VIỆT NAM PHẬT GIÁO SỬ
LUẬN
Nguyễn Lang
---o0o---
TẬP II
CHƯƠNG XXII
THIỀN PHÁI LÂM TẾ VÀ PHẬT GIÁO Ở ÐÀNG TRONG
CÁC THIỀN SƯ TỪ TRUNG HOA
SANG HOẰNG HÓA
Ngay sau khi
Doãn Quốc Công Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) vào trấn thủ đất Thuận Hóa, ông
đã để ý đến việc lập chùa. Năm 1601, ông đã bắt đầu cho xây dựng chùa
Thiên Mụ ở xã Hà khê, huyện Hương Trà. Năm sau, vào ngày Vu Lan, chúa đến
chùa Thiên Mụ lập trai đàn và làm lễ bố thí. Chúa lại cho dựng chùa Sùng
Hóa trên nền một ngôi chùa cổ ở xã Triêm Ân, huyện Phú Vang. Năm 1607,
chúa cho lập chùa Bảo Châu ở Trà Kiệu, Quảng nam. Năm 1609, chúa lại lập
chùa Kính Thiên ở Thuận Trạch, Quảng Bình. Sau khi chúa dựng xong dinh
Quảng Nam ở xã Cần Húc, chúa lại cho lập một ngôi chùa gần đó, gọi là chùa
Long Hưng, ở về mé Ðông của trấn.
Như vậy trong thâm ý của chúa Nguyễn, đạo
Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng
họ Nguyễn. Cũng vì vậy cho nên sau này, các chúa Nguyễn đều tỏ vẻ sùng
thượng đạo Phật và nhân dân Ðàng Trong cũng nghênh đón các vị du tăng
Trung Quốc với một tấm lòng chân thật, mặn nồng. Trong thời đại chuyển
tiếp giữa hai triều Minh Thanh, nhiều cao tăng Trung Hoa đã tới Ðàng Trong
hành hóa. Một phần quan trọng của những tổ đình hiện nay là do các thiền
sư Trung Hoa sáng lập.
Thế kỷ thứ mười bảy ghi nhận có mặt của các
thiền sư Trung Hoa sau đây tại Ðàng Trong:
- Các thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan vở
Quảng Trị.
- Thiền sư Minh Hoằng khai sơn chùa Ấn Tôn,
Thuận Hóa.
- Thiền sư Giác Phong khai sơn chùa Thiên
Thọ, Thuận hóa.
- Thiền sư Từ Lâm, khai sơn chùa Từ Lâm,
Thuận Hóa.
- Thiền sư Pháp Bảo, khai sơn chùa Chúc
Thánh, Quảng Nam.
- Quốc sư hưng Liên, trụ trì chùa Tam Thai,
Quảng Nam.
- Thiền sư Pháp Hóa, khai sơn chùa Thiên
Ấn, Quảng Ngãi.
- Thiền sư Tế Viên, khai sơn chùa Hội Tông,
Phú Yên
- Thiền sư Nguyên Thiều, khai sơn chùa Thập
Tháp Di Ðà ở Bình Ðịnh và các chùa Quốc Ân và Hà Trung, Thuận Hóa.
- Thiền sư Thạch Liêm, khai sơn chùa Thiền
Lâm, Thuận Hóa.
Tất cả đều thuộc phái thiền Lâm Tế - chỉ
trừ hai vị Hưng Liên và Thạch Liêm thuộc phái thiền Tào Ðộng
Các thiền sư Viên Cảnh và Viên Khoan
Hồi thiền sư Hương Hải 25 tuổi, còn làm tri
phủ ở Triệu Phong, Quảng Trị, tức là vào năm 1652, ông đã được học Phật
với hai thiền sư này. vị thứ nhất tên là Lục Hồ Viên Cảnh. Vị thứ hai tên
là Ðại Thâm Viên Khoan. Danh từ Lục Hồ có vẻ như là một địa danh ở Trung
Hoa, không phải là một pháp danh, điều này cho ta thấy hai thiền sư là du
tăng Trung Quốc. Hai người đều có pháp hiệu đứng đầu bằng chữ Viên: Viên
Cảnh và Viên Khoan, vậy hai người có thể là đồng sư hay đồng môn phái,
cùng rời Trung Hoa với nhau một lần. Không biết hai vị thiền sư này trú
trì tại chùa nào ở Quảng Trị. Tổ đình xưa nhất ở đây là chùa Tịnh Quang do
thiền sư Chí Khả khai sơn. Một điều đáng chú ý là pháp tự của Hương Hải do
thiền sư Viên Cảnh đặt được bắt đầu bằng chữ Minh (Minh Châu Hương
Hải) và những pháp tử của Hương Hải thì có pháp hiệu bắt đầu bằng chữ Chân
như Chân Lý Ðề Mật, còn các pháp điệt thì có các pháp hiệu bắt đầu bàng
chữ Tính. Thứ tự truyền thừa cũng giống như trong truyền thống
Chuyết Chuyết: Viên Văn - Minh Hành - Chân Nguyên -
Tính Tính... Ðiều này cho phép ta nghĩ rằng hai bên cùng theo một
pháp phái và Hương Hải là người cùng thế hệ với Minh Hành. Ðiểm này còn
đợi khảo chứng.
Thiền sư Nguyên Thiều
Thiền sư Nguyên Thiều họ Tạ, pháp tự là
Hoán Bích, người huyện Trình Hưng, phủ Triều Châu, tỉnh Quảng Ðông. Năm 19
tuổi, ông xuất gia tại chùa Báo Tư, tu học dưới sự hướng dẫn của hòa
thượng Khoáng Viên.
Ông theo thuyền buôn sang Việt Nam năm 1665 trong đời chúa Nguyễn Phúc
Tần. Ban đầu ông cư trú tại phủ Quy Ninh (Bình Ðịnh bây giờ), sau đó lập
chùa Thập Tháp Di Ðà. Chùa này tọa lạc ở làng Thuận Chánh, huyện Tuy Viễn;
sau chùa có mười ngôi cổ tháp Chàm cho nên chùa được gọi là chùa Thập
Tháp. Sách Ðại Nam Nhất Thống Chí nói rằng chùa này lập năm 1683,
niên đại này có lẽ là niên đại hoàn tất chùa sau nhiều năm xây cất. Năm
1691, chùa được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho biển ngạch và câu đối. Sau đó
Nguyên Thiều lại ra Thuận Hóa dựng chùa Quốc Ân và xây tháp Phổ Ðồng. Chùa
Quốc Ân tọa lạc tại ấp Phúc Quả. Chùa cũng được chúa Nguyễn Phúc Chu ban
cho liễn đối có ghi đạo hiệu của chúa là “Thiên Túng Ðạo Nhân”. Sách
Ðại Nam Nhất Thống Chí nói rằng tháp Phổ Ðồng được xây trước chùa Quốc
Ân, sau đó bị binh lửa tàn phá.
Sách Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên
nói rằng Nguyên Thiều có phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Trăn sang Quảng Ðông
rước thiền sư Thạch Liêm (Ðại Sán) và thỉnh pháp khí. Bia đá chùa Quốc Ân
do chúa Nguyễn Phúc Chú đề năm 1729 cũng nói: “Thiền sư Hoán Bích Tạ
Nguyên Thiều ở chùa Hà Trung vâng lệnh Nghĩa Vương qua Quảng Ðông mời hòa
thượng Ðại Sán”. Xét kỹ Nguyên Thiều chưa từng mời Thạch liêm; cùng qua
Ðại Việt với Nguyên Thiều cũng có những thiền sư khác nhưng không có mặt
Thạch Liêm. Sách Hải Ngoại Kỷ Sự do Thạch Liêm viết cho biết ông
sang Ðại Việt năm 1695 với một người bạn và nhiều đệ tử của ông chứ không
đi với Nguyên Thiều. Sách lại kể chuyện ông tới thăm chùa Hà Trung là nơi
thiền sư Nguyên Thiều mà chỉ gặp mọt vị giám tự mới thọ giới tỳ khưu với
ông mấy tháng trước đó tại giới đàn Thiền Lâm. Một vị giám tự mới thọ tỳ
khưu thì chắc chắn không phải là thiền sư Nguyên Thiều, người đã khai sơn
hai tổ đình lớn là Thập Tháp và Quốc Ân. Ðiều đó cho ta thấy rằng Nguyên
Thiều đã tịch trước năm 1695 tức là năm Thạch Liêm tới Ðại Việt. Niên đại
1729 đề ở bia Quốc Ân chỉ là niên đại dựng bia chứ không phải niên đại
nhập diệt của Nguyên Thiều.
Sách Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên
nói Nguyên Thiều thọ 81 tuổi. Vậy ông mất vào năm nào và sinh vào năm nào?
Ta biết khi Nguyên Thiều mất, chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho ông thụy hiệu
là Hạnh Ðoan Thiền Sư. Như vậy ta có thể biết chắc rằng Nguyên Thiều mất
vào khoảng từ năm 1691 tức là năm chúa Nguyễn Phúc Chu lên ngôi đến năm
1695 tức là năm qua Ðại Việt của thiền sư Thạch Liêm. Như vậy ông sinh vào
khoảng 1610-1614 và qua Ðại Việt vào khoảng từ năm 51 đến 55 tuổi.
Sách Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên
có nhắc đến chuyện chúa Nguyễn Phúc Trăn nhờ Nguyên Thiều qua Trung Hoa để
mời cao tăng và thỉnh pháp tượng, pháp khí. Thượng Tọa Mật Thể trong sách
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược
có nói rằng sau khi Nguyên Thiều về Ðại Việt, chúa Nguyễn Phúc Trăn có cho
tổ chức giới đàn lớn tại chùa Linh Mụ. Chưa thấy có chỗ nào chép như thế.
Theo Thượng Tọa Mật Thể, chuyến đi của Nguyên Thiều sang Quảng Ðông có mục
đích mời một số cao tăng sung vào ban thập sư truyền giới tại giới đàn,
đồng thời cũng là để thỉnh những pháp khí (như tràng phan, chuông, mõ) cần
thiết cho giới đàn. Ta nghĩ rằng một chuyến đi như vậy không thể chỉ để
thỉnh tượng Phật và pháp khí và một vài vị tăng sĩ; cho nên việc lập giới
đàn do Thạch Liêm tổ chức tại chùa Thiền Lâm năm 1695. Chúa Nguyễn Phúc
Chu khi tới giới đàn đã quá khâm phục mà nói: “May có Lão Hòa Thượng tới
đây mới được thấy pháp môn quảng đại trang nghiêm như vậy”. Như thế có
nghĩa là từ đó về trước chưa có giới đàn nào tổ chức lớn như vậy, kể cả
những giới đàn do thiền sư Nguyên Thiều tổ chức. Chúa Nguyễn Phúc Chu dù
còn trẻ cũng đã được đi theo để dự xem giới đàn Linh Mụ tổ chức dưới thời
chúa Nguyễn Phúc Trăn.
Những vị cao tăng nào đã cùng qua Ðại Việt
với thiền sư Nguyên Thiều? Theo tác giả Việt Nam Phật Giáo Sử Lược
thì cùng qua với Nguyên Thiều có các thiền sư Minh Hành Tại Tại, Minh
Hoằng Tử Dung, Minh Hải Pháp Bảo, Minh Vật Nhất Trí. Ta không thể biết
chắc được tát cả những thiền sư có tên trên đây đã cùng qua với thiền sư
Nguyên Thiều hay không. Thiền sư Minh Hành chẳng hạn, như ta đã biết, đã
qua Ðại Việt trước đó tới gần 60 năm, tới kinh đô Thăng Long vào năm 1633.
Vậy ta chỉ có thể nói rằng một số các thiền sư có tên ở trên đã cùng qua
với Nguyên Thiều, mà chắc chắc nhất là những vị đã lưu trú lại các tổ đình
Thập Tháp và Quốc Ân do Nguyên Thiều khai sơn, như Minh Vật Nhất Trí, Minh
Hoàng Ðịnh Nhiên. Những vị này có thể là những pháp điệt gọi Nguyên Thiều
bằng sư thúc hay sư bá; cũng có thể nhiều vị là đệ tử trực tiếp của Nguyên
Thiều. Mật Thể không tin như vậy, cho rằng thời gian ở Ðại Việt của Nguyên
Thiều thì nhiều mà thời gian ở Quảng Ðông của ông thì ít, làm sao ông có
thể có đệ tử cao tăng được. Tuy nhiên, nếu ta biết Nguyên Thiều sang Ðại
Việt hồi 51 -55 tuổi, trở về Quảng Ðông lúc trên bảy mươi tuổi thì ta có
thể nói rằng trong số các vị gốc Trung Hoa trú trì tại hai chùa Thập Tháp
và Quốc Ân, có thể có vị là đệ tử trực tiếp của Nguyên Thiều từ khi ông
chưa bỏ nhà Thanh sang Ðại Việt. Dù sao, ít nhất cũng là bảy vị tăng sĩ
vừa Hoa vừa Việt đứng sau ông một thế hệ đã được ông nâng đỡ và đặt vào
công tác hành đạo. Ðó là các vị cư trú tại Bình Ðịnh (Thập Tháp) và Thuận
Hóa (chùa Quốc Ân): Minh Vật Nhất Trí, Minh Giác Kỳ Phương, Minh Trí
Nguyệt Hạnh, Minh Dung Pháp Thông, Minh Lương Nguyệt An, Thành Ðăng Minh
Yêu và Thành Thiên Pháp Thông. Ðó là chưa kể những vị nối nghiệp ông ở
chùa Hà Trung là chùa mà ông trú trì vào những năm chót của đời ông.
Chùa Hà Trung tọa lạc tại xã Hà Trung,
huyện Phú Lộc, có lẽ đã được tạo dựng ngay sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu
mới lên ngôi. Về chùa Hà Trung, thiền sư Thạch Liêm đã viết: “Ðoái nhìn
chùa son điện ngọc, lấp lánh trong bờ biển rừng tùng. Nước mây man mác,
trập trùng bóng dương, phảng phất chồn Bồng Lai Lãng Uyển”. Và Thạch Liêm
có làm ba bài thơ. Ðây là bài thứ nhất:
Xanh mấy tầng dương ẩn Phật cung
Chuông vàng theo gió thoảng bên song
Rèm tre lối cỏ lên hơi núi
Gành đá lầu mây xuống bóng đồng
Cá đỏ chực mồi ngoi mặt nước
Chim xanh hót nắng đậu giàn bông
Miếu đến vua chúa thanh u quá
Như có hào quan chiếu biển Ðông(79)
(Lục liễu thùy thùy ẩn Phạm Cung
Chung Thanh chiêu đệ mãn hà phong
Trúc ly thảo kính phù lam yểm
Thạc hác hà lâu đảo ảnh không
Hầu thực hồng ngư suy thủy thượng
Ðề yên túy điểu lạc hoa trung
Vương gia từ miếu âm sum xứ
Hướng hữu linh quang tạ Hải Ðông)
Trú trì tại chùa Hà Trung không bao lâu thì
Nguyên Thiều tịch. Thụy hiệu Hạnh Ðoan Thiền Sư là do chúa Nguyễn Phúc Chu
tặng sau khi Nguyên Thiều mất. Trước khi tịch, ông có để lại bài kệ sau
đây:
Lặng lẽ gương không chiếu bóng
Sáng trưng ngọc chẳng thâu hình
Rõ ràng Vật không phải Vật
Mênh mông Không chẳng là Không.
(Tịch tịch cảnh vô cảnh
Minh minh châu bất dung
Ðường đường vật phi vật
Liêu liêu không vật không).
Tháp Hóa Môn
được dựng trên một khu đồi nhỏ xóm Thuận Hóa, làng Dương Xuân Thượng. Bía
đã chùa Quốc Ân nói về Nguyên Thiều thì mãi đến năm 1725 mưói dựng, do
chúa Nguyễn Phúc Chú (1725-1738) đề. Chúa Nguyễn Phúc Chu không những ban
thụy hiệu cho Nguyên Thiều mà còn làm mọt bài minh khắc vào bia để ca tụng
đạo đức thiền sư. Bài minh ấy như sau:
Cao vút trí tuệ
Phạm hạnh vun trồng
Giới đao một lưỡi
Trăng nước thung dung
Ngồi đứng một thân
Trong lặng kiên cường
Hoằng pháp lợi người
Quán thân vốn không
Mây từ che khắp
Trời tuệ chiếu cùng
Ngắm đi ngắm đi
Thái Sơn oai hùng
(Ưu ưu bát nhã
Ðường đường Phạm thất
Thủy nguyệt ưu du
Giới trì chiến lật
Trạm tịch cô kiên
Trác lập khả tất
Quán thân bổn không
Hoằng pháp lợi vật
Biển phú từ vân
Phổ chiếu tuệ nhật
Chiêm chi chiêm chi
Thái Sơn ngật ngật)
Thiền sư
Giác Phong
Thiền sư là người khai sơn chùa Thiên Thọ,
tức là chùa Báo Quốc, ở núi Hàm Long, Thuận Hóa. Ông tới Ðại Việt có lẽ
trước ngày Nguyên Thiều đi Quảng Ðông. Tiểu truyện về ông và lịch sử
truyền thừa chùa Thiên Thọ còn đợi khảo chứng. Sách Hàm Long Sơn Chí
của cư sĩ Ðiềm Tịnh trước tác mà Mật Thể đã được đọc trước khi viết
Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (đó là một bản chép tay - sách này chưa
từng được khắc bản) hiện giờ bị thất lạc, chưa tìm ra được.
Thiền sư Liễu Quán khi còn là du tăng đã
tới chùa Thiên Thọ và thụ giáo với thiền sư Giác Phong. Ðó là vào những
năm 1690 - 1691. Sách Hải Ngoại Kỷ Sự của Thạch Liêm cũng không
thấy nhắc tới Giác Phong và chùa Thiên Thọ.
Thiền sư Tử
Dung
Pháp tự là Minh Hoằng, thiền sư Tử Dung đã
khai sơn chùa Ấn Tôn, tức là chùa Từ Ðàm ngày nay. Chùa Ấn Tôn tọa lạc tại
Long Sơn, phía trên núi Hàm Long; chùa thuộc địa phận làng Bình An, huyện
Hương Thủy. Thiền sư là người Quảng Ðông, chưa biết sinh năm nào và qua
Ðại Việt năm nào. Ông thuộc đời 34 dòng Lâm Tế. Có thể là ông đã qua Ðại
Việt theo lời mời của Nguyên Thiều. Bảng chùa Ấn Tôn ghi là chùa được tạo
dựng năm 1703, nhưng chắc thiền sư Tử Dung đã cư trú tại đây nhiều năm
trước khi chùa được xây cất xong. Bằng cớ là khi thiền sư Liễu Quán từ Phú
Yên ra cầu pháp với ông năm 1702 thì cũng được tới Long Sơn, nghĩa là một
năm trước khi công tác xây cất được hoàn tất.
Trong số các vị đệ tử đắc pháp với ông,
thiền sư Liễu Quán là người được ông yêu mến nhất. Tuy vậy thiền sư Liễu
Quán đã không thay thế ông tại chùa Ấn Tôn sau khi ông tịch, mà lại khai
sơn một tổ đình khác: đó là chùa Thiền Tôn. Liễu Quán cầu pháp với ông
nhưng không cư trú chùa Ấn Tôn. Lần đầu ông gặp Tử Dung vào năm 1702. Lần
gặp gỡ thứ hai là vào năm 1708. Lần này Tử Dung chứng thực sự cho sự đạt
ngộ của Liễu Quán. Lần thứ ba hai người gặp nhau tại Quảng Nam khi cùng
tới dự lễ Toàn Viện, và lần này Liễu Quán đem trình ông một bài kệ “tắm
Phật”. Ðó là vào năm 1712. Chưa biết thiền sư Tử Dung tịch vào năm
nào. Trong số những vị kế thế Tử Dung tại chùa Ấn Tôn, có: Thực Vinh, Sát
Ngữ, Ðạo Trung và Thanh Dũng.
Thiền sư Từ Lâm
Thiền sư là tổ khai sơn chùa Từ Lâm. Chùa
này tọa lạc ở trên một khu đồi làng Dương Xuân, Thuận Hóa. Năm 1697 khi
làm Hòa Thượng Ðường Ðầu cho giới đàn trong đó có thiền sư Liễu Quán đến
thụ giới, thì thiền sư Từ Lâm đã già lắm rồi, và mọi người đều tôn xưng
ông là Lão Hòa Thượng. Có lẽ ông đã sang Ðại Việt vào khoảng đồng lúc với
thiền sư Nguyên Thiều. Giới đàn mà ông làm chủ tọa đã được tổ chức hai năm
sau giới đàn của thiền sư Thạch Liêm. Thạch Liêm hẳn đã không được gặp
ông, bởi sách Hải Ngoại Kỷ Sự cũng không nhắc đến tên ông. Không
biết thiền sư Từ Lâm tịch vào năm nào. Mộ ông hiện còn tại chùa Từ Lâm.
Thiền sư Pháp Bảo
Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo, người Phúc
Kiến, là người khai sơn chùa Chúc Thánh Quảng Nam. Tương truyền ông từ
Quảng Ðông được Nguyên Thiều mời qua Ðại Việt trong thời chúa Nguyễn Phúc
Trăn (1687-1691), và sau khi tham dự giới đàn tại chùa Linh Mụ, ông vào
Quảng Nam dựng chùa này. Hia vị đệ tử đầu của ông là Chánh Hiền và An
Triêm. Chùa Chúc Thánh trở nên mọt tùgn lâm lớn, từ ddaay pháp sinh ra các
chùa Phúc Lâm, Vạn Ðức, cùng một môn phái. Chùa Phúc Lâm tạo lạc ở xã Quy
Chế, huyện Diên Phước. Chùa Vạn Ðức cũng có tên là chùa Lang Thọ, cũng tọa
lạc ở huyện Diên Phước. Thiền sư Pháp Bảo có để lại bài kệ truyền pháp sau
đây:
Minh thực pháp toàn chương
Ấn chân như thị đồng
Chúc Thánh thọ thiên cửu
Kỳ Quốc tộ địa trường
Ðắc chính luật vi tuyên
Tổ đạo hạnh giải thông
Giác hoa bồ đề thọ
Sung mãn nhân thiên trung
Dịch:
Hiểu thấu pháp chân thực
Ấn Chân Như hiện tiền
Cầu Thánh quân tuỏi thọ
Chúc đất nước vững bền
Giới luật nêu trước tiên
Giải và Hạnh nối liền
Hoa nở cây giác ngộ
Hương thơm lừng nhân thiên
Quốc sư Hưng Liên
Pháp danh Quả Hoằng, trú trì chùa Tam Thai,
Quảng Nam. Ông là đệ tử của thiền sư Thạch Liêm, sang Ðại Việt vào khoảng
đời chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691). Có lẽ ông là người đầu tiên đem
tông phái Tào Ðộng vào Ðàng Trong của Ðại Việt. Ông được chúa Nguyễn Phúc
Chu tôn làm quốc sư, trước khi Thạch Liêm qua Ðại Việt. Là đệ tử của Thạch
Liêm, chắc hẳn ông đã giới thiệu thầy mình với chúa Nguyễn Phúc Trăn, cho
nên chúa này đã hai lần cho người sang Quảng Ðông cầu thỉnh Thạch Liêm.
Không biết ai dã được ủy đi mời trong hai lần này. Theo sách Hải Ngoại
Kỷ Sự, hai làn mời này đều có thư của chúa Nguyễn. Có thể là thư mời
thứ hai đã được thiền sư Nguyên Thiều mang đi. Nhưng Hải Ngoại Kỷ Sự
tuyệt nhiên không đề cập tới thiền sư Nguyên Thiều. Lần mời thứ ba, thư
của Nguyễn Phúc Chu được Trần Thiêm Quan và Ngô Tư Quan
đem đi, lần này quốc sư Hưng Liên cũng có viết thư kèm theo.
Ông là người khai sơn chùa Tam Thai ở Quảng
Nam. Chùa Tam Thai tọa lạc ở phía Tây Ngũ Hành Sơn, huyện Diên Phước. Tại
núi Tam Thái có tháp Phổ Ðồng, Hoa Nghiêm Thạch Ðộng và Hoa Nghiêm Vân
Ðộng, có chạm chữ trên vách đá. Những tên động này là do thiền sư Thạch
Liêm đặt trong lúc viếng chùa năm 1695. Còn tháp Phổ Ðồng có thể là do
thiền sư Hưng Liên dựng, cũng có thể là do thiền sư Nguyên Thiều dựng
trước khi Hưng Liên tới
Thiền sư Thạch Liêm rất hâm mộ núi Tam Thai
và các động trên núi. Hải Ngoại Kỷ Sự còn ghi một bài trường ca
Du Tam Thai Sơn và hai bài thất ngôn bát cú vịnh núi Tam Thai. Ông lại
đặt tên núi là núi Hải Dũng. Trước khi Thạch Liêm về nước, ông tỏ ra không
hài lòng với quốc sư Hưng Liên. Số là vị thiền sư này có che chở cho một
người khách trú tên là Lưu Thanh, có đến nói với Thạch Liêm vận động cho
Lưu Thanh được giữ chức cai phu quản lý hàng hóa ngoại quốc. Sau này Lưu
Thanh dựa thế quốc chúa đi vay tiền của các chủ thuyền. Thạch Liêm biết
được viết thư cho chúa Nguyễn yêu cầu cách chức Lưu Thanh mặc dù có sự năn
nỉ của quốc sư Hưng Liên, mặc dù chúa Nguyễn Phúc Chu không muốn làm mất
lòng Hưng Liên, và mặc dù Lưu Thanh có đến lạy lục ông và đem cúng dường
vàng bạc để mong ông làm ngơ. Ông viết những câu rất nặng trong thư gửi
chúa Nguyễn Phúc Chu: “Chỉ tiếc quốc sư đã thành một vị tỳ khưu bạc đầu,
không biết lo đến ngày mai, không cấp tốc lo bổn phận {giải thoát} của
mình, mà lại cam tâm cùng bọn giam hiểm tiểu nhân, suốt sáng thâu đêm dùng
hết mưu kế tâm thuật, chỉ mong quốc vương chẳng nghe lời ta. Ấy là muốn
cho đạo ta chẳng được lưu hành. Tấm lòng đệ tử trả ơn cho thầy, há nên như
thế chăng? Nhưng dạo ta chẳng lưu hành thì đạo y có thể lưu hành được
không?”
Những dòng chữ trên cho ta biết Hưng Liên
từ ngày Thạch Liêm tới Ðại Việt đã không còn giữ được địa vị tôn kính cũ.
Hải Ngoại Kỷ Sự không cho biết Lưu Thanh có bị cách chức không. Và
ta cũng không biết quốc sư Hưng Liên tịch năm nào. Chỉ biết vào năm 1696
ông đã được Thạch Liêm gọi là “một vị tỳ khưu bạc đầu”.
Ðáng tiếc chúa Nguyễn trước đó đã không mời thiền sư Nguyên Thiều làm quốc
sư vậy.
Thiền sư Pháp Hóa
Thiền sư tục
danh là Lê Diệt, người Phúc Kiến, sinh năm 1670, hiệu là Minh Hải Phật
Bảo. Ông khai sơn chùa Thiên Ấn, Quảng Ngãi. Ông tịch năm 1754; và đã trú
trì tại đây trong suốt 60 năm. Như vậy có nghĩa là ông bắt đầu dựng Thiên
Ấn năm 1694, trước năm Thạch Liêm sang Ðại Việt một năm. Có lẽ ông đã sang
Ðại Việt cùng với thiền sư Nguyên Thiều khi ông này từ Quảng Ðông về Ðại
Việt và như vậy có nghĩa là lúc ông chỉ mới trên hai mươi tuổi.
Năm 1716 chùa Thiên Ấn được chúa Nguyễn
Phúc Chu ban biển ngạch “Sắc tứ Thiên Ấn tự”. Tục truyền rằng khi ông bắt
đầu khởi công đào giếng trên núi Thiên Ấn, có một vị tăng trẻ tuổi từ đâu
không biết lên núi phát nguyện đào giúp với ông. Suốt ba năm, hia người
đào được 55 thước mộc (21 mét) bề sâu. Tới đó họ gặp một tảng đá lớn chắn
ngang. Họ không nản lòng, bắt đầu hì hục đục đá. Mấy tuần lễ sau đó có một
mạch nước từ giữa tảng đá phụt lên. mọi người đều mừng rỡ. Nhưng ngay sau
đó, như sư trẻ đi đâu biệt tích. Dân chúng Quảng Ngãi ngày nay còn truyền
tụng câu ca dao sau đây để nói về chuyện cái giếng trên núi Thiên Ấn:
Ông thầy đào giếng trên non
Ðến khi có nước không còn tăm hơi.
Chùa Thiên Ấn
còn nổi tiếng vì cái “chuông thần”. Chuyện chuông thần được xẩy ra năm
1845 hồi vị tổ thứ ba của chùa là thiền sư Bảo Ấn thấy một vị hộ pháp tới
làm lễ và mách rằng tại làng Chú Tượng (hiện là ấp Chú Tượng, xã Ðức Thọ,
huyện Mộ Ðức, tỉnh Quảng Ngãi) có một quả Ðại Hồng Chung, nên đến để thỉnh
về chùa. Xuất định, ông nhờ một vị tăng tến là Ðiển Tọa đi đến là Chú
Tượng dò hỏi. Tại đây dân làng nói rằng họ vừa đúc xong một Ðại Hồng Chung
để dùng trong chùa làng, nhưng vì chuông không kêu nên ban chức việc định
phá ra đúc lại. Sư Ðiền Tọa hỏi mua lại cho chùa Thiên Ấn.
Lễ khai chuông tổ chức tại chùa Thiên Ấn
với bao nhiêu hồi hộp vì ai cũng nghi ngại cho rằng chuông sẽ không kêu.
Nhưng thiền sư Bảo Ấn vẫn im lặng chú nguyện. Ðến khi ông cầm dùi chuông
khai chung thì một tiếng ngân tròn và ấm vang lên ngân vọng khắp núi đồi.
Quả chuông hiện nay còn ghi tên là Chú Tượng và được trên phía tả chính
điện Thiên Ấn.
Ông Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) có làm bài
thơ sau đây vịnh núi, chùa và chuông Thiên Ấn:
Phong cảnh ta đây thật rất xinh
Niêm hà có ấn của trời sinh(83)
Xem kia dấu tích còn vuông vức
Nhận lại non sông rõ dạng hình
Cách thức như in đồ Cổ Tự
Cỏ cây nào phụ tiếng chuông linh
Châu sa đổ dưới chân chờ mãi
Trấn chỉ sau lưng núi Cẩm Thành
Năm vị tổ sư
nối tiếp của Pháp Hóa để trú trì chùa Thiên Ấn là những vị sau đây: Khánh
Vân, Bảo Ân, Giác Tính, Hoằng Phúc, Diệu Quang. Tháp của cả 6 vị đều được
dựng trên núi Thiên Ấn
Thiền sư Tế Viên
Thiền sư Tế Viên khai sơn chùa Hội Tôn ở
Phú Yên. Thiền sư Liễu Quán hồi còn hai mươi tuổi đã tới học ở đây với
ông. Ðó là vào năm 1682. Không biết ông qua Ðại Việt năm nào, nhưng chắc
chắn không là do thiền sư Nguyên Thiều mời sang nhân chuyến đi Quảng Ðông
của ông này trong đời chúa Nguyễn Phúc Trăn. Ông tịch năm Liễu Quán mới19
tuổi, nghĩa là vào năm 1689, trước ngày Thạch Liêm qua Việt.
Thiền sư Thạch Liêm
Ông là trú trì chùa Trường Thọ ở Quảng
Ðông, được chúa Nguyễn Phúc Chu mời sang Ðại Việt năm 1695. Chúa thụ Bồ
Tát giới với ông. Ông ở chùa Thiền Lâm, sau dời về chùa Linh Mụ. Chương
sau sẽ nói nhiều về ông.
MÔN PHÁI LIỄU QUÁN
Nếu ở Ðàng Ngoài thiền sư Chân Nguyên được
xem là nhân vật then chốt để phục hưng Phật Giáo Ðàng Ngoài, thì ở Ðàng
Trong thiền sư Liễu Quán cũng được xem là vị thiền sư lãnh đạo công cuộc
phục hưng Phật Giáo Ðàng Trong.
Ông là người làng Bạc Mã, huyện Ðồng Xuân,
tỉnh Phú Yên, sinh năm 1670 từ một gia đình nghèo. Ông mồ côi mẹ từ hồi
lên sáu tuổi. Năm mười hai tuổi ông đi chùa Hội Tôn với cha. Gặp thiền sư
Tế Viên, ông rất yêu mến và xin ở lại chùa để học đạo. Cha ông ưng thuận.
Làm chú tiểu ở chùa Hội Tôn, ông được thiền sư Tế Vien thương yêu. Ông ở
lại, làm việc nấu nước, nhặt rau, học Hán tự, hai thời khóa tụng, luật sa
di và những kinh điển dễ học. Chín năm sau, thiền sư viên tịch. Lúc bấy
giờ ông mới mười chín tuổi. Tang lễ của thầy làm xong, ông để chùa cho các
sư huynh trông nom, một mình lên đường học đạo. Năm 1690, ông vượt núi băn
ngàn ra tận Thuận Hóa núi Hàm Long, cầu học với thiền sư Giác Phong. Ông
được chấp nhận ở lại đây để tu học. Ai ngờ mới được một năm tròn thì ông
nghe tin thân phụ bị bệnh. Ông xin phép trở lại quê nhà để lo săn sóc cho
cha. Hàng ngày ông lên rừng đốn củi, đem về đổi vạo nấu cơm cho cha ăn.
Bốn năm sau, thân phụ ông từ trần. Lo ma chay cho cha xong, ông lại lên
đường học đạo. Năm 1695, nghe nói thiền sư Thạch Liêm tổ chức giới đàn lớn
tại chùa Thiền Lâm, Thuận Hóa, ông đến xin ghi tên thụ giới tỳ khưu tại
giới đàn do thiền sư Từ Lâm là Hòa Thượng Ðường Ðầu. Ðó là năm 1697, lúc
ông được 27 tuổi. Ðịnh cư hai năm, ông lại lên đường cầu học, tham lễ khắp
các tổ đình. Năm 1702 ông được gặp thiền sư Tử Dung tại chùa Ấn Tôn núi
Long Sơn, Thuận Hóa. Thiền sư dạy; ông tham khảo về công án: “Muôn pháp về
một, một về chỗ nào?” (Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ?). Ông rút về núi
Phú Yên tĩnh cư, tham cứu đến năm năm mà chưa phá vỡ được công án ấy,
trong lòng lấy làm hỗ thẹn. Một hôm đọc Truyền Ðăng Lục đến câu
“trỏ vật mà truyền tâm, chính vì vậy mà người ta không hiểu” (Chỉ vật
truyền tâm, nhân bất hội xứ), thoạt nhiên ông thấy tỏ ngộ, bèn buông sách
xuống. Mùa xuân năm 1708, ông trở ra Long Sơn, trình bày công phu mình với
thiền sư Tử Dung. Tử Dung nói:
Hố thẳm buông tay
Một mình cam chịu
Chết đi sống lại,
Ai dám chê mình.
Ông vỗ tay
cười. Tử Dung nghiêm nét, nói: “Chưa được”. Ông lại nói: “Trái cân vốn là
sắt” (Bình thùy nguyên nhị thiết). Tử Dung lắc đầu.
Sáng hôm sau, Tử Dung thấy ông đi ngang,
gọi lại bảo: “Chuyện ngày hôm qua nói chưa xong, hôm nay hãy nói lại xem”.
Liễu Quán đọc:
Sớm biết đèn là lửa
Cơm chín đã lâu rồi!
Bây giờ Tử Dung không tiếc lời khen ngợi.
Mùa hè năm 1712 khi hai người gặp nhau lần thứ ba tại đại lễ Toàn Viện tại
Quảng Nam, Liễu Quán đem trình Tử Dung bài kệ Tắm Phật mà ông mới
làm. Tử Dung hỏi: “Tổ truyền cho tổ, Phật truyền cho Phật, chẳng hay họ
truyền nhau cái gì nhỉ?” (Tổ tổ tương truyền, Phật Phật thụ thụ, vị
thẩm truyền thụ các thập ma?)
Liễu Quán đọc liền hai câu:
Búp măng trên đá dài hơn trượng,
Cây chổi lông rùa nặng mấy cân.
(Thạch duẩn trừu điều trường nhất trượng
Quy mao phủ phất trong tam cân)
Tử Dung lại đọc:
Chèo thuyền trên núi cao
Phi ngựa dưới đáy biển
(Cao cao sơn thượng hành thuyền
Thâm thâm hải để tẩu mã)
Liễu Quán lại
đọc tiếp:
Dây đứt đàn tranh chơi suốt buổi
Gảy sừng trâu đất rống thâu đêm
(Chiết giác nê ngưu triệt dạ hống
Một huyền cầm tử vận nhật đàn)
Tử dung gật
đầu tỏ ý rất bằng lòng.
Thiền sư Liễu Quán lúc bấy giờ đã 42 tuổi.
Ông đã có nhiều đạo tràng hành đạo: đó là chùa Thiền Tông, chùa Viên Thông
(Thuận Hóa) và các chùa Hội Tông, Cổ Lâm và Bảo Tịnh ở Phú Yên. Chùa Thiền
Tông được tạo dựng ở núi Thiên Thai, vào khoảng năm 1708. Mãi đến năm
1747, nghĩa là năm năm sau khi thiền sư Liễu Quán tịch, chùa mới được chúa
Nguyễn Phúc Khoát ban biển ngạch sắc tứ. Ðại Hồng Chung hiện giờ của chùa
cũng được đúc vào năm đó, tức là năm Cảnh Hưng thứ tám. Chùa Viên Thông
cũng được Liễu Quán tạo dựng ở chân núi Ngự Bình. Chúa Nguyễn Phúc Khoát
rất sùng kính đạo hạnh của ông, nhiều lần triệu thỉnh vào phủ, nhưng ông
một mực từ chối, không muốn lui tới nơi triều đình. Vì vậy, chúa thường
tới chùa Viên Thông ở chân núi Ngự Bình để thăm ông và hỏi đạo. Vì lý do
đó, ngọn núi kia được gọi là núi Ngự. Bốn giới đàn lớn được tổ chức liên
tiếp trong ba năm, từ 1733 đến 1735 tại Thừa Thiên, có sự tham dự của các
cao tăng và các bậc tể quan cư sĩ ở kinh đô; thiền sư Liễu Quán được thỉnh
cầu chủ tọa. Giới Phật tử rất hâm mộ ông, cho nên năm 1740 lại tỉnh cầu
ông chủ tọa giới đàn Long Hoa. Xong giới đàn này, ông trở về chùa Thiền
Tông. Năm 1742, tuy đã 72 tuổi, ông vẫn phải làm Hòa Thượng Ðường Ðầu của
giới đàn tổ chức tại chùa Viên Thông. Ðệ tử thụ giới của ông kể cả xuất
gia lẫn tại gia có tới gần bốn ngàn người.
Mùa thu năm ấy, Liễu Quán an trú tại chùa
Viên Thông; sáng ngày 21 tháng 11 âm lịch, ông gọi thị giả mang giấy bút
tới, và viết bài kệ sau đây:
Ngoài bảy mươi năm cõi sắc không
Sắc không không sắc đã dung thông
Sáng nay vẹn ước, về quê cũ
Há phải tìm cầu hỏi tổ tông
(Thất thập dư niên thế giới trung
Không không sắc sắc diệc dung thông
Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lý
Hà Tất bôn mang vấn tổ tông?)
Viết bài kệ
xong, ông ngồi dùng trà. Ðại chúng lên làm lễ, có người than khóc. Ông
nói: “Quý vị đừng khóc. Các đức Phật thị hiện còn nhập Niết bàn, còn tôi
thì đường đi nẽo về đã rõ ràng, không việc chi phải khóc”. Mọi người im
lặng. Thầy trò nói chuyện hồi lâu, ông hỏi: “Ðã đến giờ mùi chưa?” Mọi
người đáp: “Phải”. Ông nói: “Sau khi tôi đi, quý vị phải nghĩ đến sự vô
thường nhanh chóng của cuộc đời mà siêng năng tu tập trí tuệ, chớ quên lời
dặn của tôi”. Nói xong ông nhắm mắt mà tịch trong tư thế kiết già.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát sắc làm bia và tháp
cho ông, và ban thụy hiệu là “Ðạo Hạnh Thụy Chính Giác Viên Ngộ Hòa
Thượng”.
Tháp ông được dựng tại chùa Thiền Tông trên
núi Thiên Thai. Ông là người thuộc đời thứ 35 dòng Lâm Tế. Ông để lại bài
kệ truyền pháp sau đây:
Thiệt tế đại đạo
Tính hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận,
Ðức bổn từ phong
Giới định phúc tuệ
Thể dụng viên thông
Vĩnh siêu trí quả
Một khế thành công
Truyền trì diệu lý
Diễn xướng chính tông
Hành giải tương ứng
Ðạt ngộ chân không
Dịch:
Ðường lớn thực tại
Biển thể tính trong
Nguồn tâm thấm khắp
Gốc đức vun trồng
Giới định cùng tuệ
Thể dụng viên thông
Quả trí siêu việt
Hiểu thấu nên công
Thuyền giữ lý mầu
Tuyên dương chính tông
Hành giải song song
Ðạt ngộ chân không
Thiền sư Liễu Quán đã làm cho thiền phái
Lâm Tế trở thành một thiền phái linh động, có gốc rễ ở Ðàng Trong. Trước
ông, Phật Giáo ở Ðàng Trong mang nặng màu sắc Quảng Ðông. Ông đã Việt hóa
thiền phái Lâm Tế, và làm cho thiền phái này trở thành thiền phái của đa
số Phật tử Ðàng Trong. Kiến trúc lễ nhạc bắt đầu trút bỏ màu sắc Trung
Quốc và từ từ mang lấy màu sắc dân tộc. Những bài tán lễ như “Cực lạc Từ
Hàng” chẳng hạn, đã hoàn toàn mang màu sắc Việt. Bốn vị đệ tử lớn của ông
là Tổ Huấn, Trạm Quan, Tế Nhân và Từ Chiếu dã tạo lập bốn trung tâm hoằng
đạo lớn, và hàng chục tổ đình được tạo dựng khắp Ðàng Trong trong thế
kỷthứ mười tám đã thuộc về môn phái Liễu Quán. Phong trào Phật Giáo phục
hưng ở thế kỷ thứ hai mươi đã dựa trên cơ sở của môn phái mang tên ông.
DẦU CHÂN HOẰNG HÓA TẠI CÁC
VÙNG ÐẤT MỚI
Vào thế kỷ thứ mười tám, khi các chúa
Nguyễn mở rộng bờ cõi về phía Nam thì một số cao tăng cũng theo làn sóng di cư đến trác tích tại các miền
đất mới. Ở Ðông Phố (Gia Ðịnh), có thiền sư Ðạt Bổn từ Quy Nhơn vào lập
chùa Thiên Trường năm 1755. Chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe tiếng ông, ban
tặng cho chùa biển ngạch đề “Phổ Quang Thiên Sơn Tự”. Sau đó, chùa
lại đổi tên là Kim Chương. Thiền sư Quang Triệt lên kế vị ông sau khi ông
tịch. Năm 1775, gặp thời nhiễu nhương, Hòa Nghĩa Ðạo Lý tướng quân suy tôn
đông cung Nguyễn Phúc Dương lên kế nghiệp chúa Nguyễn để chống nhau với
cách mạng Tây Sơn, đã cử hành lễ suy tôn tại chùa này. Vì vậy, sau đó chùa
lại được ban sắc tứ là “Kim Chương Tự”. Người tiếp nối Quang Triệt là
thiền sư Quang Tuệ. Một ngôi chùa khác cũng được thành lập tại Gia định
trong thời chúa Nguyễn Phúc Khoát là chùa Tập Phước. Có lẽ vị tổ khai sơn
chùa này là một vị thiền sư đời 36 của dòng Lâm Tế. Theo các linh vị còn
để thờ tại chùa thì đời thứ 37 là thiền sư Thánh Ðắc, đời thứ 38 là thiền
sư Phước Thường, đời thứ 39 là thiền sư Ấn Thập và đời thứ 40 là thiền sư
Hoàng Trí. Trịnh Hoài Ðức từng làm thơ tặng một vị thiền sư tên là Viên
Quang tại chùa Tập Phước. Sách Ðại Nam Liệt Truyện Tiền Biên nói
rằng thiền sư Viên Quang thuộc đời thứ 36 dòng Lâm Tế nhưng lại nói rằng
Viên Quang tu tại chùa Giác Lâm, cũng ở Gia Ðịnh. Có lẽ thiền sư Viên
Quang này là người đã khai sơn chùa Tập Phước, sau đó đã giao lại Tập
Phước cho đệ tử trông nom rồi dời về chùa Giác Lâm ở cho được thanh tịnh
hơn. Giả thuyết thứ hai: thiền sư Mật Hoằng đã khai sơn chùa Tập Phước và
đã mời sư huynh mình là Viên Quang đến cư trú với mình. Sau khi Mật Hoằng
được triệu về kinh sung chức trú trì chùa Quốc Ân thì Viên Quang cũng về
cư trú tại Giác Lâm. Hai thiền sư này đều là đệ tử của thiền sư Linh Nhạc
thuộc pháp phái Nguyên Thiều, gốc ở chùa Thập Tháp.
Nhưng các vị du tăng hành đạo còn đi xa hơn
là Gia Ðịnh, về thấu các nơi như Biên Hòa, Tây Ninh, Hà Tiên v.v... Ở Tây
Ninh chẳng hạn, thiền sư Ðạo Trung khai sơn chùa Linh Sơn ở núi Ðiện Bà
vào năm 1763. Ông là đệ tử của thiền sư Ðại Cơ, và thuộc đời thứ tư của
môn phái Liễu Quán. Ðại Cơ là đệ tử của Tế Giác, và Tế Giác là đệ tử trực
tiếp của Liễu Quán. Ðạo Trung sau 30 năm trú trì tại Linh Sơn, giao sơn
môn này cho đệ tử là Tính Thiện và về khai sơn chùa Long Hưng ở Thủ Dầu
Một. Ðó là vào năm 1794.
Ở Hà Tiên thì có thiền sư Hoàng Lung. Theo sách Ðại Nam Liệt Truyện
Tiền Biên, thiền sư Hoàng Lung là người Quy Nhơn. Ông vân du tới tỉnh
Hà Tiên. Tại đây thấy núi Bạch Tháp ở phía Bắc đỉnh Vân Sơn núi non quanh
co, cỏ cây xanh tốt, ông liền dừng bước hoằng hóa tại đây. Ông tịch năm
1757. Ðệ tử làm lễ hỏa thiêu nhục thân và lập tháp để thờ xá lợi của ông.
---o0o---
[ Mục
Lục tập II]
[
Chương XVII ] [
Chương XVIII ] [
Chương XIX ]
[
Chương XX ] [
Chương XXI ] [ Chương XXII ]
[
Chương XXIII ] [
Chương XXIV ] [
Chương XXV
]
---o0o---
[ Mục Lục ] [ Tập I ]
[
Tập II ] [ Tập III ]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Vi Tính:
Nguyên Trang
Cập
nhật: 01-02-2004