2. THIÊN
THỨ HAI. THỜI ĐẠI BỘ PHÁI PHẬT GIÁO
(271 trước T.L - 200 T.L)
CHƯƠNG THỨ NHẤT. KẾT TẬP KINH ĐIỂN VÀ SỰ NGHIỆP CỦA A DỤC VƯƠNG ĐỐI VỚI PHẬT
GIÁO
I. KẾT TẬP KINH
ĐIỂN LẦN THỨ HAI
Đức Thích
Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm, sau thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ nhất
cũng khoảng 100 năm, lại có 700 vị Tỷ-khưu họp tại thành Phệ Xá Li (Vesali) để
kết tập kinh điển. Đấy là lần kết tập thứ hai, và còn gọi là “Phệ Xá Ly kết
tập”, hay “Thất bách tập pháp”.
Nguyên vì, Đức Thích Tôn diệt độ, sau khoảng
100 năm, có các vị Tỷ-khưu xuất thân từ giòng họ Tỳ Xá Ly (Viji) đề xướng ra
mười hành vi, chủ trương là thích hợp với giới luật của Tỷ-khưu, mười hành vi
đó như sau:
1.
Diêm-tịnh
(Singilonakappa). - Căn cứ vào giới luật, các Tỷ-khưu không
được để đồ ăn cách đêm. Nghĩa là các thứ đồ ăn phổ thông, không được để đến
ngày hôm sau rồi lại ăn, nhưng nếu đồ ăn đó đem ướp với muối, thì vẫn có thể
được dùng ở ngày hôm sau.
2. Chỉ tịnh
(Dvangulakappa). - Về bữa ăn của Tỷ-khưu phải là ở lúc chính ngọ, nhưng nếu
lúc đang đi giữa đường, thì bữa ăn có thể được dùng ở quá giờ ngọ một chút,
nghĩa là lúc mặt trời đã xế bóng chừng độ hai chủ (mỗi chủ: một thước năm tấc
ta).
3.
Tụ-lạc-gian tịnh
(Gamantarakappa). - Tỷ-khưu sau khi ăn rồi, nhưng nếu ở trước
giờ ngọ, tới chốn tụ lạc khác, xin được thức ăn, vẫn có thể được thọ dụng.
4. Trụ-xứ tịnh
(Avasakappa). - Một tháng hai kỳ, các Tỷ-khưu phải tận tập ở một trụ xứ nào đó
để làm lễ bố-tát, nếu trụ xứ quá hẹp, có thể được phân chia làm hai nơi để làm
lễ bố-tát.
5. Tùy-ý tịnh
(Anumatikappa). - Quyết nghị của đoàn thể xuất gia, cần phải toàn viên tận tập
để giải quyết, nhưng nếu gặp trường hợp không thể xuất tịch được, sau khi Giáo
đoàn quyết nghị, sẽ có thể đem những quyết nghị đó thông cáo sau.
6. Cửu-trụ tịnh
(Acinnakappa). - Có thể noi theo vào tiền lệ, nghĩa là noi theo vào những thể
lệ của người trước đã làm.
7. Sinh-hòa-hợp tịnh
(Amathitakappa). - Sau giờ ngọ, các Tỷ khưu không được ăn phi thời, nhưng có
thể được dùng nước hòa lẫn với sữa, không cần phải để sữa lắng xuống.
8.
Bất-ích-lũ ni-sư-đàn tịnh
(Adasakanisi Danakappa). - Tọa cụ của Tỷ-khưu, kích
thước bề dài, bề rộng phải theo đúng như quy định trong giới luật, nhưng nếu
là tọa cụ không có viền xung quanh có thể được dùng quá khuôn khổ đã định.
9. Thủy tịnh
(Jalogikappa). - Tỷ-khưu không được uống rượu, nhưng vì trường hợp bệnh hoạn,
dùng để làm thuốc, có thể pha lẫn với nước để uống.
10. Kim tiền tịnh
(Jatarapadikappa). - Tỷ-khưu vốn dĩ không được cầm tiền, nhưng nếu ở trường
hợp bất đắc dĩ, có thể được cầm tiền bạc, và súc tích tiền bạc(1).
Mười điều như trên, thực ra là vi phạm với
giới luật. Đứng về phương diện nghiêm khắc của giới luật mà giải thích là phi
pháp, nhưng đứng về mặt khoan đại mà giải thích, thì thích hợp với giới luật.
Các Tỷ-khưu ở phương Đông, đứng về phe tự do giải thích giới luật, nên dung
hứa mười điều kể trên.
Trong lúc đó, ở phương Tây, có một học giả
tinh thông giới luật, là Trưởng lão Da Xá (Yasa), du hành tới thành Phệ Xá Ly
(Vesali), gặp Ngài Bồ-tát, Ngài nhận thấy các Tỷ-khưu thuộc giòng Tỳ Xá Ly
khuyến hóa các tín đồ đem cúng dường tiền bạc, Ngài rất kinh ngạc. Vì mục đích
căn ngăn việc đó, nên Ngài đối trước tín đồ mà tuyên cáo: “Việc Tỷ-khưu cầm
tiền và nhận tiền là một cấm giới nghiêm trọng trong giới luật”, để cảnh cáo
các Tỷ-khưu. Các Tỷ-khưu cho rằng, Trưởng lão Da Xá có tính cách làm phương
ngại sự cúng dườøng của tín đồ và lăng mạ Tăng chúng. Rồi bắt Trưởng lão Da Xá
phải xin lỗi trước Đại chúng và tín đồ. Nhưng Trưởng lão Da Xá không nghe
theo, trốn vào thành, đối trước dân chúng công nhiên phát biểu mười hành vi
phi pháp như trên. Đại chúng thấy vậy liền tập Tăng tác pháp sấn xuất (đuổi ra
khỏi chúng, theo luật Phật, nếu một Tỷ-khưu nào đem lỗi xấu của Đại chúng công
bố trước tín đồ sẽ bị xuất chúng). Trưởng lão Da Xá liền trở lại phương Tây,
cảm khái về giới luật của Phật bị suy tàn, nên quyết đi vận động các bậc
Trưởng lão để giải quyết mười điều phi pháp, tránh mọi họa căn cho hậu thế.
Trưởng lão
Da Xá trước hết đi tới thành Kiều Thưởng Di (Kosambi) ở phương Tây, và phái sứ
giả đến các địa phương như Ma Thâu La (Mathùrà) và A Bàn Đề (Avanti) để cầu
thỉnh các bậc Trưởng lão, và chính tự mình đi tới núi Ahoganga, yết kiến
Trưởng lão Tam Phù Đà (Sambhùta), tới địa phương Sa Ha Xà Đế (Shaajàti) hỏi ý
kiến Trưởng lão Ly Bà Đa (Revata), đều được sự tán đồng, và đều cùng đi tới
thành Phệ Xá Ly. Sau khi tới thành Phệ Xá Ly lại cầu thỉnh bậc Trưởng lão ở
địa phương đó, là Tát Bà Ca Ma (Sabhakàmi). Tất cả Tăng chúng của hai phía
Đông, Tây gồm có 700 vị, hội họp để kết tập kinh điển và để nghị quyết về mười
hành vi kể trên là phi pháp hay không phi pháp.
Nhưng, trong lúc hội nghị, vì sinh nhiều ý
kiến bất đồng, không thể giải quyết ngay được, nên hội nghị đồng ý lựa chọn
một Ủy ban gồm tám người, của cả Đông và Tây. Bốn vị Trưởng lão ở phía Tây: Ly
Bà Đa, Tam Phù Đà, Da Xá và Tu Ma Na (Sumana). Bốn vị ở phương Đông: Tát Bà Ca
Ma, Sa Lưu (Sàtha), Khuất Xà Tu Tỳ Đa (Khujjasobhita), Bát Tát Bà Già Mi
(Vàsabhagàmi). Trưởng lão Ly Bà Đa, ủy viên của phương Tây, nêu ra từng điều
trong mười điều, để hỏi là hợp pháp hay phi pháp; Trưởng lão Tát Bà Ca Ma, ủy
viên của phương Đông, y vào giới luật để chiếu hợp từng điều và đã đáp là “Phi
pháp”. Như vậy, mười điều kể trên trở thành mười điều phi pháp. Trong cuộc hội
nghị, Đại chúng còn hợp tụng lại những Pháp tạng, trải qua một thời gian tám
tháng mới hoàn thành.
Nội dung cụ thể của kỳ kết tập thứ hai này,
tuy không thấy ghi chép tường tận trong các truyện, lục, nhưng mục đích của kỳ
kết tập này không phải là chỉ dành riêng cho việc giải quyết mười điều phi
pháp, mà còn để xác định lại giới pháp của Đức Thích Tôn đã quy định, để ngăn
ngừa mọi phi pháp pha trộn, đó là điều xác thực.
Mặt khác, phần đa số các Tỷ-khưu thuộc Đông
bộ, không phục tòng quyết nghị mười điều kể trên là phi pháp, nên cùng nhau
hội họp tại một nơi khác, và cũng để kết tập kinh điển, gọi là Đại kết tập
(Mahàsamgìti), hay là Đại chúng kết tập. Nội dung của cuộc kết tập là Kinh
tạng, Luật tạng, Đại pháp tạng và Tạp tạng thành bốn tạng, và còn gọi là Ngũ
tạng, có thêm Bồ-tát tạng.
Vì nguyên nhân trên, nên Giáo đoàn của Phật
giáo phân chia thành hai bộ phái là Thượng Tọa bộ (Thera) và Đại Chúng bộ
(Màhàsamghika). Thượng Tọa bộ thuộc phái Bảo thủ, Đại Chúng bộ thuộc phái Canh
tân.
II. SỰ NGHIỆP CỦA A DỤC VƯƠNG
ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
1. TIỂU SỬ A DỤC
VƯƠNG.
- Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 200 năm,
thì phạm vi của Phật giáo đã lan khắp các nước thuộc Trung Ấn Độ, trên lưu vực
sông Hằng Hà. Tới khi Đức Thích Tôn diệt độ chừng khoảng gần 300 năm thì phạm
vi của Phật giáo không những ảnh hưởng khắp trong nước mà còn lan tràn tới các
nước ngoài. Nghĩa là một tôn giáo đang ở trong phạm vi nội bộ, đột nhiên phát
triển thành một tôn giáo của thế giới, tạo thành một trang sử vẻ vang oai hùng
cho Phật giáo, đó là công lao hộ trì Phật giáo của quốc vương A Dục (Asoka).
Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, quốc vương
Tần Bà Sa La và A Xà Thế của nước Ma Kiệt Đà, thuộc vương triều Sisunàga (Thi
Tu Na Già); cách vài đời sau thì vương triều Sinunàga được thay thế là vương
triều Nanda (Nan Đà); kế tiếp vương triều Nanda là vương triều Maurya (Khổng
Tước).
Nước Ma Kiệt Đà, vì có dã tâm mong nắm quyền
bá chủ Trung Ấn, nên khi Đức Thích Tôn ở thời kỳ vãn niên, vua A Xà Thế đã ra
lệnh kiến thiết thành trì ở vùng Pàtaliputtra (Ba Sất Ly Tử), để chinh phạt
giòng họ Licchavi (Ly Xa Tỳ), sát nhập nước này vào nước mình dần dần uy thế
của vua trở nên mạnh, rồi nắm quyền bá chủ Trung Ấn.
Vào khoảng cuối thế kỷ thứ IV trước kỷ
nguyên, đại đế Alexander nước Hy Lạp đem quân quấy nhiễu phía Tây Ấn Độ, lúc
đó đang là đời vua Chandragupta (Chiên Đà La Cấp Đa), thuộc vương triều Khổng
Tước. Vua nhân cơ hội đó, đem quân tiến lên phía Bắc Ấn, dẹp được loạn quân Hy
Lạp lại thừa thế đem quân đánh dẹp cả bốn phương, thống nhất được lãnh thổ Bắc
Ấn, Trung Ấn và Tây Ấn, kiến thiết một đại đế quốc. Lần thứ hai, cũng tương tự
như Alexander, vua nước Ba By Lon là Seleucos đem quân xâm nhập Bắc Ấn, vua
Chandragupta lại cùng với Seleucos chiến đấu thắng lợi; vua Seleucos phải tặng
lãnh thổ ở Tây bộ sông Ấn Độ và gả con gái để cầu hòa. Đồng thời Seleucos lại
phải khiến sứ thần Megasthene, trú tại Hoa Thị Thành, thủ phủ nước Ma Kiệt Đà
đương thời để giao hảo thân thiện giữa hai nước.
Sau, con vua Chandragupta là Tân Đầu Sa La
(Bindusàra), nối đại nghiệp của phụ vương, rất khéo trị thế, nên các đời vua
của Hy Lạp đều tiếp tục thân thiện và thay đổi sứ thần ngoại giao. Ấy cũng vì
lý do đó, mà văn minh của hai nước Ấn Độ và Hy Lạp, mỗi ngày một tiếp xúc và
ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành một nền văn minh phồn thịnh cho Ấn Độ đương
thời. A Dục Vương đây tức là con của vua Tân Đầu Sa La, và là vương vị thứ III
của vương triều Khổng Tước.
Về đường giao thông xưa vì chưa thuận lợi,
nên ở quãng yếu lộ giữa trung tâm của Bắc Ấn và Trung ương bộ của Ấn Độ có
nước Đức Xoa Thi La (Taksasila), cổ lai là nơi văn hóa sớm được triển khai,
học thuật tiến bộ, nhân dân phong phú, nhưng vì ở cách xa thủ phủ Hoa Thị
Thành, nên uy lịnh của trung ương không đạt tới, thường thường hay dấy ra
những cuộc phản loạn. Vì thế Tân Đầu Sa La liền chọn những người thông minh
anh tuấn trong các hàng vương tử, tuyển nhậm làm chức quan Thái thú ở các địa
phương.
Ngoài ra, thành Ô Xà Diễn Ni (Ujjayanì) của
Tây Ấn Độ cũng là một yếu lộ giao thông cho các nước phương Tây, và là nơi rất
quan trọng để tập tán nền kinh tế. Vì lẽ đó, nên Vương tử A Dục được bổ nhậm
làm quan Thái thú ở Bắc Ấn Độ, và Vương tử lại phái khiển bộ hạ nhậm chức Thái
thú ở thành Ô Xà Diễn Ni.
Cách vài năm sau, Vương tử A Dục được tin
cấp báo là Phụ vương bị bệnh nặng, liền lập tức trở về Hoa Thị Thành. Sau khi
Phụ vương mất, các hàng vương tử sinh ra tranh nhau vương vị trong khoảng bốn
năm trường. Sau cùng, Vương tử A Dục thắng lợi, lên nối ngôi vua, thống nhất
được ba miền Trung, Bắc, Tây Ấn Độ, bỗng trở thành một vương vị của một Đại đế
quốc.
Về niên đại tức vị của A Dục Vương có nhiều
thuyết khác nhau(1).
Nhưng đại khái ở vào khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 218 năm, tức là 267 năm
trước kỷ nguyên.
A Dục Vương lên ngôi được chín năm, vì mục
đích thống nhất toàn Ấn Độ, nên vua đem quân chinh phạt nước Kalinga (Yết Lăng
Già) ở Nam Ấn Độ. Nhưng vì nước này là một đại cường quốc của Nam Ấn, trong
nước có rất nhiều dũng sĩ, phải đánh dẹp rất là gian nan vất vả, đôi bên đều
hao tổn rất nhiều tướng tá, binh sĩ. Kết cục, sau A Dục Vương đại thắng, thống
nhất toàn lãnh thổ Ấn Độ, uy tín của vua lừng lẫy khắp trong và ngoài nước.
Sau khi
chiến tranh kết liễu, vua rất buồn phiền và hối hận về sự thảm hại của chiến
tranh gây ra, nên đã phải giết hại biết bao lương dân vô tội, để lại biết bao
nhiêu là cô nhi quả phụ khổ cực. Vì thế, muốn để sám hối những tội lỗi đã gây
ra, nên vua quyết ý tin theo Phật giáo.
Về nhân
duyên tin theo Phật giáo của vua, một là nhờ vào nội nhân tức là chán ghét sự
chinh phạt, hai là nhờ sự giáo hóa của các vị Tỷ-khưu Ni Câu Luật (Nigrodha)
và Hải (Sémudra), nên vua biết tỉnh ngộ và phát nguyện hộ trì Phật giáo. Để tỏ
lòng chán ghét chiến tranh và hối hận việc đã làm nên vua ban bố sắc lệnh đại
lược như sau:
“Thiên Ái
Thiện Kiến Vương (Devànapìyapiyadasi, tên riêng của vua A Dục), tức vị năm thứ
9, chinh phạt nước Kalinga, bắt sống 15 vạn người, giết hại 10 vạn người, và
số người chết về tật dịch đói khát gấp bội. Kể từ ngày thôn tính nước Kalinga
tới đây, Thiên Ái rất nhiệt tâm hộ trì Đạt Ma để truyền bá khắp nơi. Nay đoái
lại những sự sát phạt, bắt bớ, và những sự giết hại ở nước Kalinga, Thiên Ái
rất lấy làm đau lòng đáng hối hận”.
Sau khi tin theo Phật giáo, lòng tín ngưỡng
của vua ngày một tăng, nên lại càng nhiệt tâm hộ trì Phật giáo. Tức vị tới năm
thứ 2, vua lại phát tâm thọ giới Ưu-bà-tắc, ngộ được chính trí, năm thứ 12,
thường thường công bố nhiều sắc lệnh chấn hưng Phật giáo. Vua tự mình bỏ nghề
chơi săn bắn, hạ lệnh cấm sát sinh, bảo hộ các loài sinh vật, giảm bớt các đồ
xa hoa, thường thường nghe các bậc Đại đức thuyết pháp, và đặt những đại trai
cúng dường.
Tức vị tới năm thứ 18, vua lại hết sức ủng
hộ việc kết tập kinh điển lần thứ III tại Hoa Thị Thành. Năm sau, vua phái
khiển các bậc Đạo sư thạc học đi các nước truyền đạo Phật; năm sau nữa, lại tự
mình đi chiêm bái các Phật tích, và dựng các bia tháp kỷ niệm.
Ngoài ra,
vua còn ra sắc lệnh kiến thiết nhiều chùa tháp, làm nhiều việc từ thiện, tận
tụy với công việc tuyên dương Chánh Pháp. Tới khi tuổi già, vua giao phó tất
cả mọi công việc chính trị cho hoàng tộc và các quan đại thần đảm nhiệm, tự
mình chuyên việc tu trì. Vua tại vị được 41 năm, thọ 70 tuổi.
2. SỰ NGHIỆP CỦA
VUA ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO.
- Các sử gia thường thường đem so sánh về sự
nghiệp của A Dục Vương đối với Phật giáo, còn hơn cả về sự nghiệp của đại đế
Constantine của La Mã bảo hộ Thiên Chúa giáo. Nay kể đại khái về sự nghiệp của
vua như sau:
Sự nghiệp
ban bố sắc lệnh.
- Vua tức vị từ năm thứ 12 cho tới năm thứ 39, trong
khoảng 27 năm, thường thường đã bố cáo nhiều sắc lệnh. Những sắc lệnh này đã
được khắc vào các hang núi, cột đá hay bia đá, mà ngày nay đã phát hiện được ở
nhiều nơi, trong toàn cõi Ấn Độ. Những sắc lệnh đó thật là những cống hiến sử
liệu quý báu cho các sử gia, các nhà học giả khảo cổ, để biết được ảnh hưởng
của Phật giáo, biết được phạm vi và thế lực của vua lúc đương thời.
Sự nghiệp
truyền đạo.
- Sau khi chinh phạt nước Kalinga, vua đã thắng lợi bằng võ
lực, nhận chân được sự thảm hại của chiến tranh.
Nhưng sự thắng lợi chân thật của vua là Đạt
Ma, tức là thắng lợi về chánh pháp. Để thực hiện về sự thắng lợi này, nên
trong khoảng năm tức vị thứ 13 và 14, vua đã phái khiển các bậc Chánh pháp Đại
quan (Dhamma Mahàmàtà) đi truyền đạo Phật ở khắp trong nước và ngoài nước, để
khuyến tưởng sự an lạc cho nhân dân, hạnh phúc cho nhân loại. Các nước mà vua
đã phái khiển các Đại quan đến truyền đạo như: Hy Lạp, Ai Cập, Syria, và hầu
hết các địa phương ở Đông bộ duyên ngạn Địa Trung Hải; các nước thuộc phương
Bắc như: Aparàntaka, Kamboja; phương Nam như: Pulinda, Bhoja, Pitinika,
Andhra, Cola, Pàndya và Tambapanni. Đặc biệt việc phái khiển Đại quan truyền
đạo tới Tambapanni (Tích Lan) là ngài Mahinda (Mahendra, tên tiếng Pàli) lại
là con của vua. Vị này có nhiều công lao xây nền đắp móng cho Thượng tọa bộ
thuộc Nam phương Phật giáo.
Sự nghiệp
từ thiện và đạo đức. - Vua đã ban bố những sắc lệnh: trồng các cây dược
thảo để chữa bệnh cho nhân dân; đào các giếng bên đường để lấy nước cho người
và động vật uống, dùng; lập các “Thí liệu viện” để chữa bệnh và nuôi người già
yếu tàn tật.
Tức vị năm thứ mười hai, vua hạ sắc lệnh cho
các địa phương, cứ mỗi năm năm một lần, quan và dân phải tề tập để mở Vô giá
Đại hội (Anusamayàna), nghĩa là trong cuộc tập hội, phải cúng dường các
Sa-môn, Bà-la-môn; tôn trọng tính mệnh các sinh vật; tránh các việc xa hoa,
bạo ác, phóng đãng; tôn kính cha mẹ, sư trưởng, bậc già cả; hòa mục với thân
thích bè bạn; lân mẫn những người tàn tật; thương yêu những kẻ nô lệ, tôi tớ,
và phải khuyến hóa lẫn nhau làm điều thiện.
Sự nghiệp
chiêm bái Phật tích.
- Sau khi quy y Phật giáo, vua thường thỉnh
các Đại đức, Trưởng lão vào trong cung để hỏi đạo, nghe pháp. Có một khi vua
được nghe pháp một vị thạc học là Ưu Ba Cấp Đa (Upagutta) ở núi Ưu Lâu Mạn Đà
(Urumanda), nhờ sự chỉ giáo của Ngài, nên vua phát nguyện đi tuần bái các nơi
Phật tích. Trước hết, vua đến chiêm bái vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Đức Phật giáng
sinh. Ở nơi đây, vua đã sai dựng một cột đá kỷ niệm, để ghi cái ý nghĩa chiêm
bái của vua. (Cột đá này, về bộ phận trên đã bị mai một, nhưng bộ phận dưới,
các nhà khảo cổ đã phát quật được ở năm 1897, có ghi chép nhiều di văn, cống
hiến nhiều tài liệu quan trong cho lịch sử). Thứ nữa, vua lần lượt đi chiêm
bái thành Ca Tỳ La Vệ, cố quốc của Đức Phật; thôn Ưu Lâu Tần La, nơi tu hành
khổ hạnh; Bồ Đề đạo tràng, nơi Phật thành đạo; vườn Lộc Dã, nơi Phật sơ chuyển
pháp luân; và rừng Sa la Song thọ, nơi Đức Phật tịch diệt. Ở các nơi kể trên,
vua đều sai xây tháp để cúng dường. Sau cùng, vua đến thăm di tích Kỳ Viên
tinh xá, nơi có các tháp của các vị đại đệ tử Phật như: Ngài Xá Lợi Phất, Mục
Kiền Liên, Đại Ca Diếp, A Nan Đà.
Ngoài ra, vua còn sai xây dựng nhiều Già lam
và Bảo tháp. Căn cứ vào Bắc truyền Phật giáo, tổng số chùa tháp có tới 8.400
ngôi.
III. SỰ KẾT TẬP KINH ĐIỂN LẦN THỨ BA
Sự nghiệp
trọng yếu của A Dục Vương đối với Phật giáo còn là việc kết tập kinh điển lần
thứ III tại Hoa Thị Thành (Pataliputra). Vì vua tín ngưỡng Phật giáo, nên
nhiều Già lam được kiến trúc, số Tăng Ni ngày một đông. Trong số Tăng chúng,
có nhiều người ngoại đạo cũng trà trộn vào làm Tăng, nên trong tâm vẫn hướng
về tư tưởng ngoại đạo, gây ra nhiều mối phân tranh, trong chúng không hòa hợp,
khó lòng mà phân biệt được chơn ngụy, phàm thánh. A Dục Vương thấy thế, rất lo
ngại cho tiền đồ Phật pháp, liền quyết ý, muốn xác định lại giáo điều của Đức
Thích Tôn, trong lúc ấy, có ngài Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (Moggalipputa Tissa)
ẩn dật ở núi A Hô Hằng Già (Ahogànga), vua liền sai sứ đến triệu thỉnh. Ngài
Đế Tu vâng sắc lệnh của vua, tuyển bạt 1000 người trong Tăng chúng, tề tập tại
Hoa Thị Thành, để kết tập lại kinh điển. Kỳ kết tập này đúng ở năm vua tức vị
thứ 18, chỉ có trong 9 tháng thì hoàn thành.
Nội dung của kỳ kết tập này gồm đủ Tam tạng:
Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng. Tương truyền Luận tạng tức là “Thuyết sự”
(Kathàvatnu) do ngài Đế Tu tự trước tác, để thuyết minh sự lý luận giữa ngoại
đạo với Phật giáo. Nhưng kỳ kết tập lần thứ III này chỉ thấy lưu truyền ở Nam
phương Phật giáo; ở Bắc phương Phật giáo không thấy ghi chép rõ ràng. Căn cứ
vào ký lục của hai ngài Pháp Hiển và Huyền Trang, thấy có ghi chép nơi kết tập
kỳ I và kỳ II, nhưng không thấy ghi tràng sở kết tập kinh điển lần thứ III.
CHƯƠNG THỨ HAI. GIÁO ĐOÀN PHÂN
PHÁI
I. SỰ ĐỐI LẬP CĂN BẢN CỦA HAI BỘ
Mối phân liệt căn bản của Giáo đoàn Phật
giáo là do sự đối lập của Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ, rồi từ hai bộ này đã
chia thành nhiều mạt phái, gồm có 20 bộ, đó là sự phân phái của Tiểu thừa.
Niên đại của
sự đối lập căn bản này có nhiều thuyết khác nhau, nhưng tài liệu căn cứ rõ
ràng hơn, là ở thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ II tại Phệ Xá Ly thành,
khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 100 năm.
Về nguyên
nhân đối lập là do việc nghị luận mười điều phi pháp hay hợp pháp, ở thời kết
tập lần thứ II, và năm nghĩa mới của Đại Thiên (Mahadeva, Ma Ha Đề Bà, Hán
dịch là Đại Thiên). Nguyên nhân phân phái, nếu căn cứ vào Nam truyền thì do
mười điều phi pháp; căn cứ vào Bắc truyền thì do Tân thuyết của Đại Thiên.
Vì nguyên nhân đối lập, nên Giáo đoàn Phật
giáo chia làm hai là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Hai bộ phái này đều là đại
biểu quan trọng cho Tiểu thừa Phật giáo. Các bậc Trưởng lão thuộc khuynh hướng
bảo thủ lập thành Thượng Tọa bộ; Đại Chúng bộ thuộc khuynh hướng cách tân, lập
thành Đại Chúng bộ. Trong phần tử của hai luồng tư tưởng này, vì không thu
dụng lẫn nhau, phát sinh ra nhiều tư tưởng mới, nên lại phân tán thành nhiều
phái khác.
Mười điều phi pháp, đã thuật ở kỳ kết tập
lần hai, thì quan hệ về một bộ phận của giới luật; trái lại, tân thuyết của
Đại Thiên đề xướng thì quan hệ về phương diện thành quả. Tóm lại, nguyên nhân
phân phái về Giáo hội là do mười điều phi pháp; nguyên nhân phân liệt về giáo
lý là giáo nghĩa tân thuyết của Đại Thiên.
Niên đại về nguyên nhân đối lập của Giáo hội
thì ở thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm; nhưng niên đại đối lập
về giáo lý không được rõ ràng. Vì niên đại xuất thế của ngài Đại Thiên có
nhiều thuyết khác nhau: khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau hơn 100 năm, sau 116
năm và sau hơn 200 năm. Căn cứ vào sử liệu, thì niên đại xuất thế của ngài
Đại Thiên cùng với niên đại xuất thế của A Dục Vương, nghĩa là vào khoảng hơn
200 năm, sau khi Đức Thích Tôn nhập diệt.
Phần lịch sử của ngài Đại Thiên cũng không
biết được rõ ràng. Nhưng căn cứ vào Luận Đại Tỳ Bà Sa, thấy chép đại khái:
“Trước kia ở nước Ma Thâu La (Mathura) thuộc Trung Ấn Độ, có người con của
thuyền chủ tên là Đại Thiên (Mahadeva), tới tuổi trưởng thành, đi xuất gia tu
đạo, bẩm tính thông minh, tinh thông Tam tạng, chứng được quả A-la-hán, trong
chúng trên dưới, hết đều tôn kính. Nhưng có một hôm, hội họp Bố-tát tại chùa
Kê Viên (Kukhutarama), Đại Thiên liền đối trước chúng, nói một bài kệ, gồm có
năm việc, và tới trước Đại chúng nói rằng: “Khi Phật còn tại thế, chư Thiên và
Tứ chúng nói ra, đều phải được Phật ấn chứng, mới gọi là Kinh, nay Phật đã
diệt độ, nếu trong Đại chúng, có người thông minh, có tài thuyết pháp, cũng có
thể trước tác được “Kinh điển”.
Vì lý do
trên, nên trong Đại chúng, hết thảy đều kinh ngạc, đem việc đó ra tranh luận
và cho lời của Đại Thiên nói là vọng thuyết. A Dục Vương thấy vậy, liền sai sứ
thần tới làm trung gian hòa hợp, nhưng đôi bên đều không nghe. Đại chúng phần
đông công nhận về tân thuyết của ngài Đại Thiên, lập thành Đại Chúng bộ, thiểu
số theo về Kỳ túc Thượng tọa lập thành Thượng Tọa bộ. Nên Giáo đoàn Phật giáo
phân liệt làm hai. Thượng Tọa bộ giữ khuynh hướng bảo thủ, lấy nước Ca Thấp Di
La (Kasmira) thuộc Bắc Ấn Độ, làm địa điểm trung tâm truyền đạo; Đại Chúng bộ
tin theo thuyết mới của Đại Thiên, có khuynh hướng tiến bộ, lấy vùng Trung Ấn
Độ làm địa điểm trung tâm truyền đạo.
Về năm tân thuyết của Đại Thiên, Nam truyền
và Bắc truyền giải thích có đôi chút khác nhau. Nay căn cứ vào bộ “Dị Bộ Tôn
Luân Luận” giải thích bài kệ của ngài Đại Thiên đã nói: “Dư sở dụ vô tri; do
dự tha linh nhập; đạo nhân thanh cố khởi, thị danh chân Phật giáo”, đại lược
như sau:
1. Dư sở
dụ.
- Tới bậc
A-la-hán thì đoạn diệt hết mọi phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên vấn
đề sinh lý không phải là đã hết hẳn, trong khi thụy miên, bị ác ma dụ hoặc,
cũng vẫn có lậu thất.
2. Vô
tri.
- Dù
A-la-hán đã đoạn diệt được vô minh, nhưng không phải là đã biết hết tất cả.
A-la-hán thì thấu suốt được mọi phiền não chướng ngại và lý tưởng giải thoát,
nhưng đối với công việc thông thường của thế tục, cũng có nhiều trường hợp
không biết hết.
3. Do dự.
-
Tới bậc A-la-hán thì không sinh ra nghi hoặc (do dự) về sự tu hành giải thoát,
nhưng có sinh ra nghi hoặc với công việc thường xuyên của thế tục, là làm thế
nào là hợp lý, thế nào là không hợp lý.
4. Tha
linh nhập.
- Bậc A-la-hán cần phải có Phật hay bậc Sư trưởng chỉ bảo, rồi
mới biết là mình đã chứng ngộ.
5. Đạo
nhân thanh cố khởi.
- (Đạo nương vào âm thanh mà sinh). Do tâm cảm thấy khổ,
thốt ra tiếng khổ thay! Nên cảm thống thiết thấy cuộc đời là khổ, vô thường,
vô ngã, do thế mà đạt được Phật đạo. Đại Thiên cho năm thuyết này là hợp với
Phật giáo.
Y vào năm
thuyết kể trên, ta nhận thấy về lý tưởng của A-la-hán thuộc cảnh giới Tiểu
thừa, hãy còn khuyết điểm, nên đã nẩy nở ra tư tưởng đó, để chỉ trích về lý
tưởng của A-la-hán, và cũng là manh nha cho tư tưởng Đại thừa.
Tóm lại, sự
đối lập căn bản của hai bộ khởi nguyên cho sự phân liệt của Giáo đoàn Phật
giáo là ở hai thời kỳ: thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ hai tại Phệ Xá Ly
thành; Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 100 năm là thời kỳ đối lập về Giáo
hội; thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau hơn 200 năm, do sự phân tranh
nghi luận về năm tân thuyết của Đại Thiên, là thời kỳ đối lập về giáo lý của
Phật giáo.
II. SỰ PHÂN LIỆT VỀ MẠT PHÁI
CỦA HAI BỘ
Y vào mười điều phi pháp ở thời kỳ kết tập
lần thứ hai, nên sinh ra sự đối lập về Giáo hội; nương vào năm tân thuyết của
Đại Thiên, nên sinh ra sự đối lập về giáo lý. Giáo đoàn Phật giáo vì mối phân
liệt ngày một triển khai, khuynh hướng tự do ngày một nẩy nở, tân tư tưởng bột
hưng, nên lại sinh ra nhiều dị nghĩa, dị thuyết, phân môn rẽ phái ngày một
nhiều, đều bắt nguồn từ hai phái căn bản là Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ.
Về niên đại phân liệt của mỗi bộ phái, theo
Nam truyền, thì từ khoảng Phật diệt độ sau 100 năm đến hơn 200 năm. Theo Bắc
truyền, thì ở khoảng Đức Thích Tôn diệt độ sau 100 năm tới 200 năm, có sự phân
liệt về mạt phái của Đại Chúng bộ; từ lúc Đức Thích Tôn diệt độ khoảng sau 200
năm tới 300 năm, có sự phân liệt về mạt phái của Thượng Tọa bộ. Số mục của các
bộ phái, theo Nam truyền gồm có 24 bộ, theo Bắc truyền, có hai thuyết, 18 bộ
hoặc 20 bộ. Tên gọi của các bộ, có sự sai khác nhau giữa Nam truyền và Bắc
truyền, nhưng căn cứ vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân Luận” thì các phái gồm cả bản mạt
có 20 bộ.
Sự phân liệt của mạt phái, trước hết bắt
nguồn từ nội bộ của Đại chúng. Vì bộ này rất phong phú, tư tưởng tự do, nên
lần thứ nhất phát sinh ra ba bộ: Nhất Thuyết, Xuất Thế, Kê Dận; lần thứ hai
phát sinh ra Đa Văn bộ; lần thứ ba phát sinh ra Thuyết Giả bộ; lần thứ tư lại
phát sinh ra ba bộ: Chế Đa Sơn, Tây Sơn trụ, Bắc Sơn trụ, gồm cả bản mạt là
chín bộ, thời gian phân liệt trong vòng 100 năm, kể từ khoảng sau khi Phật
diệt độ 100 năm tới 200 năm.
Về mặt khác, Thượng Tọa bộ sau khi thoái ẩn
về nước Ca Thấp Di La, giữ khuynh hướng bảo thủ, quý trọng lối truyền thừa,
tôn trọng sự hòa hợp. Nhưng vì chịu ảnh hưởng phân liệt của Đại Chúng bộ, nên
khuynh hướng bảo thủ truyền thừa cũng bị thay đổi, nên từ khoảng Đức Thích Tôn
diệt độ sau 200 năm tới 300 năm, trong vòng 100 năm này đã chia thành 11 bộ
(mười một bộ). Tức là, hồi thứ nhất phát sinh ra Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ; hồi
thứ hai từ Hữu bộ phát sinh ra Độc Tử bộ; hồi thứ ba từ Độc Tử bộ sinh ra bốn
bộ: Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ và Mật Lâm bộ; hồi thứ năm, từ
Hóa Địa bộ phát sinh ra Pháp Tạng bộ; hồi thứ sáu cũng lại từ Hữu bộ phát sinh
ra Ẩm Quang bộ; hồi thứ bảy cũng lại từ Hữu bộ phát sinh ra Kinh Lượng bộ. Căn
bản Thượng Tọa bộ, sau khi phân ra Hữu bộ, thế lực bị suy kém, phải nhường căn
cứ địa truyền đạo là nước Ca Thấp Di La cho Hữu bộ, rồi về ẩn dật ở núi Tuyết
Sơn, nên lại có tên là Tuyết sơn bộ. Về hệ thống phân phái, căn cứ vào bộ “Dị
Bộ Tôn Luân Luận” theo như biểu đồ sau:
1. Đại Chúng
bộ (Mahàsamghikàh)
2. Nhất
Thuyết bộ (Ekavyavahàrikàh)
3. Thuyết
Xuất Thế bộ (Lokottaravàdinàh)
4. Kê Dận bộ
(Kaukkutikàh)
5. Đa Văn bộ
(Bàhusrutìyàh)
6. Thuyết
Giả bộ (Prajnàptivàdinàh)
7. Chế Đa
Sơn bộ (Caityasailàh)
8. Tây Sơn
Trụ bộ (Aparasailàh)
9. Bắc Sơn Trụ bộ (Uttarasailàh)
1. Thượng Tọa bộ (Sthaviràh, sau là Tuyết Sơn bộ (Haima-vàtàh)
2. Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ (Saivàstivàdàh), còn gọi là Thuyết
Nhân bộ (Hetuvàdàh)
3. Độc Tử bộ (Vàtsìputriyàh)
4. Pháp Thượng bộ (Dharmottariyàh)
5. Hiền Trụ bộ (Dhadrayàniyàh)
6. Chính Lượng bộ (Sammitìyàh)
7. Mật Lâm Sơn bộ (Sandagirikàh)
8. Hóa Địa bộ (Mahìsàsakàh)
9. Pháp Tạng bộ (Dharmaguptakàh)
10. Ẩm Quang bộ (Kàsyapìyàh), còn gọi là Thiện Tuế bộ
(Suvarsakàh)
11. Kinh Lượng bộ (Sautràntikàh), còn gọi là
Thuyết Chuyển bộ (Samkràntivàdàh)
Các phái như trên được phân chia đều vì tư
tưởng đối lập, vì nhân duyên bất hòa, nên đã bị chia ra. Các nhân duyên đó đại
lược như sau:
1. ĐẠI CHÚNG BỘ.
- Trước hết, từ Đại Chúng bộ phát
sinh ra ba bộ: “Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ và Kê Dận bộ”. Nguyên vì
Đại Chúng bộ, trong khi lưu trụ tại nước Ương Quật Đa La (Angottara) thuộc
phương Bắc thành Vương Xá, đề xướng ra vấn đề nghiên cứu giáo nghĩa của các
kinh điển Đại thừa như: Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Thắng Man, Duy Ma v.v... Nhưng
trong Đại chúng có phe thuận và không thuận, nên phân ra hai bộ Nhất Thuyết và
Thuyết Xuất Thế.
Kê Dận
bộ.
- Bộ này chủ
trương Kinh tạng và Luật tạng là giáo pháp phương tiện giả thiết của Đức Thích
Tôn, duy có Luận tạng là giáo lý chân thật, vì Luận tạng được giải thích nghĩa
lý tinh vi rõ ràng, vì thế nên lập thành bộ riêng.
Đa Văn
bộ.
- Khi Đức
Thích Tôn còn tại thế, có vị A-la-hán tên Từ Bi Y (Yàjnavalkya), trước khi Đức
Thích Tôn diệt độ, vào nhập định ở trong núi Tuyết Sơn, sau khi Đức Thích Tôn
diệt độ khoảng 200 năm, từ thiền định ra khỏi núi Tuyết Sơn, đi tới nước Ương
Quật Đa La, chủ trương nghĩa thiển thám của ba tạng. Nghĩa là Đại Chúng bộ,
mới chỉ hoằng truyền nghĩa nông cạn của ba tạng, chưa hoằng về nghĩa thâm thúy
của ba tạng, vì thế nên biệt lập thành một bộ để nghiên cứu nghĩa thâm thúy
của Tam tạng.
Thuyết Giả bộ.
- Do ngài
Đại Ca Chiên Diên (Mahakatyayana) thuộc nước Ma Ha Lạt Đà (Mahàrattha) sáng
lập. Bộ phái này chủ trương nghĩa chân thuyết, giả thuyết, chân đế, tục đế,
nhân và quả của Phật đã nói trong ba tạng. Bộ này còn chủ trương lối giải
thích kinh điển cần phải hợp lý, và tùy nghi lựa chọn thủ xả.
Chế Đa
Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ và Bắc Sơn Trụ bộ.
- Như trên đã kể, vì tranh luận về
năm điều tân thuyết của Đại Thiên, nên Giáo đoàn Phật giáo phân liệt ra Thượng
Tọa bộ và Đại Chúng bộ. Nhưng về sau trong nội bộ của Đại Chúng bộ lại đem năm
điều tân thuyết ra tranh luận, vì ý kiến bất đồng, có phe tin theo, phe không
tin theo nên lại phân liệt thành ba bộ: Chế Đa Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ và Bắc
Sơn Trụ bộ.
2. THƯỢNG TỌA BỘ.
- Trước hết là Hữu bộ, từ Thượng Tọa
bộ phát sinh ra Hữu bộ. Hữu bộ chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, đối lập
với Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị, không thiên trọng về Luật tạng và
Luận tạng. Vì Thượng Tọa bộ cho rằng, Luật vì y vào người, nên có sự bất định
về nghĩa khai (khoan dung), giá (nghiêm cấm), luận để giải thích về Kinh tạng,
nhưng thường thường đi xa với nghĩa căn bản của nó, nên lấy Kinh tạng làm tiêu
chuẩn. Sau khi Đức Thích Tôn diệt độ khoảng 300 năm, có ngài Ca Chiên Diên Tử
(Katyayaniputra) ra đời, tuy cũng có hoằng truyền cả về Kinh tạng và Luật
tạng, nhưng thiên trọng Luận tạng, lập ra Hữu bộ, lấy Luận tạng làm bản vị.
Độc Tử bộ còn gọi là Trụ Tử bộ.
-
Bộ này cũng lấy Luận tạng làm bản vị, nhưng sở y về Luận tạng khác với Hữu bộ.
Ngài Độc Tử (Vàtsíputra) là đệ tử ngài La Hỗ La, ngài La Hỗ La là đệ tử ngài
Xá Lợi Phất, căn cứ về nghĩa luận cũng khác với nội dung của bộ Luận A Tỳ Đàm
do ngài Xá Lợi Phất đã nói. Vì thế nên ngài Độc Tử biệt lập thành một bộ gọi
là Độc Tử bộ.
Pháp
Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ.
- Bốn bộ này
cũng lấy Luận tạng làm bản vị, được phân xuất từ Độc Tử bộ. Nguyên vì trong
khi giải thích về A Tỳ Đàm luận của ngài Xá Lợi Phất, tới chỗ nào không được
minh bạch, liền đem ý nghĩa của kinh thêm vào, nhưng có nhiều ý kiến bất đồng,
nên chia ra làm bốn bộ này:
Hóa Địa
bộ.
- Bộ này
cũng từ Hữu bộ mà biệt lập, sau khi Phật diệt độ 300 năm. Ngài Hóa Địa xuất
thân từ giòng họ Bà-la-môn, thông đạt mọi giáo nghĩa của kinh điển Phệ Đà. Sau
đi xuất gia, chứng được quả A-la-hán, trong khi giảng đọc kinh điển, nếu chỗ
nào còn thiếu sót, lại đem lời văn của kinh điển Phệ Đà và văn điển Phạn ngữ
để tu sức, như là lời Phật nói. Sau khi ngài Hóa Địa mất, đệ tử của ngài lập
thành một bộ riêng, lấy tên là Hóa Địa bộ.
Pháp Tạng
bộ.
- Bộ này từ
Hóa Địa bộ phát sinh. Nguyên vì Pháp Tạng (Dharmagupta), đệ tử ngài Mục Kiền
Liên, thường thường đi theo thầy và ký ức tất cả những điều gì thầy đã nói.
Sau khi thầy mất, ngài đem chia kinh điển làm năm tạng: Kinh tạng, Luật tạng,
Luận tạng, Chú tạng và Bồ tát tạng, vì thế nên biệt lập thành một bộ.
Ẩm Quang bộ.
- Ngài Ẩm
Quang (Kàsyapa) đã chứng quả A-la-hán, trong khi thuyết pháp, đem lời Phật đã
nói, chia làm hai bộ phận. Một bộ phận để đả phá thuyết ngoại đạo, một bộ phận
để đối trị phiền não cho chúng sinh, chủ trương thuyết “Phá tà hiển chánh”. Vì
nhân duyên đó, nên biệt lập thành một bộ riêng.
Kinh
Lượng bộ.
- Mục đích của bộ này là phục cổ, để tái lập cái lập trường
bản lai của Thượng Tọa bộ. Nghĩa là không y vào Luật tạng và Luận tạng, chỉ y
vào Kinh tạng làm tiêu chuẩn.
CHƯƠNG THỨ BA. GIÁO NGHĨA
CỦA CÁC BỘ PHÁI
I. GIÁO NGHĨA CỦA THƯỢNG TỌA
VÀ HỮU BỘ
1. LỜI BÀN
TỔNG QUÁT.
- Về giáo
nghĩa của các bộ phái, trừ Hữu bộ ra, còn đều y vào bộ “Dị Bộ Tôn Luân Luận”
của ngài Phiệt Tô Mật Tử La (Vasumitra) trước tác, ở khoảng thế kỷ II, do ngài
Huyền Trang dịch; và các bản dịch khác như “Thập Bát Bộ Luận”, ngài La Thập
dịch; “Bộ Chấp Dị Luận”, ngài Chân Đế dịch, mà biết được một phần nào giáo
nghĩa đại cương.
Về giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, là giáo
nghĩa Nguyên thủy Phật giáo, những giáo nghĩa của Hữu bộ thì nương vào sự tiến
triển của giáo lý Nguyên thủy Phật giáo và sự biến thiên của nó, vì vậy chỉ
nói về giáo nghĩa của Hữu bộ, cũng có thể suy biết được giáo lý của Thượng Tọa
bộ.
Về nguyên
nhân từ Thượng Tọa bộ phát sinh ra Hữu bộ như ở chương thứ hai đã thuật, ở
thời kỳ Đức Thích Tôn diệt độ sau 300 năm, có ngài Ca Đa Diễn Ni Tử (Ca Chiên
Diên Tử), chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, để đối lập với Thượng Tọa bộ
lấy Kinh tạng làm bản vị. Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử tự sáng tác ra bộ “A Tỳ Đạt Ma
Phát Trí Luận” (Abhidharma Jnànaprasthàna Sàstra, 20 quyển), để làm nền tảng
giáo lý của Hữu bộ. Vì thế nên giáo tổ của Hữu bộ là Ca Đa Diễn Ni Tử, giáo lý
căn bản của Hữu bộ là “Phát Trí Luận”. Ngoài Phát Trí Luận ra, như “Lục Túc
Luận” cũng là các bộ luận sở y của Hữu bộ. Lục Túc Luận: (1) A Tỳ Đạt Ma Tập
Dị Môn Túc Luận (Abhidharma Sanjìtiparyàpàdá Sàstra, 20 quyển), tương truyền
do ngài Xá Lợi Phất chế tác trong khi Đức Thích Tôn còn tại thế. (2) A Tỳ Đạt
Ma Pháp Uẩn Túc Luận (Abhidharma Dharma Skandhapàda Sàstra, 12 quyển), do ngài
Mục Kiền Liên sáng tác. (3) A Tỳ Đạt Ma Thi Thiết Túc Luận (Abhidharma
Prajnàtipàda Sàstra, 18.000 bài tụng), do ngài Đại Ca Chiên Diên sáng tạo. (4)
A Tỳ Đạt Ma Thức Thân Túc Luận (Abhidharma Vijnànakàyapàda Sàstra, 16 quyển),
do ngài Đề Bà Thiết Ma (Devasarman, Thiên Tịch) sáng tác, khoảng Phật diệt độ
sau 100 năm. (5) A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận (Abhidharma Prakadanapàda
Sàstra, 18 quyển). (6) A Tỳ Đạt Ma Giới Thân Túc Luận (Abhidharma Harma
Dhàtukàyapàda Sàstra, 3 quyển), hai bộ này ngài Thế Hữu soạn thuật, ở thời kỳ
sau khi Phật diệt độ hơn 200 năm (Thế Hữu, cũng cùng tên với ngài Thế Hữu
trước tác bộ “Tôn Luân Luận”, nhưng nhân vật khác nhau). Sáu bộ luận kể trên,
về phần giáo lý chỉ là một bộ phận của Phát Trí Luận, nên gọi là Lục Túc Luận,
còn Phát Trí Luận gọi là Thân Luận, đó là theo ý nghĩa bản và mạt.
Về sau, ở vương triều Ca Nhị Sắc Ca
(Kaniska), các bậc học giả của Hữu bộ, lại giải thích giáo nghĩa của “Phát Trí
Luận”, biên tập thành một bộ, gọi là “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận”
(Abhidharma Mahàvibhàsà Sàstra, 200 quyển), trong đó thường thường có dẫn
chứng nhiều về Lục Túc Luận.
Ngài Ca Đa Diễn Ni Tử là một bậc “thạc học
trong Phật giáo, tinh thông Tam tạng, nhưng ngài không thích về chủ trương của
Thượng Tọa bộ lấy Kinh tạng làm bản vị, nên ngài lấy Luận tạng làm bản vị.
Trong khi tu trì ở chùa Ám Lâm tự (Tamasàvanasaghàràma) nước Cinabhukti (Chi
Na Bộc Để), thuộc Bắc Ấn Độ, ngài đã chế tác ra bộ “Phát Trí Luận”, lấy Bắc Ấn
Độ làm trung tâm điểm tuyên dương Phật giáo.
Ngài chủ trương lấy Luận tạng làm bản vị, vì
hai lý do, một là để đối kháng với tân thuyết của Đại chúng, một là để đả phá
hai học phái Thắng Luậnvà Số Luận của ngoại đạo, đang phục hưng lúc đương
thời, thường thường hay bài xích Phật giáo. Vì mục đích đó, nên ngài chủ
trương môn lý luận của Phật giáo cần phải được tổ chức cho vững chắc, trong
khi biện luận, thường lấy nghĩa lý của Thắng Luận và Số Luận để dẫn chứng, nên
giáo nghĩa của Hữu bộ, có hình tích ảnh hưởng về Thắng Luận, cũng như giáo
nghĩa của Đại Chúng bộ, chịu ảnh hưởng giáo nghĩa Số Luận của ngoại đạo.
2. NGÃ
KHÔNG PHÁP HỮU LUẬN.
- Giáo nghĩa của Hữu bộ, căn cứ về phương diện triết
học, là “Đa nguyên thực tại luận”. Mọi hiện tượng của các pháp, nương vào thời
gian thì phải trải qua bốn trạng thái sinh, trụ, dị, diệt, nương vào không
gian phải có sự ly, hợp, tập, tán, biến hóa vô thường, sát na sinh diệt, nhưng
thể tính của chư pháp, không có sinh diệt biến hóa, vẫn thường tồn tại trong
ba đời, giống như làn sóng, có sinh diệt biến hóa, nhưng thể tính của nước
hằng hữu, không thay đổi. Thể tính hằng hữu trong ba đời, nghĩa là các tác
dụng đang diễn ra gọi là hiện tại, các tác dụng đã qua gọi là quá khứ. Đó là
thuyết “Tam thế thực hữu, pháp thể hằng hữu” của Hữu bộ.
Căn cứ về lý tưởng tôn giáo là đoạn hoặc
diệt khổ để tới Niết-bàn. Vì do hoặc tạo ra nghiệp, từ nghiệp cảm sinh ra quả
khổ, vậy nên đoạn được hoặc tức là diệt được khổ. Nhưng căn bản của hoặc là do
chấp trước, nên trước hết phải phá chấp trước, tức là phá ngã chấp. Nhưng ngã
chấp vì nương vào các pháp của “Sắc” và “Tâm” mà tồn tại, nên việc phá ngã
chấp trước hết phải tu phép quán tưởng, phân tích tất cả các pháp của Sắc và
Tâm, biết được mọi pháp đều do nhân duyên hòa hợp, sát na sinh diệt, biến hóa
vô thường, đều là vô ngã. Nói tóm lại, điều kiện cốt yếu để đoạn hoặc chứng
lý, là phải liễu Ngã là Không. Vì thế nên giáo nghĩa của Hữu bộ gọi là “Ngã
Không pháp Hữu”, nói về quán là “Chiết Sắc nhập Không”, gọi tắt là “Chiết
Không Quán”.
3. PHÂN LOẠI VẠN HỮU.
- Theo
Nguyên thủy Phật giáo, thì năm uẩn là những yếu tố để thành lập thế giới, và
phân loại thế giới ra “Tam giới”, “Nhị thập ngũ hữu” là nơi y báo của chúng
sinh. Nhưng Hữu bộ, vì ảnh hưởng sự phân loại thế giới của Thắng luận phái,
nên đem chia vạn hữu thành 5 vị và 75 pháp, lập thành một tổ chức nhất định,
đó là điểm đặc biệt về giáo lý của Hữu bộ.
Trước hết,
Hữu bộ đem vạn hữu chia ra Hữu vi pháp (Samskarta) và Vô vi pháp (Asamskarta).
Hữu vi pháp thì nương vào nhân duyên sinh diệt, biến hóa. Vô vi pháp không
nương vào nhân duyên sinh diệt, bản lai thường tồn. Hữu vi pháp, vì nương vào
vật và tâm; vật tâm cùng quan hệ, và không phải vật và tâm, nên lại chia thành
bốn pháp: Sắc pháp (Rùpa), Tâm pháp (Cita), Tâm sở hữu pháp (Aitta) và Tâm bất
tương ứng hành pháp (Cittaviprayuktasamskàra), thành năm vị:
Sắc pháp.
-
Sắc pháp có mười một thứ: 5 căn (Nhãn, Nhĩ, Tỵ, Thiệt, Thân), 5 cảnh (Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc) và Vô biểu sắc (Avijnapttirùpa). Vô biểu sắc là một lực
không hình không dáng, nó huân phát ở trong thân, để đưa nghiệp nhân của hai
nghiệp thân và khẩu, cảm sinh ra nghiệp quả ở vị lai. (Vô biểu sắc thì không
phải là vật chất, nhưng vì là nơi nương tựa của sắc pháp, nên thuộc trong ngôi
sắc pháp).
Tâm pháp.
- Tâm pháp nếu đem tế phân là lục thức:
Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, nhưng đây nói về nhất tâm pháp tức là Tâm
vương.
Tâm sở hữu pháp.
- Tâm sở hữu pháp gồm có 46 pháp là
thọ, tưởng, tư v.v... thường thường theo nhịp với Tâm vương, dấy ra mọi tác
dụng, do sự quan hệ giữa Vật và Tâm, nên sinh ra tác dụng của Tâm. Tâm sở
nghĩa là Tâm sở hữu của Tâm vương.
Tâm bất tương ưng hành pháp.
- Tâm này
gồm có 14 pháp: Đắc (tác dụng kế phược), Phi đắc (tác dụng xa lìa, sinh, trụ,
dị, diệt v.v... không ăn nhịp với sắc và tâm.
Vô vi
pháp.
- Vô vi pháp
có ba thứ: Trạch diệt, Phi trạch diệt và Hư không. “Trạch diệt” nghĩa là nhờ
vào sự tuyển trạch mà được diệt độ, tức là nương vào sức tuyển trạch của trí
tuệ, lìa được mọi kết phược phiền não, chứng đặng lý Không tịch tức là
Niết-bàn. Nương vào sự đoạn được một hoặc, tức là được một trạch diệt vô vi,
đoạn hoặc trạch diệt hai bên cân đối nhau, nên có tên trừu tượng là “Trạch
diệt vô vi”. “Phi trạch diệt vô vi” thì bản lai nhất như thanh tịnh, không cần
sức lựa chọn của trí tuệ mới hiển ngộ. “Hư không vô vi” là khoảng không gian
vô tận, không có sự chướng ngại của mọi pháp, và cũng không bị mọi pháp làm
chướng ngại, có tính chất vô ngại. Vì có vô ngại tính, nên sắc pháp được tự
do, tự tại sinh diệt ở trong đó.
Biểu tóm tắt
vạn hữu, năm vị và bảy mươi lăm pháp như sau:
(5
vị) (75 pháp)
1. Sắc pháp
11 Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, sắc, thanh, hương, vị, xúc, vô biểu sắc
2. Tâm pháp
1 Tâm vương (tiếp cả 6 thức)
Đại địa pháp
10: Thọ, tưởng, tư, xúc, dục tuệ, niệm, tác ý, thắng giải, tam ma địa
Đại thiện
pháp 10: Tín, cầu, hành xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại, khinh an,
không phóng dật
Đại phiền
não địa pháp 6: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn trầm, điệu cử
Đại bất
thiện pháp 2: Vô tàm, vô quý
Tiểu phiền
não địa pháp 10: Phẫn, phú, xan, tật, não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu
Bất định địa
pháp 8: Hối, miên, tầm, tứ, tham, sân, mạn, nghi
Đắc, phi
đắc, chúng đồng phận, vô tưởng quả, vô tưởng định, diệt tận định, mệnh căn,
sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân, văn thân
5. Vô vi
pháp 3 Trạch diệt vô vi, Phi trạch diệt vô vi, Hư không vô vi.
4. BA KHOA
UẨN, GIỚI, XỨ.
- Năm vị và bảy mươi lăm pháp là đứng ở phương diện khách quan
để phân loại vũ trụ vạn hữu; ba khoa: Ngũ uẩn, Mười hai xứ, Mười tám giới là
đứng ở phương diện chủ quan để phân loại vũ trụ vạn hữu. Phật giáo cho rằng
con người chỉ là nương vào sự kết hợp phân tán của ngũ uẩn mà sinh hay diệt,
tinh thần của con người cũng hoàn toàn nương vào sự quan hệ kết hợp đó mà sinh
ra những tác dụng. Tức là ba phần căn, cảnh, thức làm nhân duyên lẫn cho nhau
mà sinh ra mọi tác dụng của tinh thần và sinh ra các pháp.
Ngũ uẩn
(Panca skandhàh). - Ngũ uẩn là năm yếu tố: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. “Sắc
uẩn” thuộc về sắc pháp trong năm vị; “Thọ”, “Tưởng”, hai uẩn thuộc về tâm sở
pháp; “Hành uẩn” trừ thọ, tưởng thuộc về các pháp của tâm sở; còn đều thuộc cả
về tâm bất tương ưng hành pháp; “Thức uẩn” thuộc về tâm pháp. Ngũ uẩn chỉ ăn
nhịp với hữu vi pháp, không thích hợp với vô vi pháp.
Mười hai
xứ
(Dvàdasa
àyatana). - Xứ là nghĩa định xứ và y xứ, tức là sáu căn và sáu trần là nơi y
cứ để sinh khởi ra tâm vương và tâm sở, sáu căn là sáu cơ quan: Nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân, ý; sáu trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, sáu đối tượng
của sáu căn. Trừ ý căn và pháp cảnh, còn ngũ căn và ngũ cảnh thuộc sắc pháp. Ý
căn thuộc về tâm pháp (tác dụng tư lương của tâm vương). Pháp cảnh tiếp hết
thảy mọi pháp, trừ ngũ căn, ngũ cảnh và tâm vương. Mười hai xứ thì thích hợp
với tất cả các pháp hữu vi và vô vi.
Mười tám
giới
(Assstadasa
dhàtu). - Giới là nghĩa chủng tộc, vì tự tính của mười tám loại đều riêng
biệt, trở thành những chủng loại riêng, cho nên gọi Lục căn, Lục trần và Lục
thức là mười tám giới. Vì lẽ khai hợp, nên lục thức chỉ là sự triển khai từ ý
căn của mười hai xứ. Cho nên, mười hai xứ và mười tám giới đều tiếp thông với
các pháp hữu vi và vô vi. Sở dĩ một bên gọi là xứ và một bên gọi là giới, xứ
là nơi y xứ của các pháp sinh khởi, giới là nói về nghĩa tự tính của các pháp.
Danh mục của ba khoa theo như biểu đồ sau:
12 Xứ: Nhãn
xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ, sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ,
xúc xứ, pháp xứ.
18 Giới:
Nhãn giới, nhĩ giới, tỷ giới, thiệt giới, thân giới, ý giới, sắc giới, thanh
giới, hương giới, vị giới, xúc giới, pháp giới; Nhãn thức giới, nhĩ thức giới,
tỵ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới
5 Uẩn: Sắc
uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn.
5. TU ĐẠO VÀ CHỨNG QUẢ.
- Phép tu
đạo của Hữu bộ chia làm ba bậc: (1) Kiến đạo (Darsana màrga), nương vào sức
tuyển trạch của trí tuệ, biết được lý của Tứ đế, đoạn hết được phần Kiến hoặc.
(2) Tu đạo (Bhavanà màrga), đem tuệ lực để tu tập lý của Tứ đế, đoạn hết được
Tư hoặc, (3) Vô học đạo (Asaiksa màrga), không còn phải đoạn phiền não, đạt
tới bậc Vô học.
Vì nương vào căn cơ của người tu hành, nên
lại chia ra thượng căn, trung căn, hạ căn, gọi là “Tam thừa”. Hạ căn là Thanh
văn thừa, nương vào lời dạy của Phật để tu hành, quán về lý của Tứ đế, chứng
được quả A-la-hán. Trung căn là Độc giác thừa (Bích chi Phật, Pratyeka
Bhuddha), tự mình quán tưởng mười hai nhân duyên mà độc ngộ, đoạn hoặc chứng
lý; còn gọi là Duyên giác thừa. Thanh văn và Duyên giác gọi là nhị thừa.
Thượng căn thuộc Bồ-tát thừa, y vào các pháp tràng kỳ tu hành trong nhiều kiếp
nhiều đời, đoạn hết được mọi tập khí (tập quán lực), đầy đủ phần nhất thiết
chủng trí, viên mãn phần tự lợi lợi tha, chứng được đạo Vô thượng Chánh giác,
trở nên bậc Đại giác tức là Phật.
6. NIẾT-BÀN
VÀ PHẬT THÂN.
- Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, thực thân chứng được
Niết-bàn, Phật thân hiện tồn tại, nên không có sự bàn luận về Niết-bàn và Phật
thân. Nhưng sau khi Đức Thích Tôn nhập Niết-bàn, thì vấn đề đó trở thành một
vấn đề trọng đại, sinh ra nhiều kiến giải không giống nhau. Đặc biệt về vấn đề
Phật thân dần dần được lý tưởng hóa bởi tư tưởng tự do tiến bộ, nên hoặc có
hai thân, hoặc có ba thân, làm đầu đề luận tranh cho các bộ phái đương thời.
Về kiến giải
của Hữu bộ đối với vấn đề Niết-bàn và Phật thân, cũng như giáo lý Nguyên thủy
Phật giáo, nghĩa là Niết-bàn cũng chia ra “Hữu dư Niết-bàn” và “Vô dư
Niết-bàn”. Vấn đề Phật thân cũng chưa lý tưởng hóa, nghĩa là Phật là một thân
người hiện thực. Thân thể của Phật Đà vì có liên quan tới hoặc nghiệp của tiền
thế, nên thọ mệnh của xác thân có hạn định, nghiệp quả hết thì xác thân mất,
vào Vô dư Niết-bàn, trở về nơi tịch tĩnh. Và Phật cũng có tâm vô ký, không
phải thiện, không phải ác, tự thân không làm điều ác, nhưng vì còn có xác
thân, còn là nơi y xứ của điều ác. Phật cũng có sự ngủ nghỉ, không phải là
thường thường ở định; một sát-na của tâm không thể suốt hết được mọi pháp, một
tiếng không thể nói hết được mọi pháp. Về nhân hạnh của Phật ở quá khứ, vì mục
đích cứu độ chúng sinh, nên sinh ở trong Tam giới, cốt yếu không phải là đoạn
hết phiền não, chỉ là nương vào sự tu hành, để chế phục phiền não, khi nhân
hạnh viên mãn, tức là đoạn hết mọi hoặc, trở thành Phật Đà. Đó là thuyết “Phục
hoặc nhân hạnh” của Hữu bộ.
Như trên đã
lược thuật về giáo nghĩa của Hữu bộ. Nương vào giáo nghĩa đó, ta có thể suy
biết được giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, vì đều phảng phất giáo nghĩa của
Nguyên thủy Phật giáo. Đặc biệt, giáo nghĩa của Hữu bộ, sau trở thành những
tài liệu quan trọng cho môn Duy thức học trong Phật giáo.
II. GIÁO NGHĨA CỦA ĐẠI CHÚNG BỘ
1. VẠN HỮU LUẬN.
- Giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, nếu
đem so sánh với giáo lý Nguyên thủy Phật giáo của Hữu bộ, thì tiến bộ hơn.
Đứng về phương diện triết học, giáo lý của Hữu bộ là “Đa nguyên thực tại
luận”, thì giáo lý của Đại chúng bộ là “Phê phán thực tại luận”,
phủ định hiện tượng, nên đề xướng ra “Pháp không luận”. Pháp không
luận, theo Hữu bộ chủ trương mọi pháp sát-na sinh diệt, thể tính của mọi pháp
thường lẫn có trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai; nhưng trái lại, Đại
chúng bộ chủ trương: Vì chư pháp thì sát-na sinh diệt, nên thể dụng của mọi
pháp ở quá khứ không tồn tại, thể dụng của mọi pháp ở vị lai thì chưa xuất
hiện, đôi bên đều không phải là thực tại, mà duy chỉ có thể dụng của mọi pháp
ở hiện tại, trong một sát-na của hiện tại mới là thực tại. Đó là thuyết
“Quá vị vô thể, hiện tại hữu thể” của Đại Chúng bộ chủ trương, gần với
thuyết “Ngã pháp câu không luận”.
Về vô vi pháp, Đại Chúng bộ lập ra chín thứ
vô vi pháp. Tức là ba thứ vô vi của Hữu bộ, thêm vào sáu thứ nữa là: Không vô
biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ, Duyên
khởi chi tính và Thánh đạo chi tính. Nhưng, lý thể vô vi pháp của Hữu bộ đứng
ở phương diện tịch tĩnh, trái lại vô vi pháp của Đại chúng bộ chủ trương lại ở
phương diện hoạt động. Chín thứ vô vi pháp: (1) Hư không; (2) Trạch diệt; (3)
Phi trạch diệt, như trước đã giải thích; (4) Không vô biên xứ. - Tu vô biên xứ
định, đoạn được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, nương vào phần diệt
đó sinh lên cõi trời Không vô biên xứ; (5) Thức vô biên xứ. - Quán thức vô
biên, diệt được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, y vào diệt này sinh ở
cõi trời Thức vô biên xứ; (6) Vô sở hữu xứ. - Quán về phần vô sở hữu, đoạn
được một phần hoặc, chứng được một phần diệt, nương vào phần diệt đó, sinh lên
cõi trời Vô sở hữu xứ; (7) Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ. - Tu định này hết thảy
lìa được trạng thái hữu tướng và vô tướng, đoạn được một phần hoặc, chứng được
một phần diệt, nương vào diệt độ sinh ở cõi trời Phi tưởng, Phi phi tưởng xứ.
Hữu bộ chi xứ là Thiện xứ, nơi chốn để sinh lên, nhưng Đại Chúng bộ cho Xứ là
“Sở y”, vì thế nên bốn xứ thuộc vô vi pháp, không ở trong phạm vi Tam giới,
chỉ nương vào phần đoạn hoặc chứng diệt, tất nhiên sinh ở Thiện xứ, đó là lý
đương nhiên không biến đổi; (8) Duyên khởi chi tính. - Về lý pháp của sinh tử
lưu chuyển, Hữu bộ chỉ nhận về phần tướng của các phần duyên khởi nên thuộc về
hữu vi pháp; Đại chúng bộ cho rằng mười hai chi duyên khởi tuy là hữu vi pháp,
nhưng vì nó có lý pháp nhất định không thay đổi, để điều hòa về sự sinh khởi
cho tiền nhân hậu quả, tương tục không ngừng, nên thuộc vô vi pháp; (9) Thánh
đạo chi tính. - Thánh đạo chi tính còn gọi là “Lý pháp của khổ giới đoạn
diệt”. Ở trường hợp Hữu bộ trừ Diệt đế ra, còn ba đế khác đều là hữu vi pháp,
nhưng ở trường hợp Đại Chúng bộ chủ trương, các chi của “Bát chánh đạo” tuy là
hữu vi, nhưng vì các chi đó đều là phần lìa khổ được giải thoát, đó là y vào
lý pháp nhất định bất biến nên thuộc vô vi pháp. Còn các chi khác đều lý luận
tương tự như vậy.
Tóm lại, về “Vô vi pháp” của Đại Chúng bộ
chủ trương, không phải là tịch tĩnh, mà là hoạt động. Về “Pháp không luận”
không phải không về bản thể của mọi pháp, mà chỉ là phủ định hiện tượng của
mọi pháp.
2. TÂM TÍNH BẢN TỊNH LUẬN.
- Ở trường
hợp Hữu bộ, cho “Tâm tính bản lai bất tịnh”, vì tâm thường có đầy dẫy mê vọng,
tập nhiễm nhưng nhờ sự tu đạo, nên tâm tính được thanh tịnh, nghĩa là tâm tính
bản lai bất tịnh, chuyển thành thanh tịnh, tới chỗ giải thoát. Trái lại, ở
trường hợp của Đại Chúng bộ chủ trương “Tâm tính bản lai thanh tịnh”, lìa mọi
mê vọng tạp nhiễm, chỉ vì khách trần phiền não bên ngoài làm ô nhiễm, nên trở
thành bất tịnh nếu nương vào sự tu đạo, để gột rửa mọi tạp nhiễm phiền não đó,
thì tâm trở nên thanh tịnh, hiển hiện được bản tính của nó. Đó là thuyết “Tâm
tính bản tịnh, khách trần ô nhiễm” của Đại Chúng bộ. Thuyết này giống như
thuyết “Quan hệ giữa tự tính và thần ngã” của Số Luận.
Vì tâm tính
thì bản tịnh, phiền não là khách trần, nên phiền não và tịnh tâm đều cùng có
từ vô thủy, thường thường cùng theo đuổi cái tâm, nên gọi là tùy phiền não. Vì
có tùy phiền não, nên tâm trở nên ô nhiễm, tạo ra nghiệp, lưu chuyển trong khổ
giới, nhưng nếu nương vào sự tu đạo, thì rửa sạch được các phiền não, chỉ còn
lại một thứ tâm thanh tịnh. Tâm là chủ mà phiền não là khách, tâm tính thì “vô
thủy vô chung”, phiền não thì “vô thủy hữu chung”, nên gọi là “Tâm tính bản
tịnh, khách trần ô nhiễm”. Tóm lại Hữu bộ chỉ nhận phần Tướng của tâm, mà
không nhìn nhận về thể tính của tâm, trái lại, Đại Chúng bộ quán về phần thể
tính của tâm. Đứng về phương diện triết học thì Hữu bộ chủ trương “Hiện tượng
luận”, Đại Chúng bộ chủ trương “Bản thể luận”.
3. NIẾT-BÀN VÀ PHẬT THÂN.
- Niết-bàn
quan của Đại chúng bộ thì không ghi chép rõ ràng, nhưng Phật thân quan của Đại
Chúng bộ chủ trương tiến bộ hơn Hữu bộ. Đại Chúng bộ cho rằng, Phật vì nương
vào nhân hạnh của nhiều kiếp nhiều đời, nên có quả báo thực thân, đối với
không gian thì “Biến mãn nhất thiết xứ”, đối với thời gian thì “Thọ mệnh vô
tận”; uy lực của Phật cũng vô biên tế, giáo hóa khắp mọi loài hữu tình, tùy
nghi giáo hóa, tùy thời nhập diệt, đều tự do tự tại. Đức Phật khi 80 tuổi nhập
diệt, đó cũng là Hóa thân tùy cơ ứng hiện của Ngài.
Đại chúng bộ quán sát Phật thân, không giống
như Hữu bộ cho là thực thân, mà là Siêu thân và tồn tại. Phật thân là vô lậu
thân, không phải hữu lậu pháp; lời Phật thì lời lời là Chuyển pháp luân, hết
thảy đều lợi ích; một âm thanh của Phật có thể nói được hết thảy pháp; một
sát-na của tâm, hiểu biết được hết thảy pháp; và thường ở định, không có thụy
miên; chúng sinh hỏi gì Phật đều đáp ngay, không cần phải suy nghĩ.
Trên đây là yếu nghĩa của Đại Chúng bộ. Đặc
biệt về thuyết “Ngã pháp câu không” rất gần với không quán của Đại thừa Bát
nhã; thuyết “Vô vi pháp” có thể là tiền khu cho thuyết “Chân như duyên khởi”
của Đại thừa; thuyết “Tâm tính bản tịnh, khách trần ô nhiễm”, về điểm phiền
não thì vô thủy hữu chung rất giống với thuyết “Chân như duyên khởi luận”, cho
vô minh là vô thủy hữu chung; thuyết “Tâm tính bản tịnh” cũng còn là nguyên
nhân để dụ dẫn đến tư tưởng “Nhất thiết chúng sinh, tất hữu Phật tính” của
giáo lý Đại thừa. Vì vậy, giáo nghĩa của Đại Chúng bộ, tuy cũng là Tiểu thừa,
mà có những tư tưởng rất gần với tư tưởng Đại thừa. Vậy có thể nói, giáo nghĩa
Đại thừa là từ chỗ phát triển dần dần ở giáo nghĩa của Đại Chúng bộ.
III. GIÁO NGHĨA CỦA MẠT PHÁI VÀ CHI PHÁI
1. LỜI BÀN
TỔNG QUÁT.
- Như trên đã kể, về bộ phái của Tiểu thừa gồm 20 bộ. Các bộ
đều do sự dị chấp, nên đã từ Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ mà phát sinh, nhưng
về phần giáo nghĩa của các bộ, không đi đôi với sự quan hệ của Giáo hội. Thí
dụ, các phân phái của Đại Chúng bộ thì bao hàm giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ;
mạt phái của Thượng Tọa bộ lại bao hàm giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Sự hỗn
đồng giáo nghĩa như vậy có rất nhiều.
Như Đa Văn bộ là phân phái của Đại Chúng bộ,
nhưng về giáo nghĩa thì phần nhiều giống với Hữu bộ; Hóa Địa bộ là mạt phái
của Hữu bộ, nhưng về giáo nghĩa, phần nhiều là giáo nghĩa của Đại Chúng bộ.
Nay theo chỗ thích nghĩa phân loại thành từng hệ thống như sau:
1. Hệ thống
Đại Chúng bộ Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ, Kê Dận bộ, Thuyết Giả bộ, Chế
Đa Sơn bộ, Tây Sơn Trụ bộ, Bắc Sơn Trụ bộ
Hệ thống
chiết trung Đa Văn bộ, Hóa Địa bộ, Pháp Tạng bộ, Ẩm Quang bộ, Tuyết Sơn bộ
2. Hệ thống
Hữu bộ Kinh Lượng bộ (Tuyết Sơn bộ)
Hệ thống
chiết trung (Kinh Lượng bộ)
3. Hệ thống
Độc Tử bộ Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ
Tức là,Đa Văn bộ phân phái từ nội bộ của Đại
Chúng bộ, nhưng phần nhiều lại theo giáo nghĩa của Hữu bộ: Hóa Địa bộ, Pháp
Tạng bộ, Tuyết Sơn bộ, Ẩm Quang bộ, thuộc về hệ thống Thượng Tọa bộ, nhưng
giáo nghĩa phần nhiều lại cũng giống với Đại Chúng bộ. Các bộ thuộc hệ thống
Độc Tử bộ, vì có một hệ thống đặc biệt về giáo nghĩa của Thượng Tọa bộ, nên
trở thành một hệ thống riêng. Kinh Lượng bộ thì kế thừa giáo lý của Hữu bộ,
nhưng lại có tư tưởng về Độc Tử bộ. Tuyết Sơn bộ là căn bản Thượng Tọa bộ,
giáo nghĩa cũng giống như Hữu bộ. Ngoài ra, còn các giáo nghĩa của các chi
phái, vì sợ phiền toái nên tĩnh lược.
2. HỆ THỐNG ĐẠI CHÚNG BỘ.
-
Nhất Thuyết bộ, Thuyết Xuất Thế bộ và Thuyết Giả bộ, ba bộ này có ít nhiều
giáo nghĩa đặc sắc trong hệ thống Đại Chúng bộ. Trước hết, Nhất Thuyết bộ kế
thừa thuyết các pháp ở quá khứ và vị lai đều không có thực thể, duy chỉ có các
pháp ở một sát-na của hiện tại là có thực thể, rồi nghiên cứu tiến bước hơn,
cho các pháp ở trong ba trạng thái quá khứ, hiện tại và vị lai đều không có
thực thể, chỉ là giả danh; chủ trương thuyết “Tam thế chư pháp, giả danh vô
thể”. Sau là Thuyết Xuất Thế bộ, Nhất Thuyết bộ thì kế thừa giáo lý “Pháp
không luận” của Đại Chúng bộ; Thuyết Xuất Thế bộ cũng kế thừa giáo nghĩa đó,
nhưng đứng ở lập trường phê phán thực tại luận, để bàn luận về thực tướng của
chư pháp. Trước hết đem các pháp chia ra “Chân đế” và “Tục đế”. Thế gian pháp
thuộc về Tục đế, là giả pháp, điên đảo, hư vọng không thực; xuất thế gian pháp
thuộc Chân đế, thì không điên đảo vọng kiến, mà là chân thực. Đó là chủ trương
thuyết “Tục vọng, Chân thực”. Sau nữa là Thuyết Giả bộ, giáo nghĩa cũng giống
như Nhất Thuyết bộ, nhưng không quyết đoán chư pháp là giả danh vô thể, và
cũng không nói các pháp xuất thế gian đều hoàn toàn là chân thực, chủ trương
các pháp thế gian và xuất thế gian đều có phần giả và thực. Đó là thuyết “Chân
giả tịnh hữu” của bộ này.
3. HỆ THỐNG ĐỘC TỬ BỘ.
- Từ Hữu bộ
trước hết phát sinh ra Độc Tử bộ. Đặc biệt, giáo nghĩa của Độc Tử bộ thì không
thuộc vào Đại Chúng bộ và Thượng Tọa bộ, tự nó sáng lập ra một hệ thống giáo
nghĩa riêng. Bộ này, trước hết đem mọi pháp chia làm ba tụ: “Hữu vi tụ”, “Vô
vi tụ” và “Phi nhị tụ”, hoặc đem chia thành “Ngũ tạng”: “Quá khứ”, “Hiện tại”,
“Vị lai”, “Vô vi” và “Bất khả thuyết”. Ba tạng đầu gọi là “Tam thế tạng” do sự
tế phân từ “Hữu vi tụ”; “Bất khả thuyết” là biệt danh của “Phi nhị tụ”. Nhưng
về giáo nghĩa đặc biệt của bộ này là thuyết “Bất khả thuyết tạng”. Trong Bất
khả thuyết tạng thì thành lập một thứ “Ngã” gọi là “Bổ Đặc Già La” (Pudgala).
Y vào thuyết này, con người tạo ra nghiệp, thiện, ác, rồi cảm đến kết quả của
nó, là vì có một thực thể tồn tại, nó liên tục từ hiện tại tới vị lai; nếu
không có thực thể đó duy trì, con người khi chết, đồng thời ngũ uẩn cũng tiêu
diệt, sẽ không có sự chuyển sinh ở lai thế. Cái thực thể đó thì tự do tự tại,
thường trụ không biến và luôn luôn liên tục để duy trì cái nghiệp nhân trong
ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai; và các thực thể này, từ ở địa vị phàm phu
cho tới sau khi thành Phật cũng vẫn tồn tục, gọi là “Bổ Đặc Già La”. Bổ Đặc
Già La này tức là “Ngã” thuộc “Bất khả thuyết tạng”, cái Ngã này không phải là
đương thể của ngũ uẩn, và cũng không phải là ngoài ngũ uẩn ra mà tồn tại giống
như linh hồn (Àtman), nên lại gọi là “Phi tức phi ly ngã”. Theo như nghĩa trên
thì không thể nói cái “Ngã” đó thuộc về hữu vi pháp của ngũ uẩn, và cũng không
thể nói là thuộc về vô vi pháp của Niết-bàn, nghĩa là nó không thuộc về cả Hữu
vi và Vô vi, nó là sự tồn tại của “Phi nhị tụ”.
Sau là Pháp Thượng bộ, Hiền Trụ bộ, Chính
Lượng bộ, Mật Lâm Sơn bộ, bốn bộ này đều kế thừa giáo nghĩa của Độc Tử bộ.
Nhưng giáo nghĩa của Chính Lượng bộ đã trở thành ưu thế. Cho nên Chính Lượng
bộ và Hữu bộ là hai bộ phái trọng yếu của Tiểu thừa Phật giáo.
4. HỆ THỐNG CHIẾT TRUNG.
- Đa Văn bộ
là phân phái của Đại Chúng bộ, nhưng về giáo nghĩa phần nhiều lại nương theo
giáo nghĩa của Hữu bộ. Đặc điểm về giáo nghĩa của bộ này là, đem giáo pháp của
Phật chia ra thế gian và xuất thế gian, chủ trương: “Vô thường, Khổ, Không, Vô
ngã, Tịch tĩnh, Niết-bàn” là giáo pháp vô lậu, xuất thế gian; còn các giáo
pháp khác đều là giáo pháp hữu lậu của thế gian. Về Đại Chúng bộ cho ngôn giáo
của Phật đều là vô lậu, trái lại Hữu bộ lại cho hết thảy là hữu lậu, vì lẽ đó
nên giáo nghĩa của Đa Văn bộ thuộc hệ thống chiết trung.
Hóa Địa bộ.
- Bộ này là
phân phái của Hữu bộ, nhưng chủ trương thuyết “Quá, vị vô thể” của Đại Chúng
bộ. Phần đặc điểm về giáo nghĩa của bộ này, đem vô vi pháp chia ra làm chín
thứ. Ba thứ vô vi đầu cũng giống như Hữu bộ, hai thứ cuối là “Chi đại chân
như” và “Duyên khởi chân như”, cũng giống như nghĩa “Thánh đạo chi tịnh” và
“Duyên khởi chi tịnh” của Đại chúng bộ; trung gian là bốn thứ vô vi: “Bất
động, Thiện pháp chân như, Bất thiện pháp chân như, Vô ký pháp chân như”. Bất
động vô vi là lý thể để đoạn diệt tâm thô động, nó làm chướng ngại thiền định.
Thiện pháp chân như là lẽ làm thiện tất được thiện quả. Bất thiện pháp là lẽ
làm ác tất phải chịu ác quả. Vô ký pháp chân như là cái “Lý pháp” làm việc
không phải thiện, không phải ác, sẽ đưa đến kết quả vô ký. Chân như có nghĩa
là chân thực như thường, không bị sinh diệt chi phối, nó là cái “Lý pháp bất
biến”.
Pháp Tạng
bộ.
- Bộ này là
phân phái của Hóa Địa bộ, dùng nhiều giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Phần đặc
điểm giáo nghĩa của bộ này là đem kinh điển chia thành năm tạng: Kinh, Luật,
Luận, Chú và Bồ-tát. Đặc biệt, Bồ-tát tạng có nói nhiều về sắc thái của giáo
lý Đại thừa, chủ trương thuyết “Tăng trung hữu Phật, Tam thừa đồng nhất giải
thoát”, rất gần với giáo lý của Đại thừa. Sau là Ẩm Quang bộ, phân phái của
Hữu bộ, giáo nghĩa cũng giống như Pháp Tạng bộ.
5. HỆ THỐNG KINH LƯỢNG BỘ.
- Đại thể
giáo nghĩa của Kinh Lượng bộ thuộc hệ thống Hữu bộ, nhưng có nhiều tư tưởng
đặc biệt, như thuyết “Chủng tử”, nên thành lập một hệ thống riêng. Bộ này cũng
như Độc Tử bộ, thành lập một thứ “Ngã” gọi là “Thắng nghĩa ngã” (Paramàrth
pudhala) và tư tưởng “Nhất vị uẩn” cùng “Vô lậu chủng tử”.
Tư tưởng
nhất vị uẩn.
- Nhất vị uẩn nghĩa là một loại không thay đổi, ngoài ngũ uẩn
sát na sinh diệt ra, còn có “Vi tế ngũ uẩn” là căn bản cho “Sinh diệt ngũ
uẩn”, nó liên tục trong quá khứ, hiện tại, vị lai. Vi tế ngũ uẩn này trở thành
chủng tử, sinh ra phần thô ngũ uẩn. Thô ngũ uẩn thì sát-na sinh diệt, liên tục
mãi mãi, không để cho đến chỗ diệt mất. Thô ngũ uẩn đối với “Nhất vị uẩn” thì
gọi là “Căn biên uẩn” (Chi mạt uẩn). Sở dĩ gọi là “Nhất vị uẩn” là vì từ vô
thủy trở lại đều luôn luôn tương tục, nhất vị hòa hợp với Thọ uẩn, Tưởng uẩn,
Hành uẩn, Thức uẩn, và Sắc uẩn thì bao hàm chủng tử của tâm và chủng tử của
sắc, tâm thì bao hàm chủng tử của sắc và chủng tử của tâm, vì vậy nên có tên
“Sắc tâm hỗ trì thuyết” và “Sắc tâm hỗ huân thuyết”.
Thắng
nghĩa ngã.
- Thắng nghĩa ngã là một thực thể của vô thủy vô chung, thông
với tất cả các pháp hữu vi và vô vi, thông với nhân vị và quả vị, thông với
tất cả các pháp hữu lậu và vô lậu.
Vô lậu
chủng tử.
- Tuy còn ở địa vị phàm phu, nhưng cũng đã sẵn có cái chủng tử
xuất thế vô lậu từ đời vô thủy lại đây, bản lai có cái thế lực giải thoát.
Thuyết “Vô lậu chủng tử” là một giáo nghĩa đặc biệt của Tiểu thừa.
Ngoài ra, tư tưởng tương tự với thuyết chủng
tử của Kinh Lượng bộ là tư tưởng thuộc chi phái của các bộ. Như chi phái thuộc
hệ thống Đại Chúng bộ đề xướng ra thuyết “Hữu lậu pháp chủng tử” và “Đa tâm
hòa hợp”, tương tự với thuyết “Nhất vị uẩn” của Kinh Lượng bộ; chi phái của
Hóa Địa bộ chủ trương thuyết “Cùng sinh tử ấm”, cũng tương tự với thuyết “Nhất
vị uẩn” của Kinh Lượng bộ.
Như trên đã
thuật khái quát giáo nghĩa của mạt phái và chi phái trong các bộ, có thể nói
tư tưởng của các bộ phái đó là tư tưởng “Duyên khởi luận”. Tư tưởng “Thắng
nghĩa ngã” và “Vô lậu chủng tử” rất tương tự với tư tưởng “Như Lai tạng” của
Đại thừa; tư tưởng “Nhất vị uẩn” tức “Hữu lậu chủng tử”, là tiền đề cho tư
tưởng “Căn bản thức”; “Vô lậu chủng tử cũng là tư tưởng tiền khu cho “Phật
tính luận”; tư tưởng “Tam thừa đồng nhất giải thoát” là căn nguyên cho tư
tưởng “Nhất thiết giai thành Phật” của Đại thừa.
CHƯƠNG THỨ TƯ. PHẬT
GIÁO Ở VƯƠNG TRIỀU KANISKA
I. PHẬT GIÁO SAU TRIỀU ĐẠI A
DỤC VƯƠNG
Vì A Dục Vương nhiệt tâm bảo hộ Phật giáo,
nên Phật giáo đã trở thành một đại tôn giáo của thế giới. Và sau đó một khoảng
thời gian 300 năm, Phật giáo lại được sự bảo hộ của quốc vương Kaniska (Ca Nhị
Sắc Ca), vị anh quân của một đại đế quốc từ nửa Bắc Ấn Độ đến Trung ương Á Tế
Á, và mở một đường lối truyền bá Phật giáo tới Đông phương.
Tại Trung Ấn, sau khi A Dục Vương tạ thế,
Khổng Tước vương triều nối nghiệp, nhưng uy thế của vương triều này không được
như xưa, hơn nữa các vua nối nghiệp phần nhiều lại tin theo Bà La Môn giáo và
Kỳ Na giáo, không thực tâm bảo hộ Phật giáo. Đến khoảng đầu thế kỷ thứ II
trước Tây lịch, có võ thần là Pusyamitra (Bổ Sa Mật Đa La) nổi lên cướp ngôi
vua và lập ra vương triều Sunga, vương triều này cũng thiên tín về Bà La Môn
giáo, bức hại Phật giáo. Tới đầu thế kỷ thứ I sau Tây lịch, vương triều Kànva
được thành lập thay thế vương triều Sunga, cũng tin theo Bà La Môn giáo, nên
Phật giáo Trung Ấn bị sút kém dần dần.
Nhưng vì thế
lực của các vương triều kể trên chỉ cục hạn trong phạm vi Trung Ấn mà các bậc
thạc học cao đức ở Trung Ấn phần nhiều đi truyền đạo ở nước ngoài, nên các
nước ngoài Trung Ấn, Phật giáo lại phát triển.
Lối kiến
trúc tại Trung Ấn đương thời mà di tích hiện còn như các Phật tháp ở Lộc Dã
Uyển (Magadava), Phật Đà Già Da (Buddha gayà) v.v...
Phật giáo ở
Tây bắc Ấn Độ dưới triều đại A Dục Vương đã có nhiều bậc truyền đạo tới. Đặc
biệt là hai nước Kasmitra (Ca Thấp Di La) và Gandhàra (Kiền Đà La) là hai căn
cứ địa truyền đạo của Thượng Tọa bộ. Trong đó giáo lý của Hữu bộ được phổ cập
rõ rệt hơn.
Phía Tây nam
Ấn Độ hiện còn các di tích như các động: Ellora, Ajantà, và các Phật tháp
Amaràvatì, Sanchì, được kiến tạo vào khoảng từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch
tới thế kỷ thứ II sau Tây lịch. Ở các địa phương này cũng là nơi lưu bá của
Đại Chúng bộ và Thượng Tọa bộ.
Phía Đông
bắc Ấn Độ vì thế lực bành trướng của Kỳ Na giáo, Đông nam Ấn Độ bị sự uy hiếp
của dân tộc Tamil nên ảnh hưởng của Phật giáo không được sâu rộng.
Tóm lại, Phật giáo sau thời đại A Dục Vương
chỉ được bành trướng và thịnh hành ở Bắc Ấn, Tây Ấn và Sri Lanka (Tích Lan),
còn các địa phương khác mãi tới vương triều Kaniska mới phổ biến khắp.
II. VƯƠNG TRIỀU KANISKA
Kaniska, một
ông vua rất tôn sùng và bảo hộ Phật giáo, sánh ngang với sự bảo hộ Phật giáo ở
triều đại A Dục Vương. Tổ tiên vua Kaniska, giòng dõi một bộ tướng nước Nhục
Chi (Tukhàra). Đương thời lãnh thổ nước đó phân cắt thành năm chư hầu. Tới
khoảng nửa thế kỷ thứ I trước Tây lịch, trong năm chư hầu đó, có Kujula
Kadphises thuộc Kusana (Quý Xương Hầu), thế lực mạnh hơn cả, liền nổi lên diệt
bốn chư hầu khác, và lập ra vương triều Kusana. Sau con của Kujula Kadphises
là Wema Kadphises nối nghiệp, lại đem quân chinh phục các nơi, và chiếm lĩnh
các nước Kasmitra và Gandhàra, các nước thuộc Bắc Ấn cùng một bộ phận Tây Ấn,
thế lực ngày một mạnh, bỗng trở thành một đại đế quốc tại Trung Á Tế Á. Vua
Kaniska, người kế thừa lãnh thổ vĩ đại này, là ngôi vua thứ ba thuộc vương
triều Kusana (Quý Xương Hầu). Niên hiệu tức vị của vua không được biết rõ
ràng, nhưng đại khái vào khoảng đầu thế kỷ thứ II sau Tây lịch.
Sau khi tức
vị, vua đem quân tiến vào Trung Ấn, chiếm lĩnh thành Pàtaliputra (Hoa Thị
Thành), và chinh phục cả nước Parthia (An Tức) thuộc Ba Tư bây giờ, đồng thời
chiếm cả lãnh thổ nhà Hậu Hán như: Sở Lặc (Kashgar), Xa Sa (Yarkand) và Vu
Điền (Khotan). Vua đóng đô ở thành Purusapura (Bá Lộ Xa Thành) thuộc nước
Gandhàra, kiến thiết thêm thành Kaniskapura (Ca Nhị Sắc Ca thành) tại nước
Kasmitra.
Vua Kaniska
tuy tín phụng Phật giáo, nhưng tin về giáo lý của Hữu bộ. Sự nghiệp quan hệ
đối với Phật giáo của vua có ba điểm trọng yếu:
1. Phỏng
theo sự nghiệp của A Dục Vương, thiết lập rất nhiều tháp để thờ Xá lợi của
Phật.
2. Khuyến
khích và bảo hộ duy trì nền văn minh Gandhàra (Kiền Đà La mỹ thuật).
3. Có công
đức lớn đối với sự nghiệp kiết tập kinh điển lần thứ IV.
Vua Kaniska tại vị được hơn ba mươi năm thì
mất. Các vương triều kế tiếp sau, tuy có ủng hộ Phật giáo, nhưng cũng có vương
triều lại bài xích, nên Phật giáo không được hưng thịnh như trước.
III. KẾT TẬP KINH ĐIỂN LẦN
THỨ IV
Vương triều
Kaniska đối với Phật giáo, một sự nghiệp vĩ đại nhất là việc kết tập kinh điển
của Hữu bộ lần thứ IV tại nước Kamistra.
Tương
truyền, vua Kaniska cứ mỗi ngày thỉnh một vị Tăng vào cung để nghe pháp, và
lại chính mình duyệt lãm các kinh, luận, thấy giáo nghĩa không giống nhau, lấy
làm ngờ vực, đem hỏi ngài Hiếp Tôn Giả (Pàrava). Tôn giả giảng giải cho vua
biết lý do, vì có nhiều bộ phái, nên giáo nghĩa của mỗi bộ phái cũng khác
nhau. Vua thấy thế nảy ra ý nghĩ thống nhất giáo nghĩa của mọi bộ phái, liền
bàn cùng ngài Hiếp Tôn Giả, rồi phát nguyện mở đại hội kết tập.
Trước hết, vua hạ lệnh chiêu tập các học giả
khắp trong nước, tuyển bạt lấy 500 vị, là những bậc học rộng tài cao, tinh
thông Tam Tạng, hội họp tại tinh xá Hoàn Lâm (Kundalavana samgharàma) nước
Kasmitra để kết tập Tam tạng. Kỳ kết tập này do ngài Vasumitra (Thế Hữu) là
Thượng thủ, và có các Đại đức Dharmatràtà (Pháp Cứu), Ghosa (Diệu Âm),
Bhuddadeva (Giác Thiên) và Pàrsva (Hiếp Tôn Giả), các ngài chú thích Kinh tạng
gồm 10 vạn bài tụng; Luật tạng gồm 10 vạn bài tụng; và Luận tạng (Abhidharma
vibhàsa) 10 vạn bài tụng, cả thảy là 30 vạn bài tụng, gồm 660 vạn lời. Kỳ kết
tập này, Kinh, Luật, Luận đều được khắc vào bản bằng đồng, trước sau phải mất
mười hai năm mới hoàn thành. Sau khi hoàn thành, vua ra lệnh xây cất một bảo
tháp lớn để tàng trữ, cắt cử người hộ vệ, để ngăn ngừa học thuyết ngoại đạo
trà trộn. Nếu ai muốn học hỏi và nghiên cứu, chỉ được xem ở trong tháp, cấm
không được đem ra bên ngoài. Tuy thế, nhưng Kinh tạng và Luật tạng cũng đã sớm
bị thất lạc, không còn thấy truyền tới ngày nay, duy có phần chú thích của
Luận tạng Abhidharma mahavibhàsa sutra (A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Ba Sa Luận), gồm
200 quyển do ngài Huyền Trang dịch là hiện còn lưu truyền. Nội dung của bộ
luận này là tổng hợp giáo nghĩa dị đồng của các bộ phái để hoàn thành giáo
nghĩa của Hữu bộ.
Về niên đại
kỳ kết tập này có nhiều thuyết khác nhau, nghĩa là Đức Phật nhập diệt sau 400
năm, 500 năm hoặc 600 năm. Thuyết Phật diệt độ sau khoảng 600 năm thì thích
ứng hơn, tức là ở vào khoảng đầu thế kỷ thứ II sau Tây lịch.
CHƯƠNG THỨ NĂM. PHẬT GIÁO Ở THỜI KỲ GIỮA TIỂU THỪA VÀ ĐẠI THỪA
I. LỜI TIỂU DẪN
Như các
chương trên đã thuật, đó là sự phát đạt và biến thiên của Tiểu thừa Phật giáo.
Tới khoảng thế kỷ thứ III (Phật diệt độ sau 800 năm), có các bậc đại Luận sư
ra đời như Bồ-tát Long Thọ và Đề Bà, là những bậc đã phát huy chân giáo lý Đại
thừa của Phật giáo, làm cho Đại thừa Phật giáo được phát triển và hưng thịnh.
Nhưng Đại thừa Phật giáo không phải đột nhiên mà xuất hiện, nghĩa là không
phải do ngài Long Thọ, Đề Bà xuất hiện mới bắt đầu dựng ra, mà nó vẫn tiềm
tàng ở tư tưởng trong giáo nghĩa của các bộ phái, rồi dần dần phát triển thành
tư tưởng Đại thừa Phật giáo. Các học giả ở thời kỳ giữa Tiểu thừa và Đại thừa
này, ta có thể kể các ngài như Nàgasena, Vasumitra và Asvaghosa làm đại biểu.
II. NGÀI NÀGASENA (NA TIÊN TỶ-KHƯU HOẶC LONG QUÂN)
Ngài Nàgasena xuất hiện ở cuối thế kỷ thứ II
trước Tây lịch, người Trung Ấn, thiếu thời ngài tới ngài Rùpana (Lâu Ba) xin
đầu Phật xuất gia, 20 tuổi thọ giới Cụ túc ở ngài Asvagupta. Ngài rất chuyên
tâm tu hành, chứng tới quả A-la-hán, sau đi các địa phương giáo hóa. Khi tới
thành Sàgàla (Sa Yết La) thuộc Bắc Ấn, ngài thuyết pháp cho vua Milinda (Di
Lân Đà) nghe, vua nhờ sự giáo hóa của ngài, liền quy y Phật giáo. Đương thời,
sự vấn đáp giữa nhà vua và Nàgasena đều được ghi chép lại, nên trong Đại tạng
có kinh gọi là “Na Tiên Tỷ-khưu kinh”. Nam truyền Đại tạng kinh gọi là Milinda
Panha, hiện còn lưu truyền tới nay.
Y vào kinh Milinda Panha, thì Nàgasena chủ
trương tư tưởng vô ngã của Tiểu thừa để đả phá cái ngã kiến của nhà vua. Nhưng
trong đó có thuyết hiện thế làm ác nghiệp, tới lúc lâm chung nương vào công
đức niệm Phật, thì không những tiêu bạt được nghiệp chướng mà còn được hưởng
quả báo sinh thiên. Vậy nên, ta có thể biết được ngài Nàgasena không phải là
nhà học giả thuần túy Tiểu thừa, mà là người kiêm học cả Tiểu thừa và Đại
thừa.
Sự khởi
nguyên tư tưởng niệm Phật, và đối tượng niệm Phật của Nàgasena, tuy trong sử
không chép rõ ràng, nhưng đương thời, tư tưởng của các bộ phái Tiểu thừa có tư
tưởng quán Phật thân; từ thế kỷ thứ II trước Tây lịch trở về sau, đã có điêu
khắc tượng Phật để làm đối tượng tín ngưỡng. Đó là lẽ phát đạt tự nhiên từ
Tiểu thừa tiến tới Đại thừa.
III. NGÀI VASUMITRA (THẾ HỮU)
Ngài Vasumitra xuất hiện ở đầu thế kỷ thứ
II, người nước Gandhàra. Tục truyền ngài trước thuật hai bộ luận “Dị Bộ Tôn
Luân Luận” (1 quyển) do ngài Huyền Trang dịch, và “Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập
Luận” (10 quyển). Giáo nghĩa của hai bộ này thuộc Tiểu thừa Hữu bộ. Nhưng căn
cứ vào lý do sau đây thì tư tưởng của ngài là bậc kiêm học cả Tiểu thừa và Đại
thừa.
Vì ngài Chân Đề đời Trần bên Trung Quốc dịch
bộ “Bộ Chấp Nghị luận”, và ngài Huyền Trang đời Đường dịch bộ “Dị Bộ Tôn Luân
Luận”, đều tôn xưng danh hiệu ngài là “Thiên Hữu Đại Bồ-tát” và “Thế Hữu Đại
Bồ-tát”, như vậy tỏ ra ngài không phải là học giả thuần túy của Tiểu thừa mà
kiêm cả tư tưởng Đại thừa.
IV. NGÀI ASVAGHOSA (MÃ MINH
BỒ-TÁT)
Asvaghosa, về niên đại xuất thế của ngài có
nhiều thuyết khác nhau, khó thể mà xác định được rõ ràng. Như những thuyết
ngài xuất thế vào khoảng Phật diệt độ sau 300 năm, sau 400 năm, hoặc 600 năm.
Căn cứ vào Luận Thích Ma Ha Diễn(1),
thì từ khi Đức Phật còn tại thế cho tới lúc Ngài nhập diệt sau 800 năm, trong
khoảng thời gian đó có tất cả sáu ngài Mã Minh ra đời.
Tác giả của
Luận Đại Thừa Khởi Tín, căn cứ vào nội dung tư tưởng của bộ luận này, thì tư
tưởng của tác giả là thuần túy Đại thừa.
Vì lẽ đó nên
ngài Asvaghosa có thể có từ hai người trở lên, một người là tác giả của tư
tưởng Tiểu thừa, một người là tác giả của Đại Thừa Khởi Tín luận. Theo cuốn
“Ấn Độ Phật Giáo Sử” của tác giả Shoma Gyokei cũng chép: “Ngài Mã Minh
luận chủ Luận Khởi Tín là tác giả tư tưởng thuần Đại thừa thì xuất hiện ở thời
đại sau, riêng về ngài Mã Minh kiêm học cả Tiểu thừa và Đại thừa thì xuất thế
ở khoảng thời đại giữa tuổi vãn niên của vua Kaniska, cho tới khoảng ngài Long
Thọ xuất thế, tức là ở khoảng 700 năm sau khi Phật diệt độ, hậu bán thế kỷ thứ
II Tây lịch”.
Ngài
Asvaghosa thuộc giòng dõi Bà-la-môn, người thành Sakera (Sa Kỳ Đa) thuộc Trung
Ấn. Ngài học rộng, tài cao, biện tài vô ngại, lại thông hiểu cả Hán học, có
tài làm ca phú. Lúc đầu ngài tin theo ngoại đạo, khi tới nước Magàdha (Ma Kiệt
Đà), biện luận hầu hết với các nhà học giả Phật giáo tại đó, ngài đều chiếm
phần ưu thế, nhưng sau biện luận với ngài Pùrnayasas (Phú Na Dạ Sa) bị thua,
nên ngài quy y Phật giáo và tôn ngài Pùrnayasas làm thầy. (Hoặc biện luận cùng
với ngài Hiếp Tôn Giả bị thua, xin phục tùng làm đệ tử).
Sau ngài đi
du lịch các địa phương như Trung Ấn, Bắc Ấn, đem sức biện tài trác tuyệt để
tuyên dương Phật giáo. Và ngài đem lời văn hùng tráng để tán dương công đức
quảng đại vô biên của Đức Phật, sau được ghi chép thành một bộ gọi là “Phật Sở
Hạnh Tán”. Hơn nữa, ngài còn đem sức hùng biện triết phục Số luận, để tuyên
dương chánh giáo. Thanh danh của ngài vang dội khắp Ấn Độ lúc đương thời. Hoặc
có thuyết nói, khi vua Kaniska tới đánh thành Pàtaliputra (Hoa Thị Thành), vua
yêu cầu phải nộp vàng chín ức, chủ thành Pàtaliputra không đủ vàng để nộp, nên
phải đem Mã Minh dâng để thay thế cho một bộ phận vàng. Khi vua Kaniska được
ngài Mã Minh, liền rước về Bắc Ấn để hoằng dương Đại thừa Phật giáo. Tương
truyền trong thời kỳ kết tập kinh điển lần thứ IV, ngài Mã Minh cũng có tham
gia, đảm đương công việc nhuận sắc văn chương.
Phần trước
tác, tương truyền ngài soạn thuật tới hơn 100 bộ kinh luận, nhưng hiện nay
trong Đại tạng chữ Hán chỉ còn lưu truyền các bộ như sau:
1. “Phật Sở
Hạnh Tán” (Buddhakaritakàvya) 5 quyển, (Đàm Vô Sấm (Dharmaraksa) dịch).
2. “Đại
Trang Nghiêm Luận Kinh” (Mahàlankàra-sùtrasàstra) 15 quyển, (ngài La Thập
(Kumàrajiva) dịch).
3. “Thập Bất
Thiện Nghiệp Đạo Kinh” 1 quyển, (Nhật Xứng (Sùryayasa) dịch).
4. “Lục Thú
Luân Hồi Kinh” 1 quyển, (Nhật Xứng dịch).
5. “Sự Sự
Pháp Ngũ Thập Tụng” 1 quyển, (Nhật Xứng dịch).
6. “Ni Kiền
Tử Vấn Vô Ngã Nghĩa Kinh” 1 quyển, (Nhật Xứng dịch).
7. “Đại Tôn
Địa Huyền Văn Bản Luận” (Mahàyànabhùmiguhyavàcàmùla sutrà) 20 quyển, (Chân Đế
(Paramàrtha) dịch).
8. “Đại Thừa
Khởi Tín Luận” (Mahàyàna sraddhotpàda sùtra) 1 quyển, (ngài Chân Đế dịch đời
Hậu Đường, ngài Thực Xoa Nan Đà (Siksànanda) lại dịch 2 quyển gọi là tân
dịch).
“Phật Sở
Hành Tán” là những bài tụng để tán dương công đức của Đức Phật. “Đại Trang
Nghiêm Luận Kinh” là những lời biện luận để phá ngoại đạo, Thắng luận và Số
luận. “Thập Bất Thiện Nghiệp Kinh” là những lời khuyên để tránh thập ác là
nhân của địa ngục. “Lục Thú Luân Hồi Kinh” bàn rõ cái nhân luân hồi trong sáu
ngả, “Ni Kiền Tử Vấn Vô Ngã Nghĩa Kinh” thì mượn lời hỏi của Ni Kiền Tử để
giải nghĩa Đại thừa, nói cái lý tâm tính bản tịnh, chư pháp vô ngã, nhất thiết
giai không, tuy là một đoản văn, nhưng là một trước tác trọng yếu về giáo lý.
“Huyền Văn Bản Luận” thì giải rõ về vị thứ tu hành của Bồ-tát. “Đại Thừa Khởi
Tín Luận” bàn rõ lý chân như duyên khởi.
Căn cứ vào nội dung giáo nghĩa của các bộ kể
trên thì giáo nghĩa của Luận Khởi Tín thuộc giáo lý thuần túy Đại thừa, còn
các bộ khác hoặc thuộc giáo nghĩa thuần Tiểu thừa, hoặc thuộc giáo nghĩa kiêm
cả Tiểu thừa và Đại thừa. Vì vậy, Kỳono Tetsu, tác giả cuốn Ấn Độ Phật Giáo
Sử Cương (trang 179), đã kết luận: “Ngài Mã Minh thuộc tư tưởng Tiểu thừa
thì xuất hiện ở khoảng trước hoặc sau thế kỷ thứ I, còn ngài Mã Minh thuộc tư
tưởng Đại thừa thì hoàn toàn là người xuất hiện ở thế kỷ sau”. Như vậy tác giả
cuốn sử kể trên nhận có hai ngài Mã Minh ra đời. Nhưng suy luận theo tác phẩm
thì có thể chỉ là một ngài Mã Minh, vì lúc đầu ngài tin theo Tiểu thừa, nên
trước tác của ngài thuộc Tiểu thừa giáo, sau ngài chuyển hướng theo Đại thừa
nên trước tác của ngài cũng là tư tưởng Đại thừa. Tức là, ngài là bậc kiêm học
cả Tiểu thừa và Đại thừa.
V. GIÁO NGHĨA CỦA NGÀI MÃ MINH (ASVAGHOSA)
1. LỜI TIỂU DẪN.
- Căn cứ vào bài tựa quy kính của bộ
“Đại Trang Nghiêm Luận Kinh” của Mã Minh có chép: “Phú Na, Hiếp Tỷ-khưu, Di
Chức chư luận sư, Tát Bà Thất Bà chúng, Ngưu vương chính đạo giả, thị đẳng chư
luận sư, ngã đẳng giai kính thuận”.
Di Chức tức là: dịch âm của chữ Mahìsasaka
(Hóa Địa bộ), Tát Bà Thất Bà là dịch âm của chữ Sarvàstivàda (Nhất Thiết Hữu
bộ), Ngưu vương có thể cũng là dịch âm của chữ Kaukkutika (Kê Dận bộ). Nghĩa
là ngài Phú Na, ngài Hiếp Tôn Giả và tất cả các giáo nghĩa của các bộ, ngài
đều cung kính tùy thuận hết thảy. Đó chính là thái độ khoan dung của ngài, cốt
để thám cầu chỗ sở trường và bỏ chỗ sở đoản.
Ngài là một nhà kiêm học cả Tiểu thừa và Đại
thừa, nên về tư tưởng của ngài có thể như là chiếc cầu bắc ngang giữa hai
luồng tư tưởng đó.
2. CHƯ PHÁP THỰC TƯỚNG.
- Để thuyết
minh về chư pháp, nên ngài Mã Minh lập ra “Thế tục đế” và “Thắng nghĩa đế”.
Thành lập Thế tục đế (Samvrti Satya) để quan sát về hiện tượng luận; thành lập
Thắng nghĩa đế (Parà-martha Satya) để quan sát về bản thể luận. Nghĩa là nương
vào Thế tục đế để quan sát chư pháp, thì có sự khu biệt giữa mình và người,
giữa nghiệp báo thiện và ác, giữa gia đình và xã hội, tóm lại, tức là có sự
sai biệt về thế gian, xuất thế gian, hữu vi và vô vi. Nếu nương vào Thắng
nghĩa đế để quan sát thực tướng của chư pháp thì không có sự thiên giải, phân
biệt, tương đối như trên. Nhưng chúng sinh vì không biết được thực tướng của
chư pháp, nương vào Thế tục đế để quan sát chư pháp, nên cứ chấp trước vào
kiến giải sai biệt, hư vọng không thực, tương đối tồn tại, sinh ra mọi phiền
não, tạo ra mọi nghiệp, chịu mọi khổ não, sinh diệt quả báo thiện ác: Nếu
chúng sinh biết nương vào Thắng nghĩa đế để quan sát, thì lìa được quả báo
thiện ác, cùng khổ não kiến giải sai biệt, xa được mọi hư vọng, không còn sinh
tử, an trụ vào cảnh giới tịch tĩnh tuyệt đối.
“Chư pháp thực tướng” có ý nghĩa là siêu
việt về nhận thức sai biệt, lìa mọi quan niệm tương đối, vượt ra ngoài vòng
hữu vô, thuộc cảnh giới “Nhất thiết giai không”. Ở cảnh giới này tức là chơn
như, bản lai tự tánh thanh tịnh, chân thực không hư, cho nên lại gọi là “Chơn
như tự tính” và ở cảnh giới này thì đoạn tuyệt mọi lý luận, duy có chân trí vô
lậu, cho nên lại có tên là “Bồ-đề tâm tướng” (theo kinh Ni Kiền Tử).
3. VẠN HỮU DUYÊN KHỞI.
- Thuyết
“Vạn hữu duyên khởi” của ngài Mã Minh cũng tương tự như thuyết “Nghiệp cảm
duyên khởi” của Tiểu thừa. Nghĩa là loài hữu tình vì nương vào Thế tục đế, cho
nên dấy ra nhiều sự sai biệt tự và tha, tự mình mắc vào vòng mê kiến, sinh ra
nghi hoặc, tăng trưởng mọi phiền não, gây ra nghiệp thiện, ác, chịu quả khổ
sinh tử luân hồi trong sáu ngả. Nhưng nếu nương vào Thắng nghĩa đế để quan sát
thể tướng, biết chúng sinh và khí thế gian đều như mộng huyễn, biết được tác
nghiệp và thọ nghiệp đều là do cái “TA”, hiểu được con người đều là vì phiền
não trói buộc, gây ra kế chấp, tạo ra nghiệp thiện ác quả báo, cũng ví như từ
hạt giống mà sinh ra mầm cây, hạt giống và mầm cây tuy không phải là một,
nhưng vì từ hạt giống mới có mầm cây. Và cũng ví như người mẹ và đứa con thơ,
tuy không phải là một, nhưng người mẹ uống thuốc thì khỏi được bệnh của đứa
con (theo đại ý “Đại Trang Nghiêm Luận Kinh”). Vậy nên, nếu chúng sinh biết
lìa bỏ Thế tục đế, quay về Thắng nghĩa đế, đem trí Bát-nhã để quán chiếu vào
thực tướng của chư pháp, thì sẽ trừ được mọi hoặc nghiệp, thoát được sinh tử.
4. THUYẾT VẠN PHÁP DUY NHẤT TÂM.
- Căn cứ vào
giáo nghĩa Luận “Đại Thừa Khởi Tín”, thì giáo nghĩa căn bản của ngài Mã Minh
là “Vạn pháp duy nhất tâm”. Nghĩa là hết thảy mọi pháp của vật và tâm, hữu vi
và vô vi, thế gian và xuất thế gian, đều duy ở nhất tâm, và cho cả đến toàn vũ
trụ pháp giới cũng quy vào duy nhất tâm, ngoài nhất tâm ra, không còn nhận một
sự vật nào tồn tại, tức là thuyết “Vạn pháp duy nhất tâm”. Thuyết nhất tâm này
không phải là cái tâm vật tâm tương đối, mà nó tổng quát hết thảy vật và tâm,
hết thảy vạn pháp hữu hình và vô hình. Vì vậy nên có thể gọi “Nhất tâm” này là
“Vạn hữu tổng cai tâm”. Phật tâm và chúng sinh tâm tên tuy khác nhau, nhưng
cũng chỉ là tên riêng của nhất tâm.
Vì chúng sinh bị vọng kiến phân biệt che
đậy, nên không biết được cái tuyệt đối của nhất tâm đó. Ngài vì mục đích
chuyển mê khai ngộ cho chúng sinh, nên ngài nói rằng, cái nhất tâm nó vẫn đầy
đủ ở chúng sinh tâm, bản tính của chúng sinh tâm vẫn đầy đủ cái pháp thể của
Ma ha diễn (Đại thừa). Luận Đại Thừa Khởi Tín chép: “Sở ngôn pháp giả vị chúng
sinh tâm, thị tâm tắc nhiếp nhất thiết thế gian, xuất thế gian, y ư thử tâm,
hiển thị Ma Ha diễn. Nói về pháp thế gian, xuất thế gian, nương vào tâm này mà
hiển thị được nghĩa Ma Ha diễn (Đại thừa).
Nói về tâm chúng sinh, nếu đứng ở phương
diện bản thể luận mà quan sát thì cái tâm đó là tổng thể của vũ trụ, vì nó vẫn
đủ bản thể chân như, không sinh không diệt, không tăng không giảm; đứng về
hiện tượng luận mà quan sát, thì cái tâm đó sai biệt vô thường, biến hóa sinh
diệt. Luận Đại Thừa Khởi Tín chép: “Y nhất tâm pháp, hữu nhị chủng môn. Vân hà
vi nhị, nhất giả tâm chơn như môn, nhị giả tâm sinh diệt môn, thị nhị chủng
môn, giai các tổng nhiếp nhất thiết pháp. Thử nghĩa vân hà, dĩ thị nhị môn bất
tương ly cố”. Nghĩa là nương ở nhất tâm pháp, nên có hai phần. Những gì là hai
? - Một là tâm chơn như môn, hai là tâm sinh diệt môn. Hai thứ tâm này đều
tổng quát hết thảy mọi pháp. Nghĩa đó ra sao ? Vì hai môn đó không rời nhau.
Vì nhất tâm là chúng sinh tâm, nên căn cứ
vào bản tính và đức dụng của nó tức là THỰC TÍNH của chơn như bình đẳng. TÍNH
NĂNG của nó bao hàm vô lượng công đức. ĐỨC DỤNG của nó hay sinh ra mọi pháp
thế gian, xuất thế gian, hữu lậu và vô lậu. Vậy nên thực tính đó tức là THỂ
ĐẠI của nhất tâm, tính năng đó tức là TƯỚNG ĐẠI, và đức dụng đó là DỤNG ĐẠI
của nhất tâm, nên gọi là TAM ĐẠI. ĐẠI có nghĩa là rộng lớn vô biên. như trên
đã thuật “Nhất tâm”, “Nhị môn”, “Tam đại”, đó là thuyết “Vạn hữu duy nhất tâm”
của ngài Mã Minh đã nói trong bộ Đại Thừa Khởi Tín.
Tóm tắt
nghĩa trên như sau:
Chân như môn
Bản thể quan
Sinh diệt
môn Hiện tượng quan
Thể đại Thực
tính
Tướng đại
Tính năng
Dụng đại
Đức dụng
5. PHƯƠNG PHÁP THỰC TIỄN TU HÀNH.
- Về phương
pháp thực tiễn tu hành của ngài Mã Minh là “Tam học” và “Lục độ”, nhưng trong
đó lấy trí tuệ làm nền tảng then chốt. Tức là đem trí tuệ để đả phá mọi mê
vọng, đạt tới chân như bản lai thanh tịnh.
CHƯƠNG THỨ SÁU. VIỆC THÀNH
LẬP TAM TẠNG
I. LUẬT TẠNG THÀNH LẬP
Tam Tạng
(Tripitaka) là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng, tiếng gọi tổng quát kinh
điển của Phật giáo. Đại thừa và Tiểu thừa đều có Tam Tạng riêng, nội dung và
hình thức của đôi bên cũng không giống nhau. Đây nói thành lập Tam Tạng là nói
sự thành lập Tam Tạng của Tiểu thừa Phật giáo.
Khởi nguyên của Luật tạng, lẽ dĩ nhiên đã có
từ khi Đức Thích Tôn còn tại thế, nhưng việc thành lập Luật tạng thì ở khoảng
triều đại A Dục Vương. Nghĩa là sau khi giáo đoàn Phật giáo chia ra Thượng Tọa
bộ và Đại Chúng bộ, thì đôi bên đều có Luật tạng riêng, tới khi phân chia ra
các mạt phái thì mỗi phái cũng lại y theo từng bộ luật riêng. Nội dung căn bản
của các bộ luật thì giống nhau, nhưng khác nhau ở phần chi tiết, đó là vì sự
kế thừa và thực hành của mỗi bộ bất đồng. Luật tạng có sáu bộ chính, mà các bộ
phái lấy đó làm căn cứ như sau(1):
1. Vinayapitaka (Luật tạng) Nam phương
Thượng Tọa bộ (Luật bộ thuộc Nam truyền Đại tạng kinh).
2. Thập Tụng Luật (61 quyển)), Hữu bộ, (ngài
La Thập dịch năm 404 Tây lịch).
3. Tứ Phần Luật (60 quyển), Pháp Tạng bộ,
(ngài Trúc Phật Niệm dịch năm 412 TL).
4. Ma Ha Tăng Kỳ Luật (40 quyển), Đại Chúng
bộ, (ngài Phật Đà Bạt Đà La, ngài Pháp Hiển dịch năm 416 TL).
5. Di Sa Tắc Hòa Hê Ngũ Phần Luật (30
quyển), Hóa Địa bộ, (ngài Trúc Đạo Sinh dịch năm 424 TL).
6. Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ Tỳ Nại
Da (50 quyển), Căn bản Hữu bộ, (ngài Nghĩa Tịnh dịch năm 710 TL).
II. KINH TẠNG THÀNH LẬP
Việc thành lập Kinh tạng tức là thành lập
kinh điển A Hàm, phát triển qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên là ở thời kỳ
kết tập kinh điển lần thứ nhất, ở giai đoạn này chỉ tụng toát yếu lại những
giáo pháp của Phật. Giai đoạn thứ hai, ở thời kỳ trước khi Thượng Tọa bộ và
Đại Chúng bộ phân liệt, trong giai đoạn này lại được truy gia những lời thuyết
pháp hoặc thuyết thoại của Đức Phật mà ở kỳ kết tập lần thứ nhất còn thiếu
sót. Giai đoạn thứ ba, ở thời kỳ sau các bộ phái phân liệt, là giai đoạn hoàn
thành Kinh tạng thì gồm có “Tứ A Hàm Kinh”, tức là Trường A Hàm, Trung A Hàm,
Tạp A Hàm và Tăng Nhất A Hàm; hoặc thêm kinh Tạp Tạng tức là Tiểu A Hàm, gọi
là “Ngũ A Hàm”. Căn cứ vào Tứ A Hàm trong tạng kinh chữ Hán mà các bộ phái
lấy đó làm căn cứ như sau:
Trường A Hàm Kinh (22 quyển), Pháp Tạng.
(Ngài Phật Đà Da Xá, ngài Trúc Phật Niệm dịch khoảng năm 412-413 TL).
Trung A Hàm (60 quyển), Hữu bộ. (Ngài Tăng
Già Đề Bà dịch năm 397-398 TL).
Tạp A Hàm Kinh (50 quyển), Hữu bộ. (Cầu Na
Bạt Đà La dịch ở khoảng năm 435-443 TL).
Tăng Nhất A
Hàm Kinh (51 quyển), hệ thống Đại Chúng bộ. (Ngài Tăng Già Đề Bà dịch năm 397
TL)(1).
III. LUẬN TẠNG THÀNH LẬP
Luận tạng tức là A Tỳ Đạt Ma Tạng. Ở thời kỳ
kết tập kinh điển lần thứ nhất, lẽ dĩ nhiên Luận tạng chưa có; thời kỳ kết tập
lần thứ hai cũng chưa độc lập thành một tạng riêng; mãi tới thời đại các bộ
phái xuất hiện, nhất là hệ thống của Thượng Tọa bộ chủ trương lối chú thích để
thuyết minh về giáo pháp của Đức Phật đã nói, và phân tích biện luận cho rõ
ràng, vì thế nên Luận tạng mới độc lập thành một tạng riêng.
Hiện nay, Luận tạng của Tiểu thừa có các bộ
luận thuộc Hữu bộ, thấy ở trong tạng kinh chữ Hán; và bảy bộ luận thuộc hệ
thống Nam phương Thượng Tọa bộ. Tên các bộ đó như sau:
Bảy bộ
luận thuộc Nam phương Thượng Tọa bộ:
(1) Nhân Thị Thuyết Luận, (2) Giới Thuyết
Luận, (3) Pháp Tụ Luận, (4) Phân Biệt Luận, (5) Song Luận, (6) Phát Thú Luận,
(7) Luận Sự Luận.
Bảy bộ
luận thuộc Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ:
(1) Tập Dị Môn Túc Luận (20 quyển), (2) Pháp
Uẩn Túc Luận (12 quyển), (3) Thi Thiết Túc Luận (7 quyển), (4) Thức Thân Túc
Luận (16 quyển), (5) Giới Thân Túc Luận (3 quyển), (6) Phẩm Loại Túc Luận (18
quyển), (7) Phát Trí Luận (20 quyển).
IV. VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ CỦA
NGUYÊN THỦY KINH ĐIỂN
Khi Đức Thích Tôn còn tại thế, trong khi
thuyết pháp, đàm thoại, Ngài thường dùng thứ ngôn ngữ nào, cho tới ngày nay
vẫn chưa quyết đoán được đích xác. Ngôn ngữ lúc đương thời về hệ thống kinh
điển Veda thì được dùng bằng chữ Phạn, và nước Maghàda (Ma Kiệt Đà) thì dùng
tiếng phương ngôn của nước đó gọi là tiếng Magadhi, phổ thông trong quần chúng
thì dùng thứ tiếng tục ngữ hỗn hợp. Tiếng tục ngữ này lấy tiếng Magadhi làm cơ
sở, rất trọng yếu trong việc giao tế lúc đương thời. Có lẽ đương thời, Đức
Phật đã dùng thứ tiếng này để hóa độ quần chúng. Sau khi Ngài diệt độ, trong
Giáo đoàn phần nhiều cũng dùng thứ tiếng đó, vả lại sau khi Phật giáo được
truyền tới Sri Lanka (Tích Lan), thứ tiếng đó lại được canh cải biến hóa rồi
thành tiếng Ba Lị (Pali). Và thứ tiếng này được dùng để ghi chép kinh điển của
Nam truyền Phật giáo.
V. HAI HỆ THỐNG LỚN CỦA KINH
ĐIỂN PHẬT GIÁO
Căn cứ vào giáo lý của Phật giáo, thì Phật
giáo chia ra hai hệ thống lớn là Đại thừa và Tiểu thừa. Những nước thuộc hệ
thống Đại thừa Phật giáo như Bắc Ấn Độ, các địa phương Trung Á Tế Á, Tây Tạng,
Mông Cổ, Mãn Châu, Trung Quốc, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản. Phật giáo ở
các nước này gọi là Nam truyền hay Nam phương Phật giáo. Nguyên điển của Nam
phương Phật giáo thì được ghi chép bằng tiếng Ba Lị (Pali), nên gọi là “Pali
Phật điển”. Nguyên điển của Bắc truyền Phật giáo được chép bằng tiếng Phạn
(Sanskrit) nên gọi là “Phạn ngữ Phật điển”. Tuy chia ra Đại thừa và Tiểu thừa,
hay Nam truyền và Bắc truyền, đó chỉ là sự phân chia của địa lý, thực ra Bắc
phương Phật giáo cũng gồm đủ về các Kinh, Luật, Luận của Tiểu thừa, Nam phương
Phật giáo cũng có chỗ xen lẫn giáo lý của Đại thừa.
Pali Phật
điển.
- Nội dung
của Pali Phật điển gồm có ba phần: Kinh, Luật và Luận. Hiện nay, bộ Nam truyền
Đại tạng gồm có các kinh điển theo như biểu đồ sau đây(1):
TRIPITAKA (TAM TẠNG)
A. VINAYA
PITAKA (LUẬT TẠNG)
I. Suttavibhanga (Kinh Phân Biệt ), (Nhật
dịch Nam truyền quyển 1, 2).
II. Khandhaka (Kiền-Độ bộ), (Nhật dịch Nam
truyền quyển 3, 4).
III. Parivàra (Phụ Tùy), (Nhật dịch Nam
truyền quyển 5).
B. SUTTA
PITAKA (KINH TẠNG)
I. Dĩgha nikàya (Trường Bộ), (Nhật dịch Nam
truyền quyền 6, 7, 8).
II. Majjhima nikàya (Trung Bộ), (Nhật dịch
Nam truyền quyển 9, 10, 11).
III. Samyutta nikàya (Tương Ưng Bộ), (Nhật
dịch nam truyền quyển 12... 15, 16).
IV. Anguttara nikàya (Tăng Nhất Bộ), (Nhật
dịch Nam truyền quyển 17, 21, 22).
V. Khuddaka nikàya (Tiểu Bộ), (Nhật dịch Nam
truyền quyển 23, 41).
1.
Khuddaka pàtha (Tiểu Tụng), (Nhật dịch Nam truyền quyển 23).
2.
Dhammapada (Pháp Cú), (Nhật dịch Nam truyền quyển 23).
3. Udàna
(Tự Thuyết), (Nhật dịch Nam truyền quyển 23).
4.
Itivuttaka (Như Thị Ngữ), (cũng cùng quyển 23).
5. Sutta
ripàta (Kinh Tập), (Nhật dịch Nam truyền quyển 24).
6. Vimàna
vatthu (Thiên Cung Sự), (Nhật dịch Nam truyền quyển 24)
7. Peta
vatthu (Ngạ Quỷ Sự), (Nhật dịch Nam truyền quyển 24).
8. Thera
gàthà (Trưởng Lão Kệ), (Nhật dịch Nam truyền quyển 25).
9. Theri
gàthà (Trưởng Lão Ni Kệ), (Nhật dịch Nam truyền quyển 25).
10. Jàtaka
(Bản Sinh Kinh), (Nhật dịch Nam truyền quyển 28, 39).
11. Niddesa
(Nghĩa Thích), (Nhật dịch Nam truyền quyển 42, 44).
12.
Patisambhidà magga (Vô Ngại Giải Đạo), (Nhật dịch Nam truyền quyển 40, 41).
13. Apadàna
(Thí Dụ), (Nhật dịch Nam truyền quyển 26, 27)
14. Buddha
vamsa (Phật Chủng Tính), (Nhật dịch Nam truyền quyển 41).
15. Carivà
pitaka (Sở Hành Tạng), (Nhật dịch Nam truyền quyển 41).
C. ABHIDHAMMA PITAKA (LUẬN TẠNG)
I.
Dhammasangani (Pháp Tập Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 45).
II.
Vibhanga (Phân Biệt Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 46, 47).
III. Dhàtu
kathà (Giới Thuyết Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 49).
IV.
Puggala pannatti (Nhân Thi Thiết Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 47).
V.
Kàthavatthu (Luận Sự), (Nhật dịch Nam truyền quyển 57, 58).
VI. Yamaka
(Song Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 48, 49).
VII.
Patthàma (Phát Thú Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 50 đến 56).
D. TAM TẠNG CHÚ THÍCH
I.
Samantapàsàdikà (Nhất Thiết Thiện Kiến Luật chú), (Nhật dịch quyển 65).
E. CÁC THÁNH ĐIỂN TRỌNG YẾU
NGOÀI TAM TẠNG
I. Dipa
vamsa (Đảo Sử), (Nhật dịch Nam truyền quyển 60).
II. Mahà
vamsa (Đại Sử), (Nhật dịch Nam truyền quyển 61).
III. Cùla
vamsa (Tiểu Sử), (Nhật dịch Nam truyền quyển 61).
IV.
Milindapanha (Kinh Na Tiên Tỷ-Khưu), (Nhật dịch Nam truyền quyển 59).
V. Visudhi
magga (Thanh Tịnh Đạo Luận), (Nhật dịch Nam truyền quyển 62, 63, 64).
VI.
Abhidhammattha sangaha (Nhiếp A Tỳ Đạt Ma Nghĩa Luận), (Nhật dịch Nam truyền
Đại tạng quyển thứ 65).
PHẠN NGỮ
PHẬT ĐIỂN.
- Nguyên điển của Phật giáo Đại thừa thì đều được ghi bằng
tiếng Phạn. Từ nguyên điển này lại được dịch sang chữ Tây Tạng gọi là “Tây
Tạng Phật điển”, dịch sang chữ Hán gọi là “Hán dịch Đại tạng kinh”. Phật giáo
Nhật Bản lại đem in lại bộ Hán dịch Đại tạng kinh, và thêm các bộ Kinh, Luận
của các cao tăng Nhật bản, gọi là “Đại Chính tân tu Đại tạng kinh”. Bộ này bắt
đầu in từ năm 1924, hoàn thành năm 1934, gồm có 100 tập, trong đó có 13.520
quyển, nhưng những kinh điển bằng nguyên văn chữ Phạn mà hiện nay hãy còn, chỉ
có các bộ theo như biểu đồ sau(1):
1. BÁT NHÃ
BỘ
Satasàhasrikà Prajnapàramità (Đại Bát Nhã sơ
phận), Pancavimàtisa Hasrikà P. (Đại Phẩm Bát Nhã), Astasàhasrikà P. (Tiểu
Phẩm Bát Nhã), Saptasàtikà P. (Văn Thù Bát Nhã), Suvikvànftavikràmi P. (Thắng
Thiên Vương Bát Nhã), Adhyardhasatikà P. (Lý Thú Bát Nhã), Vajràcchedikà P.
(Kim Cương Bát Nhã), Pràjnàpàramitahrdaya (Bát Nhã Tâm Kinh). Trong các bộ kể
trên, duy có Lý Thú Bát Nhã chỉ còn từng bản một rời rạc không đủ, còn các bộ
khác đều hoàn toàn nguyên bản và được phúc tả thành nhiều bản.
2. HOA
NGHIÊM BỘ
Dasabhùmìsvara (Thập địa phẩm), Gandàvyùha
(Hành nguyện phẩm tức là Tứ Thập Hoa Nghiêm), Bhadracarìpranidhàna (Phổ Hiền
hạnh nguyện tán).
3. PHƯƠNG
QUẢNG BỘ
Saddharmapundarìka (Pháp Hoa Kinh),
Sukkhavativyùha (A Di Đà Kinh), Lankàvatara (Lăng Già Kinh), Karunapundarìka
(Bi Hoa Kinh), Suvarnaprabhàsa (Kim Quang Minh Kinh), Samàdhiràja (Nguyệt Đăng
Tam Muội Kinh), Divyàvadàna (bộ này hãy chưa dịch hoàn toàn sang chữ Hán),
Avadanasataka (Soạn Tập Bách Duyên Kinh), Mahàvastu (Phật Bản Hạnh Tập Kinh dị
bản).
4. BẢO
TÍCH BỘ
Ràstrapàlàpariprccha (Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn
Kinh), Kàsyapaparivarta (Đại Ca Diếp hội), Sukhavativyùha (Vô Lượng Thọ hội,
tức Vô Lượng Thọ Kinh).
5. BÍ MẬT
BỘ
Aparimitàyur
dhàrani (Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà La Ni), Àrya
Tàràbhattarikàyà nàmàstot tara Satakà (Tán Dương Thánh Đức Đa La Bồ-tát Nhất
Bách Bát Danh Kinh), Bhùtì dàmara tantra (Kim Cương Thủ Bồ-tát Hàng Phục Nhất
Thiết Bộ Đa Đại Giáo Vương Kinh), Dhvajàgrakayùrìhdàrani (Vô Năng Thắng Phan
Vương Như Lai Trang Nghiêm Đà La Ni), Ekavimsati Stotra (Thánh Cứu Độ Phật Mẫu
Nhị Thập Nhất Chủng Lễ Tán Kinh), Grahàmàtrkà (Thánh Diệu Mẫu Đà La Ni Kinh),
Hevajradàkinìjalasambara tantra (Đại Bi Không Trí Kim Cương Đại Giáo Vương
Nghi Quỹ Kinh), Kàrandavyùha (Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh),
Mahàmàyùrì vidyàràjni (Phật Mẫu Đại Khổng Tước Vương Kinh), Mahàmegha sùtra
(Đại Vân Thỉnh Vũ Kinh), Mahàpratisarà dhàrani (Đại Tùy Cầu Đà La Ni),
Mahàppratyangira dhàrani (Đại Bạch Tản Cái Đà La Ni Kinh), Mahàsahasrapra
mardanà (Thủ Hộ Đại Thiên Quốc Độ Kinh, Mahàsìtavatì (Đại Hàn Lâm Thánh Nan
Noa Đà La Ni), Mantrànusàrìni (Đại Hộ Minh Đà La Ni Kinh), Màricì dhàrani (Ma
Lị Chi Thiên Đà La Ni Kinh), Nàmasamgtti (Văn Thù Sở Thuyết Tối Thắng Danh
Nghĩa Kinh), Parnasavari dhàrani (Bát Lan Sa Phược La Đại Đà La Ni),
Tathàgatagnhyaka (Nhất Thiết Như Lai Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo
Vương Kinh), Usnìsavidyà dhàrani (Nhất Thiết Như Lai Ô Cầm Nhị Sa Tối Thắng
Tổng Trì Kinh), Vàjravidàranà dhàrani (Hoại Tướng Kim Cương Đà La Ni Kinh),
Vasudhàra dhàrani (Trì Thế Đà La Ni Kinh).
VI. TRƯỚC TÁC CỦA CÁC THÁNH TĂNG ẤN ĐỘ
Buddhacarita (Phật Sở Hạnh Tán, Mã Minh),
Madhyamaka kàrikà (Trung Luận bản tụng, Long Thọ), Bodhisatvabhùmi (Du Già Sư
Địa Luận Trung Bồ-tát Địa, Vô Trước), Sùtràlàmkarà (Đại Thừa Trang Nghiêm
Luận, Vô Trước), Siksàsamucchaya (Đại Thừa Tập Bồ-tát Học Luận, Tịch Thiên),
Bodhikariyàvatàra (Bồ-đề Hạnh Kinh, Tịch Thiên), Vajracàci (Kim Cương Chân
Luận, Pháp Xứng), Dharmasamgraha (Pháp Số Danh Tập Kinh dị bản)(1).
TÂY TẠNG PHẬT ĐIỂN.
- Đặc biệt,
Đại tạng kinh của Phật giáo Tây Tạng thì được phiên âm thẳng từ nguyên điển
chữ Phạn sang, nên rất tinh tường đích xác. Vì thế, bộ Đại tạng này đứng về
mặt nghiên cứu nguyên điển của Phật giáo rất có giá trị vô cùng. Nội dung bộ
này chia làm hai bộ lớn là Kanjur (Cam Thù) và Tanjur (Đan Thù), gồm đủ cả
Kinh, Luật và Luận, theo biểu đồ như sau(1):
I. Kanjur
(Cam Thù) - Bộ này chia ra bảy bộ lớn, gồm có 100 hòm:
1. Dulva (Vinaya, Luật bộ) - 13 hòm, gồm hơn
600 quyển.
2. Ser chin
(Prajnàpàramita, Bát Nhã bộ), 21 hòm, gồm 100 quyển.
3. Phal chen (Avatamsaha, Hoa Nghiêm bộ), 6
hòm, gồm 2200 bối diệp.
4. Kon tsegs (Rannakùt, Bảo Tích bộ), 6 hòm,
từ hội thứ nhất đến hội thứ 44.
5. Mdò sùtra (Kinh tập), 30 hòm, gồm hơn 200
bộ.
6. Myang hdas (Màhaparinirvàna, Đại Bát Niết
Bàn bộ), 2 hòm.
7. Gyut Tantra (Bí Mật bộ), 22 hòm, gồm 287
bộ.
II. Tanjur
(Đan Thù) - Bộ này cũng chia ra 3 bộ lớn:
1. Tán Ca
tập - 1 hòm, gồm 58 bộ.
2. Bí mật
nghi quỹ - 87 hòm, gồm hơn 2600 bộ.
3. Luận
thích tập - gồm có 136 hòm. Tập này là bộ phận rất quan trọng cho sự nghiên
cứu kinh điển Phật giáo Tây Tạng. Trong đó có nhiều các bộ sớ thích của Đại
thừa kinh và nhiều sách khác như: Nhân minh, tác thi pháp, tu từ pháp, văn
pháp, tự vựng, âm nhạc, toán số, y học, thiên văn v.v... mà hãy chưa được dịch
sang tạng chữ Hán.
CHƯƠNG THỨ
BẢY. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TIỂU THỪA PHẬT GIÁO
I. TIỂU THỪA PHẬT GIÁO THÀNH LẬP
Khi Đại thừa
Phật giáo chưa ra đời thì danh từ Tiểu thừa Phật giáo cũng chưa có, mà chỉ
gọi là “Nguyên thủy Phật giáo” và “Bộ phái Phật giáo”. Nhưng sau khi Đại thừa
Phật giáo hưng long, các nhà học giả của Đại thừa Phật giáo có mục đích phân
biệt sự cao thấp về mặt tư tưởng giáo lý, nên gọi giáo lý của Bộ phái Phật
giáo và Nguyên thủy Phật giáo là “Tiểu thừa Phật giáo”. Vì lý do đó nên Tiểu
thừa Phật giáo được thành lập sau thời đại Đại thừa Phật giáo ra đời. Trong
khi Đại thừa Phật giáo hưng long, thì Tiểu thừa Phật giáo cũng chịu sự ảnh
hưởng kích thích, nên cũng trở nên phát triển. Giáo lý của Tiểu thừa Phật giáo
được phát triển hơn cả là giáo lý của Hữu bộ, Kinh Lượng bộ thuộc hệ thống
Thượng Tọa bộ.
II. SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO NGHĨA
CỦA HỮU BỘ
Giáo nghĩa
của Hữu bộ lúc đầu thì nương vào bộ “A Tỳ Đạt Ma Phát Trí Luận” (Abhidharma
nànaprasthàna) do ngài Kàtyàyana (Ca Đa Diên Ni Tử) soạn thuật làm cơ sở, sau
lại nương theo bộ này mà soạn ra bộ “A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận”
(Abhidharma Mahà Vi Bhàsa sastra). Sau khi bộ Đại Tỳ Bà Sa Luận đã được biên
soạn, thì giáo nghĩa của Hữu bộ trở nên cố định, ngừng phát triển. Nhưng sau
bị sự công kích của các vị Đại luận sư của Đại thừa Phật giáo là Long Thọ và
Đề Bà, vì phản ứng này, nên Tiểu thừa Phật giáo cũng thức tỉnh. Trước hết, các
bậc Luận sư của Hữu bộ hết sức chỉnh đốn lại giáo nghĩa của nội bộ. Như ngài
Sìtapàni (Thi Đề Bàn Ni) soạn thuật bộ “Đề Bà Sa Luận” (14 quyển); ngài
Dharmasri (Pháp Thắng) soạn thuật bộ “A Tỳ Đàm Tâm Luận” (Abhidharmahrdaya
sastra, 4 quyển), hai bộ luận này đều là những bộ y cứ của Hữu bộ. Sau đó ngài
Upasànta (Ưu Bà Phiên Đà) sáng tác bộ “A Tỳ Đàm Tâm Luận Kinh”
(Abhidharmahrdayasastra sutra, 6 quyển); ngài Dharmaràta (Đạt Ma Đà La) trước
tác bộ “Tạp A Tỳ Đàm Tâm Luận” (11 quyển). Tất cả những bộ luận trên đều cùng
chung một mục đích là phát huy cái chân giáo nghĩa của Hữu bộ. Về niên đại
xuất thế của các vị luận sư kể trên thì ở khoảng đầu thế kỷ thứ II đến cuối
thế kỷ thứ IV.
Đến khoảng thế kỷ thứ V, ngài Skandila (Tắc
Kiền Địa La) lại trước thuật bộ “Nhập A Tỳ Đạt Ma Luận” (Abhidharmàvatàra
sastra, 2 quyển); ngài Thế Thân trước tác bộ “A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận”
(Abhidharma-losasastra, 30 quyển). Luận Câu Xá có mục đích để cải thiện giáo
nghĩa của Hữu bộ. Nhưng ngài Samghabhadra (Tăng Già Bạt Đà La, đệ tử ngài
Skandila) lại phản đối về giáo nghĩa của Câu Xá Luận, nên ngài lại soạn ra bộ
“A Tỳ Đạt Ma Thuận Chánh Lý Luận” (Abhidharma Samayapradìpika sastra, 80
quyển) và bộ “A Tỳ Đạt Ma Hiển Tôn Luận” (Abhidharma Samayapradìpika sastra, 4
quyển).
Nhưng “Câu Xá Luận” của ngài Thế Thân sau
khi ra đời thì chiếm phần ưu thế về giáo nghĩa của Hữu bộ, nên, nếu các nhà
học giả muốn nghiên cứu về giáo lý của Hữu bộ, chỉ nghiên cứu về “Câu Xá Luận”
là đầy đủ. Còn hai bộ luận của ngài Samghabhadra soạn, chủ trương để phản
kháng lại bộ “Câu Xá Luận”, trái lại, lại được coi là phản bội về giáo nghĩa
của Hữu bộ. Vì thế nên đời sau gọi ngài Thế Thân là nhà luận giả của “Tân Bà
Sa”.
III. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG KINH LƯỢNG BỘ
Kinh Lượng
bộ được chia ra từ Hữu bộ ở khoảng hậu bán thế kỷ thứ I trước Tây lịch. Nhưng
Kinh Lượng bộ được phát triển rõ ràng nhất là ở thời kỳ bộ “Thành Thực Luận”
(Satyasiddhi sàstra) 16 quyển, do ngài Harivarman (Ma Lê Bạt Ma) trước tác ra
đời. Về niên đại xuất thế của ngài Harivarman ở khoảng giữa thế kỷ thứ IV Tây
lịch.
Ngài Harivarman người Trung Ấn, thuộc giòng
họ Bà-la-môn, lúc đầu ngài theo Số Luận, sau ngài quy y Phật giáo, theo học
giáo nghĩa của Hữu bộ, nhưng ngài nhận thấy giáo nghĩa của Hữu bộ còn nông cạn
và danh mục pháp tướng thì quá phiền toái, nên ngài bỏ Hữu bộ, chuyển theo
nghiên cứu giáo nghĩa của Đại Chúng bộ. Ngoài ra, ngài còn nghiên cứu cả giáo
lý của Đại thừa Phật giáo. Ngài có mục đích thống nhất giáo nghĩa của các bộ
phái, nên mới soạn ra bộ “Thành Thực Luận”.
Nội dung của
bộ Thành Thực Luận thì căn cứ vào giáo lý “Tứ Thánh Đế” để chỉnh đốn lại giáo
lý của Phật giáo. Bộ luận này chia ra 5 tụ, trong đó có 202 phẩm. Năm tụ là
Phát tụ, Khổ đế tụ, Tập đế tụ, Diệt đế tụ và Đạo đế tụ. Phát tụ thì giải thích
nghĩa Tam bảo và mục đích tạo luận; Khổ đế tụï nói về cái khổ nung nấu của ngũ
ấm; Tập đế tụ bàn vấn đề nghiệp và phiền não; Diệt đế tụ giải thích vấn đề
Niết bàn; Đạo đế tụ thuyết minh về Định và Trí. Đặc biệt ở phẩm Diệt Pháp Tâm
có nói đến vấn đề “Nhân Pháp Câu Không” giống như giáo nghĩa của Đại thừa Phật
giáo, còn nội dung của các phẩm khác đều bàn về giáo nghĩa của Tiểu thừa Phật
giáo. Ngoài ra, ngài còn kế thừa thuyết “Hiện tại thực hữu; quá khứ, vị lai vô
thể” của Kinh Lượng bộ.
IV. NỘI DUNG BỘ A TỲ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN
A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, gọi tắt là “Câu Xá
Luận”, bộ luận do ngài Thế Thân trước tác bởi hai lý do. Lý do thứ nhất là
thống nhất giáo nghĩa của Hữu bộ; lý do thứ hai, nêu rõ lập trường chân chính
của Phật giáo. Vì vậy nên bộ luận này được coi là một tác phẩm đại biểu cho
Tiểu thừa Phật giáo. Sau khi bộ luận này truyền vào Trung Quốc, lại được thành
lập một tôn riêng biệt gọi là “Câu Xá Tôn”.
Về nội dung
của Câu Xá Luận (gồm 30 quyển) do ngài Huyền Trang dịch theo như biểu đồ sau:
CÂU XÁ LUẬN
1. Giới phẩm (2q.) Bàn về Thể của chư pháp
2. Căn phẩm (5q.) Bàn về Dụng của chư pháp
3. Thế gian phẩm (5q.) Bàn về quả
4. Nghiệp phẩm (6q.) Bàn về nhân
5. Tùy miên phẩm (3q.) Bàn về duyên
6. Hiền Thánh phẩm (4q.) Bàn về quả
7. Trí phẩm (2q.) Bàn về nhân
8. Định phẩm (1q/5.) Bàn về duyên
9. Phá ngã phẩm (2q.) Bàn về lý vô ngã) Phá tà môn
Chư pháp
Các pháp
trong thế giới được chia ra hữu vi pháp và vô vi pháp, trong hai pháp đó lại
chia ra năm vị, trong năm vị gồm có 75 pháp.
1. Sắc pháp
(11) Năm căn, Năm trần và Vô biểu sắc.
2. Tâm pháp
(1) Tâm vương.
1. Đại
địa pháp (10): Thọ, tưởng, tư, xúc, dục, tuệ, niệm, tác ý,
thắng giải, tam ma địa.
2. Đại
thiện địa pháp (10): Tín, cần, xả, tàm, quý, vô tham, vô sân, bất hại,
khinh an, bất phóng dật.
3. Tâm sở
pháp 3. Đại phiền não địa (46) pháp (6): Vô minh, phóng dật, giải
đãi, bất tín, hôn trầm, trạo cử.
4. Đại
bất thiện pháp (2): Vô tàm, vô quý.
5.
Tiểu phiền não địa pháp (10): Phẫn, phú, xan, tật não, hại,
hận, xiểm, cuống, kiêu.
4. Tâm
bất tương 6. Bất định địa pháp (8): Ác ứng hành pháp tác, thụy
miên, tầm, tứ, (14) tham, sân, mạn, nghi.
Đắc, phi
đắc, mệnh căn, chúng đồng phận, vô tưởng định, vô tưởng quả, diệt tận định,
sinh, trụ, dị, diệt, danh thân, cú thân, văn thân.
Vô vi pháp
(3): Hư không, trạch diệt, phi trạch diệt.
Trước hết,
Nhất thiết pháp thì có hữu vi pháp và vô vi pháp. Hữu vi pháp vì nương vào
nhân duyên mà có, nên biến thiên theo thời gian, có nhiễm và tịnh khác nhau.
vô vi pháp thì hoàn toàn là hư không, đứng ngoài trạng thái tác dụng. Năm vị
gồm 75 pháp của hữu vi pháp và vô vi pháp, theo như biểu đồ trên.
Cách phân loại vạn pháp tuy chia ra 75 pháp
theo như biểu đồ trên, nhưng các pháp đó lại quan hệ mật thiết với nhau về
nhân quả. Về sự quan hệ đó lại chia ra 6 nhân 4 duyên và 5 quả, theo như biểu
đồ sau:
(4
duyên) (6 nhân) (5 quả)
Tăng thượng
duyên
Sở duyên
duyên Năng tác nhân Tăng thượng quả
Đẳng vô gián
duyên
Câu hữu nhân
Đồng loại
nhân
Tương ứng
nhân Sĩ dụng quả
Biến hành
nhân Đẳng lưu quả
Dị thục nhân
Dị thục quả
Ly hệ quả
Cách phân loại như trên được giải thích rõ ở
“Giới phẩm” và “Căn phẩm” trong Câu Xá Luận.
“Thế gian phẩm”, “Nghiệp phẩm” và “Tùy miên
phẩm” thì nói về quả, nhân và duyên của mê giới. Trước hết đem chia thế gian
ra hữu tình thế gian và khí thế gian. khí thế gian lại chia ra ba cõi là Dục
giới, Sắc giới và Vô sắc giới, luân hồi theo bốn định luật là thành, trụ,
hoại, không. Hữu tình thế gian chia ra năm đạo là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh,
người và trời. Năm đạo này đều nương vào mười hai thứ nhân duyên, theo trạng
thái luân hồi sanh tử. “Nghiệp phẩm” chia ra ba nghiệp là thân, khẩu và ý.
Thân, khẩu hai nghiệp đều lại chia ra biểu nghiệp và vô biểu nghiệp. Biểu
nghiệp nghĩa là sự biểu hiện của cử chỉ, hành động. Vô biểu nghiệp nghĩa là
biểu nghiệp sau khi đã hiện ra mà còn rớt lại cái nghiệp thể tiềm tàng ở trong
thân, và chính nó có ảnh hưởng tới hành vi ở tương lai. “Tùy miên phẩm” nói ý
nghĩa của phiền não, vì tạo nghiệp nên gây ra quả khổ. Phiền não thì chia ra
căn bản phiền não và chi diệp phiền não. Hoặc nghiệp chia ra kiến hoặc và tư
hoặc. Kiến hoặc là hoặc mê về lý, tư hoặc là hoặc mê về sự. “Hiền Thánh phẩm”,
“Trí phẩm” và “Định phẩm” nói về phần quả, nhân và duyên của pháp tu chứng.
Trước hết, Trí có “Hữu lậu trí” và “Vô lậu trí”. Sinh đắc tuệ, Văn tuệ, Tư tuệ
và Tu tuệ thuộc Hữu lậu trí; còn Pháp trí và Loại trí thuộc Vô lậu trí. “Định”
nghĩa là tâm chuyên nhất để sinh ra Vô lậu trí. Định lại chia ra Sinh đắc định
và Tu đắc định, mỗi định này lại chia ra Tứ sắc giới định (Tứ thiền) và Tứ vô
sắc giới định. Sau hết, nương vào trí và định lần lượt chứng được quả vị, gọi
là quả Hiền Thánh của quả vị, lại nương theo ở sự đoạn hoặc chứng quả nhiều
hay ít mà định đoạt, rất là phức tạp theo như biểu đồ sau:
Ngũ
đình tâm
Biệt tướng
niệm trụ
Tổng tướng
niệm trị
Noãn thiện
căn
Định thiện
căn
Nhẫn thiện
căn Hạ phẩm
Thế đệ nhất
pháp Trung phẩm
Thượng phẩm
Hữu học vị
Kiến đạo Dự lưu hướng
Dự lưu quả
Tu đạo Nhất lai hướng
Nhất lai quả
Bất hoàn hướng
Bất hoàn quả
A-la-hán
hướng
Vô học vị
Vô học đạo A-la-hán
Biểu đồ trên là nói về quả vị của hàng Thanh
văn. Ngôi Độc giác thì nương vào pháp tu mười hai nhân duyên mà ngộ đạo. Sau
bàn đến quả vị của Bồ-tát. Nhưng Bồ-tát đây khác với Bồ-tát của Đại thừa Phật
giáo. Ngôi Bồ-tát này, trước hết phải tu qua ba A tăng kỳ kiếp, tu theo những
pháp lục độ, vạn hạnh, rồi sau hiện vào cung vua, xuất gia, tu đạo, thành
Phật. Cuối cùng là phẩm Phá ngã, phẩm này bàn về lý vô ngã của Phật giáo để
phá thuyết hữu ngã của ngoại đạo.
V. NAM PHƯƠNG THƯỢNG TỌA BỘ
PHẬT GIÁO
Hiện tại,
các địa vực theo Nam phương Thượng Tọa bộ Phật giáo là các nước Sri Lanka
(Tích Lan), Myanmar (Miến Điện), Thái Lan, Lào (Ai Lao) và Campuchia (Cao
Miên). Sở dĩ có danh từ “Nam phương Thượng Tọa bộ” là để phân biệt với Thượng
Tọa bộ tại Bắc Ấn Độ. Các nước kể trên vì đều cùng thông dụng kinh điển chép
bằng tiếng Ba Lị (Pali), nên lại gọi là Ba Lị Phật giáo.
Phật giáo
Sri Lanka
(Tích Lan - Ceylon).
- Trong thời đại A Dục Vương (thế kỷ thứ III trước TL), vua sắc lệnh phái
khiển các bậc Truyền đạo sư đi các nước truyền đạo. Vị Truyền đạo sư được phái
khiển tới đảo Sri Lanka là Trưởng lão Mahinda, đem Phật giáo truyền vào đảo
này đầu tiên. Đương thời, vua nước Sri Lanka là Devànampiya Tissa (Thiên Ái Đế
Tu thứ 7), vua rất hâm mộ tin theo và xây chùa tháp để cúng dường Xá lợi Phật.
Sau lại có con gái A Dục Vương là Sanghàmittà (Tăng Già Mật Đa, em gái Trưởng
lão Mahinda) đã mang một nhánh cây Bồ-đề từ nơi Đức Phật thành đạo tới trồng
tại Sri Lanka, mà trong sử gọi là chuyển cây “Thánh thọ”. Phật giáo Sri Lanka
từ đấy ngày một phát triển. Giáo lý của Phật giáo Sri Lanka lúc đầu thuộc hệ
thống Thượng Tọa bộ. Giáo đoàn của Phật giáo gọi là “Đại Tinh xá tự phái”
(Mahàvihàra) hay gọi tắt là Đại Tự phái, thuộc “Thượng Tọa bộ” (Theriya
nikàya).
Tới triều
vua Vatthagàmani Abhaya (Vô Úy Vương, thế kỷ thứ I trước TL), vua rất hâm mộ
Phật giáo, nên đã sáng lập một chùa lớn ở núi Vô Úy (Abhayagiri). Sau Tăng
chúng ở chùa này vì có sự bất đồng ý kiến về vấn đề giới luật, không hòa hợp
với Đại Tự phái, nên lập riêng một phái gọi là “Vô Úy Sơn Tự phái”, thuộc
“Pháp Hỉ bộ” (Dhammaruci nikàya).
Ở triều vua Gotabhaya (205 TL) trị thế, giáo
đoàn Phật giáo Sri Lanka lại phát sinh ra một phái mới gọi là “Kỳ Đà Lâm Tự
phái” (Tetavana). Như vậy Phật giáo Sri Lanka tới thời này có ba phái đối lập
nhau.
Phật giáo Sri Lanka từ thời cổ đại vẫn
truyền tụng bằng cách đọc thuộc lòng, nhưng ở thời đại vua Vatthagàmani
Abhaya, những kinh điển đã bắt đầu được chép bằng tiếng Ba Lị. Mãi tới thế kỷ
thứ V, thì có ngài Buddhaghoso (Phật Âm) người Trung Ấn, tới Sri Lanka, nghiên
cứu về giáo lý của “Đại Tự phái”. Ngài vốn là một vị thông minh đĩnh ngộ, nên
ngài dùng tiếng Ba Lị, để chú thích hầu hết các Kinh, Luật, Luận của Nam
truyền Đại tạng, còn những bộ phận chưa chú thích xong thì ngài Dhammapàta (Hộ
Pháp) tiếp tục hoàn thành. Và riêng ngài Buddhaghosa đã chế tác ra bộ luận
“Thanh Tịnh Đạo Luận” (Visuddhimagga), nội dung của bộ luận này là một thể hệ
“Tam học”: Giới, Định và Tuệ, và cũng là một giáo học hoàn bị của Đại Tự phái.
Tới đầu thế
kỷ thứ XI, Sri Lanka bị dân tộc Tamil ở Nam Ấn Độ tràn tới, đánh phá đô thành,
thiêu hủy chùa tháp, hãm hại Tăng Ni, nên Phật giáo nước này bị suy vi một
thời kỳ. Sau đó vài mươi năm, có vua Vijaya Bhàhu (1059-1113) nổi lên đánh
đuổi quân thù, khôi phục lại bờ cõi, sai sứ nghênh thỉnh Phật giáo từ Myanmar
về để chấn hưng Phật giáo, nên Phật giáo lại trở lại hưng thịnh.
Khoảng cuối thế kỷ thứ XII, vua Parakhama
Bhãhu (1153-1186), một vị anh quân ra đời, ngài hết sức lưu tâm đến công việc
chấn hưng Phật giáo, đưa Phật giáo Sri Lanka thống nhất về một mối. Nghĩa là
Phật giáo Sri Lanka từ trước tới thời đại này, ba phái vẫn đối lập nhau, nhưng
nhờ sự điều hòa của nhà vua, nên ba phái thống nhất lại làm một, và lấy giáo
học của “Thượng Tọa bộ Phật giáo” thuộc “Đại Tự phái” làm giáo học chính
thống.
Kể từ thế kỷ thứ XVI trở lại, có người các
nước Bồ Đào Nha (Portugal), Hòa Lan (Holland) và Anh Cát Lợi (England) tiếp
tục tới buôn bán, rồi chi phối đảo Sri Lanka. Người Bồ Đào Nha trước hết tới
chiếm lĩnh các địa đới duyên hải của Sri Lanka từ năm 1520 tới năm 1650, trong
khoảng thời gian 130 năm. Người Hòa Lan chiếm lĩnh từ năm 1650 đến 1796, trong
khoảng thời gian 146 năm. Trong các thời gian chiếm lĩnh trên, người Bồ Đào
Nha thì hết sức truyền bá về Thiên Chúa giáo (Cựu giáo, người Hòa Lan cũng
truyền bá về Thiên Chúa giáo (Tân giáo). Họ đều tỏ thái độ áp bức Phật giáo.
Họ truyền bá tư tưởng Thiên Chúa giáo ở các học đường bằng cách bổ nhiệm các
giáo sư đều là người Thiên Chúa giáo, và đủ mọi hình thức khác. Tuy vậy, nhưng
dân chúng Sri Lanka phần đông vẫn là tín đồ của Phật giáo.
Từ cuối thế kỷ thứ XVIII, thế lực của Hòa
Lan bị tan rã, rồi người Anh Cát Lợi thay thế chiếm lĩnh toàn đảo Sri Lanka.
Người Anh chiếm lĩnh Sri Lanka từ năm 1796 đến năm 1948, trong khoảng 152 năm.
Trong thời gian này, người Anh vì dùng chính sách tự do tín ngưỡng, nên sinh
lực của Phật giáo cũng dần dần được khôi phục.
Nước Sri Lanka tuy đã phải trải qua những
thời bị trị, nhưng ảnh hưởng của tôn giáo ngoại lai cũng không thể khuất phục
được tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc họ là Phật giáo. Để phản kháng lại chính
sách đàn áp của ngoại lai tôn giáo, nên trước hết có Trưởng lão Saramankara
(1698-1778), rồi đến thế kỷ thứ XIX lại có danh Tăng là Migettuvatti Gunananda
xuất hiện để tuyên dương chánh pháp của Phật. Từ năm 1865 trở lại, danh tăng
M.Gunananda đã có năm lần công khai thảo luận với các tuyên giáo Mục sư; do
những cuộc thảo luận sôi nổi này đã làm tăng phần uy tín của quốc dân đối với
Phật giáo. Nhân hồi thảo luận thắng lợi cuối cùng ở năm 1873, bản thảo luận
này được dịch sang tiếng Anh, rồi truyền tới nước Mỹ. Đại tá người Mỹ là Henry
Steel Ocott được đọc bản đó liền rất có cảm tình với Phật giáo. Ngay năm đó,
Đại tá cấp tốc vận động lập Hội Phật giáo ở ngay New York, rồi ông lại qua Ấn
Độ và Sri Lanka. Sau khi tới Sri Lanka, ông đứng ra kêu gọi những người da
trắng hãy nên cải tôn theo Phật giáo. Do việc này, nên đã làm chấn động và
thức tỉnh cho toàn dân chúng Sri Lanka. Ông còn hô hào thành lập các hội thanh
niên Phật giáo ở Sri Lanka, và sáng lập “Phật giáo Hiệp hội” ở tại Colombo để
làm cơ quan trung ương vận động cho Phật giáo Sri Lanka. Đến ngày 17-2-1907
thì ông mất. Để tỏ lòng biết ơn hộ trì Phật pháp của ông, nên ngày đó dân
chúng Sri Lanka có ngày kỷ niệm gọi là ngày kỷ niệm Ocott.
Ngoại hộ Phật giáo có Ocott, nội bộ Tăng già
lại có danh Tăng Hikkaduwe Sri Sumangura Trưởng lão Tỷ-khưu, một bậc đạo cao
đức trọng, ngài thiết lập ra Phật học viện “Vidyodaya Pirivena” để làm nơi đào
tạo Tăng tài và sản xuất những nhà học giả của Phật giáo. Ngoài ra còn có nhà
học giả Sri Lanka là Anagarika Sharmapala, khi còn ở thời kỳ thanh niên, ông
là một nhân vật giúp đỡ đắc lực cho Đại tá Ocott trong công cuộc chấn hưng
Phật giáo. Hơn nữa ông còn có công lao vĩ đại là vận động phục hưng lại những
nơi Phật tích bị hoang phế ở Ấn Độ; và là người sáng lập ra Hội “Maha Bodhi” ở
Ấn Độ để phục hưng Phật giáo đã bị suy tàn trong bao thế kỷ.
Tới tháng 2
năm 1948, Sri Lanka thoát khỏi vòng cai trị của người Anh, trịnh trọng tuyên
ngôn độc lập. Ngày 6-1-1950, nước Sri Lanka ban bố chính thể Cộng hòa. Cũng
trong năm ấy, có Giáo sư của Đại học đường Sri Lanka là bác sĩ Malalasekera,
vẫn ấp ủ hoài bão thống nhất Phật giáo, ông liền đi du lịch các nước trên thế
giới để cổ động sự đoàn kết của Phật giáo đồ. Do đó mà cuộc hội nghị của Phật
giáo thế giới được chiêu tập vào hồi tháng 5 năm 1950, gồm có các đại biểu của
tất cả 29 nước trên thế giới tham gia, mà nước Việt Nam ta cũng là một nước
hội viên sáng lập do Hòa thượng Tố Liên đại diện.
Ngày 25-5-1950, tất cả đại biểu của 29 nước
đều tề tập tại chùa Răng Phật, tại tỉnh Candy, cách Colombo chừng 150 cây số
để cùng nhau thệ nguyện thành lập “Hội Phật giáo Thế giới” (The World
Fellowship of Buddhists, gọi tắt là W.F.B). Nội dung bản Tuyên thệ như sau(1):
BẢN TUYÊN THỆ
“Chúng tôi đại biểu Phật giáo các
nước và đại biểu tất cả các tổ chức Phật giáo trên hoàn cầu, hôm nay
(25-5-1950)) họp trước cửa Tam bảo tôn nghiêm ở chùa Răng Phật đây, vốn là
ngôi chùa lịch sử của kinh đô cổ tích này, chúng tôi cùng nhau phát thệ rằng:
Chúng tôi và tất cả các Phật tử mà chúng tôi thay mặt đều chí thành phát thệ:
Cả xuất gia lẫn tại gia đều sẽ hết sức tuân theo thi hành giáo pháp và giới
luật của Đức Phật Thích Ca. Chúng tôi với các Phật tử sẽ phải cố gắng đem mình
làm những tấm gương trong sạch sáng suốt giữa nền tín ngưỡng Phật giáo để làm
cho tinh thần Phật giáo chung đúc thành một khối sáng sủa mạnh mẽ khắp hoàn
cầu.
Muốn đạt
được mục đích ấy, chúng tôi cùng nhau thề nguyện sẽ phải thống nhất Phật giáo,
đoàn kết Phật tử theo nghĩa “Lục hòa” với lòng thâm tín, để dìu dắt tất cả
Phật tử trên khắp hoàn cầu làm cho đạo lý của Phật, tinh thần thanh tịnh của
chư Tăng được tất cả mọi người trên thế giới hiểu biết. Mong rằng tinh thân
“Từ, bi, hỷ, xả” của Đức Phật có lực lượng mạnh mẽ vô cùng để hướng dẫn các
dân tộc và các Chính phủ của dân tộc đó đều tin tưởng, cũng như đều hoạt động
theo một con đường từ bi bình đẳng để chung sống với cuộc đời sáng suốt, rửa
sạch hết những khối óc tham, sân, si, như thế để tỏ lòng bác ái, tình hữu nghị
giữa dân tộc nọ với dân tộc kia sẽ hòa giải, sẽ thân thiết, ức triệu người như
một để cho hòa bình của nhân loại sẽ thực hiện. Muốn đạt tới mục đích vĩ đại
đó, phải có một cơ sở vĩ đại, một chương trình hoàn bị, để giao cho một cơ
quan lãnh đạo. Vì thế nên chúng tôi quyết định thành lập Hội Phật giáo Thế
giới với tất cả Trưởng phái đoàn Phật giáo có góp mặt góp lời tại buổi lễ
tuyên thệ này, đều được đủ thẩm quyền quyết đoán và thi hành quyết nghị này.
Chúng tôi
rất mực thành kính cầu xin Đức Phật phù hộ cho tất cả các sự cố gắng của chúng
tôi”.
Sau buổi lễ
tuyên thệ, rồi ngày hôm sau Đại Hội nghị được long trọng khai mạc tại Hội quán
Thanh niên Phật giáo ở thủ đô Colombo từ ngày 26 đến 30-5-1950; gồm có 127 đại
biểu của các nước. Hội nghị đã quyết định lấy lá cờ 5 sắc, lá cờ tượng trưng
sự thống nhất cho toàn thể các nước có Phật giáo trên thế giới, đồng thời Bản
Hiến chương của Phật giáo Thế giới cũng được ra đời. Hội nghị còn quyết định
từ nay trở đi các nước theo Tiểu thừa Phật giáo đều gọi là Theravada (Thượng
Tọa bộ Phật giáo), nên Tiểu thừa Phật giáo và Đại thừa Phật giáo đã có sự
thông cảm nhau hoàn toàn. Đại Hội nghị của Phật giáo Thế giới thì cứ mỗi hai
năm lại họp một lần. Lần thứ II họp tại Nhật Bản hồi tháng 9 năm 1952. Lần thứ
III họp tại Myanmar vào tháng 12 năm 1954. Lần thứ IV họp ở Népal vào tháng 11
năm 1956. Lần thứ V họp tại Thái Lan vào tháng 11 năm 1958. Lần thứ VI họp tại
Campuchia vào tháng 11 năm 1961. Hội Phật giáo Thế giới kể từ ngày thành lập
cho tới nay vẫn tiến triển đều đặn, nên cũng thu được nhiều kết quả khả quan.
* Nước Sri Lanka về diện tích 65.610km2.
* Dân số: 9.165.000 người (theo thống kê của
Hội Quốc Liên 1957).
* Thủ đô: Colombo (450.000).
* Tín đồ của Phật giáo có 5.217.143 người
(theo thống kê năm 1957).
Còn lại là
tín đồ Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo v.v... Phật giáo Sri Lanka có cái
đặc sắc, từ khi bị trị cho tới hiện nay độc lập, vẫn giữ nguyên được màu sắc
giáo lý của “Thượng Tọa bộ Phật giáo”.
Phật giáo
Myanmar
(Miến Điện - Burma).
- Phật giáo Myanmar, về niên đại lúc đầu được truyền vào thì không biết được
đích xác. Nhưng căn cứ vào Đảo sử (Dipavamsa) thì trong thời đại A Dục Vương,
vua phái khiển các vị Truyền đạo sư tới các nước truyền đạo, đã có một vị tới
truyền đạo tại nước Suvannabhùmi (Kim Địa). Nước Suvannabhùmi tức là chỉ vào
một nước từ ở duyên hải Đông nam Myanmar cho tới Tây ngạn của Bắc bộ bán đảo
Malaysia. Như vậy Phật giáo của Myanmar cũng có thể được truyền tới từ thế kỷ
thứ III trước TL.
Từ thời cổ
đại, người Ấn Độ đã dùng đường thủy và đường bộ để tới Myanmar, và đồng thời
họ đem cả văn hóa của Ấn Độ, tức là văn hóa Bà La Môn giáo truyền vào. Còn
Phật giáo được lưu truyền tại Myanmar một cách xác thực nhất là ở khoảng thế
kỷ thứ IV trở về sau.
Phật giáo
Myanmar, trước hết, giáo nghĩa của hệ thống “Nhất Thiết Hữu bộ” được truyền
vào. Khoảng thế kỷ thứ V thì giáo lý của hệ thống Thượng Tọa bộ Phật giáo được
truyền vào Sri Lanka. Tiếp sau, Mật giáo của Đại thừa Phật giáo cũng được
truyền vào. Nhưng tới vương triều Pagan (1043-1069) thành lập, đời vua
Anawrahtà (năm 1059), vua nhận thấy sự đọa lạc của Mật giáo, nên chỉ tin theo
giáo lý của Thượng Tọa bộ Phật giáo. Vương triều Pagan trị vì trong một thời
kỳ 240 năm, các đời vua kế tiếp, đời vua nào cũng tôn sùng, quy y Phật giáo,
nên quốc dân cũng theo thế mà tín ngưỡng Phật giáo.
Ở cuối thế
kỷ thứ XIII, Myanmar bị quân Mông Cổ xâm nhập đánh cướp, nên vương triều Pagan
bị diệt vong. Từ đây trở về sau, trong một khoảng thời gian dài hơn hai trăm
năm, cũng có những vương triều ngắn xuất hiện. Trong các vương triều đó có vua
Dhamanaceti, năm 1475, vua phái khiển sứ thần tới Sri Lanka để rước Phật giáo
chính thống tại đó, và đồng thời có cầu thỉnh cả các vị Trưởng lão thuộc “Đại
Tự phái” trao truyền cho cách thức thọ giới pháp. Từ đó, Giáo đoàn Phật giáo
Myanmar đã chỉnh đốn và thống nhất được cách thức thọ giới pháp. Sau đó là
vương triều Pegu được thành lập, trải qua 200 năm, rồi đến vương triều
Alaungpaya, trải qua 130 năm. Ở cuối vương triều Alaungpaya, tức là khoảng đầu
thế kỷ thứ XVI, thì có người Bồ Đào Nha tới buôn bán ở các địa phương
Martaban, Tensserin duyên hải phía Nam Myanmar. Sau lại có người Hòa Lan,
người Pháp, người Anh cũng lần lượt tới buôn bán. Vì quyền lợi xung đột, nên
đã mấy lần xảy ra cuộc chiến tranh Anh - Myanmar, rốt cuộc Myanmar đã trở
thành một lãnh thổ của người Anh kể từ ngày 1-1-1886. Sau thời kỳ Thế giới đại
chiến lần thứ hai kết thúc, tới năm 1948 Myanmar cũng trở thành một nước độc
lập.
Phật giáo Myanmar nếu đem so sánh với Phật
giáo Sri Lanka, thì Phật giáo Myanmar có rất nhiều đặc sắc. Đặc sắc thứ nhất
là công cuộc nghiên cứu về Luận tạng trong Tam Tạng rất thịnh hành, đã kết tập
kinh điển lần thứ VI ở năm 1956 tại thủ đô Rangoon, và cách đây 100 năm trở về
trước, cũng đã kết tập kinh điển lần thứ V tại Mandalay, thủ đô của Bắc
Myanmar. Đặc sắc thứ hai, rất chú trọng về công đức xây cất chùa tháp. Đặc sắc
thứ ba, con trai (15 -16 tuổi) trong nước, ai ai cũng phải qua một thời gian
vào chùa tu học, làm sư, người nào phát nguyện đi xuất gia thì suốt đời làm
Tỷ-khưu, nếu không chỉ tu một thời gian ngắn rồi lại hoàn tục theo sinh hoạt
tại gia. Đặc điểm thứ tư, các Tăng lữ đều là những người chỉ đạo về mặt tinh
thần của xã hội, dân chúng. Mỗi tự viện là một trường học, mỗi vị Tăng đều là
một giáo sư. Hơn nữa, các vị sư của Myanmar lại rất chú trọng công tác hoạt
động trong xã hội.
* Diện tích: 677.950km2.
* Dân số: 19.242.000 người (theo thống kê
của Hội Quốc Liên năm 1957).
* Thủ đô: Rangoon.
* Tín đồ
Phật giáo: 16.221.006 người.
Phật giáo
Thái Lan
(Thailand).
- Thái Lan ở thời cổ đại gọi là nước Nam Chiếu, thuộc địa hạt Vân Nam, phía
Nam China. Nước này đối với các vương triều của China, có lúc thì phụ thuộc,
có lúc độc lập. Mãi tới thế kỷ thứ XIII, nước Nam Chiếu bị quân Nguyên tàn
phá, dân tộc Thái Lan phải chạy trốn về phía Nam, tới lưu vực sông Menam. Ở
đây, dân tộc Thái Lan liền lập ra vương triều Sukhotai (1238-1406).
Dân tộc Thái Lan ở thời đại Nam Chiếu thì
hấp thụ văn hóa của China, và có thể cũng hấp thụ cả giáo lý Đại thừa Phật
giáo ở thời đó. Nhưng, từ khi vương triều Sukhotai được thiết lập, thì dân tộc
Thái Lan lại tin theo giáo lý của “Thượng Tọa bộ Phật giáo” được truyền vào từ
Myanmar. Kế nghiệp vương triều Sukhotai là vương triều Ayuthia (1407-1767). Từ
vương triều Sukhotai cho tới vương triều Ayuthia, trải qua một thời gian 500
năm, thì văn hóa của Phật giáo rất là xán lạn. Đặc biệt, đời Siri Sùriyavamsa
Rama, năm 1361 Tây lịch, vua đã phái sứ thần tới Sri Lanka để thỉnh cầu giáo
lý chính thống Phật giáo thuộc “Đại Tự phái”, và suy tôn Phật giáo là tôn giáo
chính thống của quốc gia. Hơn nữa còn thỉnh các vị Trưởng lão từ Sri Lanka tới
để truyền cho cách thức thọ giới pháp, và giảng giải về kinh điển Pali. Các
vua thì đời đời tin theo và hết lòng ủng hộ Phật giáo. Năm 1767, Thái Lan bị
quân Myanmar xâm nhập đánh phá, nên vương triều Ayuthia bị diệt vong, một
khoảng thời gian ngắn Phật giáo bị suy vi. Nhưng tới năm 1782, có danh tướng
Chao Phaya Chakri ra đời, khôi phục lại bờ cõi, lập ra vương triều Bangkok,
rồi tự lên ngôi vua, gọi là Ramathibodi, tức là Rama nhất thế. Trong vương
triều này, sau đó có vua Mongkut, vua ra tay cải cách mọi công việc trị an
trong nước, đồng thời lại cải cách cả Phật giáo, đưa giáo đoàn Phật giáo vào
vòng giới luật nghiêm khắc. Vì thế nên giáo đoàn Phật giáo Thái Lan chia làm
hai phái: một phái nghiêm trì giới luật gọi là Thammayut (Chánh Pháp phái),
một phái không dự phần cải cách trên, thì khoan hồng giới luật, gọi là phái
Mahayut (Đại Chúng phái). Giáo lý của hai phái tuy giống nhau, nhưng khác nhau
về phần giới luật là nghiêm trì và khoan hồng. Tuy vậy, giáo đoàn trung tâm
của Phật giáo Thái Lan vẫn là phái Thammayut.
Tới thời đại
vua Chulalonkora (1868-1910), tức là Rama ngũ thế, Chính phủ Ấn Độ có ký tặng
một bộ phận Xá-lợi của Phật, phát quật được ở cổ tháp Piprahwa. Vua liền kiến
thiết chùa Saket để cúng dường. Năm 1888, nhà vua lại phát nguyện xuất bản bộ
“Nam truyền Đại tạng”, tới năm 1894 thì hoàn thành. Tiếp sau là Rama lục thế,
và Rama thất thế cũng nhiệt thành về công việc xuất bản Đại tạng. Phật giáo
Thái Lan, trên phương diện giáo lý cũng giống như Phật giáo Sri Lanka,
Myanmar, nghĩa là cùng chung một giáo lý của “Thượng Tọa bộ Phật giáo”. Nhưng,
Phật giáo Thái Lan có nhiều đặc sắc về hình thức:
Đặc sắc thứ nhất, Phật giáo là của quốc dân
và quốc gia. Theo Hiến pháp Thái Lan thì nhân dân được quyền tự do tín ngưỡng,
nhưng đấng Quốc vương bắt buộc phải là người tín ngưỡng Phật giáo. Các nghi
thức công cộng trong nước và tư nhân đều theo nghi thức Phật giáo. Chùa là các
trường học của quốc dân. Sự quan hệ giữa quốc gia, quốc dân và Phật giáo không
bao giờ xa cách nhau.
Đặc sắc thứ hai, giản dị hóa kinh điển để
phổ biến Phật giáo sâu rộng trong lớp dân chúng. Các trường học đều được dạy
tiếng Pali. Nhà vua và vương thất rất ham chuộng sự nghiệp xuất bản Đại tạng
để truyền bá Phật giáo.
Đặc sắc thứ ba, thành phần con trai trong
nước, ở tuổi thanh thiếu niên, ai ai cũng phải vào chùa tu một thời gian ngắn.
Tục lệ này cũng giống như Myanmar, nhưng ở Thái Lan thì nghiêm khắc hơn. Và
cũng như Phật giáo Sri Lanka không có Ni chúng.
* Diện tích: 514.000km2.
* Dân số: 20.686.000 người (theo thống kê
năm 1957).
* Thủ đô: Bangkok.
* Tín đồ Phật giáo: 15.581.240 người.
Phật giáo
Lào
(Laos).
- Phật giáo Lào cũng tương tự như Phật giáo Thái Lan, vì đều là một hệ thống
giáo lý của Thượng Tọa bộ Phật giáo Sri Lanka. Lào lấy Phật giáo làm quốc
giáo. Điều thứ 7 trong Hiến pháp quy định “Phật giáo là quốc giáo, vua là
người bảo hộ tối cao”. Điều thứ 8: “Vua là người tối cao trong nước. Thân thể
của nhà vua là thần thánh, không thể xâm phạm, nhưng vua phải là người Phật
giáo đồ thuần thành”.
* Diện tích: 236.800km2.
* Dân số: Ước 2.000.000 người.
* Thủ đô: Vientiane.
Phật giáo
Campuchia
. - Ở thời cổ đại, nước Campuchia gọi là Phù Nam (Phnom
Bhnam). Theo sử Tàu chép, thì nước Tàu đã giao thiệp với nước Phù Nam từ
khoảng thế kỷ thứ III trước Tây lịch. Dân tộc Campuchia thuộc giòng dõi Khmer,
hỗn huyết người phía Nam Mông Cổ. Ngôi vua đầu tiên của nước này lại là người
Ấn Độ, vì thế nền văn hóa của Ấn Độ cũng sớm được ảnh hưởng, nhất là văn hóa
của Ấn Độ giáo. Mãi tới thế kỷ thứ V Tây lịch thì Phật giáo mới được truyền
vào. Đầu thế kỷ thứ VI có ngài Mandra (Mạn Trà La) và Sanghavarman (Tăng Già
Ba Đề) từ Ấn Độ qua Tàu dịch kinh, các ngài đã lưu lại ở nước này một thời
gian và đã dịch được nhiều bộ kinh về Đại thừa cùng Tiểu thừa.
Cuối thế kỷ thứ VI, nước Phù Nam đổi là Chân
Lạp. Tới thế kỷ thứ VIII, lại chia ra Lục Chân Lạp và Thủy Chân Lạp. Lục Chân
Lạp thuộc phía Bắc, Thủy Chân Lạp thuộc phía Nam. Đầu thế kỷ thứ IX, Thủy Chân
Lạp thế lực mạnh hơn, liền thôn tính Lục Chân Lạp, thống nhất nước Chân Lạp về
một mối. Tới thế kỷ thứ XIII thì bản đồ của nước Chân Lạp rất rộng, gồm cả một
phần nước Thái Lan, Campuchia và một phần Nam Việt Nam.
Trong khoảng thời gian kể trên, ở hậu bán
thế kỷ thứ VIII, nước Srìvjaya thuộc đảo Sumatra, thế lực rất mạnh, hiệp lực
cùng với vương triều Sailendra của Java, đem quân tiến đánh bán đảo Mã Lai,
thế lực đó lan tràn tới nước Chân Lạp. Đầu thế kỷ thứ IX thì vua Jayavarman
nhị thế, trở thành ngôi vua nước Chân Lạp, từ đó trở về sau thế lực của Chân
Lạp mỗi ngày một mạnh.
Trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ thứ X,
do vua Suryavarman nhị thế khởi sáng, đến đầu thế kỷ thứ XIII, ở đời vua
Javyavarman nhất thế thì hoàn thành được những công trình kiến trúc vĩ đại, đó
là hai Đại già lam Angkor Thom và Angkor Wat. Trong hai Già lam vĩ đại này có
rất nhiều di tích về Phật giáo cùng Ấn Độ giáo, như vậy cũng đủ chứng minh cho
sự hưng thịnh của Phật giáo lúc đương thời.
Kể từ cuối thế kỷ thứ XIII trở đi, thì các
quốc vương thuộc Chân Lạp dần dần suy yếu, lại thêm có dân tộc “Thái” tràn
sang đánh phá, cướp đoạt cả thủ đô Angkor, rồi đến cuối thế kỷ thứ XVI thì
vương triều thuộc Chân Lạp bị tiêu diệt hẳn. (Về sự suy vong của vương triều
Chân Lạp, trong sử không thấy chép rõ ràng). Những di tích tráng lệ ở Angkor
trở thành hoang phế. Nhưng, cách đây gần 100 năm trở về trước, có người Pháp
thám hiểm, đột nhiên đã khám phá ra những di tích kể trên ở giữa cảnh rừng rậm
hoang vu, và đã giới thiệu cho thế giới biết một kỳ quan của nghệ thuật cổ đại
Á Đông.
Còn Phật
giáo của Campuchia hiện nay, thì không phải là Phật giáo ở thế kỷ thứ XIII trở
về trước, vì ở thời đó, Phật giáo kiêm cả Đại thừa, Tiểu thừa và pha trộn cả
ngoại giáo, không phải là thuần túy Phật giáo, mà là “Thượng Tọa bộ Phật giáo”
(thuần túy Tiểu thừa) được truyền vào từ Thái Lan ở khoảng trung diệp thế kỷ
thứ XIV, rồi liên tục tới bây giờ. Vậy nên Phật giáo Campuchia cũng là hệ
thống “Thượng Tọa bộ Phật giáo” cũng như Sri Lanka và Myanmar, lấy Phật giáo
làm quốc giáo.
* Diện tích: 181.000km2.
* Dân số: Ước chừng 4.000.000 người (theo
thống kê năm 1957).
* Thủ đô:
Phnom Penh.
* Tín đồ
Phật giáo: 3.600.000 người.
Tóm lại, sự
tiến triển của Nam phương “Thượng Tọa bộ Phật giáo” trải qua các nước: Sri
Lanka, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, có rất nhiều đặc sắc, nhưng những
đặc sắc then chốt là:
- Chỉ tôn
thờ Phật Thích Ca là đấng Bổn Sư duy nhất;
- Đều cùng
sử dụng một thứ kinh điển chép bằng tiếng Pali;
- Phái xuất
gia thì cố gắng giữ gìn giới luật, phái tại gia thì ham chuộng việc bố thí
cúng dường.
---o0o---