh sự động tâm.
Một lần nữa, vào ngày rằm tháng 6, Bồ Tát
đi dạo vườn Thượng Uyển để khuây khỏa nỗi
buồn. Trên đường đi, Ngài thấy
một vị xuất gia đang tĩnh tọa dưới cội cây,
trông thật là bình an thanh tịnh. Vị nầy cũng do Chư Thiên biến
hóa, để làm cho Ngài nghĩ
đến việc xuất gia.
Sau buổi đi du ngoạn vườn
thượng uyển, Bồ Tát hồi cung và ngay đêm
ấy, Ngài quyết định xuất gia tìm
đường giải thoát khỏi "Sanh, già, bệnh
chết" và để cứu độ chúng sanh. Ngài
tìm đến người cận thần Channa (Sa Nặc) và
bảo:
- Nầy khanh, Ta sẽ xuất gia ngay trong
đêm nay. Ngươi hãy
đem cho ta con ngựa Kandaka (Kiền Trắc) ngay
bây giờ.
Ngựa đã sẵn sàng,
Bồ Tát nhẹ nhàng lên lưng ngựa, người cận vệ Channa cũng theo sau. Ngài ra
đi vào giữa
đêm rằm tháng 6 Âl. Mỗi chân ngựa
đều có bàn tay của Chư Thiên nâng
đỡ, không phát ra tiếng động. Cửa ở ngoại thành
cũng do Chư Thiên mở để cho ngựa được phi
nhanh.
Bồ Tát đã ra khỏi
thành, Ác ma thiên tử Vasavattimàra biết chí nguyện xuất gia của Bồ Tát
nên lo sợ Ngài sẽ giải thoát khỏi giòng sanh tử luân hồi trong ba giới,
lại còn tế độ nhiều chúng sanh khác cũng giải
thoát khỏi quyền lực của ta. Nghĩ thế, ác Ma Thiên tử tìm cách ngăn
cản, liền hiện xuống trước đầu ngựa cản rằng:
- Kính thưa Bậc Đại nhân,
xin Ngài hãy trở lại Hoàng cung, vì chỉ còn bảy ngày nữa, Ngài sẽ
thành bậc Chuyển Luân Vương, cai trị bốn châu, có
đầy đủ bảy loại châu báu: "Xe báu, Ngựa báu,
Voi báu, Ngọc báu, Hoàng Hậu báu, Gia chủ báu, Tướng Quân báu".
Ngài sẽ hưởng vinh quang lạc thú ở cõi đời
nầy, chớ bỏ lỡ cơ hội!
Với ngọn đuốc trí tuệ, Bồ
Tát chỉ Ác ma và nói:
- Nầy Ác ma, những điều
ngươi vừa nói ta đã biết, nhưng ta chỉ muốn thành bậc Chánh
Đẳng Giác để tế độ chúng sanh, thoát khỏi sự
khổ sanh, khổ già, khổ đau, khổ chết.
Nầy Thiên ma hãy tránh ra, ngươi không thể cản
được ta!
Không thuyết phục được Bồ
Tát, kể từ đó Ác ma luôn theo dõi cố tìm chỗ sơ hở
để ngăn cản Ngài.
Đ
êm rằm tháng 6, ánh trăng
sáng tỏ lạ thường, Chư Thiên lại dùng hào quang của mình
để rọi đường cho Bồ Tát, ánh sáng lan rộng
khắp thế giới. Trên mặt đất các loài
hoa nở rộ, hương thơm tỏa ra ngào ngạt. Chư Thiên rãi hoa Manda và nhạc
trời trổi lên để cúng dường Ngài. Bồ
Tát ra hiệu cho ngựa bay qua bên kia sông Anomà. Ngài chọn một
địa điểm thích hợp rồi xuất gia tại chỗ núi
rừng. Vị cận thần Channa xin phép đuợc xuất gia theo, nhưng Bồ Tát không
thuận và bảo rằng:
- Nầy Channa, ngươi hãy trở về Hoàng Cung
đem trang phục áo mão nầy trình cho
Phụ Hoàng ta biết.
Rồi Bồ Tát dùng thanh kiếm báu cạo râu cắt tóc. Khi cắt
xong, Ngài cầm nắm tóc phát nguyện: "Nếu ta
đắc thành Chánh
Đẳng Giác thì xin cho nắm tóc nầy ở
trên hư không. Nếu ta không thành Bậc Chánh
Đẳng Giác, thì nắm tóc nầy sẽ rơi xuống
đất ".
Thật phi thường, nắm tóc bay bổng lên hư không rồi ở
nguyên một chỗ. Khi ấy, Vua trời Sakka đứng
trên hư không đỡ lấy nắm tóc và
đựng vào cái hộp bằng ngọc bạc
đem về cõi trời tôn thờ nơi Bảo tháp
Culamanì tại Tam Thập Tam Thiên.
Vị trời Phạm Thiên Ghatikàra, biết hôm nay Bồ Tát xuất
gia, nên Ngài đem những vật dụng cần thiết
của bậc Sa Môn đến cúng dường cho Bồ Tát.
Sau khi xuất gia, Ngài tuần tự tìm
đến thọ giáo với thiền sư Àlàra
Kàlàmagotta và thiền sư Udaka Ràmaputta. Ngài tu luyện theo pháp môn nầy
không bao lâu chứng đắc được những tầng thiền
Sắc Giới và Vô Sắc Giới ngang bằng với hai vị thiền sư ấy. Bồ Tát
quán xét rằng, cõi thiền Vô sắc có tuổi thọ dài
đến 84.000 đại kiếp. Tuy thế, đây cũng chưa
phải là pháp dẫn đến sự nhàm
chán ngũ uẩn, không diệt tận được tham ái,
không đoạn tuyệt được phiền não, không chứng ngộ chơn lý Tứ Thánh
Đế, không giải thoát cảnh sanh, già,
đau, chết luân hồi trong tam giới.
Sau khi quán xét, Bồ Tát từ giả hai vị thiền sư ấy,
Ngài đi đến khu rừng Uruvela gần sông
Neranjarà, tại đây có năm vị đạo sĩ
Kondañña (Kiều Trần Như), Vappa, Bhaddiya, Mahànàma, Assajji xin
theo ủng hộ Ngài.
Bồ Tát tinh tấn hành pháp khổ hạnh bằng cách tuyệt thực
và nín thở. Ngài ngăn hơi thở vô - hơi thở
ra, bị nén hơi, khi ấy hơi thở thoát ra ở hai lổ tai. Rồi Ngài tiếp
tục nín thở như vậy, hơi ấy đâm lên
đầu đau dữ dội, hơi đâm xuống bụng đau tức dữ
dội. Hơi phát nóng toàn thân kinh khủng,
đến nỗi Ngài chết ngất.
Khi ấy, có một số Chư Thiên nói:
"Sa Môn Gotama đã
chết rồi".
Số khác nói: "Sa Môn Gotama chưa chết, nhưng ngài
đang gần chết!".
Một số khác nữa nói: "Sa Môn Gotama không phải chết,
cũng không phải sắp chết, mà Sa Môn Gotama
đang hành pháp của bậc A-La-Hán".
Lúc nầy Ác ma suy nghĩ: "Nếu Bồ Tát kiên trì tinh
tấn như vầy mãi, thì chắc có ngày ông ta sẽ thành bậc Chánh
Đẳng Giác, vậy bây giờ ta nên kịp thời
ngăn chận việc chứng đắc Đạo Quả của Sa Môn
Gotama."
Liền khi ấy, Ấc ma hiện xuống cản rằng:
- Kính thưa Bậc Thượng nhân, Ngài chớ có tinh tấn nữa.
Nỗ lực tinh tấn chỉ làm khổ mình, và chưa biết sẽ chết lúc nào. Xin Ngài
hãy gìn giữ sanh mạng, và nên tạo các việc phước như bố thí, trì giới, thờ
cúng thần lửa (tổ tiên) là điều tốt.
Những lời khẩn khoản của Ác ma, không phải vì tâm
thương tưởng Ngài, mà có ý muốn ngăn chận
việc tiến hóa của Ngài.
- Nầy Ác ma, Ngươi không thể nào làm lung lạc
được chí nguyện của Ta. Dầu sắc thân nầy có
gầy ốm chỉ còn da bọc xương và máu huyết khô cạn, nhưng nếu chưa
thành bậc Chánh Đẳng Giác, thì Ta vẫn
không từ bỏ sự tinh tấn hành đạo .
Một lần nữa, Ác Ma thất bại.
Ngài tiếp tục giảm vật thực dần dần, bảy ngày dùng một
lần, rồi tiết chế, nửa tháng dùng một lần, vật thực chỉ còn bằng hạt
sen... Do ăn ít, thân của Ngài như một
bộ xương khô, tay chân gầy ốm như những đốt
cây leo khô héo. Xương sống, xương sườn gầy mòn giống như rui cột
một nhà sàn hư nát. Đôi mắt của Ngài
sâu thẳm. Bồ Tát nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng" chính xương sống bị Ngài
nắm lấy. Làn da màu vàng sáng ngời của Ngài trước kia biến mất, nay chỉ là
một màu đen sẫm. Những tướnng tốt ngày
xưa nay không còn nữa.
GIAI
ĐOẠN TRỰC GIÁC
Bồ Tát tu khổ hạnh ròng rã 6 năm
mà vẫn không chứng đắc Đạo Quả giải
thoát. Một sáng tinh sương, có đoàn hát dạo
đi ngang qua khu rừng, họ nói với nhau:
"Các anh đừng lên
dây đàn quá thẳng, cũng
đừng quá dùng. Nếu thẳng quá sẽ
đứt, còn dùng quá
đàn sẽ không lên
điệu."
Những lời nói vô tư của những người hát dạo
đã gợi cho Ngài một nguồn suy cảm: "Sự
tu khổ hạnh của Ta không tiến đến mục tiêu
cứu cánh." Rồi Ngài hồi tưởng lại khi còn nhỏ cùng Phụ Hoàng ra
đồng làm lễ hạ
điền. Ngài
đã ngồi dưới gốc cây Trâm, chú niệm về
đề mục Hơi thở vô - ra và
đã chứng
đắc Sơ Thiền Sắc giới. Như vậy, chắc chắn pháp hành thiền
định nầy làm nền tảng,
đưa đến sự chứng đắc thành bậc Chánh
Đẳng Giác!
Bồ Tát nghĩ: "Nay thân của ta quá kiệt sức, vậy ta
nên dùng vật thực trở lại, ăn mỗi ngày
một bữa, không ăn ban đêm." Sau
khi quán xét như vậy, Ngài đi đến dòng
sông tắm rửa sạch sẽ. Bồ Tát từ bỏ tuyệt thực rồi mang bát vào xóm khất
thực . Lúc ấy, năm vị Kiều Trần Như từ bỏ Ngài
vì cho rằng Bồ Tát đã hướng về
đời sống lợi dưỡng.
Khi thọ thực trở lại, thời gian không lâu, thân tướng
của Ngài trở nên tươi tốt, màu da mịn màng sỏng ngời, 32 vẻ
đẹp trở lại như xưa. Rồi Ngài
đến ngồi nơi gốc cây để tĩnh tu.
Hôm ấy vào ngày rằm tháng tư, theo lệ thường, nàng
Sujàtà đem lễ vật đến cây đại thọ để tạ lễ
thần linh do lời thệ nguyện lúc xưa. Sáng sớm nàng Sujàtà thức dậy
vắt sửa tinh khiết từ những con bò. Hôm nay thật khác thường, nàng vừa
đem nồi đựng sửa đến gần vú con bò,
dòng sửa chảy ra một mạch. Việc lạ chưa từng có bao giờ! Rồi lần lượt
những con bò còn lại cũng chảy ra một mạch như vậy. Hụm nay có nhiều việc
lạ thường, là vì có Chư Thiên cùng đến hùn
phước, để tạo thành một loại thức
ăn đặc biệt cúng dường cho Bồ Tát.
Nàng Sujàtà, gọi người tớ gái Punnà,
đến cây đa quét dọn cho sạch sẽ, để nàng
mang cơm sửa đến cúng thần. Người tớ gái Punnà
vâng lệnh ra đi. Cô đi tới gốc cây, nhìn
thấy Bồ Tát đang ngồi thiền, hào quang
rực rở tỏa khắp vùng, Cô nghĩ: "Đây là
thần linh ứng hiện", Cô mừng rở vội trở về báo cho Cô chủ biết những
sự kiện ấy.
Nàng Sujàtà nghe xong, vui mừng vô hạn, nói với cô tớ
gái Punnà rằng: "Con đã báo
điềm lành cho ta, thật là diễm phúc
cho ta. Vậy kể từ ngày nay trở đi, ta nhận
con là con gái lớn của ta."
Nói xong nàng ban cho Punnà những
đồ trang sức quý giá xứng đáng với địa vị là
đứa con gái lớn của mình.
Sau khi nàng Sujàtà vắt cơm sửa xong và
để cơm ấy trong mâm vàng, cùng vật
thơm, hoa quả rồi đi đến cây đại thọ dâng
cúng . Nàng quỳ lạy khấn nguyện rằng:
- Kính lạy Bậc cao cả, Ngài
đã ban phước cho chúng con. Xin Ngài
hãy nhận lễ vật nầy do tự tay con làm lấy với tất cả lòng thành kính và
biết ơn của con.
Bồ tát nói:
- Nầy Sujàtà, ta không phải là thần linh, Ta chỉ là
người xuất gia, tầm đạo để cứu khổ cho nhân
loại đang sống trong đau khổ trầm luân.
Niềm hỷ lạc của nàng Sujàtà tràn ngập trong tâm, nàng
kính cẩn dâng mâm vật thực cho Bồ Tát. Ngài thọ nhận và cầm chiếc mâm vàng
đi đến sông Neranjarà, nơi mà Chư Bồ
Tát quá khứ trước khi chứng đắc Chánh Đẳng
Chánh Giác cũng đều ngự đến đây để tắm, và hiện nay Bồ Tát
Siddhatta (Sĩ Đạt Ta) cũng tắm tại bến nầy, nên
bến nước nầy có tên là Supatitthita.
Sau khi tắm xong, Bồ Tát mặc y cà sa, màu y tượng trưng
cho lá cờ chiến thắng của Bậc A-La-Hán. Khi
độ xong, Ngài cầm chiếc mâm vàng đến dòng
sông phát nguyện rằng:
- Nếu hôm nay, ta được đắc
thành Bậc Chánh đẳng Giác, thì
xin cho chiếc mâm nầy trôi ngược dòng, nếu không thì chiếc mâm nầy sẽ trôi
xuôi theo dòng nước.
Nguyện như thế xong, Bồ Tát
đặt chiếc mâm xuống dòng sông. Thật
phi thường, chiếc mâm cắt dòng nước đang chảy
trôi ra giữa sông, rồi trôi ngược dòng nước một khoảng cách xa, khi
ấy chiếc mâm chìm sâu xuống đáy sông, đụng
phải 3 chiếc mâm vàng của ba vị Phật Chánh
Đẳng Giác ở quá khứ: "Đức Phật Kakusandha,
Đức Phật Konàgamana, Đức Phật
Kassapa." Chiếc mâm của Bồ Tát
đụng phải ba chiếc mâm của Chư Phật quá khứ ấy nên phát ra một âm
thanh vang dội, làm cho Long Vương Kàlanàga tỉnh giấc, nghĩ rằng: "Hôm qua
có một Vị Phật đã xuất hiện, hôm nay
lại có một Vị Phật nữa xuất hiện ." Rồi Long Vương thức dậy (*) tán dương
ca tụng Đức Phật hằng trăm câu kệ.
(*) Giấc ngủ của Long Vương quá dài, nên nghĩ rằng
hôm qua và hôm nay có một vị Phật ra đời.
Nhưng kỳ thật, mỗi Vị Phật ra đời cách nhau rất xa.
Trưa hôm ấy, Ngài nghĩ trong rừng Sàlà, những cây Sàlà
đua nhau nở hoa cùng khắp khu rừng.
Vào buổi chiều, Ngài ngự đến cội cây
Assattha, dọc hai bên đường Chư thiên
trang hoàng những hoa trời xinh đẹp. Các vị
Chư Thiên ở các tầng Trời, đua nhau
cúng dường hương hoa và thiên nhạc vang lên khắp cả ngàn thế giới
reo mừng đấng toàn năng
tối thắng.
Trên đường đến cội cây
Assattha, có người cắt cỏ đi ngược chiều . Vừa trông thấy sắc diện nghiêm
trang trong sáng của Ngài, liền phát sanh đức
tin nên dâng cúng cho Ngài 8 bó cỏ. Bồ Tát cầm cỏ ấy
đi thẳng đến cây Assattha . Sau khi chọn
hướng, Ngài trải 8 bó cỏ tại đó để làm
chỗ tọa thiền, bỗng nhiên chỗ ngồi nầy trở thành một bồ
đoàn quý báu lạ thường.
Sự kỳ diệu ấy là do kết quả phước Ba-La-Mật của Ngài
đã tích trữ từ trong vô lượng kiếp quá
khứ.
ĐỐI ĐẦU VỚI MA LỰC
Bồ Tát ngồi kiết già vững vàng chánh niệm, mặt quay về
hướng Đông. Lúc ấy, từ cõi Tha Hóa
thiên, Ác Ma hùng hổ hóa ra ngàn cánh tay đều
cầm khí giới cỡi voi, cầm đầu đoàn ma binh, rần rộ vây quanh cây
đại thọ Bồ Đề (Assattha). Chúng la hét vang
trời khủng khiếp, quyết tranh giành ngôi bồ doàn của Bồ Tát.
Khi ấy, các vị Chư Thiên, Phạm Thiên từ 10 ngàn thế
giới đến cúng dường và tán dương ca
tụng Đức Bồ Tát. Nhưng khi thấy ác ma trùng
trùng điệp điệp hùng hổ kéo xuống; tất
cả chư Thiên đều bay xa trở về chỗ ngụ của mình.
Chỉ còn lại một mình Bồ Tát ngồi điềm nhiên
tự tại.
Ác ma tức giận hóa ra nhiều phép thuật tấn công tới
tấp, như trận cuồng phong bảo tố, với sức mạnh của phép mầu có thể bứng
gốc núi đá rừng cây đại thọ và tiêu
hủy xóm làng, nhưng khi đến gần Bồ Tát liền
tan biến mất. Ma Vương càng tức giận, hét lớn:
- Các ngươi hãy bắt Sa Môn Gotama, hãy
đánh đuổi Sa Môn Gotama khỏi chỗ ngồi kia!
Tiếng hét như long trời lở
đất mà chẳng có ma quân nào dám đến
gần, bởi vì do oai lực Ba La Mật của Bồ Tát. Ác ma hét lớn:
- Nầy Sa Môn Gotama, ông hãy mau rời khỏi chỗ nầy, vì
chỗ ngồi nầy là của ta!
- Nầy Ác ma, bồ đoàn
nầy phát sanh là do phước báu 30 pháp Ba La Mật, 5
Đại Thí và 3 pháp Hành (*) mà Ta
đã tạo từ vô lượng kiếp. Nầy Ác
ma, nếu ngày nào Ta chưa chứng đắc Đạo Quả
thời Ta sẽ không rời khỏi chỗ ngồi nầy.- Nầy Sa Môn, ông nói bồ đoàn
nầy của ông, vậy ai làm nhân chứng?
(*) Năm đại thí:
. Bố thí của cải,
. Bố thí ngôi vua,
. Bố thí vợ con,
. Bố thí thân thể tứ chi và
. Bố thí sanh mạng
Ba pháp hành:
. Pháp hành đem lại lợi
ích cho chúng sanh.
. Pháp hành đem lại lợi ích cho thân
quyến.
. Pháp hành để chứng đắc Chánh Đẳng
Giác.
Đức Bồ Tát liền suy tưởng đến 30 pháp Ba-La-mật trong
vô lượng kiếp, rồi Ng
ài chỉ xuống mặt
đất và nói:
- Trong tiền kiếp, Ta đã
từng làm việc đại thí Ba La Mật. Ngay bây
giờ, tại nơi đây không có một chúng sanh nào, làm nhân chứng cho Ta
chỉ có mặt đất. Mặt đất hãy làm nhân
chứng cho Ta!
Thật phi thường, lời nói chân thật của Bồ Tát lập tức
mặt đất chuyển mình rung
động, phát ra những tiếng sấm sét long trời
lở đất, ác ma kinh hoàng bỏ chạy. Bồ Tát toàn thắng Ma Vương vừa
lúc mặt trời chen lặn. Khi ấy 10.000 thế giới Chư Thiên, Phạm Thiên, Long
Vương vui mừng reo hò vang dội khắp các tầng trời, tán dương ca tụng oai
lực pháp hành Ba-La-mật của Ngài.
SỰ CHIẾN THẮNG VẺ VANG
Sau khi toàn thắng Ma Vương,vào canh
đầu, Ngài tiến hành thiền
định bằng đề mục niệm hơi thở. Tuần tự Ngài
đắc 4 tầng thiền Hữu Sắc. Bốn tầng thiền nầy
làm nền tảng để chứng đắc Tam Minh:
Túc Mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh.
Túc Mạng Minh, đắc vào
canh đầu, với tuệ trí nhớ rõ, biết rõ
tiền kiếp, từ một kiếp cho đến vô lượng kiếp
không giới hạn.
Thiên Nhãn Minh, đắc vào
canh giữa, là trí tuệ thấy rõ, biết rõ kiếp quá khứ, vị lai của tất cả
chúng sanh.
Lậu Tận Minh, Ngài chứng
đắc vào canh cuối của
đêm rằm tháng tư AL. Ngài quán xét
"Thập Nhị nhân duyên" theo chiều thuận và chiều nghịch của nhân duyên.
Với tuệ trí, Ngài thấy rõ, biết rõ sự sanh - sự diệt của mỗi pháp, dẫn
đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng
đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả. Ngài trở thành bậc Thánh A-La-Hán cao
thượng, tại cội cây Assattha. (*)
(*) Dưới cội cây nào mỗi
Đức Bồ Tát đắc thành bậc Chánh đẳng
Giác, cây ấy gọi là Bodhirukkha: cây Bồ
Đề.
Khi Ngài chứng đắc Chánh
Đẳng Chánh Giác, có một hào quang vô lượng chiếu diệu 10.000 thế
giới. Cả đến chúng sanh ở địa ngục tối tăm
cũng nhìn thấy nhau. Chư Thiên, Phạm Thiên trong 10.000 thế giới vô
cùng hoan hỷ tán dương:
- Sàdhu! Sàdhu! Lành thay!
"Buddho uppanno!
Đức Phật đã xuất hiện trong thế gian rồi!.
Tiếng tung hô vang dội khắp toàn cả 10 ngàn thế giới
chúng sanh.
Với trí tuệ, Ngài đoạn
tuyệt 2 pháp là "Kiếp trầm luân, và Vô Minh trầm luân". Ngài
đoạn diệt hoàn toàn tất cả "Tiền
khiên tật"(*) ở quá khứ.
(*) Vàsanà: tiền khiên tật, chỉ có bậc Chánh
Đẳng Giác diệt được; còn chư
A-La-Hán Thinh Văn không thể diệt được.
Ngài đắc Đạo Quả Chánh
Đẳng Giác, có 6 điều phi thường chưa từng có trên thế gian, nay lại
xuất hiện trong khi ấy:
1- Tất cả loài hoa đua
nhau nở trái mùa để cúng dường Ngài.
2- Tất cả loại cây ăn
trái, đều cho quả ngon ngọt.
3- Tất cả những người mù từ trong bụng mẹ, nay mắt của
những người ấy đều được sáng tỏ thấy được vạn
vật.
4- Tất cả người điếc từ
trong bụng mẹ, nay nghe rõ được các
thứ tiếng.
5- Tất cả người què, bại liệt từ trong bụng mẹ, nay
đi lại dễ dàng.
6- Đặc biệt nhất, tất cả người ở địa ngục không gian,
dầu ánh sáng của 7 mặt trời mọc l
ên cùng một lúc, cũng không thể
chiếu thấu trong nơi ấy; song ánh hào quang của
Đức Phật chiếu sáng đến tận địa ngục ấy, nên
tất cả chúng sinh đó có thể thấy được nhau.Và
chúng nói: "Cũng có chúng sanh khác sống ở
đây."
PHẠM THIÊN THỈNH CẦU
Sau khi chứng đắc Chánh
Đẳng Giác, Ngài nhập quả định A La hán
suốt 49 ngày. Khi ấy trời mưa to gió lớn, Long vương Mucalinda dùng
thân của mình cuộn thành vòng tròn bao quanh 7 lớp
để che mưa và bày tỏ lòng tôn kính
cúng dường đến Đức Phật.
Chư Phật ở quá khứ, khi
đắc Toàn giác rồi, các Ngài cũng nhập
định để thọ hưởng trạng thái giải thoát Níp bàn. Sau khi xuất quả
định Níp bàn,
Đức Thế Tôn do dự chưa muốn thuyết pháp tế độ
chúng sanh, vì chúng sanh đang bị Vô
Minh và ái dục chi phối, nên họ khó có thể lãnh hội
được Giáo Pháp. Giáo Pháp nầy do Ta chứng ngộ
quá thâm sâu, vi diệu, tịch tịnh, khó thấy, khó đắc, đi ngược dòng
thế gian, còn chúng sanh thì đắm chìm
trong ái dục...
Phạm Thiên Sahampati biết
được ý của Ngài nên đã tuyên bố
trong toàn cõi Phạm Thiên, Chư Thiên biết rằng:
- Nầy Chư Hiền, toàn thế giới chúng sanh sẽ bị hủy
hoại, sẽ bị tiêu diệt, bởi vì Đức Thế Tôn
không muốn thuyết pháp. Rồi Chư Thiên và Phạm Thiên, hiện xuống
đồng cung kính thỉnh cầu Đức Phật thuyết pháp
độ sanh .
Lúc ấy, Đức Thế Tôn quán
xét thế gian bằng Phật nhãn, Ngài thấy rõ, có những chúng sanh ít
nhiễm bụi trần, có những chúng sanh nhiều ô nhiễm, có số dễ dạy, có số khó
dạy. Ví như bốn loại hoa sen:
1- Có loại vượt qua khỏi mặt nước,
để chờ tiếp xúc với ánh sáng mặt trời và
liền nở hoa ngay lúc rạng đông.
2- Có loại sen vươn lên, nằm ngay tầm mặt nước, sẽ chờ
nở hoa vào ngày mai.
3- Có loại sen còn ở dưới mặt nước, chờ thời gian 3 - 4
ngày mới nở hoa.
4- Có loại sen còn non, vừa mới tượng hình ở dưới
đáy sâu bùn nước. Những mầm sen non ấy
nếu không chồi lên khỏi mặt nước được, chúng
sẽ làm vật thực cho rùa cá .
Cũng vậy, bốn loại hoa sen nầy, so sánh với bốn hạng
người khi nghe Diệu Pháp.
- Có hạng người trí tuệ thượng
đẳng.
- Có hạng người trí tuệ bậc trung.
- Có hạng người trí tuệ bậc thường.
- Có hạng người trí thấp kém.
Hạng người thứ tư nầy dù có
được nghe nhiều, học nhiều hoặc thân cận với
bậc thiện trí, họ cũng không thể lãnh hội, cũng không chứng
đắc Đạo Quả. Tuy nhiên, sự nghe Pháp
là duyên lành để người ấy có thể đắc chứng
Đạo Quả Níp bàn trong kiếp tương lai.
Sau khi quán xét, Đức Phật
nhận lời thỉnh cầu của Đại Phạm Thiên Sahampati. Rồi Ngài hướng
đến thuyết pháp tế độ chúng sanh. Đầu tiên,
Ngài nghĩ đến tế độ vị Thiền Sư Àlàra
Kàlàma, vì người nầy là bậc trí tuệ, nếu được
nghe Chánh Pháp sẽ mau chóng chứng ngộ được chân lý và
đắc được Đạo Quả Níp Bàn. Khi ấy có vị
Thiên đến mách rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, vị
Thiền sư ấy đã từ trần cách nay 7 ngày.
Ngài quán xét thấy đúng.
Vị thiền Sư Àlàra Kàlàma đã
viên tịch do năng lực của tam thiền Vô Sắc,
cho quả tái sanh lên cõi "Vô Sở Hữu xứ ", thuộc cõi Phạm
Thiên Vô Sắc. Rồi Ngài nghĩ đến vị thiền sư
Udaka Ràmaputta là bậc thiện trí, nếu vị nầy
được nghe Chánh Pháp cũng sẽ mau chóng chứng
ngộ được chân lý và đắc Đạo Quả Níp Bàn.
Khi ấy có vị Thiên cũng đến mách rằng:
- Bạch Đức Thế Tôn, vị nầy
vừa từ trần ngày hôm qua.
Đức Phật quán xét thấy đúng, vị Thiền sư Udaka R
àmaputta,
đã tịch diệt do năng
lực của Đệ Tứ thiền Vô Sắc, nên cho quả tái sanh lên cõi "Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng xứ ", thuộc cõi Phạm Thiên Vô sắc Giới.
Ngài nói: "Thật là một sự thiệt hại lớn lao!"
Rồi Đức Phật hướng đến 5
vị Kiều Trần Như. Khi ấy, Ngài ngự đến
vườn Lộc Uyển Isipatana, gần thành Benàres (Ba La Nại). Tại
đây, Ngài chuyển Pháp Luân, dạy giáo
pháp cho 5 vị Kiều Trần Như. Năm vị nầy trước
kia theo hộ độ mọi sự cần thiết cho Ngài, nhưng nay thì họ không
còn đức tin nữa, từ khi Ngài từ bỏ tu
khổ hạnh. Họ thấy Đức Phật từ xa đi tới, họ
thỏa thuận với nhau rằng: "Chúng ta
đừng có đứng dậy đón rước Sa Môn Gotama, vì ông
đã theo con
đường lợi dưỡng không giống chúng ta."
Nhưng khi Đức Phật đến gần, do oai lực Đại Bi
tâm của Ngài, các vị không chần chờ, tự
động đảnh lễ Ngài, rồi mỗi người làm
một việc, vị thỡ đứng dậy rước bát, vị khác
lấy nước rửa chân ... nhưng họchưa phá tan được hoài nghi,
Đức Phật biết thế, Ngài giảng rằng:
- Nầy chư Tỳ-khưu, có hai pháp cực
đoan, mà người xuất gia không nên hành
theo. Hai pháp ấy là:
1- Lợi dưỡng, hưởng 5 dục do tâm tham ái, thường
kiến. Pháp nầy thấp kém không đem lại lợi
ích an lạc.
2- Khổ hạnh, tu ép xác, do tâm sân và có
đoạn kiến, thuộc pháp của ngoại đạo, không
phải pháp của Bậc Thánh. Pháp tu nầy không đem lại lợi ích Níp Bàn.
Nầy chư Tỳ-khưu, không thiên về hai pháp, Như Lai hành
theo Trung Đạo, mà Như Lai
chứng đắc Thánh Quả Níp Bàn. Pháp hành
Trung Đạo
đó chính là Thánh
Đạo hợp
đủ 8 chi phần cao thượng:
1- Chánh Kiến
2- Chánh Tư Duy
3- Chánh Ngữ
4- Chánh Nghiệp
5- Chánh Mạng
6- Chánh Tinh Tấn
7- Chánh Niệm
8- Chánh Định
Sau khi nghe Pháp, năm vị
Tỳ-khưu tuệ nhãn phát sanh, chứng ngộ Tứ Thánh
Đế, chứng đắc Đạo Quả, tâm không còn
bụi dơ bởi phiền não, Tà Kiến, Hoài Nghi nữa. Các vị biết rõ, thấy rõ,
chắc chắn rằng: Tất cả các pháp nào trong tam giới có trạng thái sanh,
thì tất cả pháp ấy đều có trạng thái diệt".
Đức Thế Tôn thuyết giảng kinh Chuyển Pháp Luân vừa dứt,
khi ấy có 180 triệu Chư Thi
ên, Phạm Thiên cũng chứng ngộ
Đạo Quả. Chư Thiên trên
địa cầu đồng tung hô ca ngợi rằng: "Đức
Thế Tôn Chyển Pháp Luân vô thượng tại Isipatana, chưa từng có Sa Môn, Bà
La Môn, Chư Thiên, Phạm Thiên hoặc một ai trên
đời nầy có thể chuyển Pháp Luân như vậy ."
Chỉ trong tức khắc, tiếng tung hô ấy lên
đến các tầng trời Phạm Thiên cao nhất
là "Sắc Cứu Cánh Thiên" (Akanitthà), mười ngàn thế giới nầy
đều rung chuyển, ánh sáng của Đức Chánh Đẳng
Giác tỏa rộng vô biên cùng khắp thế giới. Kể từ
đó, Tam Bảo: Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng
Bảo được trọn đủ, lần đầu tiên đã
xuất hiện trên thế gian nầy.
TRÊN
ĐƯỜNG HOẰNG PHÁP
Rồi tuần tự Đức Thế Tôn đi
du hóa khắp mọi nơi, chúng sanh nào đã
từng nghe và từng học Abhidhamma (Siêu Lý), thì
Đức Phật giảng thẳng vào pháp Chân
Đế. Còn chúng sanh nào chưa từng
học Abhidhamma, thì Ngài giảng dạy pháp Tục
Đế.
Nhưng không phải trên
đường hoằng dương Chánh Pháp của Đức Phật đều là suông sẽ cả. Lắm
khi Ngài cũng gặp nhiều sự việc công kích đủ
mọi phía. Có người thì dùng cách lý luận
để chống đối, có người thì dùng bạo
lực để chống đối. Nhưng mỗi khi gặp những
điều khó khăn chướng ngại ấy, Đức Phật đều lấy đó làm
đề tài để
giảng Chánh Pháp, như Bố Thí, Nhẫn nại...
Ngài đi đến kinh thành
Magadha (Ma Kiệt Đà), dưới triều
đại của Vua Bimbisara (Bình Sa Vương).
Trong dịp nầy, Vua Bình Sa Vương dâng lên Đức
Phật khu rừng tre Veluvana (Trúc Lâm). Nơi đây vắng vẻ, thật là chỗ
thích hợp trong sự tĩnh tu, vì không quá xa, cũng không quá gần
đô thị. Đức Phật nhập hạ tại đây liên
tiếp ba mùa hạ.
Vào hạ thứ bảy, Ngài hiện song thông
để hàng phục ngoại giáo. Theo truyền
thống của Chư Phật quá khứ, sau khi thực hiện song thông
để hàng phục ngoại giáo, Chư Phật quá
khứ đến cõi Trời
Đao Lợi (Tavatimsa) để giảng diệu pháp. Sau
khi quán xét, Ngài biến mất ở nhân loại và hiện ra ở cõi trời
Đao Lợi, thuyết tạng Diệu Pháp Abhidhamma để
đền đáp xứng với công ơn của mẫu hậu. Vì Pháp nầy, rất thâm sâu
giúp cho chúng sanh có thể tự giải thoát. Pháp nầy thù thắng hơn Kinh Tạng
và Luật Tạng. Khi Đức Thế Tôn thuyết tạng
Diệu Pháp, hào quang tỏa ra khắp cả châu thân. Ngài thuyết tạng này
liên tục 3 tháng (tính theo nhân loại).
Chư Thiên đắc Đạo Quả
nhiều hơn tất cả các pháp khác, đến 800 triệu Chư Thiên
đắc Đạo Quả, và vị Thiên tử là bà thân
sinh của Ngài từ cõi trời Đâu Suất đến nghe
pháp, đắc Sơ Quả Tu Đà Hườn.
Tạng Diệu Pháp còn lưu truyền
đến ngày nay, với
đầy đủ chi tiết, do Ngài Sàriputta (Xá
Lợi Phất) truyền giảng rộng cho hàng đệ tử.
Đức Nhẫn Nại
Một thời Thế Tôn ngụ tại Kosambi vào hạ thứ chín, trong
hạ nầy nàng Màgandiyà tự tạo cho mình một mối hận thù với
Đức Phật và tìm cơ hội
để trả thù. Về sau, nàng
được làm thứ hậu của Vua Udena. Dựa
trên quyền thế, bà đút lót và xúi giục
người mắng chưởi Đức Phật bằng nhiều lời thô
tục:
- Ông là tên trộm, ông là bò, là chúng sanh
địa ngục ...
Đại Đức Ananda không thể chịu đựng những lời nguyền rủa
ấy, liền đến hầu Phật v
à thưa:
- Bạch Thế Tôn, người ta chưởi rủa, nhục mạ chúng ta
thậm tệ, xin Ngài dời đi nơi khác!
Đức Phật nói:
- Nầy Ananda, bây giờ chúng ta nên
đi đâu?
- Bạch Thế Tôn, chúng ta
đến một thị trấn khác.
- Nếu ở nơi ấy người ta cũng chưởi rủa, nhục mạ chúng
ta như vậy, thì chúng ta sẽ đi đâu?
- Bạch Thế Tôn chúng ta hãy
đi đến một nơi khác nữa.
- Nầy Ananda, không thể vậy; nơi nào gặp chuyện khó khăn
chính nơi ấy chúng ta phải dàn xếp yên ổn và chỉ khi nào dàn xếp
xong ta sẽ đi!
- Nhưng nầy Ananda, ai nhục mạ chưởi rủa chúng ta?
- Bạch Thế Tôn, ai cũng chưởi rủa chúng ta hết, cả
những người nô tỳ cùng đinh họ cũng chưởi.
Nhân cơ hội nầy Đức Phật
dạy:
"Ta như voi giữa trận
Hứng chịu cung tên rơi
Chịu đựng mọi phỉ báng
Đời nhiều kẻ phá giới."
Đức Phật Ng
ài lấy hình ảnh con voi
để mô tả người có đức hạnh:
- Nầy Ananda, những voi, ngựa
được dẫn đến cho Vua, giữa số đông voi, ngựa
ấy, Vua chỉ chọn con nào thuần thục nhất
để cưỡi. Cũng vậy, giữa đám đông nhân loại,
người cao thượng nhất là người có giới
đức thuần thục, nhẫn chịu những lời nguyền rủa của kẻ khác.
Nầy Ananda, hãy nhẫn chịu. Không có một ai gây khó cho Như Lai quá bảy
ngày.
Người trong thế gian, mỗi khi có chuyện buồn rầu khổ
đau, muốn dập tắt không biết phải làm
sao, họ đi tìm giải khuây nơi những
chỗ cám dỗ của dục vọng hạ liệt, làm hại phẩm giá con người như: cờ bạc,
rượu chè ... Chỉ có đấng Siêu Nhân với
tuệ trí Ngài dạy như sau:
Làm thế nào
nhiếp phục hận thù?
Nầy các Tỳ-khưu, có 4 pháp nhiếp phục hận thù:
Nhẫn nại.
Tâm từ.
Khéo tác ý, tức hướng đến thiện pháp.
Phản tỉnh, tức là xét lại mình.
Nầy các Tỳ-khưu, có 5 loại ngôn ngữ các ông có thể dùng
khi nói với người khác:
Nói đúng thời.
Nói chân thật
Nói nhu nhuyến, không thô bạo.
Nói lời lợi ích.
Nói với tâm từ.
Nầy các Tỳ-khưu, các ông cần phải học tập như sau:
Chúng ta sẽ giữ tâm không biến đổi và
ô nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra lời ác ngữ, dù người ấy là kẻ thù . Ta
hãy sống với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô
lượng vô biên, không hận, không sân.
Khi chúng ta dùng 5 loại ngôn ngữ nầy nói với người
khác, thời tâm của chúng ta sẽ không bị ô nhiễm. (Majjhima Nikàya)
Ba Hạng Người
Nầy các Tỳ-khưu, có ba hạng người bị rơi vào
đọa xứ, địa ngục:
1- Ai không phạm hạnh, tự xưng là có phạm hạnh (tức
là không có đắc thiền, đắc Đạo.).
2- Đối với người sống
phạm hạnh thanh tịnh, hành phạm hạnh thật thanh tịnh, lại công
kích vị ấy một cách không căn cứ.
3- Ai chủ trương rằng: "Không có lỗi lầm trong các
dục", lại thọ hưởng say đắm trong các
dục.
Nầy các Tỳ-khưu, những hạng người như vậy sẽ bị rơi vào
đọa xứ, địa ngục. Trừ phi họ từ bỏ tư tưởng
ấy.
Ba Loại Ngựa
Nầy các Tỳ-khưu, con ngựa thuần chủng, là loại ngựa
phải có đầy đủ ba đặc tánh:
- Có sắc đẹp.
- Có sức mạnh.
- Có tốc lực.
Nầy các Tỳ-khưu, một con ngựa như vậy
được xem là biểu tượng của Vua.
Cũng vậy, Vị Tỳ-khưu có
đầy đủ ba pháp, thời vị Tỳ-khưu ấy đáng được tôn kính, đáng được cúng
dường. Ba pháp ấy như sau:
1- Sắc đẹp của vị
Tỳ-khưu: là vị Tỳ-khưu gìn giữ giới luật, có uy nghi
chánh hạnh, chấp nhận và học tập trong các học pháp.
2- Sức mạnh của vị Tỳ-khưu: là cố gắng
đoạn tận các pháp Bất Thiện, không từ bỏ
trách nhiệm đối với các thiện pháp .
3- Tốc lực của vị Tỳ-khưu: là như thật rõ biết
bốn Diệu Đế: "Khổ, Tập, Diệt,
Đạo".
Vị Tỳ-khưu nào có đầy đủ
ba pháp nầy, là biểu tượng của Chư Thiên và nhân loại. Và Vị
Tỳ-khưu ấy đáng được cung kính, đáng được
cúng dường, là ruộng phước vô lượng của chúng sanh.
- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào người bị vô minh dẫn
đầu, thì người ấy sẽ làm các pháp bất
thiện, do không hổ thẹn và không ghê sợ tội lỗi. Lại nữa, với kẻ nào bị
vô minh chi phối (vô trí), thì tà kiến sẽ sanh.
Đối với kẻ có
tà kiến, thì tà tư duy và
tà ngữ sanh. Đối với người có tà
ngữ, thì tà nghiệp sanh. Đối với người có
tà nghiệp, thì tà mạng sanh (sẽ nuôi mạng sống bất chánh.)
Đối với người có tà mạng, thì
tà tinh tấn sanh. Đối với người có
tà tinh tấn, thì tà niệm sanh. Nếu người có tà niệm, thì tà
định sanh.
Nầy các tỷ kheo, ví như sợi râu của lúa mì
đặt sai hướng, khi có tay và chân
đè vào, không thể
đâm thủng tay hay chân, hoặc có thể làm
đổ máu được, vì sợi râu
đặt sai hướng. Cũng thế, nếu tri kiến của vị
tỷ kheo bị đặt hướng sai lạc, không thể đâm thủng vô minh, làm minh
sanh khởi, không thể đạt được Níp Bàn.
Vì sao? Vì tri kiến bị đặt sai hướng.
Có một thời, Thế Tôn gọi chúng Tỳ-khưu và thuyết như
sau:
- Nầy các Tỳ-khưu, nếu những ai không
đoạn tận 6 pháp thì người ấy không thể
đạt được thiện pháp, không thể an trú Sơ
Thiền, thế nào là 6:
1- Tham dục.
2- Sân hận.
3- Hôn trầm, Thụy Miên.
4- Trạo Hối.
5- Hoài Nghi.
6- Không như thật khéo thấy với trí tuệ đối
với các nguy hiểm trong các dục, sự lợi ích, sự xuất ly...
Nầy các Tỳ-khưu, khi chưa bị lợi dưỡng danh vọng xâm
chiếm, người ấy rất trong sạch giới, dù cho có ai
đổi lấy một bình bát vàng
đựng đầy phấn bạch ngân, bảo họ nói láo ...
họ cũng không dám. Nhưng một thời gian sau, bị lợi dưỡng danh vọng chinh
phục, xâm chiếm, tâm họ bị chi phối, họ cố ý phạm giới. Rồi người ấy đi
đến người khác khoe khoang: Ta ăn uống đầy đủ, y áo sàng tọa
đầy đủ. Còn các người khác công
đức ít, không được các vật như ta.
Họ khinh miệt những người chánh hạnh khác. Như vậy họ
sẽ bị những bất hạnh đau khổ lâu dài.
Giáo Giới Ràhula
Vào buổi chiều, từ thiền
định độc cư, Thế Tôn đứng dậy, đi đến Ambalatthika, chỗ Tỳ-khưu Rahula ở,
Thế Tôn dạy như sau:
- Nầy Rahula, đối với
những ai biết mà nói láo, không có hỗ thẹn hay ghê sợ tội lỗi (Tàm
- Úy). Thời ta nói rằng những người ấy không có việc ác nào mà không làm.
Do vậy, ta thuyết "không nên nói láo", dù nói
để mà chơi, như vậy ngươi hãy học tập.
- Nầy Rahula, mục đích của
cái gương là gì?
- Bạch Thế Tôn, để phản
tỉnh.
- Cũng vậy, nầy Rahula, sau khi phản tỉnh nhiều lần hãy
hành thân nghiệp, sau khi phản tỉnh nhiều lần hãy hành khẩu ngiệp, và sau
khi phản tỉnh nhiều lần hãy hành ý nghiệp.
Nếu trong khi phản tỉnh, ngươi biết: "Thân nghiệp,
Khẩu nghiệp, ý nghiệp nầy có thể đưa đến
tự hại, hại người, hại cả hai, thời thân, khẩu, ý nghiệp ấy
là bất thiện, đưa đến đau khổ, có quả báo."
Nầy Rahula, một thân nghiệp như vậy, khẩu nghiệp như vậy, ý nghiệp như
vậy, nhất định không nên làm.
Nếu trong khi phản tỉnh, ngươi biết: "Thân nghiệp,
Khẩu nghiệp, ý nghiệp nầy có thể đưa đến
tự lợi, lợi người, lợi cả hai, thời Thân, khẩu, ý nghiệp
ấy là thiện, đưa đến hạnh phúc có quả phước
an lạc." Nầy Rahula, một thân nghiệp như vậy, khẩu nghiệp như vậy, ý
nghiệp như vậy, nhất định cần phải an trú trong niềm hoan hỷ, tự mình
tiếp tục tu học ngày đêm trong các
thiện pháp.
Như vậy, cần phải học tập: "Từ bỏ không nói láo, dù
nói để vui đùa ".
Ngày Trai Giới
Đức Thế Tôn gọi các Tỳ-khưu v
à nói:
- Nầy các Tỳ-khưu, ngày trai giới
được thực hành 9 chi phần, sẽ có quả
lớn, có lợi ích lớn.
1- Ở đây, vị Thánh đệ tử
suy nghĩ như sau: "Cho đến trọn đời, các bậc A La Hán đoạn tận sát sanh;
hôm nay, đêm nầy và ngày nầy, ta cũng
đoạn trừ sát sanh. Đó là chi phần
thứ nhất.
2- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán đoạn trừ trộm cắp; hôm nay, đêm nầy và ngày nầy, ta
cũng đọan trừ trộm cắp. Đây là chi
phần thứ hai.
3- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán xa lìa phi phạm hạnh, từ bỏ dâm dục hèn hạ; hôm nay,
đêm nầy và ngày nầy, ta cũng hành
phạm hạnh, từ bỏ những dâm dục hèn hạ. Đây
là chi phần thứ ba.
4- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán đoạn tận nói láo, tránh xa lời nói không chơn thật; hôm
nay, đêm nầy và ngày nầy, ta cũng
đoạn tận nói láo. Đây là chi phần thứ tư.
5- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán đoạn tận dùng rượu men rượu nấu; hôm nay,
đêm nầy và ngày nầy, ta cũng
đoạn tận đắm say rượu men rượu nấu. Đây là
chi phần thứ năm.
6- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán mỗi ngày chỉ dùng một bữa, không
ăn ban đêm, không
ăn sái giờ; hôm nay, đêm nầy và ngày
nầy, ta cũng không ăn sái giờ. Đây là
chi phần thứ sáu.
7- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán không xem múa hát, nhạc, diễn kịch, trang sức bằng vòng
hoa (vàng, vòng cổ) thơm và thời trang; hôm nay,
đêm nầy và ngày nầy, ta cũng từ bỏ
không dùng các loại trang sức ấy. Đây là
chi phần thứ bảy.
8- Cho đến trọn đời, các
bậc A La Hán đoạn tận giường cao, giường lớn, chỉ mầm trên giường
nhỏ; hôm nay, đêm nầy và ngày nầy,ta
cũng đoạn tận dùng giường cao giường
rộng. Đây là chi phần thứ tám.
9- Ở đây, vị Thánh đệ tử
tu tập tâm từ, biến mãn một phương và an trú, phương thứ 2, 3, 4.
Như vậy, vị ấy với tâm từ, quảng đại vô biên,
không hận không sân. Người thực hành như vậy sẽ
được quả phước lớn, lợi ích lớn. Đây là
chi phần thứ chín, chín chi phần nầy ta noi gương theo các bậc A La Hán
thực hành ngày trai giới.
Như vậy, người ấy sẽ được
phước báu lớn, lợi ích lớn.
Nầy Ananda, thuở xưa có vị vua trị vì nước Mithilà, là
vị Vua sống như pháp (đúng pháp). Tức là
vị pháp vương, sống kiên trì trên Chánh pháp. Vị
Đại Vương nầy thực hành Chánh pháp
giữa các Bà La Môn, gia chủ, giữa các thị dân và thôn dân, hành trì lễ
Uposatha (trai giới) vào các ngày mùng 14, ngày 15 và mùng 8.
Đức Vua sau nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ng
àn
năm, vua bảo người thợ cạo tóc:
- Nầy khanh, khi nào ngươi thấy trên
đầu ta có tóc bạc, ngươi hãy báo cho
ta biết.
Rồi trãi qua nhiều trăm
năm, người thợ cạo phát hiện được cọng tóc bạc, liền thưa:
- Tâu Đại Vương, thiên
sứ đã hiện ra cho
Đại Vương, tóc bạc đã mọc trên
đầu của Đại Vương.
- Nầy khanh, hãy khéo nhổ tóc bạc ấy với cây nhíp, và
đặt chúng trên bàn tay của ta.
Sau khi nhổ xong, Vua cho người thợ cạo một số tiền và
cho gọi Hoàng tử, vị con đầu trao quốc độ rồi
đi xuất gia. Vua dặn dò Hoàng Tử: "Khi nào con phát hiện tóc bạc,
con hãy trao vương quốc lại cho con trai đầu,
rồi đi xuất gia để tìm thiên lạc. Nầy con thân yêu, hãy tiếp nối
truyền thống nầy, chớ làm đứt đoạn truyền
thống nầy, người nào làm đứt đoạn,
người ấy là người tối hậu (lạc hậu). Vậy, ta nói với con "Truyền
thống tốt đẹp nầy do ta thiết lập, con phải
tiếp tục duy trì. Con chớ thành người tối hậu sau ta."
Nầy Ananda, khi ấy Chư Thiên ở Tam Thập Tam Thiên ngồi
họp tại giảng đường Sudhamma, cuộc đối thoại
được khởi lên:
- Thật hạnh phúc thay cho dân chúng, thật tốt
đẹp thay cho nhân loại..." (Vua
cai trị nước đúng pháp, được Chư Thiên
tán thán).
- Nầy Ananda, vị Vua Makhàdeva, người
đã thiết lập truyền thống tốt
đẹp ấy là Ta. Ta là vị Vua Makhàdeva.
Nhưng truyền thống tốt đẹp ấy, không đưa đến
ly tham, đoạn diệt, thượng trí, giác ngộ, Níp Bàn.
Nầy Ananda, và ngay đây,
truyền thống nầy là tốt đẹp được ta
thiết lập, và truyền thống nầy đưa đến
ly tham, đoạn diệt, tịch tịnh, thượng trí, giác ngộ, Níp Bàn, chín
là Tám Chánh Đạo: "Chánh kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm, Chánh định."
Đây là truyền thống tốt
đẹp do Như Lai thiết lập, hãy tiếp tục
duy trì. Các ông chớ có thành người tối hậu sau ta.
Những huấn từ nầy, Đức Thế
Tôn đã chơn chánh thuyết giảng trong thời gian trên
đường hoằng dương Chánh Pháp.
LỜI DI GIÁO TRƯỚC KHI
ĐỨC PHẬT NÍP BÀN
- Nầy Ananda, những ai sau khi ta tịch diệt, tự mình là
ngọn đèn cho chính mình, tự mình là y
tựa cho chính mình, không y tựa một thứ gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn
đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương
tựa, không nương tự vào một gì khác. Những người ấy là những vị Tối thượng
trong hàng Tỳ-khưu của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi...
- Nầy Ananda, những ai đã
tu tập bốn thần túc, thật nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật
bền vững, điêu luyện, thiện xảo, nếu
muốn, người ấy có thể sống đến một kiếp hoặc
phần kiếp còn lại.
- Nầy Ananda, nay ta đã
tu tập bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện ... nếu muốn Như Lai
có thể sống đến một kiếp hoặc phần kiếp còn
lại!
Tuy Thế Tôn đã gợi
ý rõ ràng, và sự hiện tướng rõ ràng đến ba
lần, nhưng Đại Đức Ananda không thể nhận hiểu, nên không thỉnh cầu
Thế Tôn ở lại đến trọn kiếp, vì khi ấy
tâm Đại Đức bị ác ma che án. Rồi Thế Tôn bảo
Đại Đức Ananda lui ra. Liền khi ấy Ác ma đến chỗ Thế Tôn và thỉnh
cầu như sau: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy diệt
độ, bạch Thiện Thệ, Thiện Thệ hãy diệt
độ! Vì đây là lời Thế Tôn
đã nói: "Ác ma, Ta sẽ không diệt
độ, nếu khi nào những vị Tỳ-khưu,
Tỳ-khưu ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ của ta, chưa thành những vị
đệ tử chơn chánh, sáng suốt có kỷ luật, đa
văn duy trì chánh pháp, sống theo chánh pháp, và sau khi học hỏi
giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác
định, khai minh, phân tích và giải
thích rõ ràng ràng chánh pháp, khi có tà đạo
khởi lên và chưa hàng phục một cách khéo léo." Bạch
Đức Thế Tôn, nhưng nay các đệ tử của Thế Tôn
đã trở thành những bậc đa văn, diễn
giảng trình bày Chánh pháp một cách phân minh, rõ ràng ...
Như vậy, bạch Thế Tôn, nay
đã đến thời Thế Tôn nên diệt
độ.
Đức Phật nói:
- Nầy Ác ma, hãy yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt
độ, sau ba tháng kể từ ngày hôm nay.
Sau khi Thế Tôn hứa với Ác ma, tại
đền Càpàla, Thế Tôn chánh niệm tỉnh
giác từ bỏ thọ hành để không duy trì
mạng sống lâu hơn nữa. Khi ấy đại địa chấn
động, sấm trời vang dậy, Thế Tôn hiểu được ý nghĩ sự chấn động của quả
đất, Ngài liền nói lên bài kệ:
"Mạng sống có hạn hay vô hạn,
Tu sĩ từ bỏ không kéo dài.
Nội tâm chuyên nhất trú thiền định
Như thoát áo giáp đang mang mặc."
Lúc ấy, đại đức Ananda suy
nghĩ: "Thật là kỳ diệu, thật là hy hửu,
đại địa rung động, chấn động mạnh, sấm trời
vang dậy khiến lông tóc dựng ngược, chẳng biết do nguyên nhân gì?"
Rồi đại đức Ananda trở vào hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn, do nhân duyên gì
đại địa rung động, chấn động mạnh, sấm trời
vang dậy?
- Nầy Ananda, có tám nhân duyên:
1/ Địa cầu nầy được thành
lập trên nước, nước ở trên gió, gió ở tại hư không,
đến thời đại phong khởi lên, gió lớn
làm nổi sóng nước. Khi nước nổi sóng thì quả
đất rung động, chấn động mạnh.
2/ Có vị Sa Môn hay Bà La Môn, có thần thông, có
đại uy lực, hoặc Chư Thiên có
đại uy lực. Những vị nầy quán địa tánh có
hạn, quán thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất nầy rúng động.
3/ Khi Bồ Tát ở cõi trời Tusita (Đâu
Xuất), từ bỏ thân Chư Thiên, chánh niệm tỉnh giác nhập vào mẫu
thai, thì khi ấy quả đất chấn động.
4/ Khi Bồ Tát chánh niệm ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả
đất chấn động.
5/ Khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh
Đẳng Giác, khi ấy quả đất chấn động
6/ Khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy quả
đất chấn động.
7/ Khi Như Lai chánh niệm giác tỉnh từ bỏ mạng sống,
không duy trì nữa, khi ấy quả đất chấn động.
8/ Khi Như Lai tịch diệt Níp Bàn, khi ấy quả
đất rung động, chấn động mạnh.
Rồi Thế Tôn nhắc lại rằng:
- Nầy Ananda, hôm nay tại
đền Càpàla, Như Lai chánh niệm tỉnh giác từ bỏ thọ hành,
để không duy trì mạng sống lâu hơn
nữa, nên đại địa rung động, chấn động mạnh.
Nghe nói vậy, Đại Đức
Ananda thưa:
- Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn hãy ở lại, bạch Thiện Thệ
hãy ở lại cho trọn kiếp, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì hạnh phúc cho loài Trời và
người, xin thỉnh Thế Tôn hãy ở lại.
Thế Tôn nói:
- Thôi, đừng thỉnh cầu Như
lai nữa. Nay ngươi thỉnh cầu Như lai không còn kịp nữa, vì Ta
đã nhận lời của ác ma, sẽ Níp bàn sau
ba tháng kể từ ngày hôm nay.
- Nầy Ananda, hãy đi mời
tất cả Tỳ-khưu ở Vesalì tụ hợp lại giảng
đường nầy.
Khi các Tỳ-khưu tập hợp lại. Thế Tôn nói:
- Nầy các Tỳ-khưu, những pháp do ta chứng ngộ và giảng
dạy cho các ông, các ông phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền
rộng để phạm hạnh được trường tồn. Vì
hạnh phúc cho chúng sanh, vì lợi ích cho đời.
Thế nào là pháp do ta chứng ngộ: "Tứ Niệm Xứ,Tứ
Chánh Cần, Tứ Như ý Túc, Ngũ căn, Ngũ Lực,
Thất Giác Chi, bát Chánh Đạo."
Nầy các Tỳ-khưu, đây là
lời ta nhắn nhủ cho các ông: "Các hành là vô thường, hãy tinh tấn lên
để tự giải thoát, không còn bao lâu
nữa Như lai sẽ diệt độ."
"Ta đã già, dư
mạng chẳng còn bao
Từ biệt các ngươi ta ra đi một mình.
Tự mình làm sở y cho chính mình.
Hãy tinh tấn chánh niệm giữ giới luật.
Nhiếp thúc ý chí bảo hộ tự tâm.
Ai tinh tấn trong pháp luật nầy.
Sẽ diệt sanh tử chấm dứt khổ đau."
- Nầy các Tỳ-khưu, chính vì không giác ngộ, không chứng
đạt Tứ Thánh Đế, mà ta và các ông
đã lâu
đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Bốn pháp nầy được giác ngộ, chứng
đạt thì tham ái một đời sống tương lai
được trừ diệt.
Trong thời gian ở Bhandagàma, Ambalatthika, Nalanda
v.v... Thế Tôn nhấn mạnh và nhắc đi nhắc lại
nhiều lần ba pháp:Vô lậu học Giới Định Tuệ mà mọi
đệ tử và bậc xuất gia cần phải hành
trì:
"Đây là Giới,
đây là
Định, đây là Tuệ. Định cùng tu
với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tuệ cùng tu với Định, sẽ đưa đến quả
vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với Tuệ sẽ
đưa đến giải thoát hoàn toàn các lậu
hoặc, tức là Dục lậu, Hữu lậu (tri kiến lậu), Vô minh lậu."
Vào buổi sáng Thế Tôn đi
khất thực ở thành Vesàli, trên con
đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái nhìn của con
voi chúa và nói:
- Nầy Ananda, lần nầy là lần cuối cùng Như Lai nhìn
Vesàli...
Bốn
Đại Giáo Pháp
Rồi tuần tự Thế Tôn đi đến
Hatthigàma, Bhoganagara, tại đây Thế
Tôn nói:
Nầy các Tỳ-khưu, Ta sẽ giảng "Bốn
Đại Giáo Pháp", hãy nghe và suy
niệm kỹ, Ta sẽ giảng.
"Xin vâng, bạch Thế Tôn", các vị Tỳ-khưu ấy vâng
đáp Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
1- Nầy Chư Tỳ-khưu, sau khi Như Lai diệt
độ, có thể có vị Tỳ-khưu nói như sau: "Tôi
tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ,
đây là giáo pháp,
đây là Luật,
đây là lời dạy của bậc
Đạo Sư." Nầy Chư Tỳ-khưu, các ông
không nên tán thán, không nên hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải
học hỏi kỷ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem
đối chiếu với Luật. Sau khi đem so sánh và
đối chiếu như vậy, nếu thấy chúng không phù
hợp với Kinh, không tương ứng với Luật, thì các ông có thể kết luận:
"Chắc chắn những lời nầy không phải lời của
Đức Thế Tôn, và vị Tỳ-khưu ấy đã
thọ giáo sai lầm." Thời các ông hãy từ bỏ chúng. Nhưng khi
đem so sánh thấy chúng tương ứng với Kinh với
Luật, thời các ông có thể kết luận: "Chắc chắn những lời nầy là
lời dạy của Thế Tôn và vị Tỳ-khưu ấy đã
thọ giáo chơn chánh." Nầy các Tỳ-khưu, như vậy là
đại giáo pháp thứ nhất, các ông hãy
thọ trì.
2- Nầy các Tỳ-khưu, nếu có vị Tỳ-khưu nói: "Tại trú
xứ kia, có Tăng chúng ở với các vị Thượng
Tọa, với các Thủ chúng. Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh
thọ, đây là Pháp,
đây là Luật, như vậy là lời dạy của
Bậc Đạo Sư." Nầy Chư Tỳ-khưu, các
ông không nên tán thán, không nên hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần
phải học hỏi kỷ lưỡng và đem so sánh với
Kinh, đem đối chiếu với Luật ... Đây là
đại giáo pháp thứ hai, các ông hãy thọ
trì.
3- Lại nữa, sẽ có những vị Tỳ-khưu nói như sau: "Tại
trú xứ kia, có nhiều vị Tỳ-khưu Thượng Tọa, những vị nầy là bậc
đa văn nghe nhiều, và
được trao truyền Kinh điển, là bậc trì
Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Đối với các bậc
Trưởng lão ấy tôi được lãnh
thọ, đây là Pháp,
đây là Luật,
đây là lời dạy của bậc
Đạo Sư." Nầy Chư Tỳ-khưu, các ông
không nên tán thán, không nên hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải
học hỏi kỷ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem
đối chiếu với Luật ... Đây là đại giáo
pháp thứ ba, các ông hãy thọ trì.
4- Nầy các Tỳ-khưu, trong tương lai sẽ có vị Tỳ-khưu
nói như sau: "Tại trỳ xứ kia, có một vị Thượng Tọa, vị nầy là bậc
đa văn nghe nhiều, được trao truyền Kinh
điển, là bậc trì Pháp, trì Luật, trì toát yếu. Tôi tự thân nghe từ
vị Thượng Tọa ấy, tự thân lãnh thọ; đây là
giáo pháp, đây là Luật,
đây là lời dạy của bậc
Đạo Sư." Nầy Chư Tỳ-khưu, các ông
không nên tán thán, cũng không nên phỉ báng lời nói của vị Tỳ-khưu ấy. Mỗi
mỗi chữ, mỗi mỗi câu cần phải được học hỏi kỷ
lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối
chiếu với Luật. Khi đem so sánh và đối
chiếu như vậy, nếu thấy chúng không phù hợp với Kinh, không tương
ứng với Luật, thì các ông có thể kết luận rằng: "Chắc chắn những lời
nầy không phải lời dạy của Đức Thế Tôn, Bậc
A-La-Hán Chánh Đẳng Giác. Và vị Tỳ-khưu ấy
đã thọ giáo không chơn chánh".
Thời các ông hãy từ bỏ chúng. Nhưng khi đem
so sánh thấy chúng tương ứng với Kinh với Luật, thời các ông có thể kết
luận: "Chắc chắn những lời nầy là lời dạy của Thế Tôn và vị
Tỳ-khưu ấy đã thọ giáo chơn chánh."
Nầy các Tỳ-khưu, như vậy là đại giáo pháp thứ
tư, các ông hãy thọ trì.
Nầy các Tỳ-khưu, bốn Đại
giáo pháp nầy, các ngươi hãy thọ trì.
N
ăm
Điều Sợ Hãi Trong Tương Lai.
Có năm điều sợ hãi
trong tương lai. Nầy các Tỳ-khưu, tuy nay chưa sanh khởi, nhưng nó sẽ sanh
khởi trong tương lai. Các ông cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi rõ
biết, cần phải tinh tấn để đoạn trừ chúng.
1- Nầy các Tỳ-khưu, trong tương lai sẽ có những Tỳ-khưu
trở thành những người thân không tu, giới không tu, tâm không tu, tuệ
không tu. Do không tu tập, những người nầy nếu họ có ban hành
đại giới cho người khác, họ không thể huấn
luyện cho người khác trong tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng
thượng tuệ.
Các người thọ đại giới từ
nơi những người ấy cũng sẽ trở thành những người giống như vậy,
thân không tu, giới không tu, tâm không tu, tuệ không tu . Nếu những người
đó có truyền đại giới cho người khác, họ sẽ
không thể huấn luyện cho những người khác trong tăng thượng giới, tăng
thượng tâm và tăng thượng tuệ. Như
vậy, do pháp ô nhiễm, nên luật ô nhiễm; do luật ô nhiễm nên pháp ô
nhiễm. Đây là sự sợ hãi thứ nhất.
2- Lại nữa, nầy các Tỳ-khưu, các Tỳ-khưu trong tương
lai sẽ trở thành những người thân không tu ... nhưng những người nầy lại
làm y chỉ sư cho những người khác. Họ không thể huấn luyện cho những người
khác trong tăng thượng giới ... Đây là
sự sợ hãi thứ hai.
3- Lại nữa, trong tương lai sẽ có những Tỳ-khưu trở
thành những người thân không tu, Giới không tu, Tâm không tu, Tuệ không
tu. Với sự không tu tập, khi những người nầy thuyết về Thắng Pháp, hay về
Quảng thuyết (Trí giải luận), họ bị rơi vào hắc pháp, không thể thấu hiểu
rõ ràng. Đây là sự sợ hãi thứ ba.
4- Lại nữa, các Tỳ-khưu trong tương lai không tu tập...
Do nhân không tu tập, đối với các Kinh tạng
do Như Lai tuyên thuyết, thâm sâu, ý nghĩa sâu kín, siêu thế, liên
hệ đến không, khi các kinh ấy được thuyết
giảng, những người nầy không chịu nghe, không lắng tai, không để tâm an
trú liễu giả, họ nghĩ rằng các kinh ấy không cần phải học thuộc lòng.
Còn những kinh điển do các thi sĩ làm,
những bài thi ca hoa mỹ, với những câu văn
hoa, thuộc ngoại điển, các kinh ấy được thuyết giảng, những người ấy lại
lắng nghe, trú tâm liễu giải và học thuộc lòng các loại kinh ấy.
Nầy các Tỳ-khưu, đây là do pháp ô
nhiễm, nên luật ô nhiễm; do luật ô nhiễm, nên pháp ô nhiễm.
Đây là sự sợ hãi thứ tư.
5- Lại nữa, có những Tỳ-khưu trong tương lai thân không
tu, Giới không tu, Tâm không tu, Tuệ không tu. Các vị Trưởng lão Tỳ-khưu
ấy sẽ sống đầy đủ, biếng nhác dẫn đầu trong
thối đọa, chúng từ bỏ không nghĩ đến sống viễn ly các dục, không hăng hái
tinh tấn, để chứng đắc những pháp chưa chứng đắc, để chứng ngộ những pháp
chưa chứng ngộ. Và quần chúng về sau sẽ
đi theo tà kiến của họ. Những người ấy
sẽ trở thành những người sống đầy đủ, biếng
nhác dẫn đầu trong thối đọa. Như vậy, do pháp ô nhiễm, đưa đến luật ô
nhiễm; do luật ô nhiễm, đưa đến pháp ô nhiễm. Đây là sự sợ hãi thứ
năm.
Nầy các Tỳ-khưu, năm sợ hãi
nầy, nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các ông cần
phải hoàn toàn rõ biết. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các ông cần phải tinh
tấn để đoạn tận chúng.
Bảy Pháp Bất Thối
Trong thời gian còn lưu lại Magadha,
Đức Phật đó giảng cho Đại thần của Vua Aj
àtasattu
nghe 7 điều kiện thịnh suy của một quốc gia,
khi ông tham vấn Thế Tôn về việc chinh phục nước Vajjì. Nhõn
đó, Đức Phật cũng giảng 7 yếu tố thịnh suy
của Giáo Pháp.
1- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu thường hay tụ
họp đông đảo với nhau, thời chúng Tỳ-khưu ấy
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
2- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu tụ họp trong
niệm đoàn kết, giải tỏn trong niệm
đoàn kết, và làm việc Tăng
sự cũng trong niệm đoàn kết, thời chúng Tỳ-khưu ấy sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
3- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu không ban
hành những luật lệ không được ban hành,
không hủy bỏ những luật lệ đó được ban hành,
sống đúng với những học giới được ban hành,
thời chúng Tỳ-khưu ấy sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
4- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu tôn sùng,
kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc
Tỳ-khưu Thượng Tọa, những vị nầy là những vị giàu kinh nghiệm, niờn
cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc
Thầy của chúng Tăng và nghe theo những lời dạy của những vị nầy,
thời chúng Tỳ-khưu ấy sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
5- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu không bị chi
phối bởi tham ỏi, tham ỏi nầy tác thành một
đời sống khác, thời chúng Tỳ-khưu ấy sẽ được cường thịnh, không bị suy
giảm.
4- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu thích sống
những chỗ nhàn tịnh, thời chúng Tỳ-khưu ấy sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
7- Nầy các Tỳ-khưu, khi nào chúng Tỳ-khưu tự thân an
trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện
chí chưa đến muốn đến ở, và các bạn
đồng tu thiện chí đó đến ở, được sống an lạc, thời chúng Tỳ-khưu ấy sẽ
được cường thịnh, không bị suy giảm.
Nầy các Tỳ-khưu, khi nào bảy Pháp Bất Thối nầy
được duy trì giữa các vị Tỳ-khưu, khi
nào các vị Tỳ-khưu được dạy Bảy Pháp Bất Thối
nầy, thời nầy các Tỳ-khưu, chúng Tỳ-khưu ấy sẽ được cường thịnh, không bị
suy giảm.
TRÊN
ĐƯỜNG ĐẾN KUSINÀRÀ
Rồi tuần tự, Thế Tôn đến
đền Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một người thợ sắt. Cunda hoan hỷ
thỉnh Thế Tôn cùng chúng Tỳ-khưu vào ngày mai
đến dùng cơm. Sau khi dùng buổi cơm tại nhà người thợ sắt, Thế Tôn
bị nhiễm bệnh rất khốc liệt, gần như sắp chết
đến nơi (bệnh lỵ huyết). Nhưng Ngài chánh niệm tỉnh giác, nhẫn nại
chịu đựng cơn bệnh. Rồi Thế Tôn nói với Đại
Đức Ananda:
- Nầy Ananda, chúng ta hãy
đi đến Kusinàrà.
"Xin vâng bạch Thế Tôn,"
Đại Đức Ananda vâng đáp Thế Tôn.
Khi đi đến một gốc cây,
Thế Tôn lại bên đường và nói
với Đại Đức Ananda:
"Nầy Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm nghe mệt
mỏi và muốn ngồi nghĩ."
"Xin vâng bạch Thế Tôn,"
Đại Đức Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp
tư áo Sanghàti lại.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã
soạn sẵn, và nói: "Nầy Ananda, hãy đem nước
cho Ta. Ta nay đang khát và muốn uống nước."
- Bạch Thế Tôn, vừa mới có khoảng 500 cỗ xe chạy qua,
nên nước bị khuấy động và bẩn
đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không
xa ở đây, nước thuần tịnh, mát mẻ. Tại đó Thế
Tôn có thể uống nước.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với
Đại Đức Ananda: "Nầy Ananda, hãy
đem nước uống cho Ta. Ta nay đang khát và
muốn uống nước."
Lần thứ hai, Đại Đức
Ananda cũng bạch với Thế Tôn như trước
Lần thứ ba, Thế Tôn nói: "Nầy Ananda, hãy
đem nước uống cho Ta. Ta nay đang khát và
muốn uống nước."
"Xin vâng bạch Thế Tôn,"
Đại Đức Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và
đi đến con sông nhỏ. Con sông đang chảy nông
cạn, khuấy động và bẩn đục, khi Đại
Đức Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lạng, không bẩn
đục.
Sau khi dùng bát lấy nước,
Đại Đức Ananda đến chỗ Thế Tôn và bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn, thật kỳ diệu thay! Thật hy hữu thay
thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ
đang nông cạn, khuấy động và bẩn đục
nầy, khi con đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lạng và không bẩn
đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước. Xin
thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Lúc bấy giờ, Pukkusa, giòng họ Mallà,
đệ tử của Ngài Alàra Kàlàma
đang đi trên con
đường từ Kusinàrà
đến Pàvà.
Pukkusa thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền
đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi
xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật là
hy hữu, trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia
Bạch Thế Tôn, thuở xưa, thiền sư Alàra Kàlàma
đang đi trên
đường. Rồi Ngài bước xuống
đường và ngồi xuống một gốc cây, không
xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc
ấy có khoảng 500 cỗ xe đi ngang qua gần Ngài. Bạch Thế Tôn, có một
người đi theo sau lưng đoàn xe ấy,
đến chỗ thiền sư Alàra Kàlàma và nói
rằng:
- Tôn giả có thấy khoảng 500 cỗ xe vừa
đi qua không?
- Nầy Hiền giả, Ta không thấy.
- Tôn giả có nghe tiếng không?
- Nầy Hiền giả, Ta không nghe tiếng.
- Có phải Tôn giả đang ngủ
không?
- Nầy Hiền giả, Ta không
đang ngủ.
- Vậy có phải Tôn giả đang
thức tỉnh?
- Nầy Hiền giả, Ta đang
thức tỉnh.
- Tôn giả đang thức tỉnh
nhưng không thấy khoảng 500 cỗ xe đi ngang qua gần một bên, cũng
không nghe tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả cũng bị lấm bụi.
Bạch Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: "Thật là kỳ
diệu, thật là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh,
còn thức nhưng không thấy 500 cỗ xe vừa đi
ngang qua gần một bên, cũng không nghe tiếng." Sau khi tỏ sự
thâm tín đối với thiền sư Alàra
Kàlàma, vị ấy từ biệt.
Nầy Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm
hơn, cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh, còn thức mà
không thấy 500 cỗ xe đi ngang qua gần một bên,
cũng không nghe tiếng. Hay một người đang
giác tỉnh, còn thức, trong khi trời
đang mưa, mưa tầm tả ào ào, trong khi
điện quang chớp lòa, sấm sét vang
động, mà không thấy, cũng không nghe tiếng.
Bạch Thế Tôn, nói gì đến
500 cỗ xe nầy, cho đến 600 - 700 ... cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng
không thể so sánh được.
Thật khó làm hơn, khó thực hiện
được, một người đang giác tỉnh, còn
thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tả
ào ào... mà không thấy, cũng không nghe tiếng.
Nầy Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà
đập lúa. Lúc bấy giờ trời mưa, mưa tầm tả
ào ào, điện quang chớp lòa, sấm
sét vang động, có hai anh em nông phu và
bốn con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ta
không thấy, cũng không nghe gì.
Khi được nghe nói vậy,
Pukkusa, bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, sự tin tưởng của con
đối với thiền sư Alàra Kàlàma, nay con
đem rải rắc trước luồng gió lớn, đem thả trôi
vào giòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy hữu thay bạch
Thế Tôn! Bạch Thế Tôn như người dựng đứng lại
những gì bị quăng ngã xuống,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường
cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy,
Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng
nhiều phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y
Pháp, quy y Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm
đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con
trọn đời quy ngưỡng.
Rồi Pukkusa đem dâng cặp
áo màu kim sắc, vàng chói cho Thế Tôn và nói:
- Bạch Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói nầy, mong
Thế Tôn vì thương xót mà thâu nhận cho con.
- Nầy Pukkusa, hãy dâng cho ta một áo và dâng cho
Ananda một áo.
Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa. Sau khi
được Đức Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ làm
cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, Pukkusa liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu
hướng về Thế Tôn rồi từ biệt.
Sau khi Pukkusa đi chưa
bao lâu, Đại Đức Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói
đặt trên thân Thế Tôn. Và khi cặp áo
nầy đặt trên thân Thế Tôn. màu sắc
sáng chói của áo như bị lu mờ đi. Đại Đức
Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn, thật là
hy hữu, sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai. Bạch Thế Tôn, khi
con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu
kim sắc vàng chói, màu sắc sáng chói của áo như bị lu mờ
đi.
- Thật vậy, nầy Ananda, có hai trường hợp, màu da của
Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai?
Nầy Ananda, trong đêm
Như Lai chứng ngộ Vô thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác và trong đêm Như Lai sắp
diệt độ Níp Bàn không còn dư y
sanh tử. Nầy Ananda, đó là hai trường
hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.
Nầy Ananda, khi canh cuối cùng
đã mãn, tại Upavattana ở Kusinàrà,
trong rừng Sàla của giòng họ Mallà, giữa hai cây Sàla Song thọ, Như Lai sẽ
diệt độ. Nầy Ananda, chúng ta hãy
đi đến sông Kakutthà.
Khi ấy, Thế Tôn nói với
Đại Đức Ananda:
- Nầy Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda
hối hận: "Nầy Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho ngươi, thật là tai
hại cho ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng
từ ngươi cúng dường, và nhập diệt." Nầy Ananda, ông cần phải làm tiêu tan
sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda:
- Nầy Hiền giả, thật lợi ích cho bạn, thật là công
đức cho bạn, vì
được Như Lai dùng bữa
ăn cuối cùng từ bạn cúng dường và viên
tịch
- Nầy Hiền giả Cunda, tôi tự thân nghe, lời nói nầy của
Thế Tôn: Có hai sự cúng dường vật thực
đồng một quả phước như nhau, phước ấy lớn hơn, lợi ích lớn hơn các sự cúng
dường vật thực khác, đó là:
. Bữa ăn trước khi Như
Lai chứng Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
. Bữa ăn trước khi Như
lai diệt độ Níp Bàn .
Do sự cúng dường nầy, Cunda sẽ
được hưởng tuổi thọ, sắc đẹp, an lạc, danh
tiếng, cõi trời và uy quyền.
Rồi Thế Tôn thốt lời như sau:
"Công đức người bố thí,
Luôn luôn được tăng trưởng,
Trừ được tâm hận thù,
Không chất chứa, chế ngự,
Kẻ chí thiện từ bỏ,
Mọi ác hạnh bất thiện,
Diệt trừ tham, sân, si,
Tâm giải thoát thanh tịnh."
Rồi Thế Tôn, cùng với đại
chúng Tỳ-khưu đi đến bên kia sông Hiraññavati, tại Kusinàrà
Upavattana, rừng Sàlà, khi đi đến nơi, Đức
Thế Tôn liền nói với Đại Đức Ananda:
- Nầy Ananda, hãy trải chỗ nằm,
đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây Sàlà
Song thọ. Nầy Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghĩ.
- Xin vâng, bạch Đức Thế
Tôn.
Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm
con sư tử, hai chân để lên nhau chánh
niệm giác tỉnh.
Lúc bấy giờ, cây Sàlà Song thọ trổ hoa trái mùa, tràn
đầy cành lá. Những
đóa hoa nầy rơi lên gieo khắp và tung
vải trên thân Như Lai để cúng dường Ngài.
Những thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, gieo khắp và tung
vải trên thân Như Lai để cúng dường Ngài.
Bột trời chiên đàn từ trên hư không
rơi xuống, gieo khắp và tung vải trên thân Như Lai
để cúng dường Ngài . Nhạc trời trên hư
không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên
ca trên hư không vang lên để cúng dường Ngài.
Rồi Như Lai nói với Đại
Đức Ananda:
- Nầy Ananda, các cây Sàlà Song thọ trổ hoa trái mùa
... Thiên hoa Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, bột trời chiên
đàn, nhạc trời trên hư không trổi dậy,
Thiên ca trên hư không vang lên để cúng dường
Như Lai. Nhưng nầy Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng,
đảnh lễ, cúng dường Như Lai một cách cao
thượng. Nầy Ananda, nếu có vị Tỳ-khưu, Tỳ-khưu ni, nam cư sĩ, nữ
cư sĩ nào thành tựu chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh trong chánh
pháp, hành trì đúng chánh pháp, thời người ấy
kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng
dường Như lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy, hãy thành tựu
chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh trong chánh pháp và hành trì
đúng chánh pháp. Nầy các Tỳ-khưu,
các ông hãy học tập như vậy.
Lúc bấy giờ, đại Đức Upavàna
đứng trước mặt Thế Tôn và quạt cho
Ngài. Thế Tôn quở trách và bảo: "Này Tỳ-khưu, hãy
đứng sang một bên, chớ có
đứng trước mặt Ta."
Đại Đức Ananda suy nghĩ: "Tôn Giả Upavàna nầy là
thị giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã
lâu ngày. Nay trong giờ cuối Thế Tôn lại quở trách Tôn giả Upavana!" Nghĩ
thế, Đại Đức Ananda hỏi:
- Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì, Thế Tôn lại quở
trách Đại Đức Upavàna?
- Nầy Ananda, có rất đông
các vị Thiên thần ở mười phương thế giới tụ hội
để chiêm ngưỡng Như lai trong giờ phúc
cuối, cho đến 12 do tuần xung quanh Kusinara
rừng Sàlà, không có một chỗ nào trống dù nhỏ cho
đến đầu một sợi tóc, đều đầy những vị thiên
thần có uy lực tụ họp.
Nầy Ananda các vị thiên thần than phiền rằng: "Chúng ta
từ xa, rất xa đến đây để chiêm ngưỡng
Như lai trong giờ phút cuối, mà vị Tỳ-khưu có uy lực nầy lại
đứng án mặt Thế Tôn, khiến chúng ta không
thấy được Thế Tôn!"
- Bạch Đức Thế Tôn, Thế
Tôn đang nghĩ đến hạng Chư Thiên nào?
- Nầy Ananda, có hạng Chư Thiên ở trên hư không, nhưng
tâm tư còn thế tục, những vị nầy khóc than với
đầu bù tóc rối, khóc than với cánh tay
duổi cao, thân bổ nhoài dưới đất lăn lộn qua
lại: "Thế Tôn diệt độ quá sớm,
Thiện Thệ Níp bàn quá sớm, Pháp nhản biến mất quá sớm. "
- Nầy Ananda, có những hạng Chư Thiên
đã diệt trừ ái, những vị nầy bình
thản, tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư:
"Các hành là vô thường, làm sao có thể khác
được."
Đại Đức bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn diệt
độ, chúng con xử sự kim thân của Thế Tôn thế
nào?
- Nầy Ananda, xử sự thân của Chuyển Luân Vương thế nào
thời thân của Như Lai xử sự cũng như thế ấy.
- Nầy Ananda, có bốn thánh tích cần phải chiêm ngưỡng,
cần tôn kính:
1- Nơi Như Lai đản sanh.
2- Nơi Như lai chứng ngộ Vô thượng Đẳng Giác.
3- Nơi Như Lai Chuyễn pháp Luân vô thượng.
4- Nơi Như Lai diệt độ Níp bàn.
Những ai trong khi chiêm bái những thánh tích ấy, mà từ
trần với tâm tính thành hoan hỷ, thì những người ấy sẽ
được sanh cõi thiện, cảnh giới chư
thiên.
Nầy Ananda, có bốn hạng người xứng
đáng xây tháp:
1- Như Lai bậc A La Hán Chánh
đẳng giác
2- Bậc Độc Giác Phật.
3- Đệ tử Thinh văn của Như Lai.
4- Vua Chuyễn Luân Vương.
Nầy Ananda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri đáng xây tháp, bậc Độc Giác Phật, đệ tử
Thinh Văn của Như Lai, vua Chuyển Luân Vương xứng đáng xây Tháp? Vì
những người nầy là những vị sống đúng Pháp, y
cứ Pháp, tôn kính Pháp, lấy Pháp làm tràng phan, lấy Chánh pháp làm
ngọn cờ, lấy Chánh Pháp làm tăng thượng. Do
tâm hoan hỷ như vậy, khi từ trần được sanh lên cõi thiện, Thiên
giới.
Thế Tôn nói như vậy xong,
Đại Đức Ananda, đi vào trong tịnh thất
đứng dựa cửa khóc: "Nay ta còn là người hữu học, còn phải tu tập,
nay bậc Đạo Sư sắp diệt tịch ..."
Đức Phật cho gọi lại và nói:
- Thôi vừa rồi, nầy Ananda, chớ có buồn rầu, chớ có
khóc than; nầy Ananda, có phải chăng, ta đã
từng tuyên bố rằng mọi vật ưu ái, tốt đẹp đều
phải sanh diệt và tử biệt?
Nầy Ananda, đã lâu
ngày ông đối với Như lai, với thân nghiệp đầy
lòng từ ái, an lạc, có một không hai. Vô lượng với khẩu nghiệp
đầy lòng từ ái có một không hai. Vô
lượng với ý nghiệp, đầy lòng từ ái có
một không hai.
Nầy Ananda, ông đã
tác thành công đức ấy, hãy cố gắng
tinh tấn lên, ông sẽ chứng bậc vô lậu giải thoát không bao lâu.
Nầy Ananda, hãy đi vào
Kusinàrà nói với dân Mallà rằng: "Đêm
nay vào canh cuối Như Lai sẽ diệt độ, các ông
hãy đi đến, để về sau không hối tiếc:
"Thế Tôn diệt độ ở xứ chúng ta, mà chúng ta không
được chiêm ngưỡng Như Lai."
Lúc ấy dân Mallà đang hội
hợp ở giảng đường, khi nghe nói vậy, chúng đau khổ, sầu muộn, khóc than
với đầu bù tóc rối, có kẽ khóc với cánh tay duổi cao, có kẽ khóc
thân bổ nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại:
"Thế Tôn diệt độ quá sớm, Pháp nhãn
biến mất ở trên đời quá sớm."
Rồi dân Malla cùng vớí vợ con buồn rầu
đi đến rừng Sàlà.
Đại Đức Ananda suy xét: Nếu ta để dân Malla đảnh lễ Thế
Tôn từng người một th
ì đêm sẽ
tàn trước, vậy ta hãy đễ dân Malla đảnh lễ
từng gia tộc. Suy xét như thế, Đại đức Ananda thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn, gia tộc Malla nầy cùng với vợ con,
đồ chúng, bạn bè
đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn!
Lúc ấy, du sĩ ngoại đạo
Subhadda ở Kusinàrà được nghe:" Tối
nay, vào canh cuối cùng Sa Môn Gotama sẽ diệt
độ".
Rồi Subhadda đi đến khu
rừng Sàlà đến chỗ Đại Đức Ananda và
xin vào diện kiến Thế Tôn.
Đại Đức Ananđa từ chối:
- Thưa Hiền giả, Thế Tôn
đang mệt!
Ngoại đạo Subhadda van xin
đến lần thứ ba rằng: "Thưa hiền giả Ananda, tôi được nghe các du sĩ ngoại
đạo cao niên lạp lớn, nói rằng: "Như Lai
đã xuất hiện ra
đời và đêm
nay, vào canh cuối cùng, Như lai sẽ diệt tịch Níp Bàn. Nay tôi có nghi vấn
nầy, tôi tin Sa Môn Gotama có thể thuyết pháp giải
được nghi cho Tôi. Hiền giả hãy cho
phép tôi được diện kiến Sa môn.
Đức Phật biết sự việc, ngài bảo
Đại Đức Ananda hãy
để cho Subhadda vào. Những gì Subhadda
hỏi là để hiểu, chớ không phải hỏi để làm
phiền Như Lai. Rồi Subhadda vào đảnh lễ Thế
Tôn và thưa rằng: "Thưa Sa Môn Gotama, tôi có nghe các vị tổ sư,
những du sĩ ngoại đạo là bậc cao niên
lạp lớn, khai sáng giáo pháp, các vị ấy đã
tuyên bố rằng đã
đắc A La Hán, có vị sẽ đắc Alahán trong tương
lai."
Đức Phật nói: "Nầy Subhadda, hãy
để yên vấn
đề nầy qua một bên, ta sẽ thuyết pháp
cho ngươi, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, ta sẽ giảng."
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Rồi Thế Tôn giảng về chánh pháp như sau:
- Nầy Subhadda, trong pháp và luật nào không có
Đạo Tám Chánh, thì nơi
đó không có đệ nhất Sa môn, không có đệ nhị
Sa môn, đệ tam hay đệ tứ Sa môn.
- Nầy Subhadda, ngoài lãnh vực nầy không có
đạo quả giải thoát, những hệ thống ngoại đạo
khác đều trống không, không có những bậc Sa môn, thánh Đạo thánh Quả.
- Nầy Subhadda, nếu Tỳ Kheo nào sống chơn chánh, thì
đời nầy không vắng bóng những vị A-La-Hán.
Sau khi nghe pháp, du sĩ ngoại
đạo Subhadda bạch Thế Tôn: "Thật hy hữu thay,
Bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn. Như người dựng đứng lại
những gì bị quăng ngã xuống,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường
cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy,
Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng
nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế
Tôn, quy y Pháp và quy y Tỳ-khưu Tăng. Mong
Thế Tôn chấp nhận cho con được xuất gia với Thế Tôn, con xin thọ đại giới.
Và du sĩ ngoại đạo
Subhadda được thọ đại giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, Đại
Đức Subhadda ở một mình, an tịnh không phóng dật, tinh tấn, sống
nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, Đại Đức
Subhadda trở thành một vị A-La-Hán.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với
Đại Đức Ananda:
- Nầy Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng:
"Lời nói của Bậc Đạo Sư khônng còn
nữa. Chúng ta không có Đạo Sư." Nầy Ananda,
chớ có những tư tưởng như vậy, Pháp và Luật, Ta
đã giảng dạy và trình bày, sau khi Ta
diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là
Đạo Sư của các ông.
Và Thế Tôn nói với các vị Tỳ-khưu:
- Nầy các Tỳ-khưu, nay Ta khuyên dạy các ông "Các pháp
hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật."
Đó là lời di huấn tối hậu của Như Lai.
Rồi Thế Tôn nhập định sơ
thiền. Xuất sơ thiền, Ngài nhập nhị thiền. Xuất nhị thiền, Ngài
nhập định tam thiền. Xuất tam thiền, Ngài
nhập định tứ thiền. Xuất tứ thiền, Ngài
nhập định Không vô biên xứ. Xuất không
vô biên xứ, Ngài nhập định Thức vô biên
xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập định Vô
sở hữu xứ. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập
định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất phi
tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Diệt, thọ tưởng
định.
Khi ấy, Đại Đức Ananda nói
với Đại Đức Anuruddha:
- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã
diệt độ?
- Nầy Hiền giả, Thế Tôn chưa diệt
độ, Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng
định.
Rồi xuất Diệt thọ tưởng
định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi
tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ
định. Xuất Vô sở Hữu xứ, Ngài nhập
Thức vô biên xứ định. Xuất Vô
biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ
định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập
định tứ thiền. Xuất tứ thiền,
Ngài nhập định tam thiền. Xuất
tam thiền, Ngài nhập định nhị
thiền. Xuất nhị thiền, Ngài nhập định
sơ thiền. Rồi từ sơ thiền, Ngài nhập
định tuần tự trở lên
đến tứ thiền. Xuất tứ thiền, Ngài lập
tức diệt độ Níp Bàn.
Thế Tôn vừa diệt độ, đại
địa chấn động khủng khiếp, lông tóc dựng ngược, sấm trời vang động. Ngay
khi Thế Tôn tịch diệt,
Phạm Thiên Sahampati, thốt lên bài kệ rằng:
"Chúng sanh ở trên đời,
từ bỏ thân ngũ uẩn.
Bậc Đạo Sư cũng vậy,
Đấng tuyệt luân trên đời.
Bậc Đại hùng Giác ngộ,
Như Lai đã diệt
độ.
Khi Thế Tôn diệt độ, Thiên
chủ Sakka, thốt lên bài kệ:
"Các hành là vô thường.
Có sanh phải có diệt,
Đã sanh chúng phải diệt
Nhiếp chúng là an lạc."
Khi Thế Tôn tịch diệt, Đại
Đức Anuruddha, thốt lên bài kệ:
"Không phải thở ra vào.
Chính tâm trú chánh định
Không tham ái tịch tịnh
Tu sĩ hướng diệt độ
Chính tâm tịnh bất động
Nhẫn chịu mọi cảm thọ
Như đèn sáng bị tắt
Tâm giải thoát hoàn toàn."
Khi Như Lai Níp Bàn, Đại
Đức Ananda, thốt lên bài kệ rằng:
"Thật kink khủng bàng hoàng,
Thật râu tóc dựng ngược
Khi Bậc toàn thiện năng
Bậc Giác ngộ nhập diệt."
Dân Mallà ở Kusinàrà gom góp hương, tràng hoa, tất cả
nhạc khí ở Kusinàrà và năm trăm cuộn vải đi
đến Upavattana, tại rừng Sàlà, chỗ kim thân của Thế Tôn. Và họ tôn
trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường kim
thân Thế Tôn như vậy suốt bảy ngày. Sau
đó, tám vị tộc trưởng Mallà, gội
đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nỗi
kim thân Thế Tôn ra ngoài thành phía nam để làm
lễ hỏa thiêu, nhưng không thể khiêng nỗi.
- Nầy các Vàssetthà, xử sự thân Chuyển Luân Vương như
thế nào, hãy xử sự kim thân Như Lai như thế ấy!
Nầy các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyển Luân
Vương như thế nào, pháp táng thân của Như Lai cũng như thế ấy. Tháp của
Như Lai phải được dựng lên tại ngã ba
đường. Và những ai
đem đến tại chỗ ấy vòng hoa hay hương
thơm đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ khi
đứng trước tháp, thời những người ấy sẽ được những lợi ích hạnh phúc lâu dài
ở nhân Thiên.
Chúng ta nên thực hành theo lời di giáo của Ngài cho
Tỳ-khưu, Tỳ-khưu Ni, nam nữ cư sĩ trước khi Ngài tịch diệt: